3.3. Đánh giá công tác chống buôn bán hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ
3.3.2. Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân
Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia đang phát triển về kinh tế, do đó hệ thống các quy định của pháp luật nói chung và các quy định trong lĩnh vực chống hàng giả nói riêng đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nên vẫn còn tồn tại một số mâu thuẫn, hạn chế và bất cập. Các văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều điểm chồng chéo, đặc biệt là việc quy định hành vi vi phạm và các chế tài xử lý vi phạm còn chưa thực sự chặt chẽ, thống nhất và đồng bộ về các hình thức xử lý, mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả. Khung pháp lý chưa hoàn chỉnh để áp dụng
81
kiểm tra, xử lý VPHC và xử lý tang vật, hàng hóa vi phạm. Bởi vậy, đã gây rất nhiều khó khăn trong việc áp dụng để xử lý vi phạm.
Kinh phí, trang thiết bị chuyên dụng, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm đã được tăng cường nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
Đặc điểm điều kiều kiện tự nhiên của tỉnh Phú Thọ là khu vực trung du miền núi, có nhiều xã nông nghiệp, giao thông nông thôn không thuận tiện, nên các cơ sở sản xuất, kinh doanh phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung tại các khu vực trung tâm thành phố, thị xã, thị trấn. Khoảng cách địa lý từ trụ sở của đơn vị chủ quản đến các địa bàn quản lý có nơi lên tới 50 – 60 km. Do đó công tác quản lý, nắm bắt tình hình địa bàn chưa được sát sao, triệt để; dẫn đến công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm còn bị bỏ sót, hiệu quả chưa cao. Trong khi đó tại các khu vực này trình độ hiểu biết của người dân cũng như việc chấp hành pháp luật của các cơ sở kinh doanh còn thấp, do vậy đã có nhiều hành vi vi phạm về buôn bán hàng giả hàng, kém chất lượng, hàng không đảm bảo an toàn thực phẩm,... xảy ra trên địa bàn.
Hiện nay một sốdoanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến công tác chống buôn bán hàng giả cũng như chưa chủ động bảo vệ sản phẩm của mình khi đưa ra thị trường tiêu thụ. Xem nhẹ việc cung cấp các thông tin, cảnh báo cho người tiêu dùng để biết cách phân biệt hàng thật và hàng giả. Công tác phối hợp của các Doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh với cơ quan quản lý nhà nước trong công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin về sở hữu trí tuệ cũng như phối hợp trong công tác phòng chống, kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm về buôn bán hàng giả mang hiệu quả chưa cao.
Có nhiều người dân tuy biết là hàng giả nhưng vẫn mua bởi giá rẻ, mẫu mã đẹp và mua theo sở thích mà không quan tâm, để ý đến chất lượng hay tác hại của hàng giả đối với sức khỏe cũng như hệ lụy của nó ảnh hưởng sau này.
3.3.2.2. Hạn chế
Về xây dựng kế hoạch:
Công tác xây dựng kế hoạch về chống buôn bán hàng giả chưa sát với thực tế, các chỉ tiêu đề ra mang tính áp đặt chưa phù hợp với kết quả đánh giá và dự báo thị
82
trường hàng năm. Do vây, trong quá trình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về kiểm tra, xử lý vi phạm đối với hàng giả tại các Đội QLTT chưa đạt được kết quả cao.
Về tổ chức thực hiện:
Quy trình thực hiện công tác kiểm tra và xử lý vi phạm về hàng giả còn nhiều phức tạp, hồ sơ thiết lập vụ việc mất nhiều thời gian, mức xử phạt vi phạm hành chính cao. Hàng hóa, tang vật tịch thu, tạm giữ thường gặp phải những phản ứng gay gắt của các đối tượng vi phạm, qua đó dẫn đến còn tình trạng né tránh, ngại khó khi thực hiện đối với các vụ việc xử lý về hàng giả của các Đội QLTT trực thuộc.
Công tác quản lý địa bàn tại các Đội chưa thực hiện sát sao và chưa thường xuyên, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại không thuận lợi. Công tác thống kê, lập sổ bộ và cập nhật thông tin theo dõi hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tổ chức, cá nhân chưa cụ thể, chi tiết.
Công tác đánh giá, dự báo tình hình đối với hoạt động buôn bán hàng giả trên thị trường đôi khi chưa sát với thực tế, chưa chủ động và còn mang tính chủ quan.
Thông tin để đánh giá chưa được thu thập đầy đủ, chất lượng dự báo về tình hình hoạt động buôn bán hàng giả chưa cao.
Công tác tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật về hàng giả đã được quan tâm triển khai nhưng chưa thường xuyên, liên tục;
hình thức và nội dung tổ chức tuyên truyền chưa được phong phú, đôi khi vẫn còn nặng mang tính hình thức do vậy hiệu quả thực tế mang lại chưa cao.
Cơ sở dữ liệu về cách phân biệt hàng thật - hàng giả, các đối tượng vi phạm, lĩnh vực cũng như các mặt hàng hay bị làm giả chưa được cập nhật thường xuyên, liên tục. Các thông tin đưa ra đối chiếu hàng thật – hàng giả chỉ mang tính tham khảo, không đủ cơ sở cũng như giá trị pháp lý để ra quyết định xử phạt VPHC.
Công tác phối kết hợp giữa các lực lượng chức năng, tổ chức trong công tác phòng chống, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm về buôn bán hàng giả đôi lúc chưa thực sự hiệu quả, mang tính hình thức, kiểm tra vẫn còn tình trạng chồng chéo, bỏ sót đối tượng và xử lý chưa triệt để.
Về thanh tra, kiểm tra và giám sát:
Nội dung thanh tra, kiểm tra còn sơ sài, đôi khi còn mang tính dập khuân. Việc
83
thực hiện kết luận thanh tra, kiểm tra của các Đội QLTT còn chưa nghiêm túc, dẫn đến cùng một nội dung kiểm tra năm trước vi phạm nhưng năm sau vẫn tái phạm nội dung đó. Việc giám sát thực hiện công tác chống buôn hàng giả của Cục QLTT tỉnh Phú Thọ còn thiếu tính chủ động, đôi khi chưa kịp thời dẫn đến một số chỉ tiêu trong kế hoạch giao cho các Đội thực hiện chưa đạt được kết quả cao và chưa hiệu quả.
3.3.2.3. Nguyên nhân
Việc xây dựng kế hoạch kiểm tra định kỳ đối với các cơ sở kinh doanh trên địa bàn được thực hiện từ đầu năm, do đó trong quá trình thực hiện kế hoạch có nhiều trường hợp do kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ nên đã dừng hoạt động trước khi Đội QLTT tiến hành kiểm tra, nên đã ảnh hưởng đến chỉ tiêuthực hiện kế hoạch đề ra.
Các quy định của pháp luật nói chung và quy định về chống buôn bán hàng giả còn thiếu tính ổn định, hay thay đổi, điều chỉnh và đôi khi có điểm bất hợp lý khi áp dụng. Một số hành vi vi phạm hành chính chưa được điều chỉnh, bổ sung kịp thời; chế tài áp dụng xử lý chưa đảm bảo tính răn đe; các văn bản hướng dẫn còn ban hành chậm, chưa cụ thể, rõ ràng.
Trình tự, thủ tục giám định hàng giảkhá phức tạp, mất nhiều thời gian đợi kết quả; chi phí giám định ở mức cao, đặc biệt là đối với những hàng hóa, tang vật có xuất xứ từ nước ngoài. Các tổ chức giám định hàng giả, hàng kém chất lượng tại Việt Nam chưa có nhiều, uy tín còn thấp.
Nguồn nhân lực mỏng, mỗi Đội tại các huyện chỉ có 4 – 5 cán bộ, công chức quản lý địa bàn, trong khi nhiều huyện có trên 30 xã và thị trấn do đó công tác phòng chống, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm không tránh khỏi việc bỏ sót hành vi vi phạm. Số lượng biên chế được bổ sung cho các Đội còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
Thủ đoạn buôn bán hàng giả ngày càng tinh vi hơn bởi sự phát triển của khoa học công nghệ. Do đó, hàng giả được bày bán trên thị trường có mẫu mã, hình thức rất giống với hàng thất, nên rất khó phát hiện.
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức thực thi công tác chống buôn bán hàng giả không đồng đều, áp dụng công nghệ thông tin còn hạn chế, trong khi đó hoạt động buôn bán hàng giả trên thị trường phát triển ở mức độ nhanh, diễn
84
biến ngày càng phức tạp, tinh vi và khó kiểm soát.Năng lực của một số cán bộ, công chức còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chưa đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ được phân công dẫn đến hiệu quả công việc chưa cao.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ chưa được tổ chức thường xuyên, chưa có nội chuyên sâu, bài bản về chống buôn bán hàng giả. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế và chưa có chiến lược lâu dài. Việc tự nghiên cứu, tìm hiểu về phương thức hoạt động, các mặt hàng mới bị làm giả trên thị trường của cán bộ, công chức còn chưa chủ động, chủ yếu vẫn dựa trên phương thức, kinh nghiệm từ trước do vậy kết quả kiểm tra, xử lý vi phạm chưa cao cả về số lượng và chủng loại của hàng hóa.
Công tác quản lý địa bàn tại các Đội chưa thực hiện sát sao và chưa thường xuyên, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại không thuận lợi. Nguồn kinh phí dùng để chi thường xuyên và mua sắm trang thiết bị còn ở mức thấp. Hình thức và nội dung tổ chức tuyên truyền chưa được phong phú, đôi khi vẫn còn nặng mang tính hình thức.Công tác phối kết hợp với các cơ quan, tổ chức chưa thực chặt chẽ, nhịp nhàng và đôi khi còn mang tính cục bộ.
Công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát nội bộ chưa được quan tâm đúng mức, còn mang nặng về hình thức và xem nhẹ về nội dung, còn biểu hiện e dè, nể nang đối với những đơn vị, cán bộ, công chức vi phạm. Kết thúc quá trình thanh tra, kiểm tra nội bộ và giám sát còn chưa chặt chẽ, thiếu tính liên tục.
85 CHƯƠNG 4
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỐNG BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CỤCQUẢN Lí THỊ TRƯỜNG TỈNH PHệ THỌ