1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHU cầu sử DỤNG DỊCH vụ THAY BĂNG và cắt CHỈ tại NHÀ CHO NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT tại KHOA NGOẠI BỆNH VIỆN đại học y hà nội năm 2018 và một số yếu tố LIÊN QUAN

93 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 258,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ tại nhà cho người bệnh sau phẫu thuật và một số yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà...13 1.5.. Chăm sóc sứ

Trang 1

-*** -NGUYỄN THẾ TUYỀN

NHU CẦU SỬ DỤNG DỊCH VỤ THAY BĂNG VÀ CẮT CHỈ TẠI NHÀ CHO NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT TẠI KHOA NGOẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

-*** -NGUYỄN THẾ TUYỀN

NHU CẦU SỬ DỤNG DỊCH VỤ THAY BĂNG VÀ CẮT CHỈ TẠI NHÀ CHO NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT TẠI KHOA NGOẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Chuyên ngành : Quản lý bệnh viện

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Người hướng dẫn khoa học:

TS Nguyễn Thị Hoài Thu

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Quản

lý bệnh viện, ngoài những nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận được

sự giúp đỡ động viên của các thầy cô, Ban lãnh đạo khoa Ngoại tổng hợpBệnh viện Đại Học Y Hà Nội, bạn bè đồng nghiệp và người thân trong giađình

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo, các bộ môn và phòng sauđại học Trường Đại học Y Hà Nội - Viên Đào tạo Y học dự phòng và Y tếcông cộng đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thờigian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

TS Nguyễn Thị Hoài Thu, người thầy nhiệt tình, trách nhiệm đã tận tìnhchỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Ban lãnh đạo khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội, cácanh/chị em đồng nghiệp là nơi tôi công tác và thực hiện đề tài nghiên cứu, đãtạo điều kiện giúp đỡ cung cấp thông tin cần thiết để tôi thực hiện đượcnghiên cứu

Các bạn lớp cao học Quản lý bệnh viện khóa 26 đã chia sẻ kinh nghiệm,trao đổi kiến thức, giúp đỡ nhau trong quá trình học tập

Cuối cùng tôi gửi lời cảm ơn đến tất cả mọi người trong gia đình luôn lànguồn động viên, khích lệ để tôi hoàn thành được luận văn này

Trân trọng cảm ơn!

HỌC VIÊN

Nguyễn Thế Tuyền

Trang 5

Tôi tên là: Nguyễn Thế Tuyền, học viên cao học khóa 26 Viện Đào tạo Yhọc dự phòng và Y tế công cộng - Trường Đại học Y Hà Nội, chuyên ngànhQuản lý bệnh viện, xin cam đoan như sau:

1 Đây là luận văn do tôi trực tiếp thực hiện, dưới sự hướng dẫn của

TS Nguyễn Thị Hoài Thu

2 Đề tài nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác

đã được công bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác,trung thực, khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của đơn vị nơinghiên cứu

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời cam kết trên

Hà Nội, ngày 24 tháng 5 năm 2019

NGƯỜI VIẾT BẢN CAM ĐOAN

Nguyễn Thế Tuyền

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm và định nghĩa 4

1.2 Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà 4

1.2.1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà trên thế giới 5

1.2.2 Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam 6

1.3 Khung pháp lý và một số chính sách của Việt Nam liên quan đến cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà 11

1.3.1 Mô hình bác sĩ gia đình 11

1.3.2 Dịch vụ y tế tại nhà 12

1.4 Nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ tại nhà cho người bệnh sau phẫu thuật và một số yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà 13

1.5 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu 18

1.5.1 Một số thông tin chung về khoa Ngoại, bệnh viện Đại học Y Hà Nội 18

1.5.2 Một số thông tin về sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ của người bệnh sau phẫu thuật tại khoa Ngoại, bệnh viện Đại học Y Hà Nội 19

1.6 Khung lý thuyết 19

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu chính 22

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu liên quan 22

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

2.3 Thiết kế nghiên cứu 22

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 22

2.4.1 Cỡ mẫu 22

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu định lượng 23

Trang 7

2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 26

2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 27

2.9 Sai số và biện pháp khắc phục 28

2.9.1 Sai số của nghiên cứu 28

2.9.2 Các biện pháp khắc phục sai số 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 29

3.1.1 Một số thông tin chung, đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 29

3.1.2 Thông tin về sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện của đối tượng nghiên cứu 31

3.1.3 Sự hài lòng và mức độ tin tưởng của người bệnh về dịch vụ y tế tại bệnh viện 33

3.2 Nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà của người bệnh sau phẫu thuật 35

3.2.1 Một số đặc điểm cá nhân và sử dụng dịch vụ y tế của nhóm người bệnh có nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà 37

3.3 Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà của người bệnh sau phẫu thuật 42

3.3.1 Mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà và yếu tố cá nhân 42

3.3.2 Mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà và yếu tố tiếp cận và sử dụng dịch vụ 44

3.3.3 Mối liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà của người bệnh sau phẫu thuật 45

Trang 8

bệnh phẫu thuật đã ổn định tại khoa Ngoại, bệnh viện ĐH Y Hà Nội 484.2 Nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà của người bệnh sauphẫu thuật 484.3 Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉtại nhà của người bệnh sau phẫu thuật 53KẾT LUẬN 58KHUYẾN NGHỊ 59TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng người bệnh tham gia nghiên cứu 29Bảng 3.2: Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện của đối tượng

nghiên cứu 31Bảng 3.3: Sự hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế tại bệnh viện 33Bảng 3.4: Mức độ tin tưởng của người bệnh về sử dụng dịch vụ y tế tại

bệnh viện 34Bảng 3.5: Nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại nhà của người

bệnh sau phẫu thuật 35Bảng 3.6: Đặc điểm của nhóm người bệnh có nhu cầu sử dụng dịch vụ thay

băng, cắt chỉ tại nhà 39Bảng 3.7: Một số lý do người bệnh chưa muốn sử dụng dịch vụ thay băng,

cắt chỉ tại nhà 41Bảng 3.8: Mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại

nhà và yếu tố cá nhân 42Bảng 3.9: Mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại

nhà và yếu tố tiếp cận và sử dụng dịch vụ 44Bảng 3.10: Mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉ tại

nhà của người bệnh sau phẫu thuật 45

Trang 10

Sơ đồ 1.1 Khung lý thuyết 21Biểu đồ 3.1: Đặc điểm của nhóm người bệnh có nhu cầu sử dụng dịch vụ

thay băng, cắt chỉ tại nhà 37

Trang 11

BHYT Bảo hiểm y tế

HSSV Học sinh sinh viênNCT Người cao tuổi

NN – DN Nhà nước, doanh nghiệpNVYT Nhân viên y tế

PT Phẫu thuật

Trang 12

vụ y tế có chất lượng Người dân được sống trong cộng đồng an toàn, phát triểntốt về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật, nâng cao thể lực, tăngtuổi thọ, nâng cao chất lượng dân số” [1, 2]

Hiện nay, nhu cầu tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà củangười dân ngày càng gia tăng Đặc biệt đối với các gia đình bận rộn thì đây làmột giải pháp hữu ích, thuận tiện khi trong gia đình có người muốn đượckhám và chữa bệnh Chăm sóc sức khỏe tại nhà là dịch vụ mà người bệnhkhông cần phải đến các bệnh viện hoặc phòng khám mà khám chữa bệnh màcác hoạt động này có thể diễn ra ngay tại nhà của người bệnh [3, 4]

Thay băng, cắt chỉ vết thương là một trong những kỹ thuật cơ bản và làkhâu quan trọng cần thực hiện trong quá trình chăm sóc sau phẫu thuật Nếuthực hiện không đúng cách sẽ dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn cao Việc trực tiếpđến bệnh viện để thay băng, cắt chỉ vết thương có thể khiến người bệnh mấtthời gian chờ đợi, hoặc mắc phải các nhiễm khuẩn chéo từ môi trường bệnhviện Xuất phát từ nhu cầu của người bệnh, các dịch vụ thay băng, cắt chỉ vếtthương tại nhà cho người bệnh sau phẫu thuật giúp đảm bảo tính nhanh chóng,

an toàn và thuận tiện, giúp người bệnh có thêm thời gian nghỉ ngơi, giảm chiphí đi lại tới cơ sở y tế để xử lý vết thương, hoặc giảm thiểu các nguy cơ nhiễm

Trang 13

khuẩn vết thương, tụ máu, tổn thương, hoại tử mô…do người bệnh thiếu kĩnăng và không biết cách chăm sóc.

Đối với những người bệnh được phẫu thuật tại các bệnh viện có tìnhtrạng quá tải bệnh viện, thì việc cho người bệnh ra viện sớm, sau đó cử điềudưỡng đến thay băng, cắt chỉ tại nhà còn giúp giảm số ngày-giường điều trị chongười bệnh, tiết kiệm chi phí cho người bệnh và cũng góp phần giảm gánhnặng chăm sóc cho người nhà và gia đình người bệnh Đồng thời, việc khôngphải duy trì ngày điều trị quá dài tại bệnh viện, cũng giúp người bệnh giảmđược nguy cơ lây nhiễm chéo trong môi trường bệnh viện

Theo báo cáo hoạt động 6 tháng đầu năm 2018, khoa Ngoại – Bệnh việnĐại học Y Hà Nội cũng đang phải đối mặt với tình trạng quá tải bệnh nhân, sốlượng người bệnh nội trú tăng 11,6%, số ca phẫu thuật tăng 12,4% (so với cùngthời điểm 6 tháng đầu năm 2017) Vì vậy, việc cung cấp dịch vụ thay băng, cắtchỉ tại nhà cho người bệnh sau phẫu thuật sẽ góp phần giảm tải cho bệnh việntrong thời gian tới Câu hỏi đặt ra là nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắtchỉ tại nhà cho người bệnh sau phẫu thuật như thế nào? Những yếu tố nào liênquan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ tại nhà của người bệnhsau phẫu thuật? Nhằm trả lời các câu hỏi trên để giúp các nhà quản lý có cơ sởkhoa học đánh giá và đưa ra các chiến lược quản lý và cung cấp các dịch vụ

bệnh viện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ tại nhà cho người bệnh sau phẫu thuật tại khoa Ngoại, bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2018 và một số yếu tố liên quan”.

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ tại nhà cho người bệnh sau phẫu thuật tại khoa Ngoại, bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2018.

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ tại nhà cho người bệnh sau phẫu thuật tại khoa Ngoại, bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2018.

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm và định nghĩa

Vết thương là một vết cắt hoặc phá vỡ sự liên tục của một cơ quan hoặc

mô gây ra bởi một tác nhân bên ngoài, chẳng hạn như chấn thương hoặc phẫu

thuật Rửa vết thương nhằm mục đích loại bỏ các tạp chất bề mặt, vi khuẩn và

mảnh vụn băng gạc trên nền vết thương cũng như vùng da xung quanh

Thay băng là một trong những kỹ thuật cần thực hiện chăm sóc đối với

người bệnh có vết thương sau mổ, nhằm mục đích đánh giá mức độ tổnthương, tiến triển của vết thương, rửa vết thương, thấm hút dịch, cắt lọc tổchức hoại tử, đắp thuốc vào vết thương, phòng ngừa nhiễm khuẩn thứ phát và

tạo điều kiện tốt nhất để vết thương nhanh chóng hồi phục [5] Thay băng và cắt chỉ là kỹ thuật chăm sóc vết thương sau phẫu thuật, là yếu tố quan trọng

trong quá trình hoàn thiện và làm lành vết thương cả bên trong và bên ngoài

Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà là dịch vụ mà người bệnh không

cần phải đến các bệnh viện hoặc phòng khám mà khám chữa bệnh mà cáchoạt động này có thể diễn ra ngay tại nhà của người bệnh Đây là một dịch vụ

ít tốn kém, thuận tiện và đạt hiệu quả tương đương so với việc chăm sóc tạibệnh viện Hiện nay, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà thường gồm dịch

vụ xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu tại nhà, chăm sóc thay băng, cắt chỉvết thương hở hoặc vết thương sau phẫu thuật, truyền dịch, tiêm thuốc tại nhà,kiểm tra huyết áp, nhịp tim, hướng dẫn cách chăm sóc người bệnh tại nhà

1.2 Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà

Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà mang lại những lợi ích cho người sửdụng dịch vụ y tế nói chung và người bệnh nói riêng như đảm bảo tính linhhoạt (Người bệnh có thể sử dụng dịch vụ bất cứ lúc nào); thủ tục đơn giản

Trang 16

(giảm bớt các thủ tục hành chính như khi đến khám và điều trị tại các cơ sở ytế); có thể chăm sóc sức khỏe cho cả gia đình, đặc biệt hữu ích đối với nhữngngười làm việc hành chính không có thời gian đi khám chữa bệnh ở bệnhviện, phòng khám; tiện lợi cho trẻ nhỏ, người già, người bệnh trong trườnghợp phải di chuyển xa từ nhà đến cơ sở y tế; tiết kiệm chi phí

1.2.1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà trên thế giới

Các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước nghèo có xu hướng ítđược tiếp cận, sử dụng dịch vụ y tế hơn so với những nước giàu có Gánhnặng bệnh tật ở những nước thu nhập thấp và trung bình (LMICs) chiếm tới90% gánh nặng bệnh tật toàn cầu nhưng chi tiêu toàn cầu về sức khỏe chỉchiếm có 12% Các quốc gia thu nhập cao chi tiêu bình quân cho sứckhỏe/đầu người cao gấp khoảng 100 lần so với các nước có thu nhập thấp(3.039 USD so với 30 USD) [6, 7] Vì thế, không ngạc nhiên khi mật độ nhânviên y tế và giường bệnh cho mỗi người dân ở các nước LMICs thấp hơnnhiều so với các nước có thu nhập cao Điều này làm giảm sự sẵn có của dịch

vụ y tế cho rất nhiều người nghèo trên thế giới [8] Hơn nữa, càng ở nhữngquốc gia nghèo thì tổng chi cho sức khỏe từ tiền túi (OOP) của người dân lạicàng lớn Tính trung bình, hơn 60% chi tiêu ít ỏi ở các nước có thu nhập thấp

là từ tiền túi, trong khi đó tỷ lệ này ở các nước có thu nhập cao chỉ chiếmkhoảng 20% [6] Đây là một trong những rào cản hạn chế khả năng tiếp cận,

sử dụng dịch vụ y tế của người dân, đặc biệt là người nghèo

Nghiên cứu tìm hiểu về việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe vàphòng bệnh của người già trong vòng 1 năm trước thời điểm điều tra đượctiến hành tại 10 nước phát triển (Úc, Đan mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ý, HàLan, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Thụy Sĩ) năm 2004 Kết quả từ nghiên cứunày đã cho thấy bức tranh tương đối tổng thể về tình hình sử dụng dịch vụchăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ở châu Âu như sau: Tỷ lệ sử dụng dịch

Trang 17

vụ khám chữa bệnh ngoại trú từ 4 lần trở lên chiếm 52%; Tỷ lệ gặp bác sĩ giađình từ 4 lần trở lên là 46%; Tỷ lệ gặp bác sĩ chuyên khoa ít nhất một lầntrong năm chiếm 93,1% [9] Ở Mỹ, phụ nữ trẻ và trẻ vị thành niên là nhữngđối tượng thường sử dụng các dịch vụ y tế cung cấp bởi bác gia đình và bác sĩchuyên khoa sản-phụ khoa Tỷ lệ khám bác sĩ gia đình tăng 25% ở lứa tuổi 9-

10 và 30% ở lứa tuổi 25-26 Đối với lứa tuổi 17-18, có tới 33% số lượt thămkhám bệnh được thực hiện bởi bác sĩ sản phụ khoa (33% trong số 7 triệu lượt)

và bác sĩ gia đình là 34%, trong khi đó bác sĩ nhi khoa chỉ là 23% Tỷ lệ sửdụng dịch vụ về sức khỏe sinh sản cao (SKSS) nhất ở nhóm tuổi từ 20-21 với53% (7,5 triệu lượt thăm khám) [10]

Nhóm tác giả LG Glynna và cộng sự năm 2004 tiến hành nghiên cứu về

sự ảnh hưởng của tình trạng sức khỏe đối với sự hài lòng của người bệnh khi sửdụng dịch vụ CSSK ngoài giờ được bác sĩ gia đình cung cấp tại cộng hòa Irelandcho thấy người bệnh có tình trạng sức khỏe yếu hơn có mức độ hài lòng cao hơnvới dịch vụ này Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng đưa khuyến nghị chỉ số hàilòng của người bệnh với dịch vụ CSSK là một trong các chỉ số quan trọng đểtriển khai dịch vụ CSSK ngoài giờ tại các cơ sở y tế [11]

1.2.2 Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam

Hệ thống cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam bao gồm mạng lưới các cơ

sở y tế công và tư nhân, trong đó y tế công chiếm vai trò chủ đạo trong côngtác chăm sóc sức khỏe nhân dân

Mạng lưới y tế công gồm có 4 tuyến phân theo quản lý hành chính nhà nước:

- Tuyến trung ương: bao gồm các bệnh viện trung ương và bệnh việnkhu vực do Bộ y tế trực tiếp quản lý

- Tuyến tỉnh: gồm bệnh viện đa khoa tỉnh và các cơ sở y tế tuyến tỉnh

do Sở y tế quản lý

Trang 18

- Tuyến huyện: gồm bệnh viện huyện và các cơ sở y tế tuyến huyện do

Sở y tế quản lý

- Tuyến xã: gồm các trạm y tế xã chịu sự quản lý trực tiếp của Trungtâm y tế huyện Trạm y tế xã chủ yếu cung cấp các dịch vụ liên quan tới khámchữa bệnh, y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe sinh sản, cung ứng thuốc thiếtyếu, quản lý sức khỏe cộng đồng và truyền thông giáo dục sức khỏe

Trong thời gian qua, năng lực cung ứng dịch vụ của mạng lưới các cơ sở y

tế công đã được cải thiện rất nhiều Theo số liệu báo cáo năm 2014 và phươnghướng hoạt động năm 2015 [12] của Cục Quản lý khám chữa bệnh, số lượngbệnh viện các tuyến cũng như số giường bệnh đã tăng dần qua các năm

Tại Việt Nam, nghiên cứu về mức độ sẵn sàng chỉ trả cho dịch vụCSSK tại nhà của người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện quận Tân Phú năm

2016 của tác giả Trương Thị Mai Huyền cho thấy nhu cầu sử dụng dịch vụCSSK tại nhà của người bệnh điều trị nội trú khá cao [13] Nghiên cứu vềthực trạng tổ chức, hoạt động KCB và nhu cầu sử dụng dịch vụ CSSK ngoàigiờ của người bệnh tại khoa phục hồi chức năng, BV Nhi Trung ương năm

2015 cũng cho thấy đối với dịch vụ phục hồi chức năng ngoài giờ, thứ 7 vàchủ nhật có tỷ lệ người bệnh đến khám và có nhu cầu sử dụng dịch vụ nàykhá cao (70,4%), tỷ lệ người có khả năng chi trả đối với mức tăng dự kiến củadịch vụ này cũng rất cao (khoảng 98,9%) [14]

Năm 2015, tác giả Đặng Đức Nhu và cộng sự tiến hành nghiên cứu mô

tả cắt ngang trên 345 người bệnh nội trú, nhằm đánh giá nhu cầu CSSK tại nhàcủa người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện Phổi Trung ương, kết quả cho thấy

có 215 nam giới (62,3%) và 130 nữ giới (37,7%), chỉ có 31,6% đối tượng cónhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà, trong đó tập trung chủ yếu vào nhu cầu tưvấn sức khỏe (26,5%) và nhu cầu khám chuyên khoa (22,9%) Về khả năng chitrả có 33,7% đối tượng sẵn sàng chi trả khi chi phí tăng lên 30% cộng với chi

Trang 19

phí đi lại cho dịch vụ này Nghiên cứu cũng đưa ra khuyến nghị cần nâng caonhận thức của đối tượng về loại hình chăm sóc sức khỏe tại nhà [15]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hoài Thu và cộng sự (2014) tiếnhành trên 406 hộ gia đình cho thấy 24,4% người bệnh mời cán bộ y tế tới nhà

để khám chữa bệnh; tỷ lệ đi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập và tưnhân chiếm 44,1% trong đó tỷ lệ phòng khám đa khoa/ bệnh viện huyệnchiếm tỷ lệ cao nhất là 17,6%; tỷ lệ đến trạm y tế xã thấp hơn với 11,9% [16]

Năm 2013, nghiên cứu khảo sát tình hình sức khỏe và nhu cầu CSSKcủa người cao tuổi của tác giả Hoàng Trung Kiên và cộng sự, triển khai tại 4

xã thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội cho thấy nhu cầu chủ yếu của người caotuổi là được khám chữa bệnh tại nhà với chi phí phù hợp (87,8%) và đượccung cấp thông tin phòng bệnh và CSSK (82,7%) [17]

Tác giả Nguyễn Huyền Trang tiến hành nghiên cứu khảo sát nhu cầuCSSK tại nhà của người dân tại Hải Dương năm 2012 cũng cho thấy nhữngngười đã bị ốm và đã từng đi khám ở các cơ sở khám chữa bệnh tại bệnh việnhuyện, cơ sở y tế tư nhân, trạm y tế xã hoặc từng khám tại nhà đều có nguyệnvọng được sử dụng dịch vụ khám tại nhà cao hơn các đối tượng chưa sử dụngcác dịch vụ khám chữa bệnh kể trên gấp 3,9; 16,2; 1,7 và 2,1 lần [18]

Nghiên cứu của tác giả Bùi Thùy Dương (2010) tìm hiểu nhu cầu chămsóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người bệnh và người nhà người bệnh tạibệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2010 cho thấy có 51,1% đến 70,9% kháchhàng cho rằng bệnh viện nên triển khai các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoàigiờ và tại nhà Người bệnh và người nhà người bệnh đều có nhu cầu cao sửdụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà (53,3% - 90,3%), nhất làdịch vụ khám vào ngày thứ 7 và chủ nhật [19]

Đối với các trường hợp bệnh cấp tính, hình thức tự điều trị và sử dụngdịch vụ y tế tư nhân vẫn là hai hình thức phổ biến trong sử dụng dịch vụ y tế

Trang 20

của người cao tuổi Chỉ khoảng 40% người cao tuổi sử dụng dịch vụ y tế nhànước khi bị ốm Những người trên 85 tuổi có tỷ lệ sử dụng dịch vụ bệnh việnthấp hơn 2 lần so với nhóm tuổi từ 60-64 do khả năng đi lại hạn chế [20]

Đối với bệnh mạn tính, đến cơ sở y tế nhà nước để chẩn đoán bệnh làhình thức phổ biến ở cả 3 tỉnh điều tra Tuy nhiên, tỷ lệ người cao tuổi tự chẩnđoán bệnh cũng tương đối cao, chiếm khoảng 27% Sử dụng dịch vụ y tế tưnhân trong điều trị bệnh mạn tính là hình thức phổ biến ở cả 3 tỉnh điều tra.Phụ nữ cao tuổi có xu hướng sử dụng dịch vụ y tế tư nhân với tỷ lệ cao hơnnam giới, trong khi nam giới cao tuổi lại sử dụng dịch vụ bệnh viện với tỷ lệcao hơn [20]

Đối với những trẻ em đã khám chữa bệnh trong khoảng 6 tháng trướckhi điều tra, nhu cầu sử dụng dịch vụ điều trị tại nhà cao gấp gần 3 lần so vớinhững em không khám trong vòng 6 tháng trước điều tra Còn trẻ em đã từngđiều trị tại bệnh viện huyện có nhu cầu được sử dụng dịch vụ điều trị tại nhàcao hơn đến trên 4 lần những trẻ chưa từng điều trị tại các cơ sở y tế đã miêu

tả trong mô hình Điều này có thể do việc điều trị tại nhà thuận tiện hơn chogia đình trong việc chăm sóc trẻ, hơn nữa việc thanh toán chế độ bảo hiểm y

tế của trẻ thường lâu và không thuận tiện Bên cạnh đó tâm lý của các giađình là ngại đưa con em mình đến các cơ sở y tế công lập vì tình trạng quá tải

và sợ con mình có nguy cơ lây chéo bệnh trong môi trường bệnh viện Chính

vì lẽ đó họ có nhu cầu được sử dụng các dịch vụ điều trị bệnh cho trẻ tại nhàkhá cao Nhu cầu sử dụng dịch vụ điều trị tại nhà của gia đình trẻ em thànhphố cao hơn gấp hơn 11 lần so với nhu cầu sử dụng dịch vụ điều trị tại nhàcủa gia đình trẻ em nông thôn Điều này có thể lí giải đơn giản vì các gia đình

ở thành phố có thu nhập cao hơn so với các gia đình ở nông thôn, cho nên họsẵn sàng chi trả các chi phí dịch vụ với mong muốn con em mình điều trị tốthơn [18]

Trang 21

Năm 2010, tác giả Trần Thanh Long tiến hành nghiên cứu khảo sát nhucầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người sử dụng dịch

vụ tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã chỉ ra hầu hết các đối tượng đến khámbệnh đều có nhu cầu với các dịch vụ khám buổi chiều ngày thường (55,3%),khám ngoài giờ ngày thường (62,5%), khám ngày thứ 7 và chủ nhật (64,3%),khám tại nhà (64,3%) Đồng thời, nghiên cứu cũng đưa ra được rằng hầu hếtngười sử dụng dịch vụ đều có khả năng chi trả các dịch vụ y tế CSSK ngoàigiờ và tại nhà, đặc biệt là khám ngoài giờ ngày thường Đối với dịch vụ khámngoài giờ ngày thường, tỷ lệ người bệnh có nhu cầu sử dụng dịch vụ này khácao, đều đạt trên 70% [21]

Tác giả Đặng Thị Lan Phương (2009) tiến hành nghiên cứu về thựctrạng và nhu cầu CSSK tại hộ gia đình tại tỉnh Kon Tum cho thấy phần lớnmọi người đều mong muoons có bác sĩ, cán bộ y tế đến khám và CSSK tạinhà Nghiên cứu cũng chỉ ra nhu cầu CSSK tại nhà của người dân khá cao,tuy nhiên sự đáp ứng các dịch vụ y tế và CSSK tại nhà còn chưa đầy đủ vàhạn chế, cụ thể tỷ lệ người bệnh mạn tính đươc khám, chăm sóc, tư vấnhướng dẫn tại nhà (53,8%), được tư vấn huấn luyện điều trị (15,4%) [22]

Kết quả nghiên cứu điều tra về thực trạng chăm sóc sức khỏe tại hộ giađình của tác giả Phạm Nhật An Cơ (2009) cho thấy phụ nữ sau sinh được cán

bộ chuyên môn chăm sóc tại nhà ở các tỉnh/thành phố phía Bắc có tỷ lệ khácao (từ 66,7% đến 80%) so với các địa phương khác (từ 29,7% đến 40,0%),người bệnh mạn tính có cán bộ chuyên môn tới hỗ trợ tại nhà chiếm khoảng3,7% [23]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Sỹ năm 2009 về thực trạng và nhucầu chăm sóc sức khỏe hộ gia đình tại tỉnh Yên Bái cho thấy người dân chỉ đikhám sức khỏe khi có vấn đề về bệnh tật chiếm 42,7%, khi có ốm đau họ tựchữa ở nhà với tỉ lệ 21,9% sau đó mới đến các cơ sở y tế khác của nhà nước

Trang 22

vì họ cho rằng đến cơ sở y tế nhất là không phải tuyến y tế cơ sở thì rất phiền

hà và tốn kém Khi chăm sóc người nhà mắc bệnh mãn tính họ tự tìm hiểucách chăm sóc cho người nhà mình vì do thiếu nhân lực cán bộ y tế đến tưvấn hỗ trợ chỉ có ở mức 35,7% [24]

Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Hạnh tiến hành đánh giá mối quan hệgiữa nhu cầu và thực trạng CSSK tại nhà của người cao tuổi tại quận Ô Môn,thành phố Hồ Chí Minh năm 2008, cũng chỉ ra hầu hết người cao tuổi tự thựchiện những sinh hoạt thường ngày (91,0%) Khi họ bị bệnh, hơn một nửa vẫn

tự chăm sóc bản thân mình, vai trò của gia đình có trách nhiệm và hỗ trợkhoảng 22,0% cho toàn bộ hoạt động [25]

1.3 Khung pháp lý và một số chính sách của Việt Nam liên quan đến

cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà

1.3.1 Mô hình bác sĩ gia đình

Điều 4 Thông tư số 16/2014/TT-BYT đã quy định về Chức năng, nhiệm

vụ của bác sĩ gia đình: Bác sĩ gia đình có chức năng khám bệnh, chữa bệnh,quản lý, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe toàn diện cho cá nhân, hộ giađình và cộng đồng; Bác sĩ gia đình có các nhiệm vụ sau đây [12]:

a) Quản lý sức khỏe toàn diện, liên tục cho cá nhân, cho hộ gia đình vàcộng đồng

b) Sàng lọc, phát hiện sớm các loại bệnh tật

c) Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng cho cá nhân, hộgia đình và cộng đồng phù hợp với phạm vi chuyên môn được ghi trongchứng chỉ hành nghề

d) Tư vấn về sức khỏe, phòng bệnh, phòng chống nguy cơ đối với sứckhỏe nhằm nâng cao năng lực của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trongviệc chủ động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe

Trang 23

đ) Cung cấp thông tin liên quan đến sức khỏe của cá nhân, hộ gia đình

do bác sĩ gia đình quản lý sức khỏe theo quy định của pháp luật

e) Các nhiệm vụ khác phù hợp với phạm vi hành nghề được ghi trongchứng chỉ hành nghề

Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của phòng khám bác sĩ gia đình trong hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

1 Phòng khám bác sĩ gia đình là một trong các cơ sở đầu tiên tiếp nhậnngười bệnh trong hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

2 Phòng khám bác sĩ gia đình có nhiệm vụ sau:

a Sàng lọc, cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh và chuyển người bệnh đến các

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác theo quy định về chuyển tuyến khám bệnhchữa bệnh và tiếp nhận người bệnh để tiếp tục quản lý, bảo vệ, chăm sóc và nângcao sức khỏe;

b Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong hệ thốngkhám bệnh, chữa bệnh để bảo đảm hoạt động quản lý sức khỏe, khám bệnhchữa bệnh cho cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng;

c Liên hệ để chuyển người bệnh thuộc phạm vi quản lý sức khỏe củaphòng khám bác sĩ gia đình đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp để khámbệnh chữa bệnh

Riêng Phòng khám bác sĩ gia đình được thực hiện việc chăm sóc sứckhỏe và khám bệnh, chữa bệnh tại nhà người bệnh [12, 26]

Trang 24

- Thiết bị y tế: Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt

động chuyên môn mà cơ sở dịch vụ đăng ký

- Nhân sự:

a Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụchăm sóc sức khỏe tại nhà phải là người tốt nghiệp trung cấp y trở lên có chứngchỉ hành nghề và có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 45 tháng;

b Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở dịch vụchăm sóc sức khỏe tại nhà, các đối tượng khác làm việc trong cơ sở dịch vụchăm sóc sức khỏe tại nhà nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thìphải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữabệnh trong phạm vi công việc được phân công Việc phân công phải phù hợpvới phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề củangười đó

- Phạm vi hoạt động chuyên môn:

a Chăm sóc sức khỏe tại nhà theo đơn của bác sĩ;

b Không truyền dịch; không khám bệnh, chữa bệnh và kê đơn thuốc

1.4 Nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ tại nhà cho người bệnh

sau phẫu thuật và một số yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà

Thay băng, cắt chỉ, rửa vết thương là kỹ thuật cơ bản mà chúng ta cóthể làm tại nhà, nhưng nếu thực hiện không đúng quy trình và kỹ thuật sẽ dẫnđến nguy cơ nặng nề như nhiễm trùng, nghiêm trọng hơn là hoại tử vếtthương, gây nguy hiểm đến sức khoẻ và ảnh hưởng đến thời gian lành của vếtthương Việc đến bệnh viện để thay băng, cắt chỉ và rửa vết thương sẽ khiếnmất thời gian và công sức, thậm chí ảnh hưởng đến sức khoẻ của người bệnh

Trang 25

* Yếu tố cá nhân và tình trạng sức khỏe

Nhóm yếu tố cá nhân về đặc điểm nhân khẩu học (tuổi, giới, trình độ học

vấn, nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe…) có mối liên quan đến nhu cầu sửdụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà Nghiên cứu của tác giả TrươngThị Mai Huyền năm 2017 khảo sát về nhu cầu và mức độ sẵn sàng chi trả chodịch vụ CSSK tại nhà của người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện quận TânPhú đã đưa ra giới tính, thu nhập hộ gia đình có mối liên quan đến nhu cầu sửdụng dịch vụ CSSK tại nhà của người bệnh nội trú Cụ thể, nghiên cứu đã chỉ

ra rằng nam giới có nhu cầu CSSK tại nhà cao hơn nữ giới và hộ gia đình cóthu nhập càng cao thì nhu cầu CSSK tại nhà càng cao [13]

Tình trạng sức khỏe

Nghiên cứu của Nguyễn Huyền Trang về nhu cầu chăm sóc sức khỏe củangười dân tại Hải Dương năm 2012, chỉ ra rằng những người đã bị ốm và đãtừng đi khám ở các cơ sở khám chữa bệnh tại bệnh viện huyện, cơ sở y tế tưnhân, trạm y tế xã hoặc từng khám tại nhà đều có nhu cầu sử dụng dịch vụkhám tại nhà cao hơn các đối tượng chưa sử dụng các dịch vụ khám chữabệnh [18] Những người có sự kiện ốm đau trong khoảng thời gian 2 thángtrước khi điều tra có nhu cầu sử dụng dịch vụ điều trị tại nhà thấp (chiếm52%) so với những người không ốm trong thời gian đó Điều này có thể donhững người ốm trong khoảng 2 tháng đã sử dụng dịch vụ chữa bệnh tại các

cơ sở y tế và họ đã được chữa trị khỏi bệnh, nên họ không thấy nhu cầu đượcđiều trị tại nhà là thật cần thiết

Tác giả Eric và cộng sự (2007) tiến hành nghiên cứu về nhu cầu khám,chăm sóc và điều trị ngoài giờ trong dịch vụ khám bệnh và cấp cứu tại Hà Lancho thấy phần lớn nhu cầu khám và CSSK ngoài giờ ở nhóm nam giới trưởngthành là các chấn thương, trong đó có 19% là các chấn thương gãy xương [28]

Trang 26

có nhu cầu khám bệnh tại nhà thấp Mặt khác một phần những người lao động

tự do là dân buôn bán, hoạt động kinh doanh hoặc giao tiếp của họ có thể diễn

ra ngay tại nơi cư trú nên họ không sẵn sàng hoặc mong muốn sử dụng cácdịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà [18, 29]

Yếu tố Bảo hiểm y tế

Bảo hiểm y tế là một trong những yếu tố hỗ trợ quyết định sử dụng dịch

vụ của người dân Tác động của bảo hiểm y tế đến khả năng tiếp cận và sửdụng dịch vụ y tế tại Việt Nam được phản ánh trong một số nghiên cứu Kếtquả nghiên cứu điều tra hộ gia đình tại 3 tỉnh của Việt Nam (1999) cho thấymức độ ảnh hưởng của bảo hiểm y tế đối với hành vi tìm kiếm dịch vụ y tếkhác nhau tùy thuộc vào tình trạng giàu nghèo của hộ gia đình Người nghèo

có bảo hiểm y tế sử dụng dịch vụ y tế tại các cơ sở y tế công lập nhiều hơn rõrệt so với người nghèo không có thẻ bảo hiểm y tế [30] Tuy nhiên, ở nhómgiàu, sự khác biệt này là không rõ rệt [11]

Sự hài lòng của người bệnh về dịch vụ y tế

* Sự đáp ứng của dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện/cơ sở y tế

Đối với các cơ sở y tế, điều kiện về nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vậtchất…cũng như khả năng đáp ứng của cơ sơ y tế (thái độ của cán bộ y tế, trình

độ chuyên môn của cán bộ y tế) luôn là những yếu tố thu hút sự tiếp cận và sửdụng dịch vụ y tế của người dân

Trang 27

Năm 2012, nghiên cứu của tác giả Philips H và cộng sự tiến hành trên

350 người bệnh tại một thành phố của Châu Âu, kết quả nghiên cứu chỉ ramột trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn dịch vụ CSSK ngoài giờcủa người bệnh quan trọng nhất là sự giải thích của bác sỹ và thời gian chờđợi, bên cạnh đó các yếu tố khác như sự sẵn có của các thiết bị kỹ thuật, khảnăng tiếp cận dễ dàng, loại tư vấn và phương thức thanh toán cũng góp phẩnảnh hưởng đến quyết định lựa chọn và nhu cầu sử dụng dịch vụ CSSK ngoàigiờ của người bệnh [28]

Thời gian khám chữa bệnh cũng là một trong các yếu tố gây ảnh hưởngđến việc sử dụng các dịch vụ y tế Một số dịch vụ bị hạn chế vì chỉ được cungcấp trong giờ hành chính được cho là một yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận

và sử dụng dịch vụ Ở những nước đang phát triển, các vấn đề xảy ra mộtcách phổ biến tại cơ sở y tế công như thời gian khám bệnh hạn chế, thời gianchờ đợi lâu, sự vắng mặt của nhân viên y tế và thiếu thuốc… được rất nhiềunghiên cứu đề cập tới như là yếu tố ảnh hưởng tới tiếp cận và sử dụng dịch

vụ Đây cũng là những lý do giải thích cho tình trạng người nghèo sẵn sàng sửdụng dịch vụ ở những nhân viên y tế và người bán thuốc chưa qua đào tạochính thống hoặc ghé qua những phòng khám gần nhà hơn là những phòngkhám xa hơn [28, 31]

* Yếu tố tiếp cận dịch vụ y tế

Khoảng cách đến các cơ sở y tế: là yếu tố được phát hiện ở nhiều nghiên

cứu về sử dụng dịch vụ y tế và nó có tác động có ý nghĩa thống kê lên khả năngtiếp cận dịch vụ của người dân Người dân có thể dễ dàng tiếp cận tới cơ sở y tế

là điều rất quan trọng, trong đó thì thời gian để tiếp cận được cơ sở y tế phụthuộc vào khoảng cách người dân phải di chuyển, hệ thống phương tiện giaothông, đường xá và các yếu tố địa lý khác, trong đó khoảng cách là yếu tố tácđộng nhiều nhất trong mối liên quan này [31]

Trang 28

Khoảng cách tới cơ sở y tế, điều kiện kinh tế và tâm lý ngại làm phiềntới con cháu là những yếu tố có ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ y tế củangười cao tuổi Tuy nhiên, sự thuận tiện về khoảng cách tới cơ sở y tế là lý dochính để người cao tuổi lựa chọn cơ sở y tế khám chữa bệnh Hầu hết ngườicao tuổi mong muốn được khám chữa bệnh ở những cơ sở y tế gần nhà hoặckhám tại nhà, khám ở cơ sở y tế tư nhân hoặc khám chữa bệnh tại trạm y tế xã[32, 33].

Khả năng tài chính: Nghiên cứu về mức độ sẵn sàng chi trả cho dịch vụ

CSSK tại nhà của người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện quận Tân Phú năm

2017 của tác giả Trương Thị Mai Huyền cho thấy các yếu tố tác động đến nhucầu CSSK tại nhà do bác sỹ hay do điều dưỡng thực hiện thì yếu tố tác độngnhư nhau, mức giá càng cao thì nhu cầu CSSK tại nhà càng giảm Kết quảnghiên cứu cho thấy mức giá trung bình người bệnh hoặc người nhà ngườibệnh sẵn lòng chi trả để sử dụng dịch vụ CSSK tại nhà do bác sỹ hay do điềudưỡng thực hiện (khi tính theo phương pháp tham số) có sự chênh lệch khálớn khoảng 27% Mức giá trung bình sẵn lòng trả của người bệnh điều trị nộitrú tại Bệnh viện quận Tân Phú trong nghiên cứu này có sự chênh lệch khálớn, cụ thể dịch vụ do bác sỹ thực hiện (110.000 đồng so với 246.078 đồng),dịch vụ do điều dưỡng thực hiện (30.000 đồng với 237.418 đồng) [13]

Năm 2016, nghiên cứu của tác giả Đàm Trọng Hiếu tiến hành khảo sátnhu cầu khám bệnh tại nhà của NCT quận Tây Hồ, Hà Nội cho thấy mức giáchi trả cho một lần khám bệnh/chăm sóc chưa kể tiền thuốc men, vật tư là150.000 đồng có tỷ lệ NCT chọn chiếm cao nhất (55%), các mức giá cao hơnthì tỷ lệ lựa chọn càng thấp hơn Do đó người cao tuổi muốn sử dụng dịch vụkhi cần cao nên việc thanh toán cho từng lần khám chiếm 86,6% và mua theogói hằng năm chiếm 13,4% [34]

Trang 29

Huber C.A và cộng sự (2011) tiến hành khảo sát nhu cầu CSSK tại nhàcủa người dân tại Thụy Sĩ thấy rằng hầu hết mọi người đều có nhu cầu CSSKtại nhà cao hơn rất nhiều so với chăm sóc tại bệnh viện và qua tư vấn điệnthoại Nghiên cứu cũng chỉ ra sự thanh toán không phù hợp là một trongnhững yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu sử dụng dịch vụ CSSK tại nhà của ngườidân [9].

Điều kiện kinh tế cũng tác động đến nhu cầu khám chữa bệnh tại nhà.Người dân thành phố có nhu cầu sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại nhà caogấp nhiều lần so với người dân nông thôn Người có thu nhập khá có nhu cầukhám bệnh cao hơn so với người có thu nhập trung bình Tuy nhiên, đối vớinhu cầu điều trị tại nhà thì người có thu nhập thấp lại mong muốn được sửdụng dịch vụ này hơn [18]

1.5 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu

1.5.1 Một số thông tin chung về khoa Ngoại, bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Khoa Ngoại - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội được thành lập ngày28/8/2008 theo quyết định số 30/ QĐ- ĐHYHN của Giám đốc Bệnh viện Đểđáp ứng với yêu cầu phát triển chuyên sâu, Khoa Ngoại được tách thành KhoaNgoại Tổng hợp và Khoa Ngoại Thần kinh – cột sống – chấn thương chỉnhhình theo quyết định số 1128/QĐ-ĐHYHN ngày 16/7/2015 và bắt đầu đi vàohoạt động từ ngày 01/08/2015 Hiện nay, Khoa Ngoại có 85 giường bệnh,công suất sử dụng giường bệnh là 110% Tại khoa hiện có 02 phòng khám và

45 cán bộ, nhân viên (gồm 5 Phó Giáo sư, Tiến sỹ, 10 Thạc sỹ, Bác sĩ, 1 Bác

sĩ Dinh dưỡng, 1 Dược sỹ Dược lâm sàng, 23 điều dưỡng và 4 trợ lý chămsóc) Đội ngũ cán bộ chuyên môn của khoa là các phẫu thuật viên giỏi, đồngthời là những người thầy có tâm huyết đến từ các Bộ môn của Trường Đạihọc Y Hà Nội

Trang 30

1.5.2 Một số thông tin về sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ của người bệnh sau phẫu thuật tại khoa Ngoại, bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Theo báo cáo hoạt động 6 tháng đầu năm 2018, khoa Ngoại – Bệnh việnĐại học Y Hà Nội, tổng số người bệnh nội trú tại Khoa là 2786 người bệnh,tổng số a phẫu thuật tại khoa là 2439 ca Như vậy, trung bình có 110 ngườibệnh/ngày điều trị tại khoa, với số giường thực tế chỉ có 85 giường bệnh, hiệntại Khoa Ngoại cũng đang phải đối mặt với tình trạng quá tải bệnh nhân, so vớicùng thời điểm 6 tháng đầu năm 2017, số lượng người bệnh nội trú tăng 11,6%,

số ca phẫu thuật tăng 12,4%

Khoa Ngoại chủ yếu thực hiện các loại phẫu thuật về bệnh lý tiêu hóa

và tiết niệu, tỷ lệ phẫu thuật tại khoa là 95%, trong đó mổ mở chiếm 45%.Theo báo cáo kết quả thực hiện hoạt động chuyên môn năm 2017, tổng số caphẫu thuật tại khoa là 5055 ca Tỷ lệ các trường hợp bệnh cần thực hiên thaybăng sau phẫu thuật là 95% Thông thường, người bệnh ổn định sau phẫuthuật từ 3-4 ngày có thể xuất viện, trong khi đó người bệnh vẫn phải thaybăng và chưa cắt chỉ

Đối với phẫu thuật tiêu hóa, tại khoa chủ yếu thực hiện các loại phẫuthuật như ung thư thực quản, dạ dầy, đại tràng, gan, mật, tụy, thoát vị bẹn,ruột thừa

Đối với phẫu thuật tiết niệu, tại khoa chủ yếu thực hiện phẫu thuật cắtthận, bàng quang, sỏi niệu quản, sỏi thận, sỏi bào quang, u phì đại tiền liệt tuyến

Ngoài ra, tại khoa còn thực hiện mổ phẫu thuật một số bệnh nam khoa,phụ sản, tim mạch lồng ngực

1.6 Khung lý thuyết

Trong phạm vi nghiên cứu này, mô hình khung lý thuyết được xâydựng và phát triển dựa trên cơ sở xem xét và phân tích mô hình hành vi sử

Trang 31

dụng dịch vụ y tế của Andersen (1995) [28], trong đó đề cập đến các yếu tốảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của mỗi cá nhân, cụ thể:(1) Các yếu tố cá nhân: là các yếu tố thuộc về nhân khẩu học, đặc trưngvăn hóa, xã hóa của cá nhân.

- Yếu tố nhân khẩu học: tuổi, giới, tình trạng hôn nhân,…

- Yếu tố thuộc về đặc trưng văn hóa, xã hội: trình độ học vấn, dân

tộc, nghề nghiệp, tham gia bảo hiểm y tế, tình trạng sức khỏe,…

- Yếu tố niềm tin sức khỏe: thái độ, niềm tin với hệ thống y tế, sự

hài lòng và mức độ tin tưởng đối với dịch vụ y tế và cơ sở y tế,…(2) Các yếu tố thúc đẩy: là các yếu tố liên quan đến tiếp nhận và sử dụngdịch vụ y tế

- Yếu tố tiếp cận dịch vụ y tế: khoảng cách đến cơ sở y tế, khả năng

tài chính/ thu nhập,…

- Tính đáp ứng của cơ sở y tế: sự sẵn có của cơ sở y tế, trình độ

chuyên môn và kỹ năng của cán bộ y tế, thái độ của cán bộ y tế,…(3) Yếu tố nhu cầu sử dụng dịch vụ: là cách mà đối tượng nghiên cứuđánh giá về tình trạng sức khỏe của bản thân mình, cũng như cách họlựa chọn và trải nghiệm các triệu chứng của bệnh tật và những lo ngại

về sức khỏe của họ, đồng thời, dựa trên đánh giá vấn đề sức khỏe củabản thân để tìm kiếm sự giúp đỡ của chuyên gia hay quyết định sửdụng dịch vụ y tế

Trang 32

Sơ đồ 1.1 Khung lý thuyết

Yếu tố thuộc về người bệnh

- Sự tin tưởng đội ngũ nhân viên y tế

Khả năng đáp ứng của cơ sở cung cấp

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu chính

Người bệnh sau phẫu thuật đang tiếp tục điều trị nội trú tại khoa Ngoạitại thời điểm nghiên cứu (Nếu người bị ốm là trẻ em dưới 18 tuổi và ngườikhông có khả năng trả lời thì phỏng vấn người đại diện/ người chăm sócchính)

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Đối tượng người bệnh sau phẫu thuật, đang điều trị nội trú

- Người bệnh sau phẫu thuật 2-3 ngày, tình trạng ổn định (các chỉ sốmạch, nhiệt độ, huyết áp ổn định, vết mổ không chảy máu, người bệnh có thểphối hợp với nhân viên y tế tự chăm sóc được)

- Có đủ sức khỏe, năng lực để trả lời các câu hỏi

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu liên quan

- Đại diện lãnh đạo/quản lý khoa Ngoại

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2018 đến tháng 3/2019

- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Ngoại, bệnh viện Đại học Y Hà Nội

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Yếu tố tiếp cận dịch vụ:

- Khả năng tài chính

- Khoảng cách đến cơ sở y tế

Trang 34

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho ước lượng tỷ lệ trong

quần thể nghiên cứu mô tả, ta có:

n=Z1−α /2

2

d2 p (1− p)

Trong đó:

n: Số người bệnh tối thiểu cần điều tra

Z: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95%, ta có Z1-α/2 = 1,96

α: Mức ý nghĩa thống kê, chọn α = 0,05

p: Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉtrước thời điểm điều tra, p = 50%

d: Khoảng sai lệch chấp nhận được d= 0,05

Thay vào công thức ta có số người bệnh tối thiểu cần điều tra là 384người bệnh Dự phòng 5% người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu và

cỡ mẫu tối thiểu cần điều tra và thực tế thu thập được là 402 người bệnh

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu định lượng

Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, dựa trên danh sách ngườibệnh sau phẫu thuật đang tiếp tục điều trị tại khoa (có tình trạng ổn định, sauphẫu thuật 2-3 ngày) tại khoa Ngoại, tiến hành chọn mẫu có chủ đích trongthời điểm điều tra, đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn và đảm bảo đủ cỡ mẫucần thiết cho nghiên cứu

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

Tất cả các đối tượng nghiên cứu được giải thích mục đích của cuộcphỏng vấn và tự nguyện tham gia Nghiên cứu viên và 5 điều tra viên thốngnhất nội dung hướng dẫn phỏng vấn, kỹ thuật và cách thức tiến hành trước khithực hiện Nghiên cứu viên liên hệ với lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo khoa để

Trang 35

được sự chấp thuận và tạo điều kiện trong quá trình thu thập thông tin, cũngnhư thống nhất kế hoạch và thời gian cụ thể hợp lý để thu thập thông tin.

Trung bình mỗi ngày tại khoa Ngoại có khoảng 10-15 người bệnh sauphẫu thuật điều trị nội trú tại khoa (sau phẫu thuật 2-3 ngày) Trong thời gianthu thập số liệu, hàng ngày điều tra viên tiến hành thu thập số liệu tại khoadựa trên danh sách người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn của nghiên cứu.Như vậy, thời gian cần thiết để hoàn thiện thu thập số liệu định lượng là trong

1 tháng

Công cụ thu thập số liệu

Bộ câu hỏi phỏng vấn định lượng dành cho đối tượng nghiên cứu đượcthiết kế dựa trên tổng quan các tài liệu y văn và các nghiên cứu cùng chủ đề

về nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế của người bệnh, với các nội dung phù hợp

nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đưa ra (Phiếu điều tra về nhu cầu

sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ cho người bệnh sau phẫu thuật ổn định – Phụ lục 1)

Bộ công cụ định lượng được nghiên cứu viên điều tra thử nghiệm trênngười bệnh sau phẫu thuật ổn định có sử dụng dịch vụ thay băng và cắt chỉ,trước khi tiến hành thu thập số liệu trên quần thể nghiên cứu, nhằm chỉnh sửa

bộ công cụ cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu, chỉnh sửa ngôn từ dễ hiểuvới đối tượng nghiên cứu trước khi điều tra chính thức Những đối tượng điềutra thử nghiệm là những người không nằm trong mẫu điều tra chính thức

Điều tra viên và giám sát viên

 Điều tra viên (5 người)

Tuyển chọn điều tra viên là các sinh viên năm cuối của trường Đại học

Y Hà Nội đã từng có kinh nghiệm tham gia điều tra, thu thập số liệu chonghiên cứu Nhiệm vụ của điều tra viên:

- Tham gia đầy đủ các buổi tập huấn về nghiên cứu, mục tiêu nghiêncứu, nội dung của nghiên cứu, phương pháp phỏng vấn, cách điền bộ câu hỏi

Trang 36

- Thu thập số liệu dựa theo bộ công cụ thu thập số liệu được thiết kế sẵn.

- Hoàn thành đầy đủ các phiếu phỏng vấn thu thập thông tin, không bỏsót thông tin và không bỏ sót đối tượng

- Liên hệ với giám sát viên (chính là nghiên cứu viên) để giải quyếtnhững khó khăn phát sinh

- Nộp lại phiếu thu thập thông tin cho nghiên cứu viên

 Giám sát viên (1 người)

Nghiên cứu viên đóng vai trò giám sát viên trong quá trình thu thậpthông tin và cùng đi điều tra với các điều tra viên Giám sát viên có nhiệm vụ:

- Giám sát quá trình thu thập số liệu định lượng tại thực địa.

- Rút thăm ngẫu nhiên 5% tổng số phiếu, phỏng vấn lại và kiểm tra một

số thông tin của người trả lời phỏng vấn

- Giúp điều tra viên giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá

trình thu thập số liệu Nhắc nhở điều tra viên khi thấy có sai sót trong quátrình thu thập

Quy trình tổ chức thu thập số liệu định lượng

- Nghiên cứu viên liên hệ với cán bộ tại khoa Ngoại trình bày mục đíchnghiên cứu và quy trình làm việc

- Điều tra viên tiếp cận các đối tượng được chọn trong mẫu điều tra theo

sự chỉ dẫn của cán bộ tại khoa Phỏng vấn trực tiếp người bệnh (Phiếu số 1)(đối với người không có năng lực giao tiếp, người ốm nặng, trẻ em dưới 18tuổi được phỏng vấn thông qua người quyết định chính/ người chăm sócchính trong gia đình)

- Gặp gỡ đối tượng phỏng vấn: chào hỏi, giới thiệu về mục đích nghiêncứu, sự bảo mật thông tin trong nghiên cứu và xin sự đồng ý tham gia nghiêncứu của đối tượng

Trang 37

- Điều tra viên hỏi đối tượng phỏng vấn theo bảng hỏi Trong quá trìnhhỏi không gợi ý người trả lời theo hướng của điều tra viên, ghi chú lại nhữngvấn đề phát sinh và báo lại cho giám sát viên.

- Thời gian tiếp cận đối tượng có thể linh hoạt theo tình hình cụ thể, chủyếu tiếp cận đối tượng vào ngày nghỉ (thứ 7 và chủ nhật) và các ngày thường(vào buổi chiều, tối) để đảm bảo việc tiếp cận đối tượng và đối tượng có đủthời gian để trả lời hết các câu hỏi mà không bị ảnh hưởng bởi những yếu tốbên ngoài đến cuộc phỏng vấn

2.6 Các biến số nghiên cứu

- Nhóm biến số về thông tin chung về người bệnh bao gồm: Tuổi, giới

tính, trình độ học vấn, nơi sinh sống, nguồn thu nhập, khoảng cách từ nhà đếnbệnh viện

- Nhóm biến số liên quan đến sử dụng dịch vụ bao gồm: các biến liên

quan đến lý do lựa chọn dịch vụ tại bệnh viện, tình trạng sử dụng thẻ bảohiểm y tế, chi phí điều trị đã chi trả trong đợt điều trị này

- Nhóm biến số liên quan đến sự hài lòng về dịch vụ và mức độ tin tưởng

của người bệnh về dịch vụ: sự hài lòng về kết quả điều trị, về thái độ giao tiếpcủa nhân viên y tế, mức độ tin tưởng về chuyên môn của nhân viên y tế, vềchất lượng khám chữa bệnh,

- Nhóm biến số về nhu cầu và sự sẵn sàng sử dụng dịch vụ thay băng cắt

chỉ tại nhà: có nhu cầu sử dụng dịch vụ, sẵn sàng sử dụng dịch vụ, hình thứcđăng ký sử dụng dịch vụ, chi phí cho một lần sử dụng dịch vụ, lý do khôngmuốn sử dụng dịch vụ

2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Xử lý và làm sạch số liệu:

Trang 38

- Các phiếu thu thập số liệu định lượng, sau khi thu thập được thu lại để

kiểm tra tính hợp lệ và được chỉnh sửa bổ sung thông tin bị sai và còn thiếungay sau thời điểm điều tra

- Kiểm tra và làm sạch số liệu sau khi đã nhập vào máy tính.

Phân tích số liệu:

- Số liệu định lượng được nhập vào máy tính bằng chương trình Epidata

3.1 và được xử lý, phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0 Sử dụngphương pháp thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ), kiểm định khi bình phương χ2 và

sử dụng mô hình phân tích hồi quy đa biến (Logistic) nhằm tìm hiểu và phântích một số yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉtại nhà của người bệnh sau phẫu thuật (với mức ý nghĩa thống kê p<0,05)

2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu tuân thủ những quy định về đạo đức trong nghiên cứu và chỉtiến hành khi được sự chấp thuận của Hội đồng khoa học và Hội đồng đạođức Trường Đại học Y Hà Nội

Trước khi tiến hành thu thập thông tin bằng phiếu điều tra và phỏng vấnsâu, tất cả các đối tượng nghiên cứu đều được giải thích cụ thể về mục đích vànội dung của nghiên cứu Sau đó, các đối tượng được phát giấy đồng ý thamgia nghiên cứu Với đối tượng trong nghiên cứu định lượng, giấy đồng ý thamgia nghiên cứu được phát trước khi phỏng vấn Với đối tượng của các cuộcphỏng vấn sâu, khi đối tượng đồng ý thì quá trình thu thập thông tin mới đượctiến hành Các đối tượng đều có quyền từ chối không tham gia nghiên cứuhoặc chấm dứt nghiên cứu bất kỳ thời điểm nào Việc ghi âm trong các cuộcphỏng vấn sâu được thực hiện sau khi có sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu.Các thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được đảm bảo giữ bímật và và mọi thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho đề tài nghiên cứu,không nhằm mục đích khác Kết quả của nghiên cứu không nêu tên đối tượng

Trang 39

khi trích dẫn từ phía đối tượng đó Kết quả nghiên cứu được công bố trên Hộiđồng Nhà trường và các ban ngành liên quan nhằm đảm bảo tính khách quancho nghiên cứu

Nghiên cứu được sự ủng hộ của lãnh đạo Khoa và Bệnh viện Đại học Y

Hà Nội Nghiên cứu nhằm tìm hiểu nhu cầu sử dụng dịch vụ thay băng, cắt chỉcho người bệnh sau phẫu thuật và những yếu tố liên quan nhằm làm tiền đề đểđưa ra những đề xuất góp phần cải thiện và cung cấp dịch vụ chăm sóc phùhợp, thuận tiện và hữu ích cho người bệnh Mặt khác, cho đến nay, chưa cónghiên cứu nào về vấn đề này tại khoa Ngoại, bệnh viện Đại học Y Hà Nội

2.9 Sai số và biện pháp khắc phục

2.9.1 Sai số của nghiên cứu

Nghiên cứu có thể gặp phải một số loại sai số như sau

- Sai số ngẫu nhiên do chọn mẫu trong nghiên cứu.

- Sai số do chủ quan của người trả lời phỏng vấn do thông tin khai thác

chủ yếu dựa vào quan điểm, quan niệm của đối tượng

- Sai số thông tin do lỗi trong quá trình nhập liệu, làm sạch số liệu và phân

số liệu định lượng được thử nghiệm và chỉnh sửa trước khi đưa vào vào thuthập thông tin chính thức Giám sát chặt chẽ quá trình thu thập thông tin đểthông tin thu thập có chất lượng Nghiên cứu viên kiểm tra và làm sạch phiếusau mỗi ngày điều tra và trước khi nhập vào máy

Trang 40

Nghiên cứu viên là người trực tiếp thu thập thông tin định tính Để hạnchế sai số do chủ quan của người trả lời phỏng vấn, nghiên cứu viên thựchành thử kỹ năng phỏng vấn sâu trước khi tiến hành thu thập số liệu Các điềutra viên cùng tham gia vào quá trình thử nghiệm bộ câu hỏi phỏng vấn sâu,sau đó nghiên cứu viên hoàn thiện bộ câu hỏi và thu thập thông tin định tính Trong quá trình nhập liệu: nhập chính xác, đầy đủ thông tin từ phiếu điềutra để tránh sai sót trong quá trình phân tích bộ số liệu So sánh đối chiếuthông tin từ nhiều nguồn và nhiều phương pháp để thu được thông tin đáng tincậy, so sánh đối chiếu thông tin từ phía cán bộ y tế và người bệnh.

Ngày đăng: 21/05/2020, 20:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Trương Thị Mai Huyền (2017), Khảo sát nhu cầu và mức độ sẵn sàng chi trả cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh năm 2016.Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát nhu cầu và mức độ sẵn sàngchi trả cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh điều trịnội trú tại bệnh viện quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh năm 2016
Tác giả: Trương Thị Mai Huyền
Năm: 2017
14. Viện Chiến lược Chính sách Y tế (2015), Tài liệu tập huấn điều tra hộ gia đình - Khảo sát tình hình sức khỏe, tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người dân, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn điều tra hộgia đình - Khảo sát tình hình sức khỏe, tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tếcủa người dân
Tác giả: Viện Chiến lược Chính sách Y tế
Năm: 2015
15. Đặng Đức Nhu, Hoàng Hữu Toản và Lê Thị Thanh Tuyết (2015), "Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ngoài giờ và tại nhà của người đến khám, điều trị bệnh tại bệnh viện phổi Trung ương", Tạp chí Y học Dự phòng. 3(163) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mộtsố yếu tố liên quan đến nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ngoài giờ và tại nhàcủa người đến khám, điều trị bệnh tại bệnh viện phổi Trung ương
Tác giả: Đặng Đức Nhu, Hoàng Hữu Toản và Lê Thị Thanh Tuyết
Năm: 2015
16. Nguyễn Thị Hoài Thu, Bùi Thị Mỹ Anh &amp; Hoàng Thanh Nga (2014), Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh tại trạm y tế của người dân xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, Hà Nội năm 2014, Tạp chí y tế công cộng, 40 (13), 145-151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí y tế công cộng
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài Thu, Bùi Thị Mỹ Anh &amp; Hoàng Thanh Nga
Năm: 2014
17. Hoàng Trung Kiên (2012), Nghiên cứu nhu cầu, đáp ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và thử nghiệm mô hình can thiệp cộng đồng tại huyện Đông Anh, Hà Nội, Y tế công cộng, Viện vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu, đáp ứng dịch vụ chămsóc sức khỏe người cao tuổi và thử nghiệm mô hình can thiệp cộng đồngtại huyện Đông Anh, Hà Nội
Tác giả: Hoàng Trung Kiên
Năm: 2012
20. Đàm Viết Cương và các cộng sự (2006), Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở Việt Nam, Viện chiến lược và Chính sách Y tế Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình chăm sócsức khỏe cho người cao tuổi ở Việt Nam
Tác giả: Đàm Viết Cương và các cộng sự
Năm: 2006
21. Trần Thanh Long (2010), Thực trạng nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người sử dụng dịch vụ tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2010, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏengoài giờ và tại nhà của người sử dụng dịch vụ tại bệnh viện Đại học YHà Nội năm 2010
Tác giả: Trần Thanh Long
Năm: 2010
23. Phạm Nhật An Cơ (2009), Thực trạng chăm sóc sức khỏe tại hộ gia đình tại một số tỉnh phía Bắc. Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng chăm sóc sức khỏe tại hộ gia đìnhtại một số tỉnh phía Bắc
Tác giả: Phạm Nhật An Cơ
Năm: 2009
24. Nguyễn Văn Sỹ (2009), Thực trạng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe hộ gia đình tại tỉnh Yên Bái, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thực trạng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe hộgia đình tại tỉnh Yên Bái
Tác giả: Nguyễn Văn Sỹ
Năm: 2009
25. Trần Thị Hạnh (2008), Khảo sát nhu cầu chăm sóc sức khỏe và thực trạng chăm sóc sức khỏe tại nhà của người cao tuổi tại quận Ô Môn, thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thị Hạnh (2008)
Tác giả: Trần Thị Hạnh
Năm: 2008
28. Gioia Montevecchi (2010-2012), Factor influencing access to health care services in Labrado: An overview report based on Masters Research and Thesis: Factors Influencing Access to Health Care Service in Labrador:A Case Study of Two Distinct Regions, Canada, 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Case Study of Two Distinct Regions, Canada
30. Lý Ngọc Kính (2008), "Chính sách chăm sóc sức khỏe của Việt Nam cơ hội và thách thức giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân", Tạp chí Chính sách Y tế, 3, 34-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách chăm sóc sức khỏe của Việt Nam cơhội và thách thức giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân
Tác giả: Lý Ngọc Kính
Năm: 2008
31. Lavy V., Strauss J., Thomas D. &amp; et al (1996), "Quality of care, survival and health outcomes in Ghana", Journal of Health Economics, 15 (3), 333-357 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of care, survivaland health outcomes in Ghana
Tác giả: Lavy V., Strauss J., Thomas D. &amp; et al
Năm: 1996
32. Mai Thị Thanh Xuân (2011), Sử dụng dịch vụ y tế của người nghèo ở Hà Nội, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN - Kinh tế và Kinh doanh, 27, 256-264 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN - Kinh tế và Kinh doanh
Tác giả: Mai Thị Thanh Xuân
Năm: 2011
33. Trương Bảo Thanh (2015), Chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam, Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịchvụ y tế ở Việt Nam
Tác giả: Trương Bảo Thanh
Năm: 2015
34. Đàm Trọng Hiếu (2016). Thực trạng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà của người cao tuổi tại hai phường của quận Tây Hồ, Hà Nội năm 2016 và một số yếu tố liên quan. Luận văn Thạc sỹ Quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe tạinhà của người cao tuổi tại hai phường của quận Tây Hồ, Hà Nội năm2016 và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Đàm Trọng Hiếu
Năm: 2016
35. Ronald M.Andersen (1995), Revisiting the behavioral model and access to medical care, Journal of Health and Social Behavior, 36, 1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Health and Social Behavior
Tác giả: Ronald M.Andersen
Năm: 1995
12. Bộ Y tế (2014), Thông tư 16/2014/TT-BYT Hướng dẫn thí điểm về bác sĩ gia đình và phòng khám bác sĩ gia đình, Hà Nội Khác
18. Nguyễn Huyền Trang (2012), Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà của người dân tại Hải Dương Khác
22. Đặng Thị Lan Phương (2009), Thực trạng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại hộ gia đình tại tỉnh Kon Tum năm 2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w