Hay quan điểm xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và đào tạo năm 2017 cũng nêu rõ: “Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VÕ THỊ DIỄM HẰNG
SƠ ĐỒ HÓA TRONG DẠY HỌC KHOA HỌC 5
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Thừa Thiên Huế, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VÕ THỊ DIỄM HẰNG
SƠ ĐỒ HÓA TRONG DẠY HỌC KHOA HỌC 5Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục học Tiểu học)
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Việt Nam đang trong thời kì thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước,nền kinh tế hội nhập toàn cầu, điều này đòi hỏi nền giáo dục phải có sự đổi mới, trong
đó có đổi mới phương pháp dạy và học nhằm tạo ra những con người năng động, sángtạo, có tư duy khoa học, có năng lực giải quyết vấn đề để đáp ứng được những nhu cầucủa xã hội
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập củahọc sinh đã được thể hiện rõ trong các Nghị quyết Trung ương, trong Luật Giáo dục
Cụ thể, Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ rõ: “Đổi
mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực” Luật Giáo dục Khoản 2, điều 28 cũng nhấn mạnh: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Hay quan điểm xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông
tổng thể của Bộ Giáo dục và đào tạo năm 2017 cũng nêu rõ: “Chương trình giáo dục
phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh, các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu đó.”
1.2 Xuất phát từ thực trạng dạy và học hiện nay
Trang 4Giờ học Khoa học từ trước đến nay chủ yếu vẫn là giảng dạy theo phương pháptruyền thống, thầy truyền đạt kiến thức, học sinh thụ động tiếp thu tri thức Các phươngpháp dạy học tích cực ít được sử dụng hoặc chỉ được sử dụng trong các giờ thao giảng,các hội thi Giáo viên dạy giỏi Vì vậy, học sinh chưa yêu thích môn học và khả năngvận dụng kiến thức chưa cao Việc nghiên cứu tìm cách đưa các phương pháp hiện đạivào dạy học Khoa học nhằm phát huy tính tích cực và năng lực học tập của học sinh,tạo cho các em cơ hội để tìm tòi, tư duy độc lập là hết sức cần thiết.
1.3 Xuất phát từ những thuận lợi của việc sử dụng các biện pháp sơ đồ hóa vào dạy học Khoa học 5
Sơ đồ hóa là một trong những biện pháp giúp học sinh có khả năng tự lực trongquá trình học tập Sử dụng biện pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học, thúcđẩy quá trình tự học, tự nghiên cứu của học sinh, đặc biệt rèn luyện năng lực hệ thốnghóa kiến thức và năng lực sáng tạo cho học sinh
Kiến thức môn Khoa học lớp 5 tương đối khó, khá trừu tượng, có tính khái quát
và khả năng ứng dụng cao, trong khi thời lượng tiết học hạn chế nên học sinh thườngkhó nhớ, mau quên kiến thức, điều này đòi hỏi áp dụng các phương pháp, biện phápdạy học tiên tiến, khoa học và hiệu quả nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học mônKhoa học Do đó, việc nghiên cứu tìm cách đưa sơ đồ hóa vào dạy học môn Khoa học
ở trường Tiểu học là việc làm cần thiết
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Sơ đồ hóa
trong dạy học Khoa học 5”.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Trên thế giới
Ra đời cách đây hơn 250 năm, lí thuyết sơ đồ chỉ là bộ phận nhỏ của toán học vớivai trò chủ yếu nghiên cứu giải quyết các bài toán có tính chất giải trí, đố vui Vàonhững năm 30 của thế kỉ XX, lí thuyết sơ đồ mới thu hút sự chú ý của các nhà khoahọc, khi toán học ứng dụng và lí thuyết đồ thị phát triển mạnh thì thành tựu về sơ đồbắt đầu xuất hiện [8]
Trang 5Công trình nghiên cứu đầu tiên về lí thuyết sơ đồ ra đời vào năm 1736 khi nhàtoán học thiên tài Lenohard Euler đặt và giải bài toán rất nổi tiếng về bảy chiếc cầu bắcqua sông Pregel.
Trong lí luận dạy học, việc nghiên cứu và vận dụng lí thuyết sơ đồ được quan tâm
từ những năm 60 của thế kỉ XX với một số công trình của các nhà khoa học Xô Viết.Người đầu tiên là A.M.Xokhor, ông đã vận dụng phương pháp sơ đồ hóa để mô hìnhhóa một đoạn nội dung tài liệu sách giáo khoa A.M.Xokhor đã giúp cho HS phát hiệnđược nội dung của tài liệu giáo khoa một cách trực quan, nhận dạng được cấu trúc củakiến thức [16]
Năm 1967, nhà lí luận dạy học hoá học V.X.Polosin đã dùng phương pháp sơ đồ
để lập mô hình trình tự các thao tác dạy và học trong một tình huống cụ thể Từ đó,giúp chúng ta phân tích được bản chất của phương pháp dạy học được áp dụng trongtình huống dạy học đó và giải thích được hiệu quả của nó
Năm 1972, V.P.Garkunov đã sử dụng phương pháp sơ đồ để lập mô hình các tìnhhuống dạy học của phương pháp dạy học nêu vấn đề Theo V.P.Garkumov trong quátrình hình thành các mẫu tình huống nêu vấn đề và giải quyết vấn đề thì việc sử dụng
sơ đồ có thể giúp ích rất nhiều trong lý luận dạy học Trên cơ sở đó, ông phân loại racác tình huống khác nhau trong dạy học nêu vấn đề
Tuy nhiên, phương pháp sơ đồ hóa do Xokhor, Polosin và Garkumov đề xuất mớichỉ dừng ở mức là phương pháp nghiên cứu khoa học trong lí luận dạy học Sau này, đã
có nhiều công trình nghiên cứu về sơ đồ hóa như “Graph và ứng dụng của nó” với bốcục 8 chương của L.Iu.Berezina; “Graph và mạng lưới hữu hạn”của R.Baxep, T.Xachi;
“Lí thuyết graph” của V.V.Belop, E.M.Vôpôbôep;
Ngày nay, ở nhiều quốc gia trên thế giới, các công trình nghiên cứu về lí thuyết sơ
đồ cũng như tìm hiểu ứng dụng lí thuyết sơ đồ trong dạy học ở nhiều môn học, các cấphọc ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng
2.2 Ở Việt Nam
Trang 6Ở Việt Nam, nhà sư phạm đầu tiên đề xuất việc nghiên cứu và vận dụng sơ đồ vàodạy học là Nguyễn Ngọc Quang, năm 1981 với công trình “Phương pháp graph trongdạy học” Năm 1984, Phạm Tư đã nghiên cứu “Dùng graph để dạy và học môn hóa họcchương Nitơ-photpho ở lớp 11 trường THPT” Năm 1987, Nguyễn Chính Trung đãnghiên cứu “Dùng phương pháp graph lập chương trình tối ưu và dạy môn sử dụngthông tin trong chiến dịch” Năm 1993, Hoàng Việt Anh công bố trên công trình mangtên “Dùng phương pháp sơ đồ- graph vào giảng dạy Địa lý các lớp 6 và 8 ở trườngTrung học cơ sở”.
Ở bậc Tiểu học cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về sơ đồ hóa như: PhạmThị Thanh Huyền, “Sử dụng graph hệ thống hóa từ ngữ trong nội dung mở rộng vốn từcho học sinh lớp 3” Đào Thị Thu Thảo, “Sử dụng graph dạy học những bài ôn tậpTiếng Việt cho học sinh lớp 5” Trịnh Thị Minh Hảo, “Sử dụng graph vào dạy học mônLịch sử và Địa lí lớp 4”
Như vậy, chúng ta có thể thấy lí thuyết về sơ đồ và sơ đồ hóa đã được nghiên cứukhá kĩ từ nhiều nhà giáo dục trong và ngoài nước Xu thế hiện nay đang tập trungnghiên cứu quy trình vận dụng sơ đồ một cách cụ thể trong việc dạy và học của các bộmôn ở Phổ thông nói chung và Tiểu học nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng các biện pháp sơ đồ hóa vào quá trình dạy học Khoa học 5 nhằm tíchcực hóa hoạt động học tập của học sinh, qua đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệuquả của việc dạy và học Khoa học ở trên lớp
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng sơ đồ hóa trong dạy họcnói chung, dạy học ở tiểu học nói riêng
- Phân tích nội dung chương trình Khoa học 5 để xác định các kiến thức có thểthực hiện các biện pháp sơ đồ hoá
Trang 7- Xây dựng quy trình, xác định các biện pháp sơ đồ hóa nội dung dạy học Khoahọc 5.
- Thiết kế kế hoạch dạy học Khoa học 5 bằng các biện pháp sơ đồ hoá
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm đánh giá tính khả thi và hiệu quả củaviệc sử dụng các biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp sơ đồ hoá trong dạy học Khoa học 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Sử dụng các biện pháp sơ đồ hoá vào việc dạy học Khoa học 5 tại một số trườngTiểu học ở tỉnh Phú Yên
5 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng các biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học 5 thì sẽ phát huytính tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc lĩnh hội tri thức của học sinh, làm nâng caohiệu quả dạy học môn Khoa học ở bậc Tiểu học
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các văn bản của Đảng, Nhà nước liên quan đến đổi mới cách dạy vàhọc hiện nay theo hướng tích cực hóa hoạt động học của học sinh
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng các biện pháp sử dụngcác biện pháp sơ đồ hoá trong dạy học
- Nghiên cứu thiết kế các biện pháp sơ đồ hoá trong dạy học Khoa học 5
6.2 Phương pháp điều tra
Điều tra thực trạng dạy học Khoa học 5 ở trường Tiểu học:
- Đối với giáo viên:
+ Sử dụng phiếu điều tra
+ Tham khảo giáo án của một số giáo viên
+ Dự giờ trực tiếp một số giáo viên
Trang 8+ Tiếp xúc, trao đổi với giáo viên.
- Đối với học sinh: Dùng phiếu điều tra hiệu quả lĩnh hội kiến thức, hứng thú họctập của học sinh
6.3 Phương pháp chuyên gia
Trao đổi, xin ý kiến của các nhà nghiên cứu, chuyên gia có nhiều kinh nghiệm vềlĩnh vực đang nghiên cứu, lắng nghe sự tư vấn của các chuyên gia để định hướng choviệc triển khai đề tài
6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụngcác biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học 5
6.5 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các công thức toán thống kê để phân tích và xử lí các kết quả thu đượcqua điều tra và thực nghiệm
7 Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá cơ sở lí thuyết của việc sử dụng các biện pháp sơ đồ hoá trong dạyhọc
- Đề xuất quy trình và các biện pháp sơ đồ hoá trong dạy học Khoa học 5
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần “Mở đầu” và “Kết luận và Khuyến nghị”, luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
- Chương 2: Sơ đồ hoá trong dạy học Khoa học 5
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 9NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm sơ đồ và sơ đồ hoá
1.1.1.1 Khái niệm sơ đồ
Theo Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng Việt, sơ đồ là hình vẽ quy ước, có tính chất
sơ lược, nhằm mô tả một đặc trưng nào đó của sự vật hay một quá trình nào đó
Theo Nguyễn Thị Cẩm Nhung, sơ đồ bao gồm một tập hợp E những yếu tố gọi làđỉnh và một tập hợp A những yếu tố gọi là cạnh (hay cung)
Theo Nguyễn Ngọc Quang, sơ đồ logic bao gồm các ô (đỉnh) chứa đựng nhữngkiến thức, các mũi tên (cung) chỉ liên hệ dẫn xuất hoặc bao hàm Sơ đồ logic thể hiệnmối liên hệ về nội dung bên trong của các sự vật hiện tượng Trong sơ đồ logic, cácmối liên hệ nhân quả được thể hiện rõ ràng
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm sơ đồ, nhưng theo chúng tôi, sơ đồbao gồm các đỉnh và các cung, có tính chất sơ lược, thể hiện mối liên hệ giữa các sựvật, hiện tượng
1.1.1.2 Khái niệm sơ đồ hóa
Sơ đồ hóa là biện pháp diễn đạt nội dung dạy học bằng ngôn ngữ sơ đồ Ngônngữ sơ đồ được thể hiện bằng các kí hiệu khác nhau như: hình vẽ, lược đồ, đồ thị, bảngbiểu…
Sơ đồ hóa chính là phương pháp khoa học sử dụng sơ đồ để mô tả sự vật, hoạtđộng và cho phép hình dung một cách trực quan các mối quan hệ giữa các yếu tố trongcấu trúc của sự vật, cấu trúc logic của qui trình triển khai hoạt động (tức là con đường
từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc hoạt động) giúp con người qui hoạch tối ưu, điều khiểntối ưu các hoạt động
Mỗi loại kiến thức có thể được mô hình hóa bằng một loại sơ đồ đặc trưng để phảnánh thuộc tính bản chất của loại kiến thức đó Trong dạy học, có thể sử dụng biện pháp sơ
đồ hóa để dạy một khái niệm, một bài học, một chương hoặc một phần
Trang 10Tuy nhiên, không phải tất cả các nội dung dạy học đều có thể sử dụng biện pháp
sơ đồ hóa Khi sử dụng biện pháp sơ đồ hóa ta cần xét các phần tử của một tập hợp nào
đó và mối quan hệ giữa các phần tử Các phần tử của tập hợp được biểu thị bằng cácđỉnh của sơ đồ, còn các mối quan hệ của các cặp phần tử được biểu thị bằng tập hợpcác cạnh hay cung
1.1.2 Vai trò của sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học
1.1.2.1 Đối với giáo viên
Trong dạy học, phương pháp chuyển tải thông tin của người dạy là một trongnhững yếu tố quyết định đến số lượng và chất lượng thông tin người học tiếp thu được
Có nhiều phương pháp chuyển tải thông tin khác nhau, tùy thuộc vào nội dung cụ thểcủa tri thức, đặc trưng riêng của từng môn học, đặc điểm của đối tượng người học vàđiều kiện dạy học thực tế mà người dạy lựa chọn loại phương pháp chuyển tải nào chophù hợp và đạt hiệu quả cao nhất
Trong quá trình dạy học Khoa học, nếu giáo viên dùng sơ đồ để chuyển tải trithức thì học sinh không chỉ tiếp thu qua lời giảng của giáo viên mà còn được tận mắtnhìn một cách tường minh mối quan hệ giữa các nội dung lý thuyết qua những dấu hiệutrực quan
Sơ đồ hóa giúp giáo viên thị phạm hóa, tường minh hóa các kiến thức trừu tượng,khó hiểu, khó nhớ trong bài học thành kiến thức cụ thể, dễ nhớ và dễ quan sát, hìnhdung
Sơ đồ hóa còn giúp giáo viên diễn đạt tối ưu mối quan hệ giữa các thành tố củamột hiện tượng khoa học, giữa các giai đoạn của một quá trình tự nhiên giữa các hiệntượng tự nhiên khác nhau
Sơ đồ hóa cho phép phản ánh trực quan cùng lúc hai mặt tĩnh và động của hiệntượng, quá trình khoa học Chính vì thế mà trong dạy học Khoa học, nếu giáo viên biếtcách khai thác triệt để ưu việt này thì sẽ đạt hiệu quả dạy học cao
Sơ đồ hóa có thể giúp giáo viên quy hoạch được quá trình dạy học trong toàn bộcũng như từng mặt của nó Sơ đồ giúp tiết kiệm kí hiệu, trình bày hợp lí, đẹp mắt và
Trang 11tiết kiệm thời gian cung cấp thông tin, dành thời gian cho việc phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của học sinh
Trong quá trình hướng dẫn học sinh xây dựng sơ đồ, giáo viên có thể thường xuyênnhận được thông tin liên hệ ngược từ học sinh để điều chỉnh hoạt động dạy học phùhợp và kịp thời Nó giúp giáo viên nắm bắt nhanh, chính xác năng lực tư duy và trình
độ nhận thức của học sinh, từ đó đưa ra những biện pháp giúp đỡ phù hợp Bên cạnh đó,quá trình này giúp giáo viên phát hiện kịp thời những học sinh tiến bộ rõ rệt hoặc sútkém đột ngột để có biện pháp động viên hoặc giúp đỡ kịp thời Ngoài ra, giáo viêncũng có thể điều chỉnh tối ưu quá trình tư duy của học sinh
So với các hình thức diễn đạt khác như ngôn ngữ viết, ngôn ngữ nói, ngôn ngữ điệu
bộ, ngôn ngữ kí hiệu thì ngôn ngữ sơ đồ có nhiều ưu việt hơn trong việc diễn đạt nộidung, ý tưởng về một khái niệm, một cơ chế hay một quá trình sinh học
Sơ đồ hóa giúp tăng hiệu quả thông tin cho bài giảng của giáo viên Sơ đồ chophép học sinh tiếp cận với nội dung kiến thức bằng con đường logic tổng – phân – hợp,nghĩa là cùng một lúc giáo viên vừa phân tích đối tượng nhận thức thành các sự kiện,các yếu tố cấu thành, vừa tổng hợp, hệ thống hóa các sự kiện, các yếu tố đó thành mộtthể thống nhất, thuận lợi cho việc khái quát hóa để hình thành khái niệm khoa học–sảnphẩm của tư duy lý thuyết
1.1.2.2 Đối với học sinh
Sơ đồ hóa góp phần phát triển năng lực, nhận thức của học sinh
Đây là một trong những biện pháp giúp học sinh hình thành, rèn luyện và pháttriển kỹ năng, kỹ xảo thực hiện các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, sosánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa,…) và biện pháp logic, đồng thời rènluyện năng lực tự học, kỹ năng đọc sách và tự nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa củahọc sinh
Khi sử dụng sơ đồ hóa, học sinh sẽ có được kỹ năng tách ra nội dung bản chất từmột tài liệu nào đó, tìm được kiến thức chính thông qua xây dựng sơ đồ Ngoài ra, khixây dựng sơ đồ cho một bài học, học sinh buộc phải tách ý chính rồi mới thiết lập mối
Trang 12quan hệ giữa chúng đồng thời trên cơ sở chia nhỏ bài học, lựa chọn đề mục cho từngphần đã làm cho học sinh có kỹ năng lập dàn bài khi đọc sách giáo khoa cũng như kỹnăng tóm tắt tài liệu đọc được thành sơ đồ.
Bên cạnh giúp học sinh lĩnh hội được tri thức, sơ đồ hóa còn giúp học sinh cóđược phương thức tái tạo kiến thức cho bản thân, rèn luyện cho học sinh biết cách tựtìm kiếm tri thức, vận dụng tri thức khi học các nội dung khác, các môn học khác vàtrong thực tiễn cuộc sống hàng ngày
Sơ đồ hóa góp phần nâng cao nhu cầu nhận thức và tinh thần trách nhiệm của họcsinh trong học tập
So với cách dùng lời chỉ chủ yếu tập trung cung cấp cho học sinh những sự kiệntrong một chuỗi phản ứng, thì với phương pháp sử dụng sơ đồ, ngoài tác dụng như đốivới dùng lời còn có thể giúp học sinh nhận thấy mối quan hệ giữa các sự kiện và giữacác chuỗi phản ứng với nhau Nhờ vậy dùng phương pháp sơ đồ hóa có thể khắc phụcđược tính hình thức và ghi nhớ máy móc mà không hiểu bản chất của kiến thức
Sơ đồ hóa giúp học sinh tăng tốc độ định hướng và tăng tính mềm dẻo của trí tuệ.Qua biện pháp sơ đồ hóa học sinh có thể rèn luyện được các kỹ năng sau:
- Kỹ năng giải quyết vấn đề, các bài tập tình huống một nhanh chóng, linh hoạt,hợp lý
- Kỹ năng xác lập mối liên hệ với những kiến thức đã có
- Kỹ năng diễn đạt một vấn đề, mô tả một sự vật, hiện tượng khoa học theo nhiều cáchkhác nhau
- Kỹ năng phê phán trí tuệ
- Kỹ năng "thấm" sâu vào tài liệu, sự vật, hiện tượng nghiên cứu: thể hiện rõ ở sựphân biệt cái bản chất và cái không phải là bản chất, cái cơ bản và cái chủ yếu, cái tổngquát và cái bộ phận
Sơ đồ hóa giúp biến những kiến thức trừu tượng thành những dấu hiệu trực quan,
dễ nhận biết, dễ liên tưởng do đó học sinh dễ hình dung hơn về kiến thức cơ bản củabài học
Trang 13Rèn luyện cho học sinh phương pháp tư duy khái quát, có khả năng chuyển tảithông tin cao để có thể ứng dụng trong các môn học khác.
1.1.3 Quy trình sơ đồ hoá nội dung dạy học
Muốn sơ đồ hoá nội dung dạy học, trước hết giáo viên cần nghiên cứu nội dungchương trình giảng dạy để lựa chọn những chương, những chủ đề, những bài, những tổhợp kiến thức có khả năng lập sơ đồ nội dung Tùy từng loại kiến thức mà giáo viên lập
sơ đồ nội dung tương ứng Sơ đồ nội dung của các kiến thức khác nhau mang tính đặcthù và không phải bài học nào cũng có thể lập được sơ đồ nội dung Do đó, việc nghiêncứu và lựa chọn nội dung để xây dựng sơ đồ là rất cần thiết
Sau khi nghiên cứu và lựa chọn nội dung, giáo viên cần lập sơ đồ nôi dung dạyhọc theo quy trình sau:
* Bước 1: Tổ chức đỉnh
- Chọn kiến thức chốt tối thiểu cần và đủ (là những kiến thức cơ bản nhất và giữ vịtrí không thể thiếu trong hệ thống đơn vị kiến thức) Mỗi kiến thức chốt sẽ là một đỉnhcủa sơ đồ
- Mã hóa kiến thức chốt Có thể sử dụng những kí hiệu dễ hiểu nhất để mã hóa kiếnthức chốt, như vậy sẽ giúp học sinh dễ dàng ghi nhớ hơn và sơ đồ cũng bớt phần cồngkềnh
Bước 1: Tổ chức đỉnh
Bước 2: Thiết lập cung
Bước 3: Hoàn chỉnh sơ đồ
Trang 14- Bố trí các đỉnh trên mặt phẳng Cần lưu ý sắp xếp các đỉnh sao cho có tính khoahọc, phản ánh được logic phát triển của kiến thức, dễ hiểu và phải có tính trực quan mỹthuật.
* Bước 2: Thiết lập cung
Thực chất chỉ là việc nối các đỉnh bằng mũi tên hay đoạn thẳng để diễn tả mối liên
hệ giữa nội dung các đỉnh với nhau Việc thiết lập quan hệ giữa các đỉnh của sơ đồ phảibảo đảm tính logic khoa học, bảo đảm những quy luật khách quan và bảo đảm được tính
hệ thống của nội dung kiến thức
Lưu ý: Nếu xét thấy các mối quan hệ của các đỉnh chưa hợp lý thì quay trở lại bước
1 để xác định lại các đỉnh của sơ đồ cho hợp lý hơn
* Bước 3: Hoàn chỉnh sơ đồ
Làm cho sơ đồ trung thành với nội dung được mô hình hóa về cấu trúc logic nhưnglại giúp học sinh lĩnh hội dễ dàng phần nội dung đó
1.1.4 Phân loại sơ đồ trong dạy học Khoa học
Trong dạy học Khoa học, chúng ta có thể xây dựng và sử dụng rất nhiều dạng sơ
đồ khác nhau Tùy theo tiêu chí phân loại mà ta có các dạng sơ đồ khác nhau
1.1.4.1 Phân loại dựa theo mối quan hệ trên sơ đồ
- Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng
- Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa cái toàn thể và cái bộ phận
- Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả
1.1.4.2 Phân loại dựa theo khả năng rèn luyện các thao tác tư duy
- Sơ đồ rèn luyện kỹ năng phân tích - tổng hợp
- Sơ đồ rèn luyện kỹ năng so sánh
- Sơ đồ rèn luyện kỹ năng khái quát hóa, đặc biệt hóa và tương tự
- Sơ đồ rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa kiến thức
1.1.4.3 Phân loại dựa theo kí hiệu sơ đồ
- Mô hình hóa khái niệm
- Biểu đồ, bảng biểu
Trang 15- Sơ đồ dạng nhánh, thẳng, vòng, lưới.
1.1.4.4 Phân loại dựa theo mục đích lý luận dạy học
- Sơ đồ dùng để nghiên cứu tài liệu mới
- Sơ đồ dùng để củng cố, hoàn thiện tri thức
- Sơ đồ dùng để kiểm tra, đánh giá
1.1.4.5 Phân loại dựa trên mức độ hoàn thiện của sơ đồ
- Sơ đồ đầy đủ
- Sơ đồ khuyết (thiếu)
- Sơ đồ câm
- Sơ đồ bất hợp lý
1.1.4.3 Phân loại dựa theo nội dung được diễn đạt
- Sơ đồ thể hiện cấu tạo giải phẫu, hình thái
- Sơ đồ thể hiện cơ chế của các hiện tượng, quá trình
- Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường
1.1.4.4 Phân loại dựa theo loại kiến thức khoa học
- Sơ đồ kiến thức về khái niệm khoa học
- Sơ đồ kiến thức về quá trình khoa học
- Sơ đồ kiến thức về quy luật khoa học
1.1.5 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 5
1.1.5.1 Tri giác
Nhìn chung, tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết vàmang tính không ổn định Ở lớp 5, tri giác của học sinh còn mang tính xúc cảm, các emvẫn thích quan sát các sự vật, hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn nhưng tri giác củacác em đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng Tri giác của các em dần cótính chủ định như biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm cácbài tập, giải quyết các nhiệm vụ học tập từ dễ đến khó…
Nhận thấy được điều này, chúng ta cần phải thu hút học sinh bằng các hoạt độngmới, mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích
Trang 16trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác Dạy học bằng sơ đồ hóa sẽ thu hút họcsinh với các hoạt động nhóm, với các sơ đồ đa dạng, đẹp mắt, sinh động chứ không còn
là những câu chữ khô khan, khó nhớ như trong sách giáo khoa, kích thích các em quansát, lắng nghe bài giảng của giáo viên, tích cực học tập hơn
1.1.5.2 Tư duy
Cũng như ở các lớp dưới, tư duy của học sinh lớp 5 mang đậm màu sắc xúc cảm
và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động
Các phẩm chất tư duy ở các em đã chuyển dần từ tư duy cụ thể sang tư duy trừutượng khái quát Các em bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phântích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng Dạy học bằng sơ đồ hóa sẽ góp phần hình thành,phát triển năng lực phân tích, tổng hợp, khái quát hóa kiến thức
1.1.5.3 Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh lớp 5 đã phát triển khá phong phú nhờ có bộ não pháttriển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dặn
Tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ các em đã tái tạo
ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở học sinh lớp 5,các em bắt đầu phát triển khả năng vẽ, làm thơ, làm văn, gấp giấy, lắp ráp mô hình, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúccảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng gắn liền với các rung động tìnhcảm của các em
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển trí tưởng tượng của các em bằng cáchbiến các kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các emnhững câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt độngtập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cáchtoàn diện Dạy học bằng sơ đồ hóa tạo điều kiện cho học sinh được thỏa sức sáng tạo,biến những kiến thức phức tạp thành những sơ đồ giàu hình ảnh, những từ ngữ ngắngọn, dễ nhớ Các em chắc hẳn sẽ thích thú với các hoạt động nhóm
1.1.5.2.4 Chú ý
Trang 17Học sinh lớp 5 đã dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình.Chú ý có chủ định phát triển và dần chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí tronghoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán, một kiến thức khónhớ, trừu tượng hay một bài hát dài,… Trong sự chú ý của các em đã bắt đầu xuất hiệngiới hạn của yếu tố thời gian, các em đã định lượng được khoảng thời gian cho phép đểlàm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định.Biết được điều này, các nhà giáo dục nên giao cho học sinh những nhiệm vụ haybài tập đòi hỏi sự chú ý của các em và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý đến tính cáthể của các em, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáodục các em Khi dạy học bằng sơ đồ hóa, học sinh sẽ được giao các nhiệm vụ hoànthành sơ đồ, tự xây dựng sơ đồ,… trong một khoảng thời gian do giáo viên quy định,đòi hỏi các em phải thật sự chú ý thì mới có thể hoàn thành tốt đúng hạn.
1.1.5.5 Trí nhớ
Ở học sinh lớp 5, ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ
có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụthuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫncủa nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em,…
Nắm được điều này, các nhà giáo dục này cần phải giúp học sinh biết cách kháiquát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cầnghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản, dễ hiểu, dễnắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ ghinhớ kiến thức Điều này được thể hiện rõ trong quá trình dạy học bằng sơ đồ hóa Họcsinh phải xác định được nội dung chính, cốt lõi của bài học, sau đó thể hiện lại bằngnhững từ ngữ, những hình vẽ đơn giản, dễ nhớ, phù hợp, theo ý thích của các em, la,ftăng hứng thú học tập ở các em
1.1.5.6 Ý chí
Trang 18Học sinh lớp 5 đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hànhđộng của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tínhcách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời.
Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh lớp 5 đòi hỏi ở nhà giáo dục sự kiên trìbền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trởthành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ Qua các bài tập sơ đồ hóa từ dễ đến khó,học sinh sẽ được rèn luyện ý chí vượt khó, kiên trì, quyết tâm để tự tạo ra hoặc hoànthành sơ đồ một cách hợp lý, đặc biệt là bài tập tự xây dựng sơ đồ Tuy nhiên, nhữngbài tập này cũng không tạo áp lực nhiều cho các em vì các em được viết, vẽ theo ýthích, đáp án của các sơ đồ này cũng không rập khuôn, cứng nhắc
1.1.5.7 Tình cảm
Cũng như các lớp dưới, tình cảm của học sinh lớp 5 mang tính cụ thể trực tiếp vàluôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ Lúc này, khả năng kiềm chếcủa các em còn non nớt, các em dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể làcác em dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư,…
Vì thế có thể nói tình cảm của các em chưa bền vững, dễ thay đổi
Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh lớp 5 luôn kèmtheo sự phát triển năng khiếu như thơ ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học,…, khi đó cầnphát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho các em sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập màkhông làm thui chột năng khiếu của trẻ
Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh lớp 5 cần ở nhà giáo dục sựkhéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quansinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông quacác hoạt động cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư,… Thông quaviệc dạy học bằng sơ đồ hóa, giáo viên có thể phát hiện được các em có năng khiếu vẽ,viết chữ đẹp, có năng lực quản lý tốt,… để kịp thời bồi dưỡng Đồng thời, giáo viêncũng có thể làm các em yêu thích môn học hơn, tăng hứng thú học tập ở các em
1.1.5.8 Nhân cách
Trang 19Nét tính cách của học sinh lớp 5 đang dần được hình thành, ổn định và bền vững.Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trìnhphát triển các em luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mìnhmột cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng Nhân cách của học sinh lớp 5 cònmang tính tiềm ẩn, những năng lực và tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt,nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển Và đặc biệt nhân cáchcủa các em đang hình thành, hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình.Hiểu được điều này mà cha mẹ hay thầy cô giáo tuyệt đối không được “chụp mũ”nhân cách của các em, trái lại phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở vàchờ đợi, phải hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp mà không đâu xa,chính cha mẹ và thầy cô là những hình mẫu nhân cách đấy Dạy học bằng sơ đồ hóagiúp giáo viên phần nào thấy được nhân cách của học sinh, như tự tin hay rụt rè, cótrách nhiệm hay còn vô tư, kiên trì hay nóng nảy,…, từ đó có biện pháp uốn nắn chophù hợp.
Như vậy, đặc điểm tâm lí học sinh lớp 5 rất phù hợp để tổ chức dạy học bằng sơ
đồ hóa Thông qua sơ đồ hóa, tâm lí các em sẽ dần dần được hình thành, hoàn thiện vàphát triển theo hướng tích cực hơn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khảo sát chương trình Khoa học 5 hiện hành
1.2.1.1 Mục tiêu chương trình
Sau khi học xong chương trình Khoa học 5, học sinh cần đạt được:
- Có một số kiến thức cơ bản ban đầu và thiết thực về:
+ Sự sinh sản và lớn lên của cơ thể người, cách phòng tránh một số bệnh thôngthường và bệnh truyền nhiễm;
Trang 20+ Ứng dụng thích hợp trong tình huống có liên quan đến vấn đề sức khoẻ của bảnthân, gia đình và cộng đồng;
+ Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản gần gũi vớiđời sống, sản xuất;
+ Nêu thắc mắc đạt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin để giải đáp,biết diễn đạt những hiểu biết bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ,…;
+ Phân tích, so sánh rút ra dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật, hiện tượngđơn giản trong tự nhiên;
- Hình thành và phát triển những thái độ và hành vi:
+ Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộngđồng;
+ Ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng kiến thức đã học vào đời sống;+ Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp; có ý thức và hành động bảo
vệ môi trường xung quanh
1.2.1.2 Vị trí, nội dung chương trình
Lớp 5 là lớp cuối cấp Tiểu học, học sinh đã được tiếp cận với chương trình mônKhoa học lớp 4 Qua chương trình môn Khoa học lớp 4, học sinh đã được tìm hiểu vềtrao đổi chất ở người, nhu cầu dinh dưỡng, vệ sinh phòng bệnh về tiêu hóa, phòngtránh tai nạn đuối nước; tính chất, vai trò, cách sử dụng các nguồn năng lượng nước,không khí, ánh sáng, nhiệt, âm thanh; trao đổi chất ở thực vật, động vật, chuỗi thức ăn
trong tự nhiên Lên lớp 5, ngoài 3 chủ đề Con người và sức khỏe, Vật chất và năng
lượng, Thực vật và thực vật như chương trình Khoa học lớp 4, các em sẽ được học về
chủ đề Môi trường và tài nguyên thiên nhiên Chương trình có những nội dung rất quan
trọng, là tiền đề cho học sinh học các lớp trên, đặc biệt là môn Sinh học
Chương trình Khoa học 5 gồm 70 tiết, mỗi tuần 2 tiết với những nội dung chủ yếuđược thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.1 Nội dung chương trình Khoa học 5
Trang 211 Đặc điểm và ứng dụng của một số vật liệu thường dùng
- Tre, mây, song
- Sắt, gang, thép, đồng, nhôm
- Đá vôi, gạch, ngói, xi măng, thủy tinh
- Cao su, chất dẻo, tơ sợi
2 Sự biến đổi của chất
- Ba thể của chất
- Hỗn hợp và dung dịch
- Sự biến đổi hóa học
3 Sử dụng năng lượng
- Năng lượng than đá, dầu mỏ, khí đốt
- Năng lượng mặt trời, gió, nước
- Năng lượng điện
Trang 222 Mối quan hệ giữa môi trường và con người
- Vai trò của môi trường đối với con người
- Tác động của con người đối với môi trường
- Một số biện pháp bảo vệ môi trường
1.2.1.3 Những nội dung có thể sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học lớp 5
Từ phân tích chương trình, chúng tôi xác định được các nội dung có thể sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học 5 như sau:
Bảng 1.2 Những nội dung có thể sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học lớp 5
2-3 Nam hay nữ? Sự khác nhau giữa nam và nữ về đặc điểm sinh
8 Vệ sinh ở tuổi dậy thì Những việc nên làm và không nên làm để bảo
vệ sức khỏe tuổi dậy thì
12 Phòng bệnh sốt rét - Triệu chứng, tác nhân gây bệnh, con đườnglây truyền, mức độ nguy hiểm của bệnh sốt rét
Trang 23huyết - Cách phòng bệnh sốt xuất huyết
sức khỏe
Ôn tập cách phòng tránh các bệnh sốt rét, sốtxuất huyết, viêm não; cách phòng tránh nhiễmHIV/AIDS
22 Tre, mây, song Đặc điểm, công dụng của tre; mây, song
23 Sắt, gang, thép - Đặc điểm của sắt, gang, thép- Công dụng của gang, thép
- Cách bảo quản đồ dùng làm từ gang, thép
- Củng cố
24 Đồng và hợp kim của
đồng
- Đặc điểm của đồng và hợp kim của đồng
- Công dụng của đồng và hợp kim của đồng
- Cách bảo quản đồ dùng làm từ đồng và hợpkim của đồng
- Củng cố
- Đặc điểm của nhôm và hợp kim của nhôm
- Công dụng của nhôm và hợp kim của nhôm
- Cách bảo quản đồ dùng làm từ nhôm và hợpkim của nhôm
- Củng cố
- Đặc điểm của đá vôi
- Công dụng của đá vôi
- Cách bảo quản đồ dùng làm từ đá vôi
- Củng cốThuỷ tinh - Đặc điểm của thủy tinh
Trang 2429 - Công dụng của thủy tinh
- Cách bảo quản đồ dùng làm từ thủy tinh
- Củng cố30
Cao su
- Đặc điểm của cao su
- Công dụng của cao su
- Cách bảo quản đồ dùng làm từ cao su
- Củng cố
- Đặc điểm của chất dẻo
- Công dụng của chất dẻo
- Cách bảo quản đồ dùng làm từ chất dẻo
- Củng cố
35 Sự chuyển thể của chất Sự chuyển thể của chất trong đời sống
41 Năng lượng mặt trời - Tác động của mặt trời đối với đời sống
- Sử dụng năng lượng mặt trời
51 Cơ quan sinh sản của
Quá trình sinh sản của thực vật có hoa
53 Cây con mọc lên từ hạt Cấu tạo của hạt
54 Cây con có thể mọc lêntừ một số bộ phận của
cây mẹ
Vị trí mọc chồi của một số loài cây
55 Sự sinh sản của động vật Khái quát đặc điểm sinh sản của động vật
56 Sự sinh sản của côn
- Nguyên nhân khiến rừng bị tàn phá
- Hậu quả của việc phá rừng
- Củng cố66
Tác động của con người
Trang 2567 Tác động của con người
đến môi trường không
khí và nước
- Nguyên nhân làm ô nhiễm không khí và nước
- Tác hại của việc ô nhiễm không khí và nước
- Củng cố
68 Một số biện pháp bảo vệ
môi trường Một số biện pháp bảo vệ môi trường
70 Ôn tập và kiểm tra cuối
năm
Quá trình phát triển của một số loài động vật
Như vậy, chương trình Khoa học 5 có rất nhiều nội dung phù hợp để sử dụng biệnpháp sơ đồ hóa trong dạy học
1.2.2 Thực trạng việc sử dụng các biện pháp sơ đồ hoá trong dạy học ở Tiểu học
Để có được cái nhìn tổng quát về thực trạng sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trongdạy học Khoa học ở trường Tiểu học hiện nay, chúng tôi đã tiến hành trao đổi, khảo sát
ý kiến của giáo viên và học sinh ở một số trường Tiểu học qua phiếu khảo sát
1.2.2.1 Mục đích khảo sát
- Làm rõ vai trò và ý nghĩa của sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoahọc ở Tiểu học
- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của giáo viên và học sinh trong quá trình
sử dụng biện pháp sơ đồ hóa
- Làm cơ sở thực tiễn để đối chiếu lí luận, đưa ra những biện pháp sơ đồ hóatrong dạy học Khoa học ở Tiểu học
1.2.2.2 Đối tượng khảo sát
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã tiến hành phát phiếu khảo sát
ý kiến cho 30 giáo viên và 300 HS ở một số trường Tiểu học trên địa bàn tỉnh Phú Yên
1.2.2.3 Nội dung khảo sát
- Về phía giáo viên, chúng tôi tập trung vào các vấn đề sau:
Trang 26+ Quan điểm, nhận thức của giáo viên về biện pháp sơ đồ hóa trong dạy họcKhoa học ở Tiểu học
+ Vai trò của biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học ở Tiểu học
+ Tìm hiểu tình hình sử dụng các phương pháp dạy học trong dạy học Khoa học ởTiểu học
+ Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của giáo viên trong quá trình sử dụngbiện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học
- Về phía học sinh, chúng tôi tập trung vào một số vấn đề sau:
+ Thái độ, tinh thần học tập môn Khoa học của học sinh
+ Nhận thức của học sinh về vai trò, ý nghĩa của biện pháp sơ đồ hóa trong dạyhọc Khoa học
+ Tìm hiểu mức độ hứng thú của học sinh với việc sử dụng biện pháp sơ đồ hóatrong môn Khoa học
+ Những thuận lợi và khó khăn của học sinh khi học Khoa học theo biện pháp sơ
Bảng 1.3 Sự cần thiết của việc sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học
Trang 27T Số GV
trả lời
Tỉ lệ (%)
1
Quan niệm về khái
niệm sơ đồ hóa
Là sử dụng sơ đồ trong quá trình
26,67
Là biện pháp diễn đạt nội dung dạyhọc bằng ngôn ngữ sơ đồ 13
43,33
Là biến đổi sơ đồ có sẵn trong sách
Giúp học sinh hình thành, rènluyện và phát triển kỹ năng, kỹ xảothực hiện các thao tác tư duy cơbản
5 16,6
7
Giúp giáo viên diễn đạt tối ưu mối quan hệ giữa các thành tố của một hiện tượng khoa học
7 23,3
3Nâng cao nhu cầu nhận thức và
tinh thần trách nhiệm của học sinhtrong học tập
Kết quả khảo sát cho thấy GV có quan niệm, nhận thức khác nhau về biện pháp
sơ đồ hóa Đa số thầy cô (43,33%) nhận thức đúng về biện pháp sơ đồ hóa (là biệnpháp diễn đạt nội dung dạy học bằng ngôn ngữ sơ đồ) Có 26,67% thầy cô cho rằngđây là sử dụng sơ đồ trong quá trình dạy học, một bộ phận khác (chiếm 10%) lại cho
Trang 28rằng đó là sơ đồ hóa học và có 20% thầy cô cho rằng đó là biến đổi sơ đồ có sẵn trongsách giáo khoa Có 46,67% giáo viên được khảo sát cho rằng việc sử dụng biện pháp
sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học là rất cần thiết, số còn lại (53,33%) cho rằng việc sửdụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học là cần thiết Điều này chứng tỏ các
GV đã ý thức được tầm quan trọng của biện pháp này Có 50% giáo viên cho rằng vaitrò quan trọng nhất của sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học là giúp giáo viên thị phạmhóa, tường minh hóa các kiến thức trừu tượng, khó hiểu, khó nhớ; 16,67% giáo viêncho rằng đó là giúp học sinh hình thành, rèn luyện và phát triển kỹ năng, kỹ xảo thựchiện các thao tác tư duy cơ bản; 23,33% cho rằng đó là giúp giáo viên diễn đạt tối ưumối quan hệ giữa các thành tố của một hiện tượng khoa học và 10% cho rằng đó lànâng cao nhu cầu nhận thức và tinh thần trách nhiệm của học sinh trong học tập Trongphạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp hệ thống lí luận về vấn đề này và
là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các thầy cô
* Thực trạng sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học ở trường Tiểu học
Bảng 1.4 Kết quả khảo sát GV về thực trạng sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong
dạy học Khoa học ở trường Tiểu học
ST
Kết quả
Số GV trả lời Tỉ lệ %
Thời điểm sử dụng biện
pháp sơ đồ hóa trong dạy
học Khoa học
Khi dạy bài mới 10 33,33Khi củng cố, ôn tập 14 46,67Khi kiểm tra, đánh giá 6 2
Thuận lợi:
- Học sinh hào hứng, tích cực
- Giáo viên tích lũy thêm
107
33,3323,33
Trang 29Thuận lợi và khó khăn khi
sử dụng biện pháp sơ đồ
hóa trong dạy học Khoa học
kinh nghiệm giảng dạy
- Tiếp cận biện pháp dạy họcmới
- Phát hiện khả năng, năngkhiếu của học sinh
- Thuận lợi khác
580
16,6726,67
33,3326,67400
Kết quả khảo sát cho thấy đa số các GV đều đã sử dụng biện pháp sơ đồ hóatrong dạy học Khoa học Có 16,67% thường xuyên, 50% thỉnh thoảng có sử dụng.Nhưng cũng có tới 33,33% GV hiếm khi và chưa bao giờ sử dụng biện pháp sơ đồ hóa
trong dạy học Khoa học Tuy nhận thấy sự cần thiết nhưng không phải GV nào cũng
thực hiện được GV nhận thấy biện pháp sơ đồ hóa có thuận lợi cơ bản: học sinh hàohứng, tích cực (33,33%) đó là điều mà HS vốn không nhận thấy ở môn học này trướcđây GV cũng cho rằng khó khăn chủ yếu là mất nhiều thời gian chuẩn bị và tiến hành(40%)
1.2.2.5.2 Về phía học sinh
* Quan điểm của học sinh với môn học
Bảng 1.5 Quan điểm của học sinh với môn Khoa học
Kết quả
Số HS trả lời
Tỉ lệ (%)
Rất yêu thích 35 11,67
Trang 301 Sự yêu thích môn Khoa học
Với kết quả điều tra ta thấy phần lớn học sinh tỏ ra thờ ơ và không yêu thích môn
học này (chiếm 63,33%) Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng trên
trong đó một nguyên nhân quan trọng là do phương pháp giảng dạy của GV Đa số HSđều đánh giá được tầm quan trọng của môn học Có tới 64% số HS được khảo sát chorằng Khoa học là môn học quan trọng vẫn còn một tỉ lệ nhỏ (3,33%) cho rằng đây làmôn học không quan trọng
* Về thực trạng việc sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy và học môn Khoa học
Bảng 1.6 Thực trạng của HS về việc sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học
Khoa học
Kết quả
Số HS trả lời
Trang 31Thời điểm học sinh sử
dụng biện pháp sơ đồ hóa
khi học môn Khoa học ở
nhà
Khi học bài cũ 46 15,33Khi gặp kiến thức khó nhớ 115 38,33Khi ôn tập chuẩn bị kiểm tra 89 29,67
Cả ba thời điểm trên 50 16,67
4
Thuận lợi và khó khăn gặp
phải khi học môn Khoa học
bằng biện pháp sơ đồ hóa
95820
2615
31,6727,33
0
Khó khăn:
- Mất nhiều thời gian
- Có nhiều điểm khác biệtvới cách học truyền thống
- Phải chuẩn bị giấy khổ lớn
để vẽ sơ đồ khi tự học ở nhà
- Khó khăn khác
120105750
4035150
Trang 32Kết quả điều tra cho thấy đa số học sinh thích hoặc rất thích học môn Khoa họcbằng biện pháp sơ đồ hóa (56%) Hầu hết các em chưa có thói quen sử dụng biện phápnày khi học môn Khoa học ở nhà Phần lớn các em chỉ thỉnh thoảng hoặc đôi khi sửdụng (64,33%), có tới 20,67% học sinh không bao giờ sử dụng biện pháp này Đa sốcác em sử dụng biện pháp sơ đồ hóa khi gặp kiến thức khó nhớ (38,33%) và khi ôn tậpchuẩn bị kiểm tra (29,67%) Phần lớn học sinh thấy rằng thuận lợi lớn nhất khi họcmôn Khoa học bằng biện pháp sơ đồ hóa là dễ nhớ kiến thức (31,67%) và thấy đượcmối liên hệ giữa các kiến thức (27,33%) Đa số các em thấy rằng khó khăn lớn nhất khihọc bằng biện pháp này là mất nhiều thời gian (40%).
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này, chúng tôi đã tập trung và trình bày một cách có hệ thốngnhững cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chúng tôi đã tìm hiểu, phân tích, tổng hợp,làm rõ khái niệm, vai trò của biện pháp sơ đồ hóa, quy trình chung để sơ đồ hóa nộidung dạy học, phân loại các dạng sơ đồ và đặc điểm tâm lý học sinh lớp 5 khi sử dụngbiện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Đồng thời, chúng tôi đã khảo sát chương trìnhKhoa học 5 và thực trạng sử dụng biện pháp sơ đồ hóa ở trường tiểu học Những cơ sở
lý luận và thực tiễn này sẽ là cơ sở quan trọng để chúng tôi có căn cứ, cơ sở cho việc
đề xuất các biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học 5
Trang 33CHƯƠNG 2: SƠ ĐỒ HÓA TRONG DẠY HỌC KHOA HỌC 5
2.1 Nguyên tắc sơ đồ hóa nội dung dạy học Khoa học 5
2.1.1 Trung thành với nội dung dạy học
Bất kể được diễn đạt bằng kênh hình hay kênh chữ, đơn giản hay phức tạp thì sơ
đồ cũng cần phải trung thành với nội dung dạy học Sơ đồ-sản phẩm của sơ đồ hóa dùkhác về hình thức so với nội dung dạy học được diễn đạt trong sách giáo khoa nhưngcần phản ánh chính xác, đầy đủ nội dung đó Tránh tình trạng thể hiện sai hoặc thiếukiến thức, đặc biệt là là những kiến thức cốt lõi, mang tính bản chất
2.1.2 Đảm bảo mục tiêu giáo dục
Trong quá trình dạy học bằng sơ đồ hóa, giáo viên có thể kết hợp sử dụng với cácphương pháp, biện pháp dạy học khác Ngoài ra, thầy cô cũng có thể sử dụng các biệnpháp sơ đồ hóa khác nhau, sử dụng biện pháp sơ đồ hóa vào các hoạt động khác nhautrong tiết học, tùy thuộc vào nội dung dạy học, trình độ nhận thức của học sinh và điềukiện thực tế Tuy nhiên, kết quả là phải đạt được mục tiêu giáo dục Biện pháp sơ đồhóa góp phần giúp học sinh đạt các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ của hoạtđộng, của bài học hay của từng chủ đề Đồng thời, biện pháp sơ đồ hóa nhằm hìnhthành và phát triển các năng lực, phẩm chất, kĩ năng mềm, đặc điểm tâm lý và phát huytiềm năng sáng tạo của cá nhân học sinh
2.1.3 Phát huy tính sáng tạo của học sinh
Dạy học bằng sơ đồ hóa tạo cơ hội cho học sinh phát huy tính tích cực, chủ động,
tự giác và sáng tạo của bản thân Học sinh được tự mình đề xuất, thảo luận, lựa chọn ýtưởng; thể hiện ý tưởng đó trên sơ đồ và trình bày sơ đồ ấy bằng ngôn ngữ của chínhcác em Khi tổ chức dạy học bằng sơ đồ hóa, giáo viên không nên rập khuôn, áp đặt,đưa ra sơ đồ các đáp án quá khuôn mẫu mà nên xây dựng các sơ đồ đáp án mở Đặcbiệt, khi sử dụng sơ đồ khuyết, sơ đồ câm hay khi cho học sinh tự xây dựng sơ đồ, giáoviên nên cho các em tự do lựa chọn cách thức thể hiện sơ đồ, lựa chọn hình vẽ, biểutượng hay từ ngữ, lựa chọn màu sắc theo sở thích của các em Tuy nhiên, để tổ chức
Trang 34dạy học thuận lợi, hiệu quả, các thầy cô cũng cần dự đoán trước một số khả năng vềsản phẩm sơ đồ hay cách trình bày của học sinh để kịp thời xử lí.
2.1.4 Phù hợp với trình độ của học sinh
Khi dạy học bằng sơ đồ hóa, cách tiến hành phải phù hợp với trình độ của họcsinh trong lớp, đồng thời phù hợp với trình độ phát triển của từng đối tượng học sinh,phù hợp với tâm lý học sinh lớp 5 Hiểu rõ đă ăc điểm học sinh vừa giúp giáo viên thiết
kế hoạt đô ăng phù hợp, vừa giúp thầy cô lường trước những tình huống có thể xảy rakhi tổ chức hoạt động Việc thực hiện tốt yêu cầu phù hợp với trình độ học sinh khi dạyhọc bằng sơ đồ hóa sẽ tạo hứng thú cho học sinh và giúp học sinh có thể phát triển
2.1.5 Đảm bảo tính hấp dẫn, đa dạng
Để tránh sự nhàm chán, tăng hứng thú cho học sinh khi tham gia hoạt động, giáoviên cần tổ chức dạy học bằng sơ đồ hóa thông qua nhiều hình thức, thường xuyên thayđổi biện pháp sơ đồ hóa, sử dụng biện pháp sơ đồ hóa ở nhiều hoạt động khác nhau củatiết học, Việc này sẽ góp phần làm cho học sinh tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạohơn trong học tập, từ đó mang lại hiệu quả dạy học cao
2.2 Xây dựng các dạng sơ đồ
2.2.1 Sơ đồ khuyết
Sơ đồ khuyết là dạng sơ đồ chưa hoàn thiện, còn khuyết một số đỉnh hoặc cung
Ví dụ:
Trang 35Sơ đồ 2.2 Khái quát đặc điểm sinh sản của động vật
Cơ quan sinh dục cái
?
Cách sinh sản
Hợp tử
?
Thụ tinh
Phân chia nhiều lần Phát triển
Mang đặc tính của bố
?
Thuốc láThuốc làoRượu
Ma túyLao động nặng
?
Thuốc trừ sâuThuốc diệt cỏ
Sơ đồ 2.1 Phụ nữ có thai nên và không nên làm
gì?