Mục tiêu chung Mục tiêu chung là nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về hàng giả, các quy định, chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
THÁI NGUYÊN, NĂM 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS NGÔ ĐỨC CÁT
2 TS TRẦN NHUẬN KIÊN
THÁI NGUYÊN, NĂM 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được bảo vệ một học
vị khoa học hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được trân trọng chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Đức Dương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Ngô Đức Cát và
TS Trần Nhuận Kiên, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập, thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo khoa sau đại học - trường Đại học Kinh tế và QTKD - Đại học Thái nguyên đã giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình học tập và thực hiện luận văn của mình
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể Ban Lãnh đạo Chi cục, các đồng nghiệp đang công tác tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ, đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thông tin cần thiết cho tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện Luận văn này
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Đức Dương
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các sơ đồ, biểu đồ ix
Danh mục các phụ lục ix
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết phải nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
6 Bố cục luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNG GIẢ VÀ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH CHỐNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 5
1.1 Cơ sở lý luận về hàng giả 5
1.1.1 Một số khái niệm về hàng giả 5
1.1.2 Quyền sở hữu trí tuệ và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 8
1.1.2.1 Quyền sở hữu trí tuệ 8
1.1.2.2 Hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 11
1.1.3 Bản chất của việc sản xuất, buôn bán hàng giả 12
1.1.4 Đặc điểm của hàng giả và hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả 12
1.1.5 Đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả 14
1.1.6 Phương thức sản xuất, buôn bán hàng giả 16
1.1.6.1 Phương thức sản xuất 16
1.1.6.2 Phương thức buôn bán 18
Trang 61.1.7 Các nhân tố thúc đẩy sản xuất, buôn bán hàng giả 19
1.1.7.1 Các nguyên nhân chủ quan 20
1.1.7.2 Các nguyên nhân khách quan 21
1.1.8 Tác hại của hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả 22
1.1.9 Tầm quan trọng của công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả 24
1.1.10 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và chính sách, pháp luật về đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả 25
1.2 Cơ sở thực tiễn 30
1.2.1 Một số bài học kinh nghiệm trong công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả của thế giới 30
1.2.1.1 Công tác chống hàng giả và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Hàn Quốc 30
1.2.1.2 Công tác chống hàng giả và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Nhật Bản 33
1.2.1.3 Những kinh nghiệm từ công tác chống hàng giả của Hàn Quốc và Nhật Bản 36
1.2.2 Một số bài học kinh nghiệm trong công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả ở nước ta 36
1.2.2.1 Kinh nghiệm chống hàng giả tại một số địa phương 38
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 41
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 41
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 42
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 43
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 44
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỐNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CHI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH PHÚ THỌ 45
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 45
3.1.1 Đặc điểm cơ bản của tỉnh Phú Thọ 45
3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 45
Trang 73.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 47
3.1.1.3 Tác động của điều kiện kinh tế - xã hội đến hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả 48
3.1.1.4 Quan điểm, chỉ đạo của UBND tỉnh Phú Thọ với công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả 49
3.1.2 Khái quát chung về Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ 50
3.1.2.1 Cơ cấu tổ chức 52
3.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ 52
3.1.2.3 Mối quan hệ giữa các đơn vị trong Chi cục 56
3.1.2.4 Thực trạng nguồn nhân lực và bộ phận chống hàng giả 56
3.2 Thực trạng công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010-2012 61
3.2.1 Quan điểm, chủ trương của Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ trong công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả 61
3.2.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ chống hàng giả 62
3.2.3 Công tác tuyên truyền 65
3.2.4 Công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm 67
3.2.4.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo về kiểm tra, kiểm soát chống hàng giả 67
3.2.4.2 Quy trình kiểm tra, xử lý hàng giả và kết quả thực hiện 70
3.2.5 Công tác phối hợp trong đấu tranh chống hàng giả 79
3.2.6 Công tác trang bị cơ sở vật chất, cơ sở dữ liệu phục vụ công tác chống hàng giả 81
3.2.6.1 Cơ sở vật chất 81
3.2.6.2 Cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác chống hàng giả 82
3.3 Đánh giá công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ 83
3.3.1 Những thuận lợi và những mặt đã đạt được 83
3.3.1.1 Thuận lợi 83
3.3.1.2 Những mặt đã đạt được 83
Trang 83.3.2 Những khó khăn, tồn tại 84
3.3.2.1 Khó khăn 84
3.3.2.2 Tồn tại 86
3.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác đấu tranh chống hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ 87
3.3.3.1 Trang thiết bị, cơ sở vật chất 87
3.3.3.2 Nguồn lực 87
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CHI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH PHÚ THỌ 88
4.1 Xu hướng sản xuất, buôn bán hàng giả 88
4.2 Quan điểm và phương hướng, nhiệm vụ của công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả trong những năm tới 90
4.2.1 Quan điểm 90
4.2.2 Phương hướng, nhiệm vụ 91
4.3 Một số giải pháp hoàn thiện công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ 92
4.3.1 Giải pháp về tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức 92
4.3.2 Giải pháp về công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm 95
4.3.3 Giải pháp về tuyên truyền 97
4.3.4 Giải pháp về xây dựng cơ sở dữ liệu về hàng giả 99
4.3.5 Giải pháp tăng cường sự hợp tác của các Doanh nghiệp, Hiệp hội trong công tác đấu tranh chống hàng giả 100
4.4 Đề xuất, kiến nghị 102
4.4.1 Đối với Chính phủ, các Bộ ngành trung ương 102
4.4.2 Đối với UBND tỉnh Phú Thọ 103
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 108
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Cơ cấu lao động theo giới tính - trình độ - độ tuổi 57 Bảng 3.2 Biên chế số lượng công chức QLTT tại các đơn vị 59 Bảng 3.3 Kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ chống hàng giả
cho công chức QLTT giai đoạn 2010-2012 64 Bảng 3.4 Giao chỉ tiêu kế hoạch xử lý về hàng giả năm 2010-2012 69 Bảng 3.5 Kết quả xử lý các hành vi vi phạm về hàng giả theo đơn vị giai
đoạn 2010 - 2012 74 Bảng 3.6 Kết quả xử lý các hành vi vi phạm về hàng giả theo loại hình vi
phạm giai đoạn 2010 - 2012 76
Trang 11
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Tổ chức bộ máy quản lý của Chi cục Quản lý thị trường 52
Sơ đồ 3.2 Quy trình kiểm tra, xử lý hàng giả của lực lượng Quản lý
thị trường 70 Biểu đồ 3.3 Cơ cấu tiền thu phạt về hàng giả của các đơn vị giai đoạn
2010-2012 75 Biểu đồ 3.4 Kết quả kiểm tra xử lý theo loại hình hàng giả giai đoạn 2010-2012 77
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Bảng phân công nhiệm vụ phòng Nghiệp vụ- Tổng hợp 107 Phụ lục 2: Danh mục các loại hàng giả bị tịch thu giai đoạn 2010- 2012 110
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết phải nghiên cứu
Đất nước ta đang thực hiện chiến lược công nghiệp hóa- hiện đại hóa, trong
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ
đã và đang tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội cũng như thúc đẩy mạnh mẽ quá trình sản xuất hàng hóa ở mỗi quốc gia Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi thì trong quá trình phát triển mỗi quốc gia cũng phải đương đầu với không ít khó khăn, thách thức trong đó có vấn nạn hàng giả Ở Việt Nam trong những năm gần đây, lợi dụng chính sách mở cửa hội nhập kinh tế và sự bất cập trong cơ chế, chính sách pháp luật, các hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng xâm phạm về sở hữu trí tuệ đang có chiều hướng gia tăng và ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi khó kiểm soát
Hiện nay, hàng giả có mặt ở hầu hết trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế
xã hội với mẫu mã đa dạng, phong phú và công nghệ, kỹ thuật sản xuất ngày càng hiện đại Hàng giả đã và đang là nguy cơ gây thiệt hại lớn đối với nền sản xuất, tác động tiêu cực đến quá trình sản xuất, kinh doanh của Doanh nghiệp và lợi ích người tiêu dùng Chính vì vậy, đấu tranh ngăn chặn hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách nhằm đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của thị trường, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như bảo
vệ lợi ích chính đáng của nhà sản xuất và người tiêu dùng
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi, cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, cách thủ đô Hà Nội 80 km về Phía Bắc Phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc và thành phố Hà Nội; Tây giáp tỉnh Sơn La; Nam giáp tỉnh Hoà Bình; Bắc giáp tỉnh Yên Bái và tỉnh Tuyên Quang Phú Thọ là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng Thủ đô
Hà Nội Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế, tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có xu hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp Hàng giả xuất hiện tại địa bàn Phú Thọ chủ yếu là được sản xuất ở địa bàn khác và sản xuất từ nước ngoài đưa vào kinh doanh trên thị trường Trước tình hình đó, thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, các bộ ngành
Trang 13Trung ương, chỉ đạo của Tỉnh Ủy, UBND tỉnh Phú Thọ; lực lượng Quản lý thị trường đã thường xuyên duy trì và đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả góp phần tích cực vào việc lành mạnh thị trường, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên do nhiều lý
do khách quan và chủ quan mà công tác chống hàng giả trong những năm qua tuy
đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ song vẫn còn không ít khó khăn, tồn tại nên chưa ngăn chặn được triệt để những hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả đặc biệt là khi nền kinh tế ngày càng phát triển, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ
Qua quá trình làm việc tại Chi cục quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ từ những
thực tiễn của bản thân, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: "Công tác chống hàng giả
tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ"
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung là nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về hàng giả, các quy định, chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả và thực trạng của công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ; từ đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục góp phần vào việc ổn định thị trường, ngăn chặn và đẩy lùi các hành vi kinh doanh trái phép, thúc đẩy sự phát triển thương mại
và kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ
2.2 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá tổng quan về sản xuất, buôn bán hàng giả; làm rõ tác hại của sản xuất và buôn bán hàng giả và các nhân tố thúc đẩy hoạt động sản xuất buôn bán hàng giả ở nước ta hiện nay; những kinh nghiệm của một số nước và một số địa phương trong nước về sản xuất, buôn bán hàng giả
Phân tích thực trạng công tác đấu tranh chống các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường Phú Thọ qua đó làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả giai đoạn 2010 - 2012;
Trang 14Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác đấu tranh phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2010-2012
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh
Phú Thọ
- Về thời gian: Số liệu nghiên cứu về kết quả công tác kiểm tra, kiểm soát và
xử lý về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn
2010 - 2012
- Nội dung nghiên cứu: Do hạn chế về thời gian, kinh phí nên đề tài chỉ tập
trung phân tích thực trạng công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý đối với các hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đấu tranh chống hàng giả của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ, từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về hàng giả, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và bảo
vệ lợi ích chung của toàn xã hội
5 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Giải nghĩa, hệ thống hóa lý luận về hàng giả, cho thấy bản chất và những tác động của hàng giả, hàng nhái tới nền kinh tế, tới các doanh nghiệp và người tiêu dùng
- Đề tài làm rõ tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường; làm nổi bật tầm quan trọng cũng như vai trò, trách nhiệm của lực lượng Quản lý thị trường đối với công tác chống hàng giả
- Hoàn thiện và đưa ra được các biện pháp, giải pháp mới cho công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời
kỳ hội nhập
Trang 156 Bố cục luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hàng giả và công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả;
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Thực trạng công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ;
Chương 4: Các giải pháp hoàn thiện công tác đấu tranh phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNG GIẢ VÀ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH CHỐNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
1.1 Cơ sở lý luận về hàng giả
1.1.1 Một số khái niệm về hàng giả
Hàng giả luôn tồn tại cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, có rất nhiều khái niệm về hàng giả song ở mỗi giai đoạn của sự phát triển kinh tế - xã hội hàng giả được quy định tại một số văn bản pháp luật khác nhau:
* Theo Nghị định số 140-HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất buôn bán hàng giả:
"Hàng giả là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó."
* Theo Thông tư Liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày 27/4/2000 của Bộ Thương mại, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả thì hàng hoá có một trong các dấu hiệu sau đây bị coi là hàng giả:
“(1) Hàng giả chất lượng hoặc công dụng:
1.1 Hàng hoá không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng như bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó
1.2 Hàng hoá đưa thêm tạp chất, chất phụ gia không được phép sử dụng làm thay đổi chất lượng; không có hoặc có ít dược chất, có chứa dược chất khác với tên dược chất ghi trên nhãn hoặc bao bì; không có hoặc không đủ hoạt chất, chất hữu hiệu không đủ gây nên công dụng; có hoạt chất, chất hữu hiệu khác với tên hoạt chất, chất hữu hiệu ghi trên bao bì
1.3 Hàng hoá không đủ thành phần nguyên liệu hoặc bị thay thế bằng những nguyên liệu, phụ tùng khác không đảm bảo chất lượng so với tiêu chuẩn chất lượng
Trang 17hàng hoá đã công bố, gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khoẻ người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường
1.4 Hàng hoá thuộc danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng mà không thực hiện gây hậu quả đối với sản xuất, sức khoẻ người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường
1.5 Hàng hoá chưa được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn mà sử dụng giấy chứng nhận hoặc dấu phù hợp tiêu chuẩn (đối với danh mục hàng hoá bắt buộc)
(2) Giả về nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá:
2.1 Hàng hoá có nhãn hiệu hàng hoá trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đang được bảo hộ cho cùng loại hàng hoá kể cả nhãn hiệu hàng hoá đang được bảo hộ theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, mà không được phép của chủ nhãn hiệu
2.2 Hàng hoá có dấu hiệu hoặc có bao bì mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với tên thương mại được bảo hộ hoặc với tên gọi xuất xứ hàng hoá được bảo hộ
2.3 Hàng hoá, bộ phận của hàng hoá có hình dáng bên ngoài trùng với kiểu dáng công nghiệp đang được bảo hộ mà không được phép của chủ kiểu dáng công nghiệp
2.4 Hàng hoá có dấu hiệu giả mạo về chỉ dẫn nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá gây hiểu sai lệch về nguồn gốc, nơi sản xuất, nơi đóng gói, lắp ráp hàng hoá
Trang 18hàng hoá cùng loại, với nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi xuất xứ hàng hoá được bảo hộ."
Đây là những quy định cơ bản nhất về hàng giả và cũng là những đặc điểm
để nhận biết hàng giả
* Hiện nay những quy định về hàng giả không ngừng được hoàn thiện để phù hợp với điều kiện thực tế, khoản 8 Điều 3 Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2008 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại thì hàng giả bao gồm:
a) Giả chất lượng và công dụng: Hàng hoá không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của hàng hoá;
b) Giả mạo nhãn hàng hoá, bao bì hàng hoá: Hàng hoá giả mạo tên, địa chỉ của thương nhân khác trên nhãn hoặc bao bì cùng loại hàng hoá; hàng hoá giả mạo chỉ dẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp trên nhãn hoặc bao bì hàng hoá;
c) Giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ
sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý; hàng hoá là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan;
d) Các loại đề can, nhãn hàng hoá, bao bì hàng hoá, tem chất lượng, tem chống giả, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hoá có nội dung giả mạo tên, địa chỉ thương nhân, nguồn gốc hàng hoá, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hoá (sau đây gọi tắt là tem, nhãn, bao bì hàng hoá giả);
đ) Đối với hàng hoá thuộc diện quản lý chuyên ngành nếu pháp luật có quy định riêng thì áp dụng các quy định đó để xác định hàng giả
* Nghị định số 08/2013/NĐ- CP ngày 10/01/2013 của Chính phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thì hàng giả được quy định như sau:
Trang 19“1 Hàng không có giá trị sử dụng, công dụng:
a) Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;
b) Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính, tổng các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao
bì hàng hóa;
c) Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất
đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
d) Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công
bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa
2 Hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa:
a) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm hàng hóa, mã
số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng hóa của thương nhân khác;
b) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa
3 Hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005
4 Tem, nhãn, bao bì giả”
1.1.2 Quyền sở hữu trí tuệ và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
1.1.2.1 Quyền sở hữu trí tuệ
Khái niệm chung về Quyền sở hữu trí tuệ:
- Theo Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bổ sung bởi khoản 2 điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009):
Trang 20“Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”
+ Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
+ Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu
+ Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ
+ Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào
+ Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn
+ Tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã công bố là tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã được phát hành với sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan để phổ biến đến công chúng với một số lượng bản sao hợp lý
+ Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi
âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử
+ Phát sóng là việc truyền âm thanh hoặc hình ảnh hoặc cả âm thanh và hình ảnh của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát
Trang 21sóng đến công chúng bằng phương tiện vô tuyến hoặc hữu tuyến, bao gồm cả việc truyền qua vệ tinh để công chúng có thể tiếp nhận được tại địa điểm và thời gian
+ Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (sau đây gọi là thiết kế bố trí) là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn
+ Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức,
cá nhân khác nhau
+ Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó
+ Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu
+ Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc
có liên quan với nhau
+ Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam
Trang 22+ Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh
Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng
+ Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể
+ Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh
+ Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kỳ quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được
+ Văn bằng bảo hộ là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân nhằm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý; quyền đối với giống cây trồng
+ Vật liệu nhân giống là cây hoặc bộ phận của cây có khả năng phát triển thành một cây mới dùng để nhân giống hoặc để gieo trồng
+ Vật liệu thu hoạch là cây hoặc bộ phận của cây thu được từ việc gieo trồng vật liệu nhân giống.”
1.1.2.2 Hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là sản phẩm, hàng hóa có các yếu
tố xâm phạm được tạo ra từ các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
- Sản phẩm, hàng hóa xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan;
- Sản phẩm, hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại
và thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn;
- Sản phẩm, hàng hóa xâm phậm quyền đối với giống cây trồng
Trang 23Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm sản xuất (chế tạo, gia công, lắp ráp, chế biến, đóng gói, in, sao), nhập khẩu, buôn bán, vận chuyển, quảng cáo, tráo hàng, tàng trữ, cho thuê sản phẩm, hàng hóa có các yếu tố xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp bao gồm:
- Hàng hóa xâm phạm quyền tác giả;
- Hàng hóa xâm phạm quyền liên quan đến quyền tác giả;
- Hàng hóa xâm phạm quyền đối với sáng chế;
- Hàng hóa xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp
- Hàng hóa xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu;
- Hàng hóa xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý;
- Hàng hóa xâm phạm quyền đối với tên thương mại;
- Hàng hóa xâm phạm quyền đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp;
- Hàng hóa xâm phạm quyền đối với giống cây trồng
1.1.3 Bản chất của việc sản xuất, buôn bán hàng giả
Bản chất của việc sản xuất, buôn bán hàng giả là hành vi cướp đoạt giá trị vật chất và tinh thần của người khác, lừa dối người tiêu dùng để thu lợi bất chính Các đối tượng sản xuất, kinh doanh hàng giả thường tập trung vào sản xuất, kinh doanh một số hàng hoá có thương hiệu, được thị trường tín nhiệm và người tiêu dùng ưa chuộng nhằm dễ tiêu thụ sản phẩm của mình với khối lượng lớn, bán hàng nhanh và thu lợi nhuận cao, thậm chí siêu lợi nhuận thông qua việc sử dụng nguyên liệu cấp thấp, công nghệ sản xuất thủ công, trốn tránh được các khoản thuế,…nhằm tiết kiệm tối đa chi phí bỏ ra cho sản phẩm hàng hóa của họ Chính vì vậy số tiền mà người tiêu dùng bỏ ra để có được loại sản phẩm hàng hóa đó và giá trị sử dụng của hàng hóa là không tương xứng với nhau
1.1.4 Đặc điểm của hàng giả và hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả
Hàng giả ngày càng đa dạng, phong phú về chủng loại, mẫu mã với công nghệ sản xuất ngày càng tinh vi, hiện đại Từ những sản phẩm hàng hóa tiêu dùng thông thường đến các loại hàng giả được sản xuất với công nghệ cao khó phân biệt với hàng thật Tuy nhiên, hàng giả vẫn có một số đặc điểm chủ yếu đó là: Thường
Trang 24có chất lượng kém, phẩm cấp thấp, không đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh, an toàn hoặc cũng có thể là hàng có chất lượng tốt nhưng vì chủ hàng không muốn chi phí tốn kém và mất thời gian cho việc quảng bá xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm của riêng mình; xúc tiến thương mại để sản phẩm ngày càng được thị trường tin dùng, tồn tại và phát triển lâu dài nên tìm mọi cách để sản phẩm của mình ẩn náu, núp dưới nhãn hiệu nổi tiếng của hàng hoá cùng loại thuộc hãng sản xuất - kinh doanh khác; nhằm tiêu thụ nhanh sản phẩm của mình để sớm thu hồi vốn và lợi nhuận bằng cách làm giả nhãn hiệu, nhái nhãn hiệu, kiểu dáng,… hàng hoá của công
ty khác đã được người tiêu dùng ưa chuộng và tin dùng Do hàng giả chủ yếu là hàng chất lượng kém được sản xuất với giá thành hạ nhưng lại ẩn náu dưới danh nghĩa hàng thật có nhãn hiệu của các nhà sản xuất nổi tiếng được người tiêu dùng ưa chuộng nên hàng giả vẫn được tiêu thụ nhanh, nhiều và mang lại siêu lợi nhuận đặc biệt là tại những quốc gia mà thu nhập bình quân của người dân còn thấp
Sản xuất và buôn bán hàng giả là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau và
có tính nguy hại như nhau Đặc điểm của hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả phụ thuộc rất nhiều vào loại hàng hóa bị làm giả bởi đối với mỗi loại hàng hóa khác nhau thì phương thức sản xuất, buôn bán hàng hóa khác nhau Ví dụ: Đối với các loại hàng hóa tiêu dùng thông thường như: Bột ngọt, diêm, bột giặt,…công nghệ sản xuất đơn giản, có cả hàng xuất xứ từ trong nước, nước ngoài và thường được bán ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; đối với các loại sản phẩm như: Thiết
bị tin học, viễn thông, thiết bị điện tử…thường là hàng do nước ngoài sản xuất, được bày bán chủ yếu ở thành thị và một số địa bàn ở nông thôn Nhưng nhìn chung hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả có một số đặc điểm chủ yếu sau:
- Hoạt động trái với quy định của pháp luật;
- Thường được thực hiện lén lút, ít công khai, lẩn tránh sự quan sát của mọi người và cơ quan chức năng;
- Thường hoạt động trong điều kiện thiếu thốn về không gian, không đảm bảo các điều kiện về vệ sinh an toàn, kỹ thuật, môi trường…;
- Bất chấp mọi thủ đoạn để tiêu thụ hàng hóa và thu được lợi ích từ việc sản xuất, buôn bán hàng hóa giả như: Sử dụng công nghệ sản xuất thô sơ, rẻ tiền, nguyên liệu sản xuất không đảm bảo yêu cầu chất lượng, kỹ thuật, an toàn…;
Trang 25- Tập trung nhiều ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi vì lợi dụng ở những nơi này trình độ dân trí thấp, kém hiểu biết, lại có tâm lý thích hàng ngoại, giá rẻ nên dễ lừa gạt; hơn nữa ở đây sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng thường chưa chặt chẽ, có nhiều sơ hở nên dễ trốn tránh
Có thể khẳng định rằng thủ đoạn sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng tinh
vi, xảo quyệt; đó là những hành vi gian dối, lừa đảo có tính phổ biến và nguy hại ở mức cao đối với lợi ích của xã hội và người tiêu dùng và cũng có thể lên án các hành vi đó vì nó không loại trừ việc thu lợi nhuận từ các hành vi xâm hại sức khoẻ
và tính mạng con người, như sản xuất thuốc chữa bệnh giả, thực phẩm có chứa các độc tố nguy hiểm
1.1.5 Đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả
Ngày nay, tham gia vào hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả có đủ loại tổ chức và cá nhân thuộc tất cả các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng phần đông và phổ biến hơn cả là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các hộ kinh doanh cá thể Có những tổ chức, cá nhân sản xuất, buôn bán hàng giả gần như mang tính chuyên nghiệp Họ tổ chức hoạt động thành những kênh, những đường dây khép kín, khá chặt chẽ trong việc sản xuất-giao nhận-vận chuyển-buôn bán-tiêu thụ hàng giả; trong đó có những quan
hệ móc nối với các tổ chức, cá nhân người nước ngoài để sản xuất hàng giả đưa vào tiêu thụ ở Việt Nam hoặc thậm chí được sản xuất ở trong nước rồi đưa qua biên giới
để sau đó tìm cách nhập trở lại vào nước ta với nhãn mác hàng ngoại để lừa gạt người tiêu dùng Cụ thể:
- Đối với các doanh nghiệp trong nước: Sản xuất nhái mẫu mã, kiểu dáng công nghiệp, sử dụng thương hiệu hàng hoá của nước ngoài để tiêu thụ tại Việt nam và thậm chí đã có trường hợp xuất khẩu hàng vi phạm nhãn hiệu ra nước ngoài; sản xuất giả hàng của những doanh nghiệp Việt Nam có sản phẩm chất lượng tốt, thị trường rộng lớn và nhu cầu tiêu thụ cao: Rượu bia, nước giải khát, nước mắm và nhập khẩu hàng hoá có yếu tố vi phạm về sở hữu công nghiệp
Trang 26- Các loại hình doanh nghiệp, tư nhân Việt Nam liên kết với doanh nghiệp, tư nhân nước ngoài để sản xuất tại nước ngoài, sau đó nhập khẩu vào Việt Nam tiêu thụ các loại hàng giả, hàng kém chất lượng, bao bì giả nhãn và giả nhãn hiệu hàng hoá
- Một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng sản xuất và tiêu thụ hàng giả Việc sản xuất hàng giả của loại đối tượng này thường ở dạng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp dẫn đến tranh chấp nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, sử dụng nhãn hiệu của người khác mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu
- Hộ kinh danh cá thể sản xuất, tiêu thụ hàng giả: Đối tượng này sản xuất chủ yếu những mặt hàng tiêu dùng thông thường cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng: Xà phòng, dầu gội đầu, muối I-ốt, bột canh
- Khi nền kinh tế nước ta mở cửa hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, nhiều loại hàng giả được sản xuất ở nước ngoài đưa vào thị trường Việt Nam tiêu thụ, đồng thời xuất hiện doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sản xuất nhái theo mẫu mã, kiểu dáng, thương hiệu của các sản phẩm hàng hoá nước ngoài gây tranh chấp, khiếu nại vi phạm sở hữu công nghiệp, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Công ty nước ngoài sản xuất hàng giả đưa vào Việt Nam tiêu thụ: Chủ yếu là hàng cao cấp, có giá trị lớn như đầu DVD, VCD, các loại đồng hồ đeo tay đủ các nhãn mác, hàng mỹ phẩm cao cấp , gắn nhãn hiệu hàng hoá cùng loại của các hãng nước ngoài có thương hiệu nổi tiếng, như hàng điện tử, điện lạnh mang nhãn hiệu National, Sony đồng hồ gắn nhãn hiệu Rado, Omega nhưng thực chất hàng không phải do hãng có thương hiệu nổi tiếng đó sản xuất Tình trạng này đang xảy
ra khá phổ biến, loại hàng giả này đã và đang được bán công khai trên thị trường nước ta mà chủ yếu là hàng Trung Quốc Những hàng giả trên xâm nhập thị trường Việt nam bằng các đường:
- Nhập lậu
- Nhập khẩu tiểu ngạch
- Thậm chí có thể cả nhập khẩu chính ngạch những hàng hoá có yếu tố vi phạm sở hữu công nghiệp (vi phạm nhãn hiệu, xuất xứ, kiểu dáng công nghiệp)
Trang 271.1.6 Phương thức sản xuất, buôn bán hàng giả
1.1.6.1 Phương thức sản xuất
Sản xuất, buôn bán hàng giả thường được tiến hành lén lút là chủ yếu, nhưng cũng có lúc, có loại được sản xuất và tiêu thụ công khai, việc sản xuất và tiêu thụ hàng giả ngày càng tinh vi, khó phát hiện; có loại quy trình sản xuất đơn giản nhưng cũng có loại quy trình sản xuất phức tạp, tinh xảo, đòi hỏi quy trình công nghệ cao
Hàng giả sản xuất trong nước hay nhập lậu từ nước ngoài đều có chung một mục tiêu đó là:
- Sản xuất những loại hàng hoá đang khan hiếm, thị trường có nhu cầu tiêu thụ lớn, lãi suất cao
- Sản xuất hàng hoá mang tên thương mại, địa chỉ sản xuất, nhãn hiệu hoặc một trong các yếu tố trên của cơ sở sản xuất kinh doanh khác có thương hiệu nổi tiếng hoặc có chất lượng tốt hơn, thị trường tiêu thụ nhiều
- Sản xuất theo đơn đặt hàng của các chủ tiêu thụ
- Sản xuất hàng hoá lấy nhãn hiệu, hàng hoá cùng loại của những cơ sở sản xuất khác đã nổi tiếng được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng để tiêu thụ được hàng hoá của mình sản xuất ra
- Sản xuất hàng hoá cùng loại, cùng công dụng nhái nhãn hiệu hàng hoá của người khác đang được bảo hộ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng - đây là tình trạng
vi phạm xảy ra khá nhiều hiện nay Việc làm giả nhãn hiệu của người khác rất tinh vi: Có khi nhái toàn bộ, có khi chỉ thay đổi một chi tiết nhỏ, thêm, bớt một chút làm cho người tiêu dùng không để ý, dễ nhầm lẫn với hàng thật
- Sản xuất hàng hoá có nhãn hàng hoá nhưng không ghi tên thương mại, địa chỉ, chất lượng, thành phần cấu tạo hoặc có ghi nhưng ghi không đầy đủ, không rõ ràng, ghi không đúng sự thật
- Sử dụng lại bao bì, nhãn hiệu của hàng chính phẩm đánh tráo ruột là hàng giả, bao bì nhãn hiệu thật (xi măng, nước gội đầu )
- Hàng hoá được sản xuất theo phương thức thủ công, không có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, không tuân theo một quy trình sản xuất nhất định (ví dụ: đối
Trang 28với một số loại hàng hoá như mỹ phẩm - phải có sổ theo dõi pha chế thuốc, kiểm tra chất lượng, hồ sơ số lô sản xuất nhưng người sản xuất hàng giả không tuân thủ quy trình sản xuất trên) Mặt khác người sản xuất mua nguyên liệu trôi nổi trên thị trường không rõ nguồn gốc xuất xứ, chất lượng không đảm bảo để sản xuất Đây là một phương thức sản xuất hàng giả đang diễn ra trong giai đoạn hiện nay mà có những mặt hàng giả gây nguy hiểm cho xã hội, cho sản xuất, cho sức khoẻ con người như thuốc chữa bệnh, thuốc bảo vệ thực vật, hoá mỹ phẩm
- Hàng cũ, hàng đã qua sử dụng được tân trang lại, được mông má, lên đời, đánh bóng như mới; hàng bị tráo đổi các linh kiện, phụ tùng chính hiệu chất lượng không đảm bảo như hàng chính hiệu nhưng được đem tiêu thụ như hàng mới, hàng nguyên gốc
- Tẩy xoá, sửa lại nhãn hàng đã quá hạn sử dụng, hàng chất lượng không đảm bảo an toàn thành hàng còn trong thời hạn sử dụng để tiêu thụ Phương thức này chủ yếu tiêu thụ hàng bao gói sẵn, đồ hộp như sữa hộp, thịt hộp, cá hộp, hoa quả hộp
- Hàng giả được sản xuất với mẫu mã bên ngoài rất giống, thậm chí nhìn bên ngoài còn đẹp hơn hàng thật, nếu không để 2 sản phẩm thật - giả cạnh nhau, thì người tiêu dùng không phân biệt được
Sản xuất luôn phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng, trình độ hiểu biết, nhận thức của người tiêu dùng cũng ngày một nâng cao hơn nhưng các đối tượng sản xuất và tiêu thụ hàng giả ngày càng tinh vi hơn, có loại hàng giả được sản xuất với công nghệ hiện đại nên rất khó phân biệt Do đó, để
có thể phân biệt hàng thật - hàng giả trước hết cần dựa vào sự so sánh, đánh giá của nhà sản xuất ra loại hàng bị làm giả
Đặc biệt, thời gian gần đây đã xuất hiện tình trạng doanh nghiệp nước ngoài sản xuất, xuất khẩu hàng hoá giả thương hiệu, xuất xứ hàng Việt Nam Đây là vấn đề rất mới trong công tác chống hàng giả trong tình hình hiện nay cần được quan tâm để ngày càng đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất chân chính và người tiêu dùng
Trang 291.1.6.2 Phương thức buôn bán
Hàng giả được tiêu thụ dựa trên đặc trưng khác nhau như hàng cao cấp, hàng
xa xỉ phẩm, hàng tiêu dùng thông thường đối với mỗi loại hàng hóa đó thì việc vận chuyển, buôn bán thường là không giống nhau:
- Hàng giả có giá trị lớn, quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, thị trường tiêu thụ rộng, thì việc sản xuất và tiêu thụ rất tinh vi: Hàng giả rất giống hàng thật, thậm chí nhìn bề ngoài có khi đẹp hơn hàng thật nhưng chất lượng kém hơn hàng thật, hoặc giả về sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn thương mại )
Những loại hàng trên nhiều khi là hàng nhập khẩu, hàng cao cấp, người tiêu dùng không am hiểu nhiều về nhãn mác, xuất xứ, cấu tạo, đó là một yếu tố dẫn đến loại hàng giả này nhiều khi được sản xuất và tiêu thụ công khai
Sản xuất và buôn bán loại hàng ở dạng vi phạm này nhiều khi công khai như nhiều loại hàng hoá khác Những hành vi vi phạm này đã bị phát hiện, kiểm tra, xử
lý, nhiều trường hợp bắt đầu từ khiếu nại, khiếu kiện của chính nhà sản xuất ra sản phẩm hàng hoá đang bị làm giả
- Các loại hàng giả khác, phương thức tiêu thụ phổ biến ở các dạng sau: + Dùng nhiều hình thức, chiêu thức khuyến mại đánh vào tâm lý người mua
để tiêu thụ hàng giả, hàng nhái như: Giảm giá, mua hàng được tặng quà
+ Giá bán hàng giả thường rẻ hơn hàng thật để người mua tham rẻ mà tiêu thụ là phổ biến nhưng cũng có loại để tránh người tiêu dùng nghi ngờ thì hàng giả lại được bán với giá xấp xỉ hàng thật, thậm chí có loại người tiêu dùng biết là hàng giả nhưng vẫn chấp nhận mua, vì giá rẻ
+ Nhiều loại hàng hoá khi bán phải kèm theo phiếu bảo hành, nhưng đối với hàng giả, hàng nhái thì không phiếu bảo hành hoặc có nhưng là phiếu bảo hành giả mạo làm cho người tiêu dùng tin đó là hàng chính hiệu của hãng sản xuất có bảo hành
+ Lừa dối người tiêu dùng bằng cách quảng cáo sai, quảng cáo quá sự thật về công dụng, chất lượng hàng hoá, xuất xứ , hàng chất lượng thấp nhưng quảng cáo
và bán với giá như hàng có chất lượng cao
Trang 30+ Lợi dụng người tiêu dùng hiểu biết còn hạn chế về mặt hàng, về chất lượng, nhãn hiệu hàng hoá ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn để đưa hàng giả đến tiêu thụ Thậm chí có loại hàng, có trường hợp đưa cả hàng có công dụng khác hàng thật nhưng giới thiệu, quảng cáo công dụng như hàng thật, tráo trộn hàng giả lẫn vào hàng thật để tiêu thụ Phương thức tiêu thụ này không những được thực hiện
ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn mà ngay tại thành phố lớn, thị xã cũng có nhiều lọai hàng hoá người tiêu dùng không am hiểu nhiều, thiếu hiểu biết về công dụng, cách sử dụng, chất lượng, xuất xứ thì hàng giả cũng được đưa ra tiêu thụ (thuốc chữa bệnh, mỹ phẩm )
+ Có một số mặt hàng giả, hình thức tiêu thụ đa dạng hơn như sắt thép giả, xi măng giả đưa vào các hộ kinh doanh bán lẻ tiêu thụ; đưa vào chính đại lý của nhà sản xuất ra hàng hoá chính hiệu để tiêu thụ; các chủ thầu, chủ công trình lớn vì lợi nhuận đã lợi dụng hoặc móc ngoặc, thông đồng với cơ quan quản lý, giám sát để tiêu thụ hàng giả
1.1.7 Các nhân tố thúc đẩy sản xuất, buôn bán hàng giả
- Nhân tố rất quan trọng thúc đẩy sản xuất, buôn bán hàng giả là cạnh tranh trên toàn cầu và trong nước ngày càng gay gắt, quyết liệt mang tính sống còn, hệ quả của nó là các doanh nghiệp, cá nhân không đủ điều kiện cạnh tranh theo pháp luật nảy sinh ra các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh, chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá, không chú trọng xây dựng văn hoá kinh doanh và đạo đức nghề nghiệp… dẫn tới con đường sản xuất, buôn bán hàng giả
- Hiểu biết của công chúng về bảo hộ sở hữu công nghiệp và chống hàng giả: Hiện nay là sự am hiểu và quan tâm của doanh nghiệp, nhất là ban lãnh đạo doanh nghiệp đối với quyền sở hữu công nghiệp chưa đầy đủ Phần lớn các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đúng mức đến việc xác lập các quyền về nhãn hiệu hàng hoá
và sở hữu công nghiệp của mình Vì vậy, khi hàng hoá mang nhãn hiệu thuộc quyền
sở hữu công nghiệp của doanh nghiệp bị vi phạm thì doanh nghiệp đó không có cơ
sở pháp lý để kiện tụng hoặc tố cáo Mặt khác do không quan tâm đến quyền sở hữu công nghiệp đã được xác lập của người khác nên doanh nghiệp dễ vi phạm quyền sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp khác
Trang 31- Việt Nam nằm cạnh trung tâm sản xuất, buôn bán hàng giả lớn nhất thế giới
là Trung Quốc, có tác động rất lớn đối với thị trường nội địa Trung Quốc đang đối mặt với vấn đề này nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn để hạn chế nó
- Quan hệ giao lưu, trao đổi hàng hoá ngày càng mở rộng, không chỉ ở trong nước mà còn phát triển với các nước trên thế giới và trong khu vực; thông tin, khoa học công nghệ phát triển nhanh, bên cạnh phần tích cực của nó, thì những kẻ sản xuất - kinh doanh hàng giả cũng triệt để lợi dụng khai thác lợi thế này Trong quá trình phát triển kinh tế, trình độ quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước còn nhiều hạn chế và cuối cùng là hệ thống pháp luật của nước ta mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhưng chưa hoàn chỉnh
- Việc mở cửa phát triển kinh tế đối ngoại thu hút mạnh người nước ngoài và Việt kiều vào Việt Nam đầu tư, liên doanh, liên kết, tham quan du lịch, đồng thời kéo theo hoạt động sản xuất - buôn bán hàng giả, hàng nhái sản phẩm của các cơ sở sản xuất nổi tiếng trên thế giới và thông qua đó họ lợi dụng vận chuyển và sử dụng séc chuyển tiền giả, thẻ Master card giả, tiền Việt Nam, ngoại tệ giả và các loại giấy
tờ giả khác
- Thủ đoạn sản xuất và buôn bán hàng giả ngày càng tinh vi hơn do sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức, nhưng phổ biến nhất vẫn là các loại hàng giả về chất lượng, công dụng, giả về nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ
- Đối với đa số người tiêu dùng, các hiểu biết về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá,
sở hữu công nghiệp và chống hàng giả cũng chưa được phổ cập; vì vậy họ thường
dễ bị nhầm lẫn khi mua hàng và khi phát hiện ra hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, hàng giả thì thường lúng túng không biết phải làm gì
1.1.7.1 Các nguyên nhân chủ quan
- Công tác quản lý Nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu, còn nhiều bất cập (về quy định pháp luật, chính sách chưa đủ và đồng bộ, chưa hoàn thiện; trình độ nghiệp vụ trong công tác kiểm tra còn hạn chế, chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng mức, sự phối hợp giữa các lực lượng kiểm tra, kiểm soát chưa chặt chẽ )
Trang 32- Công tác kiểm soát nhập khẩu, kiểm tra sau thông quan và chống buôn lậu chưa đủ sức ngăn chặn được nguồn hàng giả từ nước ngoài xâm nhập vào thị trường nước ta Hơn nữa công tác chống hàng giả nhập khẩu qua biên giới chưa được quan tâm đúng mức và chưa gắn với công tác chống buôn lậu nhằm ngăn chặn từ gốc hàng giả nhập khẩu lưu thông trên thị trường
- Cơ chế chính sách và trang bị đảm bảo cho hoạt động chống hàng giả của các cơ quan thực thi còn thiếu
- Nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm, lợi ích phát triển trong việc tự bảo vệ sản phẩm của mình tránh bị làm nhái, làm giả
- Công tác tuyên truyền thu hút người tiêu dùng cùng tham gia vào cuộc đấu tranh này chưa tốt Hơn nữa chưa có một tổ chức bảo vệ người tiêu dùng nào thuộc Nhà nước quản lý
- Sự phối hợp giữa các lực lượng trên từng địa bàn; giữa cửa khẩu, biên giới với nội địa và với các doanh nghiệp chưa thường xuyên, chặt chẽ; công tác đấu tranh chưa triệt để tận gốc, thiếu sự chỉ đạo tập trung thống nhất nhằm tạo ra sự chuyển biến đáng kể
1.1.7.2 Các nguyên nhân khách quan
- Sản xuất, buôn bán hàng giả thu lợi nhuận cao là lực hấp dẫn mạnh đối với những kẻ làm hàng giả
- Tâm lý và thói quen tiêu dùng của người Việt Nam còn ưa chuộng hàng ngoại và hàng có nhãn hiệu nổi tiếng, trong khi không đủ trình độ, khả năng phân biệt hàng nội - hàng ngoại, hàng thật - hàng giả đã tạo cơ hội và môi trường thuận lợi cho hàng giả mang nhãn mác ngoại được nhập khẩu và lưu thông trên thị trường
- Một nhân tố được coi là quan trọng là hàng giả với giá cả rất rẻ đánh đúng vào tâm lý người tiêu dùng bao giờ cũng muốn mua hàng rẻ Đặc biệt, là người dân sống tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa có thu nhập thấp và thiếu thông tin hàng hóa
- Với trình độ khoa học, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, hiện đại, việc sản xuất hàng giả được thực hiện rất nhanh nhạy với những lô hàng lớn và cũng được nguỵ trang bằng công nghệ hiện đại, tinh xảo để dễ đánh lừa người tiêu dùng Thêm
Trang 33vào đó là hệ thống các kênh phân phối lưu thông đã hình thành trên thị trường, nhất
là hệ thống tiêu thụ của các nhà sản xuất sản phẩm chính hiệu, hệ thống bán lẻ khó kiểm soát chính là nơi để hàng giả, hàng nhái trà trộn, đan xen tiêu thụ lẫn với hàng thật, hàng chính hiệu
- Các quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan có nền kinh tế hàng hoá phát triển hơn, tạo nên sức ép lớn về hàng hoá đối với thị trường Việt Nam; có nhiều tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài chuyên làm hàng giả, hàng kém chất lượng để đưa vào nước ta
- Chống hàng giả nói chung và chống hàng giả có nguồn gốc nhập khẩu lưu thông trên thị trường nói riêng là công việc khó khăn, phức tạp trong khi năng lực, trình độ nghiệp vụ, thông tin và điều kiện vật chất để thực hiện công tác này của các lực lượng có chức năng chống hàng giả chưa đáp ứng yêu cầu
1.1.8 Tác hại của hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả
Hàng giả xuất hiện một cách tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế của xã hội loài người Sản xuất và buôn bán hàng giả trong những năm gần đây ở Việt Nam cũng giống như ở nhiều nước khác, có xu hướng phát triển ngày càng tăng, với quy mô ngày càng lớn và với diện mặt hàng ngày càng rộng Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, khi mà quyền sở hữu trí tuệ cũng trở thành hàng hoá thì nạn hàng giả càng trở nên phức tạp hơn, không còn là câu chuyện của một nước mà là vấn đề toàn cầu
Hàng giả một mặt tàn phá nền kinh tế trong nước, làm xói mòn uy tín các thương hiệu chính phẩm và lợi ích của các nhà sản xuất chân chính Đặc biệt nghiêm trọng là hàng giả còn xâm hại lợi ích, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng người tiêu dùng, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái và mọi mặt của đời sống xã hội cụ thể:
- Hàng giả có tác hại to lớn đối với nền kinh tế quốc dân: Nhà nước thất thu thuế, xã hội mất đi của cải, vật chất; ảnh hưởng sản xuất, kinh doanh, chất lượng công trình xây dựng
- Đối với thị trường, nạn sản xuất, buôn bán hàng giả tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh, khiến cho hiệu lực luật pháp bị suy giảm làm cho các nhà đầu tư
Trang 34chân chính ngần ngại và bị thiệt hại Bởi khi đó họ trở thành nạn nhân của sự cạnh tranh không lành mạnh, do không thể thu hồi vốn và có được lợi nhuận từ quá trình đầu tư của mình Hậu quả là họ có thể bị nản chí, giảm nhịp độ tăng trưởng kinh tế
và số lượng công ăn việc làm, thậm chí có thể dẫn đến bị phá sản
- Đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh chân chính không những bị thiệt hại về lợi nhuận mà còn bị ảnh hưởng đến uy tín, mất thị phần, thiệt hại về kinh tế mà thiệt hại này không thể tính bằng tiền được
- Các sản phẩm có chất lượng cao bị cào bằng với chất lượng thấp Hàng giả làm lu mờ hình ảnh của nhãn hiệu nổi tiếng và có thể gây mất lòng tin đối với người tiêu dùng
- Đối với người tiêu dùng thì gây thiệt hại về kinh tế “Tiền mất, tật mang”; đặc biệt ở các mặt hàng dược phẩm, thực phẩm, mỹ phẩm vì hàng giả gây những tác hại trầm trọng ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, gây thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng Do đó, nạn hàng giả đang trở thành mối đe doạ thực sự đối với sức khoẻ
và tính mạng người tiêu dùng
- Đối với môi trường sản xuất, kinh doanh hàng giả còn dẫn đến nguy cơ gây
ô nhiễm môi trường trầm trọng chẳng hạn như sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật giả, kém chất lượng
- Không những thế tệ nạn sản xuất, buôn bán hàng giả còn gây nên những hậu quả phức tạp, nặng nề về đạo đức và xã hội Đặc biệt là các loại hàng giả có các độc tố gây tác hại cho sức khoẻ con người như: Tác hại của dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng thức ăn gia súc có tác nhân gây biến đổi gien, sử dụng thuốc chữa bệnh không có tác dụng chữa bệnh, vắc xin và thuốc phòng dịch giả… khi sử dụng những loại hàng hóa này không chỉ gây thiệt hại cho người sử dụng mà còn gây tác hại cho cộng đồng và nòi giống của dân tộc Cùng với đó, là các văn hoá phẩm giả, băng đĩa hình giả, chất lượng thấp sẽ hạ thấp giá trị văn hoá; bằng cấp, chứng chỉ đào tạo giả sẽ tạo ra những con người giả, làm suy đồi đạo đức trong giáo dục và gây hại lâu dài cho quốc gia Ngoài ra, lợi nhuận phi pháp từ sản xuất, buôn bán hàng giả cũng làm cho đạo đức bị tha hóa từ đồng tiền bất chính thu được, kéo theo
đó là nạn cờ bạc, rượu chè và những tệ nạn xã hội khác có cơ hội phát triển
Trang 35- Vấn đề trọng tâm cần nhấn mạnh là hậu quả của hàng giả còn trực tiếp đe doạ đối với chủ quyền và an ninh quốc gia Về lâu dài tác hại của hàng giả luôn có thể xuất hiện với thách thức và nguy cơ rất lớn Như tác hại của các công trình quốc gia bị giả mạo từ khi đấu thầu đến khi thi công dẫn tới các công trình này có thể bị
hư hỏng, thoái hóa do sử dụng các loại nguyên liệu kém phẩm chất, các thiết bị phục vụ quân sự cũng có thể là hàng giả; các cây giống, con giống giả và kém chất lượng có thể gây tác hại lâu dài trong nông nghiệp
- Hàng giả đã và đang thách thức hiệu lực Pháp luật và năng lực quản lý của
bộ máy Nhà nước Kẻ có tội không bị trị tội hay không phải chịu hình phạt thích đáng sẽ nảy sinh tâm lý coi thường Pháp luật, coi thường Nhà nước, làm khủng hoảng hệ thống Lập pháp -Tư pháp và công luận
Như vậy, hàng giả đang trở thành hiện tượng khá phổ biến với diện mặt hàng, chủng loại hàng hóa ngày càng đa dạng Vì thế cuộc chiến chống hàng giả không kém phần khó khăn, phức tạp so với chống buôn lậu, diễn ra không ngừng và nhiều khi rất quyết liệt nhằm bảo vệ lợi ích chung của xã hội, lợi ích và cuộc sống bình yên, an toàn của người tiêu dùng, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các nhà sản xuất, kinh doanh chân chính
1.1.9 Tầm quan trọng của công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả
Ngày nay, khi quá trình quốc tế hóa toàn cầu ngày càng mạnh mẽ thì vấn nạn hàng giả ngày càng phát triển mạnh và có tác hại to lớn đối với nền kinh kế của mỗi quốc gia nhất là các quốc gia có nền kinh tế chậm phát triển Chính vì vậy, công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng có tầm quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích cho các nhà sản xuất, kinh doanh chân chính, bảo vệ sức khoẻ và quyền lợi của người tiêu dùng, làm lành mạnh hoá môi trường kinh doanh và đầu
tư, làm giảm thiệt hại kinh tế và hao tổn kinh phí quốc gia do hàng giả gây ra Đồng thời, giúp cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh biết được nguy cơ của hàng giả để có các giải pháp kịp thời phòng chống, có các biện pháp tự bảo vệ hàng hoá, thương hiệu của mình trên thị trường, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển; khuyến khích kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước tạo dựng sự tin
Trang 36tưởng vào chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước, an ninh quốc phòng được giữ vững
1.1.10 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và chính sách, pháp luật về đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả
Nhận thức rõ những tác hại của hàng giả cũng như tình trạng báo động của nạn hàng giả đối với kinh tế xã hội và cộng đồng, Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời
có những chiến lược và chủ trương chính sách phù hợp nhằm chấn chỉnh lại sản xuất và lưu thông hàng hoá nội địa
Trong quá trình đổi mới, khởi động từ những thử nghiệm ban đầu trong những năm đầu thập kỷ 80 và từ năm 1986, đường lối đổi mới được chính thức đề
ra trong Đại hội VI của Đảng Từ đó, nền kinh tế nước ta từng bước được chuyển sang cơ chế quản lý mới; từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Khi đề ra đường lối đổi mới và chủ trương chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường như một chiến lược lâu dài, Đảng ta đã thấy rõ tính hai mặt của cơ chế này: Vừa có những tác dụng tích cực to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội, vừa có những tác động tiêu cực mâu thuẫn với bản chất của chủ nghĩa xã hội Từ đó, một trong những quan điểm cơ bản của Đảng ta là: Vận dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của nhà nước, nhằm phát huy tác dụng tích cực
đi đôi với ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của cơ chế này
Một trong những mặt tiêu cực, mặt trái của cơ chế thị trường là: Cạnh tranh không lành mạnh, sản xuất và buôn bán hàng giả Ngay từ những năm đầu của thời
kỳ đổi mới, Trung ương Đảng đã nhận xét, đánh giá và chỉ rõ các hiện tượng tiêu cực này Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khoá VI trước Đại hội đại biểu lần thứ VII (tháng 6/1991) đã ghi: “Công tác quản lý thị trường có nhiều sơ hở, nạn buôn lậu, làm hàng giả trầm trọng và kéo dài ” và còn ghi:
“…trong quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực đã xuất hiện nhiều hiện tượng
Trang 37tiêu cực mới mà chúng ta chưa lường hết, chậm phát hiện và chưa xử lý tốt Đó là lối làm ăn chạy theo lợi nhuận bất kể giá nào, dẫn đến vi phạm luật, lừa đảo, hối lộ, làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế ”
Từ những quan điểm nhận định nêu trên, Đảng ta đã có chủ trương: “Kiên quyết chống buôn lậu và các hiện tượng tiêu cực khác trong lưu thông ”
Những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng như nêu trên được khẳng định lại trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tại đại hội lần thứ VIII: “ phát huy tác động tích cực to lớn đi đôi với ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của thị trường” và “…tăng cường quản lý thị trường, hướng dẫn các thành phần kinh tế trong thương nghiệp phát triển đúng hướng, đúng chính sách, pháp luật, cạnh tranh lành mạnh, chống trốn thuế, lậu thuế, lưu thông hàng giả”
Các quan điểm, chủ trương của Đảng về sản xuất và buôn bán hàng giả trong
cơ chế kinh tế thị trường đã được Nhà nước ta từng bước thể chế hoá thành các văn bản pháp luật và tổ chức các lực lượng triển khai thực hiện trong những năm qua
Trong Bộ luật hình sự có hiệu lực từ 01/07/2000 (thay thế Bộ luật hình sự ban hành năm 1985 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong các năm 1989,
1991, 1992 và 1997) đã quy định 3 điều để xử lý các tội liên quan đến sản xuất và buôn bán hàng giả, đồng thời trong “Pháp lệnh chất lượng hàng hoá” và “Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” đều có những điều quy định cấm sản xuất kinh doanh hàng cấm, hàng giả, hàng hoá không đảm bảo chất lượng theo quy định của pháp luật
Ngày 27/10/1999 Thủ tướng đã ra Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg về đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả, nội dung của Chỉ thị có chỗ nêu rõ "các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải coi việc chống sản xuất, buôn bán hàng giả là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài Phải có biện pháp đồng bộ, kiên quyết để đấu tranh ngăn chặn, từng bước đẩy lùi hoạt động sản xuất và buôn bán hàng giả Mọi hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ
Trang 38hàng giả được phát hiện đều phải xử lý nghiêm theo pháp luật Những vụ việc nghiêm trọng phải kịp thời đưa ra xét xử nhằm răn đe, giáo dục chung" Đồng thời Thủ tướng Chính phủ cũng đã chỉ thị và giao nhiệm vụ cụ thể tới từng bộ, ngành, UBND địa phương cũng như mọi doanh nghiệp và người dân trong công tác đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả
Sau một thời gian thực hiện Chỉ thị 31 của Thủ tướng Chính phủ, các cấp, các ngành và toàn xã hội đã thực sự quan tâm hơn và có nhiều nỗ lực tích cực trong công tác này; so với những năm trước đây, công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả đã có những chuyển biến rõ rệt cả về nhận thức và hành động, nhờ đó sản xuất và buôn bán hàng giả về cơ bản đã giảm đáng kể, nhiều vụ sản xuất, buôn bán, nhập lậu, nhập khẩu hàng giả đã được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời Như vậy, trong quá trình đổi mới xây dựng và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, Đảng và Nhà nước ta đã luôn nhìn nhận và có quan điểm rõ về những mặt trái của cơ chế thị trường, trong đó có các hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả và luôn coi việc đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực này là một nhiệm vụ quan trọng và lâu dài và chủ trương đấu tranh rất kiên quyết, xử lý nghiêm các hành vi sản xuất và buôn bán hàng giả nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, lợi ích của người tiêu dùng cũng như lợi ích của các nhà doanh nghiệp hoạt động đúng pháp luật
* Chính sách hiện hành:
1) Các văn bản luật: Bộ Luật hình sự, Bộ Luật dân sự, Luật Thương mại, Luật Hải quan, Luật Doanh nghiệp, Luật Khoa học công nghệ, Luật Bảo vệ người tiêu dùng, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hoá, Cụ thể:
a Bộ luật Dân sự năm 2005:
- Từ Điều 736 đến Điều 749 quy định về Quyền tác giả và Quyền liên quan Quyền tác giả;
- Từ Điều 750 đến Điều 753 quy định về quyền sử hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng
b Bộ Luật Hình Sự Số 15/1999/QH10 đã được sửa đổi bổ sung 2009/QH12 Ngày 19/6/2009
Trang 39- Điều 156 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả;
- Điều 157 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh;
- Điều 158 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây chồng, vật nuôi;
- Điều 164 Tội làm tem giả, vé giả; tội buôn bán tem giả, vé giả;
- Điều 170a Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan
- Điều 171 Tội xâm phạm sở hữu công nghiệp;
- Điều 180 Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả;
- Điều 181 Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hàng séc giả, các giấy tờ có giá trị khác
c Luật thương mại năm 2005:
- Điều 14 Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng;
- Điều 25 Hàng hóa cấm kinh doanh, hàng hóa hạn chế kinh doanh, hàng hóa kinh doanh có điều kiện;
- Điều 108 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm quảng cáo thương mại
d Luật sở hữu trí tuệ năm 2005:
Trang 40e Luật cạnh tranh năm 2004:
- Điều 40 Chỉ dẫn gây nhầm lẫm;
- Điều 41 Xâm phạm bí mật kinh doanh
f Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2011
2) Các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm về sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng xâm phạm quyền sử hữu trí tuệ bao gồm:
- Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2008 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính hoạt động thương mại;
- Nghị định số 97/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;
- Nghị định số 47/2009/NĐ-CP ngày 13/5/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan và Nghị định 109/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 47/2009/NĐ-CP
- Nghị định số 08/2013/NĐ- CP ngày 10/01/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sản xuất và buôn bán hàng giả;
Và hệ thống các Thông tư, Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành; các văn bản pháp quy khác theo đó là hàng loạt các quyết định, quy định hướng dẫn kèm theo có tác dụng cụ thể hoá và hướng dẫn chi tiết cách áp dụng, hướng dẫn thi hành đối với từng điều khoản, quy định liên quan Đây thực sự là những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng trong việc tạo dựng cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác đấu tranh chống hàng giả, đồng thời góp phần từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý thuận lợi khuyến khích các hoạt động kinh tế thương mại, đầu tư, khoa học công nghệ, phát triển bảo đảm tính lành mạnh và có định hướng của Nhà nước
Như vậy trong mỗi lĩnh vực về cơ bản đã hình thành tương đối đầy đủ các chế định pháp lý tương ứng liên quan, mang tính hệ thống pháp lý từ cao xuống thấp, được quy định và hướng dẫn tương đối chi tiết, đầy đủ và cụ thể, các hành vi
vi phạm liên quan đến hàng giả, phần lớn đã được điều chỉnh thích hợp trong các văn bản pháp luật hiện hành