Do đó, trước sự phát triển nhanh của nền kinh tế nước ta như hiện nay, cũng như sự cần thiết đối với công tác quản lý không thể thiếu lực lượng Quản lý thị trường trong hoạt động thương
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
TRẦN QUYỀN
CHỐNG BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH PHÖ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
TRẦN QUYỀN
CHỐNG BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH PHÖ THỌ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôivà chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng quy định
Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Trần Quyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giáo giảng viên đã truyền đạt và tạo điều kiện giúp đỡ tôi có kiến thức chuyên sâu về ngành Quản lý kinh tế trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này, để từ đó có thể áp dụng phần nào kiến thức
đã học vào công việc hiện tại
Đặc biệt, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Hoàng Khắc Lịch, người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn về đề tài nghiên cứu “ Chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ”
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo: Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ, phòng Tổ chức hành chính, phòng Pháp chế, phòng Nghiệp vụ tổng hợp, các Đội Quản lý thị trường thuộc Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu cho đề tài nghiên cứu
Một lần nữa, tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới cơ quan, thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Trần Quyền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỐNG BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CỤC QLTT CẤP TỈNH 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về chống buôn bán hàng giả 5
1.2 Cơ sở lý luận về chống buôn bán hàng giả của lực lượng QLTT 7
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 7
1.2.2 Vai trò của công tác chống buôn bán hàng giả của Quản lý thị trường 11
1.2.3 Nội dung công tác chống buôn bán hàng giả của Quản lý thị trường 12
1.2.4 Tiêu chí đánh giá đối với công tác chống buôn bán hàng giả 14
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác chống buôn bán hàng giả 16
1.3 Kinh nghiệm trong công tác chống buôn bán hàng giả của lực lượng Quản lý thị trường tại một số tỉnh, thành phố 20
1.3.1 Kinh nghiệm công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Tuyên Quang 20
1.3.3 Kinh nghiệm công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội 23
CHƯƠNG 2PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Khung phân tích 26
2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 26
2.3 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu 27
2.4 Phương pháp phân tích 28
2.5 Phương pháp thống kê 28
2.6 Phương pháp chuyên gia 29
CHƯƠNG 3THỰC TRẠNG CHỐNG BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CỤC QUẢN LÝTHỊ TRƯỜNG TỈNH PHÖ THỌ 31
Trang 63.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31 3.1.1 Đặc điểm cơ bản của tỉnh Phú Thọ 31 3.1.2 Khái quát chung về Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ 33 3.2 Thực trạng công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ 40 3.2.1 Công tác lãnh đạo,chỉ đạo và xây dựng kế hoạch 40 3.2.2 Tổ chức thực hiện công tác chống buôn bán hàng giả 48 3.2.3 Thanh tra, kiểm tra và giám sát thực hiện công tác chống buôn bán hàng giả 73 3.3 Đánh giá công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ 75 3.3.1 Những thuận lợi và kết quả đạt được 75 3.3.2 Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân 80
CHƯƠNG 4ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỐNG BUÔN BÁN HÀNG GIẢTẠI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH PHÖ THỌ 85
4.1 Bối cảnh mới tác động đến công tác chống buôn bán hàng giả 85 4.2 Định hướng hoàn thiện công tác chống buôn bán hàng giả 86 4.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới 88 4.3.1 Hoàn thiện văn bản pháp luật; nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch về chống buôn bán hàng giả 88 4.3.2 Cơ cấu lại các Đội QLTT; nâng cao chất lượng tuyển dụng đi đối với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; sắp xếp, bố trí nhân lực 89 4.3.3 Nâng cao chất lượng công tác trinh sát, quản lý địa bàn; tổ chức kiểm tra, xử lý
vi phạm 91 4.3.4 Nâng cao chất lượng công tác đánh giá, dự báo tình hình buôn bán hàng giả 93 4.3.5 Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền 94 4.3.6 Đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ công tác kiểm tra, xử lý 96 4.3.7 Xây dựng hoàn thiện cơ sở dữ liệu về hàng giả 96 4.3.8 Tăng cường sự phối hợp với các cấp chính quyền, cơ quan chức năng; sự hợp tác với các doanh nghiệp và người tiêu dùng trong phòng, chống buôn bán hàng giả 97 4.3.9 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát 98
KẾT LUẬN 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT Ký hiệu viết tắt Nguyễn nghĩa
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 Chỉ tiêu kế hoạch và kết quả thực hiện kiểm tra và xử
lý vi phạm
42
2 Bảng 3.2 Cơ cấu lao động theo giới tính – độ tuổi – trình độ 49
3 Bảng 3.3 Bảng so sánh chỉ tiêu giao số vụ kiểm tra và kết quả
thực hiện
53
4 Bảng 3.4 Danh mục một số hàng giả đã bị tịch thu, xử lý 55
5 Bảng 3.5 Bảng thống kê số lượng cán bộ, công chức tham gia
bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
57
6 Bảng 3.6 Bảng thông tin nội dung tuyên truyền 65
7 Bảng 3.7 Kết quả công tác tuyên truyền, ký cam kết 69
8 Bảng 3.8 Nội dung phối hợp chống buôn bán hàng giả 73
Trang 9DANH MỤC HÌNH
1 Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Cục QLTT tỉnh Phú Thọ 38
2 Hình 3.2 Quy trình tiếp nhận và xử lý thông tin 51
3 Hình 3.3 Sơ đồ quy trình kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính 52
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, bên cạnh những thành tựu về phát triển kinh tế, sự hội nhập sâu rộng trên nhiều lĩnh vực của nước ta, đã mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh có điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nhanh và bền vững Qua đó hàng hóa kinh doanh trên thị trường ngày càng phong phú,
đa dạng, chất lượng đảm bảo và đáp ứng được thị yếu của người tiêu dùng
Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, hoạt động buôn bán hàng giả trên thị trường cũng ngày càng tinh vi, phức tạp và khó kiểm soát hơn bao giờ hết Trong những năm gần đây, nạn buôn bán hàng giả có xu hướng gia tăng cả về số lượng, chất lượng, mặt hàng, quy mô và trên hầu hết các lĩnh vực Nhiều mặt hàng bị làm giả hiện nay đang được trà trộn bày bán cùng với hàng thậttrên thị trường Hàng giả xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, được sản xuất và bày bán dưới hình thức chui lủi, đơn lẻ, có độ tinh vi và trình độ công nghệ cao Việc buôn bán hàng giả có xu hướng được tổ chức với quy mô lớn và không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà còn mở rộng ra cả khu vực và mang tính xuyên quốc gia Do đó, rất khó để phát hiện, theo dõi, giám sát và quản lý hoạt động buôn bán hàng giả trên thị trường Đặc biệt là việc quản lý chất lượng hàng hóa trên thị trường
và xử lý vi phạm đối với hàng giả còn gặp nhiều khó khăn và phức tạp
Bên cạnh những mặt tích cực của những thương nhân làm ăn chân chính, vẫn còn có các tổ chức, cá nhân kinh doanh vì mục đích siêu lợi nhuận, bất chấp mọi thủ đoạn để đưa ra thị trườngtiêu thụ các sản phẩm là hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng tới tay người tiêu dùng đang có chiều hướng gia tăng, ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi và khó kiểm soát Do đó, trước sự phát triển nhanh của nền kinh tế nước ta như hiện nay, cũng như sự cần thiết đối với công tác quản lý không thể thiếu lực lượng Quản lý thị trường trong hoạt động thương mại, chống sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Hàng giả hiện nay có mặt và xâm nhập ở hầu hết các mặt hàng từ giá trị cao cho đến giá trị thấp, từ những thương hiệu nổi tiếng đến cả những mặt hàng đơn giản và
Trang 11trên nhiều lĩnh vực như: Thuốc và trang thiết bị y tế; thuốc thú y; thuốc bảo vệ thực vật; hàng thực lương thực, thực phẩm; quần áo, giầy dép; điện tử, điện lanh, điện dân dụng Do đó, nếu không ngăn chặn, kiểm soát và phòng chống được hoạt động buôn bán hàng giả sẽ gây ra thiệt hại đến nền kinh tế, tác động tiêu cực đến xã hội, ảnh hưởng đến lợi ích của nhà sản xuất và đặc biệt là ảnh hưởng xấu đến niềm tin, sức khỏe và tính mạng của người tiêu dùng
Bởi vậy, công tác chống buôn bán hàng giả đang trở thành nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, cần thực hiện một cách nghiêm túc và triệt để hơn bao giờ hết Nhằm đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh, bền vững của thị trường, thúc đẩy tăng trưởng
và phát triển kinh tế cũng như bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của nhà sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng
Phú Thọ là tỉnh phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía Tây giáp thành phố Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái và tỉnh Tuyên Quang
Công tác chống buôn bán giả trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong những năm qua
đã đạt được những kết quả tích cực bằng việc thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ, các bộ ngành Trung ương, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ Bên cạnh đó lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ đã chủ động triển khai đồng bộ trên nhiều mặt từ hoạt động trinh sát, thẩm tra, xác minh, nắm bắt địa bàn, thông tin tuyên truyền và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan đến công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong buôn bán hàng giả Do đó lực lượng Quản lý thị trường luôn xác định công tác chống hàng giả là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục và hiệu quả
Tuy nhiên, với một vài nguyên nhân chủ quan và khách quan mà công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ trong những năm qua tuy đã đạt được những kết quả tích cực song vẫn còn không ít những khó khăn, tồn tại nên chưa ngăn chặn được triệt để đối với những hành vi buôn bán hàng giả trên thị.Hiện nay hàng giả đã và đang là nguy cơ gây thiệt hại lớn đối với nền sản xuất, tác động tiêu cực đến quá trình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và lợi ích của người tiêu dùng làm ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong xã hội
Công tác chống buôn bán hàng giả của lực lượng Quản lý thị trường trong thời
Trang 12gian gần đây có tính thời sự cao, việc nâng cao hiệu quả công tác chống buôn bán hàng giả đối với lực lượng QLTT nói chung và Cục QLTT tỉnh Phú Thọ nói riêng có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn đặt ra Do vậy, việc nghiên cứu, đánh giá công tác chống buôn bán của Cục QLTT tỉnh Phú Thọ để đưa ra các giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả là một vấn đề khoa học áp dụng vào thực tiễn, cần được nghiên cứu
2 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ cần phải làm
gì và làm như thế nào để chống buôn bán hàng giả tại tỉnh Phú Thọ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất những giải pháp để chống buôn bán hàng giả tại tỉnh Phú Thọ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn trong công tácchống buôn bán hànggiả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản
lý thị trường tỉnh Phú Thọ
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn làcông tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường cấp tỉnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian:Luận văn nghiên cứu công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục
Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ
Trang 13Về thời gian: Thực trạng công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị
trường tỉnh Phú Thọ được nghiên cứu, đánh giá trong giai đoạn từ 2014-2018
Về nội dung: Tập trung phân tích thực trạng công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý
và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chốngbuôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trườngtỉnh Phú Thọ Từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghịtrong công tác quản lý Nhà nước vềtình trạngbuôn bán hàng giả, tạomôi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy
phát triển kinh tế và bảo vệquyền lợi của người tiêu dùng
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1:Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễnvề chống
buôn bán hàng giả tại Cục QLTT cấp tỉnh
Chương 2:Phương pháp nghiên cứu
Chương 3:Thực trạngchống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh
Phú Thọ
Chương 4:Định hướng và giải pháp chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý
thị trường tỉnh Phú Thọ
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀTHỰC TIỄN
VỀ CHỐNG BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CỤC QLTT CẤP TỈNH
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về chống buôn bán hàng giả
Hoạt động buôn bán hàng giảlà một trong những vấn nạn của xã hội, đã kìm hãm sự phát triển kinh tế nước ta trong thời kỳ mở cửa hội nhập hiện nay, đặc biệt là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước mà Đảng và Nhà nước ta từng ngày phòng chống, ngăn chặn vấn nạn này Do đó, trong những năm qua đã có những tài liệu, đề tài nghiên cứu về vấn đề nói trên
Để thực hiện và qua quá trình nghiên cứu, tôi có tìm hiểu và tiếp cận một số tài liệu, các đề tài nghiên cứu, bài viết có liên quan đến công tác chống buôn bán hàng giả Tuy trong những tài liệu có nhiều nội dung hữu ích,có giá trị, được kế thừa để tổng hợp, phân tích và đánh giá làm tư liệu cho luận văn, nhưng bên cạnh đó các đề tài vẫn có những điểm hạn chế nhất định như: về tính thực tế khi áp dụng, nội dung thể hiện trong đề tài hay về phạm vi nghiên cứu cần phải bổ sung để hoàn thiện hơn Đặc biệt là tính hiệu quả trong quá trình chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ Một số tài liệu, đề tài, công trình nghiên cứu, đã định hướng, đề cập đến nội dung chống buôn bán hàng giả như:
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế: “ Đấu tranh phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Lai Châu” của tác giả Đỗ Văn Tính được thực hiện năm 2016 Bản thân tôi nhận thấy, nội dung nghiên cứu của tài liệu đã tập trung làm rõ 02 hoạt động là: “Phòng” và “ Chống” đối với hàng giả Đây là một trong những công tác chống sản xuất, buôn bán của lực lượng Quản lý thị trường nói chung Tuy nhiên, nội dung phân tích của luận văn chưa chuyên sâu, chưa đề cập và giải quyết được các vấn đề cơ bản liên quan đến hoạt động buôn bán hàng giả đang lưu thông trên thị trường Phạm vi nghiên cứu gắn với hoạt động của Chi cục QLTT trên địa bàn tỉnh Lai Châu có diện tích lớn; hoạt động sản xuất, buôn bán không tập trung
Do đó khó áp dụng triển khai tại các tỉnh khác và hiệu quả mang lại không cao
Luận văn thạc sĩ luật học: “ Hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của
Trang 15luật sở hữu trí tuệ Việt Nam” của tác giả Đỗ Đô Thành được thực hiện năm 2014 Đây
là bài luận văn mà bản thân tôi nhận thấy tác giả đã nêu lên được những vấn đề lý luận của hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ; phân tích, hệ thống các quy định chung của pháp luật về luật sở hữu trí tuệ mà pháp luậtđã và đang quy định Qua đó tác giả đã đưa ra được một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về hàng hóa giả mạo và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, nội dung chính của đề tài hướng đến nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ và thực tiễn áp dụng để xử lý hàng hóa giả mạo theo quy định của pháp luật Nhưng đây chỉ là một khía cạnh của hàng giả mà pháp luật cấm các hoạt động sản xuất và kinh doanh thuộc về lĩnh vực sở hữu trí tuệ mà không phải là cái chung nhất để áp dụng cho các hành vi vi phạm về hàng giả khác đang lưu thông trên thị trường
Luận văn thạc sĩ luật học: “ Pháp luật về phòng chống hàng giả trong lĩnh vực kinh doanh mỹ phẩm” của tác giả Nguyễn Minh Phương được thực hiện năm 2017 Qua bài luận văn, tôi nhận thấy tác giả đã tập trung nghiên cứu vấn đề cơ bản về thực hiện các quy định của pháp luật đối với công tác chống hàng giả trong lĩnh vực kinh doanh nói chung, và các tình huống xử lý vi phạm về mỹ phẩm trong thực tiễn nói riêng Tuy nhiên, nội dung của luận văn mới chỉ tập trung vào phân tích khía cạnh của một mặt hàng mỹ phẩm, trong khi trên thị trường hiện nay có rất nhiều mặt hàng được sản xuất, kinh doanh khác nhau Công tác phòng chống hàng giả thiếu tính đa dạng, giải pháp đưa ra chưa đầy đủ và đồng bộ
Luận văn thạc sỹ luật học: “ Pháp luật kiểm soát hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị” của tác giả Nguyễn Hải Sơn thực hiện năm
2018 Bản thân tôi nhận thấy, nội dung nghiên cứu của luận văn tập trung và làm rõ những quy định của pháp luật để thông qua đó kiểm soát các hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả Qua đó, đưa ra các giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật trong việc kiểm soát hành vi liên quan đến hàng giả trên địa bàn tỉnh Quảng Trị Tuy nhiên, luận văn mới chỉ nêu việc kiểm soát hành vi về sản xuất, kinh doanh hàng giả
mà chưa phân tích và làm rõ các quy định của pháp luật về phòngchống và xử lý vi phạm đối với hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả nói chung Bên cạnh đó, các giải
Trang 16pháp đưa ra mang tính chung chung cho tất cả các lực lương tham gia kiểm soát hành
vi sản xuất, kinh doanh hàng giả và chưa mang tính chuyên sâu và toàn diện khi áp dụng đối với lực lượng Quản lý thị trường
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế: “ Tăng cường quản lý Nhà nước về phòng, chống sản xuất và buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Phạm Anh Tuấn Tác giả hiện đang công tác tại Quản lý thị trường tỉnh Quảng Ninh, được thực hiện vào năm 2015 Bản thân tôi nhận thấy nội dung nghiên cứu của tài liệu tập trung chủ yếu là phân tích được thực trạng và đưa ra những yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước về phòng chống sản xuất và buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Quảng Ninh Nhưng chưa nêu ra được những giải pháp chung và cụ thể khi áp dụng cho các đơn vị khác và từ thực tiễn có thể thấy tỉnh Quảng Ninh là nơi cửa khẩu để giao thương hàng hóa nhập từ các nước vào nội địa Cho nên quá trình của hoạt động chống sản xuất và buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh cũng sẽ khó áp dụng đối tỉnh Phú Thọ khi không có cửa khẩu và đường biên giới chạy qua cũng như đối với các tỉnh khác có cùng đặc điểm như trên
Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu về hàng giả nhưng chưa mang tính tổng thể và hệ thống đối với công tác quản lý vềchống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ Do vậy, bản thân tôi chọn đề tài “ Chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ” sẽ có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn và định hướng, đưa ra một số giải pháp nhằm đạt được hiệu quả cao trong công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
1.2.Cơ sở lý luận về chống buôn bán hàng giả của lực lƣợng QLTT
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm về hàng giả
Hàng giả là một thuật ngữ để phân biệt với hàng thật, là hiện tượng và luôn tồn tại với quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa Thuật ngữ hàng giả được
sử dụng với những ý nghĩa khác nhau Từ góc độ của khoa học và ngôn ngữ, cụm
từ hàng giả trái với quy định của pháp luật có nghĩa là hàng cấm sản xuất và buôn bán trên thị trường
Trang 17Trong nền kinh tế phát triển và hội nhập trên toàn thế giới nói chung và đối với Việt Nam nói riêng, chưa kiểm soát được hết việc sản xuất và buôn bán hàng giả Vì giá trị kinh tế mà hàng giả mang lại cho các tổ chức, thương nhân cố tính buôn bán hàng giả là rất lớn Do đó, để kiểm soát và giảm thiểu đến mức tối đa các hoạt động trên đã có nhiều nước trên thế giới đề ra các đạo luật, các quy định về cấm sản xuất, buôn bán hàng giả Tại Việt Nam đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về hoạt động chống sản xuất và buôn bán hàng giả, đưa ra các khái niệm cơ bản đã đáp ứng được đầy đủ các nội dung, thông tin và dễ hiểu về hàng giả Cụ thể như:
Theo khoản 8 Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính Phủ quy định xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Quy định hàng giả gồm:
- Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;
- Hàng hóa có hàm lượng định lượng chất chính hoặc tổng các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
- Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
- Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố
áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì của thương nhân khác;
- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;
Trang 18- Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005;
- Tem, nhãn, bao bì giả
Theo khoản 5 Điều 31 Nghị định số 119/2017/NĐ-CP ngày 01/11/2017 của Chính Phủ quy định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa Quy định:
- Hàng hóa gắn nhãn hàng hóa giả gồm hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì của thương nhân khác; hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa
Theo quy định của pháp luật, tại Điều 213 Luật sở hữu trí tuệ năm 2015 đưa ra khái niệm về hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ Cụ thể như sau:
- Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu) quy định tại khoản 2 Điều này và hàng hoá sao chép lậu quy định tại khoản
3 Điều này
- Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của
tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý
- Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan
Như vậy, từ những nội dung trên hàng giả được hiểu như sau: Hàng giả là
những sản phẩm, hàng hóa được sản xuất, đóng gói, gia công, nhập khẩu đưa ra thị trường tiêu thụ, buôn bán trái quy định của pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hóa được Nhà nước cho phép sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường hoặc hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa;
có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;Tem, nhãn, bao bì giả của thương nhân khác
Trang 191.2.1.2 Khái niệmvề chống buôn bán hàng giả
Theo quy định của Chính Phủ, tại khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại 2005 “ Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận” ( 2005, trang 2) Trong đó có nêu “ Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các
hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác” (2005, trang 2)
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định “ Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời” (
2014, trang 2)
Trong các quy định hiện hành cũng như trong thực tiễn cuộc sống, các thuật ngữ thường được dùng như “ kinh doanh”, “ buôn bán” và “ mua bán” thường được hiểu theo chung một nghĩa Do đó, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tiếp cận khái niệm “ Buôn bán” là hoạt động mua, bánhàng hóa nói chung gắn liền với các hoạt động mua vào, bán ra hàng hóa trên thị trường nhằm mục đích sinh lời của các chủ thể trong quá trình buôn bán
Theo đó, Buôn bán hàng giảđược hiểu là hoạt động mua vào, bán ra hàng giả
nhằm mục đích sinh lời của các chủ thể trong quá trình buôn bán Buôn bán hàng giả
là quá trình phân phối hàng giả ra thị trường từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng
Chống buôn bán hàng giả được thực hiện dựa trên quyền lực của Nhà nước, quản lý thông qua các bộ, ngành từ trung ương đến địa phương Đó là hoạt động mang tính cưỡng chế nhằm đạt được mục tiêu mà nhà nước đề ra
“ Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng, điều hành, chi phối để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định”(Phan Huy Đường, 2012, trang 27)
“ Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức, có mục đích của nhà nước lên các hoạt động kinh tế để sử dụng có hiệu quả tiềm năng, các nguồn lực, các
cơ hội nhằm đạt được mục tiêu trước mắt và lâu dài của nền kinh tế - xã hội” ( Phan Huy Đường, 2012, trang 63)
Trang 20Theo đó,Chống buôn bán hàng giảđược hiểu làhoạt động quản lý của Nhà
nước về kinh tế, thực hiện thông qua các quy định của pháp luật hiện hành, các lực chức năng tác động đến các yếu tố, các đối tượng và các hoạt động mua vào, bán ra hàng giả trái với quy định của pháp luật của các chủ thể trong quá trình buôn bán hàng giả trên thị trường nhằm bảo vệ quyền lợi, lợi ích của các thương nhân kinh doanh chân chính và bảo vệ sức khỏe cộng đồng
1.2.2 Vai trò của công tác chống buôn bán hàng giả của Quản lý thị trường
Trong tình hình kinh tế Việt Nam đang mở cửa hội nhập sâu rộng như hiện nay, đặc biệt là quá trình toàn cầu hóa đang phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực Tình trạng buôn bán hàng giả đang là một trong những thách thức lớn đối với công tác quản
lý của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta Nó có tác hại to lớn đến nền kinh tếnhất là các nước đang phát triển Chính vì vậy, công tácphòng, chống buôn bán hàng giả càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết
Để bảo vệ lợi ích của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước sản xuất, kinh doanh chân chính, bảo vệ sức khỏe và quyền lợi của người tiêu dùng Lành mạnh hóa môi trường kinh doanh của các nhà đầu tư, làm giảm thiệt hại về kinh tế, hao tổn về nguồn thu của quốc gia do hàng giả gây ra Theo quy định của pháp luật hiện nay, các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp tham gia chống buôn bán hàng giả gồm: Lực lượng Quản lý thị trường; Công an nhân dân; Hải quan; Bộ đội Biên phòng;Cảnh sát biển; Thanh tra chuyên ngành Công thương, Y tế, Khoa học – Công nghệ, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Văn hóa, thể thao và Du lịch
Quá trình thực hiện nhiệm vụ tùy theo tính chất hoặc đặc thù vụ việc, các lực lượng có thể chủ động tổ chức công tác phòng chống, ngăn chặn, kiểm tra và xử lý đối với hoạt động buôn bán hàng giả hoặc phối hợp liên ngành tổ chức thực hiện theo quy định nhằm đạt được kết quả cao nhất Công tác phối hợp giữa các lực lượng được thực hiện theo chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt như: Chương trình kiểm tra cao điểm đối với hàng giả hoặc Kế hoạch kiểm tra chuyên đề đối với hoạt động kinh doanh lưu thông hàng giả trên thị trường… hoặc kiểm tra Đột xuất theo từng trường hợp vụ việc cụ thể
Trong thị trường nội địa với chức năng nhiệm vụ được giao, lực lượng Quản lý thị trường trực thuộc Bộ Công thương là lực lượng chính, chủ công trong công tác
Trang 21chống buôn bán hàng giả Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và đảm bảo ổn định tình hình thị trường trong nước, lực lượng QLTT đã thường xuyên tổ chức kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các hành vi vi phạm trong những lĩnh vực khác theo quy định Đồng thời qua công tác kiểm tra, nắm bắt địa bàn thường xuyên tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật, các quy định mới của Đảng và Nhà nước liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đến các thương nhân Qua đó khích lệ các thương nhân hoạt động kinh doanh chân chính, hướng dẫncách phân biệt hàng thật và hàng giả của một số mặthàng xuất hiện trên thị trường
và những tác hại, ảnh hưởng của việc sử dụng hàng giả đến sức khỏe và quyền lợi của người tiêu dùng
1.2.3 Nội dung công tác chống buôn bán hàng giả của Quản lý thị trường
Để kiểm tra, kiểm soát và xử lý được tình trạng buôn bán hàng giả, Nhà nước thông qua các quy định của pháp luật như:Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật Thương mại, Luật Dân sự, Nghị định, Thông tư… được ban hành để chủ động phòng, chống các hành vi buôn bán hàng giả trên thị trường nhằm xử lý, ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi tình trạng trên
Chống buôn bán hàng giả là hoạt động quản lý của Nhà nước về kinh tế, đó là hoạt động quản lý về quá trình buôn bán và tiêu thụ hàng hóa trên thị trường được thực hiện một cách liên tục và thông suất Cụ thể như sau:
Thứ nhất, về lãnh đạo, chỉ đạo và xây dựng kế hoạch: Thực hiện công tác lãnh
đạo, chỉ đạo, xác lập hoàn thiện các văn bản pháp lý và xây dựng kế hoạch, phương án
để thực hiện công tác chống buôn bán hàng giả trên địa bàn cấp tỉnh
Thứ hai, về tổ chức thực hiện công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản
lý thị trường cấp tỉnh gồm có:
- Tổ chức lực lượng thực hiện công tác chống buôn bán hàng giả như: Ổn định
tổ chức, sắp xếp, luân chuyển và điều động cán bộ, công chức trong đơn vị đúng với trình độ chuyên môn, năng lực và sở trường công tác Tiến hành bổ nhiệm những công chức có năng lực, trình độ chuyên môn về chống buôn bán hàng giả và có bản lĩnh về chính trị vào vị trí lãnh đạo các Phòng ban, các Đội QLTT trực thuộc như Phòng
Trang 22Thanh tra – Pháp chế, Phòng Nghiệp vụ - Tổng hợp hay Đội Chống sản xuất và buôn bán hàng giả Thường xuyên tiến hành khen thưởng, động viên và tuyên dương những cán bộ, công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Bên cạnh đó, cũng kịp thời phát hiện, uốn nắn và kỉ luật nghiêm minh đối những công chức vi phạm quy định của pháp luật cũng như quy chế ngành
- Công tác tổ chức kiểm tra, xử lý vi phạm về buôn bán hàng giả như: Trinh sát, nắm bắt địa bàn, thu thập thông tin và thẩm tra, xác minh thông tin trước khi đề xuất kiểm tra; Tập trung tổ chức kiểm tra, kiểm soát thị trường theo văn bản chỉ đạo của cấp trên, kế hoạch định kỳ, kế hoạch kiểm tra chuyên đề đã được Cục QLTT phê duyệt
và kiểm tra theo đề xuất của cán bộ quản lý địa bàn đề xuất kiểm tra khi phát hiện thấy các dấu hiệu vi phạm hay hành vi vi phạm của các thương nhân kinh doanh trên địa bàn quản lý Việc thực hiện kiểm tra, xử lý vi phạm phải theo đúng quy trình, quy định của pháp luật và theo quy chế ngành
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ về chống buôn bán hàng giả; nâng cao chất lượng cán bộ, công chức theo đúng vị trí việc làm và đáp ứng được các yêu cầu trong tình hình mới như trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, đạo đức nghề nghiệp Đào tạo, bồi dưỡng việc sử dụng công nghệ thông tin áp dụng vào công việc chống buôn bán hàng giả trên mạng
- Công tác đánh giá, dự báo tình hình thị trường liên quan đến hoạt động chống buôn bán hàng giả trong tình hình kinh tế mở cửa và hội nhập sâu rộng như hiện nay
Dự báo trước được các phương thức, thủ đoạn mới của các đối tượng buôn bán hàng giả để chủ động có các giải pháp phòng chống và ngăn chặn
- Công tác tham mưu, kiến nghị, đề xuất đối với các cấp, ngành, lĩnh vực liên quan đến công tác chống buôn bán hàng giả về ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản, chương trình, kế hoạch sát với thực tế và phù hợp với tình hình mới Đặc biệt là trong công tác chỉ đạo, định hướng, hướng dẫn liên quan đến hoạt động kiểm tra, xử lý của lực lượng QLTT về buôn bán hàng giả
- Công tác tuyên truyền chống buôn bán hàng giả nhằm nâng cao hiểu biết, ý thức trách nhiệm của các thương nhân kinh doanh, người tiêu dùng và các cơ quan chức năng về tác hại của việc buôn bán và sử dụng hàng giả Đồng thời tuyên truyền
Trang 23người dân tích cực tham gia tố giác các đối tượng buôn bán hàng giả trên địa bàn Đây được coi là nội dung chính đối với công tác chống buôn bán hàng giả của lực lượng quản lý thị trường nhằm nâng cao ý thức và nhận thức của người dân Qua đó, sẽ giảm được tình trạng buôn bán hàng giả trên thị trường một cách tích cực và hiệu quả
- Trang bị cơ sở vật chất, cơ sở dữ liệu, điều kiện làm việc đối các phòng, các Đội QLTT và cán bộ, công chức trong toàn lực lượng nhằm đáp ứng yêu cầu và tính chất của công việc Tính chất công việc ngày càng cần đến các trang thiết bị đặc biệt, chuyên dụng để phục vụ công tác kiểm tra, xử lý vi phạm về hàng giả
- Công tác phối hợp chống buôn bán hàng giả: Phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan trong quá trình kiểm tra, xử lý về buôn bán hàng giả; sự hợp tác với các Doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa, các Hiệp hội làng nghề và người tiêu dùng.Việc phối kết hợp giữa các cơ quan, tổ chức càng chặt chẽ và thường xuyên
sẽ mang lại hiệu quả đối với công tác chống buôn bán hàng giả
Thứ ba,về thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện công tác chống buôn
bán hàng giả của Quản lý thị trường
Việc thanh tra, kiểm tra và giám sát được lên kế hoạch từ đầu năm và có nội dung cụ thể đối với từng đơn vị như: thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định của pháp luật cũng như quy chế của ngành đối với hoạt động công vụ; kiểm tra, giám sát việc thực hiện văn bản chỉ đạo, chỉ tiêu kế hoạch giao hàng năm, kế hoạch kiểm tra định kỳ và chuyên đề đã được Cục QLTT cấp tỉnh phê quyệt; việc thực hiện quy trình kiểm tra, xử lý vi phạm, hồ sơ, ấn chỉ của vụ việc kiểm tra sau khi đã được hoàn thiện
Qua công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát đối với các đơn vị trực thuộc để kịp thời phát hiện các sai sót, uốn nắn nhắc nhở, tổ chức rút kinh nghiệp và xử lý theo quy định đối với những tập thể, cá nhân vi phạm các quy định của pháp luật cũng như quy chế của ngành
1.2.4 Tiêu chí đánh giá đối với công tác chống buôn bán hàng giả
Hiểu quả công tác chống buôn bán hàng giả của lực lượng QLTT được đo lường quan hệ thống các tiêu chí như sau:
Thứ nhất, Hệ thống tiêu chí phản ánh việc lãnh đạo, chỉ đạo và xây dựng các
kế hoạch, phương án, văn bản chỉ đạo về công tác chống buôn bán hàng giả như: Số
Trang 24lượng các văn bản chỉ đạo, kế hoạch thực hiện về chống buôn bán hàng giả; chất lượng của văn bản được ban hành phải đảm bảo được tính kịp thời, đầy đủ và toàn diện
Thứ hai, Hệ thống các tiêu chí đánh giá việc tổ chức thực hiện công tác chống
buôn bán hàng giả Cụ thể như sau:
- Về tổ chức lực lượng: Số lượng cán bộ, công chức tăng hoặc giảm hàng năm;
số lượng công chức luân chuyển, điều động; số lượng các đơn vị được sát nhập ; cơ cấu số lượng lao động tại các Phòng, Đội QLTT trực thuộc
- Về kiểm tra, xử lý vi phạm đối với hoạt động buôn bán hàng giả:Số lượng các
vụ việc được kiểm tra, xử lý; số tiền phạt vi phạm hành chính; trị giá hàng hóa tịch thu, tiêu hủy đối với các hành vi vi phạm về buôn bán hàng giả
- Về đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ: Số lượt tổ chức mở lớp đào tạo, bồi dưỡng
về chuyên môn nghiệp vụ; số cán bộ, công chức được cử tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng Những kết quả đạt được từ đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về chống buôn bán hàng giả
- Về công tác đánh giá, dự báo tình hình: Dựa trên kết quả kiểm tra, xử lý vi phạm và tình hình, diễn biến của thị trường đưa ra các đánh giá, dự báo tình hình trong thời gian tới, từ đó ban hành các phương án, kế hoạch, chỉ tiêu kiểm tra hàng năm cần thực hiện; đánh giá các tác động của thị trường, dự báo nhu cầu của người tiêu dùng,
số lượng các mặt hàng bị làm giả có nhu cầu tăng, giảm qua các năm
- Về công tác tham mưu đối với hoạt động chống buôn bán hàng giả: Số lượng các văn bản chỉ đạo được ban hành của UBND tỉnh, Ban chỉ đạo 389 tỉnh ; số lượng các văn bản đề xuất sửa đổi, bổ sung và thay thế các nghị định, thông tư còn hạn chế, bất cập và khó áp dụng trong quá trình thực hiện
- Về công tác tuyên truyền đối với hoạt động chống buôn bán hàng giả: Số lượng các tin bài, phóng sự về chống buôn bán hàng giả; các đợt tuyên truyền thông qua hội nghị, hội thảo; các cuộc vận động ký cam kết không buôn bán giả, hàng kém chất lượng, hàng không đảm bảo an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn
- Về trang thiết bị, cơ sở vật chất và điều kiện làm việc đối với công tác chống buôn bán hàng giả: Số lượng các máy móc, trang thiết thị được đầu tư mua sắm, các
Trang 25test thử nhanh phục vụ công tác kiểm tra, xử lý; số lượng các đơn vị được xây dựng trụ
sở làm việc; phương tiện phục vụ công tác kiểm tra và xử lý vi phạm
- Về công tác phối hợp đối với hoạt động chống buôn bán hàng giả: Kết quả thực hiện thông qua phối hợp giữa các lực lượng chức năng trong việc triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của cấp trên; Số vụ việc được phối hợp tiến hành kiểm tra, xử
lý vi phạm; kết quả phối hợp giữa các lực lượng chức năng với các doanh nghiệp và người tiêu dùng đối với hoạt động chống buôn bán hàng giả
Thứ ba, Hệ thống tiêu chí về hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát đối với
công tác chống buôn bán hàng giả của Cục QLTT: Kết quả, tiến độ thực hiện kế hoạch
đã được phê duyệt; việc chấp hành các nội quy, quy trình kiểm tra theo quy định của pháp luật cũng như quy chế của ngành đối cán bộ, công chức tham gia công tác chống buôn bán hàng giả
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác chống buôn bán hàng giả
Việt Nam đang là một trong các nước có nền kinh tế phát triển nhanh và hội nhập với nhiều quốc gia trên thế giới Do đó, công tác chống buôn bán hàng giả càng trở nên khó khăn hơn bao giờ hết, cần có sự tham gia chung tay của toàn xã hội từ cơ quan quản lý, các tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng Hiện naytừ tình hình thực tế có một số nhân tố ảnh hưởng tới công tác chống buôn bán hàng giả như:
1.2.5.1 Công tác quản lý của các cơ quan Nhà nước đối với hàng giả
Trong quá trình hội nhập, mở rộng hợp tác đầu tư, phát triển về kinh tế như hiện nay, trình độ quản lý của các cơ quan Nhà nước còn nhiều hạn chế về mặt chuyên môn, hệ thống pháp luật mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chưa hoàn chỉnh
và theo kịp với tốc độ phát triển nhanh trên nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, thông tin liên lạc Đây cũng là những tác nhân để các tổ chức, cá nhân lợi dụng kẽ hở của pháp luật và công tác quản lý của Nhà nước để tiến hành hoạt động sản xuất và buôn bán hàng giả thu lời bất chính và làm giảm niềm tin của người tiêu dùng
Công tác quản lý của Nhà nước còn nhiều bất cập, chưa hoàn thiện, chưa sát tình hình thực tế trong việc ban hành các chính sách, văn bản pháp luật; công tác thông tin, tuyên truyền chưa thường xuyên Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan
Trang 26quản lý trong công tác phòng chống, đấu tranh, kiểm tra và xử lý vi phạm về buôn bán hàng giả còn nhiều hạn chế; sự chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương chưa được sát sao
“ Trình độ quản lý trong công tác kiểm soát hàng nhập khẩu, kiểm tra sau thông quan và chống buôn lậu nguồn hàng giả từ nước ngoài xâm nhập vào thị trường trong nước không được quan tâm đúng mức sẽ khó khăn trong việc ngăn chặn từ gốc hàng giả nhập khẩu lưu thông trên thị trường Năng lực xây dựng kế hoạch và ban hành các
cơ chế chính sách yếu kém sẽ tạo ra hành lang pháp lý không cụ thể, mục tiêu không
rõ ràng làm cho những cán bộ QLTT khó khăn khi thực thi nhiệm vụ và người tiêu dùng hoang mang, lo lắng khi tiêu dùng hàng hóa ngoài thị trường” ( Đỗ Văn Tính,
2016, trang 29)
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác chống buôn bán hàng giả Người cán bộ quản lý có trình độ học vấn, có kiến thức chuyên môn và quản lý sẽ tiếp cận được những tri thức mới, có khả năng tư duy sáng tạo, tiếp thu nhanh các chính sách của Chính phủ, nắm rõ được vai trò, nhiệm vụ của cơ quan, của bản thân để từ đó lập kế hoạch thực hiện, triển khai chính sách xuống cơ sở, nắm bắt nhanh tình hình của địa phương và qua đó đưa ra những giải pháp cụ thể kịp thời trong mỗi tình huống, qua đó có những ứng xử trách nhiệm với công việc được giao
1.2.5.2 Công tác phối hợp
Công tác phối hợp giữa các lực lượng chức năng trên địa bàn; giữa các lực lượng tại cửa khẩu, biên giới với nội địa và giữa cơ quan quản lý Nhà nước với các doanh nghiệp chưa thường xuyên và thiếu tính đồng bộ; trong quá trình kiểm tra kiểm soát chưa chặt chẽ và có nhiều chồng chéo dẫn đến công tác chống buôn bán hàng giả đạt kết quả không cao
Để ngăn chặn kịp thời và tiến tới đẩy lùi được hoạt động buôn bán giả, cần có
sự phối hợp chung tay vào cuộc của các Bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương, giữa các lực lượng chức năng liên quan Do đặc tính hoạt động của sản xuất, buôn bán hàng giả xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề và mặt hàng Cho nên công tác phối hợp phải được thực hiện thường xuyên, liên tục mới có thể ngăn chặn và kiểm soát được hàng giả không có cơ hội lưu thông trên thị trường
Trang 27“ Trong đấu tranh chống hàng giả, công tác phối hợp quan trọng nhất là phối hợp với các doanh nghiệp có hàng hóa bị làm giả, bị xâm phạm Hơn ai hết, doanh nghiệp có hàng hóa vi phạm có đầy đủ các thông tin, tiêu chí mang tính kỹ thuật để xác định hàng giả cũng như cung cấp thông tin, các dấu hiệu vi phạm để trinh sát, điều tra, xác định dấu hiệu vi phạm làm căn cứ xử lý” ( Vũ Minh Hải, 2015, trang 24) 1.2.5.3 Nhận thức và tâm lý của người kinh doanh, người tiêu dùng
Nhận thức và tâm lý của người kinh doanh và người tiêu dùng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới công tác quản lý của nhà nước đối với hoạt động chống buôn bán hàng giả của các cơ quan chức năng, trong đó có lực lượng Quản lý thị trường
Trên thị trường hiện nay, có cùng một loại sản phẩm, hàng hóa nhưng lại có rất nhiều đơn vị sản xuất, kinh doanh khác nhau từ hàng nội địa đến hàng nhập khẩu Do vậy nhiều tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu hàng hóa đã lợi dụng yếu
tố này để ghi trên nhãn sản phẩm những thông tin gây nhầm lẫn đối với người tiêu dùng như về công dụng, hàm lượng, chất lượng làm cho người tiêu dùng rất khó phân biệt đâu là mặt hàng uy tín và đảm bảo chất lượng Bên cạnh đó, người tiêu dùng chưa chủ động tìm hiểu và hiểu biết được các thông tin về sản phẩm, tác hại của việc
sử dụng hàng giả sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, quyền lợi và lợi ích của mình; qua đó phần nào đã vô tình tiếp tay, tạo cơ hội cho hoạt động buôn bán hàng giả ngày càng có cơ hội phát triển, làm ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế nước ta
Đối với người kinh doanh:
Một trong những nhân tố ảnh hưởng quan trọng thúc đẩy quá trình sản xuất, buôn bán hàng giả là việc cạnh tranh của các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngày càng trở nên khó khăn, phức tạp và gay gắt hơn bao giờ hết Nó mang tính sống còn đối với các doanh nghiệp, hộ cá thể nếu không đủ khả năng tham gia vào quá trình thị trường hóa toàn cầu như hiện nay Do đó một số những doanh nghiệp, cá nhân không có khả năng
về kinh tế để đầu tư và đủ điều kiện để cạnh tranh theo định của pháp luật, nên đã tìm mọi cách và các thủ đoạn khác nhau để cạnh tranh không lành mạnh, bất chấp tất cả để đạt được mục tiêu lấy lợi nhuận bằng mọi giá Bởi vậy họ không có ý thức trách nhiệm xây dựng văn hóa kinh doanh, không tôn trọng quyền lợi của người tiêu dùng, đạo đức
Trang 28nghề nghiệp và không chấp hành các quy định của pháp luật dẫn đến hoạt động buôn bán hàng giả diễn ra dưới mọi hình thức và trên nhiều lĩnh vực
“ Một số doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm, lợi ích phát triển trong việc tự bảo vệ sản phẩm của mình tránh bị làm nhái, làm giả Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật đến người tiêu dùng trong cuộc chiến chống buôn bán hàng giả chưa tốt và chưa đến tận người dân Nhiều nhà sản xuất không mạnh dạn tuyên chiến với nạn hàng giả, vô hình chung góp phần gây khó khăn cho người tiêu dùng; người tiêu dùng sẽ thiếu thông tin về hàng thật, hàng giả; có nhiều doanh nghiệp không dám tiết lộ thông tin vì sợ người tiêu dùng khi biết được thông tin sản phẩm bị làm giả sẽ bỏ thương hiệu của mình mà mua hàng của thương hiệu khác” ( Nguyễn Quốc Cường, 2014, trang 19)
Hoạt động buôn bán hàng giả càng gia tăng nhiều hơn đối với những khu vực
mà Việt Nam có tuyến đường tiếp giáp với các nước có biên giới chung cả trên đất liền
và trên biển Tiêu biểu nhất là những tỉnh có tiếp giáp với Trung Quốc như: tỉnh Lạng Sơn, tỉnh Lào Cai, tỉnh Quảng Ninh Thông qua chính sách ưu đãi hoạt động thương mại biên giới, địa hình có nhiều lối mòn và cửa khẩu mà những người dân sống tiếp giáp với Trung Quốc phần nào tiếp tay vận chuyển hàng hóa kém chất lượng, hàng giả vào địa phận Việt Nam rồi từ đó thông qua các thương nhân chuyển sâu vào trong nội địa tiêu thụ Những đối tượng kinh doanh bất chính vì mục đích lợi nhuận nên đã tiếp tay cho hoạt động buôn bán hàng giả Bên cạnh đó công tác tuyên truyền phổ biến đến các thương nhân và người dân chưa được chú trọng, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao Do đó tạo ra rất nhiều khó khăn trong công tác phòng chốngvà xử lý vi phạm về buôn bán hàng giả tại các tỉnh tiếp giáp biên giới nói chung và cả nước nói riêng
“ Trung Quốc, Singgapo, Thái Lan, Đài Loan và các nước trong khu vực có nền kinh tế hàng hóa phát triển hơn Sự mở cửa thị trường, tự do hàng hóa, mở rộng lưu thông mậu dịch, xóa bỏ hàng rào thuế quan với các đối tác này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất, buôn bán hàng giả, gây nên sức ép lớn đối với thị trường Việt Nam” (Nguyễn Quốc Cường, 2014, trang 21)
Đối với người tiêu dùng:
Trong việc lựa chọn, sử dụng các sản phẩm, hàng hóa trên thị trường, một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng có tâm lý sử dụng hàng giá rẻ, hợp thời trang như:
Trang 29quần áo, giầy dép, rượu, mỹ phẩm đặc biệt là những người dân thích dùng hàng ngoại Đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng và tạo cơ hội, môi trường thuận lợi cho hoạt động buôn bán hàng giả mạo nhãn mác nước ngoài được nhập khẩu và lưu thông trên thị trường Việt Nam Hàng giả thường được bán với giá rẻ và thậm chí là rất rẻ so với hàng thật, do vậy nó đã tác động vào đúng tâm lý của một số người tiêu dùng có nhu cầu muốn được sử dụng Đặc biệt nó được tiêu thụ nhiều tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, người có thu nhập thấp và thiếu thông tin về hàng hóa
1.3 Kinh nghiệm trong công tác chống buôn bán hàng giả của lực lượng Quản lý thị trường tại một số tỉnh, thành phố
Với đặc điểm địa hình là tỉnh trung du miền núi phía bắc của Việt Nam, nằm sâu trong nội địa, Phú Thọ có nhiều con đường bộ nối liền với các tỉnh như: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Sơn La, Yên Bái, Tuyên Quang Do đó để đạt hiệu quả cao trong công tác phòng chống buôn bán hàng giả luôn là những thách lớn đối với cơ quan quản lý Ngoàinhững kết quả đạt được từ công tác chống buôn bán hàng giảnói riêng tại tỉnh Phú Thọ thìcông tác phòng chống buôn bán hàng giả nói chung tại một
số tỉnh thành trên cả nước có những bài học và kinh nghiệm mang lại hiệu quả khác nhau Để hoàn thành tốt mục tiêu đặt ra và đạt được hiệu quả cao hơn trong công tác chống buôn bán hàng giả, ta tìm hiểu kinh nghiệm có được từ một số tỉnh, thành phố
có đặc điểm về địa lý và điều kiện kinh tế – xã hội tương đồng với tỉnh Phú Thọ
1.3.1 Kinh nghiệm công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc,toàn tỉnh có 6 huyện, 5 thị trấn và 1 thành phố Trong những năm gần đây đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế, chính trị và xã hội Do đó, đã tập trung và thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến mở cơ sở sản xuất và kinh doanh trên địa bàn Bởi vậy, lượng hàng hóa bày bán trên thị trường tỉnh Tuyên Quang luôn đa dạng về chủng loại, phong phú về mẫu mã, đã phần nào đáp ứng được nhu cầu, thị yếu của người tiêu dùng
Trong những năm qua Cục Quản lý thị trường tỉnh Tuyên Quang đã quán triệt
và đẩy mạnh việc thực hiện công tác chống buôn bán hàng giả trên địa bàn toàn tỉnh Qua đó,Cục QLTT tỉnh Tuyên Quang có nhiều kinh nghiệm quý giá tổng hợp từ thực tiễnmà Cục QLTT tỉnh Phú Thọ có thể học hỏi và áp dụng
Trang 30Kết quả kiểm tra, xử lý của Cục QLTT tỉnh Tuyên Quang năm 2018:
+ Tổng số vụ kiểm tra: 772 vụ Trong đó xử lý vi phạm: 543 vụ
+ Tổng số tiền thu nộp NSNN: 1.369.444 triệu đồng
Trong đó:
- Phạt vi phạm hành chính: 983.016 triệu đồng
- Trị giá hàng tịch thu: 386.428 triệu đồng
+ Trị giá hàng tiêu hủy: 290.647 triệu đồng
Để thực hiện tốt công tác phòng, chốnghoạt động buôn bán hàng giả, Cục Quản
lý thị trường tỉnh Tuyên Quang đã chủ động phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên thị trường để hướng dẫn cách nhận biết, phân biệt hàng thật - hàng giả nhằm đảm bảo lợi ích của các nhà sản xuất, kinh doanh và quyền lợi của người tiêu dùng như: Công ty Aji - No - Moto chuyên sản xuất mặt hàng bột ngọt, hạt nêm; Công ty liên doanh Unilever Việt Nam chuyên sản xuất mặt hàng bột giặt, dầu gội đầu; Đại diện của nhãn hiệu Adidas, Nike chuyên sản xuất giày dép Đây là yếu tố quan trọng để sớm phát hiện hàng giả trên thị trường, cũng như qua đó giúp đẩy nhanh quá trình xác minh thông tin về hàng giả, phục vụ công tác kiểm tra,
xử lý được thực hiện nhanh và chính xác
Không những vậy công tác phối hợp giữa Cục QLTT tỉnh Tuyên Quang với các
cơ quan liên quan như: Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học
và Công nghệ, lực lượng Công an đối với công tác chống buôn bán hàng giả luôn được thực hiện một cách nghiêm túc, chuyên nghiệp và hiệu quả
Công tác chống buôn bán hàng giả luôn chủ động triển khai, thực hiện thường xuyên, liên tục thông qua các kế hoạch kiểm tra chuyên đề như: Kế hoạch kiểm tra chuyên đề về hàng giả trong dịp trước, trong và sau tết Nguyên đán; các lĩnh vực, mặt hàng quản lý Tạo ra hiệu quả cao trong công tác kiểm tra đúng trọng tâm, trọng điểm; kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm về hoạt động buôn bán hàng giả
Trong công tác chống buôn bán hàng giả Cục QLTT tỉnh Tuyên Quang luôn chú trọng làm tốt công tác dự báo, phân tích, đánh giá tình hình thị trường; nắm bắt thông tin để kịp thời phát hiện các hoạt động về buôn bán hàng giả, qua đó phòng chống và ngăn chặn các tác động xấu, các yếu tố tiêu cực tác động đến thị trường trong
Trang 31nước, đồng thời tìm ra quy luật hoạt động, các phương thức, thủ đoạn mới của các đối tượng để chủ động đấu tranh, ngăn chặn, kiểm tra và xử lý đối với các hành vi về buôn bán hàng giả
1.3.2 Kinh nghiệm công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc và Phú Thọ tiền thân trước đây cùng chung một tỉnh với tên gọi là tỉnh Vĩnh Phú Trải qua một số lần sát nhập rồi tách tỉnh, hiện nay tình hình kinh tế của Vĩnh Phúc có nhiều bước phát triển tích cực Đặc biệt là việc thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào tỉnh trong thời gian vừa qua Do đó về cơ bản tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ có nhiều điểm tương đồng nhau như: đặc địa lý tự nhiên; kinh tế - văn hóa
Cùng với sự phát triển về kinh tế trong những năm vừa qua, Vĩnh Phúc được biết đến với những cơ sở sản xuất, đóng gói, buôn bán hàng giả nhỏ lẻ trong nội địa Việt Nam Điển hình như các loại bột ngọt giả nhãn hiệu Aji – No – Moto; hạt nêm, dầu gội đầu giả nhãn hiệu Unilever Do đó trong những năm qua công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Phúc đã có những thay đổi đáng kể để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước trước tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả của các đối tượng muốn làm giàu bất chính thông qua những phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi
Kết quả kiểm tra, xử lý của Cục QLTT Vĩnh Phúc năm 2018:
+ Tổng số vụ kiểm tra: 1.401 vụ Trong đó xử lý vi phạm: 474 vụ
+ Tổng số tiền thu nộp NSNN: 1.742.731.000 đồng
Trong đó:
- Phạt i phạm hành chính: 1.255.160.000 đồng
- Tiền bán hàng tịch thu: 487.571.000 đồng
+ Trị giá hàng tiêu hủy: 349.064.000 đồng
Đạt được kết quả như trên Cục QLTT tỉnh Vĩnh Phúc luôn xác định công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả là nhiệm vụ, mục tiêu hàng đầu để đảm bảo ổn định thị trường hàng hóa, thu hút vốn đầu tư, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và lành mạnh Bởi vậy, Cục QLTT tỉnh Vĩnh Phúc thường xuyên bám sát các văn bản chỉ đạo
Trang 32của Tổng cục QLTT; các cấp Đảng ủy, chính quyền địa phương để từ đó đề ra mục tiêu, kế hoạch, công tác kiểm tra, xử lý vi phạm đúng trọng tâm, trọng điểm nhằm đạt được các tiêu chí và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Tăng cường sự đồng tình, quan tâm, ủng hộ của nhân dân, các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hộitrong công tác chống buôn bán hàng giả
Để phòng chống và đẩy lùi được hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả trên thị trường Cục QLTT tỉnh Vĩnh Phúc xác định hàng giả phải được triệt tiêu tận gốc, nơi xuất hiện đầu tiên của hàng giả trước khi được đưa ra thị trường tiêu thụ, nghĩa là nhiệm vụ của lực lượng QLTT phải tìm ra nơi sản xuất, chế biến, đóng gói và nơi phân phối, buôn bán hàng giả để đấu tranh, phòng chống, ngăn chặn, kiểm tra và xử lý vi phạm Đây là một trong những yếu tố góp phần vào thành công trong công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục QLTT tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm vừa qua
Bên cạnh đó, công tác kiểm tra và xử lý vi phạm đối với hoạt động buôn bán hàng giả luôn được triển khai và thực hiện một cách nghiêm túc.Làm tốt công tác quản
lý địa bàn, theo dõi, nắm bắt và thu thập thông tin đối các cơ sở có hoạt động buôn bán hàng giả Từ đó đề xuất và lên phương án kiểm tra một cách chi tiết và cụ thể để khi tiến hành kiểm tra và xử lý vi phạm đạt được kết quả cao nhất Quá trình kiểm tra, xử
lý vi phạm được thực hiện theo đúng quy trình cũng như quy định của pháp luật để không xảy ra hiện tượng khiếu nại và khiếu nại làm ảnh hưởng đến uy tín lực lượng QLTT Qua kiểm tra, xử lý vi phạm luôn tiến hành tuyên truyền, hướng dẫn các quy định mới của pháp luật về hàng giả đến các thương nhân để họ thực hiện và không tái phạm
1.3.3 Kinh nghiệm công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội
Hà Nội là một trong những thành phố trong cả nước có tốc độ phát triển kinh tế cao, đây là nơi tập trung có nhiều thương kinh doanh nhất cả nước Do đó đảm bảo ổn định thị trường hàng hóa, kiểm soát, quản lý được hoạt động buôn bán hàng giả luôn là mục tiêu hàng đầu của lực lượng Quản lý thị trường thành phố Hà Nội
Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội là lực lượng tiên phong trong công tác phòng chống buôn bán hàng giả trên cả nước, với kết quả đạt được cao nhất cả về
Trang 33số vụ kiểm tra, số tiền xử phạt, trị giá hàng tịch thu, tiêu hủy và cả về số lượng các mặt hàng được phát hiện mang tính điển hình toàn quốc Do đó trải qua quá trình phòng chống, đấu tranh, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm về công tác chống buôn bán hàng giả trong những năm qua, Cục QLTT thành phố Hà Nội đã rút ra rất nhiều những kinh nghiệm quý giá thông qua thực tiễn mà Cục QLTT tỉnh Phú Thọ có thể học hỏi
và áp dụng Được thành lập từ năm 2004, Đội QLTT cơ động chống hàng giả (Đội QLTT số 14) là Đội chuyên trách thực hiện nhiệm vụ chống hàng giả được thành lập sớm nhất lực lượng Quản lý thị trường
Kết quả kiểm tra, xử lý của Cục QLTT Hà Nội năm 2018:
+ Tổng số vụ kiểm tra: 9.245 vụ ( Trong đó xử lý vi phạm: 8.699 vụ)
+ Tổng số tiền xử lý: 125.279 tỷ đồng
Trong đó:
- Phạt hành chính: 55.427 tỷ đồng
- Trị giá hàng tịch thu: 25.311 tỷ đồng
- Trị giá hàng tiêu hủy, chuyển đổi mục đích: 44.541 tỷ đồng
Trong đó: Kết quả kiểm tra, xử lý đối với hàng giả, hàng vi phạm SHTT:
Công tác chống buôn bán hàng giả là một trong những nhiệm vụ chính của lực lượng Quản lý thị trường mà Đảng, Nhà nước giao cho Do đó, Cục QLTT Hà Nội luôn chú trọng trong công tác tổ chức tuyển chọn, phân công, bố trí công việc phù hợp
Trang 34với chuyên môn, trình độ và năng lực của từng cán bộ, công chức nhằm phát huy những điểm mạnh phục vụ vào công việc chung của đơn vị; thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và nâng cao chất lượng công chức thi hành nhiệm
vụ chống buôn bán hàng giả
Bài học kinh nghiệm đối với Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ:
- Thường xuyên bám sát các văn bản chỉ đạo của Tổng cục QLTT; các cấp Đảng ủy, chính quyền địa phương Tăng cường sự đồng tình, quan tâm, ủng hộ của quần chúng nhân dân, các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội
- Chủ động trong công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra chuyên đề đối với các lĩnh vực, mặt hàng đã và đang có khả năng bị làm giả cao trên thị trường
- Thực hiện công tác kiểm tra, xử lý vi phạm một cách nghiêm túc, đúng quy trình và quy định của pháp luật Làm tốt công tác quản lý địa bàn để kịp thời phát hiện, lên phương án và tiến hành kiểm tra, xử lý vi phạm đạt được kết quả cao nhất
- Làm tốt công tác dự báo, phân tích và đánh giá tình hình thị trường Tìm ra các quy luật hoạt động, các phương thức và thủ đoạn mới của các đối tượng buôn bán hàng giả để từ đó chủ động có phương án ngăn chặn và xử lý kịp thời
- Chú trọng công tác tổ chức tuyển chọn, phân công, bố trí công việc phù hợp với chuyên môn, trình độ và năng lực của từng cán bộ, công chức; thường xuyên tổ chức các đợt, các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và nâng cao chất lượng công chức thực thi công vụ
- Thường xuyên tổ chức công tác tuyên truyền kiến thức về chấp hành pháp luật, tác hại của việc sử dụng hàng giả đến các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh
Trang 35CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Khung phân tích
Luận văn nghiên cứu trong phạm vi tạiCục Quản lý thị trường tỉnh Phú
Thọ.Công tác chống buôn bán hàng giả được nghiên cứu, đánh giá trong giai đoạn từ
2014-2018, qua đó đưa ra các giải pháp đối với công tác chống buôn bán hàng giả tại
Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
Tập trung phân tích thực trạng công tác phòng chống, ngăn chặn, kiểm travà xử
lý vi phạm về buôn bán hàng giả; các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ Từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị trong công tác quản lý Nhà nước vềchống buôn bán hàng giả trên thị trường, tạomôi trường cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, thúc đẩy phát
triển, ổn định kinh tế và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
2.2.Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
Có được các thông tin, số liệu mang tính thực tế khách quan và có độ tin cậy cao Nhằm phân tích, đánh giá những thuận lợi cũng như những khó khăn, hạn chế trong chống tác chống buôn bán hàng giả Việc sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu
là yếu tố quan trọng để đánh giá một cách khách quan và chính xác Là cơ sở quan trọng để đưa ra các giải pháp nhằm áp dụng vào thực tiễn đối với công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục QLTT tỉnh Phú Thọ
Qua đó tổng hợp và đưa ra những ý kiến, những giải pháp mang tính then chốt
và thiết thực nhất dựa trên kết quả nghiên cứu thực tế khách quan, nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục QLTT tỉnh Phú Thọ vừaphù hợp với các quy định của pháp luật và đáp ứng được yêu cầu thực tiễn
Nguồn số liệu phục vụ cho phương pháp thu thậpthông tin, số liệu thứ cấp để đánh giá công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục QLTT gồm:
Thu thập từ các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Thương mại, Luật xử phạt vi phạm hành chính, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư liên quan đến công tác chống buôn bán hàng giả
Trang 36Các báo cáo Tổng kết công tác Quản lý thị trường hằng năm của Cục QLTT tỉnh Phú Thọ và báo cáo Tổng kết công tác chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại của Ban Chỉ đạo 389 tỉnh Phú Thọ
Các tài liệu, sách báo, tạp chí có bài viết liên quan đến công tác phòng chống, đấu tranh, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với hoạt độngbuôn bán hàng giả; các thông tin bài viết trên mạng Internet bằng các công cụ tìm kiếm như Google, Yahoo
Các dữ liệu thứ cấp được thu thậpvà sưu tầm là các dữ liệu chính thống, đầy đủ,
có độ tin cậy cao và đảm bảo được yếu tố chuẩn xác Do đó, nó là cơ sởquan trọng để
áp dụng vào thực tiễn, đưa ra các quan điểm, nhận xét và đánh giá về công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục QLTT tỉnh Phú Thọ
2.3 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu
Từ các thông tinthu thập được tiến hành phân loại, sắp xếp tài liệu, thông tin, liên kết các yếu tố với nhau thành một chỉnh thể thống nhất để tổng hợp xây dựng cơ
sở lý luận, phân tích và đánh giá thực trạng về công tác phòng chống, ngăn chặn, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với công tác chống buôn bán hàng giả Cụ thể như sau:
Các văn bản pháp luật, báo cáo tổng hợp đánh giá công tác quản lý thị trườngcủa Cục QLTT tỉnh Phú Thọ được tổng hợp để xây dựng các cơ sở lý luận về hàng giả; công tác phòng, chốngđối với hoạt động buôn bán hàng giả Khái niệm về hàng giả, bản chất của hàng giả, tác hại của hàng giả; các phương thức, thủ đoạn buôn bán hàng giả và các nhân tố ảnh hưởng tới công tác chống buôn bán hàng giả; kinh nghiệmchống buôn bán hàng giả
Từ các số liệu như: Phân bổ chỉ tiêu theo kế hoạch kiểm tra, xử lý của các Đội QLTT thông qua số vụ xử phạt vi phạm hành chính Thông qua các số liệu thu thập được tổng hợp xây dựng các bảng số liệu thống kê theo các tiêu chí phục vụ công tác đánh giá thực trạng công tác chống buôn bán hàng giả
Qua kết quả kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2014-2018 được chia theo hành vi vi phạm về hàng giả
và địa bàn quản lý trên cơ sở các chỉ tiêu về: Số vụ kiểm tra, số vụ vi phạm, số tiền xử phạt vi phạm hành chính và trị giá hàng tịch thu
Tên hàng hóa, số lượng, chủng loại hàng giả đã phát hiện và tịch thu xử lý trong
Trang 37giai đoạn 2014-2018 được tổng hợp theo mẫu biểu hàng năm nhằm thống kê cụ thể từng loại mặt hàng bị làm giả để từ đó đưa ra các giải pháp ngăn chặn
2.4 Phương pháp phân tích
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích đi từ cái chúng tới cái riêng, kết hợp thực tế khách quan và cơ sở khoa học, tổng hợp và phân tích các dữ liệu, thông tin để đưa ra nhận xét, đánh giá đối với công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục QLTT tỉnh Phú Thọ
Thực hiện trên cơ sở tổng hợp các số liệu và phân tích các thông tin Phương pháp được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu của luận văn dựa trên cơ sở các tài liệu, thông tin được thu thập và tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau để tiến hành phân loại, phân tích chúng thành từng phần mục Sau đó liên kết từng dữ liệu và từng phần mục thông tin đã được phân tích, đánh giá từ đó rút ra những kết luận khoa học đầy đủ và thống nhất về đối tượng và nội dung cần nghiên cứu
Tổng hợp các tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài từ các nguồn khác nhau như: sách, báo, giáo trình, đề tài khoa học, báo cáo và các tài liệu khác Tài liệu sau khi tổng hợp được tiến hành nghiên cứu, đánh giá về nội dung có phù hợp và phục vụ cho đề tài nghiên cứu hay không; lựa chọn những nội dung nào của tài liệu có thể được kế thừa, cần được phân tích rõ thêm; phân tích nguồn tài liệu
có đủ tin cậy hay không.Các tài liệu sau khi phân tích sẽ được hệ thống và phân chia theo các nội dung nghiên cứu của đề tài
2.5 Phương pháp thống kê
Thống kê là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội bằng việc thống kê, mô tả thông qua các số liệu thu thập và tổng hợp được, các số liệu này có tính chuẩn xác cao và đây là cơ sở để phân tích, đánh giá thực tế khách quan Phương pháp này được sử dụng để phân tích tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ nói chung và thực trạng công tác chống buôn bán hàng giả của lực lượng Quản lý thị trường nói riêng Thông qua việc sử dụng số liệu thu thập với các mức độ khác nhau như số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân để mô tả về đặc điểm tự nhiên, kinh tế -
xã hội và kết quảđạt được từ công tác kiểm tra, xử lý vi phạm về hoạt độngbuôn bán hàng giả
Trang 38Thống kê số liệu công tác chống buôn bán hàng giảcủa Cục QLTTvề số vụ việc kiểm tra, xử lý vi phạm, số tiền xử phạt và trị giá hàng hóa tịch thu; các mặt hàng, số lượng, chủng loại bị làm hàng giả Qua đó tổng hợp,phân tích, đánh giá được kết quả thực hiện công tác chống buôn bán hàng giả và đưa ra các giải pháp triển khai trong thời gian tiếp tới của lực lượng QLTT tỉnh Phú Thọ
Thống kê chỉ tiêu về vụ việc kiểm tra, xử lý về hàng giả do Cục QLTT giao cho các Đội QLTT trực thuộc để thực hiện hàng năm và từ kết quả thực hiện đó so sánh, đánh giávới nhiệm vụ được giao, mức độ hoàn thành nhiệm vụ Qua đó đánh giá, bình xét kết quả hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ và không hoàn thành nhiệm
vụ của từng cán bộ, công chức trong từng đơn vị trực thuộc Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ
Thống kê số liệu các vụ việc kiểm tra và xử lý về hàng giả đối với công tác phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan để đánh giá thực trạng hiệu quả công tác phối hợp từ đó rút ra những kinh nghiệm vềmặt tích cựccũng như những hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới đối với công tác chống buôn bán hàng giả
2.6 Phương pháp chuyên gia
Với nội dung nghiên cứu của đề tài mang tính chuyên ngành, chuyên sâu về hàng giả; nhiều nội dung được đề cập còn chưa thống nhất, mang tính đánh giá, dự báo Bên cạnh đó, một số quy định của pháp luật còn chưa cụ thể, dễ gây ra nhiều cách hiểu, cách áp dụng khác nhau trong quá trình thực hiện Do vậy, trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giả đã tham khảo ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực hàng giả tại các cơ quan quản lýnhư: Cục QLTT, Cục Sở hữu trí tuệ, Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Hải quan
Từ các ý kiến tham khảo đã được tiếp thu, phân tích, đánh giá và đưa vào nội dung nghiên cứu một cách có chọn lọc, mang tính khoa học và bám sát với đề tài nghiên cứu Tuy nhiên, phương pháp này còn một số hạn chế đó là cách hiểu, cách vận dụng cũng như áp dụng về cùng một vấn đề hay cùng một nội dung của những chuyên gia khác nhau đôi khi chưa trùng khớp Do đó, trên cơ sở tham khảo ý kiến chuyên gia
về hàng giả cần có sự tổng hợp, phân tích và đánh giá từ đó rút ra những kết luận riêng phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Trang 39Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong quá trình nghiên cứu, xây dựng
cơ sở lý luận về chống buôn bán hàng giả và những dự báo về tình hình hoạt động buôn bán hàng giả trong thời gian tới Dự báo những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai
là một trong các yếu tố quan trọng trong công tácchốngbuôn bán hàng giả, trên cơ sở phân tích khoa học về các thông tin, dữ liệu đã thu thập và tổng hợp được từ thực tiễn
Trang 40CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CHỐNG BUÔN BÁN HÀNG GIẢTẠI CỤC QUẢN LÝ
THỊ TRƯỜNG TỈNH PHÖ THỌ
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm cơ bản của tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng miền núi, trung du Bắc Bộ Địa giới hành chính của tỉnh tiếp giáp với: tỉnh Tuyên Quang về phía Bắc, tỉnh Hòa Bình về phía Nam, tỉnh Vĩnh Phúc về phía Đông, thành phố Hà Nội về phía Đông Nam, tỉnh Sơn La và Yến Bái về phía Tây
Tỉnh Phú Thọ hiện nay có diện tích tự nhiên 3.534,6 km2, dân số trung bình toàn tỉnh năm 2018 ước tính 1.404,1 nghìn người, gồm 34 dân tộc anh em Toàn tỉnh
có 13 huyện, thành, thị với 277 xã, phường, thị trấn
Với vị trí địa lý này, Phú Thọ hội tụ các điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh
tế, giao thương với các vùng trong nước và quốc tế
Điều kiện tự nhiên
Nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng Sông Hồng và vùng Tây Bắc, Phú Thọ có vị trí địa lý mang ý nghĩa là trung tâm tiểu vùng Tây - Đông - Bắc; cách trung tâm Hà Nội khoảng 80km về phía Bắc, cách sân bay Quốc tế Nội Bài khoảng 60km Với vị trí “ ngã ba sông” điểm giao nhau củaSông Hồng, Sồng
Đà vàSông Lô, là cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà Nội, Phú Thọ là đầu mối trung chuyển, giao lưu kinh tế giữa các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và hai tỉnh Quảng Tây, Vân Nam của Trung Quốc Nằm trong vành đai của các tuyến trục giao thông quan trọng: đường bộ có Quốc lộ 2, cao tốc Nội Bài – Lào Cai, đường Hồ Chí Minh, đường sắt, đường sông chạy từ Trung Quốc qua các tỉnh phía Tây vùng Đông Bắc đều quy tụ về Phú Thọ rồi mới tỏa đi Hà Nội, Hải Phòng và các khu vực khác
Địa hình tỉnh Phú Thọ mang đặc điểm nổi bật là chia cắt tương đối mạnh vì nằm ở phần của dãy Hoàng Liên Sơn, nơi chuyển tiếp giữa miền núi cao và miền núi thấp, gò đồi, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Căn cứ vào địa hình có thể chia Phú Thọ thành hai tiểu vùng cơ bản: