1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG PHỐI HỢPCÁC lực LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO dục kỹ NĂNG bảo vệ bản THÂN CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI ở các TRƯỜNG mầm NON HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ hải PHÒNG

63 142 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 68,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG PHỐI HỢPCÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ BẢN THÂN CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG... Một trong những nhiệm vụ

Trang 1

THỰC TRẠNG PHỐI HỢPCÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ BẢN THÂN CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Trang 2

- Vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu

- Về địa bàn nghiên cứu

- Về Trường Mầm non Đại Đồng và Trường mầm non Liên Cơ

a Về Trường Mầm non Đại Đồng – Kiến Thụy – Hải Phòng.

Trường Mầm non Đại Đồng nằm trên địa bàn thônPhong Cầu – Xã Đại Đồng – Huyện Kiến Thụy – Thành phốHải Phòng

Trường được thành lập năm 2000.Toàn trường có tổngdiện tích sử dụng là 5517m2 với 15 phòng học đúng quy cáchphục vụ ăn, ngủ, vui chơi, học tập của các cháu Trường códiện tích sân vườn rộng với nhiều cây xanh bóng mát, cây ănquả, khu vui chơi ngoài trời phong phú Năm 2014, trường đãđạt được danh hiệu “Trường chuẩn quốc gia mức độ 1”

Hiện nay, trường có 15lớp với tổng số 525trẻ Cụ thể:+ 2 lớp nhà trẻ: 02trẻ

+ 3 lớp MG bé: 03trẻ

Trang 3

+ 3 lớp MG nhỡ:05 trẻ

+ 4 lớp MG lớn:05 trẻ

+ Tổng số cán bộ - giáo viên – nhân viên: 40 người

Trường tiếp nhận và quản lý trẻ em từ 2 đến 5 tuổi Tổchức nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ em theo Chương trìnhchăm sóc giáo dục Mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo banhành Quản lý giáo viên, nhân viên và trẻ em Quản lý sửdụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quyđịnh của pháp luật Chủ động kết hợp với các bậc cha mẹtrong việc nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ em; kết hợp vớicác ban, ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội, y tế nhằm tuyêntruyền, phổ biến những kiến thức về khoa học nuôi dạy trẻ emcho gia đình và cộng đồng Giúp đỡ các cơ sở giáo dục mầmnon tư thục trong địa bàn Thực hiện các nhiệm vụ và quyềnhạn khác theo quy định của pháp luật

Thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới với sựhướng dẫn linh hoạt trong việc áp dụng hình thức tổ chức lấytrẻ làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạocủa trẻ Thực hiện có hiệu quả chuyên đề “Phát triển vận độngcho trẻ”, chuyên đề “ Vệ sinh dinh dưỡng” Xây dựng hệ

Trang 4

thống khoa học đánh giá trẻ theo chuẩn PTTE 5 tuổi và tậphuấn 100% giáo viên sử dụng tốt bộ chuẩn trong công tácgiáo dục.

b Về Trường Mầm non Liên Cơ Thị Trấn Núi Đối Kiến Thụy - Hải Phòng

-Trường mầm non Liên Cơ được thành lập năm 1987.Nằm tại địa chỉ: Tiểu Khu Thọ Xuân – Thị Trấn Núi Đối –Huyện Kiến Thụy – Thành phố Hải Phòng Trong quá trìnhxây dựng và trưởng thành, nhà trường đã cố gắng đi lênkhông ngừng cả vể mặt chất lượng và số lượng, khẳng địnhđược vị trí, tên tuổi của mình trong huyện với sự tin yêu củacác bậc cha mẹ học sinh

Cơ cấu tổ chức, số lượng học sinh của trường361trẻ/11lớp ( 2 lớp nhà trẻ, 2 lớp mẫu giáo bé, 3 lớp mẫugiáo nhỡ và 4 lớp mẫu giáo lớn)

+ Lớp nhà trẻ: 50học sinh

+ Lớp Mẫu giáo bé: 77 học sinh

+ Lớp mẫu giáo nhỡ: 100học sinh

+ Lớp mẫu giáo lớn: 134học sinh

Trang 5

Số lượng CBGVNV là 36 người, 100% giáo viên cótrình độ chuẩn và trên chuẩn 100% giáo viên các lớp đã biênchế được phân bổ 2 cô/1 lớp giúp cho việc chăm sóc giáo dụcluôn khoa học, dễ dàng nên tạo điều kiện rất nhiều cho các côchuyên tâm vào công việc của mình.

Với diện tích rộng 2810m2, trường Mầm non Liên Cơ cómôi trường, cảnh quan với nhiều cây xanh luôn thoáng mát,sạch đẹp và bầu không khí trong lành Hệ thống sân vườnđược tiết kế xây dựng khoa học, hiện đại, hài hòa giữa thiênnhiên và gần gũi với trẻ

Hệ thống các phòng học và phòng chức năng đều đạtchuẩn so với quy định, phù hợp với việc học tập, vui chơi,thuận tiện cho lịch sinh hoạt một ngày của trẻ

Hệ thống bếp ăn một chiều, thực đơn trong tuần đa dạngcác loại thực phẩm, không trùng lặp trong quá trình chế biến.Với đầy đủ trang thiết bị hiện đại, 100% các dụng cụ nấunướng có chất liệu bằng inox, có tủ hấp sấy nồi, bát, khăn chotrẻ luôn đảm bảo vệ sinh, phòng bệnh và an toàn vệ sinh thựcphẩm trong khẩu phần chăm sóc

Trang 6

Sự thay đổi đi lên của nhà trường còn được khẳng định ởchất lượng giảng dạy qua các hội thi của ngành Nhà trường

đã đạt được những thành tích nổi bật:

Năm 2008 đạt trường chuẩn quốc gia cấp độ 1, trườngtiên tiến cấp huyện trong nhiều năm liền Nhà trường có 2giáo viên dạy giỏi cấp Thành phố Năm học 2014 – 2015trường Mầm non Liên Cơ là trường đầu tiên của huyện KiếnThụy tham gia đánh giá chất lượng kiểm định GDMN và đạtchất lượng kiểm định cấp độ II

-Về tổ dân xã Đại Đồng và tổ dân phố Thị Trấn Núi Đối

a Về tổ dân xã Đại Đồng:

Xã Đại Đồng có tổng diện tích là 5.77km, tổng dân sốvào năm 1999 là 6139 người Đến nay có 2095 hộ với 7150nhân khẩu

b Về tổ dân phố Thị Trấn Núi Đối

Thị Trấn Núi Đối được thành lập vào năm 1987 theoQuyết định 33C/HĐBT ngày 14/02/1987 của Hội đồng Bộtrưởng, trên cơ sở một phần đất đai của 2 xã Thanh Sơn vàMinh Tân( nguyên trước đây là phố Thọ Xuân thuộc quyền

Trang 7

quản lý của xã Thanh Sơn) Tên của Thị Trấn được lấy theotên hai ngọn núi nằm ở trung tâm của huyện Điều đặc biệt làhuyện Kiến Thụy đã tách nhập thay đổi tên nhiều lần suốt từthời Pháp thuộc đến nay nhưng Núi Đối luôn được chọn làhuyện lỵ của Phủ Kiến Thụy, huyện An Thụy, huyện Đồ Sơn

và ngày nay là huyện Kiến Thụy

Với diện tích tự nhiên 1,12km, dân số 3.395 người, thịtrấn có quy mô khá nhỏ với 4 Tiểu khu: Cầu Đen, Thọ Xuân,Cẩm Xuân và Hồ Sen Thị Trấn nằm dọc theo hai bên bờ sông

Đa Độ Có một con đường bắc ngang qua sông nối liền haiphía của Thị Trấn, gọi là đường Tắc Giang

Thị Trấn Núi Đối được xem như là một trong những ThịTrấn có cảnh sắc thiên nhiên sơn thủy hữu tình đẹp nhất ngoạithành Hải Phòng Nơi đây nổi tiếng bởi có công viên DươngKinh, nằm bên sông Đa Độ

Dân cư Thị Trấn Núi Đối là người bốn phương hội tụ,đến nay có 1.215 hộ với 4.080 nhân khẩu Công dân trên địabàn Thị Trấn phần đông là cán bộ, công nhân viên chức nhànước đang công tác và nghỉ hưu

Trang 8

Tổ dân phố thị trấn Núi Đối đã làm rất tốt các nhiệm vụđược giao Một trong những nhiệm vụ quan trọng đó là triểnkhai chương trình phổ cập trẻ 5 tuổi, thị trấn đã phối hợp cùngvới trường mầm non trên địa bàn và tổ dân phố triển khai tổnghợp số liệu trẻ 5 tuổi đang ở độ tuổi đi học lớp Mẫu giáo lớn.Đặc biệt, các bác tổ trưởng, tổ phó tổ dân phố thị trấn Núi Đốiđều là những người nhiệt tình, tận tâm với công tác của thịtrấn, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ do cấp trên giao.

Thực hiện chương trình phổ cập trẻ 5 tuổi

Phòng GD &ĐT huyện Kiến Thụy đã chỉ đạo và triểnkhai kịp thời việc thực hiện văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục

và Đào tạo Cụ thể: Công văn số 257/TB-VPCP ngày21/9/2010 của Văn phòng Chính Phủ thông báo kết luận củaPhó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại cuộc họp triển khaiQuyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09/02/2010 của Thủ tướngChính phủ về Đề án Phổ cập Giáo dục mầm non cho trẻ em 5tuổi giai đoạn 2010 – 2015, Nghị định số 20/2014/NĐ-CPngày 24 tháng 3 năm 2014 của Chính phủ về phổ cập giáodục, xóa mù chữ

Trang 9

Thực hiện điều tra, khảo sát, xác định số lượng trẻ emtrong độ tuổi trên địa bàn và các nhu cầu về giáo viên, cơ sởvật chất theo mẫu của các Vụ, Cục thuộc Bộ Giáo dục và Đàotạo đã ban hành.

Đẩy mạnh xã hội hóa công tác phổ cập GDMN cho trẻ

em năm tuổi, phố hợp với các ban ngành, tổ chức đoàn thể vàcộng đồng cùng tham gia công tác phổ cập GDMN cho trẻ emnăm tuổi

Số lượng trẻ MGL tại hai trường MN Đại Đồng và trường

% S

L

%

Trang 10

Mầm non Liên

515

34 19 55, 15 44,

Trang 11

số trẻ mới đi học và một số trẻ chuyển từ nhóm lớp tư thụcsang, số học sinh lớp lớn mới tuyển sinh được chia đều vàocác lớp mẫu giáo lớn.

- Về khách thể nghiên cứu

-Mẫu khách thể nghiên cứu

Trang 12

- Chúng tôi tiến hành điều tra trên 210 phụ huynh, đa số

PH làm công nhân, buôn bán, nội trợ, một số ít phụ huynh cònlại làm cơ quan nhà nước Đa số các PH đều chưa có nhậnthức đúng và chưa thực sự quan tâm về giáo dục kỹ năng bảo

vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

- Đội ngũ giáo viên của hai trường mầm non đều cónhiều năm kinh nghiệm chăm sóc – giáo dục lớp MGL từ 4 –

16 năm Tổng số giáo viên dạy lớp MGL là 16 GV có trình

độ trên chuẩn ( Đại học)

- Cán bộ của hai tổ dân phố gồm 2 người, đều là nhữngngười nhiều tuổi đã về hưu Họ rất tích cực tham gia và triển

Trang 13

khai mọi hoạt động được giao ở tổ dân phố mà họ quản lý.Tuy nhiên họ vẫn chưa thực sự quan tâm nhiều đến việc giáodục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi.

- Cán bộ của hai Hội phụ nữ gồm 2 người, họ đều hiệttình tận tâm với công việc

Nhiều phụ huynh vì điều kiện kinh tế mà chưa cho con

đi học sớm Trẻ được đến trường muộn hoặc thay đổi môitrường học thì khả năng thích nghi, hiểu biết, tâm lý cũng sẽ

bị ảnh hưởng hơn

Dựa trên tổng số trẻ của hai trường mầm non, tôi đã phát

210 phiếu hỏi dành cho phụ huynh và 16 phiếu hỏi dành chogiáo viên, phỏng vấn đối với cán bộ tổ dân phố và hội phụ nữ.Kết quả thu lại được là 210 phiếu hỏi của phụ huynh, 16 phiếuhỏi của giáo viên và thu được phỏng vấn của cán bộ tổ dânphố, hội phụ nữ

- Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

- Tổ chức nghiên cứu

-.Tiến trình nghiên cứu

Trang 14

- Tháng 12/2017: Chỉnh sửa đề cương và viết cơ sở lýluận.

- Từ tháng 01/2018 đến 02/2018: Hoàn thành cơ sở lýluận

- Từ tháng 02/2018 đến 03/2018: Xây dựng và hoànchỉnh công cụ nghiên cứu và lấy số liệu

- Từ tháng 3/2018 đến 4/2018: Xử lý số liệu và viết kếtquả nghiên cứu thực trạng, kết luận, kiến nghị, hoàn thiệnluận văn và in ấn

- Tháng 5/2018: Hoàn thiện khóa luận

- Phương pháp khảo sát và tiêu chí đánh giá

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài Thuthập thông tin bằng cách thiết kế và gửi phiếu hỏi cho phụhuynh, giáo viên MGL của hai trường mầm non Đại Đồng vàmầm non Liên Cơ

Điều tra thăm dò: Điều tra thăm dò phụ huynh, giáo viênbằng phiếu thăm dò ý kiến bao gồm các nội dung nhằm tìm

Trang 15

hiểu việc thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng bảo vệ bảnthân cho trẻ, vai trò phối hợp các LLCĐ, các hoạt động đãthực hiện, thực trạng phối hợp các lực lượng cộng đồng, hiệuquả của việc phối hợp ( Nội dung phiếu điều tra: xem phụ lục1,2).

Điều tra chính thức: Tiến hành điều tra việc giáo dục kỹnăng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi Phiếu điều tra đượcxây dựng trên cơ sở phân tích, tổng hợp kết quả điều tra ởphiếu thăm dò cùng với những nghiên cứu về mặt lý luận.Phiếu điều tra bao gồm 10 câu hỏi dành cho phụ huynh và 10câu hỏi dành cho giáo viên.( Nội dung phiếu điều tra: xemphụ lục 1,2)

Nội dung các câu hỏi được sắp xếp theo một logic nhấtđịnh, đảm bảo cho khách thể một cách nhanh gọn, chính xác

Chúng tôi xây dựng phiếu điều tra tập trung vào nhữngvấn đề sau:

Nhận thức về vai trò phối hợp các lực lượng cộng đồngtrong giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Trang 16

Thực trạng thực hiện nội dung giáp dục kỹ năng bảo vệbản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi.

Thực trạng phối hợp các lực lượng cộng đồng nhằm giáodục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng cộng đồng trongviệc giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Hệ thống nội dung câu hỏi bao gồm:

Phiếu điều tra phụ huynh

Câu hỏi 1: Nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọngcủa việc giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Câu hỏi 2: Phụ huynh hiểu thế nào về giáo dục kỹ năngbảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Câu hỏi 3: Đánh giá của phụ huynh về mục đích giáodục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Câu hỏi 4: Thực trạng mức độ thực hiện kỹ năng bảo vệbản thân của con các phụ huynh

Câu hỏi 5: Nội dung thực hiện giáo dục kỹ năng bảo vệ bảnthân cho trẻ

Trang 17

Câu hỏi 6: Các hoạt động giáo dục kỹ năng bảo vệ bảnthân cho trẻ.

Câu hỏi 7: Các hình thức phối hợp về việc giáo dục kỹnăng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Câu hỏi 8: Hiệu quả việc giáo dục kỹ năng bảo vệ bảnthân cho trẻ 5 – 6 tuổi theo đánh giá của phụ huynh

Câu hỏi 9: Các lực lượng cộng đồng cần phối hợp trongviệc giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ

Câu hỏi 10: Đánh giá của phụ huynh về hiệu quả phối hợpvới các lực lượng cộng đồng trong việc giáo dục kỹ năng bảo vệbản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Phiếu điều tra giáo viên

Câu 1: Nhận thức của giáo viên về giáo dục kỹ năng bảo

vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Câu 2: Đánh giá của giáo viên về mục đích giáo dục kỹnăng bảo vệ bản thân cho trẻ tại trường

Câu 3: Những kỹ năng cần giáo dục bảo vệ bản thân chotrẻ 5 – 6 tuổi theo đánh giá của giáo viên

Trang 18

Câu 4: Các phương pháp giáo viên giáo dục kỹ năng bảo

vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Câu 5: Khó khăn của giáo viên trong việc giáo dục kỹnăng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Câu 6: Lựa chọn của giáo viên về hình thức thực hiệngiáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Câu 7: Đánh giá của giáo viên về việc phối hợp các lựclượng cộng đồng trong giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân chotrẻ 5 – 6 tuổi

Câu 8:Thực trạng mức độ thực hiện kỹ năng giáo dụcbảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Câu 9: Đánh giá của giáo viên về sự quan tâm của phụhuynh với việc giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 - 6tuổi

Câu 10: Hiệu quả của việc phối hợp các lực lượng cộngđồng theo đánh giá của giáo viên

- Phương pháp phỏng vấn

Trang 19

Thu thập thông tin thông qua trao đổi với cán bộ tổ dânphố và hội phụ nữ, giúp ta hiểu rõ câu trả lời của họ, tìm hiểusâu vào các vấn đề phức tạp, phát hiện ra mâu thuẫn trongphiếu hỏi Người nghiên cứu có thể trực tiếp quan sát đốitượng, kiểm tra độ chính xác bằng câu hỏi phụ, bổ sung vàkiểm chứng những thông tin đã thu thập từ phiếu điều tra.(Mẫu phiếu phỏng vấn ở phụ lục 3).

- Phương pháp xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học.

Là việc sử dụng thống kê toán học để xác định xuhướng, diễn biến của tập hợp số liệu thu thập được Thôngqua sử dụng các phần mềm thống kê toán học trong đó chủyếu là công thức toán học thống kê để xử lý số liệu điều trakhảo sát

Mục đích: Xử lý, phân tích, số hóa, khái quát hóa và hệthống lại toàn bộ thông tin đã thu được, phục vụ cho đề tàinghiên cứu

Tiêu chí đánh giá:

Trang 20

- Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của phụ huynhvề tầmquan trọng của giáo dục bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi.Câu hỏi được chia thành 3 mức độ lựa chọn:

Không cần thiết: 1 điểm

Trang 21

các trường mầm non huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

- Nhận thức của giáo viên, phụ huynh về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non huyện Kiến Thụy

Để khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên về tầmquan trọng của giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6tuổi ở các trường mầm non huyện Kiến Thụy, chúng tôi đãtiến hành thiết kế phiếu điều tra dành cho 16 giáo viên mầmnon và thu được kết quả (tính theo%) có 14 GV cho rằng ởmức độ rất quan trọng, có 2 GV cho rằng ở mức độ quantrọng

Như vậy, hầu hết giáo viên mầm non đều cho rằng giáodục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ởcác trường mầm non huyện Kiến Thụy đóng vai trò rất quantrọng đối với sự phát triển của trẻ Và không có giáo viên nàocho rằng, việc giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6tuổi là không quan trọng, không cần thiết Trong đó, các giáoviên mầm non đều thống nhất rằng, “ Giáo dục kỹ năng bảo

vệ bản thân sẽ giúp trẻ có đủ những hiểu biết về những mối

Trang 22

nguy hiểm, những tình huống không an toàn và có thể tự bảo

vệ, đảm bảo an toàn cho bản thân trong những tình huống ấy,nhất là khi không có người lớn bên cạnh” Như vậy, ta thấyrằng, các giáo viên mầm non đã có nhận thức đúng đắn vềtầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân chotrẻ 5 – 6 tuổi

Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường

mầm non huyện Kiến Thụy

*Nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Để khảo sát thực trạng nhận thức của phụ huynh về tầmquan trọng của giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6tuổi ở các trường mầm non huyện Kiến Thụy, chúng tôi đãtiến hành thiết kế phiếu điều tra dành cho 210 phụ huynh vàthu được kết quả (tính theo %) như sau:

Nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ

Trang 23

5 – 6 tuổi ở các trường mầm non huyện Kiến

vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi là không cần thiết

Ta có thể thấy rõ nội dung rất cần thiết đạt điểm trungbình khá cao là = 2,8, như vậy phần lớn phụ huynh đều

Trang 24

thấy rằng việc giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6tuổi là rất cần thiết.

Dựa vào thực tế hiện nay thì có hai quan điểm của các

PH có trẻ Thứ nhất cho rằng không nhất thiết phải giáo dục

kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ, cứ để trẻ phát triển tự nhiên.Điều này dễ làm cho trẻ thụ động, thiếu tự tin, khó ứng phóvới các tình huống xảy ra trong cuộc sống, nhất là trẻ chuẩn bịsang môi trường học tập mới Quan điểm thứ hai, việc giáodục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi là rất cần thiết

Và điều đáng mừng là phần lớn PH đều hiểu được sự cần thiếtcủa việc giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

- Mục đích giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non huyện Kiến Thụy

Để khảo sát thực trạng nhận thức của GV về mục đíchgiáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi ở cáctrường mầm non huyện Kiến Thụy, chúng tôi đã tiến hànhthiết kế phiếu điều tra dành cho 16 giáo viên mầm non và thuđược kết quả (tính theo %) như sau:

Mục đích giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non huyện Kiến Thụy

Trang 25

Theo như biểu đồ trên, có 25% GV mầm non cho rằngmục tiêu của giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6tuổi ở các trường mầm non huyện Kiến Thụy là giúp trẻ có đủhiểu biết về những mối nguy hiểm, các tình huống không antoàn quanh trẻ và cách xử lý để phòng tránh Với ý kiến này

GV mầm non chú trọng việc cung cấp các kiến thức cho trẻ.Trong các hoạt động giáo dục, GV mầm non chủ động lồngghép, đưa những kiến thức về đảm bảo an toàn để dạy trẻ, chủyếu ở hoạt động củng cố, giáo dục thái độ đúng đắn cho trẻ.Cho trẻ làm quen với các tình huống nguy hiểm và giáo dụctrẻ cách phòng tránh trước những tình huống đó Quan niệmnày của GV mầm non chưa đúng đắn vì những kiến thức ấytrẻ có thể nhớ rất lâu, học thuộc lòng, nó chưa thành kỹ năng

để trẻ có thể tự mình xử lý khi gặp tình huống nguy hiểmtrong thực tế Tuy nhiên, tỉ lệ giáo viên chọn ý kiến này chiếm

tỉ lệ không đáng kể

Phần đông giáo viên mầm non có quan niệm đúng đắn

về mục đích giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6tuổi (75%) là giúp trẻ có kiến thức, hiểu biết về những mốinguy hiểm, những tình huống không an toàn xung quanh trẻ

Trang 26

và có khả năng xử lý những tình huống đó để đảm bảo sự antoàn cho bản thân Giáo viên mầm non đã khẳng định việcvận dụng hiểu biết vào hoàn cảnh thực tế là cách tốt nhất đểrèn luyện kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ.

- Nội dung giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non huyện Kiến Thụy

*Nội dung đã thực hiện trong trường mầm non nhằm giáo dục bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi:

Để khảo sát thực trạng các nội dung giáo dục kỹ năng tựbảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm nonhuyện Kiến Thụy, chúng tôi đã tiến hành thiết kế phiếu điềutra dành cho 16 GV mầm non và thu được kết quả theo bảngsau:

Trang 27

- Nội dung giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6

tuổi ở các trường mầm non huyện Kiến Thụy.

Sốlượng

Trang 28

nơi đông người

người khác khi gặp nguy

hiểm

Như vậy, các giáo viên mầm non đã giáo dục cho trẻmẫu giáo 5 – 6 tuổi sáu nội dung tự bảo vệ bản thân Trong đó87,5% giáo viên mầm non đã giáo dục trẻ nhận biết, phòngtránh các vật dụng nguy hiểm như ấm nước nóng, phích điện,dao, kéo, những nơi nguy hiểm như ao, hồ, sông suối, cầuthang,… và các hành động, trường hợp nguy hiểm như bị xâmhại cơ thể, đi theo người lạ, ra khỏi khu vực của người lớn…

Có 75% giáo viên mầm non đã giáo dục trẻ nhận biết vàphòng tránh các nguy cơ không an toàn trong ăn uống; cách

xử lý tình huống khi bị lạc và cách tìm kiếm sự giúp đỡ củangười khác khi gặp nguy hiểm

Qua đó, ta thấy rằng, hầu hết các giáo viên mầm non đềugiáo dục sáu nội dung trên để giúp hình thành các kỹ năngbảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm nonhuyện Kiến Thụy Điều này chứng tỏ các giáo viên mầm non

Trang 29

đã bám sát theo các yêu cầu trong Chương trình Giáo dụcmầm non ban hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TT –BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra.

* Khó khăn của giáo viên trong việc giáo dục bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

- Khó khăn của giáo viên trong việc giáo dục bảo vệ bản

thân cho trẻ 5 – 6 tuổi

Trang 30

Đối với GV, việc giáo dục bảo vệ bản thân cho trẻ cầnrất nhiều yếu tố để giúp cho giáo viên thuận lợi hơn trong việcgiúp trẻ vượt qua những khó khăn nhằm hình thành các kỹnăng cho trẻ một cách tốt nhất.

Việc “ít có sự quan tâm của PH” cũng khiến GV gặp

không ít khó khăn khi giáo dục bảo vệ bản thân cho trẻ Nóchiếm 6,2% và được xếp thứ 2 Yếu tố này rất quan trọng, nógiống như chiếc cầu nối giúp GV trao đổi với PH về trẻ đểcùng PH giúp trẻ có các kỹ năng cần thiết

Cả 3 yếu tố “nguồn tài liệu ít, thời gian ngắn, ít có sự quan tâm của phụ huynh” chiếm 93,8% xếp thứ 1 và được

đánh giá ở mức độ cao, thể hiện sự khó khăn đối với GVtrong việc giáo dục bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi Để đápứng tốt hơn nữa, nhất là trong giai đoạn hiện nay cần phảiquyết tâm và kiên trì trong việc thực hiện các hoạt động giáodục bảo vệ bản thân cho trẻ 5- 6 tuổi

- Phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non huyện Kiến Thụy

* Phương pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non huyện Kiến Thụy

Trang 31

Để khảo sát thực trạng phương pháp giáo dục kỹ năng bảo

vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi ớ các trường mầm non huyện KiếnThụy, chúng tôi đã tiến hành thiết kế phiếu điều tra cho 16 giáoviên mầm non và thu được kết quảnhư sau:

-Phương pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 –

6 tuổi ở các trường mầm non huyện Kiến Thụy

STT Phương

pháp

Mức độ thực hiện TB

Rất thường xuyên

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Không bao giờ

Ngày đăng: 31/07/2019, 14:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w