Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác chống buôn bán hàng giả

Một phần của tài liệu Chống Buôn Bán Hàng Giả Tại Cục Quản Lý Thị Trường Tỉnh Phú Thọ (Trang 25 - 29)

1.2. Cơ sở lý luận về chống buôn bán hàng giả của lực lượng QLTT

1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác chống buôn bán hàng giả

Việt Nam đang là một trong các nước có nền kinh tế phát triển nhanh và hội nhập với nhiều quốc gia trên thế giới. Do đó, công tác chống buôn bán hàng giả càng trở nên khó khăn hơn bao giờ hết, cần có sự tham gia chung tay của toàn xã hội từ cơ quan quản lý, các tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng.

Hiện naytừ tình hình thực tế có một số nhân tố ảnh hưởng tới công tác chống buôn bán hàng giả như:

1.2.5.1. Công tác quản lý của các cơ quan Nhà nước đối với hàng giả

Trong quá trình hội nhập, mở rộng hợp tác đầu tư, phát triển về kinh tế như hiện nay, trình độ quản lý của các cơ quan Nhà nước còn nhiều hạn chế về mặt chuyên môn, hệ thống pháp luật mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chưa hoàn chỉnh và theo kịp với tốc độ phát triển nhanh trên nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, thông tin liên lạc... Đây cũng là những tác nhân để các tổ chức, cá nhân lợi dụng kẽ hở của pháp luật và công tác quản lý của Nhà nước để tiến hành hoạt động sản xuất và buôn bán hàng giả thu lời bất chính và làm giảm niềm tin của người tiêu dùng.

Công tác quản lý của Nhà nước còn nhiều bất cập, chưa hoàn thiện, chưa sát tình hình thực tế trong việc ban hành các chính sách, văn bản pháp luật; công tác thông tin, tuyên truyền chưa thường xuyên. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan

17

quản lý trong công tác phòng chống, đấu tranh, kiểm tra và xử lý vi phạm về buôn bán hàng giả còn nhiều hạn chế; sự chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương chưa được sát sao.

“ Trình độ quản lý trong công tác kiểm soát hàng nhập khẩu, kiểm tra sau thông quan và chống buôn lậu nguồn hàng giả từ nước ngoài xâm nhập vào thị trường trong nước không được quan tâm đúng mức sẽ khó khăn trong việc ngăn chặn từ gốc hàng giả nhập khẩu lưu thông trên thị trường. Năng lực xây dựng kế hoạch và ban hành các cơ chế chính sách yếu kém sẽ tạo ra hành lang pháp lý không cụ thể, mục tiêu không rõ ràng làm cho những cán bộ QLTT khó khăn khi thực thi nhiệm vụ và người tiêu dùng hoang mang, lo lắng khi tiêu dùng hàng hóa ngoài thị trường” ( Đỗ Văn Tính, 2016, trang 29).

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác chống buôn bán hàng giả. Người cán bộ quản lý có trình độ học vấn, có kiến thức chuyên môn và quản lý sẽ tiếp cận được những tri thức mới, có khả năng tư duy sáng tạo, tiếp thu nhanh các chính sách của Chính phủ, nắm rõ được vai trò, nhiệm vụ của cơ quan, của bản thân để từ đó lập kế hoạch thực hiện, triển khai chính sách xuống cơ sở, nắm bắt nhanh tình hình của địa phương và qua đó đưa ra những giải pháp cụ thể kịp thời trong mỗi tình huống, qua đó có những ứng xử trách nhiệm với công việc được giao.

1.2.5.2. Công tác phối hợp

Công tác phối hợp giữa các lực lượng chức năng trên địa bàn; giữa các lực lượng tại cửa khẩu, biên giới với nội địa và giữa cơ quan quản lý Nhà nước với các doanh nghiệp chưa thường xuyên và thiếu tính đồng bộ; trong quá trình kiểm tra kiểm soát chưa chặt chẽ và có nhiều chồng chéo.... dẫn đến công tác chống buôn bán hàng giả đạt kết quả không cao.

Để ngăn chặn kịp thời và tiến tới đẩy lùi được hoạt động buôn bán giả, cần có sự phối hợp chung tay vào cuộc của các Bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương, giữa các lực lượng chức năng liên quan. Do đặc tính hoạt động của sản xuất, buôn bán hàng giả xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề và mặt hàng. Cho nên công tác phối hợp phải được thực hiện thường xuyên, liên tục mới có thể ngăn chặn và kiểm soát được hàng giả không có cơ hội lưu thông trên thị trường.

18

“ Trong đấu tranh chống hàng giả, công tác phối hợp quan trọng nhất là phối hợp với các doanh nghiệp có hàng hóa bị làm giả, bị xâm phạm. Hơn ai hết, doanh nghiệp có hàng hóa vi phạm có đầy đủ các thông tin, tiêu chí mang tính kỹ thuật để xác định hàng giả cũng như cung cấp thông tin, các dấu hiệu vi phạm để trinh sát, điều tra, xác định dấu hiệu vi phạm làm căn cứ xử lý” ( Vũ Minh Hải, 2015, trang 24).

1.2.5.3. Nhận thức và tâm lý của người kinh doanh, người tiêu dùng

Nhận thức và tâm lý của người kinh doanh và người tiêu dùng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới công tác quản lý của nhà nước đối với hoạt động chống buôn bán hàng giả của các cơ quan chức năng, trong đó có lực lượng Quản lý thị trường.

Trên thị trường hiện nay, có cùng một loại sản phẩm, hàng hóa nhưng lại có rất nhiều đơn vị sản xuất, kinh doanh khác nhau từ hàng nội địa đến hàng nhập khẩu. Do vậy nhiều tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu hàng hóa đã lợi dụng yếu tố này để ghi trên nhãn sản phẩm những thông tin gây nhầm lẫn đối với người tiêu dùng như về công dụng, hàm lượng, chất lượng... làm cho người tiêu dùng rất khó phân biệt đâu là mặt hàng uy tín và đảm bảo chất lượng. Bên cạnh đó, người tiêu dùng chưa chủ động tìm hiểu và hiểu biết được các thông tin về sản phẩm, tác hại của việc sử dụng hàng giả sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, quyền lợi và lợi ích của mình;

qua đó phần nào đã vô tình tiếp tay, tạo cơ hội cho hoạt động buôn bán hàng giả ngày càng có cơ hội phát triển, làm ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế nước ta.

Đối với người kinh doanh:

Một trong những nhân tố ảnh hưởng quan trọng thúc đẩy quá trình sản xuất, buôn bán hàng giả là việc cạnh tranh của các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngày càng trở nên khó khăn, phức tạp và gay gắt hơn bao giờ hết. Nó mang tính sống còn đối với các doanh nghiệp, hộ cá thể nếu không đủ khả năng tham gia vào quá trình thị trường hóa toàn cầu như hiện nay. Do đó một số những doanh nghiệp, cá nhân không có khả năng về kinh tế để đầu tư và đủ điều kiện để cạnh tranh theo định của pháp luật, nên đã tìm mọi cách và các thủ đoạn khác nhau để cạnh tranh không lành mạnh, bất chấp tất cả để đạt được mục tiêu lấy lợi nhuận bằng mọi giá. Bởi vậy họ không có ý thức trách nhiệm xây dựng văn hóa kinh doanh, không tôn trọng quyền lợi của người tiêu dùng, đạo đức

19

nghề nghiệp và không chấp hành các quy định của pháp luật dẫn đến hoạt động buôn bán hàng giả diễn ra dưới mọi hình thức và trên nhiều lĩnh vực.

“ Một số doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm, lợi ích phát triển trong việc tự bảo vệ sản phẩm của mình tránh bị làm nhái, làm giả. Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật đến người tiêu dùng trong cuộc chiến chống buôn bán hàng giả chưa tốt và chưa đến tận người dân. Nhiều nhà sản xuất không mạnh dạn tuyên chiến với nạn hàng giả, vô hình chung góp phần gây khó khăn cho người tiêu dùng; người tiêu dùng sẽ thiếu thông tin về hàng thật, hàng giả; có nhiều doanh nghiệp không dám tiết lộ thông tin vì sợ người tiêu dùng khi biết được thông tin sản phẩm bị làm giả sẽ bỏ thương hiệu của mình mà mua hàng của thương hiệu khác” ( Nguyễn Quốc Cường, 2014, trang 19).

Hoạt động buôn bán hàng giả càng gia tăng nhiều hơn đối với những khu vực mà Việt Nam có tuyến đường tiếp giáp với các nước có biên giới chung cả trên đất liền và trên biển. Tiêu biểu nhất là những tỉnh có tiếp giáp với Trung Quốc như: tỉnh Lạng Sơn, tỉnh Lào Cai, tỉnh Quảng Ninh... Thông qua chính sách ưu đãi hoạt động thương mại biên giới, địa hình có nhiều lối mòn và cửa khẩu mà những người dân sống tiếp giáp với Trung Quốc phần nào tiếp tay vận chuyển hàng hóa kém chất lượng, hàng giả vào địa phận Việt Nam rồi từ đó thông qua các thương nhân chuyển sâu vào trong nội địa tiêu thụ. Những đối tượng kinh doanh bất chính vì mục đích lợi nhuận nên đã tiếp tay cho hoạt động buôn bán hàng giả. Bên cạnh đó công tác tuyên truyền phổ biến đến các thương nhân và người dân chưa được chú trọng, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao. Do đó tạo ra rất nhiều khó khăn trong công tác phòng chốngvà xử lý vi phạm về buôn bán hàng giả tại các tỉnh tiếp giáp biên giới nói chung và cả nước nói riêng.

“ Trung Quốc, Singgapo, Thái Lan, Đài Loan và các nước trong khu vực có nền kinh tế hàng hóa phát triển hơn. Sự mở cửa thị trường, tự do hàng hóa, mở rộng lưu thông mậu dịch, xóa bỏ hàng rào thuế quan với các đối tác này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất, buôn bán hàng giả, gây nên sức ép lớn đối với thị trường Việt Nam” (Nguyễn Quốc Cường, 2014, trang 21).

Đối với người tiêu dùng:

Trong việc lựa chọn, sử dụng các sản phẩm, hàng hóa trên thị trường, một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng có tâm lý sử dụng hàng giá rẻ, hợp thời trang như:

20

quần áo, giầy dép, rượu, mỹ phẩm... đặc biệt là những người dân thích dùng hàng ngoại. Đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng và tạo cơ hội, môi trường thuận lợi cho hoạt động buôn bán hàng giả mạo nhãn mác nước ngoài được nhập khẩu và lưu thông trên thị trường Việt Nam. Hàng giả thường được bán với giá rẻ và thậm chí là rất rẻ so với hàng thật, do vậy nó đã tác động vào đúng tâm lý của một số người tiêu dùng có nhu cầu muốn được sử dụng. Đặc biệt nó được tiêu thụ nhiều tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, người có thu nhập thấp và thiếu thông tin về hàng hóa.

Một phần của tài liệu Chống Buôn Bán Hàng Giả Tại Cục Quản Lý Thị Trường Tỉnh Phú Thọ (Trang 25 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(107 trang)