1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục kỹ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ các trường trung học cơ sở (THCS) thành phố lai châu, tỉnh lai châu

99 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 181,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn “Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục kỹ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ các trường trung học cơ sở (THCS) thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu”. được tác giả nghiên cứu thực tế thực trạng các vấn đề về “Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục kỹ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ các trường trung học cơ sở (THCS) thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu”. trên địa bàn thành phố Lai Châu. Luận văn có cơ sở lý luận chặt chẽ, lôgic, số liệu rõ ràng, được hội đồng chấm luận văn của Trường Đại học sư phạm Hà Nội đánh giá điểm caao nhất. Các bạn có thể tham khảo.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

PHẠM THỊ LÝ

PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC

KỸ NĂNG TỰ PHÒNG TRÁNH XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH NỮ CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng

Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2020

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Trang 2

PHẠM THỊ LÝ

PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG

GIÁO DỤCKỸ NĂNG TỰ PHÒNG TRÁNH XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH NỮ CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng

Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Thuý Giang

HÀ NỘI, 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.

Hà Nội, tháng 06 năm 2020

Tác giả luận văn

Phạm Thị Lý

Trang 4

MỤC LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nước ta hiện nay đang trên đà phát triển về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội, an ninh, quốc phòng, đặc biệt chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ côngnghệ thông tin nên hỗ trợ rất nhiều trong việc phát triển đất nước

Bên cạnh đó chúng ta gặp không ít khó khăn thử thách mà phải đối mặt vàgiải quyết về an ninh xã hội, giết người, cướp của, ma túy, mại dâm, [5] trong đóvấn đề cần quan tâm hàng đầu đó là xâm hại tình dục(XHTD) ở trẻ em Vấn đề nayđang được xã hội đánh giá có chiều hướng gia tăng về số lượng vụ và tính chất,mức độ vi phạm, đã gây sự hoang mang, lo lắng và đang bị xã hội lên án mãnh liệt.Theo UNICEF XHTD trẻ em là một hành vi lôi kéo trẻ em vào các hoạt động liênquan đến tình dục, mà trẻ không đủ khả năng và thấu hiểu, hoặc không thể quyếtđịnh đối với hành vi này hoặc các hành vi vi phạm pháp luật [3],[7], [8]

Sau khi trẻ bị XHTD để lại nhiều hậu quả như: Làm tổn thương nghiêmtrọng đến tinh thần, tâm lý, sức khỏe của trẻ Gây hoang mang, lo lắng cho giađình và xã hội Làm ảnh hưởng đến tương lai của trẻ em, của dân tộc Làm tăng tệnạn mại dâm, tăng sự lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây qua đường tình dục,gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục và truyền thống đạo đức tốt đẹp củanhân dân ta [23] Nếu chúng ta làm tốt việc hướng dẫn các kỹ năng tự phòng tránhXHTD cho con người nói chung và trẻ em nói riêng thì sẽ có môi trường xã hộitrong sạch, lành mạnh Đối với trẻ em rất cần có môi trường an toàn để vui chơi,học tập ngay tại chính gia đình, trường học của mình Sự can thiệp của những nhânviên tư vấn tâm lý, nhân viên công tác xã hội trường học làm việc tại phòng thamvấn học đường nhằm đảm bảo cho các em được sống trong một môi trường antoàn, lành mạnh cũng như cải thiện các mối quan hệ của trẻ [ 1], [2]

Thực tiễn hiện nay, nhóm trẻ bị XHTD ngày càng diễn biến phức tạp cả vềquy mô và cách thức thực hiện [8] XHTD trẻ em đang là vấn nạn trên toàn ViệtNam, hậu quả mà các em phải gánh chịu có thể có những tổn thất về sức khỏe, thểchất và tinh thần, làm giảm khả năng học tập, hòa nhập xã hội và thậm chí có thể

Trang 6

hủy hoại các em, ảnh hưởng đến việc trở thành con người tốt, trở thành cha mẹ tốttrong tương lai

Trong nhiều năm qua, Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp để phòng chống,giảm thiểu và nhằm đẩy lùi hiện tượng XHTD trẻ em Tuy nhiên công tác bảo vệ trẻ

em hiện nay còn gặp phải những rào cản, khó khăn như: Khâu phát hiện và báo cáo

số vụ xâm hại trẻ em còn chưa kịp thời, Luật pháp về bảo vệ trẻ em còn nhiều khoảngtrống, thiếu cụ thể, mô hình trợ giúp thiếu tính chuyên nghiệp [10], [12], [24] Vì vậy,vấn đề trẻ em bị XHTD cần phải huy động sự tham gia của toàn xã hội

Giai đoạn hiện nay rất cần thiết đến mô hình trợ giúp của phòng tham vấn họcđường, bởi những nhân viên tư vấn tâm lý và nhân viên công tác xã hội [19], [28],chuyên viên tâmlý làm việc tại phòng tham vấn học đường sẽ là người thực hiệnnhiệm vụ phòng, chống và can thiệp trực tiếp đối với những trường hợp trẻ em bịXHTD tại môi trường học đường [12], [24], [27] Bảo vệ trẻ em khỏi XHTD khôngchỉ là trách nhiệm của một cá nhân, một gia đình hay một cơ quan, đoàn thể, tổ chức

xã hội nào, mà đó là trách nhiệm chung của các bộ, ngành liên quan, của cả xã hội,trong đó gia đình đóng vai trò trọng tâm [32]

Các giải pháp nhằm phòng ngừa, giảm thiểu XHTD trẻ em nằm trong tổng thểcác hoạt động cần sự phối kết hợp và triển khai đồng bộ Chúng ta cần xây dựngmột hệ thống bảo vệ trẻ hoàn chỉnh trên cơ sở tăng cường chính sách và thực hiệncác biện pháp trợ giúp xã hội đối với các gia đình và trẻ em gặp nhiều khó khăn tạicộng đồng nhằm hạn chế trẻ có nguy cơ bỏ học, bỏ nhà đi lang thang, dễ trở thànhnạn nhân của các hành vi xâm hại trẻ em; Xây dựng cơ sở thông tin, dữ liệu về bảo

vệ, chăm sóc trẻ em, trong đó có các chỉ tiêu, chỉ số giám sát, đánh giá công tác bảo

vệ trẻ em; Tăng cường năng lực và nâng cao chất lượng hệ thống dịch vụ, tạo điềukiện cho trẻ em được tiếp cận dễ dàng các dịch vụ bảo vệ trẻ em; Đẩy mạnh côngtác giám sát thực thi pháp luật tại địa phương, đặc biệt các luật liên quan tới các vấn

đề của phụ nữ và trẻ em như Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Trẻ em đểcác vụ việc bạo lực được phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh

Cùng với đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần sớm đưa nội dung giáo dục giớitính phù hợp với từng lứa tuổi vào chương trình học để các em có thể chủ độngbảo vệ mình và có ứng xử phù hợp trong tình huống xấu nhất [2]; ngành Y tế phải

Trang 7

có các dịch vụ y tế, tâm lý hỗ trợ cho những trẻ em bị XHTD; ngành Công an phải

có trình tự thủ tục riêng cho các loại án mà trẻ em bị XHTD để các vụ án trên đượctriển khai nhanh, kịp thời nhằm tìm ra thủ phạm, đảm bảo tư pháp thân thiện vớitrẻ em Đối với phụ huynh nên dạy cho con của mình để có thể tránh xa đối tượngnguy hiểm, kể cả những người thân quen vì hầu hết các trường hợp trẻ em bị lạmdụng, tội phạm lại xuất phát từ những đối tượng mà trẻ gần gũi như người giữ trẻ,người thân, hàng xóm, bạn bè của cha mẹ hỗ trợ trẻ những kỹ năng tự phòng,tránh XHTD, cần sớm dạy cho trẻ biết kiến thức cơ bản về giới tính, cách nhậndiện các tình huống nguy cơ bất thường và cách xử lý [18]

Cha, mẹ cần dạy cho trẻ rằng, nếu có ai tìm cách đụng chạm vào những nơinhạy cảm của trẻ, trẻ phải tỏ ra phản đối một cách quyết liệt, bỏ đi ngay và giữnguyên tắc “không bí mật” với cha mẹ, cần phải chia sẻ những việc gì khiến trẻkhông thỏa mái, khó chịu với cha mẹ, luôn nhắc trẻ, trong mọi trường hợp xấu nhất,

an toàn của con là quan trọng, con phải biết tìm người giúp đỡ khi gặp nguy hiểmbằng cách nhớ số điện thoại của bố mẹ, những người thân tin cậy hoặc số điện thoạicủa các đường dây nóng

Tất cả trẻ em đều có nguy cơ bịXHTD[17] và theo thống kê cả nước hiện nay sốtrẻ bị XHTD là từ năm 2017 đến nay có khoản 5000 vụ và những người xâm hại trẻ emđều là nam giới và do quen biết, người thân trong gia đình như bố dượng, anh em, hàngxóm, thầy giáo, sau khi bị xâm hại nạn nhân thường không hoặc không dám kể vềnhững gì đã diễn ra với chúng… Đôi khi việc xâm hại này diễn ra trong một thời giandài, thậm chí kéo dài nhiều năm Thủ đoạn phổ biến của các đối tượng là lợi dụng sựtin tưởng hay sức ảnh hưởng của mình hoặc dùng “lòng tốt” (cho quà, bao ăn uống…)nhằm dụ dỗ, đe doạ để thực hiện hành vi XHTD đối với trẻ [34]

Trẻ em có thể gặp phải nguy cơ bị XHTD ở bất cứ đâu, trên sân chơi, ởtrường học hay thậm chí ở trong chính ngôi nhà của mình Nạn nhân của các vụXHTD trẻ em phần lớn là dưới 16 tuổi Nhiều em còn chưa đến tuổi đi học, thậmchí có em mười mấy tháng tuổi đã trở thành nạn nhân của những kẻ đi xâm hại.Thủ phạm XHTD trẻ em cũng có nhiều dạng: Có kẻ mới 14-15 tuổi nhưng có kẻ

đã ngoài 60 tuổi Thậm chí trong gia đình trẻ bị XHTD bởi bố đẻ và ông nộitrong nhiều năm, vụ việc gây chấn động dư luận trong thời gian qua bị phát giác

Trang 8

Kẻ XHTD cũng có khi chính là thầy giáo của trẻ, người mà hầu như cha mẹ gửigắm hoàn toàn sự tôn kính và tin tưởng tuyệt đối, như sự việc tại một trường tiểuhọc đã được báo chí phát giác [36].

XHTD trẻ em không chỉ gây ra cho các em vết sẹo trên thân thể, mà trẻ cònphải chịu những vết thương lớn về mặt tinh thần Hành vi của những kẻ xâm hại cóthể ảnh hưởng đến suốt cuộc đời đứa trẻ thậm chí làm các em bị rối loạn tâm thần, rốiloạn hành vi Bên cạnh đó do tình dục không an toàn, hậu quả có thể để lại việc mangthai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền về tình dục, các rối loạn tình dục khi trưởngthành Theo thống kê của Liên Hiệp quốc thì tỉ lệ người bị XHTD thời thơ ấu gặp cáctrục trặc về tình dục cao hơn nhóm khác 90% biểu hiện ở sự suy giảm ở khả năng tìnhdục, có xu hướng tình dục đồng giới và có trường hợp trở thành người mại dâmchuyên nghiệp hay quan hệ tình dục bừa bãi

XHTD trẻ em trong những năm gần đây tại Việt Nam trở thành một trongnhững vấn đề nhức nhối đối với toàn xã hội trong công cuộc bảo vệ trẻ em [29].Hậu quả của vấn đề này hết sức nghiêm trọng cả về thể chất và tính thần đối vớitrẻ em thế hệ tương lai của đất nước Nhà nước và các ban ngành chức năng,truyền thông báo chí cũng đã có những hành động, chương trình cụ thể để ngănngừa, giảm thiểu tình trạng này Tuy nhiên đến nay, tình trạng XHTD trẻ em vẫn

có những diễn biến phức tạp và nghiêm trọng; công tác bảo vệ trẻ em khỏi tìnhtrạng XHTD vẫn gặp phải nhiều khó khăn, rào cản

Nguyên nhân của hiện trạng XHTD trẻ em có thể xuất phát từ chính gia đìnhhoặc cộng đồng xã hội trong việc quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các em

Nguyên nhân thứ nhất từ phía gia đình: Vai trò của cha mẹ, người chăm sóctrẻ em thiếu nhận thức về nguy cơ, thiếu kỹ năng phòng ngừa, kỹ năng giải quyết vềpháp lý, kỹ năng chăm sóc và phục hồi cho trẻ bị XHTD về thể chất và tâm lý Phầnlớn các trường hợp gọi đến đường dây tư vấn tâm lý đều chậm hơn rất nhiều so vớithời điểm trẻ bị xâm hại Điều đáng chú ý là đa số những vụ XHTD trẻ em đều xảy

ra ở địa bàn nông thôn vùng sâu, vùng xa, cha mẹ của các nạn nhân chủ quan ít để ýđến con em mình Những kẻ phạm tội thường có quan hệ láng giềng với người bịhại Những nạn nhân còn nhỏ, bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng về thể chất và tinh

Trang 9

thần khi đưa ra xét xử, nạn nhân thường không dám xuất hiện vì sợ nhiều ngườibiết, ảnh hưởng tới danh dự bản thân.

Nguyên nhân thứ hai từ phía bản thân trẻ: Trẻ bị hạn chế nhận thức của về cáchình thức XHTD, sự tò mò khám phá về giới tính, sự thiếu kỹ năng phòng ngừa và

tố giác người xâm hại…

Nguyên nhân tứ ba từ phía xã hội: Hiện tượng xâm hại trẻ em nói chung vàXHTD nói riêng không phải là điều mới mẻ mà có thể xảy ra ở mọi nơi, mọi lúc

và hầu như ai trong số người lớn chúng ta, chủ quan hay khách quan đều biếtnhưng thờ ơ hoặc không quan tâm tới vấn đề này hoặc công tác truyền thông vềXHTD trẻ em [13], đặc biệt là vấn đề giáo dục giới tính cũng như giáo dục các

em biết cách tự bảo vệ mình còn bị coi nhẹ, chưa chú trọng ngay khi các em đanghọc mẫu giáo hay tiểu học Các trường mẫu giáo, tiểu học cũng như các bậc phụhuynh chưa chú trọng giáo dục con biết cách tự bảo vệ mình

Các nhà trường hiện nay chủ yếu chú trọng việc dạy chữ hơn dạy người, do

đó trẻ rất yếu kém trong các kỹ năng tự bảo vệ mình trước nguy cơ bị XHTD củangười khác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em mới chỉ tập trung vào điều chỉnhmột số hình thức XHTD trẻ em nghiêm trọng như hiếp dâm, cưỡng dâm, buônbán trẻ em để sử dụng vào mục đích bóc lột tình dục…mà chưa chú tọng điềuchỉnh những hình thức XHTD trẻ em ít nghiêm trọng hơn như: quấy rối tình dục,dâm ô trẻ em…Thêm vào đó về cơ bản, pháp luật mới chỉ chú ý phòng ngừa tìnhtrạng XHTD trẻ em xảy ra trong môi trường gia đình chứ chưa chú ý đến phòngngừa tình trạng này xảy ra ở các môi trường khác như ở nhà trường, ở nơi chămsóc thay thế, nơi làm việc và trong môi trường tố tụng

Số lượng trẻ em trên địa bàn tỉnh Lai Châu tính đến thời điểm hiện tại là14.652 người Nữ chiếm 7.472 người Số lượng trẻ bị xâm hại 67 trẻ Trong đó trẻ bịXHTD tính từ năm 2011 đến tháng 9 năm 2019 là 13 vụ (mang thai 02 vụ) Các đốitượng xâm hại là người ruột thịt, thân thích: 9 đối tượng Đối tượng là người quen:

04 đối tượng

Trang 10

Từ phía gia đình: Do cha mẹ, ông bà và người thân còn hạn chế, thiếuhiểu biết về kiến thức đặc điểm tâm sinh lí của trẻ, thiếu trách nhiệm trong việcquản lý, giáo dục con cái, công tác phối hợp với nhà trường và các tổ chức xãhội chưa chặt chẽ.

Do sự chênh lệch về điều kiện, môi trường sống, mối liên kết giữa các thànhviên trong gia đình và sự xói mòn giá trị truyền thống dẫn đến trẻ xâm hại

Công tác tuyên tuyền phổ biến, giáo dục kiến thức pháp luật cần bảo vệ chămsóc trẻ em còn hạn chế Trẻ em chưa được hướng dẫn đầy đủ kiến thức, kỹ năng cầnthiết để tự bảo vệ, phòng tránh bị xâm hại

Tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự hạn chế của việc du nhập vănhóa phương tây, những trang web đen, phim ảnh ngoài luông có tính chất bạo lực,khiêu dâm, sự tha hóa, biến chất về đạo đức, lố sống của một bộ phận người lớn, đãảnh hưởng không nhỏ đến việc giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách trẻ em, làmgia tăng tội phạm

Nhận thức pháp luật của một số người dân, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa,vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, nhiều người chưa nhận thức được hành

vi họ thực hiện là vi phạm pháp luật Có trường hợp bị cáo và người bị hại còn đượcgia đình tổ chức đám cưới, tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục hành vi giao cấu vớingười bị hại, do vậy việc phát hiện và xử lí chưa triệt để, một số trường hợp còn chedấu, không hợp tác để giải quyết

Đối với thành phố Lai Châu trong các năm qua tình hình trẻ em bị XHTD là 0

vụ Xong thành phố vẫn tiếp tục làm công tác tuyên tuyền giáo dục để luôn đảm bảo

an toàn cho trẻ

Từ những lí do trên đề tài nghiên cứu được chọn là“Phối hợp các lực lượng

xã hội trong giáo dục kỹ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ các trường trung học cơ sở (THCS) thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu”.

Trang 11

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn phối hợp các lực lượng xã hộitrong giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ các trường THCSthành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu, đề tài đề xuất các biện pháp phối hợp các lựclượng xã hội trong giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ tạiđịa bàn nghiên cứu

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh THCS

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục kĩ năng tự phòngtránh XHTD cho học sinh nữ các trường THCS thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

4 NHIỆM CỤ NGHIÊN CỨU

4.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của phối hợp phối hợp các lực lượng xã hộitrong giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ các trường THCSthành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

4.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của phối hợp các lực lượng xã hội trong giáodục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ các trường THCS thành phố LaiChâu, tỉnh Lai Châu

4.3 Đề xuất các biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục kĩnăng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ các trường THCS thành phố Lai Châu,tỉnh Lai Châu

5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Hiện nay, tình trạng học sinh nữ THCS bị XHTD trên địa bàn thành phố LaiChâu, tỉnh Lai Châu đang có chiều hướng gia tăng do nhiều nguyên nhân, trong đóphải kể đến nguyên nhân cơ bản là học sinh nữ chưa có kĩ năng tự phòng tránhXHTD Nếu nhà trường THCS chủ động phối hợp với các lực lượng xã hội trang bị

Trang 12

cho học sinh kĩ năng tự phòng tránh XHTD theo tiếp cận trải nghiệm thì sẽ hạn chếđược nạn XHTD tại địa bàn nghiên cứu

6 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội tronggiáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ lớp 6các trường THCSthành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Phân tích, tổng hợp, so sánh các tài liệu trong và ngoài nước về kĩ năng phòngtránh, tự phòng tránh XHTD, về giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD, trên cơ sở

đó, rút ra những kết luận khái quát, làm cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2 Phương pháp điều tra giáo dục

Xây dựng bảng hỏi bao gồm các câu hỏi đóng và mở về những vấn đề vềXHTD, kĩ năng tự phòng tránh XHTD, giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD dànhcho giáo viên, học sinh, phụ huynh, các lực lượng xã hội khác trên địa bàn thànhphố Lai Châu nhằm thu thập những thông tin liên quan đến các vấn đề này, tạo lập

cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu

7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

Trang 13

Nghiên cứu các kinh nghiệm giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTDtrong vàngoài nước, nhằm rút ra những bài học thực tiễn cho nghiên cứu đề tài

7.2.4 Phương pháp chuyên gia

Xin ý kiến các chuyên gia là những cán bộ chuyên trách làm việc ở các phòng,ban chức năng trong các tổ chức xã hội, chính trị - xã hội, các tổ chức phi chính phủ vềnhững vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu cả về lí luận và thực tiễn

7.2.5 Phương pháp khảo nghiệm

Khảo nghiệm các biện phápphối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục kĩnăng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ các trường THCS thành phố Lai Châu,tỉnh Lai Châu nhằm khẳng định tính khả thi của chúng

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng thống kê toán học vơi các tham số: Giá trị trung bình, phương sai, độlệch chuẩn, hệ số kiểm định nhằm lượng hóa những thông tin thu được, từ đó rút ranhững kết luận cho đề tài nghiên cứu

8 DỰ KIẾN CẤU TRÚC ĐỀ TÀI

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, luận văn dự liến cấu trúc thành 03 chương:

Chương 1: Lí luận vềphối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục kĩ năng tựphòng tránh XHTD cho học sinh THCS

Chương 2: Thực trạngphối hợp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục

kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ các trường THCS thành phố LaiChâu, tỉnh Lai Châu

Chương 3: Biện pháp phối hợp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục

kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ các trường THCS thành phố LaiChâu, tỉnh Lai Châu

Trang 15

Chương 1: LÍ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO

DỤCKỸ NĂNG TỰ PHÒNG TRÁNH XHTDCHO HỌC SINH THCS

1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Nghiên cứu của Darkness Light (2007) “7 steps to Protecting Our Children: Aguide for responsible adults” Cẩm nang cung cấp các thông tin cho người lớn vàoviệc năng chặn lạm dụng tình dục trẻ em cho các em trong cuộc sống của họ Thảoluận về các sự kiện tình dục trẻ em, làm thế nào để nói chuyện với trẻ em, thiết lậpdanh giới khỏe mạnh, bồi dưỡng phát triển tình dục lành mạnh và hành động ngănchặn lạm dụng tình dục

Nghiên cứu “Child sexual abuse ten ways protecr your kids” (Kathryn SeifertPhD, 2011) Nghiên cứu đề cập đến các cách để bảo vệ trẻ em khỏi XHTD: Khuyếnkhích con kể với bạn về một ngày của con; Trở thành người hiểu biết về XHTD; Chú ýnhững dấu hiệu nguy hiểm; Luôn biết con bạn ở đâu, với ai; Hãy chắc chắn rằng cónhiều hơn một người lớn giám sát nhóm thanh niên; Dạy trẻ rằng nguy hiểm có thể đến

từ những người mà chúng ta tin tưởng; Tìm liệu pháp điều trị cho nạn nhân; Nắm bắtcác dấu hiệu; Hành động nếu bạn nghi ngờ về sự xâm hại; Hỗ trợ các hoạt động nghiêncứu (phòng ngừa, đánh giá, phương pháp trị liệu hiệu quả cho nạn nhân và kẻ phạmtội)

Nghiên cứu của David Finkelhor (2009) “The Prevention of ChildhoodSexual abuse”: Tập trung vào hai phương pháp để ngăn chặn lạm dụng tình dụctrẻ em chính đó là quản lý người phạm tội và các chương trình giáo dục tạitrường học

XHTD trẻ em vấn nạn ngày càng trở nên trầm trọng ở tất cả các nước trên thếgiới Vấn đề đã và đang được Chính phủ, các Bộ, Ban, Ngành của các nước đặc biệtquan tâm nhằm nỗ lực tìm kiếm những giải pháp mang tính phù hợp để giải quyết vấnnạn này Đây cũng là vấn đề ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu củacác nhà hoạt động xã hội, các nhà khoa học

Trong công trình nghiên cứu của mình “Lạm dụng tình dục trẻ em- Nỗi phẫn uất của cộng đồng” của tác giả Ron O’ Grady- một chuyên gia của tổ chức ECPAT

Trang 16

(Tổ chức chấm dứt mại dâm, khiêu dâm và buôn bán trẻ em nhằm bóc lột tình dục,được thành lập vào những năm 1990 ở Thái Lan) đã miêu tả một thực tế rằng hàngnghìn trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái trên khắp châu Á đang là nạn nhân của nạn lạmdụng tình dục Những câu chuyện được Ron O’ Grady nói tới trong cuốn sách củamình là những câu chuyện về những đứa trẻ nghèo, bị lừa bán vào các ổ mại dâm, bị

ép bán thân, trở thành gái mại dâm trong những “sex tour”, trở thành món đồ chơitrong những cuộc vui xác thịt của người lớn Cuốn sách đã gửi tới thông điệp nhằmkêu gọi sự quan tâm và huy động sự nỗ lực của toàn xã hội cho cuộc đấu tranh nhằmngăn chặn và diệt trừ một tệ nạn đang có nguy cơ biến thành thảm họa lạm dụngtình dục trẻ em [trích theo 27]

Tác giả Finkelhor khi nghiên cứu vấn đề này vào năm 2009 đã kiểm tra, khảosát các sáng kiến nhằm ngăn ngừa lạm dụng tình dục trẻ em, tập chung vào hai chiếnlược chính, bao gồm quản lý người phạm tội và các chương trình giáo dục trong nhàtrường Ông giải thích rằng các chương trình giáo dục ở nhà trường dạy cho trẻnhững kỹ năng như làm thế nào để xác định tình huống nguy hiểm, từ chối sự tiếpcận của kẻ hành hung và huy động sự trợ giúp Finkellhor cũng chỉ ra bằng chứngrằng sự hỗ trợ các chiến lược tư vấn cho người phạm tội, đặc biệt là người chưathành niên sẽ giảm bớt sự tái phạm và ngăn ngừa những hệ quả tiêu cực về sức khỏetâm thần và cuộc sống sau này Qua kết quả nghiên cứu, ông đã đưa ra nhìn nhận

rằng: “XHTD trẻ em bao gồm toàn bộ hành vi phạm tội về tình dục mà trẻ em dưới

17 tuổi là nạn nhân; người phạm tội hoặc người có hành vi XHTD trẻ em có thể

là người lớn, quen biết hoặc không quen biết với trẻ em, thanh niên hoặc trẻ em khác Bên cạnh những hành vi phạm tội XHTD có giao cấu, định nghĩa này bao hàm cả những hành vi phạm tội mà người gây tội và nạn nhân thậm chí không có tiếp xúc với nhau về mặt thể xác như bắt trẻ em nhìn các hành vi tình dục, sử dụng trẻ em để sản xuất các ấn phẩm khiêu dâm, tán tỉnh, gạ gẫm…”[trích theo 27]

Theo khía cạnh pháp lý, XHTD trẻ em là một thuật ngữ rộng bao gồmnhững hành vi vi phạm về mặt dân sự và hình sự trong đó người lớn thực hiệnhành vi XHTD với trẻ em hoặc khai thác trẻ em vì mục đích tình dục Hiệp hội

sức khỏe tâm thần Hoa Kỳ (APA) cho rằng: “trẻ em không thể đồng tình để thực

Trang 17

hiện hành vi tình dục với người lớn; mọi người lớn thực hiện hành vi tình dục với trẻ em là đang phạm tội hình sự và là hành vi phi đạo đức mà xã hội không thể chấp nhận được và không thể coi là bình thường.” [trích theo 27].

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu khác lại cho rằng XHTD trẻ em xảy ra khingười lớn hoặc một người nhiểu tuổi hơn hoặc một người có quyền lực hơn giao tiếpvới trẻ em về tình dục để cảm thấy thỏa mãn về tình dục [29, tr 50]

Trong những năm gần đây, ở nước ta, tình trạng XHTD trẻ em ngày càng trởnên trầm trọng, số lượng trẻ bị XHTD không ngừng tăng lên qua các năm với mức độngày càng phức tạp Điều đó gây ra những bất ổn cho mỗi gia đình, mỗi địa phương

và toàn xã hội Đứng trước thực trạng này, một số nhà khoa học đã triển khai hoạtđộng nghiên cứu của mình về các vấn đề có liên quan

Trong công trình nghiên cứu “Những hậu quả về tâm lý đối với nạn nhân của tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em và giải pháp khắc phục” [23], tác giả Dương Tuyết

Miên đã đi sâu phân tích những tổn hại tâm lý mà người phạm tội gây ra cho nạnnhân của tội này Đó không chỉ đơn thuần là thiệt hại về thể chất mà còn là nhữngthiệt hại về tinh thần, bị sốc, đau đớn về thể xác, bị lây nhiễm các bệnh về tình dụctrong đó có bệnh HIV hoặc có thai Những hậu quả này không chỉ tồn tại trong mộtthời gian ngắn mà có thể tồn tại trong một thời gian dài sau khi vụ hiếp dâm xảy ra

Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp khắc phục như: “Đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật về việc quy định biện pháp xử lý tội hiếp dâm trong bộ luật hình sự cũng như việc xét xử tội này; thành lập những trung tâm tư vấn về tâm lý

để giúp cho người phụ nữ (là nạn nhân của tội hiếp dâm) có thể tâm sự để trút gánh nặng tâm lý, vơi bớt nỗi đau đè nặng trong lòng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho công dân”… [23].

Các chuyên gia thuộc Cục phòng chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động- Thươngbinh và Xã hội [7] đã đưa ra những nhận định, đánh giá và quan điểm về cơ sở lí luận,

cơ sở thực tiễn trong nước, từ đó xây dựng chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em bị XHTD Các chuyên gia của Cục cũng đã phác họa vắn tắt thực trạng tình hình trẻ

em bị XHTD ở nước ta cũng như thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em bị XHTD; đề xuất một số chiến lược tổng hợp với một tiêu tổng quát: “Tạo sự

Trang 18

chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cơ quan, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể xã hội, trong mỗi gia đình và toàn xã hội để ngăn ngừa, giảm dần và tiến tới giảm thiểu tình trạng trẻ em bị XHTD,…” [7; tr 18]

Trong đề tài luận văn thạc sĩ Luật học “Các tội phạm XHTD trong Luật hình sự Việt Nam” [34] năm 2015, tác giả Nguyễn Tuấn Thiện đã chỉ ra những tồn tại và hạn

chế của thực tiễn pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các tội phạm XHTDtrẻ em cũng như nguyên nhân của những tồn tại đó, đồng thời đề xuất các giải phápnâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về cáctội phạm XHTD trẻ em, bao gồm các nhóm giải pháp: “nhóm giải pháp về hoàn thiệnchính sách, pháp luật; nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện; nhóm giải pháp cụthể”[35]

Trong đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Giáo dục và phát triển cộng đồng

“Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong phòng ngừa XHTD trẻ em 6-11 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Yên” năm 2017, tác giả Võ Nguyễn Minh Hoàng đã tiến hành khảo

sát thực trạng nhận thức của cộng đồng, thực trạng phối hợp giữa các lực lượngcộng đồng trong việc phòng ngừa XHTD trẻ em 6 -11 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú

Yên, qua kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả khẳng định rằng: vấn đề cần quan tâm nhất trong việc phối hợp phòng ngừa XHTD trẻ em của các lực lượng cộng đồng chính là việc trang bị những kiến thức, kỹ năng về phòng ngừa XHTD cho trẻ

em cũng như cho cả cộng đồng và các hình thức, cơ chế phối hợp các lực lượng cộng đồng chặt chẽ hơn trong việc phòng ngừa XHTD cho trẻ em.

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu có thể rút ra nhận xét sau:

- Vấn đề XHTD trẻ em bước đầu đã được các nhà khoa học ở trong và ngoàinước quan tâm nghiên cứu

- Những nghiên cứu đã có chủ yếu đề cập đến những quan niệm về XHTD trẻ

em, những hành vi và mức độ XHTD và một số vấn đề cụ thể có liên quan đến thựctrạng XHTD trẻ em, phòng chống XHTD trẻ em ở lứa tuổi học sinh tiểu học

Trang 19

- Những nghiên cứu có liên quan đến XHTD trẻ em ở lứa tuổi trẻ trước tuổihọc chưa được quan tâm nghiên cứu.

Đề tài “Khảo sát thực trạng lạm dụng tình dục trẻ em và bóc lột tình dục trẻ emtại Hà Nội, Vĩnh Phúc, Đồng Tháp, Thành phố Hồ Chí Minh” do Cục phòng chống tậnạn xã hội và trung tâm nghiên cứu về giới, gia đình và phát triển CEFACOM thựchiện tháng 12/2019 [8] đã chỉ ra thực trạng lạm dụng tình dục trẻ em ở Việt Nam vànhững khác biệt; những quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề này nhưthế nào và thực hiện những chính sách, quy định ấy; những nguyên nhân chính có thểlàm trầm trọng hơn những hình ảnh tiêu cực lên nạn nhân và gia đình của họ cũng nhưquy trình, thủ tục trong việc xác định, phơi bày, báo cáo điều tra và trợ giúp các nạnnhân trong các vụ việc

Theo Tổ chức tầm nhìn thế giới, một trong những nguyên nhân gia tangXHTD trẻ em là do liên quan đến văn hóa [35] Văn hóa Việt Nam vẫn còn e dè khinhắc đến những cụm từ liên quan đến “Tình dục” hay “XHTD”, nên dạy con cáicách thức phòng tránh lạm dụng tình dục vẫn còn chưa được chú trọng hoặc cònlúng túng túng trong các gia đình Việt Nam

Từ tổng quan các nghiên cứu trên có thể thấy: Các nghiên cứu và công trìnhnghiên cứu về XHTD trẻ em đã được tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau Các nghiêncứu đã tập trung chỉ ra nguyên nhân, hậu quả và cung cấp các kiến thức, thông tinnhằm ngăn chặn, hạn chế XHTD trẻ em Lí luận và thực tiễn của luận văn Phối hợp

các lực lượng xã hội trong giáo dục kỹ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ các trường THCS thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu được xây dựng trên cơ sở kế

thừa các kết quả nghiên cứu trên và hướng nghiên cứu của đề tài tập trung nghiên cứucác biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục kĩ năng tự phòng tránhXHTD cho học sinh nữ các trường THCS thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

2 GIÁO DỤC KĨ NĂNG TỰ PHÒNG TRÁNH XHTD CHO HỌC SINH THCS 2.1 XHTD trẻ em

2.1.1 Các khái niệm có liên quan

Trang 20

* Xâm hại trẻ em

Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “Xâm hại trẻ em bao gồm mọi hình thức ngược đãi về thể chất và tinh thần, XHTD, xao nhãng, bóc lột gây ra những thương tổn về sức khỏe, tính mạng, khả năng phát triển hay phẩm giá bằng cách lợi dụng chức phận, lòng tin hay quyền hạn” [2]

Các hành vi xâm hại trẻ theo quan niệm này, đó là [7],[32]:

Xâm hại thể chất: là khi một người chủ đích gây thương tổn hoặc đe dọa gây

thương tổn tổn cho trẻ, bao gồm: đánh, đấm, đá, bóp cổ, quăng quật, giam hãm,…

Xâm hại tinh thần: là việc ai đó lặp đi lặp lại các hình thức ngược đãi tinh

thần trẻ em trong một thời gian dài Xâm hại tinh thần gây tổn hại đến lòng tự trọngcủa trẻ, bao gồm: dọa dẫm, khủng bố tinh thần, chế nhạo, cô lập trẻ Có một điềuchúng ta cần nhấn mạnh đó là tất cả các hình thức xâm hại đều gây ra những thươngtổn về tinh thần đối với trẻ

Theo Luật Trẻ em 2016, khái niệm về xâm hại trẻ em được hiểu như sau:

“Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, XHTD, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác” [22]

Theo Luật này, các hành vi xâm hại bao gồm [22]:

Bạo lực trẻ em:là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sứckhỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ýkhác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em

Bóc lột trẻ em:là hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định của pháp luật vềlao động; trình diễn hoặc sản xuất sản phẩm khiêu dâm; tổ chức, hỗ trợhoạtđộngdulịchnhằmmụcđíchXHTDtrẻem;cho,nhậnhoặc cung cấp trẻ em để hoạtđộng mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ em để trục lợi

XHTD trẻ em:là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗtrẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng

Trang 21

dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêudâm dưới mọi hìnhthức.

Bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em:là hành vi của cha mẹ, người chăm sóc trẻ em khôngthực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việcchăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em

Từ việc phân tích các khái niệm trên, theo chúng tôi, “xâm hại trẻ em là việc

ai đó có những hành vi gây tổn hại đến thể chất và tinh thần, danh dự của trẻ dưới các hình thức XHTD, bóc lột, bạo lực, mua bán, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.”

*XHTD trẻ em

Có nhiều định nghĩa về XHTD trẻ em Tuy nhiên, trong khuôn khổ của khóaluận có thể điểm qua một số khái niệm về XHTD trẻ em nhưsau:

Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), XHTD trẻ em được định

nghĩa: XHTD trẻ em là mọi hành vi lôi kéo trẻ vào các hoạt động liên quan đến tình dục, mà trẻ không đủ khả năng (hoặc không hiểu), hoặc không đủ tâm thế để đưa ra quyết định đối với các hành vi này, hoặc các hành vi đó vi phạm pháp luật hay các giá trị văn hóa của cộng đồng sở tại [35]

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: “ XHTD trẻ em là sự tham gia củamột đứa trẻ vào hoạt động tình dục mà đứa trẻ có không có ý thức đầy đủ, không cókhả năng đưa ra sự chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó chưa

đủ phát triển cả về mặt tâm sinh lý để tham gia và không thể chấp thuận tham gia,hoặc hoạt động tình dục trái với các quy định của pháp luật hoặc các thuần phong mỹtục của xã hội” [35]

Về mặt pháp lý, theo khoản 8, điều 4 Luật Trẻ em 2016: “XHTD trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức” [22] [25].

Trang 22

Hành vi XHTD có thể thay đổi từ việc sờ mó bộ phận sinh dục của trẻ, thủdâm, tiếp xúc miệng với bộ phận sinh dục, giao hợp bằng ngón tay, giao hợp quađường sinh dục hoặc hậu môn XHTD ở trẻ em không chỉ giới hạn vào các tiếp xúc

cơ thể mà còn bao gồm cả những hành vi không tiếp xúc như khoe bộ phận sinhdục cho trẻ thấy, kể cho trẻ nghe về tình dục, cho xem phim, truyện khiêu dâm, tìmcách hướng dẫn, kích thích tình dục trẻ, rình xem trộm hoặc sử dụng hình ảnh khiêudâm trẻem

Với định nghĩa này, XHTD được hiểu là bao gồm toàn bộ hành vi phạm tội vềtình dục mà trẻ dưới 17 tuổi là nạn nhân Cũng theo định nghĩa này, người phạm tộihoặc có hành vi XHTD trẻ em có thể là người lớn, người quen biết hoặc không quenbiết với trẻ em, thanh niên hoặc trẻ em khác Bên cạnh những hành vi phạm tộiXHTD có giao cấu, định nghĩa này cũng bao hàm cả những hành vi phạm tội trong đóngười phạm tội và nạn nhân thậm chí không có tiếp xúc với nhau về mặt thể xác như:

gạ gẫm, bắt trẻ em nhìn và xem các hành vi tình dục, sử dụng trẻ để sản xuất các ấnphẩm khiêu dâm,…

Từ việc phân tích các khái niệm trên, theo chúng tôi, “XHTD trẻ em là việc ai

đó dụ dỗ, lô kéo, dùng vũ lực để đe dọa, ép buộc trẻ em tham gia vào các hoạt động

có liên quan đến tình dục”.

2.1.2 Các mức độ XHTD trẻ em

Bộ luật Hình sự hiện hành [4] đã cụ thể hóa các loại tội phạm XHTD trẻ emtại các Điều 112- Tội hiếp dâm trẻ em, Điều 114- Tội cưỡng dâm trẻ em, Điều 115-Tội giao cấu với trẻ em và Điều 116- Tội dâm ô với trẻ em Tương ứng với các loạitội phạm này chính là các mức độ XHTD trẻ em, trong đó:

Hành vi hiếp dâm trẻ em : Mọi trường hợp giao cấu với trẻ dưới 13 tuổi

hoặc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ đượccủa nạn nhân là trẻ em từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc thủ đoạn khác giao cấu vớinạn nhân là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ Cụ thểnhư sau:

Trang 23

- Hành vi dùng vũ lực là hành vi sử dụng sức mạnh vật chất (có hoặc không

có công cụ, phương tiện phạm tội) tác động vào nạn nhân là trẻ em nhằm đè bẹphoặc làm tê liệt sự kháng cự của nạn nhân chống lại việc giao cấu như xô ngã, vật,đánh, trói, giữ, bóp cổ nạn nhân…

- Hành vi đe dọa dùng vũ lực là hành vi dùng lời nói hoặc hành động uy hiếptinh thần nạn nhân, làm cho nạn nhân sợ hãi, tê liệt về ý chí, buộc họ phải chịu sựgiao cấu mà không dám kháng cự như dọa giết, dọa gây thương tích cho nạn nhânnếu nạn nhân chống cự

- Hành vi lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân là hành vi lợidụng nạn nhân là trẻ em vì một lý do nào đó không thể chống lại được hành vi giaocấu trái ý muốn của mình như lợi dụng nạn nhân đang lúc ốm đau để thực hiện hành

- Hành vi giao cấu trái ý muốn của nạn nhân là trẻ em Giao cấu trong tội hiếpdâm trẻ em là quan hệ tình dục nhằm thỏa mãn dục vọng của người phạm tội

Hành vi cưỡng dâm trẻ em là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến trẻ em từ đủ

13 tuổi đến dưới 16 tuổi lệ thuộc mình hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách phảimiễn cưỡng giao cấu

Hành vi giao cấu với trẻ em là trường hợp người thành niên có hành vi giao

cấu với đối tượng là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và hành vi này được thựchiện với sự thuận tình của trẻ em

Tuy nhiên, ở lứa tuổi này sự phát triển của trẻ em cả về thể chất và tâm sinh lý

là chưa đầy đủ Ngoài ra, sự nhận thức cũng như hiểu biết về quan hệ tình dục và

Trang 24

hậu quả của nó nằm ngoài khả năng của trẻ em Do vậy, người thành niên phải cótrách nhiệm hướng dẫn, giáo dục và chăm lo cho sự phát triển bình thường về mọimặt của trẻ em, nhằm tránh cho trẻ em không có ý thức và khả năng kiểm soát.

Hành vi dâm ô với trẻ em là hành vi của người đã thành niên dùng mọi thủ

đoạn có tính chất dâm dục đối với người dưới 16 tuổi nhằm thỏa mãn dục vọng củamình nhưng không có ý định giao cấu với nạn nhân Biểu hiện của hành vi dâm ô đólà:

- Buộc trẻ thực hiện các động tác tác động vào bộ phận sinh dục và các bộphận khác trên cơ thể người phạm tội để tìm cảm giác khoái lạc

- Thực hiện các động tác tác động vào bộ phận sinh dục của trẻ em như: nắn,

sờ, xoa bóp, hôn hít,… nhằm tạo cảm giác khoái lạc cho mình

Đây là hành vi tình dục nhưng không phải là hành vi giao cấu, hành vi đó cóđặc điểm thỏa mãn hoặc khêu gợi, kích thích nhu cầu tình dục

Tác giả Nguyễn Thị Đào [10] đề cập đến những dấu hiệu sau ở trẻ có thể gợi

ý tới việc trẻ đã bị XHTD:

Biểu hiện bên ngoài về việc trẻ có thể bị XHTD bao gồm: Quần áo trẻ bị rách,

nhàu nát và bẩn; có vết máu hoặc vết bẩn trên quần áo, cơ thể của trẻ

Dấu hiệu về thể chất bao gồm: Trẻ bị đau, sưng, ngứa, xước, bầm tím và chảy

máu ở cơ quan sinh dục, hậu môn hoặc các cơ quan khác nhau trên cơ thể; đau buốt

Trang 25

khi đi tiểu tiện hoặc đại tiện; xuất hiện bệnh lây truyền qua đường tình dục; trẻ có bấtthường ở hậu môn trực tràng hoặc mặt trong đùi; bị đau bụng mãn tính hoặc đau vùnghậu môn, nhiễm khuẩn đường tiết niệu tái diễn; có thai dễ xảy ra với trường hợp nạnnhân là bé gái đã đến tuổi dậy thì;…

Biểu hiện về hành vi bao gồm: Trẻ bỗng dưng di chuyển khó khăn, ngồi khó

khăn; có những hành vi sờ mó cơ quan sinh dục, thủ dâm, chăm chút hình thức bênngoài quá mức; thích hoặc sợ nói (né tránh) về chủ đề tình dục; trẻ đột nhiên có nhữnghành vi của trẻ nhỏ hơn hay đã bỏ từ lâu như đái dầm, mút ngón tay; không cho cởiquần áo khi tắm, đi vệ sinh; đột nhiên có tiền, đồ chơi hay những món quà khác màkhông biết từ đâu mà có; thực hiện hành vi tình dục với đồ chơi hoặc thú nhồi bông;kết quả học tập giảm sút; với thanh thiếu niên có thể có thêm các dấu hiệu như tự gâythương tích cho bản thân, bỏ nhà đi, trầm cảm, tự tử,…

2.1.4 Hậu quả của việc trẻ bị XHTD

XHTD trẻ em không chỉ để lại những hậu quả nghiêm trọng cả về thể chất vàtinh thần cho trẻ, nó còn gây ra những hậu quả đối với gia đình có trẻ bị xâm hạicũng như hậu quả đối với cộng đồng và xã hội [8], [12], [23], trong đó:

Hậu quả đổi với bản thân trẻ bị XHTD: những hậu quả về mặt thể chất

thường có thể thấy từ sớm, ngay sau khi trẻ bị XHTD như: gây ra những tổn thươngnặng nề tại bộ phận sinh dục của trẻ, nhất là ngay sau khi bị XHTD, trẻ đi lại hoặcngồi khó khăn Nghiêm trọng hơn, với những trường hợp đi kèm với bạo lực, trẻ bịxâm hại có thể dẫn tới tử vong Nhiều nạn nhân trẻ em bị nhiễm các bệnh xã hội,bệnh lênh truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS

Với nạn nhân là trẻ em gái đã đến tuổi dậy thì, việc bị XHTD có thể khiến các

em mang thai ngoài ý muốn Khi cơ thể trẻ đang ở độ tuổi phát triển chưa hoànchỉnh, việc mang thai ngoài ý muốn rất nguy hiểm cho bản thân các em và cả thainhi Nhiều trường hợp các em đã phải phá thai vì chưa ý thức được vai trò, tráchnhiệm làm mẹ Điều này gây ra những tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe, thậm chí

Trang 26

có khả năng dẫn đến vô sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe sinh sản và hạnhphúc gia đình của các em về sau,…

XHTD cũng gây ra những hậu quả về mặt tinh thần cho trẻ em trong cả mộtthời gian dài Trẻ có thể có những cảm giác bất an, giật mình, tưởng tượng ra hìnhảnh kẻ xâm hại hay tiếng nói của kẻ xâm hại; tức giận bất thường và có các hành vihung tính ( đạp phá đồ đạc, đánh người xung quanh, ) Nhiều trường hợp trẻ tự gâyhại cho bản thân như tự trẻ làm đau mình, tự cắn mình hoặc dùng dao rạch vào cơthể,… Trẻ rơi vào trạng thái hoảng sợ và không có lối thoát Vì thế nhiều em rơi vàotrạng thái bế tắc và tìm đên cái chết

XHTD còn gây ra những lệch lạc giới tính cho các em Khi trẻ em bị XHTD

có thể trẻ sẽ không phát triển một cách tự nhiên về mặt sinh lý mà có nguy cơ bịlệch lạc về tình dục Những ám ảnh về việc bị lạm dụng, đặc biệt là hành vi tình dụcđồng giới có thể khiến trẻ trở thành những người đồng tính luyến ái

Khi trẻ ở độ tuổi lớn hơn, việc từng bị XHTD có thể khiến trẻ cảm thấy khókhăn trong việc tiếp xúc với bạn khác giới, khó vui chơi bình thường như các bạncùng trang lứa Sự tổn thương sẽ trở thành nỗi đau âm ỉ trong tầm hồn các em, khiếncác em trở lên rụt rè, khép kín Khi có những động chạm thông thường vào cơ thể,đặc biệt là khi yêu ai đó, các em dễ mang tâm lý căng thẳng, hoảng loạn

Đến tuổi trưởng thành, trẻ từng bị XHTD có thể băn khoăn, trăn trở, hoài nghi

về tình yêu mà mình đang nhận được có thật không hay chỉ là họ cũng lợi dụng đểxâm hại mình Các em thậm chí sợ sệt chính người yêu của mình, cảm thấy hoảngloạn, sợ hãi mỗi khi hai người gần gũi Thậm chí, khi đã kết hôn, người từng bị xâmhại vẫn mang tâm trạng lo lắng không biết mình có thể có con bình thường đượckhông; sợ chồng và gia đình nhà chồng biết được câu chuyện trong quá khứ củamình,… [14]

Hậu quả đối với gia đình trẻ bị xâm hại: không chỉ trẻ chịu những ảnh hưởng

nghiêm trọng của việc bị XHTD, những người thân trong gia đình, đặc biệt là cha

mẹ trẻ sẽ có cảm giác đau đớn, u buồn, căng thẳng

Trang 27

Gia đình trẻ bị XHTD sẽ bị dư luận xã hội chú ý và đôi khi còn bị coithường, khinh miệt Trong nhiều trường hợp, thậm chí còn ảnh hưởng đến cuộcsống tương lai của chị em trong gia đình Thậm chí, bản thân nạn nhân và gia đìnhphải chuyển chỗ ở, chuyển đổi nơi làm việc và sống trong tình cảnh ức chế, căngthẳng.

Hậu quả đối với cộng đồng xã hội:XHTD trẻ em là hành động trái pháp

luật Tội phạm XHTD trẻ em gây mất an toàn xã hội XHTD trẻ em tác động lớnđến đạo đức xã hội, đến luân thường đạo lý, đến truyền thống văn hóa lâu đời củangười Việt Nam Loại hình tội phạm này cần phải hạn chế và loại bỏ khỏi xã hội

* Quan niệm thứ nhất: Xem xét kĩ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác,

của hành động Đại diện quan niệm này có các tác giả:

- A.V Krutexki cho rằng: “Kĩ năng là phương thức thực hiện một hành động haymột hoạt động nào đó nhờ sử dụng những thủ thuật, những phương thức đúngđắn”[Dẫn theo tài liệu số 20] Theo ông, con người chỉ cần nắm vững phương thứchành động là có kĩ năng, không cần quan tâm đến kết quả của hành động

- Tác giả Trần Trọng Thủy cũng đồng quan điểm với A.V Krutexki Ông chorằng “Kĩ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nằm vững cách hành độngtức là nắm vững kỹ thuật hành động là có kĩ năng”[Dẫn theo tài liệu số 20]

* Quan niệm thứ hai: xem xét kĩ năng nghiêng về mặt năng lực của conngười Theo quan niệm niệm này, kĩ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hànhđộng mà còn là biểu hiện của năng lực của con người, đồng thời có tính đến kết quảcủa hành động Quan niệm này cho rằng, kĩ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính

Trang 28

mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo và vừa có tính mục đích Đại diện cho quan niệm này

có các tác giả sau:

Như vậy, từ việc tìm hiểu về hai xu hướng trên chúng ta có thể nhận thấyrằng: Về mặt hình thức diễn đạt, hai xu hướng trên có vẻ khác nhau, tuy nhiên, vềthực chất thì chúng hoàn toàn không mâu thuẫn hay phủ định lẫn nhau Chúng chỉkhác nhau ở chỗ mở rộng hay thu hẹp phần cấu trúc của kĩ năng và những đặctính của chúng

Các nhà Giáo dục học cũng phân kĩ năng thành hai loại: kĩ năng bậc 1 và kĩnăng bậc 2

- Kĩ năng bậc 1 là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp vớinhững mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là hành động

cụ thể hay hành động trí tuệ

Muốn có kĩ năng, trước hết phải có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu biết về nộidung công việc mà kĩ năng hướng vào và tri thức về bản thân kĩ năng cũng như quytrình luyện tập từng thao tác riêng rẽ cho đến khi thực hiện một hành động đúng vớimục đích yêu cầu đề ra Loại kĩ năng này thông qua luyện tập đến mức hoàn hảo, cácthao tác được diễn ra hoàn toàn tự động hóa, không cần có sự hiện diện của ý thức hoặc

sự tham gia của ý thức rất ít thì biến thành kĩ xảo Loại kĩ năng này như: kĩ năng viết, kĩnăng đi xe đạp, kĩ năng đan len

- Kĩ năng bậc 2 là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thànhthạo, linh hoạt sáng tạo phù hợp với mục tiêu trong các điều kiện khác nhau Để đạttới kĩ năng này cần trải qua các giai đoạn tập luyện trên cơ sở kĩ năng bậc 1 và kĩxảo, sao cho mỗi hành động người ta hoàn toàn không bận tâm đến các thao tác nữa

mà mọi suy nghĩ tập trung vào việc tìm ra biện pháp, phương pháp tốt nhất phù hợpvới những hoàn cảnh, điều kiện luôn biến động để đạt được mục đích Trong kĩ năng bậc

2, yếu tố linh hoạt, sáng tạo là yếu tố cơ bản, đó là cơ sở cho mọi hoạt động đạt được hiệuquả cao Khi nói về kĩ năng hoạt động người ta thường nói về kĩ năng bậc 2, bởi vì kĩ năng

Trang 29

bậc 1 không đảm bảo cho nhiều hoạt động đạt tới thành công Trong hoạt động dạy học vàgiáo dục, mục tiêu là phải làm cho học sinh nắm được kĩ năng bậc 2 trong từng hoạt động

cụ thể mà chương trình đề ra

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng khái niệm kĩ năng theo

khuynh hướng thứ hai: Kĩ năng là quá trình thực hiện hệ thống các thao tác hành động dựa trên sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã có trong những điều kiện nhất định.

* Tự phòng tránh XHTD

Từ khái niệm XHTD nêu trên, chúng tôi cho rằng:Tự phòng tránhXHTD là quá trình cung cấp cho cá nhân những kiến thức, kỹ năng về XHTD để cá nhân tự phòng ngừa, ngăn chặn những hành động dụ dỗ, lô kéo, dùng vũ lực để đe dọa, ép buộc cá nhân tham gia vào các hoạt động có liên quan đến tình dục.

*Kĩ năng tự phòng tránh XHTD

Từ khái niệm kĩ năng, tự phòng tránh XHTD nêu trên, chúng tôi cho rằng: Kĩ năng tự phòng tránh XHTD là quá trình thực hiện các thao tác hành động mang tính ngăn chặn, phòng ngừa, phản đối những hành vi XHTD và những hành vi khác

có liên quan, dựa trên những kiến thức, kinh nghiệm đã có và trong những tình huống, bối cảnh nhất đinh

2.3 Giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh THCS

2.3.1 Khái niệm

Giáo dục là một quá trình, trong đó, dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục,người được giáo dục tự giác, tích cực, chủ động tham gia, thực hiện các hoạt động

tự giáo dục, nhằm có được kiến thức, hành vi và thái độ đạo đức tương ứng

Với các khái niệm về giáo dục, kỹ năng tự phòng tránh XHTD nêu trên,

chúng tôi cho rằng: Giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD là một quá trình, trong

Trang 30

đó, đối tượng giáo dục được cung cấp những kiến thức, kỹ năng về tình dục và XHTD, nhằm giúp cho đối tượng giáo dục có thể tự phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi có biểu hiện quấy rối, xâm hại, làm dụng tình dục mang tính nguy hiểm cho bản thân và có những thái độ phù hợp tương ứng

2.3.2 Đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh THCS

Lứa tuổi HS THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11 - 15 tuổi Đó lànhững em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trưởng THCS Lứa tuổi này có sự pháttriển nhảy vọt về tâm- sinh lý và xã hội[11], [14], [15], [16], [26]:

Về mặt xã hội: Địa vị của các em trong gia đình đã thay đổi, được gia đình

thừa nhận là một thành viên tích cực, được giao nhiệm vụ cụ thể, được tham gia bànbạc một số công việc của gia đình Ở nhà trường, hoạt động học tập có nhiều thayđổi tác động mạnh đến đời sống tâm lý của các em Ngoài xã hội lứa tuổi này đượcthừa nhận như một thành viên tích cực, tham gia hoạt động công tác xã hội Vì thếmối quan hệ của các em được mở rộng, tầm hiểu biết, kinh nghiệm sống, nhân cáchcủa các em được phát triển phong phú hơn so với các giai đoạn trước

Về mặt đời sống tình cảm: Tình cảm diễn biến sâu sắc, phong phú, đa dạng và

phức tạp hơn ở giai đoạn trước Tuy nhiên rất dễ xúc động, mang tính bồng bột, dễ

bị kích động, vui buồn chuyển hoá nhanh chóng Trong mối quan hệ với bạn bè xuấthiện tình cảm khác giới, có nguyện vọng được bạn khác giới quan tâm, yêu thích.Tình cảm bắt đầu phục tùng ý chí, tình cảm đạo đức phát triển mạnh, tình cảm bạn

bè, tình tập thể, tình đồng chí cũng được phát triển Xuất phát từ việc coi trọng tìnhbạn, muốn giao tiếp với bạn cùng tuổi mà ở các em có nguyện vọng được khẳngđịnh vị trí của mình trong tập thể Các em có khát vọng mạnh mẽ đó là muốn chiếm

vị trí được tôn trọng trong nhóm bạn bè cùng tuổi Nguyện vọng này thể hiển nhucầu tự khẳng định và có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển tâm lý, nhân cách của

Trang 31

thiếu niên Các em có cảm xúc nặng nề nếu quan hệ với bạn bị tổn thương, mất bạn,

sự tẩy chay của bạn bè

Khuynh hướng muốn làm người lớn thể hiện về nội dung và hình thức nhưtrong học tập các em muốn độc lập lĩnh hội tri thức, có quan điểm và lập luận riêng.Trong phạm vi ý thức xã hội, các em đòi hỏi mong muốn người lớn quan hệ, đối xửvới mình bình đẳng như đối xử với người lớn Tuy nhiên sự không thay đổi và cáchứng xử giữa người lớn với các em gây ra không ít những xung đột ở lứa tuổi này.Có

ý thức rõ rệt về giới tính, quan tâm đến đời sống tình cảm của người lớn vì thế lứatuổi này thường có tâm lý phóng đại các năng lực của mình, thường đánh giá caohơn hiện thực, thể hiện dưới dạng bướng bỉnh, tỏ ra bất cần trước những việc làmhàng ngày cũng như những thất bại mà các em trải nghiệm

Sự khủng hoảng trong lứa tuổi thiếu niên: vị trí xã hội của thiếu niên có sự thay

đổi, các em có vị trí trung gian không ổn định giữa người lớn và trẻ em, cùng với việccác em được giao nhiệm vụ nhiều hơn, được người lớn đòi hỏi sự cư xử nghiêm chỉnhhơn Thiếu niên ý thức được sự phát triển của cơ thể theo hướng người lớn, cùng vớiviệc xuất hiện sự rung cảm mới của các em

Sự phát triển nhân cách: Các em thường cố gắng bắt chước những mẫu người

lý tưởng mà các em tự lựa chọn làm thần tượng của mình Sự phấn đấu vươn lên theohình mẫu lý tưởng đó giúp thiếu niên hình thành những phẩm chất ý chí như: sứcmạnh, lòng dũng cảm, tinh thần vượt khó khăn để đạt mục đích Tuy nhiên sự ngưỡng

mộ, sùng bái các giá trị này không phải lúc nào cũng phát triển theo chiều hướng phùhợp với những giá trị đạo đức xã hội tích cực

Sự phát triển của tự ý thức: Sự hình thành tự ý thức ở các em là quá trình diễn

ra dần dần Cơ sở đầu tiên của sự tự ý thức là sự tự đánh giá của người khác, nhất làngười lớn Dần dần các em bắt đầu có khuynh hướng độc lập phân tích và đánh giánhân cách của mình hơn

Trang 32

Sự hứng thú: Hứng thú của thiếu niên phát triển khá mạnh mẽ cả về chiều

rộng lẫn chiều sâu, thể hiện ở sự quan tâm đến kết quả hoạt động, đến bản chất, ýnghĩa của hoạt động, thể hiện ở thái độ tích cực với hiện tượng khách quan.Tuynhiên hứng thú các em còn nhiều hạn chế cụ thể như:

- Do muốn thoả mãn nhiều lĩnh vực nên hứng thú còn tản mạn, chưa ổn định,

dễ thay đổi

- Hứng thú chủ yếu thiên về hoạt động thực tiễn có tính chất kỹ thuật đơn giản.Học sinh nữ THCS, vừa mang những nét đặc trưng về tâm- sinh lý lứa tuổi,vừa mang những nét đặc trưng của giới nữ (phái yếu), có rất nhiều nguy cơ bịXHTD do những yếu thế là đặc trưng của giới nữ trong việc phòng tránh XHTD

Do vậy, học sinh nữ tuổi thiêú niên rất cần có những kiến thức, kĩ năng phòngtránh XHTDvì đây là đối tượng rất dễ bị XHTD Mặt khác, học sinh nữ THCS cónhững hiểu biết hạn chế nhất định về tình dục và XHTD Các em còn khá bỡ ngỡ,

lo lắng về, tò mò vấn đề nàyvà chưa có kĩ năng tự phòng tránh XHTD, trong khi

đó khả năng tự phòng vệ, tự phòng tránh còn khá hạn chế Do đó, học sinh nữTHCS cần được cung cấp kiến thức, kĩ năng để các em tự phòng tránh XHTD chobản thân

2.3.3 Mục tiêu giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh THCS

Mục tiêu giáo dục là kết quả mong đợi từ phía người được giáo dục về kiếnthức, thái độ và hành vi sau khi kết thúc một giai đoạn, một quá trình giáo dục nào đó

Mục tiêu giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ trườngTHCS giúp học sinh nữ:

- Hiểu rõ các kiến thức về tình dục, XHTD: Quấy rối, sàm sỡ, lạm dụng, xâmhại và kiến thức về phòng tránh XHTD;

- Biết nói “không” với các hành vi lôi kéo thể hiện quấy rối, sàm sỡ, lạm dụngtình dục….và có thái độ phản ứng với các hành vi đó;

Trang 33

- Ứng phó được với các hành vi nguy hiểm có liên quan đến XHTD;

- Biết tìm kiếm sự hộ trợ từ người khác khi ở trong tình huống cơ nguy cơ gâynguy hiểm đến bản thân

- Tự giải thoát được cho bản thân khi không tìm kiếm được sự hỗ trợ

2.3.4 Nội dung giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh THCS

Nội dung giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD là những kiến thức, kĩ năng

mà học sinh cần phải có để tự phòng ngừa, tự ứng phó được với những hành vi lôikéo, bạo lực liên quan đến tình dục[9], [26]

Các nội dung giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ trườngTHCS bao gồm:

- Cung cấp cho học sinh nữ các kiến thức về tình dục, XHTD: quấy rối, sàm

sỡ, lạm dụng, xâm hại và kiến thức về phòng tránh XHTD;

- Hình thành học sinh kĩ năng từ chối để biết nói “không” với các hành vi lôikéo thể hiện quấy rối, sàm sỡ, lạm dụng tình dục….và có thái độ phản ứng với cáchành vi đó;

- Hình thành cho học sinh kĩ năng ứng phó được với các hành vi nguy hiểm

Trang 34

Căn cứ vào các nội dung giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho họcsinh nữ nêu trên, căn cứ vào các phương pháp giáo dục nói chung, các phươngpháp giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ trường THCS đượcxác định như sau [2]:

a Phương pháp đàm thoại

Đàm thoại là phương pháp trò chuyện giữa nhà giáo dục và người được giáodục về các chủ đề có liên quan đến các chuẩn mực xã hội nói chung, các chuẩn mựcđạo đức, pháp luật, thẩm mỹ nói riêng bằng một hệ thống các câu hỏi do nhà giáodục chuẩn bị trước

+ Thông qua đàm thoại với các chuyên gia, với giáo viên, học sinh nữ trườngTHCS có cơ hội được nghe sự giải thích, đánh giá những sự kiện, hiện tượng có liênquan đến các hành XHTD,…trên cơ sở đó có những kiến thứ, hiểu biết nhất định vềtình dục và XHTD, từ đó rút ra những kết luận bổ ích cho bản thân

+ Thông qua đàm thoại, học sinh nữ THCS có điều kiện để khắc sâu, phát triển,

hệ thống hoá những vấn đề có liên quan đến XHTD

+ Qua đàm thoại sẽ hình thành và phát triển được cho học sinh nữ THCS cóniềm tin đối với các CMXH và trên cơ sở đó hình thành được ý thức cá nhân củacác emđối với các CMXH quy định

- Yêu cầu thực hiện phương pháp đàm thoại:

+ Công tác chuẩn bị đàm thoại:

Nhà giáo dục cần xác định rõ chủ đề, mục tiêu, nội dung của buổi đàm thoại;xây dựng hệ thống câu hỏi (chính - phụ) và thông báo cho người được GD chuẩn bịtrước

+ Tổ chức đàm thoại: Người tổ chức nêu lên chủ đề, mục tiêu, nội dung vàcác câu hỏi đặt ra của buổi đàm thoại; Sau đó tổ chức trò chuyện giữa nhà giáo dụcvới người được giáo dục và giữa những người được giáo dục với nhau; Các ý kiếnđược lật đi lật lại cho đến khi hoàn thành mục tiêu chủ đề đàm thoại

Trang 35

+ Kết thúc đàm thoại: Nhà giáo dục cần kích thích những người được giáo dục rút

ra những kết luận, bài học cần thiết đối với bản thân và những người xung quanh Saucùng nhà giáo dục tổng kết đánh giá kết quả đàm thoại

b Phương pháp kể chuyện

Kể chuyện là phương pháp tác động rất mạnh mẽ tới cảm xúc của người nghethông qua cách thức kể chuyện của người kể và các nhân vật, tình huống trong nộidung của cốt truyện Vì vậy, kể chuyện là phương pháp được sử dụng rất phổ biếntrong quá trình giáo dục với những người được giáo dục nhỏ tuổi

- Kể chuyện là phương pháp nhà giáo dục dùng lời nói, điệu bộ, cử chỉ, nétmặt để thuật lại một cách sinh động một câu chuyện có ý nghĩa giáo dục

- Yêu cầu khi thực hiện phương pháp kể chuyện trong giáo dục kĩ năng phòngtránh XHTD cho học sinh nữ THCS:

+ Chuyện kể là những tình huống về có liên quan đến XHTD trong thực tiễn,phù hợp với trình độ nhận thức, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh nữ lứa tuổi THCS.Chuyện kể có thể có thể kết hợp với băng hình, các bức tranh ảnh minh hoạ chonhững tình huống nổi bật

+ Sau khi kể chuyện, nhà giáo dục có thể nêu một số câu hỏi cho học sinh đểtrao đổi nhằm khắc sâu những bài học về các vấn đề liên quan đến xâm hịa tình dục,củng cố niềm tin của các em đối với các CMXH

c Phương pháp giảng giải

- Giảng giải là phương pháp trong đó, nhà giáo dục dùng lơì nói để giải thích, chứngminh các CMXH đã được qui định, nhằm giúp cho người được giáo dục hiểu và nắmđược ý nghĩa, nội dung, qui tắc thực hiện các chuẩn mực này Thông qua giảng giải,người được giáo dục nắm vững những tri thức về các CMXH một cách tự giác trên

cơ sở những luận cứ, luận chứng khoa học, ví dụ cụ thể, rõ ràng… thông qua cáchphân tích, giảng giải của nhà giáo dục, hình thành niềm tin ở người được giáo dục

về các CMXH quy định Qua giảng giải người được giáo dục tránh được các tình

Trang 36

trạng: nắm các CMXH, mù quáng, máy móc, hình thức dẫn đến những hành vitương ứng không tự giác.

- Yêu cầu trong quá trình giảng giải về việc phòng tránh XHTD cho học sinh

nữ lưá tuổi THCS

+ Chuẩn bị nội dung diễn giải đầy đủ, chính xác, đáp ứng các câu hỏi: Tạisao? Nội dung gồm? Thực hiện theo qui tắc nào?

+ Khi giảng giải phải:

• Lời nói: rõ ràng, khúc triết, không lan man dài dòng

• Lập luận: chính xác, dễ hiểu, lô gíc

• Minh hoạ: Tranh ảnh, băng hình (nếu cần), giáo dục thực tế gần gũi đời thường,

có tính thực tế

• Có thể và nên thu hút người được giáo dục tham gia vào giải thích chứng minh…

và rút ra kết luận trong quá trình giảng giải

• Nên liên hệ để người được giáo dục liên hệ với thực tế, với bản thân

d Phương phápnêu gương

- Nêu gương là phương pháp dùng những tấm gương sáng của các cá nhân hoặccủa tập thể để kích thích những người được giáo dục học tập và làm theo

+ Trên cơ sở: mục tiêu, nội dung giáo dụckĩ năng tự phòng tránh XHTD chohọc sinh nữ, đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi THCS, nhà giáo dục lựa chọn nhữngtấm gương sáng về kĩ năng tự phòng tránh XHTD nhằm giúp cho học sinh nữ họctập để có những hiểu biết và kinh nghiệm bổ ích

e Phương pháp luyện tập

Tập luyện là phương pháp tổ chức cho người được giáo dục thực hiện mộtcách đều đặn và có kế hoạch các hoạt động nhất định, nhằm biến những hành động

đó thành những thói quen ứng xử ở người được giáo dục

Với phương pháp này, nhà giáo dục tổ chức cho học sinh nữ nắm được quy

Trang 37

tắc hành vi và hình dung rõ hành vi đó cần thực hiện như thế nào để giúp học sinh

nữ có thể định hướng cho việc thực hiện hành vi đó qua tập luyện, nhằm hình thànhcác kĩ năng cần thiết cho việc tự phòng tránh XHTD

+ Trong những trường hợp cần thiết, nhà giáo dục có thể làm mẫu cho học sinh

nữ về những hành vi cần tập luyện.tập, hướng dẫn các em luyện theo quy tắc hành vi,theo mẫu hành vi đã giới thiệu, khuyến khích học sinh tập luyện thường xuyên, lặp đilặp lại những hành vi đã tập luyện, kết hợp với kiểm tra uốn nắn thường xuyên hành vi

đó theo yêu cầu quy trình chuẩn đồng thời khuyến khích, động viên các em tự kiểm tra,

tự uốn nắn hành vi của mình trong quá trình luyện tập

f Phương pháp rèn luyện

Khi học sinh nữ đã có kĩ năng phòng tránh XHTD, cần tổ chức các tìnhhuống, bối cảnh gắn với thực tiễn để học sinh nữ trải nghiệm, rèn luyện các kĩ năng,giúp các em thành thạo hơn các kĩ năng đã được hình thành, nhằm phòng tránhXHTD đạt hiệu quả

2.6 Hình thức giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh THCS

Hình thức giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh nữ trườngTHCS được thực hiện thông qua:

- Dạy học các môn học nhiều tiềm năng trong nhà trường THCS: Giáo dụccông dân; Vật lý; Hóa học

- Thông qua tổ chức các hoạt động trải nghiệm với các chủ đề: Giáo dục giớitính; giáo dục phòng tránh XHTD; giáo dục kỹ năng sống với các hình thức: sinhhoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp

- Thông qua tham vấn, tư vấn tâm lý tại các phòng tham vấn tâm lý của cácnhà trường THCS

- Thông qua phối hợp với cha, mẹ học sinh và các lực lượng xã hội để giáo dục

kĩ năng phòng tránh xâm hại tinh dục cho học sinh nữ đạt hiệu quả cao hơn

- Thông qua các phương tiện thông tin và truyền thông

Trang 38

3 PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC KĨ NĂNG TỰ PHÒNG TRÁNH XHTD CHO HỌC SINH THCS

3.1 Các lực lượng xã hội tham gia giáo dục kĩ năng tự phòng tránh XHTD cho học sinh THCS

3.1.1 Gia đình

Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thànhviên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệcon nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứngnhững nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội

về tái sản xuất con người Gia đình là một tế bào của xã hội

Gia đình là một trong những yếu tố chính quyết định sự nhận thức của trẻ vớithế giới quan bên ngoài Đồng thời cũng là yếu tố chính bảo vệ và chăm sóc trẻtrong bất cứ xã hội nào Ở Việt Nam, phần lớn trẻ em (0-17 tuổi) đều lớn lên vàtrưởng thành trong đơn vị gia đình Chính vì điều đó, gia đình đóng vai trò rất quantrọng trong giáo dục phòng ngừa XHTD ở trẻ đặc biệt ở độ tuổi thiếu niên 9-15 tuổi

Trẻ em bước qua những giai đoạn để trưởng thành sẽ được tiếp xúc trong mộtquãng thời gian dài ở môi trường giáo dục trường học, nhóm bạn đồng trang lứa nhưnggia đình vẫn giữ một vai trò chủ yếu trong việc định hình bản chất công việc giáo dụcphòng ngừa XHTD ở trẻ vì: giai đoạn đầu đời của trẻ gắn liền với đời sống gia đình,điều này khiến bản chất tình cảm, cảm xúc gắn chặt với gia đình; trẻ được giáo dục từnhững việc cơ bản nhất như vệ sinh cá nhân, sinh hoạt gia đình, rèn luyện sức khoẻthan thể; đặc biệt là được giáo dục về sức khoẻ, giới tính, nhân phẩm đạo đức từ đó xâydựng tình cảm, tính cách đặc trưng và đặc biệt là niềm tin với thế giới quan, nhân sinhquan,…

Một trong những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ XHTD trẻ em là sự quan tâm,giáo dục về đời sống gia đình của ông bà, cha mẹ còn hạn chế Vì vậy, để giáo dụcphòng chống XHTD ở trẻ ban chỉ đạo công tác gia đình các cấp phải đẩy mạnhtuyên truyền, giáo dục các gia đình thực hiện tốt Luật Hôn nhân Gia đình, trong đó,

Trang 39

quan tâm đến giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình để mỗi gia đình nâng cao ýthức về vai trò của ông bà, trách nhiệm của cha mẹ và bổn phận của con cháu trongviệc phòng, chống XHTD trẻ em Mỗi gia đình nên giáo dục con cách tự bảo vệ,không để tệ nạn xã hội, trong đó có XHTD xâm nhập vào.

Nhà trường không chỉ là một thiết chế xã hội mà còn là một cơ sở giáo dụcthực hiện chức năng hình thành và phát triển nhân cách học sinh một cách có tổchức, có kế hoạch, có mục đích xác định Đó là hoạt động mang tính ý thức, tính tựgiác, tiến hành việc truyền thụ hệ thống các khoa học tự nhiên, xã hội và con người,xây dựng cơ sở khoa học của niềm tin, thế giới quan, định hướng cho mọi bướcđường phát triển nhân cách Giáo dục nhà trường mang tính quyết định, đồng thờiđịnh hướng và tạo nên sự thống nhất giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trongcông tác giáo dục trẻ nói chung và giáo dục trẻ về phòng ngừa XHTD nói riêng

Mặc khác, thiếu niên ở lứa tuổi 9-15 hầu hết đều được đến trường, đều có những

cơ hội được học tập, rèn luyện và tiếp xúc với những kiến thức mới chủ động phát huytính tích cực trong hoạt động chủ đạo là học tập và giao tiếp nhằm hình thành và pháttriển nhân cách, tạo nên tiền đề để tạo dựng con người có tiềm lực phát triển Giáo dụctrong cuộc đời mỗi người có ý nghĩa cơ bản và lâu dài

3.1.3 Hội phụ nữ

Hội phụ nữ là tổ chức đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chínhđáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước;

Trang 40

đoàn kết, vận động, phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước, vận động xã hội thực hiện bình đẳng giới.

Hội phụ nữcó chức năng tham mưu các chế độ chính sách liên quan đến phụ

nữ, trẻ em; tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩmchất đạo đức, lối sống, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước; vận động, hỗ trợ phụ nữ nâng cao năng lực, trình độ, xây dựng gia đìnhhạnh phúc; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; xây dựng kếhoạch, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật vềlĩnh vực Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế; Nâng cao năng lực cho phụ nữ; Xây dựnggia đình hạnh phúc; Giám sát và phản biện xã hội…

Vai trò làm chủ của người phụ nữ trong gia đình ngày càng được khẳng định,

từ đó càng nâng cao ảnh hưởng giáo dục của “người mẹ - người thầy giáo đầu tiên”trong “gia đình - nhà trường đầu tiên”, đặc biệt là trong việc giáo dục giới tính chotrẻ, dạy trẻ cách vệ sinh thân thể cũng như các cách phòng ngừa XHTD cho trẻ

3.1.4 Đoàn thanh niên

Đoàn thanh niên được đề cập ở đây gồm Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ ChíMinh và các tổ chức khác của thanh niên như Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ ChíMinh, Hội Liên hiệp Thanh niên, Hội Sinh viên… Trong đó, Hội đồng Đội các cấpđại diện cho tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, do Ban chấp hànhĐoàn cùng cấp lập ra và giúp Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phụ trách Độithiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh

Nhi đồng từ 6 đến 8 tuổi là lớp dự bị của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ ChíMinh Đội Thiếu niên Tiền phong giúp đỡ nhi đồng thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạythiếu niên, nhi đồng, xứng đáng con ngoan, trò giỏi, bạn tốt và trở thành đội viênĐội thiếu niên tiền phong

Ngày đăng: 28/07/2020, 09:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Nguyễn Tuấn Anh, Đinh Duy Thịnh (2017), “XHTD trẻ em và một số giải pháp phòng ngừa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: XHTD trẻ em và một số giảipháp phòng ngừa
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh, Đinh Duy Thịnh
Năm: 2017
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo - UNFPA (2000), Phương pháp giảng dạy những chủ đề nhạy cảm và sức khỏe vị thành niên, Hà Nội Khác
3. Bộ LĐTB&XH (2010), Quy định quy trình can thiệp, trợ giúp trẻ bị bạo lực và lạm dụng Khác
5. Chỉ thị số 18/CT-TTg, ngày 16/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ Về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em Khác
7. Cục Bảo vệ, Chăm sóc Trẻ em, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2014, Tài liệu Tập huấn Công tác bảo vệ, Chăm sóc Trẻ em(tập huấn cán bộ cấp xã và cộng tác viên) Khác
8. Cục cảnh sát tệ nạn xã hội và Trung tâm nghiên cứu về giới, gia đình và phát triển CEFACOM (12/2009), khảo sát thực trạng tình dục trẻ em và bóc lột tình dục trẻ em tại Hà Nội, Vĩnh Phúc, Đồng Tháp và Thành phố Hồ Chí Minh Khác
9. Đào Xuân Dũng (2000), Giáo dục giới tính vì sự phát triển của Thiếu niên,Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
10.Nguyễn Thị Đào (2014), phòng ngừa XHTD trẻ em và vai trò của công tác xã hội, Đại học Thăng Long, Hà Nội Khác
11. Lê Hà (2008), Nhũng điều cần biết về tuổi dậy thì, Nhà xuất bản Văn hóa, thông tin, Hà Nội Khác
13.Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2007), Tư vấn giới tính sức khỏe tuổi vị thành niên, Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội.92 Khác
14.Nguyễn Thị Hải (2014), Vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong việc hỗ trợ cho trẻ bị xâm hại tại Hà Nội, Đại học Thăng Long Hà Nội Khác
15. Dương Thị Diệu Hoa (Chủ biên), 2008, Tâm lý học phát triển, NXB Đại học Sư phạm Khác
16.Ngô Công Hoàn(1993), Tâm lý học gia đình,. Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội I, Hà Nộ Khác
17.Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (9/2012), Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vị thành niên, Hà Nội Khác
18. Nguyễn Thị Huyền, 2012, Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài về bảo vệ quyền trẻ em, Luận văn thạc sĩ ngành luật quốc tế, Đại học quốc gia Hà Nội Khác
19. Nguyễn Linh Khiếu (chủ biên), Lê Ngọc Lân, Nguyễn Phương Thảo (2003), Gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, NXB Khác
20.Nguyễn Thị Lan (2008) Giáo trình công tác xã hội nhóm, NXB Lao động Khác
21.Đặng Thị Thùy Linh, 2017. Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống XHTD cho trẻ em tại quận Thanh Xuân, Hà Nội. Đại học Lao động và Xã hội Khác
22.Nguyễn Kim Liên,Giáo trình Phát triển cộng đồng, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội Khác
24.Dương Tuyết Miên, 2005. Những hậu quả về tâm lý đối với nạn nhân của tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em và giải pháp khắc phục. Tạp chí Luật học, số Đặc san về bình đẳng giới, trang 35-40 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w