2. Mối quan hệ giữa môi trường và con người
1.2.2. Thực trạng việc sử dụng các biện pháp sơ đồ hoá trong dạy học ở Tiểu học
1.2.2.5. Kết quả khảo sát
* Quan niệm của giáo viên về sự cần thiết của việc sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học
Bảng 1.3. Sự cần thiết của việc sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học
ST Vấn đề Phương án trả lời Kết quả
T Số GV trả lời
Tỉ lệ (%)
1
Quan niệm về khái niệm sơ đồ hóa
Là sử dụng sơ đồ trong quá trình
dạy học 8 26,6
7
Là sơ đồ hóa học 3 10
Là biện pháp diễn đạt nội dung dạy
học bằng ngôn ngữ sơ đồ 13 43,3
3 Là biến đổi sơ đồ có sẵn trong sách
giáo khoa 6 20
2
Sự cần thiết của việc sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học
Rất cần thiết
14 46,6
7 Cần thiết
16 53,3
3
Bình thường 0 0
Không cần thiết 0 0
3 Vai trò quan trọng nhất của sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học
Giúp giáo viên thị phạm hóa, tường minh hóa các kiến thức trừu tượng, khó hiểu, khó nhớ
15 50
Giúp học sinh hình thành, rèn luyện và phát triển kỹ năng, kỹ xảo thực hiện các thao tác tư duy cơ bản
5 16,6
7 Giúp giáo viên diễn đạt tối ưu mối
quan hệ giữa các thành tố của một hiện tượng khoa học
7 23,3
3 Nâng cao nhu cầu nhận thức và
tinh thần trách nhiệm của học sinh trong học tập
3 10
Kết quả khảo sát cho thấy GV có quan niệm, nhận thức khác nhau về biện pháp sơ đồ hóa. Đa số thầy cô (43,33%) nhận thức đúng về biện pháp sơ đồ hóa (là biện pháp diễn đạt nội dung dạy học bằng ngôn ngữ sơ đồ). Có 26,67% thầy cô cho rằng đây là sử dụng sơ đồ trong quá trình dạy học, một bộ phận khác (chiếm 10%) lại cho
rằng đó là sơ đồ hóa học và có 20% thầy cô cho rằng đó là biến đổi sơ đồ có sẵn trong sách giáo khoa. Có 46,67% giáo viên được khảo sát cho rằng việc sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học là rất cần thiết, số còn lại (53,33%) cho rằng việc sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học là cần thiết. Điều này chứng tỏ các GV đã ý thức được tầm quan trọng của biện pháp này. Có 50% giáo viên cho rằng vai trò quan trọng nhất của sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học là giúp giáo viên thị phạm hóa, tường minh hóa các kiến thức trừu tượng, khó hiểu, khó nhớ; 16,67% giáo viên cho rằng đó là giúp học sinh hình thành, rèn luyện và phát triển kỹ năng, kỹ xảo thực hiện các thao tác tư duy cơ bản; 23,33% cho rằng đó là giúp giáo viên diễn đạt tối ưu mối quan hệ giữa các thành tố của một hiện tượng khoa học và 10% cho rằng đó là nâng cao nhu cầu nhận thức và tinh thần trách nhiệm của học sinh trong học tập. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp hệ thống lí luận về vấn đề này và là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các thầy cô.
* Thực trạng sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học ở trường Tiểu học Bảng 1.4. Kết quả khảo sát GV về thực trạng sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong
dạy học Khoa học ở trường Tiểu học ST
T Vấn đề Phương án trả lời
Kết quả Số GV
trả lời Tỉ lệ
% 1
Mức độ sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học
Thường xuyên 5 16,67
Thỉnh thoảng 15 50
Hiếm khi 7 23,33
Không bao giờ 3 10
2
Thời điểm sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học
Khi dạy bài mới 10 33,33
Khi củng cố, ôn tập 14 46,67 Khi kiểm tra, đánh giá 6 2 Thuận lợi:
- Học sinh hào hứng, tích cực - Giáo viên tích lũy thêm
10 7
33,33 23,33
3
Thuận lợi và khó khăn khi sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học
kinh nghiệm giảng dạy
- Tiếp cận biện pháp dạy học mới
- Phát hiện khả năng, năng khiếu của học sinh
- Thuận lợi khác
5 8 0
16,67 26,67
0 Khó khăn:
- Quản lí, tổ chức học sinh - Học sinh còn bỡ ngỡ
- Mất nhiều thời gian chuẩn bị và tiến hành
- Khó khăn khác
10 8 12
0
33,33 26,67 40
0 Kết quả khảo sát cho thấy đa số các GV đều đã sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học. Có 16,67% thường xuyên, 50% thỉnh thoảng có sử dụng.
Nhưng cũng có tới 33,33% GV hiếm khi và chưa bao giờ sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học.. Tuy nhận thấy sự cần thiết nhưng không phải GV nào cũng thực hiện được. GV nhận thấy biện pháp sơ đồ hóa có thuận lợi cơ bản: học sinh hào hứng, tích cực (33,33%) đó là điều mà HS vốn không nhận thấy ở môn học này trước đây. GV cũng cho rằng khó khăn chủ yếu là mất nhiều thời gian chuẩn bị và tiến hành (40%).
1.2.2.5.2. Về phía học sinh
* Quan điểm của học sinh với môn học
Bảng 1.5. Quan điểm của học sinh với môn Khoa học
STT Vấn đề Phương án trả lời Kết quả
Số HS trả lời
Tỉ lệ (%)
Rất yêu thích 35 11,67
1 Sự yêu thích môn Khoa học
Yêu thích 75 25
Bình thường 150 50
Không thích 40 13,33
2 Tầm quan trọng của môn Khoa học
Rất quan trọng 68 22,67
Quan trọng 124 41.33
Bình thường 98 32,67
Không quan trọng 10 3,33
Với kết quả điều tra ta thấy phần lớn học sinh tỏ ra thờ ơ và không yêu thích môn học này (chiếm 63,33%). Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng trên trong đó một nguyên nhân quan trọng là do phương pháp giảng dạy của GV. Đa số HS đều đánh giá được tầm quan trọng của môn học. Có tới 64% số HS được khảo sát cho rằng Khoa học là môn học quan trọng vẫn còn một tỉ lệ nhỏ (3,33%) cho rằng đây là môn học không quan trọng.
* Về thực trạng việc sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy và học môn Khoa học
Bảng 1.6. Thực trạng của HS về việc sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học
STT Vấn đề Phương án trả lời
Kết quả Số HS trả lời
Tỉ lệ
%
1
Thái độ khi học môn Khoa học bằng biện pháp sơ đồ hóa
Không thích 31 10,33
Bình thường 101 33,67
Thích 120 40
Rất thích 48 16
2
Mức độ học sinh sử dụng biện pháp sơ đồ hóa khi học môn Khoa học ở nhà
Thường xuyên 45 15
Thỉnh thoảng 93 31
Đôi khi 100 33,33
Không bao giờ 62 20,67
3
Thời điểm học sinh sử dụng biện pháp sơ đồ hóa khi học môn Khoa học ở nhà
Khi học bài cũ 46 15,33
Khi gặp kiến thức khó nhớ 115 38,33 Khi ôn tập chuẩn bị kiểm tra 89 29,67 Cả ba thời điểm trên 50 16,67
4
Thuận lợi và khó khăn gặp phải khi học môn Khoa học bằng biện pháp sơ đồ hóa
Thuận lợi:
- Phát huy khả năng sáng tạo của HS
- Giúp HS có được cái nhìn tổng quát về kiến thức của một bài, một chủ đề hay một học kì
- Dễ nhớ kiến thức
- Thấy được mối liên hệ giữa các kiến thức
- Thuận lợi khác
78 45
95 82 0
26 15
31,67 27,33
0 Khó khăn:
- Mất nhiều thời gian
- Có nhiều điểm khác biệt với cách học truyền thống - Phải chuẩn bị giấy khổ lớn để vẽ sơ đồ khi tự học ở nhà - Khó khăn khác
120 105 75
0
40 35 15 0
Kết quả điều tra cho thấy đa số học sinh thích hoặc rất thích học môn Khoa học bằng biện pháp sơ đồ hóa (56%). Hầu hết các em chưa có thói quen sử dụng biện pháp này khi học môn Khoa học ở nhà. Phần lớn các em chỉ thỉnh thoảng hoặc đôi khi sử dụng (64,33%), có tới 20,67% học sinh không bao giờ sử dụng biện pháp này. Đa số các em sử dụng biện pháp sơ đồ hóa khi gặp kiến thức khó nhớ (38,33%) và khi ôn tập chuẩn bị kiểm tra (29,67%). Phần lớn học sinh thấy rằng thuận lợi lớn nhất khi học môn Khoa học bằng biện pháp sơ đồ hóa là dễ nhớ kiến thức (31,67%) và thấy được mối liên hệ giữa các kiến thức (27,33%). Đa số các em thấy rằng khó khăn lớn nhất khi học bằng biện pháp này là mất nhiều thời gian (40%).
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này, chúng tôi đã tập trung và trình bày một cách có hệ thống những cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chúng tôi đã tìm hiểu, phân tích, tổng hợp, làm rõ khái niệm, vai trò của biện pháp sơ đồ hóa, quy trình chung để sơ đồ hóa nội dung dạy học, phân loại các dạng sơ đồ và đặc điểm tâm lý học sinh lớp 5 khi sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học. Đồng thời, chúng tôi đã khảo sát chương trình Khoa học 5 và thực trạng sử dụng biện pháp sơ đồ hóa ở trường tiểu học. Những cơ sở lý luận và thực tiễn này sẽ là cơ sở quan trọng để chúng tôi có căn cứ, cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học Khoa học 5.