Đặc biệt, người cán bộ cơ sở phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ , phẩm chất đạo đức cách mạng… Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước đang có nhiều diễn biến phứctạp, để
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHAN VĂN MÙI
PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
Ở HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Hồng
Hà nội, 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi.Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực Kết quảnghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước
đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
Phan Văn Mùi
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thànhnhất tới PGS.TS Nguyễn Văn Hồng, người đã trực tiếp hướng dẫn, định hướngcho tôi trong quá trình nghiên cứu; hỗ trợ về mọi mặt để tác giả hoàn thành Luậnvăn này
Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, PhòngSau Đại học, cùng các cán bộ, giảng viên của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho học viên trong suốt quá trình học tập vànghiên cứu
Trân trọng cảm ơn Ban Thường vụ, Ban chấp hành Đảng ủy huyện Mường
La và các xã đã hỗ trợ, giúp đỡ để tác giả hoàn thành công trình nghiên cứukhoa học của mình
Xin được bày tỏ lòng tri ân đến gia đình, người thân và bạn bè đã độngviên, chia sẻ, khích lệ tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành Luậnvăn
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Tác giả Luận văn
Phan Văn Mùi
Trang 5CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨCCẤP XÃ 6
Trang 61.3.7 Phối hợp các lực lượng xã hội giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phối hợp các lực lượng xã hội giáo dục chính trị
Chương 2 THỰC TRẠNG PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP
2.1 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội 35
2.1.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội 352.1.3 Cơ cấu tổ chức hành chính của cấp ủy, chính quyền huyện Mường La hiện
2.2.6 Đánh giá chung thực trạng phối hợp các lực lượng xã hội giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã 552.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phối hợp các lực lượng xã hội giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã 60
Trang 7CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘITRONG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 64
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ 65
3.2 Các biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La 663.2.1 Biện pháp 1 Nâng cao nhận thức của CB, CC cấp xã về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục chính trị tư tưởng cho CB, CC cấp xã 663.2.2 Biện pháp 2 Phối hợp các lực lượng xã hội đổi mới về nội dung, chương trình giáo dục tư tưởng phù hợp với tình hình mới và phù hợp với đặc điểm của
CB, CC, VC ở huyện Mường La tỉnh Sơn La 693.2.3 Biện pháp 3 Phối hợp các lực lượng xã hội đổi mới phương pháp giáo dục , nâng cao trình độ cho đội ngũ giảng viên của cơ sở ở huyện Mường La
3.2.4 Biện pháp 4 Phối hợp các lực lượng xã hội nhằm phát huy tính tích cực, ýthức tự học tập, rèn luyện của cán bộ cấp cơ sở huyện Mường La tỉnh Sơn La
3.2.5 Biện pháp 5 Phối hợp các lực lượng xã hội trong công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã ở huyện
3.2.6 Biện pháp 6 Nâng cao chất lượng sinh hoạt tư tưởng chính trị cho cán bộ,công chức cấp xã thông qua sinh hoạt chi bộ; thông qua các cuộc họp, các buổi
3.5 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biên pháp đề xuất 77
Trang 83.5.1 Mục đích của khảo nghiệm 773.5.2 Nội dung và phương pháp khảo nghiệm 773.5.4 Kết quả khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề
Trang 9MỞ ĐẦU
2 Lí do chọn đề tài
Trong sự vận động của mỗi quốc gia, cán bộ luôn giữ vị trí, vai trò đặcbiệt quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Để lãnh đạo thắng lợi sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, Đảng ta đã tiếnhành công cuộc đổi mới nhằm nâng cao năng lực, sức chiến đấu và đặc biệt làlòng tin yêu của nhân dân Công cuộc đổi mới đòi hỏi chúng ta phải có mộtchương trình hành động toàn diện cho mọi ngành, mọi lĩnh vực Trong đó cónhiều lĩnh vực còn xa lạ hoặc hoàn toàn mới mẻ với chúng ta Điều đó đòi hỏiphải có một đội ngũ cán bộ đủ năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức và kiếnthức sâu về , cần phải có sự khái quát, phân tích bằng tư duy lý luận thì mới cóthể nhận thức và giải quyết được
Hơn nữa, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã vàđang thu được nhiều thành tựu quan trọng, tạo tiền đề vững chắc để đất nướcbước vào một giai đoạn phát triển mới Trong tình hình đó, đòi hỏi Đảng, Nhànước và mọi cán bộ, đảng viên phải tích cực đổi mới về tư duy, nâng cao trình
độ của mình Đặc biệt, người cán bộ cơ sở phải có trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, trình độ , phẩm chất đạo đức cách mạng…
Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước đang có nhiều diễn biến phứctạp, để giữ vững lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chính quyền cần đặcbiệt chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên nói chung và cán bộ cấp xã nóiriêng có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng và con đường đi lênchủ nghĩa xã hội, không dao động trước mọi biến cố phức tạp, có đủ năng lựcthực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước;
có nhân cách và lối sống mẫu mực, trong sáng, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôntrọng tập thể, gắn bó với nhân dân Đây là vấn đề có ý nghĩa thời sự cấp thiếthiện nay
Đứng trước yêu cầu và nhiệm vụ mới của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, đội ngũ cán bộ cấp xã, phường, thị trấn ở nước ta nói
Trang 10chung và ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La nói riêng vẫn còn yếu và hạn chế ởnhiều mặt như: bản lĩnh chính trị, trình độ nhận thức chính trị, năng lực tổ chứcquản lý, năng lực chỉ đạo hoạt động thực tiễn, phẩm chất đạo đức cách mạng,…Nhiều cán bộ được đề bạt, bổ sung vào những vị trí khác nhau nhưng chưa đượcđào tạo cơ bản về chuyên môn cũng như Do đó, khi xử lý công việc còn tùytiện, kinh nghiệm, giáo điều, chưa vận dụng đúng đường lối, chủ trương, quanđiểm của Đảng vào thực tiễn của địa phương Để khắc phục tình trạng trên cầnphải giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến cán bộ cấp cơ sở trong đó vấn đề có ýnghĩa cấp bách là phải đổi mới, tăng cường hơn nữa công tác đào tạo, nâng caotrình độ nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng,… cho
họ trong quá trình hoạt động thực tiễn ở địa phương
Chính vì vậy, việc nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng và đề ra cácgiải pháp cụ thể thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục cho độingũ cán bộ cấp cơ sở có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về mặt lý luận và thựctiễn nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Xuất phát từ những yêu cầu cả về mặt lí luận và thực tiễn trên, nhằm gópphần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác kiểm tra, giám sát trong
đảng, tôi chọn đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình với tiêu đề: “Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công
chức cấp xã ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt động giáo dục chính trị
tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã; tôi đề xuất một số biện pháp phối hợpcác lực lượng xã hội trong giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp
xã ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra như trên, đề tài dự kiến sẽ tậptrung vào các nhiệm vụ sau:
3.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng cho
Trang 11cán bộ công chức cấp xã.
3.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng
cho cán bộ công chức cấp xã ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La
3.3 Đề xuất một số biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo
dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã ở huyện Mường La, tỉnh
Sơn La”
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục chính trị tư tưởng cho cán
bộ công chức cấp xã ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La”
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục chính trị tư tưởng
cho cán bộ công chức cấp xã ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La”.
5 Giả thuyết khoa học
Hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã ởhuyện Mường La, tỉnh Sơn La mặc dù đã có những tiến bộ, song còn nhiều hạnchế: về nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện Việc phối hợp các lựclượng xã hội đối với công tác này chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục.Nếu có những biện pháp phù hợp, phối hợp được các lực lượng cộng đồng thamgia giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã ở huyện Mường La,tỉnh Sơn La thì hiệu quả công việc này được nâng lên
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu đề xuất biện pháp phối hợp các lực lượng xãhội trong giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã ở huyện
Mường La, tỉnh Sơn La”
6.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Trang 12Tác giả nghiên cứu đề tài trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
6.3 Giới hạn khách thể điều tra
Số lượng dự kiến: 120 người bao gồm: Bí thư, phó bí thư đảng ủy cơ sở;Ban tuyên giáo, đảng viên
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp như: Phân tích, so sánh, hệthống hóa, tổng hợp các tài liệu đề cập tới hướng nghiên cứu của đề tài nhằmtìm ra cơ sở lí luận cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Đây là phương pháp chủ yếu, được sử dụng với mục đích khảo sát thựctrạng hoạt động giáo dục, phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục chính trị
tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La”
- Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động xã hội của đảng viên, cán bộ, quan sát thực hiệnnhiệm vụ đảng viên, cán bộ trong thực thi nhiệm vụ công chức tại đảng bộ các
xã tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La
- Phương pháp chuyên gia
Thông qua phương pháp này để nắm bắt các quan điểm về phối hợp cáclực lượng xã hội trong giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã
ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La
7.3 Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý các dữ liệu, các thông tin trong quá trìnhnghiên cứu, điều tra, thu thập từ các phương pháp trên
8 Cấu trúc của luận văn
Trang 13Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung chính của luận văn gồm 03 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận về phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục
chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã
Chương 2: Thực trạng phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục
chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong
giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã ở huyện Mường La,tỉnh Sơn La
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Giáo dục nói chung và giáo dục cho cán bộ cấp cơ sở nói riêng là mộtvấn đề được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến ở những mức độ khác nhau Đó lànhững nguồn tư liệu quý báu giúp tác giả tham khảo, kế thừa trong quá trìnhnghiên cứu, hoàn thiện luận văn của mình Những công trình đó có thể chiathành 2 nhóm như sau:
* Nhóm các công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ cấp cơ sở:
- Đề tài cấp bộ năm 2004: “Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của đội ngũ cán
bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay (qua khảo sát ở một số tỉnh, thành phố phíaBắc nước ta)” do tiến sĩ Trần Hậu Thành (Phân viện Hà Nội, Học viện chính trịQuốc gia Hồ Chí Minh) làm chủ nhiệm đề tài
- Vũ Ngọc Am: Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ
cơ sở, Nxb Chính trị quốc gia năm 2003; Một số vấn đề về đổi mới phương pháp giáo dục , Nxb Thông tấn 2009.
- Đề tài: Nâng cao chất lượng công tác đào tạo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2013 - 2020 Cơ quan chủ trì đề tài: trường Chính trị tỉnh Ninh
Bình, chủ nhiệm đề tài: Phạm Thị Thủy - 2013 Đề tài này đề cập đến một sốvấn đề lý luận, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của công tác đàotạo trên toàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn hiện nay
- Đỗ Cao Quang: Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã miền núi hiện nay, Luận văn thạc sỹ, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, năm 1996 Luận văn này đã cung cấp một cách tương đối đầy
đủ về nâng cao trình độ tư duy của cán bộ cấp cơ sở, nhưng chưa đầy đủ, đangmang nặng khái quát và nêu lên nhữnng đặc thù khó khăn của miền núi, như vănhóa, trình độ, yêu cầu…
Trang 15- Đề tài luận án tiến sĩ Chính trị học của tác giả Cẩm Thị Lai (2012): “Đàotạo, bồi dưỡng , hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã ở các tỉnhTây Bắc giai đoạn hiện nay” Trong công trình này, tác giả đã phân tích và làm
rõ thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp
xã ở các tỉnh Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay Từ đó, đề xuất những giải phápchủ yếu đẩy mạnh công tác giáo dục hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyêntrách cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc đến năm 2020
Những công trình này đã khảo sát, đánh giá thực trạng và nhu cầu đào tạo,bồi dưỡng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã Trên cơ sở đó, xây dựng phươnghướng và đề xuất những giải pháp cơ bản để đổi mới phương pháp nhằm nângcao chất lượng giảng dạy cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chuyên trách cấp xã ởnước ta hiện nay
Ngoài ra, còn rất nhiều công trình và bài viết đăng trên các báo, tạp chí có
liên quan đến đề tài như: Đề tài 0206 - KHXH: “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp huyện thuộc diện Tỉnh ủy quản lý trong thời kỳ phát triển mới của tỉnh Hà Tĩnh” Cơ quan chủ trì đề tài: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, chủ
biên: Nguyễn Thiện Tháng 6/2016; Chương trình bồi dưỡng chuyên đề:
Phương pháp giảng dạy dành cho giáo viên giảng dạy tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, Nxb Lao động xã hội, năm 2008 Những công trình
này đã làm rõ công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ lãnh đạo trong tình hìnhmới Từ đó đưa ra các phương pháp cụ thể, nâng cao hiệu quả chất lượng đàotạo, bồi dưỡng trong thời gian tới
* Nhóm các công trình nghiên cứu về địa bàn huyện Mường La tỉnh Sơn La
Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào cụ thể và toàn diện vềphối hợp các lực lượng xã hội giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ, công chứccấp xã trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuy nhiên, ở địa bàn tỉnh Sơn
La và huyện Mường La cũng đã có một số công trình, đề cập đến một số khíacạnh khác nhau có liên quan đến công tác này
Trang 16- Lịch sử đảng bộ tỉnh Sơn La (biên soạn và xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp cùng Ban Thường vụ tỉnh ủy Sơn La);
- Ban Thường vụ tỉnh ủy Sơn La (chủ biên), (2017); Những sự kiện lịch
sử đảng bộ tỉnh Sơn La (1992-2015),…
- Ban Thường vụ Huyện ủy Mường La (chủ biên); Địa chí Mường La
- Ban Chấp hành Huyện ủy Mường La (chủ biên); Lịch sử Đảng bộ huyện Mường La (1930 – 2015)
Do giới hạn về phạm vi nghiên cứu, cho nên đến nay chưa có công trìnhnào nghiên cứu một cách chi tiết đầy đủ có hệ thống về giáo dục chính trị tưtưởng cho cán bộ cấp xã ở các huyện, thành phố của tỉnh Sơn La Nhận thứcđược tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả giáo dục cho cán bộ cấp cơ sở,xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của huyện Mường La tỉnh Sơn La hiện nay Vìvậy, luận văn này tôi tập trung làm rõ thực trạng công tác giáo dục tư tưởngchính trị cho cán bộ cấp cơ sở huyện Mường La, tỉnh Sơn La, từ đó đề xuất cácgiải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chứccấp xã nói riêng và nâng cao chất lượng cán bộ đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụcông việc đặt ra
1.2 Một số khái niệm cơ bản
Lịch sử xã hội loài người từ khi phân chia giai cấp đến nay là lịch sử đấutranh giai cấp Trong cuộc đấu tranh đó, các giai cấp đều tiến hành giáo dụcchính trị tư tưởng, coi đó là vũ khí sắc bén, một phương thức hữu hiệu nhằmgiáo dục, truyền bá hệ tư tưởng của mình, làm cho nó trở thành hệ tư tưởngthống trị trong toàn xã hội để bảo vệ lợi ích và duy trì sự thống trị của chủ thể hệ
tư tưởng Ở Việt Nam, thuật ngữ “giáo dục chính trị tư tưởng” đã được sử dụngrất phổ biến trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, những tài liệusách báo ở nhiều lĩnh vực,…
Tuy nhiên cho đến nay, khái niệm về giáo dục chính trị tư tưởng ở ViệtNam vẫn chưa được xác định rõ Việt Nam tiếp cận vấn đề giáo dục chính trị tưtưởng như một công cụ, một phương thức để đưa yếu tố tự giác vào phong tràocách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thông qua hoạt động
Trang 17của đội tiền phong của giai cấp – đó là Đảng Cộng sản Với hướng tiếp cận đócho thấy, giáo dục chính trị tư tưởng luôn gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp vàđấu tranh dân tộc.
Để hiểu rõ khái niệm giáo dục chính trị tư tưởng, cũng như cấu trúc củakhái niệm giáo dục chính trị tư tưởng, ta cần làm rõ một số khái niệm như:Chính trị, tư tưởng và một số vấn đề có liên quan đến công tác tư tưởng
1.2.1 Giáo dục
Theo từ điển Giáo dục học thì giáo dục được định nghĩa như sau: “Giáodục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tácđộng nhằm truyền thụ bằng tri thức và khái niệm, rèn luyện kỹ năng và lối sốngbồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng giúp hình thành và pháttriển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bịcho đối tượng tham gia hoạt động sản xuất và đời sống xã hội” (Bùi Hiền,2002)
Theo TS Phạm Đình Nghiệp: “Giáo dục là hình thái xã hội, là quá trìnhtác động có mục đích, có kế hoạch, ảnh hưởng tự giác chủ động đến con ngườiđưa đến sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức nhân cách” (Phạm ĐìnhNghiệp, 2004)
Còn theo quan điểm triết học của TS Trần Sỹ Phán: “Giáo dục là một quátrình hai mặt, một mặt đó là sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng giáo dục (sựtác động của giáo dục tri thức, văn hóa nhân loại thông qua nhà sư phạm đến đờisống của học sinh, sinh viên); mặt khác (và chủ yếu hơn là) thông qua sự tácđộng này mà làm cho đối tượng tự biến đổi bản thân mình, tự hoàn thiện, tựnâng mình lên qua giáo dục” (Trần Sỹ Phán, 1999)
Qua các định nghĩa, khái niệm, quan điểm của các nhà khoa học ta thấyđược, giáo dục là một hoạt động của xã hội loài người và nó mang tính tất yếu,bởi thông qua hoạt động này loài người mới có thể tiếp tục tồn tại, cải hoá thếgiới và phát triển, hoàn thiện mình trong đời sống xã hội Giáo dục có nội hàmrất rộng, nên được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo nghĩa rộng, giáo dụcđược hiểu là quá trình trao đổi và chuyển giao tri thức của con người theo một
Trang 18quy củ đã được định sẵn Hiểu theo nghĩa hẹp, giáo dục là một quá trình hìnhthành nên nhân cách của con người dưới ảnh hưởng của hoạt động có mục đíchcủa nhà giáo dục.
Về bản chất: “Giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống hoạt động và giao
lưu cho đối tượng giáo dục, nhằm giúp họ nhận thức đúng tạo lập tình cảm vàthái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống,phù hợp với chuẩn mực xã hội” (Phạm Viết Vượng, 1996)
Từ nội hàm và bản chất của giáo dục, ta thấy được, để hình thành nênnhân cách của một con người theo đúng như chuẩn mực xã hội, nhà giáo dụcphải có cả một hệ thống các phương diện để giáo dục, chính vì vậy, giáo dục córất nhiều phương diện hợp thành: Giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức,giáo dục pháp luật, giáo dục kinh tế, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thường thức,giáo dục sinh thái, giáo dục về giới… Như vậy, có thể thấy, giáo dục chính trị tưtưởng là một phương diện hợp thành không thể thiếu khi đào tạo giáo dục mộtcon người
1.2.2 Tư tưởng chính trị
1.2.2.1 Chính trị
Từ điển Triết học Liên Xô năm 1975 định nghĩa: Chính trị là “sự tham giavào các công việc của Nhà nước, việc quy định những hình thức, nhiệm vụ, nộidung hoạt động của Nhà nước lĩnh vực bao hàm các vấn đề về chế độ nhà nước,quản lý đất nước, lãnh đạo các giai cấp, vấn đề đấu tranh đảng phái,… những lợiích căn bản của các giai cấp và những quan hệ qua lại của các giai cấp biểu hiện
ra trong chính trị Chính trị cũng biểu hiện những quan hệ giữa các dân tộc vàgiữa các quốc gia”
Từ điển Bách khoa Việt Nam xem “Chính trị là toàn bộ những hoạt động
có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầnglớp xã hội, mà cốt lõi của nó là vận động giành chính quyền, duy trì và sử dụngquyền lực Nhà nước, sự tham gia vào công việc Nhà nước, sự xác định hìnhthức tổ chức, nhiệm vụ và nội dung hoạt động của Nhà nước”(Từ điển Báchkhoa Việt Nam, 1995) Có thể thấy, các định nghĩa trên đã tiếp cận chính trị ở
Trang 19những mặt khác nhau, nhưng nhìn chung, các định nghĩa đã nêu lên được bảnchất của chính trị là tính giai cấp, mối quan hệ và mục tiêu của các giai cấp, cáclực lượng chính trị trong việc giành chính quyền, điều khiển Nhà nước.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, bản chất của chính trị suycho cùng là sự biểu hiện tập trung của kinh tế Lênin chỉ rõ: “Chính trị là sự biểuhiện tập trung của kinh tế… chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu sovới kinh tế” (Lênin, 1977) So với kinh tế, chính trị không thể không chiếm vị tríhàng đầu, vì khi giải quyết vấn đề kinh tế, giai cấp cầm quyền phải định hướngvào việc bảo vệ và phát huy quyền lực chính trị của giai cấp đó Xét về tươngquan, kinh tế phải được coi là tính thứ nhất, chính trị là tính thứ hai Chính trịtuy là tính thứ hai, nhưng nó phải có vị trí ưu tiên so với kinh tế, vì quyền lựcchính trị là tiền đề xuất phát để đi tới giành quyền lực kinh tế vì quan điểmchính trị về kinh tế và hoạt động kinh tế suy cho cùng phải nhằm đảm bảo vàbảo vệ định hướng chính trị, khi giải quyết các vấn đề kinh tế phải luôn luônxuất phát từ các quan điểm chính trị
Tuy nhiên, không vì thế mà chính trị được ưu tiên hoá vì mỗi vấn đề đều
có tính hai mặt của nó Trong lĩnh vực chính trị, cái thúc đẩy hoạt động chính trịlàm tăng tính tích cực chính trị, chi phối các quan hệ chính trị, nổi lên thực chấtcủa các quan hệ đó là lợi ích chính trị Nếu nhu cầu là những đòi hỏi của conngười muốn có những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển thì lợi ích làcái thỏa mãn nhu cầu, đáp ứng lại nhu cầu Lợi ích là nhân tố của quá trình hoạtđộng thực tiễn xã hội của con người hướng tới một cái gì đó có ý nghĩa đối với
họ Về phạm vi cấp độ chủ thể, thì có lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích tậpđoàn, lợi ích quốc gia,…
Căn cứ vào lĩnh vực mà lợi ích hướng tới thì có: lợi ích kinh tế, lợi íchtinh thần,…
Như vậy, có thể thấy, nhu cầu chính trị là những đòi hỏi của chủ thể muốn
có môi trường, điều kiện chính trị đáp ứng sự phát triển nhiều mặt của mình Đốitượng của nhu cầu chính trị là quyền lực chính trị và những nhân tố của quyềnlực đó
Trang 20Do vậy, lợi ích chính trị là những nhân tố, những hình thức, những điềukiện chính trị thỏa mãn được nhu cầu chính trị của chủ thể Xét sâu xa, mọi lợiích chính trị đều nhằm đạt đến lợi ích kinh tế Bởi các nhu cầu về lợi ích kinh tếluôn đòi hỏi một cách khách quan việc thực hiện chúng thông qua những điềukiện hình thức và phương pháp của chính trị Và như vậy, các nhu cầu và lợi íchkinh tế phản ánh bằng nhu cầu và lợi ích chính trị Điều này cho thấy để hiểuđược lợi ích chính trị “chủ thể phải có một trình độ nhận thức chính trị” Đểnhận thức được và tiến tới hiện thực hóa lợi ích chính trị, các cấp độ chủ thểtrước hết phải xác định được mục tiêu lý tưởng chính trị với tư cách là sự thểhiện lợi ích chính trị.
Trong hệ thống chính trị “các nhân tố có vai trò tiêu biểu trong việc thựchiện lợi ích chính trị là Nhà nước và Đảng chính trị” Các tổ chức chính trị xãhội hoạt động với tư cách là hình thức và phương tiện để thực hiện lợi ích chínhtrị của chủ thể và là đại diện lợi ích chính trị của họ Tuy nhiên, chính trị là mộtlĩnh vực có đặc điểm phức tạp và tinh vi không phải ai có nhu cầu và lợi ích ởlĩnh vực kinh tế hoặc ở các lĩnh vực khác là có thể trở thành nhu cầu lợi íchchính trị tương ứng hoặc giống nhau giữa các chủ thể Để đạt được mục đích đóđòi hỏi các giai cấp phải tiến hành công tác giáo dục chính trị nhằm nâng caogiác ngộ chính trị cho quần chúng làm cho quần chúng nhận thức đầy đủ về mụcđích, đường lối, nhiệm vụ của cách mạng, từ đó, tổ chức quần chúng thực hiệnđường lối và những nhiệm vụ nhất định theo yêu cầu nhiệm vụ của mỗi giaiđoạn cách mạng Điều đó có nghĩa là, làm cho hệ tư tưởng chính trị của giai cấpthống trị giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, nhằm duy trì vàbảo vệ chế độ kinh tế hiện đang tồn tại Hoặc ngược lại, nó hướng dẫn cuộc đấutranh để xóa bỏ cái trật tự thống trị xã hội đang có nhưng đã lỗi thời, kìm hãm sựphát triển của lịch sử và cùng với nó là xóa bỏ tình trạng kinh tế tương ứngnhằm giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp
Bởi vậy, đối với quần chúng nhân dân phải có một quá trình giáo dụcmang tính tự giác về nhận thức nhu cầu và lợi ích chính trị Đồng thời, tiến đếnlàm cho họ xác định được vị trí của mình bên cạnh các chủ thể chính trị khác,
Trang 21nâng cao tính tích cực trong hoạt động thực tiễn chính trị Điều đó sẽ góp phầnhình thành những yếu tố cơ bản của tư tưởng chính trị hay nói rộng hơn là củavăn hóa chính trị trong nhân cách văn hóa của mỗi con người.
Như vậy, công tác chính trị là hoạt động của chủ thể chính trị vì thực hiệnmục đích, cương lĩnh, nhiệm vụ của mình mà tiến hành hoạt động thực tiễn tácđộng đến nhân dân nhằm nâng cao giác ngộ, nhận thức chính trị cho nhân dân
1.2.2.2 Tư tưởng
Triết học giản yếu năm 1987 định nghĩa: Tư tưởng là hình thức phản ánhthế giới bên ngoài trong đó bao hàm sự ý thức về mục đích và triển vọng củaviệc tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới bên ngoài… mọi tư tưởng đều đượcrút ra từ khái niệm Chúng là sự phản ánh đúng đắn hay xuyên tạc hiện thực…
Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1994 cho rằng: Tư tưởng là quan điểm
và ý nghĩa chung của con người đối với hiện thực khách quan, đối với xã hội(nói tổng quát), do đó, có tư tưởng tiến bộ, tư tưởng lạc hậu
Từ những quan điểm trên cho thấy, cái chung nhất của tư tưởng là sựphản ánh khái quát hiện thực khách quan trong ý thức biểu hiện những lợi íchcủa con người, của giai cấp và của xã hội Đó là ý thức phản ánh xã hội dướidạng khái quát, phản ánh lợi ích của mỗi con người, mỗi tập đoàn, mỗi giai cấp,mỗi dân tộc, mỗi thời đại nhất định Sự phản ánh đó có thể đúng và chưa đúng,thậm chí có thể sai Vì vậy, có tư tưởng tiến bộ thúc đẩy sự phát triển của xã hội
và ngược lại Do đó, trong xã hội có giai cấp luôn có sự đấu tranh giữa các giaicấp về mặt tư tưởng để truyền bá tư tưởng của giai cấp mình nhằm mục đích tậphợp quần chúng giác ngộ họ theo quan điểm tư tưởng của giai cấp mình, tạo nênsức mạnh hành động giành thắng lợi trong đấu tranh giai cấp
Nội dung của cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực chính trị tư tưởng chủyếu là cuộc đấu tranh giữa hai ý thức hệ tư tưởng: Hệ tư tưởng của giai cấpthống trị và hệ tư tưởng của giai cấp bị trị
Vậy, hệ tư tưởng là quá trình phát triển của tư tưởng xã hội được các nhà
tư tưởng của các giai cấp khái quát hóa, hệ thống hóa tư tưởng của giai cấp mìnhthành lý luận và học thuyết chính trị - xã hội, là cơ sở để vạch ra cương lĩnh,
Trang 22đường lối cũng như các chủ trương, chính sách của các giai cấp; đồng thời nócòn là vũ khí lý luận sắc bén để đấu tranh chống lại hệ tư tưởng của giai cấp đốilập Trong đó, mỗi cá nhân, con người, trong mỗi thời đại nhất định có một bộphận tự nhận thức nhưng phần lớn do giáo dục truyền bá phổ biến của chủ thể
hệ tư tưởng
Hệ tư tưởng là sự phản ánh của lợi ích giai cấp dưới hình thức lý luận, chonên nó mang bản chất giai cấp Vì vậy, quá trình tư tưởng cũng bị chi phối bởilợi ích của giai cấp thống trị xã hội Trong lịch sử xã hội loài người, các giai cấpthống trị, thông qua đội ngũ những nhà tư tưởng nhằm biến hệ tư tưởng của giaicấp thống trị thành hệ tư tưởng thống trị xã hội đứng lên bảo vệ và xây dựng chế
độ hiện tồn Sự tác động của chủ thể hệ tư tưởng đến các quan hệ tư tưởng vàquá trình tư tưởng để đạt mục đích đặt ra chính là công tác tư tưởng
Công tác tư tưởng là một quá trình liên tục gồm nhiều khâu, nhiều bộphận kế tiếp nhau, trong đó có ba quá trình cấu thành (ba hình thái cơ bản): Quátrình sáng tạo hệ tư tưởng để đề ra đường lối, chính sách (công tác lý luận); quátrình truyền bá hệ tư tưởng, đường lối, chính sách (công tác tuyên truyền); quátrình biến hệ tư tưởng, đường lối, chính sách thành hiện thực (công tác cổ động)
Ngoài ba hình thái cơ bản trên, trong mỗi hình thái đó lại có nhiều lĩnhvực công tác khác có tính chuyên sâu phù hợp với tính chất, đối tượng tác động,mục tiêu của nhiệm vụ… nhằm đạt hiệu quả cao trong hoạt động thực tiễn củacông tác tư tưởng Trong đó, công tác giáo dục chính trị tư tưởng thuộc hình tháicủa công tác tuyên truyền
Theo Đại học Bách khoa toàn thư Liên Xô: Theo nghĩa rộng, tuyên truyền
là sự truyền bá những quan điểm, tư tưởng về chính trị, triết học, khoa học, nghệthuật… nhằm biến quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động
cụ thể của quần chúng Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là truyền bá những quanđiểm lý luận nhằm xây dựng cho quần chúng một thế giới quan nhất định phùhợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền và kích thích những hoạt động thực tếphù hợp với thế giới quan ấy (Đào Duy Quát, 2010)
Trang 23Như vậy, công tác tuyên truyền theo nghĩa hẹp chính là tuyên truyền tưtưởng, tuyên truyền chính trị mà mục đích của nó là hình thành trong đối tượngtuyên truyền một thế giới quan nhất định, một kiểu ý thức xã hội nhất định và cổ
vũ tính tích cực của con người Công tác tuyên truyền là một hình thái, một bộphận cấu thành của công tác tư tưởng, và trong công tác tư tưởng của Đảng vàNhà nước ta, công tác tuyên truyền là hoạt động nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách củaNhà nước và những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại…làm cho chúngtrở thành nhân tố chi phối, thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội, độngviên, cổ vũ tính tích cực, tự giác, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
1.2.2.3 Giáo dục tư tưởng chính trị
Qua tìm hiểu những khái niệm trên, ta thấy, thuật ngữ chính trị tư tưởng là
từ ghép chính trị và tư tưởng được sử dụng ở đây như một bổ ngữ của công tácgiáo dục nhằm phân biệt rõ nội dung của giáo dục
Về bản chất của giáo dục chính trị tư tưởng là quá trình tác động có mụcđích, có hệ thống của một Đảng, một giai cấp, một tổ chức vào quần chúng,nhằm giác ngộ nâng cao nhận thức tư tưởng của họ về quan điểm, đường lốichính trị, để quy tụ, tập hợp quần chúng tham gia vào quá trình đấu tranh giành
và bảo vệ, thực thi quyền lực chính trị, đáp ứng thỏa mãn các nhu cầu về lợi ích
Từ sự phân tích trên, có thể rút ra kết luận, giáo dục chính trị tư tưởng ởnước ta hiện nay được tiến hành dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
do đó nội dung của nó phải đạt được mục đích cơ bản là truyền bá, giáo dục chủnghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần làm cho nó trở thành hệ tưtưởng chi phối, thống trị trong đời sống tinh thần xã hội, giúp cho cán bộ, đảngviên và nhân dân xây dựng thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn, nhânsinh quan cộng sản, để từ đó khắc phục những tư tưởng lạc hậu, nâng cao nhậnthức chính trị Đồng thời, nhằm giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng và pháp luật của Nhà nước, làm cho họ ngày càng nắm chắc và biết vậndụng vào thực tế cuộc sống, thực hiện thắng lợi đường lối, nhiệm vụ chính trị,
Trang 24cổ vũ, động viên khơi dậy nhiệt tình cách mạng, tinh thần tự giác và tính tíchcực trong quá trình cải tạo, xây dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, chủ thể của giáo dục chính trị tư tưởng của nước ta hiện nay làĐảng Cộng sản Việt Nam, mà trực tiếp là cấp uỷ đảng các cấp và các cơ quanchức năng như Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương, Ban Tuyên giáo tỉnh, cácngành, các địa phương, các cơ quan chính trị trong lực lượng vũ trang Ở cấphuyện có Ban Tuyên giáo quận, huyện và các trung tâm bồi dưỡng chính trị,…Còn đối tượng của giáo dục chính trị tư tưởng là cán bộ, đảng viên và nhân dânnói chung
Tóm lại, có thể xác định khái niệm giáo dục chính trị tư tưởng như sau:
Đó là quá trình tác động vào nhận thức của khách thể những vấn đề cơ bản vềchủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, thông qua một hệ thống các biệnpháp, nhằm từng bước xây dựng thế giới quan và phương pháp luận khoa họcđúng đắn, nâng cao bản lĩnh chính trị, thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội
Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phêchuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ Những người đủ cáctiêu chí chung của CBCC mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của
Trang 25Đảng, Nhà nước , tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổnhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ.
1.2.3.2 Công chức
Khái niệm công chức gắn liền với sự ra đời công chức ở các nước tư bảnphương Tây Từ nửa cuối thế kỷ XIX , tại nhiều nước đã thực hiện chế độ côngchức thời gian tương đối lâu Công chức được hiểu là những công dân đượctuyển dụng và bổ nhiệm vào giữ một công vụ thường xuyên trong một công sởcủa Nhà nước ở trung ương hày địa phương, ở trong nước hay nước ngoài đãđược xếp vào một ngạch và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [6,9] Mỗi
quốc gia có những quan niệm và định nghĩa khác nhau về công chức
Ở nước Pháp, công chức được hiểu là: “Công chức là những người đượctuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hànhchính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, baogồm cả trung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chức địaphương thuộc hội động thuộc địa phương quản lý [7,22]
Ở nước Trung quốc, công chức được hiểu là: “Công chức nhà nước lànhững người cong tác trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trừ nhân viênphục vụ Công chức được phân thành 2 loại:
Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực nhà nước Cáccông chức này được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành củaHiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp
Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do
cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức
Họ chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt,chấp hành các chính sách và pháp luật [7,28]
Ở Việt Nam, công chức là một thuật ngữ được dùng từ rất sớm trong quản
lý nhà nước Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt NamDân chủ Cộng hòa đã quy định chế độ công chức Việt Nam Tại điều 1, khái
Trang 26niệm công chức được hiểu là “những công dân Việt Nam được chính quyềnnhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan chính phủ, ởtrong hay ở ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trườnghợp riêng biệt do chính phù quy định Tuy nhiên, do điều kiện đất nước chiếntranh nên bản quy chế công chức này không được triển khai đầy đủ và suốt mộtthời gian dài (đến cuối những năm 1980) khái niêm công chức không được sửdụng mà thay vào đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước.
Để cụ thể hóa Pháp lệnh CBCC được Ủy ban Thường vụ Quốc hội banhành ngày 26/02/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 95/1998/NĐ-CPngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Theo Nghị địnhnày, công chức là “công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngânsách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữmột công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ được đào tạo, ngànhchuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làmviệc trong các cơ quan, đơn vị quân đội nhân dân và công an nhân dân mà khôngphải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng”
Pháp lệnh CBCC được ban hành năm 1998 là văn bản pháp lý cao nhất vềcông chức, đánh dấu bước chuyển biến cơ bản về công tác cán bộ của Đảng,Nhà nước Sau hai năm thực hiện, Pháp lệnh CBCC năm 1998 đã bộc lộ nhữnghạn chế, nên đã được sửa đổi vào năm 2000 Tuy vậy, ngay cả Pháp lệnh CBCCđược sửa đổi bổ sung vẫn không thể phân định rõ ràng được các đối tượng làcông chức Nhằm khắc phục những hạn chế đó, Pháp lệnh CBCC được sửa đổivào năm 2003
Pháp lệnh CBCC được sửa đổi năm 2003 đã phân biệt được đối tượng làmviệc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước là viện chức Đồng thời, Pháplệnh này đã quy định thêm công chức cấp xã, phường, thị trân Tuy nhiên, cảPháp lệnh CBCC năm 1998 và Pháp lệnh CBCC sửa đổi năm 2003 đều khôngđưa ra được khái niệm về cán bộ, khái niệm về công chức, chỉ đưa ra thuật ngữchung là CBCC
Trang 27Để khắc phục những hạn chế của các văn bản đó, ngày 13/11/2008, tại kỳhọp thứ 4 Quốc hội khóa XII, đã thông qua Luật Cán bộ, công chức Đây là mộtvăn bản pháp lý cao nhất từ trước đến nay và cắt nghĩa được rõ ràng hơn về cáckhái niệm CBCC Tại khoản 2, điều 4 của Luật Cán bộ Công chức quy định:
“Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức
vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chứcchính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan đơn vị thộcquân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong
bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
Như vậy, mỗi quốc gia đều có quan niệm và định nghĩa khác nhau vềcông chức Nhưng nhìn chung các quan niệm, định nghĩa đều cho rằng côngchức của một quốc gia đều có những đặc điểm đặc trưng sau:
- Là công dân của quốc gia đó
- Được tuyển dụng vào làm việc trong cơ quan HCNN
- Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước
chẽ trong quan hệ kinh tế, dòng tộc và văn hóa Cấp cơ sở có một vị trí rất quan
trọng, là nơi giải quyết các mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, là địa bàn
Trang 28tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của đảng, pháp luật của Nhà nước,
là nơi trực tiếp sản xuất vật chất, là nơi có thể tổ chức, huy động, phát huy cao
độ nội lực của dân
Hiện nay cấp cơ sở ở nước ta chủ yếu là địa bàn nông thôn, nông dân làmnông nghiệp nên có tiềm năng rất lớn về lao động, đất đai, sản xuất ra lươngthực, thực phẩm cho xã hội [13, tr.23] Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiệnnay, cấp cơ sở giữ một vai trò quan trọng Quản lý cấp xã tốt sẽ góp phần làmcho hệ thống chính trị cơ sở thêm vững mạnh Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta rấtchú trọng xây dựng hệ thống chính trị cấp xã
Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng việc xây dựng hệ thống chính trị cấp cơ
sở, đặt ra nhiều nghị quyết về củng cố, kiện toàn, phát triển toàn diện cấp cơ sở, đặcbiệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 khóa XII về “nâng cao năng lực lãnh đạo, sứcchiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên” [2,tr.165]
Vì vậy, Cán bộ cấp cơ sở chính là những người trực tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với quần chúng, là những người gần gũi nhất với người dân, người cán bộ phải hiểu rõ đặc điểm, yêu cầu cụ thể của cơ
sở, muốn phát huy được vai trò trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo quần chúng ở cơ sở thì phải tăng cường tổ chức, phát động các phong trào cách mạng của quần chúng ngay trên địa bàn.
Bố trí đúng người, đúng việc, đáp ứng yêu cầu cụ thể của từng địa bàn,từng đối tượng, từng tính chất công việc ở cơ sở sẽ có kết quả cụ thể, làm chomọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước sớm đi vào cuộc sống, tạo sựchuyển biến tích cực cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, trật tự antoàn xã hội trên địa bàn
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc củamọi công việc, muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”[25, tr.11] Do đó, đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ cấp cơ sở nói
Trang 29riêng có vai trò hết sức quan trọng Khái quát các đặc điểm của cán bộ cấp cơ
sở như trên có thể thấy những vai trò của cán bộ cấp cơ sở như sau:
Thứ nhất, cán bộ cấp cơ sở là đại diện cho nhân dân trong lãnh đạo, quản
lý Nhà nước ở địa phương đồng thời là người trực tiếp lãnh đạo, cụ thể hóa, tổchức thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhànước Vì vậy, cán bộ cấp cơ sở là bộ phận quan trọng trong hệ thống chính trị ởnước ta
Thứ hai, cán bộ cấp cơ sở được coi là “cầu nối trực tiếp” quan trọng giữa
Đảng, Nhà nước với nhân dân Cán bộ cơ sở tiếp xúc hàng ngày với nhân dânnên họ là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; tạo nên mối liên
hệ máu thịt thống nhất giữa Đảng và nhân dân, xây dựng củng cố niềm tin củanhân dân với Đảng
Thứ ba, cán bộ cấp cơ sở là một trong những dự nguồn quan trọng cung
cấp cho cán bộ lãnh đạo cấp trên Trải qua thời kỳ cách mạng trước đây cũngnhư hiện nay, họ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, tích lũy được nhiều kinhnghiệm trong việc chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ chính trị, có khả năng sáng tạo,tính nhạy bén và năng động cao [13, tr.25]
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh
mẽ công tác giáo dục , học tập nghị quyết của Đảng Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp…; tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng” [9, tr.201 -202] Đây là phương hướng đặt ra cũng là chương
trình, mục tiêu hành động cụ thể của toàn Đảng trong giai đoạn cách mạng mới
Đứng trước những nhiệm vụ to lớn của thời kỳ đổi mới, thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước những hoàn cảnh và tình thế mới, đòihỏi đội ngũ cán bộ cấp cơ sở phải có trình độ và hiểu biết toàn diện Đó khôngchỉ là trình độ chuyên môn, trình độ , mà còn phải có kiến thức về quản lý kinh
tế, quản lý nhà nước trên từng lĩnh vực cụ thể: Văn hóa, chính trị xã hội;… có
Trang 30kiến thức, có trình độ mọi mặt sẽ nâng cao khả năng tiếp nhận và xử lý thông tinphục vụ cho công tác lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo thực tiễn ở cơ sở Đồng thời sẽquy tụ được quần chúng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, củachính quyền địa phương.
Theo khoản 3 điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008: “cán bộ xãphường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam được bầugiữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bíthư, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội”
Điều 61, chương V Luật Cán bộ công chức năm 2008 quy định: chức vụ,chức danh CBCC cấp xã:
1 Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 3, điều 4 của Luật Cán bộcông chức bao gồm cán bộ cấp xã và công chức cấp xã
2 Cán bộ cấp xã gồm các chức danh:
- Bí thư, Phó Bí thư đảng ủy
- Chủ tịch, phó Chủ tịch HĐND
- Chủ tịch, phó Chủ tịch UBND
- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
- Chủ tịch Hội liên hợp phụ nữ Việt Nam
- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã phường, thị trấn
có hoạt động nông lâm ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân ViệtNam)
- Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam
Theo khoản 3 điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008: “Công chức cấp
xã là công dân Việt Nam tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụthuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ NSNN”
Công chức cấp xã gồm các chức danh sau:
Trang 31- Trưởng Công an;
- Chỉ huy trưởng quân sự;
- Văn hóa – xã hội
Công chức cấp xã do huyện quản lý
Giáo dục chính trị tư tưởng là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống của một Đảng, một giai cấp, một tổ chức vào quần chúng, nhằm giác ngộ nâng cao nhận thức tư tưởng của họ về quan điểm, đường lối chính trị, để quy
tụ, tập hợp quần chúng tham gia vào quá trình đấu tranh giành và bảo vệ, thực thi quyền lực chính trị, đáp ứng thỏa mãn các nhu cầu về lợi ích.
1.3 Phối hợp các lực lượng xã hội giáo dục chính trị tư tưởng cho cán
chế độ ta là của dân, do dân, vì dân được trực tiếp thể hiện qua đội ngũ cán bộ
cơ sở Do đó, chính sách của Đảng, Nhà nước ta có đến được với dân, có tạođược sức mạnh từ đông đảo quần chúng nhân dân không, có duy trì được sự ổnđịnh vững vàng để đổi mới và phát triển từ mọi địa phương cơ sở hay không sẽphụ thuộc mạnh mẽ vào đội ngũ cán bộ này
Trang 32Những năm đổi mới vừa qua cũng chỉ ra rằng sự thành công hay thất bạicủa Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế xã hội ở cơ sở phụ thuộc rấtlớn vào đội ngũ cán bộ công chức cấp xã: “những sai lầm và khuyết điểm tronglãnh đạo kinh tế xã hội bắt nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tưtưởng, tổ chức và công tác đào tạo cán bộ của Đảng„
Song toàn bộ hoạt động của bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể phối hợpthị đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng Tầm quan trọng của độingũ cán bộ này quyết định khả năng thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng,chính sách của Nhà nước vì CBCC cấp xã vừa là người đại diện cho Đảng vàNhà nước trong việc quản lý, điều hành mọi mặt: Chính trị, kinh tế, xã hội, quốcphòng, an ninh cơ sở; là người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chủtrương đường lối của Đảng, thực thi quyền hành pháp, cũng như tiến hành tổchức, triển khai các chương trình phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương Mặtkhác, CBCC cấp xã cũng là người thường xuyên chăm lo đến mọi mặt đời sống
cả vật chất lẫn tinh thần của mọi người dân, là người đại diện cho ý chí, quyềnlợi của nhân dân địa phương, đấu tranh và bảo vệ quyền lợi chính đáng củangười dân khi bị vi phạm Như Bác Hồ đã từng nói: “Cán bộ vừa là người lãnhđạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân’ CBCC cấp xã là người cụthể và trực tiếp nhất những yêu cầu trong lời dạy trên của Bác Hồ
Thực tiễn cho thấy, chát lượng của đội ngũ cán bộ có ảnh hưởng đến quátrình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương Ở xã nào, phường nào có đội ngũcán bô tốt thì ở đó các phong trào đều thực hiện tốt, kinh tế, xã hội phát triển,tình hình an ninh chính trị ổn định, trật tự xã hội đảm bảo Thực tế các xã,phường ở nước ta đã chứng tỏ: “cán bộ nào, phong trào đó“
CBCC cấp xã là những người sống và hoạt động thường xuyên, liên hệ mậtthiết với nhân dân, cán bộ tố hay không tốt đều của tác động trực tiếp đến phongtrào Do vậy, người cán bộ một mặt phải được trang bị đẩy đủ kiến thức, trình
độ và năng lực chuyên môn để chủ đông, vững vàng trong quản lý điều hành,mặt khác người CBCC cấp xã phải có đủ các điều kiện tiêu chuẩn về phẩm chất
Trang 33chính trị, đạo đức, có lối sống trong sạch, lành mạnh, trung thành với mục tiêu
lý tưởng của Đảng, biết hy sinh, gương mẫu để lôi cuốn quần chúng nhân dântích cực tham gia lao động sản xuất thực hiện tốt các chương trình phát triểnkinh tế - xã hội ở địa phương
1.3.2 Chủ thể giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xãĐội ngũ cán bộ thực hiện giáo dục tư tưởng chính trị phải là những người
có trình độ quản lý giáo dục nhất định, có nhận thức đúng đắn, đầy đủ ý nghĩatầm quan trọng của hiệu quả giáo dục lý luận chính trị Từ đó, đề ra những đềxuất, giải pháp tối ưu cho công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trịmột cách hiệu quả
1.3.3 Khách thể giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xãKhách thể giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã là cán
bộ, Công chức, viên chức theo quy định các chức danh là công chức cấp xã quyđịnh tại khoản 3 điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008, hiện đang làm việctrong cơ quan hành chính xã
1.3.4 Nội dung giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xãChủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủtrương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tình hình nhiệm vụ cách mạng
Giáo dục làm rõ đối tượng, đối tác, bản chất, âm mưu thủ đoạn của cácthế lực thù địch phản dộng, tinh thần cảnh giác cách mạng, giáo dục chủ nghĩayêu nước xã hội chủ nghĩa, lịch sử, truyền thống, bản sắc văn hoá của dân tộc,của Đảng, của đơn vị và địa phương,
Giáo dục pháp luật Nhà nước, chuẩn mực về phẩm chất chính trị, đạo đứclối sống, thẩm mỹ, đồng thời trang bị những kiến thức cần thiết kinh tế, khoahọc, văn hoá, xã hội cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân
Giáo dục cho người học nhận rõ tình hình thế giới, khu vực, tình hình trongnước và tình hình cơ quan, địa phương
Trang 34Giáo dục tinh thần khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên, quyết tâmhoàn thành nhiệm vụ được giao
Nội dung giáo dục chính trị là một chỉnh thể thống nhất, tác động, tương
hỗ lẫn nhau trong đó, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làcốt lõi nền tảng
Quá trình giáo dục chính trị phải bảo đảm tác động toàn diện cả nhậnthức, niềm tin, tình cảm, ý chí, đồng thời gắn với yêu cầu, điều kiện, đặc thùnhiệm vụ của các địa phương, cơ quan cụ thể
Nội dung giáo dục chính trị phải được xây dựng thống nhất về cơ bảntrong toàn xã hội
Mục đích xuyên suốt của giáo dục chính trị là góp phần nâng cao chấtlượng hoàn thành nhiệm vụ của các tổ chức, cá nhân.
Tính toàn diện của nội dung giáo dục tư tưởng chính trị được thể hiện ở
hệ thống những tri thức cần được đào tạo, bồi dưỡng để hoàn thiện nhân cáchcủa người cán bộ cấp cơ sở Tính thiết thực của nội dung giáo dục lý luận chínhtrị không những phải phù hợp với trình độ của từng đối tượng mà còn phải phùhợp với thực tiễn của đất nước, phù hợp với từng địa phương và từng đảng bộ,đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay
Nội dung, chương trình giáo dục có sự phát triển cả về bề rộng và bề sâu,một mặt bổ sung thêm các kiến thức về lịch sử, truyền thống cách mạng củaĐảng, tiếp tục làm sâu sắc thêm tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa xãhội, đường lối đổi mới của Đảng, chỉ thị, nghị quyết, quan điểm, tư tưởng mớicủa Đảng, các chính sách mới được ban hành của Nhà nước, các bộ luật của Nhànước mới ra đời được tổ chức học tập nghiêm túc và cập nhật kịp thời vào nộidung giảng dạy, học tập, nghiên cứu Nói tóm lại có hai nội dung căn bản giáodục tư tưởng chính trị cho CBCC cấp xã là:
Trang bị các kiến thức về lý luận chính trị theo tiêu chuẩn quy định chocác chức danh cán bộ, ngạch công chức và chức danh cán bộ quản lý
Tổ chức phổ biến các văn kiện, nghị quyết của Đảng;
Trang 35Bồi dưỡng, cập nhật nâng cao trình độ lý luận theo quy định của các cơquan có thẩm quyền
1.3.5 Phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấpxã
Trong giáo dục thì phương pháp chính là cách thức truyền tải nội dung,thông tin đối với người học theo một hệ thống đã xác định để hình thành nênnhững tri thức mới cho họ Vì vậy, người giáo dục phải có một cách thức truyềntải đúng với nội dung để thu hút đối tượng bằng nhiều hình thức, phải phù hợpvới trình độ và đặc điểm của từng đối tượng học đặc biệt là cán bộ cấp cơ sở
1.3.6 Hình thức giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã
bộ, đảng viên Đây là hình thức giáo dục chính trị chủ yếu ở cơ sở nhằm trang
bị những kiến thức cơ bản về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HồChí Minh, những quan điểm tư tưởng của Đảng, pháp luật Nhà nước cho cán
bộ, đảng viên Tổ chức đảng, cán bộ các cấp, chính quyền và cơ quan chứcnăng phải coi việc thực hiện tốt nội dung chương trình giáo dục chính trị chocác đối tượng hàng năm là một trong những hoạt động trung tâm của công táclãnh đạo, quản lý, các cấp, các ngành cần nhận thức sâu sắc vai trò to lớn củagiáo dục chính trị trong việc góp phần nâng cao chất lượng huy động và pháthuy sức mạnh các tổ chức, lực lượng trong địa phương thực hiện các nhiệm vụ
đề ra Trên các cương vị, chức trách được phân công tích cực góp phần xâydựng và tổ chức kế hoạch giáo dục chính trị nghiêm túc, đầy đủ nội dung, linhhoạt về hình thức, chặt chẽ có hiệu quả trong sự thống nhất ăn khớp với cáchoạt động khác
Trang 36- Sinh hoạt chính trị- tư tưởng
Sinh hoạt chính trị tư tưởng là hình thức học tập, nghiên cứu, quán triệt cácnghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tình hình nhiệm vụ cách mạng,nhiệm vụ của địa phương và cơ quan, đảm bảo cho cán bộ, đảng viên và quầnchúng nhân dân nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm thực hiện thắng lợi mọinhiệm vụ
Sinh hoạt chính trị tư tưởng được tiến hành thông qua các phương pháp:nghe lên lớp, giới thiệu nghị quyết, báo cáo chuyên đề, tự nghiên cứu, thảo luận,giải đáp, kết luận, viết thu hoạch, thông qua đó quán triệt, truyền bá cho cán bộ,đảng viên và quần chúng nhân dân nắm được đường lối chủ trương, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ cách mạng và địa phương, cơ quan mình, trên
cơ sở đó nâng cao nhận thức, chuyển biến hành động, tích cực tham gia cácphong trào hành động cách mạng
Để sinh hoạt chính trị tư tưởng có kết quả tốt, tổ chức đảng, chính quyền
và cán bộ chủ trì các cấp phải chỉ đạo cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch cụthể, tổ chức chỉ đạo chặt chẽ, phân công bồi dưỡng báo cáo viên, tổ trưởng họctập, đề cao dân chủ, phát huy tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo của cán bộ,đảng viên, coi trọng phát huy kết quả sinh hoạt chính trị, tư tưởng xây dựngchương trình hành động nhằm thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách củaĐảng, Nhà nước, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị
- Nghiên cứu chuyên đề chính trị
Là hình thức tự học, tự nghiên cứu có định hướng, có tổ chức cho đội ngũcán bộ, đảng viên các cấp, nhằm xây dựng tinh thần tự giác, độc lập, sáng tạotrong tự học, tự nghiên cứu nhằm không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt cho sĩquan, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới
Nội dung nghiên cứu các chuyên đề chính trị tập trung vào những vấn đề
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những kiến thức về kinh
tế, chính trị, văn hoá xã hội, những kiến thức mới về công nghiệp hoá, hiện đại
Trang 37hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới cũng như những kiến thứcphát triển mới về khoa học kỹ thuật
Để việc nghiên cứu chuyên đề chính trị đạt kết quả tốt, cấp uỷ, chính quyền,cán bộ chủ trì các cấp cần chỉ đạo cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch cụthể, lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý kiểm tra, giám sát chặt chẽ, đồng thời tạo điềukiện thuận lợi về thời gian, tài liệu, phương tiện và động viên tinh thần tíchcực chủ động, tự giác, sáng tạo khắc phục mọi khó khăn tự nghiên cứu củacán bộ, đảng viên; sau mỗi chuyên đề nghiên cứu cần tổ chức viết thu hoạchđánh giá kết quả đồng thời lấy kết quả nghiên cứu làm một trong những tiêuchí xem xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên hàng năm
- Thông báo chính trị, thời sự; đọc báo, nghe đài, xem truyền hình
Là chế độ, là nhu cầu tinh thần hàng ngày của cán bộ, đảng viên vàquần chúng nhân dân
Nội dung thông báo chính trị - thời sự theo chế độ cho cán bộ, đảng viênnhằm cung cấp về tình hình thế giới, trong nước, tình hình hoạt động của cácđịa phương trong toàn quốc Những nội dung thông báo chính trị - thời sự phảiđược chuẩn bị kỹ lưỡng, gắn việc thông tin với định hướng tư tưởng, địnhhướng dư luận theo quan điểm của Đảng, liên hệ với thực tiễn, sát với tình hìnhnhiệm vụ địa phương và cơ sở, thực hiện nghiêm quy định về bảo mật, kỷ luậtphát ngôn
Quan tâm bảo đảm cho quần chúng nhân dân được thường xuyên đọc báo,nghe đài, xem truyền hình Chú ý nắm dư luận, định hướng tư tưởng, nhận thứccho quần chúng nhân dân trước các sự việc, nhất là các nội dung đề cập đếnnhững sự kiện chính trị quan trọng, vấn đề lớn, nhạy cảm nhằm giữ vững địnhhướng chính trị, nâng cao nhận thức và giác ngộ chính trị đúng đắn cho cán bộ,đảng viên và quần chúng nhân dân
- Thông qua hoạt động xã hội, phong trào thi đua, các cuộc vận động, kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, của địa phương, ngày truyền thống của cơ
Trang 38quan, đơn vị; hoạt động văn hoá, văn nghệ và các thiết chế văn hoá, thiết chế dân chủ trong xã hội
Các hoạt động xã hội, phong trào thi đua của quần chúng nhân dân, cácngày lễ lớn của dân tộc là những dịp quan trọng đề tiến hành giáo dục chính trịcho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân Tùy theo nội dung, phạm vi mỗihình thức hoạt động, mỗi phong trào thi đua cũng như tính chất từng ngày lễ đểđưa nội dung giáo dục chính trị cho phù hợp
Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng ở cơ sở, thông quaviệc biên soạn, xuất bản và sử dụng các ấn phẩm văn hóa, báo chí, thông quahoạt động xây dựng môi trường văn hóa, trong đó chú trọng xây dựng cảnh quanmôi trường, phát huy vai trò các thiết chế văn hóa, giáo dục quan hệ ứng xửtrong xã hội là những con đường, hình thức giáo dục chính trị rất có hiệu quả
Các hình thức giáo dục chính trị có tính độc lập tương đối Mỗi hình thức
có ưu điểm và đòi hỏi những điều kiện khác nhau Tùy điều kiện, hoàn cảnh củatừng địa bàn mà áp dụng các hình thức cho phù hợp, hiệu quả Luôn tìm tòi,sáng tạo các hình thức mới (Đặc biệt chú trọng khai thác thành tựu khoa họccông nghệ và thông qua con đường văn hóa, nghệ thuật để giáo dục chính trị)
Hình thức giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã đượcthực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng, phù hợp với các hoạt động sinh hoạtcủa các đơn vị chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể và phùhợp với đặc điểm lao động, đặc điểm hoạt động của cấp xã Cụ thể là thông quacác hình thức tổ chức sau để giáo dục tư tưởng chính trị cho CBCC CX:
- Tổ chức học tập chính trị
- Sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt chính trị tư tưởng
- Nghiên cứu các chuyên đề
- Thông báo chính trị, thời sự, đọc báo, nghe đài, xem truyền hình
Trang 39- Thông qua hoạt động thực tiễn thực hiện các nhiệm vụ, các phong tràothi đua, các cuộc vận động kỷ niệm các ngày lễ lớn của các dân tộc, của đảng,các hoạt động văn hóa văn nghệ.
- Ngày sinh hoạt chính trị, văn hóa, tinh thần
1.3.7 Phối hợp các lực lượng xã hội giáo dục chính trị tư tưởng cho cán
bộ công chức cấp xã
Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộcông chức cấp xã là việc thống nhất, kết hợp tác động giữa các cơ quan đơn vịhành chính trong huyện, xã phường; giữa các lực lượng, các tổ chức chính trị xãhội trong tác động giáo dục chính trị nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ công chứccấp xã, phường có phẩm chất chính trị tốt, thấm nhuần quan điểm đường lối củaĐảng, pháp luật Nhà nước Thực thi công vụ theo chuẩn mực pháp luật phù hợpvới chủ trương của Đảng, Nhà nước phù hợp với nguyện vọng chính đáng củanhân dân Có thái độ và kỹ năng chấp hành chủ trương, đường lối, chống lại tưtưởng phản động xuyên tạc đường lối của đảng, pháp luật Nhà nước, chia rẽ nội
bộ, gây mất đoàn kết
Phối hợp giữa các lực lượng xã hội được thể hiện qua các giai đoạn:
Lập kế hoạch phối hợp
Tổ chức thực hiện hoạt động phối hợp
Lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động phối hợp
Đánh giá kết quả của hoạt động phối hợp
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phối hợp các lực lượng xã hội giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức cấp xã.
Yếu tố chủ quan:
Đặc điểm lứa tuổi Học tập chính trị tư tưởng của CBCC CX chịu sự chiphối của lứa tuổi Điều này được quy định trong việc cử cán bộ bồi dưỡng chínhtrị tư tưởng Đồng thời cũng là do tâm lý đối tượng được bồi dưỡng tạo nên
Trang 40Nhu cầu học tập của cá nhân cán bộ, công chức
Năng lực tự học tự giáo dục của cán bộ, công chức
Yếu tố khách quan:
Sự chỉ đạo thống nhất từ Huyện ủy, UBND huyện
Cơ chế phối hợp giữa các phòng, ban, tổ chức đoàn thể
và toàn bộ hệ thống chính trị Vì vậy, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tưtưởng cho cán bộ, đảng viên có vai trò to lớn, góp phần trọng vào việc giác ngộcách mạng, nâng cao nhận thức chính trị, thống nhất ý chí và hành động của cán
bộ, đảng viên nhằm thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sáchpháp luật của Nhà nước
Giáo dục tư tưởng chính trị được thực hiện với nhiều nội dung, phươngpháp, hình thức, biện pháp giáo dục khác nhau, kết quả của nó phuu thuộc vàonhiều nhân tố khách quan và chủ quan khác nhau Muốn thực hiện có hiệu quảcông tác này, cần chú trọng công tác phối hợp các lực lượng giáo dục trong xãhội nhằm phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực ảnh hưởng đếnhiệu quả hoạt động giáo dục cho cán bộ công chức cấp xã trong giai đoạn hiệnnay
Thực hiện cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng làm công táctuyên giáo và các cơ quan liên quan Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát,học tập mô hình, kinh nghiệm về các lĩnh vực tuyên giáo; Qua đó, củng cố niềmtin của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng,