Nhằm trả lời các câu hỏitrên để giúp các nhà quản lý có cơ sở khoa học đánh giá và đưa ra các chiến lượcquản lý và cung cấp các dịch vụ bệnh viện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
-*** -NGUYỄN THẾ TUYỀN
NHU CầU Sử DụNG DịCH Vụ THAY BĂNG, CắT CHỉ
TạI NHà CHO NGƯờI BệNH SAU PHẫU THUậT đã ổn định
TạI KHOA NGOạI BệNH VIệN ĐạI HọC Y Hà NộI
NĂM 2018 Và MộT Số YếU Tố LIÊN QUAN
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN Lí BỆNH VIỆN
HÀ NỘI - 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 2NGUYỄN THẾ TUYỀN
NHU CầU Sử DụNG DịCH Vụ THAY BĂNG, CắT CHỉ
TạI NHà CHO NGƯờI BệNH SAU PHẫU THUậT đã ổn định
TạI KHOA NGOạI BệNH VIệN ĐạI HọC Y Hà NộI
NĂM 2018 Và MộT Số YếU Tố LIÊN QUAN
Chuyờn ngành : Quản lý bệnh viện
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN Lí BỆNH VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Thị Hoài Thu
HÀ NỘI - 2018
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm và định nghĩa 3
1.2 Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà 3
1.2.1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà trên thế giới 4
1.2.2 Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam 5
1.3 Một số chính sách của Việt Nam liên quan đến cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà 7
1.3.1.Mô hình bác sĩ gia đình 7
1.3.2.Dịch vụ y tế tại nhà 8
1.4 Nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ tại nhà cho người bệnh sau phẫu thuật và một số yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà 9
1.5 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu 12
1.5.1 Một số thông tin chung về khoa Ngoại tổng hợp, bệnh viện Đại học Y Hà Nội 12
1.5.2 Một số thông tin về sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ của người bệnh sau phẫu thuật tại khoa Ngoại tổng hợp, bệnh viện Đại học Y Hà Nội 12
1.6 Khung lý thuyết 13
CHƯƠNG 2: 14ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu chính 15
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu liên quan 15
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
2.3 Thiết kế nghiên cứu 15
2.4 Phương pháp nghiên cứu 15
2.4.1 Cỡ mẫu định lượng 15
2.4.2 Cỡ mẫu định tính 16
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 16
2.5.1 Nghiên cứu định lượng 17
2.5.2 Nghiên cứu định tính 19
2.6 Các biến số nghiên cứu 19
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng 19
Trang 42.7.1 Số liệu định lượng 25
2.7.2 Số liệu định tính 25
2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 25
2.9 Sai số và biện pháp khắc phục 26
2.9.1 Sai số của nghiên cứu 26
2.9.2 Các biện pháp khắc phục sai số 26
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 28
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 28
3.1.1 Một số thông tin chung, đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 28
3.1.2 Thông tin về sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện của đối tượng nghiên cứu 30
3.1.3 Sự hài lòng và mức độ tin tưởng của người bệnh về sử dụng dịch vụ y tế tại bệnh viện 31
3.2 Nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà của người bệnh sau phẫu thuật 33
3.3 Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà của người bệnh sau phẫu thuật 34
3.3.1 Mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà và yếu tố cá nhân 34
3.3.2 Mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà và yếu tố tiếp cận và sử dụng dịch vụ 36
CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 37
4.1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà của người bệnh sau phẫu thuật 37
4.2 Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà của người bệnh sau phẫu thuật 37
4.2.1 Yếu tố cá nhân 37
4.2.2 Yếu tố tiếp cận dịch vụ và sử dụng dịch vụ 37
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 38
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng người bệnh tham gia nghiên cứu 28Bảng 3.2: Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viện của đối tượng nghiên cứu 30Bảng 3.3: Sự hài lòng của người bệnh về sử dụng dịch vụ y tế tại Bệnh viện 31Bảng 3.4: Mức độ tin tưởng của người bệnh về sử dụng dịch vụ y tế tại Bệnh viện 32Bảng 3.5: Nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà 33Bảng 3.6: Một số lý do người bệnh chưa muốn sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ
tại nhà 34Bảng 3.7: Mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà và
yếu tố cá nhân 34Bảng 3.8 Mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà và
yếu tố tiếp cận và sử dụng dịch vụ 36
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe và bảo vệ sức khỏe là một bộ phận quan trọng trong Chiến lược conngười và trong sự nghiệp hiện đại hóa và công nghiệp hóa của nước ta Mục tiêuchung của Chiến lược Quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dângiai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
đã ghi rõ: “Bảo đảm mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe banđầu, mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Người dân đượcsống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắcbệnh, tật, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, nâng cao chất lượng dân số” [1]
Hiện nay, nhu cầu tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người dânngày càng gia tăng Đặc biệt đối với các gia đình bận rộn thì đây là một giải pháphữu ích, thuận tiện khi trong gia đình có người muốn được khám và chữa bệnh.Chăm sóc sức khỏe tại nhà là dịch vụ mà người bệnh không cần phải đến các bệnhviện hoặc phòng khám mà khám chữa bệnh mà các hoạt động này có thể diễn rangay tại nhà của người bệnh
Thay băng, cắt chỉ vết thương là một trong những kỹ thuật cơ bản và là khâuquan trọng cần thực hiện trong quá trình chăm sóc sau phẫu thuật Nếu thực hiệnkhông đúng cách sẽ dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn cao Việc trực tiếp đến bệnh viện
để thay băng, cắt chỉ vết thương có thể khiến người bệnh mất thời gian chờ đợi, hoặcmắc phải các nhiễm khuẩn chéo từ môi trường bệnh viện Xuất phát từ nhu cầu củangười bệnh, các dịch vụ thay băng, cắt chỉ vết thương tại nhà cho người bệnh sauphẫu thuật giúp đảm bảo tính nhanh chóng, an toàn và thuận tiện, giúp người bệnh cóthêm thời gian nghỉ ngơi, giảm chi phí đi lại tới cơ sở y tế để xử lý vết thương, hoặcgiảm thiểu các nguy cơ nhiễm khuẩn vết thương, tụ máu, tổn thương, hoại tử mô…dongười bệnh thiếu kĩ năng và không biết cách chăm sóc
Đối với những người bệnh được phẫu thuật tại các bệnh viện có tình trạng quátải bệnh viện, thì việc cho người bệnh ra viện sớm, sau đó cử điều dưỡng đến thaybăng, cắt chỉ tại nhà còn giúp giảm số ngày-giương điều trị cho người bệnh, tiết kiệm
Trang 7chi phí cho người bệnh và cũng góp phần giảm gánh nặng chăm sóc cho người nhà vàgia đình người bệnh Đồng thời, việc không phải duy trì ngày điều trị quá dài tại bệnhviện, cũng giúp người bệnh giảm được nguy cơ lây nhiễm chéo trong môi trườngbệnh viện.
Theo báo cáo hoạt động 6 tháng đầu năm 2018, khoa Ngoại tổng hợp – Bệnhviện Đại học Y Hà Nội cũng đang phải đối mặt với tình trạng quá tải bệnh nhân, sốlượng người bệnh nội trú tăng 11,6%, số ca phẫu thuật tăng 12,4% (so với cùng thờiđiểm 6 tháng đầu năm 2017) Vì vậy, việc cung cấp dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhàcho người bệnh sau phẫu thuật sẽ góp phần giảm tải cho bệnh viện trong thời gian tới.Câu hỏi đặt ra là nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ tại nhà cho người bệnhsau phẫu thuật như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụthay băng và cắt chỉ tại nhà của người bệnh sau phẫu thuật? Nhằm trả lời các câu hỏitrên để giúp các nhà quản lý có cơ sở khoa học đánh giá và đưa ra các chiến lượcquản lý và cung cấp các dịch vụ bệnh viện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ tại nhà cho người bệnh sau phẫu thuật tại khoa Ngoại tổng hợp bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2018 và một số yếu tố liên quan”.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ tại nhà cho người bệnh sau phẫu thuật tại khoa Ngoại tổng hợp bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2018.
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ tại nhà cho người bệnh sau phẫu thuật tại khoa Ngoại tổng hợp bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2018.
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm và định nghĩa
Vết thương là một vết cắt hoặc phá vỡ sự liên tục của một cơ quan hoặc mô
gây ra bởi một tác nhân bên ngoài, chẳng hạn như chấn thương hoặc phẫu thuật
Rửa vết thương nhằm mục đích loại bỏ các tạp chất bề mặt, vi khuẩn và mảnh vụn
băng gạc trên nền vết thương cũng như vùng da xung quanh
Thay băng là một trong những kỹ thuật cần thực hiện chăm sóc đối với
người bệnh có vết thương sau mổ, nhằm mục đích đánh giá mức độ tổn thương, tiếntriển của vết thương, rửa vết thương, thấm hút dịch, cắt lọc tổ chức hoại tử, đắpthuốc vào vết thương, phòng ngừa nhiễm khuẩn thứ phát và tạo điều kiện tốt nhất để
vết thương nhanh chóng hồi phục [2] Thay băng và cắt chỉ là kỹ thuật chăm sóc
vết thương sau phẫu thuật, là yếu tố quan trọng trong quá trình hoàn thiện và làmlành vết thương cả bên trong và bên ngoài
Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà là dịch vụ mà người bệnh không cần
phải đến các bệnh viện hoặc phòng khám mà khám chữa bệnh mà các hoạt độngnày có thể diễn ra ngay tại nhà của người bệnh Đây là một dịch vụ ít tốn kém,thuận tiện và đạt hiệu quả tương đương so với việc chăm sóc tại bệnh viện Hiệnnay, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà thường gồm dịch vụ xét nghiệm máu,xét nghiệm nước tiểu tại nhà, chăm sóc thay băng, cắt chỉ vết thương hở hoặc vếtthương sau phẫu thuật, truyền dịch, tiêm thuốc tại nhà, kiểm tra huyết áp, nhịp tim,hướng dẫn cách chăm sóc người bệnh tại nhà
1.2 Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà
Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà mang lại những lợi ích cho người sử dụngdịch vụ y tế nói chung và người bệnh nói riêng như đảm bảo tính linh hoạt (Ngườibệnh có thể sử dụng dịch vụ bất cứ lúc nào); thủ tục đơn giản (giảm bớt các thủ tụchành chính như khi đến khám và điều trị tại các cơ sở y tế); có thể chăm sóc sứckhỏe cho cả gia đình, đặc biệt hữu ích đối với những người làm việc hành chính
Trang 9không có thời gian đi khám chữa bệnh ở bệnh viện, phòng khám; tiện lợi cho trẻnhỏ, người già, người bệnh trong trường hợp phải di chuyển xa từ nhà đến cơ sở ytế; tiết kiệm chi phí
1.2.1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà trên thế giới
Các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước nghèo có xu hướng ít đượctiếp cận, sử dụng dịch vụ y tế hơn so với những nước giàu có Gánh nặng bệnh tật ởnhững nước thu nhập thấp và trung bình (LMICs) chiếm tới 90% gánh nặng bệnhtật toàn cầu nhưng chi tiêu toàn cầu về sức khỏe chỉ chiếm có 12% Các quốc giathu nhập cao chi tiêu bình quân cho sức khỏe/đầu người cao gấp khoảng 100 lần sovới các nước có thu nhập thấp (3.039 USD so với 30 USD) [26] Vì thế, không ngạcnhiên khi mật độ nhân viên y tế và giường bệnh cho mỗi người dân ở các nướcLMICs thấp hơn nhiều so với các nước có thu nhập cao Điều này làm giảm sự sẵn
có của dịch vụ y tế cho rất nhiều người nghèo trên thế giới [25] Hơn nữa, càng ởnhững quốc gia nghèo thì tổng chi cho sức khỏe từ tiền túi (OOP) của người dân lạicàng lớn Tính trung bình, hơn 60% chi tiêu ít ỏi ở các nước có thu nhập thấp là từtiền túi, trong khi đó tỷ lệ này ở các nước có thu nhập cao chỉ chiếm khoảng 20%[26] Đây là một trong những rào cản hạn chế khả năng tiếp cận, sử dụng dịch vụ y
tế của người dân, đặc biệt là người nghèo
Nghiên cứu tìm hiểu về việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe và phòngbệnh của người già trong vòng 1 năm trước thời điểm điều tra được tiến hành tại 10nước phát triển (Úc, Đan mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha, ThụyĐiển và Thụy Sĩ) năm 2004 Kết quả từ nghiên cứu này đã cho thấy bức tranh tươngđối tổng thể về tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ởchâu Âu như sau: Tỷ lệ sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú từ 4 lần trở lênchiếm 52%; Tỷ lệ gặp bác sĩ gia đình từ 4 lần trở lên là 46%; Tỷ lệ gặp bác sĩchuyên khoa ít nhất một lần trong năm chiếm 93,1%; [24] Ở Mỹ, phụ nữ trẻ và trẻ
vị thành niên là những đối tượng thường sử dụng các dịch vụ y tế cung cấp bởi bácgia đình và bác sĩ chuyên khoa sản-phụ khoa Tỷ lệ khám bác sĩ gia đình tăng 25%
ở lứa tuổi 9-10 và 30% ở lứa tuổi 25-26 Đối với lứa tuổi 17-18, có tới 33% số lượt
Trang 10thăm khám bệnh được thực hiện bởi bác sĩ sản phụ khoa (33% trong số 7 triệu lượt)
và bác sĩ gia đình là 34%, trong khi đó bác sĩ nhi khoa chỉ là 23% Tỷ lệ sử dụngdịch vụ về sức khỏe sinh sản cao (SKSS) nhất ở nhóm tuổi từ 20-21 với 53% (7,5triệu lượt thăm khám) [23]
1.2.2 Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam
Hệ thống cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam bao gồm mạng lưới các cơ sở y
tế công và tư nhân, trong đó y tế công chiếm vai trò chủ đạo trong công tác chămsóc sức khỏe nhân dân
Mạng lưới y tế công gồm có 4 tuyến phân theo quản lý hành chính nhà nước:
- Tuyến trung ương: bao gồm các bệnh viện trung ương và bệnh viện khuvực do Bộ y tế trực tiếp quản lý
- Tuyến tỉnh: gồm bệnh viện đa khoa tỉnh và các cơ sở y tế tuyến tỉnh do Sở
Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hoài Thu (2014) tiến hànhtrên 406 hộ gia đình cho thấy, 24,4% người bệnh mời cán bộ y tế tới nhà để khámchữa bệnh; tỷ lệ đi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập và tư nhân chiếm44,1% trong đó tỷ lệ phòng khám đa khoa/ bệnh viện huyện chiếm tỷ lệ cao nhất là17,6%; tỷ lệ đến trạm y tế xã thấp hơn với 11,9% [4]
Trang 11Nghiên cứu của tác giả Bùi Thùy Dương (2010) tìm hiểu nhu cầu chăm sócsức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người bệnh và người nhà người bệnh tại bệnhviện Đại học Y Hà Nội năm 2010 cho thấy có 51,1% đến 70,9% khách hàng chorằng bệnh viện nên triển khai các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà.Người bệnh và người nhà người bệnh đều có nhu cầu cao sử dụng dịch vụ chăm sócsức khỏe ngoài giờ và tại nhà (53,3% - 90,3%), nhất là dịch vụ khám vào ngày thứ 7
và chủ nhật [16]
Đối với các trường hợp bệnh cấp tính, hình thức tự điều trị và sử dụng dịch
vụ y tế tư nhân vẫn là hai hình thức phổ biến trong sử dụng dịch vụ y tế của ngườicao tuổi Chỉ khoảng 40% người cao tuổi sử dụng dịch vụ y tế nhà nước khi bị ốm.Những người trên 85 tuổi có tỷ lệ sử dụng dịch vụ bệnh viện thấp hơn 2 lần so vớinhóm tuổi từ 60-64 do khả năng đi lại hạn chế [22]
Đối với bệnh mạn tính, đến cơ sở y tế nhà nước để chẩn đoán bệnh là hìnhthức phổ biến ở cả 3 tỉnh điều tra Tuy nhiên, tỷ lệ người cao tuổi tự chẩn đoán bệnhcũng tương đối cao, chiếm khoảng 27% Sử dụng dịch vụ y tế tư nhân trong điều trịbệnh mạn tính là hình thức phổ biến ở cả 3 tỉnh điều tra Phụ nữ cao tuổi có xuhướng sử dụng dịch vụ y tế tư nhân với tỷ lệ cao hơn nam giới, trong khi nam giớicao tuổi lại sử dụng dịch vụ bệnh viện với tỷ lệ cao hơn [22]
Đối với những trẻ em đã khám chữa bệnh trong khoảng 6 tháng trước khiđiều tra, nhu cầu sử dụng dịch vụ điều trị tại nhà cao gấp gần 3 lần so với những emkhông khám trong vòng 6 tháng trước điều tra Còn trẻ em đã từng điều trị tại bệnhviện huyện có nhu cầu được sử dụng dịch vụ điều trị tại nhà cao hơn đến trên 4 lầnnhững trẻ chưa từng điều trị tại các cơ sở y tế đã miêu tả trong mô hình Điều này
có thể do việc điều trị tại nhà thuận tiện hơn cho gia đình trong việc chăm sóc trẻ,hơn nữa việc thanh toán chế độ bảo hiểm y tế của trẻ thường lâu và không thuậntiện Bên cạnh đó tâm lý của các gia đình là ngại đưa con em mình đến các cơ sở y
tế công lập vì tình trạng quá tải và sợ con mình có nguy cơ lây chéo bệnh trong môitrường bệnh viện Chính vì lẽ đó họ có nhu cầu được sử dụng các dịch vụ điều trịbệnh cho trẻ tại nhà khá cao Nhu cầu sử dụng dịch vụ điều trị tại nhà của gia đìnhtrẻ em thành phố cao hơn gấp hơn 11 lần so với nhu cầu sử dụng dịch vụ điều trị tại
Trang 12nhà của gia đình trẻ em nông thôn Điều này có thể lí giải đơn giản vì các gia đình ởthành phố có thu nhập cao hơn so với các gia đình ở nông thôn, cho nên họ sẵn sàngchi trả các chi phí dịch vụ với mong muốn con em mình điều trị tốt hơn [3].
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Sỹ năm 2009 về thực trạng và nhu cầuchăm sóc sức khỏe hộ gia đình tại tỉnh Yên Bái cho thấy người dân chỉ đi khám sứckhỏe khi có vấn đề về bệnh tật chiếm 42,7%, khi có ốm đau họ tự chữa ở nhà với tỉ
lệ 21,9% sau đó mới đến các cơ sở y tế khác của nhà nước vì họ cho rằng đến cơ sở
y tế nhất là không phải tuyến y tế cơ sở thì rất phiền hà và tốn kém Khi chăm sócngười nhà mắc bệnh mãn tính họ tự tìm hiểu cách chăm sóc cho người nhà mình vì
do thiếu nhân lực cán bộ y tế đến tư vấn hỗ trợ chỉ có ở mức 35,7% [21]
1.3 Một số chính sách của Việt Nam liên quan đến cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà
1.3.1 Mô hình bác sĩ gia đình
Điều 4 Thông tư số 16/2014/TT-BYT đã quy định về Chức năng, nhiệm vụcủa bác sĩ gia đình: Bác sĩ gia đình có chức năng khám bệnh, chữa bệnh, quản lý,bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe toàn diện cho cá nhân, hộ gia đình và cộngđồng; Bác sĩ gia đình có các nhiệm vụ sau đây:
a) Quản lý sức khỏe toàn diện, liên tục cho cá nhân, cho hộ gia đình và cộng đồng b) Sàng lọc, phát hiện sớm các loại bệnh tật
c) Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng cho cá nhân, hộ giađình và cộng đồng phù hợp với phạm vi chuyên môn đƣợc ghi trong chứng chỉhành nghề
d) Tư vấn về sức khỏe, phòng bệnh, phòng chống nguy cơ đối với sức khỏenhằm nâng cao năng lực của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong việc chủ độngbảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe
đ) Cung cấp thông tin liên quan đến sức khỏe của cá nhân, hộ gia đình do bác
sĩ gia đình quản lý sức khỏe theo quy định của pháp luật
e) Các nhiệm vụ khác phù hợp với phạm vi hành nghề được ghi trong chứngchỉ hành nghề [30]
Trang 13Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của phòng khám bác sĩ gia đình trong hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1 Phòng khám bác sĩ gia đình là một trong các cơ sở đầu tiên tiếp nhậnngười bệnh trong hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
2 Phòng khám bác sĩ gia đình có nhiệm vụ sau:
a Sàng lọc, cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh và chuyển người bệnh đến các cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh khác theo quy định về chuyển tuyến khám bệnh chữa bệnh
và tiếp nhận người bệnh để tiếp tục quản lý, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe;
b Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong hệ thốngkhám bệnh, chữa bệnh để bảo đảm hoạt động quản lý sức khỏe, khám bệnh chữabệnh cho cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng;
c Liên hệ để chuyển người bệnh thuộc phạm vi quản lý sức khỏe của phòngkhám bác sĩ gia đình đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp để khám bệnh chữabệnh [18]
Riêng Phòng khám bác sĩ gia đình được thực hiện việc chăm sóc sức khỏe vàkhám bệnh, chữa bệnh tại nhà người bệnh [19]
1.3.2 Dịch vụ y tế tại nhà
Bộ Y tế hiện nay cũng đã ban hành quy định về cơ sở dịch vụ chăm sóc sứckhỏe tại nhà, theo Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ Y tế vềthủ tục cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại nhà đốivới Lĩnh vực hành nghề y tư nhân [19]
- Thiết bị y tế: Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động
chuyên môn mà cơ sở dịch vụ đăng ký
- Nhân sự:
a Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụ chămsóc sức khỏe tại nhà phải là người tốt nghiệp trung cấp y trở lên có chứng chỉ hànhnghề và có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 45 tháng;
b Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở dịch vụchăm sóc sức khỏe tại nhà, các đối tượng khác làm việc trong cơ sở dịch vụ chăm
Trang 14sóc sức khỏe tại nhà nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứngchỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi côngviệc được phân công Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyênmôn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó
- Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a Chăm sóc sức khỏe tại nhà theo đơn của bác sĩ;
b Không truyền dịch; không khám bệnh, chữa bệnh và kê đơn thuốc
1.4 Nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ tại nhà cho người bệnh sau phẫu thuật và một số yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà
Thay băng, cắt chỉ, rửa vết thương là kỹ thuật cơ bản mà chúng ta có thể làmtại nhà, nhưng nếu thực hiện không đúng quy trình và kỹ thuật sẽ dẫn đến nguy cơnặng nề như nhiễm trùng, nghiêm trọng hơn là hoại tử vết thương, gây nguy hiểmđến sức khoẻ và ảnh hưởng đến thời gian lành của vết thương Việc đến bệnh viện
để thay băng, cắt chỉ và rửa vết thương sẽ khiến mất thời gian và công sức, thậm chíảnh hưởng đến sức khoẻ của người bệnh
xã hoặc từng khám tại nhà đều có nhu cầu sử dụng dịch vụ khám tại nhà cao hơncác đối tượng chưa sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh [3] Những người có sựkiện ốm đau trong khoảng thời gian 2 tháng trước khi điều tra có nhu cầu sử dụngdịch vụ điều trị tại nhà thấp (chiếm 52%) so với những người không ốm trong thờigian đó Điều này có thể do những người ốm trong khoảng 2 tháng đã sử dụng dịch
Trang 15vụ chữa bệnh tại các cơ sở y tế và họ đã được chữa trị khỏi bệnh, nên họ không thấynhu cầu được điều trị tại nhà là thật cần thiết.
Nghề nghiệp
Nghiên cứu Nguyễn Huyền Trang về nhu cầu chăm sóc sức khỏe của ngườidân tại Hải Dương năm 2012 cũng chỉ ra những nhóm người lao động tự do có nhucầu khám chữa bệnh tại nhà thấp hơn (khoảng 32%) so với nhu cầu của nhóm nôngdân Điều đó có thể do đặc điểm của người lao động tự do không làm việc cố địnhtại một nơi, mà thường thay đổi nay đây mai đó nên có nhu cầu khám bệnh tại nhàthấp Mặt khác một phần những người lao động tự do là dân buôn bán, hoạt độngkinh doanh hoặc giao tiếp của họ có thể diễn ra ngay tại nơi cư trú nên họ không sẵnsàng hoặc mong muốn sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà [3]
Yếu tố Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là một trong những yếu tố hỗ trợ quyết định sử dụng dịch vụcủa người dân Tác động của bảo hiểm y tế đến khả năng tiếp cận và sử dụng dịch
vụ y tế tại Việt Nam được phản ánh trong một số nghiên cứu Kết quả nghiên cứuđiều tra hộ gia đình tại 3 tỉnh của Việt Nam (1999) cho thấy mức độ ảnh hưởng củabảo hiểm y tế đối với hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế khác nhau tùy thuộc vào tìnhtrạng giàu nghèo của hộ gia đình Người nghèo có bảo hiểm y tế sử dụng dịch vụ y
tế tại các cơ sở y tế công lập nhiều hơn rõ rệt so với người nghèo không có thẻ bảohiểm y tế Tuy nhiên, ở nhóm giàu, sự khác biệt này là không rõ rệt [5]
Sự hài lòng của người bệnh về dịch vụ y tế
* Sự đáp ứng của dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện/cơ sở y tế
Đối với các cơ sở y tế, điều kiện về nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất…cũng như khả năng đáp ứng của cơ sơ y tế (thái độ của cán bộ y tế, trình độ chuyênmôn của cán bộ y tế) luôn là những yếu tố thu hút sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ y
tế của người dân
Thời gian khám chữa bệnh cũng là một trong các yếu tố gây ảnh hưởng đếnviệc sử dụng các dịch vụ y tế Một số dịch vụ bị hạn chế vì chỉ được cung cấp tronggiờ hành chính được cho là một yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận và sử dụng dịch
Trang 16vụ Ở những nước đang phát triển, các vấn đề xảy ra một cách phổ biến tại cơ sở y
tế công như thời gian khám bệnh hạn chế, thời gian chờ đợi lâu, sự vắng mặt củanhân viên y tế và thiếu thuốc… được rất nhiều nghiên cứu đề cập tới như là yếu tốảnh hưởng tới tiếp cận và sử dụng dịch vụ Đây cũng là những lý do giải thích chotình trạng người nghèo sẵn sàng sử dụng dịch vụ ở những nhân viên y tế và ngườibán thuốc chưa qua đào tạo chính thống hoặc ghé qua những phòng khám gần nhàhơn là những phòng khám xa hơn [6]
* Yếu tố tiếp cận dịch vụ y tế
Khoảng cách đến các cơ sở y tế: là yếu tố được phát hiện ở nhiều nghiên cứu
về sử dụng dịch vụ y tế và nó có tác động có ý nghĩa thống kê lên khả năng tiếp cậndịch vụ của người dân Người dân có thể dễ dàng tiếp cận tới cơ sở y tế là điều rấtquan trọng, trong đó thì thời gian để tiếp cận được cơ sở y tế phụ thuộc vào khoảngcách người dân phải di chuyển, hệ thống phương tiện giao thông, đường xá và cácyếu tố địa lý khác, trong đó khoảng cách là yếu tố tác động nhiều nhất trong mốiliên quan này [7]
Khoảng cách tới cơ sở y tế, điều kiện kinh tế và tâm lý ngại làm phiền tớicon cháu là những yếu tố có ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ y tế của người caotuổi Tuy nhiên, sự thuận tiện về khoảng cách tới cơ sở y tế là lý do chính để ngườicao tuổi lựa chọn cơ sở y tế khám chữa bệnh Hầu hết người cao tuổi mong muốnđược khám chữa bệnh ở những cơ sở y tế gần nhà nư khám tại nhà, khám ở cơ sở y
tế tư nhân hoặc khám chữa bệnh tại trạm y tế xã [8]
Khả năng tài chính: Điều kiện kinh tế cũng tác động đến nhu cầu khám chữa
bệnh tại nhà Người dân thành phố có nhu cầu sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tạinhà cao gấp nhiều lần so với người dân nông thôn Người có thu nhập khá có nhucầu khám bệnh cao hơn so với người có thu nhập trung bình Tuy nhiên, đối với nhucầu điều trị tại nhà thì người có thu nhập thấp lại mong muốn được sử dụng dịch vụnày hơn [3]
Nghiên cứu của Hoàng Trung Kiên và cộng sự năm 2013, tiến hành khảo sátsức khỏe và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của NCT tại bốn xã huyện Đông Anh, Hà
Trang 17Nội cho thấy nguyện vọng chủ yếu của người cao tuổi khám chữa bệnh tại nhà vớichi phí phải chăng (87,8%) và cung cấp thông tin phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe(82,7%) [17].
1.5 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu
1.5.1 Một số thông tin chung về khoa Ngoại tổng hợp, bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Khoa ngoại Tổng hợp- Bệnh viện Đại học Y Hà Nội được thành lập ngày28/8/2008 theo quyết định số 30/ QĐ- ĐHYHN của Giám đốc Bệnh viện Để đápứng với yêu cầu phát triển chuyên sâu, Khoa Ngoại được tách thành Khoa NgoạiTổng hợp và Khoa Ngoại Thần kinh – cột sống – chấn thương chỉnh hình theoquyết định số 1128/QĐ-ĐHYHN ngày 16/7/2015 và bắt đầu đi vào hoạt động từngày 01/08/2015 Hiện nay, Khoa Ngoại tổng hợp có 85 giường bệnh, công suất sửdụng giường bệnh là 110% Tại khoa hiện có 02 phòng khám và 45 cán bộ, nhânviên (gồm 5 Phó Giáo sư, Tiến sỹ, 10 Thạc sỹ, Bác sĩ, 1 Bác sĩ Dinh dưỡng, 1 Dược
sỹ Dược lâm sàng, 23 điều dưỡng và 4 trợ lý chăm sóc) Đội ngũ cán bộ chuyênmôn của khoa là các phẫu thuật viên giỏi, đồng thời là những người thầy có tâmhuyết đến từ các Bộ môn của Trường Đại học Y Hà Nội
1.5.2 Một số thông tin về sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ của người bệnh sau phẫu thuật tại khoa Ngoại tổng hợp, bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Theo báo cáo hoạt động 6 tháng đầu năm 2018, khoa Ngoại tổng hợp – Bệnhviện Đại học Y Hà Nội, tổng số người bệnh nội trú tại Khoa là 2786 người bệnh, tổng
số a phẫu thuật tại khoa là 2439 ca Như vậy, trung bình có 110 người bệnh/ngày điềutrị tại khoa, với số giường thực tế chỉ có 85 giường bệnh, hiện tại Khoa Ngoại tổng hợpcũng đang phải đối mặt với tình trạng quá tải bệnh nhân, so với cùng thời điểm 6 thángđầu năm 2017, số lượng người bệnh nội trú tăng 11,6%, số ca phẫu thuật tăng 12,4%
Khoa Ngoại Tổng hợp chủ yếu thực hiện các loại phẫu thuật về bệnh lý tiêuhóa và tiết niệu, tỷ lệ phẫu thuật tại khoa là 95%, trong đó mổ mở chiếm 45% Theobáo cáo kết quả thực hiện hoạt động chuyên môn năm 2017, tổng số ca phẫu thuậttại khoa là 5055 ca Tỷ lệ các trường hợp bệnh cần thực hiên thay băng sau phẫuthuật là 95% Thông thường, người bệnh ổn định sau phẫu thuật từ 3-4 ngày có thểxuất viện, trong khi đó người bệnh vẫn phải thay băng và chưa cắt chỉ
Trang 18Đối với phẫu thuật tiêu hóa, tại khoa chủ yếu thực hiện các loại phẫu thuậtnhư ung thư thực quản, dạ dầy, đại tràng, gan, mật, tụy, thoát vị bẹn, ruột thừa
Đối với phẫu thuật tiết niệu, tại khoa chủ yếu thực hiện phẫu thuật cắt thận,bàng quang, sỏi niệu quản, sỏi thận, sỏi bào quang, u phì đại tiền liệt tuyến
Ngoài ra, tại khoa còn thực hiện mổ phẫu thuật một số bệnh nam khoa, phụsản, tim mạch lồng ngực
1.6 Khung lý thuyết
Trong phạm vi nghiên cứu này, mô hình khung lý thuyết được xây dựng vàphát triển dựa trên cơ sở xem xét và phân tích mô hình hành vi sử dụng dịch vụ y tếcủa Andersen (1995) [28], trong đó đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếpcận và sử dụng dịch vụ y tế của mỗi cá nhân, cụ thể:
(1)Các yếu tố cá nhân: là các yếu tố thuộc về nhân khẩu học, đặc trưng vănhóa, xã hóa của cá nhân
- Yếu tố nhân khẩu học: tuổi, giới, tình trạng hôn nhân,…
- Yếu tố thuộc về đặc trưng văn hóa, xã hội: trình độ học vấn, dân tộc, nghề
nghiệp, tham gia bảo hiểm y tế, tình trạng sức khỏe, …
- Yếu tố niềm tin sức khỏe: thái độ, niềm tin với hệ thống y tế, sự hài lòng và
mức độ tin tưởng đối với dịch vụ y tế và cơ sở y tế,…
(2)Các yếu tố thúc đẩy: là các yếu tố liên quan đến tiếp nhận và sử dụng dịch
vụ y tế
- Yếu tố tiếp cận dịch vụ y tế: khoảng cách đến cơ sở y tế, khả năng tài
chính/ thu nhập,…
- Tính đáp ứng của cơ sở y tế: sự sẵn có của cơ sở y tế, trình độ chuyên môn
và kỹ năng của cán bộ y tế, thái độ của cán bộ y tế,…
(3)Yếu tố nhu cầu sử dụng dịch vụ: là cách mà đối tượng nghiên cứu đánhgiá về tình trạng sức khỏe của bản thân mình, cũng như cách họ lựa chọn và trảinghiệm các triệu chứng của bệnh tật và những lo ngại về sức khỏe của họ, đồngthời, dựa trên đánh giá vấn đề sức khỏe của bản thân để tìm kiếm sự giúp đỡ củachuyên gia hay quyết định sử dụng dịch vụ y tế
Trang 20CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu chính
Người bệnh sau phẫu thuật đang tiếp tục điều trị nội trú tại khoa Ngoại tạithời điểm nghiên cứu (Nếu người bị ốm là trẻ em dưới 18 tuổi và người không cókhả năng trả lời thì phỏng vấn người đại diện/ người chăm sóc chính)
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Đối tượng người bệnh sau phẫu thuật, đang điều trị nội trú
- Người bệnh sau phẫu thuật 2-3 ngày, tình trạng ổn định (các chỉ số mạch,nhiệt độ, huyết áp ổn định, vết mổ không chảy máu, người bệnh có thể phối hợp vớinhân viên y tế tự chăm sóc được)
- Có đủ sức khỏe, năng lực để trả lời các câu hỏi
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu liên quan
- Đại diện lãnh đạo/quản lý khoa Ngoại tổng hợp
- Điều dưỡng trưởng khoa Ngoại tổng hợp
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2018 đến tháng 12/2018
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Ngoại tổng hợp, bệnh viện Đại học Y Hà Nội
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng vàđịnh tính
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 212.4.1 Cỡ mẫu định lượng: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho ước lượng tỷ lệ trong
quần thể nghiên cứu mô tả, ta có:
p n
d
2 1
2 2 /
1
Trong đó:
n: Số người bệnh tối thiểu cần điều tra
Z: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95%, ta có Z1-α/2 = 1,96
α: Mức ý nghĩa thống kê, chọn α = 0,05
p: Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ trướcthời điểm điều tra, p = 50%
d: Khoảng sai lệch chấp nhận được d= 0,05
Thay vào công thức ta có số người bệnh tối thiểu cần điều tra là 384 người bệnh
Dự phòng 5% người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu và làm tròn sốthì cỡ mẫu tối thiểu cần điều tra là 400 người bệnh
Phương pháp chọn mẫu định lượng
Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, dựa trên danh sách người bệnhsau phẫu thuật đang tiếp tục điều trị tại khoa (có tình trạng ổn định, sau phẫu thuật2-3 ngày) tại khoa Ngoại tổng hợp, tiến hành chọn mẫu có chủ đích trong thời điểmđiều tra, đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn và đảm bảo đủ cỡ mẫu cần thiết chonghiên cứu
Trang 22Tất cả các đối tượng nghiên cứu được giải thích mục đích của cuộc phỏngvấn và tự nguyện tham gia Nghiên cứu viên và 5 điều tra viên thống nhất nội dunghướng dẫn phỏng vấn, kỹ thuật và cách thức tiến hành trước khi thực hiện Nghiêncứu viên liên hệ với lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo khoa để được sự chấp thuận vàtạo điều kiện trong quá trình thu thập thông tin, cũng như thống nhất kế hoạch vàthời gian cụ thể hợp lý để thu thập thông tin.
2.5.1 Nghiên cứu định lượng
Trung bình mỗi ngày tại khoa Ngoại tổng hợp có khoảng 10-15 người bệnhsau phẫu thuật điều trị nội trú tại khoa (sau phẫu thuật 2-3 ngày) Trong thời gianthu thập số liệu, hàng ngày điều tra viên sẽ tiến hành thu thập số liệu tại khoa dựatrên danh sách người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn của nghiên cứu Như vậy,thời gian cân thiết để hoàn thiện thu thập số liệu định lượng là trong 1 tháng
Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi phỏng vấn định lượng dành cho đối tượng nghiên cứu được thiết
kế dựa trên tổng quan các tài liệu y văn và các nghiên cứu cùng chủ đề về nhu cầu
sử dụng dịch vụ y tế của người bệnh, với các nội dung phù hợp nhằm giải quyết các
mục tiêu nghiên cứu đưa ra (Phiếu điều tra về nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng
và cắt chỉ cho người bệnh sau phẫu thuật ổn định – Phụ lục 1)
Bộ công cụ định lượng sẽ được nghiên cứu viên điều tra thử nghiệm trênngười bệnh sau phẫu thuật ổn định có sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ, trướckhi tiến hành thu thập số liệu trên quần thể nghiên cứu, nhằm chỉnh sửa bộ công cụcho phù hợp với đối tượng nghiên cứu, chỉnh sửa ngôn từ dễ hiểu với đối tượngnghiên cứu trước khi điều tra chính thức Những đối tượng điều tra thử nghiệm lànhững người không nằm trong mẫu điều tra chính thức
Điều tra viên và giám sát viên
Điều tra viên (5 người)
Tuyển chọn điều tra viên là các sinh viên năm cuối của trường Đại học Y HàNội đã từng có kinh nghiệm tham gia điều tra, thu thập số liệu cho nghiên cứu.Nhiệm vụ của điều tra viên:
Trang 23- Tham gia đầy đủ các buổi tập huấn về nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, nộidung của nghiên cứu, phương pháp phỏng vấn, cách điền bộ câu hỏi.
- Thu thập số liệu dựa theo bộ công cụ thu thập số liệu được thiết kế sẵn
- Hoàn thành đầy đủ các phiếu phỏng vấn thu thập thông tin, không bỏ sótthông tin và không bỏ sót đối tượng
- Liên hệ với giám sát viên (chính là nghiên cứu viên) để giải quyết nhữngkhó khăn phát sinh
- Nộp lại phiếu thu thập thông tin cho nghiên cứu viên
Giám sát viên (1 người)
Nghiên cứu viên đóng vai trò giám sát viên trong quá trình thu thập thông tin
và cùng đi điều tra với các điều tra viên Giám sát viên có nhiệm vụ:
- Giám sát quá trình thu thập số liệu định lượng tại thực địa
- Rút thăm ngẫu nhiên 5% tổng số phiếu, phỏng vấn lại và kiểm tra một sốthông tin của người trả lời phỏng vấn
- Giúp điều tra viên giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trìnhthu thập số liệu Nhắc nhở điều tra viên khi thấy có sai sót trong quá trình thu thập
Quy trình tổ chức thu thập số liệu định lượng
- Nghiên cứu viên liên hệ với cán bộ tại khoa Ngoại tổng hợp trình bày mụcđích nghiên cứu và quy trình làm việc
- Điều tra viên tiếp cận các đối tượng được chọn trong mẫu điều tra theo sựchỉ dẫn của cán bộ tại khoa Phỏng vấn trực tiếp người bệnh (Phiếu số 1) (đối vớingười không có năng lực giao tiếp, người ốm nặng, trẻ em dưới 18 tuổi sẽ đượcphỏng vấn thông qua người quyết định chính/ người chăm sóc chính trong gia đình)
- Gặp gỡ đối tượng phỏng vấn: chào hỏi, giới thiệu về mục đích nghiên cứu, sựbảo mật thông tin trong nghiên cứu và xin sự đồng ý tham gia nghiên cứu của đối tượng
- Điều tra viên hỏi đối tượng phỏng vấn theo bảng hỏi Trong quá trình hỏikhông gợi ý người trả lời theo hướng của điều tra viên, ghi chú lại những vấn đềphát sinh và báo lại cho giám sát viên
Trang 24- Thời gian tiếp cận đối tượng có thể linh hoạt theo tình hình cụ thể, chủ yếu tiếpcận đối tượng vào ngày nghỉ (thứ 7 và chủ nhật) và các ngày thường (vào buổi chiều,tối) để đảm bảo việc tiếp cận đối tượng và đối tượng có đủ thời gian để trả lời hết cáccâu hỏi mà không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố bên ngoài đến cuộc phỏng vấn
2.5.2 Nghiên cứu định tính
Thực hiện phỏng vấn sâu có chủ đích 5 người bệnh sau phẫu thuật đang tiếptục điều trị tại khoa (sau phẫu thuật 2-3 ngày)
Bộ công cụ thu thập: Hướng dẫn phỏng vấn sâu dành cho người bệnh sau
phẫu thuật đang tiếp tục điều trị tại khoa (Phụ lục 2).
Các điều tra viên cùng tham gia vào quá trình thử nghiệm bộ câu hỏi phỏngvấn sâu, sau đó khi nghiên cứu viên hoàn thiện bộ câu hỏi, sẽ tiếp tục thực hiệnphỏng vấn sâu Nghiên cứu viên giới thiệu về mục đích của nghiên cứu và các nộidung cần tiến hành và xin sự đồng ý tham gia nghiên cứu của các đối tượng Nghiêncứu viên giới thiệu về quy trình làm việc và thống nhất thời gian, địa điểm tiến hànhphỏng vấn, đảm bảo tính bảo mật, hạn chế sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trườngbên ngoài đến các cuộc phỏng vấn Sau khi được sự chấp thuận của đối tượng thamgia nghiên cứu viên tiến hành phỏng vấn sâu với các đối tượng được lựa chọn
Quá trình phỏng vấn sâu được ghi chép hoặc ghi âm (sau khi được sự đồng ýcủa các đối tượng) và được gỡ băng trong quá trình phân tích thông tin định tính
2.6 Các biến số nghiên cứu
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng
biến
Công cụ thu thập A/ THÔNG TIN CHUNG VỀ NGƯỜI BỆNH
A1 Tuổi
Số tuổi được tính bằng cáchlấy 2018 trừ đi năm sinh củađối tượng
Rời rạc Phiếu điều tra
A2 Giới tính Giới tính nam, nữ của đối
tượng Nhị phân Phiếu điều traA3 Trình độ học vấn Bậc học cao nhất mà đối Thứ bậc Phiếu điều tra
Trang 25tượng hoàn thànhA4 Nghề nghiệp Là công việc chính hiện tại
của đối tượng Phân loại Phiếu điều traA5 Tình trạng hôn nhân
Là tình trạng hôn nhân hiện tại(kết hôn/ ly thân/ ly dị/ góa/
độc thân) của đối tượng
Phân loại Phiếu điều tra
A6 Người sinh sống
cùng
Là người sinh sống/ở cùng đốitượng Phân loại Phiếu điều traA7 Thu nhập bình quân/
tháng
Là mức thu nhập trung bìnhhàng tháng của đối tượng Thứ bậc Phiếu điều traA8 Nguồn thu nhập
chính
Là nguồn chủ yếu từ thu thậpcủa đối tượng Phân loại Phiếu điều traA9 Đánh giá mức sống Là tự đánh giá về mức sống
hiện tại của đối tượng Phân loại Phiếu điều traA10 Nơi cư trú Là nơi sinh sống hiện tại của
đối tượng Phân loại Phiếu điều traA11 Khoảng cách từ nhà
đến bệnh viện
Là khoảng cách trung bình từnhà người bệnh đến bệnh viện Phân loại Phiếu điêu tra
B/ SỬ DỤNG DỊCH VỤ TẠI BỆNH VIỆN
B1 Thời gian điêu trị Là thời gian nằm điều trị tại
khoa của đối tượng Rời rạc Phiếu điều traB2 Loại phẫu thuật
Phân loại Phiếu điều tra
Phân loại Phiếu điều tra
B6 Có tham gia bảo
hiểm y tế
Là việc có/không tham gia bảohiểm y tế của đối tượng Nhị phân Phiếu điều traB7 Loại hình bảo hiểm Là đối tượng tham gia bảo Phân loại Phiếu điều tra
Trang 26y tế
hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y
tế tự nguyện hay không thamgia bảo hiểm y tế
B8 Sử dụng thẻ bảo
hiểm y tế
Là việc có/không sử dụng thẻ BHT trong lần nằm viện này của đối tượng
Nhị phân Phiếu điều tra
B9 Số tiền chi trả cho
đợt khám chữa bệnh
Là tổng số tiền phải chi trả cho đợt khám chữa bệnh của đối tượng
Liên tục Phiếu điều tra
C/ SỰ HÀI LÒNG VỀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN
Phân loại Phiếu điều tra
C2
Đánh giá về tinh
thần, thái độ phục
vụ của điều dưỡng
Là đánh giá của đối tượng về tinh thần, thái độ phục vụ của điều dưỡng tại khoa
Phân loại Phiếu điều tra
Đánh giá về giao tiếp
ứng xử của nhân viên
trợ/giúp đỡ của nhân
viên y tế tại khoa
Là đánh giá của đối tượng về việc chăm sóc và hỗ trợ/giúp
đỡ của nhân viên y tế tại khoa Phân loại Phiếu điều tra
C6
Đánh giá về tư vấn
của bác sĩ và nhân
viên y tế tại khoa
Là đánh giá của đối tượng về
tư vấn của bác sĩ và nhân viên
Là sự tin tưởng của đối tượng
về trình độ chuyên môn của bác sĩ và nhân viên y tế tại
Phân loại Phiếu điều tra
Trang 27viên y tế tại khoa khoa
C9
Mức độ tin tưởng về
chất lượng tư vấn
của bác sĩ và nhân
viên y tế tại khoa
Là sự tin tưởng của đối tượng
về chất lượng tư vấn của bác
sĩ và nhân viên y tế tại khoa Phân loại Phiếu điều tra
D/ NHU CẦU SỬ DỤNG DỊCH VỤ THAY BĂNG, CẮT CHỈ TẠI NHÀ
và bệnh viện có cung cấp dịch
vụ thay băng cắt chỉ tại nhà
Nhị phân Phiếu điều tra
Phân loại Phiếu điều tra