Luận văn Giáo dục đạo đức công vụ đối với cán bộ, công chức các cơ quan hành chính thuộc uỷ ban nhân dân huyện tam đường, tỉnh lai châu theo tiếp cận phát triển cộng đồng được tác giả nghiên cứu thực tế thực trạng các vấn đề về giáo dục Giáo dục đạo đức công vụ đối với cán bộ, công chức các cơ quan hành chính thuộc uỷ ban nhân dân huyện tam đường, tỉnh lai châu theo tiếp cận phát triển cộng đồng. Luận văn có cơ sở lý luận chặt chẽ, lôgic, số liệu rõ ràng, được hội đồng chấm luận văn của Trường Đại học sư phạm Hà Nội đánh giá điểm caao nhất. Các bạn có thể tham khảo.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐỖ TRỌNG THI
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐỖ TRỌNG THI
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
MÃ SỐ: THÍ ĐIỂM
HÀ NỘI- 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐỖ TRỌNG THI
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨCHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
MÃ SỐ: THÍ ĐIỂM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Từ Đức Văn
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tôi đã nhận được sựgiúp đỡ tận tình của các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp Với tình cảm chân thành, tácgiả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Sưphạm Hà Nội đã trang bị vốn kiến thức lý luận về khoa học giáo dục, giúp cho emnghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Đặc biệt, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Từ Đức Văn, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ cũng như tạo cho em
sự tự tin trong quá trình tiến hành nghiên cứu để hoàn thành luận văn này theo kếhoạch
Tác giả luận văn cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới bạn bè, giađình và đồng nghiệp trong thời gian qua đã động viên và giúp đỡ, tạo điều kiệngiúp tác giả nghiên cứu, khảo sát và cung cấp thông tin, tư liệu cho luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu song luận văn không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý quý báu của các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học trong Hội đồng và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
TÁC GIẢ
Đỗ Trọng Thi
Trang 4CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC Cán bộ, công chức
ĐCSVN Đảng Cộng sản Việt Nam
ĐTBD Đào tạo bồi dưỡng
CNH- HĐH Công nghiệp hóa- Hiện đại hóaKT- XH Kinh tế - xã hội
CT- XH Chính trị - xã hội
Trang 5MỤC LỤC
MỞ
ĐẦU 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG……… 11
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề………
……… … 11
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài………
……… 13
1.2.1 Cán bộ, công chức cơ quan hành chính……… 13
1.2.2 Giáo dục đạo đức công vụ……… 19
1.3 Cơ sở pháp lý về đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức……… 29
1.4 Lý luận về đạo đức công vụ và giáo dục đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức cơ quan hành chính cấp huyện theo tiếp cận phát triển cộng đồng…………33
1.4.1 Cơ sở về đạo đức công vụ của cán bộ, công chức………
………33
1.4.2 Giáo dục đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính thuộc UBND huyện theo tiếp cận cộng đồng……… 37
1.5 Yêu cầu giáo dục đạo đức công vụ đối với cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính thuộc UBND cấp huyện theo tiếp cận cộng đồng trong giai đoạn hiện nay……….41
1.6 Kinh nghiệm giáo dục đạo đức công vụ của một số quốc gia……… 43
Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH THUỘC UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG………46
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Tam Đường, cơ cấu tổ chức bộ máy tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu……….46
2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Tam Đường……….46
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu……… 48
2.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức công tác tại các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu……….….49
2.2.1 Số liệu thống kê……… 49
2.2.2 Phân tích số liệu thống kê……… ………51
Trang 62.3 Thực trạng thi hành công vụ và giáo dục đạo đức công vụ cho cán bộ, công
chức các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu… 53
2.3.1 Tổ chức tiến hành khảo sát……… 53
2.3.2 Kết quả khảo sát, đánh giá……… 55
2.4 Đánh giá thực trạng………70
2.4.1 Những ưu điểm……… ………70
2.4.2 Những tồn tại cần khắc phục……… 71
2.4.3 Nguyên nhân của thực trạng……… …71
Chương 3 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG……….…… 74
3.1 Mục tiêu và nguyên tắc………
……… 74
3.1.1 Mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể (13) ……… 74
3.1.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp……… ……….75
3.2 Biện pháp giáo dục đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu theo tiếp cận phát triển cộng đồng……… ………77
3.2.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức và các lực lượng cộng đồng về vai trò của giáo dục đạo đức cho cán bộ, công chức trong thực thi công vụ………….77
3.2.2 Giáo dục pháp luật liên quan đến đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức 78
3.2.3 Tổ chức bồi dưỡng các chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và vận dụng phương pháp nêu gương của Người để giáo dục đạo đức công vụ đối với cán bộ, công chức……… 80
3.2.4 Giáo dục đạo đức công vụ thông qua sinh hoạt tập thể cơ quan………88
3.2.5 Chú trọng giáo dục ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức công vụ của cán bộ, công chức thông qua hoạt động trải nghiệm tại cộng đồng……….90
3.2.6 Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đạo đức công vụ đối với cán bộ, công chức mới bổ nhiệm, tuyển dụng……… 93
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp……….… 95
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp giáo dục đạo đức công vụ đối với cán bộ, công chức các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu theo tiếp cận, phát triển cộng đồng……….……….95
3.4.1 Tiến hành thăm dò ý kiến……… ….95
3.4.2 Xử lý và phân tích thông tin……… ….96
3.4.3 Kết quả thăm dò tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp……….96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… …………102
1 Kết luận……… 102
2 Kiến nghị……… ……… 102
Trang 72.1 Đối với tỉnh Lai Châu……… 102
2.2 Đối với huyện Tam Đường……… 103
2.3 Đối với cán bộ, công chức……… 103
2.4 Đối với các lực lượng cộng đồng……….…103
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định "Đạo đức là gốc của người cách mạng", Người ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, "Muốn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém" Ngay từ khi ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam luôn quan tâm và coi trọng công tác giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đây chính là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng nước ta
Trong bối cảnh hiện nay cho thấy, sự nghiệp cách mạng của nước ta vừa có những thuận lợi, vừa có những khó khăn thách thức đan xen Nhiều vấn đề mới nảy sinh cần có sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong toàn xã hội Sự khủng hoảng về đạo đức, sự “lệch chuẩn, loạn chuẩn” đang là mối lo ngại đối với mỗi cán
bộ, công chức và nhân dân Hơn nữa, các thế lực thù địch ngày càng ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc Việc giáo dục đạo đức cho đội ngũ CBCC ở huyện Tam Đường nói riêng và cả nước nói chung có ý nghĩa chính trị to lớn, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới, là nhiệm vụ quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế
-xã hội trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa
Luật CBCC (năm 2008) ra đời và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và viên chức (2019) đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc phân định rõ giữa đội ngũ CBCC làm việc trong các cơ quan hành chính với đội ngũ viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi để tập trung xây dựng, hoàn thiện và phát triển đội ngũ CBCC, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính Nhà nước. Một điểm quan trọng của Luật CBCC đó là lần đầu tiên đã dành hai mục tại Chương I để quy định về đạo đức công vụ, trong đó quy định mang tính nguyên tắc
về đạo đức công vụ là "CBCC phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ" (Điều 15) Từ quy định mang tính nguyên tắc trên, các quy định về đạo đức công vụ, xác định các chuẩn mực mang tính nghĩa vụ phải thực hiện đối với công chức trong mối quan hệ công sở; mối quan hệ với Nhân dân trong
Trang 8thực thi công vụ; những điều công chức không được làm trong thực thi công vụ(Điều 16, 17, 18) được nêu rất cụ thể, rõ ràng.
Trong những năm gần đây, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) càng đặc biệtquan tâm đến vấn đề giáo dục đạo đức cho các thế hệ nói chung và cho đội ngũ cán bộ,công chức, viên chức, đảng viên nói riêng Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII đãnhấn mạnh “Các tổ chức Đảng phải thường xuyên giáo dục, quản lý, kiểm tra cán bộ, đảngviên về đạo đức, lối sống cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, gương mẫu, giữ gìn phẩmchất người chiến sĩ cộng sản” Từ năm 2000 cho đến nay Đảng ta đã ra nhiều Chỉ thị, Nghịquyết tiếp tục thực hiện nâng cao đạo đức cách mạng cho Đảng viên, CBCC thông quahọc tập, rèn luyện, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Gần đây, Nghị quyết số04-NQ/TW (2016) của BCH Trung ương Đảng về tăng cường xây dựng, chỉnh đốnĐảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ (7, 9)
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩacủa nước ta hiện nay, ngoài việc phải có những quy định pháp luật phù hợp để duy trì
và phát huy các giá trị của nền công vụ, thì việc hình thành các chuẩn mực về tư cáchđạo đức công vụ của người CBCC là rất quan trọng; nó tác động, ảnh hưởng rất lớnđến chất lượng, hiệu quả, tiến độ thực thi các chủ trương của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước Mỗi thái độ, lời nói, việc làm có lý, có tình, có trách nhiệm củangười CBCC khi tiếp xúc, giải quyết công việc, giải quyết nhu cầu chính đáng củangười dân sẽ có tác dụng lôi kéo, khích lệ họ chấp hành chính sách, pháp luật và tintưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Ngược lại, sẽ làm họ thất vọng, phảnứng, không hợp tác, ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý củaNhà nước Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay vẫn bộc lộ những yếu kém,bất cập; năng lực và phẩm chất của một bộ phận CBCC còn yếu; trình độ chuyên môn,nghiệp vụ của CBCC chưa tương xứng, chưa đáp ứng yêu cầu công việc; tính chủđộng, ý thức trách nhiệm với công việc được giao còn thấp; khả năng quản lý, điềuhành còn nhiều hạn chế Một bộ phận CBCC thoái hoá, biến chất, tham ô, nhũng nhiễuphiền hà, thiếu công tâm, khách quan khi giải quyết công việc; kỷ luật hành chính lỏnglẻo, bản lĩnh thiếu vững vàng Tất cả những điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến
uy tín, hiệu quả lãnh đạo của Đảng và điều hành Nhà nước, làm giảm sút lòng tin củaNhân dân Trước những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc trong tình hình mới đặt ra đòi hỏi bức thiết phải GDĐĐ công vụ cho đội ngũCBCC nói chung trong đó có đội ngũ CBCC ở các cơ quan hành chính nói riêng
Tam Đường là huyện được chia tách từ huyện Phong Thổ và được thành lậpnăm 2002; đội ngũ CBCC của huyện đa số đều trẻ, đang từng bước được chuẩn hoá
về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức, năng lực thực thi công vụ, kỹ năng xử lý
Trang 9các vấn đề mới nhằm nâng cao đạo đức công vụ đối với CBCC của huyện TamĐường nói chung, các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện nói riêng Điều đó đòihỏi cần có những biện pháp cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao chất lượng đội ngũCBCC nói chung và CBCC ở các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện TamĐường nói riêng; trong đó có việc giáo dục đạo đức công vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ trong giai đoạn hiện nay để phát triển văn hóa - xã hội, kinh tế của địa phương,góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH, HĐH đất nước (13)
Từ các lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Giáo dục đạo đức công vụ đối với cán bộ, công chức các cơ quan hành chính thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu theo tiếp cận phát triển cộng đồng” làm đề tài Luận văn
cao học của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng GDĐĐ công vụ đối với CBCCtrong các cơ quan hành chính thuộc thuộc UBND huyện Tam Đường, tỉnh LaiChâu; từ đó đề xuất một số biện pháp GDĐĐ công vụ đối với CBCC trong các cơquan hành chính thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Tam Đường theo tiếp cận phát triểncộng đồng
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục đạo đức công vụ đối với CBCC các cơ quan hành chínhthuộc Uỷ ban nhân dân huyện theo tiếp cận cộng đồng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục đạo đức công vụ đối với CBCC các cơ quan hành chínhthuộc Uỷ ban nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu theo tiếp cận cộng đồng
4 Giả thuyết khoa học
Chất lượng đạo đức của đội ngũ CBCC trong các cơ quan hành chính thuộc
Uỷ ban nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu chưa đáp ứng yêu cầu ngày càngcao của sự nghiệp cách mạng, còn có biểu hiện như: ích kỷ, cục bộ, xa dân, quan liêu,hách dịch, làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các mục tiêu quan trọng
đã được UBND huyện xác định Nếu đề xuất được các biện pháp phù hợp với lýluận và thực tiễn về GDĐĐ công vụ cho CBCC theo tiếp cận phát triển cộng đồngthì sẽ nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho CBCC các cơ quan hành chính, góp phần nângcao chất lượng đội ngũ CBCC huyện Tam Đường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận về đạo đức công vụ, giáo dục đạo đức công vụ cho
cán bộ, công chức cấp huyện theo tiếp cận phát triển cộng đồng
Trang 105.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức công vụ đối
với cán bộ, công chức các cơ quan hành chính thuộc Uỷ ban nhân dân huyện TamĐường, tỉnh Lai Châu theo tiếp cận phát triển cộng đồng
5.3 Đề xuất biện pháp giáo dục đạo đức công vụ đối với cán bộ, công chức
các cơ quan hành chính thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châutheo tiếp cận phát triển cộng đồng
5.4 Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
6 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu về GDĐĐ công vụ cho CBCC các cơ quanhành chính thuộc UBND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu theo tiếp cận phát triểncộng đồng
- Thời gian: Nghiên cứu thực trạng GDĐĐ công vụ ở các cơ quan hành chínhthuộc Uỷ ban nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu từ năm 2015 đến 2020
- Không gian: Chỉ nghiên cứu trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
7 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu và phân tích, khái quát hóa các quan điểm lý luận thể hiện trongcác chuyên khảo, bài báo, các tài liệu chuyên môn và cơ sở pháp lý liên quan đếnnội dung đề tài luận văn Đây là cơ sở hình thành khung lý luận về GDĐĐ choCBCC khối cơ quan hành chính Cấp huyện theo tiếp cận phát triển cộng đồng
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát bằng phiếu hỏi đối với đội ngũCBCC hiện đang làm việc tại các cơ quan hành chính thuộc Uỷ ban nhân dân huyệnTam Đường (Phụ lục 1, 2)
- Phỏng vấn: phỏng vấn ông Từ Hữu Hà – Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịchUBND huyện Tam Đường về “Hiệu quả của công tác GDĐĐ công vụ cho CBCCthông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng”
- Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm: Từ việc phân tích thực trạng
GDĐĐ công vụ đối với CBCC các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện TamĐường, tỉnh Lai Châu để rút ra những kết luận, trên cơ sở đó đề xuất một số biệnpháp GDĐĐ công vụ đối với CBCC làm việc trong các cơ quan hành chính thuộcUBND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ
Ngoài các phương pháp trên tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê toánhọc xử lý số liệu thống kê nhằm bổ sung, minh chứng các kết quả định lượng
Trang 118 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt khoa học: Hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận về GDĐĐ
công vụ cho CBCC nói chung và CBCC các cơ quan hành chính thuộc UBND cấphuyện nói riêng theo tiếp cận phát triển cộng đồng
- Về mặt thực tiễn: Phát hiện những hạn chế, bất cập về GDĐĐ công vụ cho
CBCC khối cơ quan hành chính thuộc UBND huyện Tam Đường qua khảo sát thựctrạng; từ đó đề xuất các biện pháp GDĐĐ công vụ cho CBCC tại các cơ quan hànhchính thuộc UBND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu theo tiếp cận cộng đồng
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục Nộidung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức công vụ đối với cán bộ, côngchức trong các cơ quan hành chính theo tiếp cận phát triển cộng đồng
Chương 2: Thực trạng giáo dục đạo đức công vụ đối với cán bộ, công chứccác cơ quan hành chính thuộc Uỷ ban nhân dân Tam Đường, tỉnh Lai Châu theo tiếpcận phát triển cộng đồng;
Chương 3: Biện pháp giáo dục đạo đức công vụ đối với cán bộ, công chức các cơquan hành chính thuộc UBND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu theo tiếp cận phát triểncộng đồng
Trang 12gì cũng khó” Việc bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộluôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm trong suốt cuộc đời hoạt động cáchmạng Người đặc biệt quan tâm đến đạo đức cách mạng của người cán bộ Ngườichỉ rõ: “Cán bộ là cái dây truyền của bộ máy” và “Cán bộ chính là những ngườiđem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dởthì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” [14; Tr.24] điều đó cho thấy vaitrò và tầm quan trọng của đạo đức cách mạng đối với người đảng viên, cán bộ, côngchức có ảnh hưởng quan trọng tới uy tín, thanh danh của Đảng, có sức cảm hóa,thuyết phục, tập hợp, phát huy sức mạnh quần chúng nhân dân nhằm thực hiệnthành công sự nghiệp cách mạng Trong hai tiêu chuẩn cơ bản “đức” và “tài” củangười cán bộ, đảng viên thì đức phải là cái gốc, đức quyết định sự thành công củangười cán bộ “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [16;Tr.327].
Cán bộ, công chức và giáo dục đạo đức công vụ có mối quan hệ biện chứngtrong việc rèn luyện, hoàn thiện nhân cách của người cán bộ, công chức Đó là mốiquan hệ giữa Hiến pháp, pháp luật với năng lực công tác của người CBCC Tôn trọng
và thực hiện Hiến pháp, pháp luật vừa là nghĩa vụ pháp lý, vừa là nghĩa vụ đạo đứccông vụ của người CBCC, vì Hiến pháp, Pháp luật đã hàm chứa trong đó những quytắc đạo đức và các yếu tố văn hóa dân tộc
Hiện nay, đạo đức, lối sống của CBCC đang chịu sự tác động, chi phối củanhiều yếu tố Trong đó đáng chú ý là: diễn biến chính trị rất phức tạp trên thế giới;
sự tác động của nền kinh tế thị trường; sự du nhập của văn hóa, lối sống nướcngoài; các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực của CBCC trong hệ thống chính trị; sựchống phá của các thế lực thù địch Những tác động đó đang làm thay đổi thanggiá trị đạo đức xã hội Mặc dù những thành tựu của công cuộc đổi mới là yếu tố rất
cơ bản tác động tích cực đến đạo đức, lối sống của CBCC; song mặt trái của cơ chế
Trang 13thị trường và các tác động tiêu cực khác đang làm xói mòn đạo đức, lối sống, đe dọanghiêm trọng sự trong sạch, vững mạnh của Đảng ta.
Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã bỏ nhiều công sức nghiên cứuvấn đề đạo đức nói chung và đạo đức công vụ nói riêng; mối quan hệ giữa CBCCvới công dân, với cộng sự trong thi hành công vụ; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm vànăng lực của CBCC trong hoạt động công vụ; kỹ năng giao tiếp và văn hóa công vụ
Có thể điểm qua một số công trình như: Nguyễn Hồng Điệp (2014), một số kinhnghiệm nâng cao đạo đức công vụ cho cán bộ tiếp công dân; Lê Như Thanh (2009),
cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công chức ViệtNam hiện nay; Nguyễn Thị Hồng Hải (2013), một số vấn đề cần quan tâm nhằmnâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong công vụ; Tô Tử Hạ, Trần AnhTuấn, Nguyễn Thị Kim Thảo (2002), đạo đức trong nền công vụ; Phạm Hồng Thái(2004), công vụ nhà nước; Ngô Thành Can (2012), công chức và chất lượng thựcthi công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước; Lưu Kiếm Thanh, Nguyễn ĐồngMinh (2014), đào tạo và bồi dưỡng các giá trị nhân văn công vụ cho cán bộ, côngchức; Lý Thị Huệ, Đặng Văn Luận (2013), đạo đức công vụ trong nền công vụ ởnước ta hiện nay…
Đạo đức công vụ, năng lực thực thi công vụ của CBCC có vai trò rất quantrọng trong đời sống xã hội Tác giả Hồ Sĩ Vịnh (1999) ví: đạo đức công chức như
“một cái phanh hãm để ngăn chặn sự suy thoái của thể chế, của bản thân công chức
Nó là sức mạnh tự bảo vệ để con người công chức và thể chế nhà nước không tự đánhmất mình, không rơi vào tình trạng tự huỷ hoại… Đạo đức công chức còn là động lựctinh thần, giá trị văn hoá thúc đẩy xã hội phát triển, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước” [39;Tr.56,139] Nguyễn Minh Phương (2004) trong nghiên cứu kinhnghiệm tăng cường đạo đức công vụ của một số nước trên thế giới, cho thấy vấn đềđạo đức công chức khu vực công được nhiều nước hết sức quan tâm, coi trọng Việcgiáo dục đạo đức công vụ ở một số nước được thực hiện ngay khi công chức mớiđược tuyển dụng và trong suốt thời gian công tác Nguyễn Thị Vân Hương (2014) thìcho rằng năng lực thực thi công vụ của CBCC thể hiện thông qua kết quả công việc
và phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống Thái độ và hành vi ứng xử của CBCC đốivới công dân trong hoạt động công vụ là cầu nối quan trọng không chỉ thể hiện trongmối quan hệ giao tiếp mà còn thể hiện hình ảnh của cơ quan công quyền, hình ảnhnhà nước với công dân Đào Thị Ái Thi (2008) trong nghiên cứu đã cho ta thấy trongthực thi công vụ nếu CBCC chỉ biết làm theo nguyên tắc hành chính đơn thuần màkhông biết thuyết phục quần chúng hoặc ngược lại, đều không mang lại hiệu quảtrong công việc Vì thế, bên cạnh những đặc trưng cơ bản của người CBCC phải tuânthủ như: Tính chính xác, minh bạch, khách quan, nghiêm túc, tính khuôn mẫu và quy
Trang 14phạm thì người CBCC cần tu dưỡng đạo đức cách mạng; khiêm tốn, tích cực học tập,nâng cao kiến thức chuyên môn, rèn luyện tư thế tác phong trong giao tiếp thực thicông vụ (35) Lê Đình Mùi (2015) đã tập trung đánh giá làm rõ những ưu điểm,những hạn chế, tính khả thi của các quy định pháp luật về đạo đức công vụ, côngchức từ đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về đạo đức công vụ, côngchức (23).
Trên thế giới, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng CBCC rất đa dạng và khác nhau
ở mỗi nước nhưng đều nhằm mục đích nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đứcnguồn nhân lực, góp phần xây dựng một nền hành chính công minh bạch, hiện đại
Ở Việt Nam, việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC vừa có nét chung của các nước, lại vừa
có những đặc thù riêng Theo Quy chế đào tạo, bồi dưỡng (ĐTBD) cán bộ, côngchức của Chính phủ đơn vị thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước
ta hiện nay là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Nội vụ; trường chínhtrị các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trường (Trung tâm) ĐTBD cán bộ,công chức của các bộ, ngành; Trung tâm bồi dưỡng chính trị ở các huyện, thị xã,thành phố thuộc tỉnh Trong những năm qua hoạt động ĐTBD ở Việt Nam đã cónhững đóng góp đáng kể trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC và công táccải cách hành chính các cấp ở nước ta Từ các công trình nghiên cứu của các tác giả
đã công bố ở trên đều bàn về vai trò quan trọng, đưa ra các nhiệm vụ, nội dung, giảipháp thực hiện nhằm nâng cao giáo dục đạo đức công vụ cho CBCC trong hệ thốngchính trị của mỗi nước, trong đó có nước ta Đây là cơ sở quan trọng để chúng tôitiếp tục nghiên cứu đề tài luận văn giáo dục đạo đức công vụ cho CBCC thuộc cơquan hành chính cấp huyện theo tiếp cận phát triển cộng đồng Với kết quả nghiêncứu này góp phần góp phần nhỏ bé của mình cho đội ngũ CBCC của huyện nhàtrong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới, nâng cao đạođức cách mạng, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chínhtrị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ CBCC hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Cán bộ, công chức cơ quan hành chính
1.2.1.1 Khái niệm cán bộ
Khái niệm "cán bộ" được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa, thuậtngữ này khi đó thường dùng là "cán bộ, công nhân viên chức", bao gồm tất cả nhữngngười làm công hưởng lương từ nhà nước, kể từ những người đứng đầu một cơ quan tớicác nhân viên phục vụ như lái xe, bảo vệ hay lao động tạp vụ
Ở nước ta cụm từ "cán bộ", ban đầu được dùng nhiều trong quân đội để phânbiệt chiến sĩ và cán bộ, chỉ những người làm nhiệm vụ chỉ huy từ tiểu đội phó trở
Trang 15lên Dần dần, từ "cán bộ" được dùng để chỉ tất cả những người hoạt động khángchiến thoát li, để phân biệt với nhân dân
Do những điều kiện lịch sử nhất định, suốt một thời gian dài ở Việt Nam tồntại một tập hợp khái niệm "cán bộ, công nhân, viên chức" cho tất cả những ngườilàm việc cho Nhà nước, không có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ, công chức, viênchức Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000,2003) đề cập tới ba đối tượng cán bộ, công chức, viên chức tuy nhiên, Pháp lệnhvẫn chưa phân biệt rạch ròi giữa khái niệm “cán bộ”, “công chức” và “viên chức”
mà quy định chung các đối tượng "cán bộ, công chức" là công dân Việt Nam, trongbiên chế Có thể nói, thuật ngữ "cán bộ" được sử dụng như là một ước lệ, chưa thểhiện tính chất hành chính, chưa rõ nội hàm của khái niệm
Cụ thể hóa Pháp lệnh CBCC, Chính phủ đã ban hành các Nghị định bàn vềCBCC xã, phường, thị trấn; về chế độ công chức dự bị; về tuyển dụng, sử dụng vàquản lý CBCC trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội; về tuyển dụng, sử dụng và quản lý CBCC trong các cơ quan nhànước Trên cơ sở nghiên cứu quy định của pháp lệnh và các nghị định chúng ta cóthể hiểu cán bộ là những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳtrong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trungương, ở cấp tỉnh và cấp huyện
Ngày nay, khái niệm cán bộ dùng để chỉ những người được biên chế vào làmviệc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, doanh nghiệp nhà nước và sĩ quantrong lực lượng vũ trang Ngoài ra, cán bộ được coi là những người có chức vụ, vaitrò nòng cốt trong một cơ quan, tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của
cơ quan, tổ chức và liên quan đến vị trí lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, gópphần quyết định xu hướng phát triển của cơ quan, tổ chức
Luật CBCC (2008) đã quy định cụ thể: “Cán bộ là công dân Việt Nam, đượcbầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quancủa Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ởtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trongbiên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [Điều 4]
Như vậy, đến nay khái niệm cán bộ đã được quy định rõ ràng, cụ thể, xác định rõ nội hàm, đó là những người giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị Việt Nam, từ Trung ương đến cấp huyện và tương đương
1.2.1.2 Khái niệm công chức
Công chức là thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới
để chỉ những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong các
cơ quan nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Tuy nhiên, do tính đặc thù
Trang 16của từng quốc gia nên quan niệm về công chức ở các nước không hoàn toàn thốngnhất Sự khác nhau này thể hiện trong các quan điểm dưới đây:
- Quan điểm thứ nhất xuất phát ở các nước XHCN đồng nhất hoạt động công
vụ với hoạt động lãnh đạo, quản lý của Đảng, đoàn thể dẫn đến quan niệm về kháiniệm công chức không chỉ bao gồm các đối tượng làm việc trong cơ quan nhà nước(cả lập pháp, hành pháp và tư pháp) mà cả trong các tổ chức Đảng, đoàn thể, thậmchí trong cả các đơn vị sản xuất
- Quan điểm thứ hai cho rằng, công chức bao gồm những người làm việc trong
bộ máy nhà nước nói chung, tương ứng với quan niệm công vụ là hoạt động của toàn
bộ bộ máy nhà nước (bao gồm hoạt động của công chức trong cơ quan quyền lực, xét
xử, kiểm sát và cơ bản nhất là trong các cơ quan quản lý nhà nước)
- Quan điểm thứ ba cho rằng, công chức bao gồm những người hoạt động
trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp của Nhà nước và bộ máy phục vụ của các
cơ quan nhà nước khác, giữ một công vụ thường xuyên, ổn định
- Quan điểm thứ tư thuần túy cho rằng, công chức chỉ bao gồm những đốitượng phục vụ trong bộ máy hành chính, giữ một chức vụ thường xuyên và ổn định,quan niệm này xuất phát từ chỗ coi công vụ nhà nước chỉ là hoạt động của các cơquan hành chính
Từ những quan niệm trên về công chức nên ở những nước khác nhau cũng cónhững quy định khác nhau về đối tượng này
Ở Pháp, khái niệm công chức rất rộng, người công chức được phân thành hailoại Loại thứ nhất là những nhân viên công chức làm việc thường xuyên trong bộmáy nhà nước, bị chi phối bởi Luật công chức; loại thứ hai là những nhân viên côngchức bị chi phối bởi Luật lao động, bởi bản hợp đồng và luật tư Họ được nhà nướchoặc cộng đồng lãnh thổ bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên trong các công
sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện
Ở Trung Quốc, khái niệm công chức nhà nước dùng để chỉ những ngườicông tác trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, từ nhân viên phục vụ.Gồm hai loại: Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực hành chínhnhà nước, được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều chỉnh của Hiếnpháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức chính quyền các cấp; và công chức nghiệp
vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổnhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức, họ chiếm tuyệt đại đa số công chứcnhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành chính sách và pháp luật
Ở Mỹ, công chức bao gồm tất cả những nhân viên hành chính của Chính phủ,
kể cả những người được bổ nhiệm về Chính trị như Bộ trưởng, Thứ trưởng, trợ lý Bộtrưởng, người đứng đầu các cơ quan Chính phủ Tuy nhiên, khái niệm công chức trong
Trang 17diện điều chỉnh của Luật Công chức lại không bao gồm những công chức được bổnhiệm về chính trị, họ được gọi là công chức chức nghiệp Đặc điểm của công chức
Mỹ là không mang tính thường xuyên liên tục mà tồn tại hệ thống thải loại; việc tuyểnchọn, bổ nhiệm công chức chủ yếu theo công trạng thực tế, công chức chỉ được tuyểndụng vào một công việc cụ thể mà không có con đường chức nghiệp
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành gắn liền với sự phát triểncủa nền hành chính nhà nước Văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy định về côngchức là Sắc lệnh số 76/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 20/5/1950, tại Điều 1quy định “công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dântuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan chính phủ, ở trong hayngoài nước, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” Sau đó, do nhu cầu
bổ sung nhân lực trong bộ máy nhà nước ngày càng tăng, thực tiễn khi đó không có
đủ nguồn nhân lực phù hợp với những tiêu chuẩn quy định đối với công chức theoQuy chế nên suốt một thời gian dài sau đó, chế độ công chức dần được thay thếbằng chế độ “cán bộ, công nhân viên chức” bao gồm tất cả những người làm việctrong các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng, tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế nhànước Tất cả đều thuộc biên chế nhà nước, được gọi là “cán bộ, công nhân viên chứcnhà nước” chung chung, không phân biệt ai là cán bộ, công nhân, viên chức theo cáchquan niệm có tính truyền thống đã hình thành trước đó Do vậy, pháp luật không tiếptục đi theo hướng điều chỉnh có tính chuyên biệt đối với từng đối tượng lao độngphục vụ trong các cơ quan, tổ chức sự nghiệp của nhà nước (14,15)
Thuật ngữ công chức được sử dụng trở lại tại Nghị định số 169-HĐBT (1991)của Hội đồng Bộ trưởng về công chức có xu hướng mới trong sự điều chỉnh của phápluật đối với hoạt động công vụ và về công chức Theo quy định tại Nghị định số 95(1998) và Nghị định số 117 (2003) bàn về "tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ,công chức trong các cơ quan nhà nước” nhằm cụ thể hóa Pháp lệnh CBCC ban hànhtrước đó và đã đề cập một cách rõ ràng hơn về khái niệm cán bộ, công chức; nhưngvẫn chưa có sự phân biệt giữa công chức hành chính với công chức sự nghiệp
Trước yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước
và đòi hỏi chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, Luật Cán bộ, công chứccủa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định rõ: “Công chức là công dânViệt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơquan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (CT - XH)
ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân
mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong
cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan
Trang 18chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập củaĐảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức CT - XH, trong biên chế và hưởnglương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý củađơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sựnghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [Điều 4].
Từ định nghĩa trên ta thấy công chức dù hoạt động trong các cơ quan Đảnghay cơ quan hành chính Nhà nước đều có những đặc điểm chung sau đây:
Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam.
Thứ hai, về chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm: Công chức phải là người được
tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộngsản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức CT - XH ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhânchuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhândân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo,quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổchức CT - XH (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập)
Thứ ba, về nơi làm việc: Nơi làm việc của công chức rất đa dạng Nếu như
cán bộ là những người hoạt động trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức
CT - XH ở Trung ương, Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở Huyện, Quận,Thị xã, Thành phố trực thuộc Tỉnh thì công chức còn làm việc ở cả cơ quan, đơn vịthuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, trong bộ máy lãnh đạo, quản lý củađơn vị sự nghiệp công lập
Thứ tư, về thời gian công tác: Công chức đảm nhiệm công tác từ khi được
bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động màkhông hoạt động theo nhiệm kỳ như cán bộ (Điều 60 - Luật cán bộ, công chức năm
2008) Chấm dứt đảm nhiệm chức vụ khi đến tuổi nghỉ hưu: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ
55 tuổi (Quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 73 - Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2014)
Thứ năm, về chế độ, công chức trong biên chế, được Nhà nước bảo đảm tiền
lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện KT
-XH của đất nước Cán bộ, công chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùngsâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện KT - XH đặc biệt khó khănhoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp
và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật Được hưởng tiền làm thêm giờ,tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật
Trang 191.2.1.3 Khái niệm cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện
Qua nghiên cứu thực tế chúng tôi nhận thấy hiện nay chưa có một văn bảnriêng biệt nào trình bày về khái niệm công chức trong các cơ quan hành chính thuộc
Uỷ ban nhân dân huyện, tuy nhiên với đặc thù của mô hình nhà nước xã hội chủnghĩa ở Việt Nam thì vai trò lãnh đạo của Đảng là hết sức quan trọng Mặt khác dođồng nhất hoạt động công vụ với hoạt động lãnh đạo, quản lý của Đảng cho nênkhái niệm công chức không chỉ bao gồm các đối tượng làm việc trong cơ quan nhànước (cả lập pháp, hành pháp và tư pháp) mà cả trong các tổ chức Đảng và đềuđược gọi chung là cán bộ, công chức nhà nước Đội ngũ CBCC này đều được điềuchỉnh chung bởi luật cán bộ, công chức và các văn bản khác của Đảng và Nhà nước
Ngoài những đặc điểm chung của công chức nhà nước, công chức công tác ởcác cơ quan hành chính thuộc UBND có những đặc điểm riêng đó là: Là lực lượnglàm việc trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND có chức năng tham mưu, giúpviệc cho UBND lãnh đạo triển khai các chủ trương của cấp trên và ban hành cácchủ chương để thực hiện vai trò chức năng lãnh đạo của cấp mình Về chế độ, côngchức công tác trong cơ quan hành chính thuộc UBND cũng được hưởng một số chế
độ khác theo quy định của Đảng và Nhà nước Từ các Văn bản QPPL quy định về
CB, CC, theo chúng tôi:
Cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính thuộc UBND là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc ở các cơ quan ở Trung ương, Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương và ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
CBCC ở các cơ quan hành chính thuộc UBND cấp huyện bao gồm người giữchức vụ, chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND, Chánh Văn phòng, Phó ChánhVăn phòng và người làm việc trong Văn phòng HĐND – UBND (Chánh Văn phòng,Phó Chánh Văn phòng và người làm việc trong Văn phòng UBND nơi thí điểmkhông tổ chức HĐND), người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việctrong cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân
Từ Luật cán bộ, công chức (2008), đội ngũ cán bộ, công chức công tác ở 4 nhóm
cơ quan (Hình 1.2) Cá nhân nghiên cứu nhóm công chức trong cơ quan Nhà nước.
lý của đơn vị sự
Công chức trong cơ quan Nhà nước
Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân
CÔNG CHỨC
Trang 20Thông thường việc phân loại công chức ở nước ta hiện nay theo hệ thốngchức nghiệp được thực hiện theo các tiêu chí như: Vai trò vị trí, chuyên môn nghiệp
vụ và trình độ đào tạo Trong từng loại, lại có thể phân thành nhóm hay loại nhỏhơn Chẳng hạn công chức ở các cơ quan hành chính thuộc UBND phân theo cáclĩnh vực: công chức làm việc, công tác văn phòng HDND, UBND, các phòngchuyên môn thuộc UBND…(9)
Việc phân loại công chức là yêu cầu tất yếu của công tác quản lý nguồn nhânlực Phân loại công chức ở cơ quan hành chính thuộc UBND không những giúp choviệc xây dựng quy hoạch đào tạo công chức đúng đối tượng theo yêu cầu nội dung,công tác mà còn giúp cho việc tiêu chuẩn hoá đạo đức công vụ cho cán bộ, côngchức trong thực hiện công việc
1.2.2 Giáo dục đạo đức công vụ
1.2.2.1 Khái niệm công vụ
Hoạt động của các cơ quan Đảng và Nhà nước chủ yếu được vận hành thôngqua nền công vụ và đội ngũ CBCC CBCC Việt Nam nói chung, CBCC của các cơquan hành chính thuộc UBND cấp huyện nói riêng, được hình thành và phát triển gắnliền với quá trình cách mạng nước ta qua các thời kỳ khác nhau, là những người đượchưởng lương từ ngân sách nhà nước và nhân danh nhà nước thực hiện các công việctrong nền công vụ, do vậy khái niệm công vụ và công chức luôn song hành cùng nhau
Thuật ngữ “công vụ” được sử dụng tương đối phổ biến trong khu vực côngcủa nhiều quốc gia hiện đại trên thế giới Tuy nhiên, các quan niệm về công vụ ởcác quốc gia lại không giống nhau Và Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ,đặc biệt trong các thể chế và văn bản QPPL về công vụ, công chức cũng chưa cómột định nghĩa rõ ràng về thuật ngữ công vụ
Theo nghĩa rộng “công vụ” là thuật ngữ chỉ khu vực công tương ứng với “Hệ
thống chính trị”, chủ thể trực tiếp là cán bộ, công chức, viên chức của cả hệ thốngnày trong thực thi chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền qui định Theocách hiểu này công vụ là các việc công Các việc này được thực hiện vì lợi ích
chung, lợi ích cộng đồng, lợi ích xã hội, lợi ích của nhà nước.
Theo nghĩa hẹp “công vụ” là thuật ngữ chỉ khu vực của “Nhà nước” tương
ứng với chủ thể là các cơ quan thuộc hệ thống bộ máy nhà nước và cán bộ, côngchức trực tiếp hoạt động trong các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp)thực thi chức năng, nhiệm vụ công do cấp có thẩm quyền qui định Đây cũng chính
Trang 21là cách quan niệm về công vụ của nhiều nước trên thế giới Theo cách hiểu này,công vụ gắn liền với con người làm việc cho nhà nước và những công việc của nhànước do những con người đó thực hiện Chính vì vậy, ở nhiều nước hai khái niệmcông vụ và công chức luôn gắn liền chặt chẽ với nhau
Theo nghĩa hẹp hơn, “công vụ” được giới hạn trong hoạt động hành pháp củacán bộ, công chức thuộc khu vực hành chính nhà nước mà không tính đến các hoạtđộng lập pháp và tư pháp trong bộ máy nhà nước
“Công vụ” cũng có thể hiểu theo một cách khác đó là nhiệm vụ của khu vựccông; là nhiệm vụ và trách nhiệm của nhà nước Trước đây, có rất nhiều nhiệm vụ,trách nhiệm công do nhà nước đảm nhận, thực hiện việc cung cấp các loại dịch vụcông Theo xu hướng chung đó, các loại nhiệm vụ, trách nhiệm của nhà nước đangdần chuyển một phần sang cho các khu vực khác Do đó, với cách hiểu này thì công
vụ là thuật ngữ chỉ những công việc công do Nhà nước phải đảm nhận thực hiệnhoặc có trách nhiệm thực hiện
Theo ý kiến cá nhân, chúng tôi cho rằng: Khi nói đến công vụ là nói đến hoạtđộng phục vụ nhà nước, công vụ chỉ thuộc nhà nước, còn hoạt động của các tổ chứcchính trị hay chính trị - xã hội là việc riêng của các tổ chức đó, không nằm trongphạm trù công vụ Tuy nhiên, ở các quốc gia khác nhau, khái niệm về công vụ đượctiếp cận theo nhiều cách khác nhau Như vậy, thuật ngữ công vụ cũng chỉ có tínhtương đối, không mang tính tuyệt đối
Khái niệm công vụ dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp đều có các đặc điểm sau:
+ Đối tượng công vụ là công việc hay nhiệm vụ thuộc khu vực công;
+ Chủ thể công vụ là CBCC trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội khác thực hiện;
+ Hoạt động công vụ được bảo đảm bằng ngân sách nhà nước hay một phần
từ ngân sách nhà nước, hoạt động phục vụ lợi ích công
Như vậy, công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực và pháp lý, được thực thi bởi đội ngũ CBCC nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội hoặc những người khác khi được trao quyền nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, cơ quan có thẩm quyền trong quá trình quản lý toàn diện các mặt hoạt động của đời sống xã hội Công vụ là phục vụ Đảng, Nhà nước và phục vụ Nhân dân.
1.2.2.2 Khái niệm đạo đức, đạo đức công vụ
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định "Vì lẽ sinh tồn cũng nhưmục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữviết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ chosinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng" [14;Tr.431] Trong
Trang 22xã hội hiện nay có nhiều quy tắc xã hội: chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, quytắc của các tổ chức xã hội, cộng đồng Những quy tắc này có quan hệ mật thiết,tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất và có vai trò điềuchỉnh hành vi, cách xử sự của con người.
Đạo đức được hiểu là "Phép tắc về quan hệ giữa người với người, giữa cánhân với tập thể, với xã hội" [16;Tr.595], "phẩm chất tốt đẹp của con người: sống
có đạo đức" Như vậy, đạo đức được hiểu ở một số phương diện sau: thứ nhất, đạo
đức là những chuẩn mực, những quy tắc trong hành vi, cách xử sự giữa con người
với con người; thứ hai, đạo đức là công lý, lẽ phải, chuẩn mực phù hợp với quy luật của tự nhiên và xã hội, là "cái lẽ sống, lẽ phải, đạo ở đời"; thứ ba, đạo đức phẩm
chất, nét đẹp của con người Đạo đức là cái lẽ phải, cái mà con người phải tuântheo, là cái phải làm và cái không được làm
Do đó, có thể hiểu: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống cácnguyên tắc, quy phạm hình thành một cách tự nhiên trên cơ sở quan niệm về lẽ phải,
sự công bằng, về điều thiện, cái ác trong đời sống xã hội của con người, nhómngười, tầng lớp xã hội, giai cấp, dân tộc, quốc gia, thể hiện ý chí, tâm tư tình cảmcủa họ, nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội, ý thức, hành vi của con người và là căn cứ
để đánh giá hành vi, cách ứng xử của con người với nhau, được thực hiện một cách
tự giác bởi niềm tin, lòng nhân ái của con người, bởi truyền thống và sức mạnh của
dư luận cộng đồng, xã hội
Lịch sử xã hội loài người đã khẳng định tầm quan trọng của đạo đức trong quátrình tổ chức thiết lập, duy trì trật tự, ổn định và phát triển xã hội Tùy theo trình độphát triển kinh tế - xã hội mà sự tác động của đạo đức đến cá nhân và xã hội có khácnhau, cần xem xét đạo đức trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người, từ việc
tư đến việc công, trong lao động sản xuất, học tập, công tác đến sinh hoạt hàng ngày; ở
cả phạm vi gia đình và xã hội Như vậy, đạo đức xét đến cùng là sự phản ánh của cácquan hệ kinh tế - xã hội, mối quan hệ ứng xử của các thành viên trong cộng đồng, xãhội; giá trị đạo đức được xác định ở chỗ nó phục vụ cho tiến bộ xã hội và vì hạnh phúccủa con người trong xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển của xã hội.
Cán bộ, công chức là một hợp phần của cộng đồng, xã hội, do đó đạo đức của
họ hàm chứa các yếu tố: đạo đức dân tộc mà họ xuất thân, đạo đức cộng đồng nơi mà
họ sinh sống, đạo đức xã hội như mọi thành viên xã hội khác, đạo đức của ngườiCBCC trong hoạt động công vụ Đạo đức CBCC chứa đựng những yếu tố đạo đứcchung của thành viên xã hội, khi thực thi công vụ thì đạo đức của họ mới được biểuhiện một cách đầy đủ nhất, đạo đức công vụ của CBCC là một bộ phận đạo đức củangười CBCC Đạo đức CBCC thể hiện, xuất phát từ vị thế của người đó trong bộ máynhà nước, xã hội; khác với đạo đức của một công dân trong xã hội Với cách tiếp cận
Trang 23như vậy, đạo đức của CBCC bao gồm hai phần: đạo đức công vụ và đạo đức củangười đó ngoài công vụ, mỗi mặt có những đặc trưng riêng, tạo thành một thể thốngnhất đạo đức của người CBCC.
Đạo đức công vụ của CBCC gồm: đạo đức cách mạng, đạo đức cá nhân vàđạo đức nghề nghiệp; trong đó đạo đức cách mạng là nền tảng, là gốc, là sức mạnhcủa người CBCC Đạo đức cách mạng thể hiện ở tinh thần yêu nước nồng nàn, tậntụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấnđấu thực hiện có hiệu quả đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư Đạo đức cá nhân của CBCC trước hết thểhiện ở ý thức, niềm tin vào định hướng xã hội chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện mụctiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; tôn trọng, giữ gìn
kỷ luật, kỷ cương, sống và làm việc theo pháp luật, có lối sống lành mạnh, khôngtham ô, lãng phí, có trách nhiệm cao trong thi hành công vụ, có lòng nhân ái, vị tha,ứng xử đúng đắn trong quan hệ gia đình, bè bạn và trong xã hội, có tinh thần hướngthiện, hiếu học Đạo đức nghề nghiệp của CBCC thể hiện trước hết ở lòng say mê,cần mẫn, tinh thần trách nhiệm và đề cao kỷ luật trong thi hành công vụ
Từ những vấn đề trên theo chúng tôi có thể hiểu:
Đạo đức công vụ là hệ thống các nguyên tắc, các quy tắc hành vi, xử sự trong công vụ, nhằm điều chỉnh thái độ, hành vi, cách xử sự, chức trách, bổn phận, nghĩa vụ của CBCC trong hoạt động công vụ và những người khác khi được ủy quyền thực thi công vụ
Như vây, đạo đức công vụ của người CBCC gắn liền với đạo đức xã hội,những chuẩn mực được xã hội coi là giá trị, nhưng đồng thời đạo đức công vụ còn
là đạo đức nghề nghiệp đặc biệt - thực thi công vụ của CBCC Trong thi hành công
vụ, CBCC cần phải biến những quy định pháp luật thành những chuẩn mực đạo đứccông vụ, từ đó nêu cao tính tự giác, trách nhiệm phục vụ nhân dân, và ngược lạiphải thể chế hoá những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức thành những quy phạmpháp luật Do đó, đạo đức công vụ gắn chặt với quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm,những điều CBCC không được làm, cách ứng xử của CBCC khi thi hành công vụ
do pháp luật quy định
Về bản chất, đạo đức công vụ là đạo đức thực thi công vụ của công chức, baogồm hệ thống nguyên tắc, chuẩn mực dùng để điều chỉnh mối quan hệ giữa đội ngũcông chức với tổ chức, công dân, thể hiện ở lương tâm và trách nhiệm vì lợi ích chung,
ý thức việc cần phải làm và mong muốn được làm vì lợi ích chung đó
Đạo đức công vụ của CBCC ở nước ta được xây dựng trên nền tảng triết lí
"Nhà nước của dân, do dân, vì dân"; với ý nghĩa nhân dân là chủ, CBCC là côngbộc của dân; giá trị cao nhất của đạo đức công vụ là phục vụ nhân dân, vì lợi ích
Trang 24nhân dân Do vậy, phát huy đạo đức công vụ chính là đề cao trách nhiệm phục vụđất nước, phục vụ nhân dân của người CBCC; từ đó củng cố lòng tin của người dânvào nền công vụ.
1.2.2.3 Khái niệm giáo dục đạo đức công vụ
Giáo dục đạo đức là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức, từnhững đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân (CBCC), thành những đòi hỏibên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, hành vi, thói quen hành vi củangười được giáo dục GDĐĐ công vụ nhằm hình thành thế giới tinh thần cao đẹp vàhoạt động thực tiễn phong phú, thể hiện niềm tin đạo đức, những hiểu biết về giá trị,chuẩn mực đạo đức; đồng thời, thông qua kết quả hoạt động để khẳng định giá trịđạo đức trong thực tiễn của cá nhân (CBCC)
Như vậy, nếu hiểu, giáo dục là “Tác động có hệ thống đến sự phát triển tinhthần, thể chất của con người, để họ dần dần có được những phẩm chất và năng lựcnhư yêu cầu đề ra” thì giáo dục đạo đức công vụ là một bộ phận của quá trình giáodục chung đó GDĐĐ công vụ là hoạt động tác động vào nhận thức, tình cảm, hành
vi, thói quen của CBCC nhằm làm cho CBCC hiểu về mối quan hệ, trách nhiệm củamình với nhà nước, xã hội, cộng đồng; đặc biệt là nhận thức về quyền lợi, nghĩa vụ
và trách nhiệm khi thực thi công vụ
Đạo đức công vụ là một bộ phận cơ bản trong nhân cách của mỗi ngườiCBCC, nó không phải tự nhiên mà có, quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiệnphải chịu sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan Kết quả củaGDĐĐ công vụ phải đánh giá bằng hoạt động tự giác thực hiện nghĩa vụ, tráchnhiệm của CBCC Để thực hiện tốt GDĐĐ công vụ, các chuẩn mực đạo đức phảihướng con người đến những giá trị đích thực của cuộc sống, nghĩa là nó phải gắnvới hoạt động thực tiễn sinh động của mỗi CBCC, đồng thời xã hội phải tạo nênmôi trường và phương thức GDĐĐ công vụ phù hợp với nghề nghiệp, lứa tuổi đểmỗi người tự rèn luyện mình trong thực tiễn; phải được tổ chức bằng nhiều hìnhthức khác nhau (ở trong nhà trường, ở tập thể đơn vị công tác, ở trải nghiệm thựctiễn công vụ); phải tác động đến đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội của mỗi CBCC
Đạo đức công vụ được xem xét từ hai góc độ:
Thứ nhất là góc độ của tồn tại người- đó chính là đạo đức của bản thân người
CB, CC Nói cách khác chủ thể đạo đức công vụ là người công chức Với tư cách làcông dân, người công chức phải mang trong mình những nguyên tắc, chuẩn mực,giá trị đạo đức xã hội mà trong đó họ sống, hoạt động
Thứ hai là góc độ đạo đức nghề nghiệp- có nghĩa với tư cách là công chức,
họ phải tuân thủ những nguyên tắc, chuẩn mực quy định cách ứng xử của ngườicông chức trong hoạt động thực thi công vụ mà không bao giờ được vi phạm đạo
Trang 25đức của nghề công chức Ph.Ăngghen từng viết rằng: “Trong thực tế, mỗi giai cấp
và ngay cả mỗi nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình” [10;Tr.425] Do đó,việc giáo dục đạo đức công vụ không chỉ dừng lại ở sự nhận thức mà cần phải đượcpháp điển hóa trong nền công vụ
Từ những quan điểm trên có thể hiểu rằng:
Giáo dục đạo đức công vụ cho CBCC là những hoạt động, tác động có tổ chức, có kế hoạch, có quy trình chặt chẽ vào nhận thức cá nhân CBCC, nhằm làm cho họ hình thành và phát huy những phẩm chất, năng lực nhận thức; tự giác thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong thực thi công vụ.
1.2.2.4 Khái niệm cộng đồng, tiếp cận phát triển cộng đồng
1.2.2.4.1 Khái niệm Cộng đồng
i) Khái niệm: Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng (Community) cónhiều quan niệm khác nhau Quan niệm cộng đồng thông thường bao gồm từ cácthực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặt chẽ cho đến các tổ chức ít có cấu trúc chặtchẽ; đó là nhóm xã hội có lúc khá phân tán, chỉ được liên kết với nhau bằng lợi íchchung trong một không gian tạm thời, với khoảng thời gian nhất định chẳng hạnnhư: phong trào quần chúng, công chúng và đám đông Cộng đồng người có tính đadạng, phức tạp hơn nhiều so với các cộng đồng sinh vật khác
Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng có nhiều cách hiểu khác nhau,đồng thời cộng đồng còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học khác nhaunhư: xã hội học, dân tộc học, y học,…
- Theo nghĩa thông thường: Cộng đồng là nhóm người sống trong phạm vithôn, bản, các xã, phường của khu vực nông thôn và thành thị, đặc biệt là các vùngnông thôn vùng sâu, vùng xa Cộng đồng có những điểm giống nhau, có chung cácmối quan hệ nhất định và cùng chịu ảnh hưởng bởi một số yếu tố tác động và là đốitượng cần được quan tâm trong sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội hiện nay
- Về mặt xã hội học; có thể phân thành hai dạng cộng đồng dựa trên cấu trúc
xã hội và tính chất liên kết xã hội:
(1) Dạng cộng đồng thể hiện mối quan hệ xã hội trong đó có những đặc trưngđược xác định như: tình cảm, ý thức và chuẩn mực xã hội Dạng cộng đồng này
được gọi là cộng đồng tính.
(2) Dạng cộng đồng mà được xác định là nhóm người cụ thể, những nhóm xãhội có liên kết với nhau ở nhiều quy mô khác nhau, kể từ đơn vị nhỏ nhất như gia
đình cho đến các quốc gia và toàn thế giới Dạng cộng đồng này gọi là cộng đồng thể Trong cộng đồng thể có 2 nghĩa: Là một nhóm dân cư cùng sinh sống trong một
địa vực nhất định, có cùng các giá trị và tổ chức xã hội cơ bản; Là một nhóm dân cư
có cùng mối quan tâm cơ bản Ở đây, cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cư sinh
Trang 26sống trong một thực thể xã hội, trong một địa vực nhất định, có cơ cấu tổ chức chặtchẽ và có cùng một giá trị cơ bản Đó là, cộng đồng là một làng, xã/phường hay mộthuyện/ quận
Với ý nghĩa đó, khái niệm cộng đồng được hiểu là một tập hợp các cá nhân
có quan hệ với nhau bởi các tiêu chí nhất định như kinh tế, tình cảm, nghề nghiệp,
tổ chức, chính trị, xã hội vừa mang những giá trị chung mà mỗi thành viên cộngđồng thừa nhận, vừa tôn trọng sự phát triển độc lập của mỗi thành viên trong mốiquan hệ hợp tác với nhau vì sự phát triển cá nhân và tập thể
- Theo Nguyễn Kim Liên (2008), Cộng đồng hiểu chung nhất là một thực thểsống hay là cơ quan hoặc là tổ chức nơi sinh sống và tương tác với nhau Khi nói tớicộng đồng, người ta thường quy vào những nhóm xã hội có cùng một hay nhiều đặcđiểm chung nào đó, nhấn mạnh đến đặc điểm chung của những thành viên trongcộng đồng Trong đời sống xã hội, cộng đồng là danh từ chung chỉ một tập hợpngười nhất định nào đó với hai dấu hiệu quan trọng:
(1) họ cùng tương tác (tác động qua lại) với nhau;
(2) họ cùng chia sẻ với nhau (có chung với nhau) một hoặc một vài đặc điểmvật chất hay tinh thần nào đó [22]
- Theo Đoàn Đình Sơn (2017), Cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở
sự gần gũi của các thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mậtthiết (gia đình, tình bạn cộng đồng yêu thương) được chính họ tìm kiếm và vì thếđược con người cảm thấy có tính cội nguồn
Từ các quan niệm trên về công đồng chúng tôi cho rằng:
(1) Cộng đồng là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu sự ràng buộc bởi cácđặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa cácthành viên;
(2) Cộng đồng là những khó khăn mang tính xã hội mà cộng đồng đang phảiđối mặt, cản trở sự phát triển của cộng đồng;
(3) Cộng đồng là một xã hội thu nhỏ, trong cộng đồng có thành viên lànhững cư dân trong cộng đồng những gia đình, dòng họ, những tổ chức kinh tế,chính trị - xã hội, tổ chức của người dân, Vấn đề cộng đồng thực chất là vấn đề xãhội nảy sinh trong quá trình tương tác giữa các thành viên trong cộng đồng vớinhau, giữa cá nhân với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau, giữa người quản lý vàngười bị quản lí, liên quan đến môi trường sống, sự phân phối sản phẩm xã hội,điều kiện phát triển của người dân trong cộng đồng [22]
- Theo J.Fichter (1992), Cộng đồng bao gồm các yếu tố:
(1) sự tương quan mật thiết giữa các cá nhân (mặt đối mặt);
Trang 27(2) sự liên hệ về mặt xúc cảm, tình cảm giữa các cá nhân trong quá trình thựchiện vai trò xã hội và các nhiệm vụ được giao;
(3) sự dâng hiến về mặt tinh thần đối với những giá trị mà tập thể cho là cao cả;(4) sự đoàn kết, hợp tác giữa cá nhân với người khác và với tập thể.[41]
- Theo UNESCO, cộng đồng là một tập hợp người có cùng chung một lợiích, cùng làm việc vì một mục đích chung nào đó và cùng sinh sống trong một khuvực xác định Những người chỉ sống gần nhau, không có sự tổ chức thì đơn thuầnchỉ là sự tập trung của một nhóm các cá nhân và không thực hiện các chức năng nhưmột thể thống nhất [42]
Như vậy, theo chúng tôi: Cộng đồng là tập hợp các thành viên không chỉ cóyếu tố cấu trúc xã hội, tương tác xã hội và hướng tới mục tiêu chung; mà còn thểhiện mối quan hệ tình cảm, xúc cảm, ứng xử, chia sẻ lẫn nhau của các thành viêntrong cộng đồng tạo sự hòa hợp, đoàn kết và thống nhất trong cộng đồng (yếu tốđạo đức) và thúc đẩy các thành viên và cộng đồng cùng phát triển kinh tế, văn hóa,đạo đức, xã hội
ii) Đặc điểm của cộng đồng
Cộng đồng có các đặc điểm là: sự đoàn kết xã hội, sự liên kết xã hội và cơcấu xã hội
- Đoàn kết xã hội: Theo quan niệm Mác-xít, cộng đồng là mối quan hệ qualại qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng hoá lợi ích giốngnhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con ngườihọp thành cộng đồng đó Quan niệm bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất vàcác hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệgiá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu vàphương tiện hoạt động
Ở Việt Nam, làng, xã đã có từ lâu đời, có giá trị tốt đẹp của cộng đồng tính
Sự phát triển của xã hội cùng với sự xuất hiện của đô thị hoá ngày càng tăng và cơchế thị trường ngày càng ảnh hưởng rộng lớn, nên các giá trị của cộng đồng tínhtrong các làng, xã cũng ngày một giảm
+ Đoàn kết xã hội luôn được các nhà nghiên cứu cộng đồng coi là đặc tínhhàng đầu của mỗi cộng đồng Đây là ý chí và tình cảm của những người cùng sốngtrong một địa vực có những mối liên hệ về mặt huyết thống hay quan hệ láng giềng.Quá trình tổ chức đời sống xã hội bởi các thiết chế xã hội lại càng thống nhất ý chí,tình cảm của cộng đồng qua một số giá trị, chuẩn mực và biểu tượng riêng Đâycũng là mục tiêu mà các cộng đồng đều mong muốn tập họp và duy trì
+ Các lệch chuẩn xã hội xuất hiện trong cộng đồng là do mất ý thức đoàn kết xãhội, đi kèm theo đó là sự mất ý thức và suy thoái nhân cách cá nhân Ngược lại, khi các
Trang 28cá nhân đồng nhất với cộng đồng, hoà mình trong cộng đồng đã làm tăng tính đoàn kết
xã hội đồng thời cũng làm tăng ý thức và phát triển nhân cách của cá nhân
+ Cộng đồng tồn tại được là do từng thành viên trong các nhóm thành viêncủa cộng đồng có tiếng nói thống nhất trong các hành động tập thể, khi không còn ýthức chung thì cộng đồng đó bắt đầu lụi tàn Chẳng hạn, trong các làng, xã hiệnđang tồn tại các nhóm thành viên (tổ chức xã hội) như: Hội Phụ nữ, Đoàn thanhniên, Hội Nông dân, một khi các thành viên của nhóm có cùng tiếng nói và ý chíthì sức mạnh của nhóm sẽ tăng lên, các nhóm thành viên đều hướng theo sự lãnhđạo của Đảng, chính quyền ở địa phương thì sức mạnh đoàn kết trong cộng đồngđược củng cố và trở thành làng/xã/ phường mạnh
- Sự liên kết xã hội:
+ Đây là sự tương quan giữa người với người, có tính gắn kết hay tương tácvới nhau, theo đó mọi người trong cộng đồng được gần nhau và phối hợp chặt chẽvới nhau hơn Sự tương tác và kết hợp giữa các thành viên trong cộng đồng đượcbiểu hiện qua các hoạt động thực tiễn hàng ngày và củng cố thêm sự đoàn kết trongcộng đồng
+ Các cộng đồng ở nông thôn, do sự phân tán về nghề nghiệp không cao nêncác thành viên trong cộng đồng thường xuyên quan hệ với nhau trong công việc hơn
ở các cộng đồng đô thị, nơi có sự phân tán nghề nghiệp khá cao Chính vì thế, sựđoàn kết trong cộng đồng ở nông thôn thường cao hơn cộng đồng ở đô thị
+ Kiểu liên kết cao nhất trong cộng đồng chính là các quan hệ mang tính hộinhập, ở đó có mức độ hợp tác tích cực giữa các cá nhân trong các đoàn thể hay hội
mà các cá nhân đó tham gia Như vậy, ở góc độ cá nhân, khi một người tham gianhiều các hội, đoàn thể thì người đó có mối quan hệ rộng
- Các cơ cấu xã hội: Khi không có giá trị chung, không có sự định hướng để quy
tụ nhau hay không có những quy tắc ứng xử của các thành viên trong cộng đồng thìkhông có cơ sở xã hội để tạo thành cộng đồng Những định hướng, những qui tắc nàyđược nằm trong tổ chức đoàn thể của cộng đồng, chẳng hạn các hương ước, nội qui, quichế là do làng, xã đặt ra Quá trình thể chế hoá các giá trị chuẩn mực trong các tổ chức xãhội tương đương là bước quan trọng để các liên kết xã hội trong cộng đồng được bềnvững và có giá trị đối với tất cả mọi người, tạo nên sức mạnh của cộng đồng Đây là cơ
sở quan trọng để chúng tôi nghiên cứu giáo dục đạo đức công vụ cho CBCC trong cơquan hành chính theo tiếp cận phát triển cộng đồng
iii) Vai trò của cộng đồng
Trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội, trong đó có hoạt động giáo dục và đàotạo, cộng đồng luôn đóng vai trò quan trọng Vai trò quan trọng đó được thể hiện ởviệc các thành viên trong cộng đồng là người chủ động, tích cực và quyết định các
Trang 29hoạt động giáo dục Bởi vì họ là những người hiểu rõ nhất về cộng đồng của họ,biết các khó khăn, thách thức và mong muốn của mình; họ hiểu tiềm năng, lợi thếcủa cộng đồng mình; họ biết cách huy động và gắn kết các thành viên trong cộngđồng lại với nhau để thực hiện mục tiêu chung Cộng đồng chịu trách nhiệm về kếtquả các hoạt động của họ Thực tiễn đã chứng minh rằng, vai trò của cộng đồngluôn thể hiện ở việc chăm lo cho cuộc sống cá nhân (lợi ích) của các thành viêntrong cộng đồng Từ đó lợi ích của cá nhân thống nhất với lợi ích của cộng đồng.Bên cạnh đó, cộng đồng luôn đảm bảo cho mọi người trong cộng đồng cùng có điềukiện phát triển Mọi quyền lợi chính đáng và hợp pháp của cá nhân được cộng đồngbảo vệ Đồng thời, cộng đồng giải quyết hợp lý mối quan hệ lợi ích chung và riêng,giữa lợi ích và trách nhiệm, giữa quyền và nghĩa vụ Trong đó cá nhân hướng tớiphát triển trong cộng đồng và từ đó tạo nên sức mạnh của cộng đồng Cá nhân trongcộng đồng được phát triển cách làm việc chung, hợp tác và được cộng đồng sửachửa và bổ sung nhưng khuyết điểm, ngoài ra cộng đồng sẽ giúp cá nhân đi đúngđường hướng, cách làm việc hiệu quả, giúp đỡ về vật chất cũng như tinh thần, do đó
cá nhân sẽ đuợc phát triển
1.2.2.4.2 Tiếp cận phát triển cộng đồng
i) Phát triển cộng đồng
- Phát triển cộng đồng là tập hợp nhiều hoạt động diễn ra trong đời sốngnhằm làm thay đổi các giá trị về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trườngcủa cộng đồng theo xu hướng ngày càng tốt hơn
- Phát triển cộng đồng bền vững Phát triển cộng đồng bền vững là sự pháttriển nhằm thỏa mãn cho các nhu cầu hiện tại nhưng vẫn đảm bảo cho sự phát triểncủa cộng đồng đó trong tương lai; đặc biệt là việc khai thác, sử dụng các nguồn lựccho hiện tại như con người, xã hội, tài chính, tài nguyên, môi trường nhưng khônglàm ảnh hưởng đến tương lai.(1)
- Mục tiêu của phát triển cộng đồng ở Việt Nam
(1) Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, xóa đói, giảm nghèo cải thiện đờisống kinh tế của người dân
(2) Nâng cao năng lực của người dân trong tổ chức phát triển kinh tế - xã hội
(6) Bảo vệ tài nguyên và môi trường, hạn chế ảnh hưởng của thiên tai
ii) Tiếp cận phát triển cộng đồng
Trang 30Tiếp cận phát triển cộng đồng trong giáo dục nói chung, giáo dục đạo đứcnói riêng đều hướng tới sự tham gia của cộng đồng trong việc hiểu, nhận thức,thống nhất từ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức và đánh giákết quả của quá trình giáo dục đó trong thực tiễn hoạt động giáo dục Nói như vậy
có nghĩa mọi hoạt động giáo dục, trong đó có hoạt động giáo dục đạo đức không chỉ
có sự tổ chức, tương tác của nhà giáo dục (chủ thể) với người được giáo dục (đốitượng); mà còn phải có sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng khác bên ngoàiphạm vi giáo dục đó là gia đình và xã hội
Như vậy; khi bàn về giáo dục đạo đức cộng vụ cho CBCC theo tiếp cận pháttriển cộng đồng muốn chỉ ra: Người CBCC phải là người:
- Tổ chức, triển khai hoạt động phát triển cộng đồng ở các địa phương
- Là cầu nối giữa người dân, tổ chức tại địa phương với các tổ chức, cá nhânbên ngoài;
- Là người khởi xướng, động viên, chia sẻ để thúc đẩy cộng đồng dân cưtrong các hoạt động;
- Là người thường xuyên có tinh thần tận tụy, chia sẻ, thông cảm, động viênmọi thành viên trong cộng đồng dân cư bất kể giai tầng, địa vị, kinh tế, để họ luôn
có niềm tin "cán bộ là công bộc của nhân dân" và chính họ là người góp phần làmnên những thành quả cách mạng từ trước đến nay và trong sự nghiệp phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội hiên nay như trong việc thực hiện xây dựng nông thôn mới; giađình, dòng họ văn hóa Muốn làm được điều đó đội ngũ CBCC cần phải:
+ Xác định nhu cầu phát triển cộng đồng thông qua chủ trương, chính sáchcủa Đảng, Nhà nước; đồng thời thường xuyên tiếp xúc, gặp gỡ nhân dân, lắng nghe
ý kiến của nhân dân;
+ Lập kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng dân cư; + Triển khai, giám sát, điều chỉnh kế hoạch phát triển cộng đồng đã được xác lập; + Đánh giá kết quả, hiệu quả thực hiện kế hoạch đã xây dựng;
+ Nhân rộng mô hình tiên tiến về các mặt phát triển kinh tế, văn hóa, đạođức, ứng xử trong các thôn, bản, làng, xã của cộng đồng;
+ Đề xuất phát triển chính sách phát triển cộng đồng (Tài liệu GDCĐ)
Như vây, Giáo dục đạo đức công vụ đối với CBCC nói chung, cấp huyện nói riêngtheo tiếp cận phát triển cộng đồng đòi hỏi mọi hoạt động giáo dục cần phải phối hợpchặt chẽ và phải tạo cơ chế phối hợp giữa CBCC với cộng đồng dân cư trong tất cảcác lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế (1)
Trang 311.3 Cơ sở pháp lý về đạo đức công vụ, giáo dục đạo đức công vụ cho cán bộ công chức
Vấn đề đạo đức và trách nhiệm công chức là một vấn đề mà Đảng và Nhà
nước rất quan tâm, nâng cao đạo đức công vụ cho công chức là công việc thường
xuyên, lâu dài, đòi hỏi sự tham gia tích cực không chỉ của đội ngũ công chức mà còncủa các cấp, các ngành cũng như của toàn thể nhân dân Trong quá trình lãnh đạoĐảng ta đã có nhiều quan điểm, chủ trương để phát triển và nâng cao chất lượng thựcthi công vụ của đội ngũ CBCC
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng xác định: Toàn Đảng phảihết sức chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn diện cả về
lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn; sớmxây dựng chiến lược cán bộ của thời kỳ mới Trên cơ sở Đảng ta định hướng về độingũ CBCC hành chính: “Xây dựng và ban hành văn bản pháp quy về chế độ công vụ
và công chức Định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm, thẩm quyền, quyền lợi và kỷ luật côngchức hành chính Quy định các chế độ đào tạo, tuyển dụng, sử dụng công chức Xâydựng đội ngũ CBCC nhà nước vừa có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệpcao, vừa giác ngộ về chính trị, có tinh thần trách nhiệm, tận tụy, công tâm, vừa có đạođức liêm khiết khi thi hành công vụ” [10;Tr.409]
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục chỉrõ: “Xây dựng đội ngũ CBCC trong sạch, có năng lực Hoàn thiện chế độ công vụ,quy chế cán bộ, công chức, coi trọng cả năng lực và đạo đức” [11;Tr.219], “thườngxuyên giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức về chính trị, tư tưởng, đạo đức cáchmạng”, “xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp,vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ,kiến thức là năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân”, “trọng dụng nhữngngười có đức, có tài” [11;Tr.155]
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta xác định phải xâydựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tìnhhình mới: “Rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, công chức; phânđịnh rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của mỗi cán bộ, côngchức; tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm của hoạt động công vụ.Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chấtđạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước Có chính sách đãingộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ và có cơ chếloại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uytín với nhân dân” [12;Tr.252]
Như vậy, theo chúng tôi: Nâng cao đạo đức công vụ không chỉ tuyên truyền,
Trang 32giáo dục đạo đức đối với CBCC, mà cần kết hợp với việc phát huy vai trò điềuchỉnh của pháp luật về đạo đức công vụ Pháp luật về đạo đức công vụ phải đượccoi là một trong những yếu tố bảo đảm để nâng cao đạo đức công vụ cho CBCCtrong điều kiện đổi mới đất nước ta hiện nay.
Trong hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay ngày càng hoàn thiện hệ thống cácquy phạm pháp luật về công chức, công vụ Nhiều nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của
xã hội mới được thể chế hóa thành những văn bản QPPL cho chuẩn mực hành vi củaCBCC trong thi hành công vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xây dựng nền công
vụ mới, gắn với "nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân" Các văn bảnQPPL ra đời đã tạo cơ sở pháp lý khá đầy đủ cho việc điều chỉnh hành vi ứng xử củaCBCC trong thực thi công vụ và là cơ sở cho việc đánh giá CBCC, góp phần khôngnhỏ vào việc xây dựng đội ngũ CBCC trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay
Từ những nội dung cơ bản của văn bản trên, Chính phủ và chính quyền các cấp
đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thực hiện và quản lý cáchoạt động của nền công vụ Như các quy định pháp luật về xây dựng cơ chế tuyểndụng và bổ nhiệm cán bộ, công chức; quy định tăng cường tính minh bạch thông quaviệc công khai và giám sát đối với tài sản và trách nhiệm cá nhân, hoặc các quy địnhnâng cao đạo đức công vụ, hạn chế tiêu cực như sách nhiễu, vòi vĩnh, hối lộ
Nghiên cứu những văn bản pháp luật liên quan đến ĐĐCC hiện hành chothấy nội dung các quy định của pháp luật tập trung điều chỉnh những vấn đề sau:
- “Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức”
- “Quy tắc đạo đức nghề nghiệp”.
Luật CBCC (2008) được coi là nền tảng pháp lý trong lĩnh vực này đã xác địnhmột trong những tiêu chí quan trọng bậc nhất của công chức là phải có phẩm chất đạođức Với yêu cầu đó, để xây dựng đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổimới đất nước, đội ngũ CBCC phải đạt các yêu cầu sau:
“1 Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia.
2 Tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân.
3 Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân.
4 Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước”.Và:
(1) Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn được giao;
Trang 33(2) Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của
cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước;
(3) Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;
(4) Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao
Từ quy định mang tính nguyên tắc về ĐĐCC, Luật CBCC (2008) quy định vănhóa giao tiếp ở công sở, với nhân dân và yêu cầu CBCC phải thực hiện trong thực thi
công vụ Văn hóa ứng xử là một trong những yếu tố phản ánh trình độ văn hóa của một
cơ quan, tổ chức, cá nhân; là cơ sở để hình thành tác phong, phong cách của ngườicông chức; là nền tảng tạo nên tư chất, cốt cách của người công chức Do đó, tronggiao tiếp và ứng xử công chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn ngữgiao tiếp phải chuẩn mực rõ ràng, mạch lạc, không nói tục, nói tiếng lóng; phải lắngnghe ý kiến của đồng nghiệp, công bằng, vô tư, khách quan khi nhận xét, đánh giá,thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ Trong giao tiếp và ứng xử với nhân dân côngchức phải có tác phong lịch sự, giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ chức, đơn vị vàđồng nghiệp; nhã nhặn, lắng nghe ý kiến, giải thích, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về cácquy định liên quan đến giải quyết công việc; không được có thái độ hách dịch, nhũngnhiễu, gây khó khăn, phiền hà khi thi hành công vụ
Điều 18 Luật CBCC (2008) còn quy định những việc CBCC không được làm,liên quan đến đạo đức công vụ như: Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụđược giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công; sử dụngtài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật; lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ,quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi; phân biệt, đối xử dân
tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo.
Những quy định về vi phạm của những người trong bộ máy công quyền, lợidụng chức vụ, quyền hạn trong thực thi công vụ để tư lợi được nêu trong Luậtphòng, chống tham nhũng cho thấy thái độ của nhà nước, của nhân dân đối với côngtác đấu tranh phòng, chống tham nhũng Hành vi tham nhũng được coi là hành vi viphạm ĐĐCC một cách nghiêm trọng nhất và đã có những biện pháp xử lý tươngxứng nhằm nâng cao ĐĐCC trong thi hành công vụ Một trong những giải pháptrong đấu tranh phòng, chống tham nhũng được đưa ra là đề cao liêm chính trongthực thi công vụ của công chức và xử lý nghiêm minh những vi phạm đạo đức trongthực thi công vụ
Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí không chỉ quy định các biện phápthực hành tiết kiệm, chống lãng phí, các biện pháp xử lý đối với những vi phạm, màcòn quy định về yêu cầu đạo đức đối với công chức trong việc sử dụng, quản lý tài
Trang 34sản công Ý thức bảo vệ của công, sử dụng có hiệu quả tài sản và thực hiện nghiêmchỉnh việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là một trong những tiêu chuẩnĐĐCC được Luật quy định Ngoài ra, có nhiều văn bản QPPL dưới luật khác cũnggián tiếp điều chỉnh ĐĐCC thông qua việc quy định tiêu chuẩn để đánh giá côngchức như Nghị định số 24 (2010); Nghị định số 56 (2015) của Chính phủ về đánhgiá phân loại cán bộ, công chức, viên chức.
Như vậy, có thể thấy pháp luật về đạo đức công chức là công cụ hữu hiệunhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổchức chính trị - xã hội nhằm xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; thựchiện quá trình đổi mới hệ thống chính trị và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Vì vậy, cần phải tăng cườngtuyên truyền, giáo dục các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay liên quan đếnđạo đức công vụ, để mỗi CBCC được biết và nghiêm chỉnh chấp hành
1.4 Lý luận về đạo đức công vụ và giáo dục đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức cơ quan hành cấp huyện theo tiếp cận phát triển cộng đồng
1.4.1 Cơ sở về đạo đức công vụ của cán bộ, công chức
1.4.1.1 Những yếu tố cơ bản để cấu thành đạo đức công vụ
- Đạo đức công vụ được hình thành từ đạo đức xã hội của CBCC
Trong cơ chế thị trường hiện nay, nhiều yếu tố xã hội đang tác động đếnhành vi ứng xử của từng cá nhân, trong đó có đạo đức công vụ của CBCC Côngchức thực thi công việc trong các cơ quan Đảng và Nhà nước họ cũng là một conngười, do đó họ có tất cả các yếu tố của con người - cá nhân và có đạo đức cá nhân,đạo đức xã hội Với góc độ đạo đức cá nhân, công chức cũng như mọi công dântrước hết phải là một công dân mẫu mực, mọi hoạt động của họ đều có ảnh hưởngđến xã hội và nhân dân
Đạo đức công vụ được hình thành từ đạo đức xã hội của CBCC nó thể hiệntính dân chủ của công vụ mà CBCC thực thi phục vụ nhân dân Nó thể hiện cụ thểqua sự đúng đắn, khách quan, trung thực, nhiệt tình của CBCC làm cho người dâncảm nhận được sự an tâm, tin tưởng ở Đảng và Nhà nước, mà CBCC là người đạidiện Ngược lại, nếu có sự thiên vị vì nhiều lí do khác nhau có thể làm cho tính chấtcông vụ sẽ thay đổi, làm giảm niềm tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước
Đạo đức nghề nghiệp là đạo đức xã hội, thể hiện một cách đặc thù, cụ thểtrong các hoạt động nghề nghiệp Với tính chất là một dạng của đạo đức xã hội, nó
có quan hệ chặt chẽ với đạo đức cá nhân, thông qua đạo đức cá nhân để thể hiện.Trong xã hội hiện đại, đạo đức nghề nghiệp có vai trò to lớn, nó không chỉ là mộtnhánh đặc sắc trong hệ thống đạo đức xã hội nói chung mà còn là một cấp độ pháttriển đạo đức tiêu biểu, một loại đạo đức đã đựơc thực tiễn hoá Nói tới đạo đức là
Trang 35đề cập đến lương tâm, do đó trong hoạt động nghề nghiệp con người phải có lươngtâm nghề nghiệp Lương tâm nghề nghiệp là biểu hiện tập trung nhất của ý thức đạođức trong thực tiễn, vừa là dấu hiệu, vừa là thước đo sự trưởng thành của đời sốngđạo đức Trong mỗi con người, với tư cách là một chủ thể đạo đức đã trưởng thànhbao giờ cũng là một người sống có lương tâm, điều đó thể hiện rõ nét nhất tronghoạt động nghề nghiệp.
Như vậy, về nguyên tắc nghề nghiệp, CBCC không chỉ thể hiện tính đạo đứccủa mình thông qua các giá trị đạo đức nghề nghiệp nói chung, mà còn phải tuân theonhững giá trị đạo đức nghề nghiệp đặc thù trong hoạt động công vụ Nếu quan niệmcông vụ là một nghề, thì đạo đức công vụ chính là một dạng đạo đức nghề nghiệp
Do đó, cần có những quy định mang tính đạo đức cho từng nhóm CBCC, mỗi nhóm
có tính nghề nghiệp khác nhau và phải có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp khácnhau Đối với nhóm CBCC nắm giữ các vị trí quản lý cần có những quy định cụ thể
về hành vi đạo đức riêng; đối với nhóm CBCC chuyên môn, nghiệp vụ cần có quyđịnh cụ thể về hành vi đạo đức cho chính họ Còn đối với những CBCC làm việctrong các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện bên cạnh những quy định chung
về đạo đức công vụ cần có quy định riêng phù hợp với lĩnh vực hoạt động nghềnghiệp đặc thù
- Đạo đức công vụ là sự tổng hòa của hai nhóm đạo đức xã hội và đạo đức
cá nhân người CBCC trong hoạt động công vụ.
CBCC thực thi công vụ của nhà nước giao cho đòi hỏi phải có cả đạo đức cánhân, xã hội Trước hết họ phải là “công dân gương mẫu” hướng đến những giá trịtích cực và trở thành “tấm gương” về đạo đức cá nhân, cũng phải tuân thủ các quyđịnh chung của pháp luật dù ở bất cứ vị trí nào Mặt khác, người CBCC còn phải cóđạo đức nghề nghiệp theo từng loại nghề cụ thể, họ chính là người triển khai tổ chứcthực hiện, đưa những “chân giá trị” của pháp luật vào đời sống Cho nên, đạo đứccông vụ thực chất là đạo đức của cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực công,phản ánh những giá trị đạo đức và chuẩn mực pháp lý, được thể hiện ở lương tâm
và trách nhiệm vì lợi ích chung, ý thức rõ về việc cần phải làm và mong muốn đượclàm vì những lợi ích đó
Vậy, muốn có đạo đức công vụ mỗi một CBCC phải nhận thức đúng ba yếu tố:Đạo đức cá nhân, xã hội; đạo đức nghề nghiệp; những quy định pháp luật riêng cho hoạtđộng công vụ Do đó, CBCC thực thi công vụ phải có đạo đức xã hội mang tính tự giáccao Nếu chỉ có pháp luật, khó có thể hình thành đạo đức công vụ một cách tự giác (19)
- Đạo đức công vụ gắn liền với việc tránh xung đột về lợi ích của CBCC thực thi công vụ
Trang 36Bất cứ một nền công vụ nào luôn tồn tại những xung đột về lợi ích Xungđột lợi ích là những tình huống cụ thể phát sinh khi CBCC đưa ra quyết định hoặcthực hiện hành vi có lợi cho mình trong hoạt động công vụ Việc nhận dạng và giảiquyết xung đột lợi ích đối với việc thúc đẩy và giữ gìn tính liêm chính và sự minhbạch của nền hành chính công đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới nhận thứcmột cách đầy đủ và chuyển thành những bước đi, hành động, biện pháp cụ thể
Xét một cách khách quan, xung đột lợi ích cá nhân của CBCC sẽ ảnh hưởng rấtlớn đến hành vi có hay không có đạo đức của CBCC Sự thực hiện lợi ích của cá nhân
và xã hội không phải lúc nào cũng phù hợp nhau Chính vì vậy, trong quá trình thực thicông vụ, không thể chỉ xem xét khía cạnh lợi ích cá nhân của CBCC hoặc xã hội Theomong đợi từ xã hội, công chức phải tham gia vào đời sống chính trị - xã hội ở cấp độcao nhất của sự liêm chính Bởi vì, mục đích cuối cùng của nền công vụ là phục vụnhân dân, có trách nhiệm với nhân dân Chính những điều đó nó liên quan chặt chẽ tới
sự liêm chính của CBCC trong hoạt động công vụ
CBCC không thể tồn tại và phát huy năng lực của mình bên ngoài xã hội, do
đó lợi ích của đạo đức CBCC không được mâu thuẫn với những điệu kiện tồn tạicủa xã hội Khi thực thi công vụ, CBCC luôn phải tự xác định “họ là niềm hy vọng,tin cậy của nhân dân”, là “công bộc” của dân, do đó họ phải thể hiện như thế nào
để tạo được hy vọng rằng “công chức sẽ cung cấp dịch vụ có tính chuyên nghiệp”cho nhân dân và lợi ích cá nhân, riêng tư không ảnh hưởng đến thực thi công vụ của
họ Một khi sự kỳ vọng, tin cậy của nhân dân vào sự “liêm chính” của công chức bịxấu đi, thì có thể thấy rằng thực thi công việc của công chức đang bị ảnh hưởng bởilợi ích cá nhân của chính họ
1.4.1.2 Quá trình hình thành và phát triển đạo đức công vụ
Quá trình hình thành đạo đức công vụ của công chức có thể chia thành
ba giai đoạn như sơ đồ sau Tuy nhiên, phân chia chi tiết các giai đoạn này chỉ mang tính tương đối.
Giai đoạn tự giácGiai đoạn pháp
luật hóaGiai đoạn tự phát
(tự nhận thức)
Sơ đồ (1.4.1): Ba giai đoạn phát triển của đạo đức công vụ
- Giai đoạn tự phát, tiền công vụ:
Tự nhận thức về các giá trị, những chuẩn mực hành vi, cách ứng xử và quan
hệ của công chức trong thực thi công vụ Quá trình hình thành đạo đức công vụ
Trang 37cũng giống như quá trình hình thành đạo đức nói chung Quá trình này được pháttriển từ nhận thức, ý thức đến tư duy hành động và cuối cùng được chuẩn hóa thànhquy tắc, quy chế và pháp luật của nhà nước.
Những giá trị của công vụ trong giai đoạn hiện nay không chỉ được xem xét
từ trong các tổ chức nhà nước mà đòi hỏi phải thiết lập và vươn đến những giá trịmới: Nhà nước ngày càng dân chủ trong tất cả phương diện; vai trò của nhân dânngày càng trở thành yếu tố quan trọng để giám sát các hành vi ứng xử của cán bộ,công chức
- Giai đoạn pháp luật hóa, bắt buộc tuân thủ:
Giá trị cốt lõi của công vụ được thể chế hóa, pháp luật hóa thành luật, đạoluật, những điều lệ, những quy định, quy tắc bắt buộc hành vi ứng xử của côngchức Do đó, khi nói về đạo đức công vụ có thể đề cập đến những khía cạnh đạo đứccủa công chức khi thực thi công việc của họ (nhiệm vụ); nhưng cũng có thể vậndụng đạo đức thực thi công vụ cho tất cả nhóm người làm việc cho nhà nước
Hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều dần dần pháp luật hóa những giá trịcốt lõi của công vụ (pháp luật về công vụ) và pháp luật hóa những quy tắc, chuẩn mựcgiá trị đạo đức và hành vi ứng xử của công chức trong thực thi công vụ Đây cũng là sựkhác biệt giữa đạo đức nói chung và đạo đức mang tính chuẩn mực pháp lý đối vớinhững người thực thi công việc của nhà nước nói riêng
- Giai đoạn tự giác:
Là giai đoạn công chức tự nguyện làm, muốn làm không cần nhắc nhở,không cần sự thúc ép từ bên ngoài Là quá trình phát triển nhận thức từ tự phát đếnthể chế hóa thành pháp luật của Nhà nước và cuối cùng phải nâng lên thành chuẩnmực đạo đức mang tính tự giác trong việc thực hiện các hành vi đạo đức
Ba giai đoạn phát triển của quá trình hình thành đạo đức công vụ có ý nghĩa
và vai trò khác nhau, nhưng đều hướng đến đích cuối cùng là tự giác trong thực thicông vụ của công chức Trong thực tế có nhiều trường hợp khó, thậm chí không thểkiểm soát được hoạt động của công chức bằng pháp luật, vì tính đa dạng, đa diệncủa hoạt động công vụ Nên khi ấy, lương tâm nghề nghiệp, đạo đức công vụ điềuchỉnh từ bên trong sẽ thúc đẩy công chức thực thi công vụ một cách có đạo đứctrong việc phục vụ nhân dân (27)
1.4.1.3 Các yếu tố liên quan đến đạo đức công vụ
Khi xem xét đạo đức công vụ - tức đạo đức của CBCC trong thực thi côngviệc của Đảng, phải dựa trên hai yếu tố cơ bản:
- Công việc: Mọi công việc trong các cơ quan hành chính thuộc UBND
huyện đều hướng đến mục đích đưa chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của
Trang 38Nhà nước vào cuộc sống Công việc đó do CBCC đảm nhận, do đó họ có bổn phậnthực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước.
- Con người: CBCC thực thi công việc trong các cơ quan hành chính thuộc
UBND huyện phải là “người có đạo đức trong hoạt động công vụ” Do đó, đạo đứccủa người CBCC trong trường hợp này chính là sự kết hợp, đan xen của đạo đức:
Cá nhân; xã hội, nghề nghiệp
1.4.1.4 Những chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức
- Về phẩm chất cá nhân: có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu đi đấu
trong mọi công tác; xử lý hài hòa các lợi ích, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lêntrên hết Liên hệ mật thiết với nhân dân, tôn trọng và bảo về quyến làm chủ củanhân dân Có lối sống trong sạch lành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật Không quan liêu,tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh chóng tham nhũng, lãng phí và cáchiện tượng tiêu cự khác
- Trong quan hệ với cơ quan, tổ chức: CBCC phải nêu cao tinh thần tự giác,
ý thức trách nhiệm; phải trung thực, công bằng, không thiên vị, chủ động phòngngừa những tác động tiêu cực; thực hiện nhiệm vụ với tinh thần tận tụy, nhiệt tình;bảo vệ và sử dụng tiết kiệm tài sản của nhà nước
- Trong quan hệ với đồng nghiệp, với cấp trên và với cấp dưới: Với đồng
nghiệp phải chân thành, đoàn kết, trung thực, tương trợ và hợp tác, sẵn sàng lắngnghe tiếp thu ý kiến góp ý của đồng nghiệp và sửa chữa sai sót Có trách nhiệm bảo
vệ danh dự của đồng nghiệp, không xúc phạm, chủ động chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau
để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phê bình, góp ý với đồng nghiệp trên tinhthần xây dựng, khách quan Nghiêm túc chấp hành và phục tùng tuyệt đối các quyếtđịnh, chỉ thị, mệnh lệnh, yêu cầu của cấp trên theo đúng chức trách nhiệm vụ đượcgiao Hợp tác, giúp đỡ và tư vấn, khuyên bảo đồng nghiệp Thẳng thắn, trung thựctrong ứng xử, làm đúng chức trách nhiệm vụ được giao Có thái độ lịch sự, nhã nhặn
và có mối quan hệ tốt với mọi người
- Đối với công chúng và với xã hội: phải nghiêm túc, mẫu mực, nhẹ nhàng,
lắng nghe ý kiến, ghi chép đầy đủ các nội dung phản ánh, đề xuất, kiến nghị củanhân dân; không hách dịch, quát mắng, không nhận quà biếu hay ân huệ vượt quágiới hạn cho phép; tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong giảiquyết công việc; hướng dẫn, giải thích các thắc mắc của nhân dân rõ ràng, cụ thể vềcác quan điểm, chủ trương Đảng khi giải quyết các thủ tục hành chính (nếu nhândân có yêu cầu)
1.4.2 Giáo dục đạo đức công vụ cho CBCC trong các cơ quan hành chínhthuộc UBND huyện theo tiếp cận cộng đồng
1.4.2.1 Nội dung giáo dục đạo đức công vụ
Trang 39Qua nghiên cứu, dựa trên các nội dung GDĐĐ công vụ cho CBCC được đềcập trong Luận án tiến sĩ của Hứa Thị Kiều Hoa, Trường Đại học Thái Nguyên,chúng tôi tán thành với nội dung giáo dục đạo công vụ cụ thể như sau:
- Giáo dục ý thức chính trị: Là phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách
mạng của đảng, của dân tộc, tích cực thực hiện đường lối đổi mới của đảng, hoànthành tốt nhiệm vụ chính trị được giao Có bản lĩnh chính trị vững vàng, không daođộng trước những khó khăn, thách thức Có ý thức giữ vững và nêu cao vai trò lãnhđạo của đảng
- Giáo dục tinh thần trách nhiệm: Là giáo dục cho CBCC ý thức được mình
là công bộc, là đầy tớ của nhân dân như Hồ Chí Minh thường nói, có năng lực vậnđộng và lãnh đạo quần chúng tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng, thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ trong cuộc sống, học tập và khi thi hànhcông vụ tại địa phương
- Giáo dục ý thức pháp luật: Là giáo dục cho CBCC trong thi hành công vụ
cần tuân thủ và thực hiện đúng pháp luật, là tấm gương thuyết phục quần chúng.CBCC phải nêu gương đạo đức, Nhà nước quản lý xã hội không chỉ bằng uy quyềnpháp luật, làm cho dân sợ, mà bằng tấm gương đạo đức, làm cho dân phục, dân tin
mà nghe theo, làm theo
- Giáo dục kỹ năng giao tiếp và văn hóa công vụ: Giáo dục cho CBCC hiểu
rõ và thực hiện nghiêm túc những quy định về văn hóa giao tiếp trong luật CBCC từ
đó sẽ hình thành nên những giá trị văn hóa công vụ Khi giao tiếp người CBCC phảinắm rõ các nguyên tắc cơ bản như: tuân thủ theo pháp luật; bảo đảm tính chính xác,trung thực; khách quan, công khai, dân chủ; thận trọng, công bằng, trách nhiệm, “dĩbất biến, ứng vạn biến”; nguyên tắc chuẩn mực đạo đức; hài hòa các lợi ích
- Giáo dục ý thức cá nhân về đạo đức công vụ: Giáo dục tinh thần trách
nhiệm, gương mẫu trong công tác; ý thức về quyền lợi và trách nhiệm của CBCCtrong thi hành công vụ; về những điều CBCC được làm, phải làm và không đượclàm; về học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; mối liên hệvới nhân dân, tôn trọng và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân; lối sống trong sạchlành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật; không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; đấu tranhchống tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội
- Bồi dưỡng tình cảm đạo đức công vụ: Hình thành và phát triển những tình
cảm đạo đức trong sáng; xây dựng niềm tin đạo đức dựa trên cơ sở kết hợp hài hoàgiữa nhận thức và tình cảm đạo đức đã đạt được Từ đó hình thành nhu cầu, động cơ,tình cảm phù hợp với đòi hỏi của công việc, của xã hội
- Giáo dục hành vi đạo đức: Trang bị cho CBCC những nhu cầu nhận thức
về văn hoá công vụ và đạo đức công vụ, đồng thời tổ chức cho CBCC lặp đi lặp lại
Trang 40nhiều lần những hành vi đạo đức công vụ trong học tập, trong lao động nhằm tạođược những thói quen đạo đức công vụ đúng đắn, để họ có các hành vi phù hợp vớicác yêu cầu, chuẩn mực đạo đức của người CBCC [21]
1.4.2.2 Các con đường giáo dục đạo đức công vụ đối với cán bộ công chức các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện
Các hình thức GDĐĐ công vụ cho CBCC cơ quan hành chính thuộc UBNDhuyện phải dựa trên quá trình giáo dục tổng thể, vận dụng vào điều kiện đặc thù vềđặc điểm của CBCC và những đặc điểm riêng theo chức năng, nhiệm vụ của từng
cơ quan
- Giáo dục thông qua sinh hoạt tập thể: Tập thể bao giờ cũng do các cá nhân
và mối quan hệ giữa các cá nhân đó hợp thành Cá nhân được hình thành và phát triểnchỉ trong quan hệ tập thể, xã hội Tập thể không chỉ là nơi để mỗi CBCC thể hiện tưtưởng, phẩm chất, đạo đức, lối sống của mình mà còn là nơi kiểm tra, giám sát,hướng dẫn người CBCC trong quá trình thực hiện hoạt động Tự phê bình và phêbình trong tập thể có hiệu quả sẽ giúp người CBCC phát triển nhân cách, đạo đức.Thông qua sinh hoạt tập thể giúp cho CBCC nâng cao ý thức trách nhiệm, tích cựchọc tập, tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện tốt trách nhiệm, nghĩa vụ của CBCC; nâng cao
ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tự phê bình, tăng cường đoàn kết, thống nhất và tìnhthương yêu đồng chí, đồng nghiệp trong cơ quan Như vậy, tập thể vừa là môi trường,vừa là phương tiện để giáo dục CBCC
- Giáo dục thông qua đào tạo, bồi dưỡng: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
CBCC đóng vai trò quan trọng trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp làmviệc để nâng cao năng lực thực hiện công việc, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC.Đào tạo, bồi dưỡng là công việc thường xuyên diễn ra trong suốt cuộc đời của ngườiCBCC kể từ khi bước vào nền công vụ cho đến khi ra khỏi nó Giáo dục đạo đức công
vụ ở cấp huyện chủ yếu được thực hiện ở Trường Chính trị tỉnh và Trung tâm bồidưỡng chính trị huyện GDĐĐ công vụ cho học viên là CBCC địa phương luôn đượccác tổ chức giáo dục xác định là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác đào tạo, bồidưỡng hiện nay Nội dung GDĐĐ công vụ cho CBCC phải được dựa trên nền tảng đạođức học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và yêu cầu của xã hội hiện nay Vì thế, nócần đáp ứng những nhu cầu đào tạo cần thiết và cả những mong muốn được đào tạo,bồi dưỡng của CBCC Bên cạnh đó, các thành viên CBCC trong mỗi cơ quan hànhchính thuộc UBND huyện có thể tham gia giáo dục lẫn nhau khi đó sức thuyết phụccủa GDĐĐ công vụ sẽ được nhân lên bởi thước đo của việc hoàn thành chức trách,nhiệm vụ được giao Như vậy, thông qua đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn,nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, năng lực thực hiện nhiệm vụ của người CBCC được