NGUYỄN THỊ HỒNG TÁCHĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI MŨI XOANG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHOA MŨI XOANG BỆNH VIỆN TAI - MŨI - HỌNG TRUNG ƯƠNG... NGUYỄN
Trang 1NGUYỄN THỊ HỒNG TÁCH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI MŨI XOANG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHOA MŨI XOANG BỆNH VIỆN TAI - MŨI - HỌNG TRUNG ƯƠNG
Trang 2NGUYỄN THỊ HỒNG TÁCH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI MŨI XOANG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHOA MŨI XOANG BỆNH VIỆN TAI - MŨI - HỌNG TRUNG ƯƠNG
NĂM 2018 – 2019
Chuyên ngành: Điều dưỡng
Mã số: 60.72.05.01
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHẠM TRẦN ANH
HÀ NỘI – 2018
Trang 3Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu, sơ đồ, hình vẽ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ PHẪU THUẬT NỘI SOI MŨI XOANG 3
1.1 Lịch sử nghiên cứu 3
2 Giải phẫu hốc mũi 5
2.1 Giải phẫu các xoang: 5
2.2 Giải phẫu vách mũi xoang: 8
2.3 Mạch máu và thần kinh 10
3 Chức năng sinh lý của mũi xoang: 11
3.1 Sự thông khí: 11
3.2 Sư dẫn lưu bình thường của xoang: 11
3.3 Vận chuyển niêm dịch ở trong xoang hàm: 12
3.4 Sự vận chuyển của niêm dịch trong xoang sàng: 12
3.5 Sự vận chuyển niêm dịch trên vách mũi xoang: 12
3.6 Bệnh học của viêm mũi xoang: 13
4 Nguyên lý của phẫu thuật nôi soi chức năng mũi xoang 15
4.1 Chỉ định: 15
4.2 Chống chỉ định: 16
4.3 Kỹ thuật: 16
4.4 Các phẫu thuật: 16
4.5 Tai biến và biến chứng sau phẫu thuật nội soi mũi xoang 17
5 Chăm xóc người bệnh sau phẫu thuật mũi xoang 19
5.1 Vai trò của việc chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật mũi xoang: 19
5.2 Quy trình chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật nội soi mũi xoang: .20 6 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 27
7 Khung lý thuyết 28
Trang 42.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn người bệnh 29
2.1.2 Tiêu chuẩn không lựa chọn 29
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 29
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 29
2.3 Thiết kế nghiên cứu 29
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 29
2.5 Phương pháp chọn mẫu 30
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 30
2.7 Các biến số nghiên cứu: 31
2.7.1 Thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu: 31
2.7.2 Theo dõi tình trạng người bệnh trước khi phẫu thuật: 31
2.7.3 Thực trạng chăm sóc người bệnh ngay sau phẫu thuật 32
2.7.4 Theo dõi hậu phẫu ngày thứ nhất 32
2.7.5 Theo dõi hậu phẫu ngày thứ hai 32
2.7.6 Theo dõi hậu phẫu ngày thứ 3 và các ngày sau đó 32
2.7.7 Đánh giá công tác hướng dẫn và dặn dò khi người bệnh ra viện 33
2.7.8 Đánh giá mức độ hài lòng với công tác chăm sóc sau phẫu thuật 33
2.8 Các bước tiến hành nghiên cứu 33
2.9 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 33
2.10 Đạo đức nghiên cứu 33
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
I Thực trạng đánh giá của người bệnh về công tác chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật nội soi mũi xoang 34
3.1 Thông tin các nhân của đối tượng nghiên cứu 34
3.1.1 Phân bố người bệnh theo tuổi 34
3.1.2 Phân bố người bệnh theo giới 34
3.1.3 Phân bố người bệnh theo trình độ học vấn 34
3.1.4 Phân bố người bệnh theo mức sống 34
Trang 53.2.1 Lý do khiến người bệnh nhập viện 35
3.2.2 Khai thác tiền sử dị ứng 35
3.2.3 Công tác chuẩn bị người bệnh trước mổ 35
3.3 Thực trạng công tác chăm sóc ngay sau phẫu thuật 35
3.3.1 Dấu hiệu sinh tồn ngay sau khi đón bệnh nhân 35
3.3.2 Các tác dụng phụ của thuốc mê 36
3.3.3 Công tác chăm sóc ngay sau khi phẫu thuật 36
3.3.4 Đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS 36
3.3.5 Các biến chứng sau mổ khai thác từ bệnh án 36
3.4 Đánh giá công tác chăm sóc ngày hậu phẫu thứ nhất sau mổ 36
3.4.1 Đánh giá công tác rút Meche sau phẫu thuật 36
3.4.2 Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh sau mổ 37
3.4.3 Tình trạng ho của người bệnh sau mổ 37
3.5 Đánh giá công tác chăm sóc ngày hậu phẫu thứ hai sau mổ 37
3.6 Đánh giá công tác chăm sóc hậu phẫu từ ngày thứ ba sau mổ đến lúc ra viện 37
3.7 Đánh giá công tác chăm sóc khi người bệnh ra viện 38
3.8 Đánh giá mức độ hài lòng của người bệnh với công tác chăm sóc: 38
II Một số yếu tố liên quan đến đánh giá của người bệnh về công tác chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật NSMX 38
CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 39
1 Thực trạng đánh giá của người bệnh về công tác chăm sóc sau phẫu thuật nội soi mũi xoang tại khoa Mũi Xoang Bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương 39
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến đánh giá của người bệnh về công tác chăm sóc sau phẫu thuật nội soi mũi xoang tại khoa Mũi Xoang Bệnh viện Tai – Mũi – Họng Trung Ương 39
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 40 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6NSMX Nội soi mũi xoang
PHLN Phức hợp lỗ ngách
TMH TW Tai Mũi Họng Trung Ương
Trang 7Hình 1.1 Lát cắt đứng dọc (sagittal) sọ mặt 6
Hình 1.2: Lát cắt đứng ngang qua thân xương bướm 7
Hình 1.3: Lát cắt đứng ngang qua xoang trán 8
Hình 1.4: Hệ thống cấp máu của mũi 11
Hình 1.5: Minh họa kỹ thuật mở mỏm móc trong phẫu thuật nội soi mũi xoang 15
Trang 8Bảng 3.2 Phân loại giới 34
Bảng 3.3 Phân bố theo thời gian nằm viện 35
Bảng 3.4 Các biến chứng sau mổ 36
Bảng 3.5 Đánh giá công tác rút Meche của người bệnh ngày thứ nhất 36
Bảng 3.6 Đánh giá thang điểm tuân thủ việc rủa mũi sau phẫu thuật 37
Bảng 3.7 Mức độ hài lòng với công tác chăm sóc của điều đưỡng 38
Trang 918 - 45 tuổi [1].
Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị khác nhau đối với viêm mũixoang, nhưng về cơ bản có thể chia thành điều trị nội khoa và phẫu thuật.Trong đó phẫu thuật nội soi mũi xoang là phương pháp điều trị được chỉ địnhtrong các trường hợp viêm xoang tiến triển mạn tính không đáp ứng với điềutrị nội khoa Hiện tại, phẫu thuật nội soi mũi xoang là một trong những phẫuthuật chiếm tỷ lệ khá lớn trong số những phẫu thuật được thực hiện tại bệnhviện Tai - Mũi - Họng Trung Ương Vì thế, chăm sóc người bệnh sau phẫuthuật nội soi mũi xoang là công tác thường xuyên được thực hiện bởi các điềudưỡng của bệnh viện
Tuy nhiên, thực trạng công tác chăm sóc sau phẫu thuật nội soi mũixoang ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế Một mặt là do ý thức của ngườibệnh không tuân thủ chặt chẽ quy trình điều trị, mặt khác là do nhân viên y tếchưa thật sự quan tâm và thực hiện đầy đủ công tác chăm sóc sau phẫu thuật.Một dịch vụ y tế có được đánh giá là tốt, uy tín và đáng tin cậy để người bệnhchọn lựa là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược chăm sóc người bệnh củabệnh viện Tai- Mũi- Họng trung ương nói chung và khoa Mũi xoang nói
Trang 10riêng Để đáp ứng nhu cầu chăm sóc ngày càng cao của người bệnh qua đónâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật NSMX thìviệc tìm hiểu, khảo sát những đánh giá của người bệnh về dịch vụ chăm sócngười bệnh sau phẫu thuật NSMX là hết sức cần thiết Xuất phát từ vấn đề
thực tế này, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng chăm
sóc người bệnh sau phẫu thuật nội soi mũi xoang và một số yếu tố liên quan tại khoa Mũi Xoang Bệnh viện Tai - Mũi - Họng Trung Ương năm
2018 – 2019 ” nhằm trả lời cho 2 câu hỏi nghiên cứu:
1 Thực trạng chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật nội soi mũi xoangtại Khoa mũi xoang Bệnh Viện Tai Mũi Họng trung ương trong đánh giá củangười bệnh hiện nay ra sao?
2 Những yếu tố nào liên quan đến sự đánh giá của người bệnh về côngtác chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật nội soi mũi xoang tại khoa MũiXoang Bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Thực trạng đánh giá của người bệnh sau phẫu thuật NSMX về dịch
vụ theo dõi chăm sóc người bệnh tại khoa mũi xoang Bệnh viện Tai – Mũi –Họng trung ương
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến sự đánh giá của người bệnh vềcông tác theo dõi chăm sóc sau phẫu thuật nội soi mũi xoang tại khoa MũiXoang Bệnh viện Tai – Mũi – Họng Trung ương
Trang 11- Nội soi mũi xoang chẩn đoán lần đầu tiên được thực hiện vào năm
1901 bởi Hirchrmann ông đã cải tiến ống soi bàng quang của Nitze để khámhốc mũi và quan sát qua ổ răng Năm 1925, Maltz phát hiện nội soi mũixoang là một phương pháp chẩn đoán bệnh lý hiệu quả, ông đã mô tả kỹ thuậtvào xoang hàm để nội soi bằng 2 đường qua khe dưới và qua hố nanh [2]
- Năm 1951 Hopkins đã tìm ra phương thức truyền ánh sáng lạnh trongống dài thay thế cho hệ thống kính hội tụ của Nitze Sau đó ông đã dùng ốngsoi xoang mà ông ghép nhiều thấu kính để truyền ánh sáng [3]
- Trong những năm 60 - 70 của thế kỷ 20, sự phát triển vượt bậc củacông nghệ chế tạo dụng cụ quang học đã tạo tiền đề cho nội soi phát triểnmạnh mẽ, từ chẩn đoán đến phẫu thuật nội soi Cho đến năm l967Messerklinger và Wigand đã đề xuất và hoàn thiện đầy đủ kỹ thuật phẫu thuậtnội soi mũi xoang [4]
- Năm 1972, Hellmich phát triển kỹ thuật nội soi xoang hàm bằng 2đường phối hợp qua hố nanh và qua khe dưới Đến năm 1978 khiMesserklinger (Áo) và Terrier (Thuỵ Sỹ) cùng độc lập công bố các công trìnhcủa mình về phẫu thuật mũi-xoang dưới sự dẫn đường của ống nội soi thìphẫu thuật nội soi chức năng mũi xoang mới thực sự ra đời và nhanh chóngphát triển trên toàn thế giới [5]
- Ở Hoa Kỳ, cho đến năm 1984 phẫu thuật mới được D.W Kennedy ápdụng và phát triển [6]
Trang 121.1.2 Ở Việt nam:
- Kỹ thuật phẫu thuật nội soi mũi xoang chỉ mới được áp dụng từ đầuthập kỷ 90 ở miền Nam và từ năm 1993 ở miền Bắc Bùi Minh Đức đã nhấnmạnh vai trò của nội soi trong chẩn đoán các bệnh mũi - xoang Ngô NgọcLiễn, Võ Thanh Quang đã nêu rõ vai trò của phẫu thuật nội soi chức năng mũixoang trong một số bệnh lý mũi xoang Nguyễn Tấn Phong đã giới thiệu các
kỹ thuật nội soi xoang hàm trong phẫu thuật nội soi chức năng mũi xoang
- Võ Văn Khoa cũng đã đề cập tới nội soi xoang hàm trong luận án tiến
sỹ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học trong bệnh viêm xoang mạntính
- Nghiêm Thị Thu Hà trong luận văn thạc sỹ y học đã nghiên cứu ứngdụng kỹ thuật nội soi trong chẩn đoán viêm xoang hàm mạn tính
- Phạm Kiên Hữu trong luận văn tiến sỹ đã nghiên cứu phẫu thuật nộisoi mũi xoang qua 213 trường hợp mổ tại bệnh viên nhân dân Gia Định
- Hiện tại, vấn đề chăm sóc sau phẫu thuật nội soi mũi xoang cũngđược quan tâm tại nhiều bệnh viện, trong đó có công trình “Nghiên cứu hiệuquả quy trình chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật nội soi mũi xoang tại khoaTai Mũi Họng bệnh viện quân y 103” của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga vàĐào Gia Hiển Trong nghiên cứu này, các tác giả đã chỉ ra rằng việc chăm sócngười bệnh sau phẫu thuật NSMX theo đúng quy trình của Bộ Y tế sau 15ngày phẫu thuật nội soi mũi xoang đạt kết quả tốt là 76,66%
- Trong nghiên cứu của tác giả Vũ Thộ Điểm, về đánh giá công tácchăm sóc người bệnh sau phẫu thuật nội soi u nhú mũi xoang Tác giả nhậnthấy rằng, sự hài lòng của người bệnh trong tuần đầu sau mổ chiếm tỷ lệ94,1% Sự tuân thủ của người bệnh theo quy trình chăm sóc chiếm tỷ lệ cao:
tỷ lệ người bệnh khám lại trong 2 tuần đầu sau mổ là 98%, sau 1 tháng là94,1%, sau 3 tháng là 92,2% và sau 6 tháng là 88,2%
Trang 132 Giải phẫu hốc mũi
2.1 Giải phẫu các xoang:
2.1.1 Giải phẫu xoang hàm
Xoang hàm là một hốc rỗng chiếm nằm trong xương hàm trên, có thểcoi xoang hàm giống hình tháp 3 mặt, 1 đáy và 1 đỉnh [7]
- Các mặt của xoang hàm:
+ Mặt trên: Tương ứng với sàn của ổ mắt Chạy từ sau ra trước
có rãnh và ống dưới ổ mắt Trong ống dưới ổ mắt có dây thần kinh dưới ổ mắtlàm nhiệm vụ chi phối cảm giác cho phần giữa của khuôn mặt [8]
+ Mặt trước: Lõm vào, lõm này tương ứng với hố nanh, ở phần
trên của mặt này gồ lên tạo bởi ống trên ổ mắt, mặt này là mặt phẫu thuậttrong các phẫu thuật xoang kinh điển Đặc biệt là trong phẫu thuật Caldwell -Luc người ta dùng mặt này để tiếp cận vào trong lòng xoang hàm
+ Mặt sau: Là mặt chân bướm hàm liên quan tới hố chân bướm hàm, ở
phía sau mặt này có mạch máu rất quan trọng là động mạch bướm khẩu cáinhánh của động mạch hàm trong làm nhiệm vụ cấp máu chính cho mũi [9]
- Đáy xoang hàm:
Đáy xoang hướng vào bên trong, tương ứng với vị trí của vách mũixoang Đáy xoang chia làm hai phần: phần dưới và phần trên dựa vào chânbám của cuốn dưới [7], [8]
+ Phần dưới: Mỏng được cấu tạo bởiphần chân bám của xương
cuốn dưới và ngăn cách với xương hàm bởi mảnh xương mỏng
+ Phần trên: Có lỗ thông của xoang hàm được che phủ bởi niêm mạc.
Có những phần khuyết niêm mạc gọi là các vùng Fontanell.Lỗ thông xoang hàmđược che bởi mỏm móc Phía trước mỏm móc có ống lệ tị đi từ trên xuống
Trang 14Hình 1.1 Lát cắt đứng dọc (sagittal) sọ mặt
Trang 152.1.2 Giải phẫu các xoang sàng:
Gồm nhiều hốc xương nhỏ nằm trong khối bên xương sàng, bao gồmhai khối xương đối xứng cùng gắn vào một mảnh xương nằm ngang gọi làmảnh sàng Nơi này có nhiều lỗ nhỏ để cho các sợi thần kinh khứu giác xuyênqua Xoang sàng đóng vai trò rất quan trọng trong bệnh lý học và trong phẫuthuật NSMX Không những vì có liên quan mật thiết với các cơ quan quantrọng (ổ mắt, nội sọ) mà còn do cấu trúc phức tạp của nó Các xoang sàngđược ngăn với ổ mắt bằng một vách xương rất mỏng đó là xương giấy Trongphẫu thuật phải hết sức chú ý nếu không sẽ làm tổn thương thành trong ổ mắtqua mảnh xương mỏng này Xoang sàng được chia làm hai nhóm chính: Cácxoang sàng trước và các xoang sàng sau [11]
2.1.3 Giải phẫu xoang bướm:
Là một hốc rỗng nằm trong thân xương bướm, hình hộp kích thướcrất thay đổi
Có hai xoang phải và trái ngăn cách nhau bởi một vách xương mỏng
Lỗ xoang bướm nằm ở mặt trước, cao hơn xoang sàng 10-15 mm, đổ vào hốcmũi qua ngách bướm sàng, nằm giữa đuôi cuốn mũi trên và vách mũi [12] [13]
Hình 1.2: Lát cắt đứng ngang qua thân xương bướm.
2.1.4 Giải phẫu xoang trán:
Trang 16Là một hốc nằm trong xương trán đi từ gốc mũi lên trên và ra ngoài.Mức độ to, nhỏ khác biệt ở từng người và hai xoang trán cũng không nhấtthiết to như nhau.
Xoang trán bắt đầu hình thành khoảng 9-10 tuổi nên trẻ nhỏ không thể
bị viêm xoang Xoang trán thông với mũi qua một ngách nhỏ gọi là “ngáchtrán” Và ngách này cũng dễ bị tắc do viêm,do áp lực như khi lặn sâu, leo núicao… Xoang trán có mối liên quan trực tiếp với màng não và não, thành dướivới thành trên trong của hốc mắt Trong phẫu thuật xoang trán cần rất thậntrọng vì có thể dẫn đến biến chứng chảy nước não tủy qua mũi [14] [15]
Hình 1.3: Lát cắt đứng ngang qua xoang trán
2.2 Giải phẫu vách mũi xoang:
Những hiểu biết về giải phẫu của vách mũi xoang và hệ thống cácxoang liên quan của vùng này sẽ giúp cho việc phẫu thuật nội soi đảm bảo antoàn và hiệu quả
2.2.1 Cuốn mũi:
Thông thường có ba cuốn mũi đi từ dưới lên trên gồm: cuốn mũidưới, cuốn mũi giữa, cuốn mũi trên, đôi khi có cuốn mũi thứ tư gọi là cuốnmũi trên cùng
Trang 17- Cuốn mũi dưới là một xương độc lập Đây là cuốn mũi dài nhất nhưngchiều cao thì lại thấp hơn cuốn mũi giữa [14] [16]
- Cuốn mũi giữa có 3 đoạn nằm theo 3 bình diện khác nhau gồm: phầnđứng, mảnh nền và đuôi cuốn giữa
- Cuốn mũi giữa và cuốn mũi trên là một phần của xương sàng Cuốnmũi trên có kích thước nhỏ và là mốc để tìm lỗ thông xoang bướm trongphẫu thuật
2.2.2 Các khe trên vách mũi xoang:
Niêm mạc mũi xoang che phủ lên mặt ngoài của các xương cuốn mũi
Và sau khi được phủ bởi lớp niêm mạc thì các khe rãnh trên vách mũi xoangmới hình thành và liên quan với nhau Có 3 khe trên vách mũi xoang là khetrên, khe giữa và khe dưới Khe dưới nằm giữa vách mũi xoang và cuốn dưới.Khe giữa nằm giữa cuốn dưới và cuốn giữa Khe trên nằm giữa cuốn mũi trên
và cuốn giữa Khe bướm sàng là nơi đổ vào của lỗ thông xoang bướm [12]
2.2.5 Phễu sàng:
Là một khe có ba mặt liên quan nằm trên vách mũi xoang và liên quanmật thiết với nhóm sàng trước Thành trong của phễu sàng là toàn bộ mỏm
Trang 18móc và niêm mạc che phủ Thành ngoài là xương giấy và có sự tham gia củamỏm trán của xương hàm trên
2.2.6 Phức hợp 1ỗ ngách (PHLN):
Về mặt giải phẫu PHLN giới hạn bởi các xoang sàng trước, cuốn mũigiữa và mỏm móc, gồm chủ yếu là ngách trán sàng và lỗ bán nguyệt, có lỗ đổvào của các xoang hàm, xoang trán và xoang sàng trước Đây có thể coi làvùng ngã tư thông thương của các xoang và hốc mũi Bất kỳ cản trở nào ởvùng này đều có thể gây tắc nghẽn sự dẫn lưu và dẫn đến viêm xoang Đây làvùng giải phẫu đóng vai trò rất quan trọng trong cơ chế sinh bệnh viêm xoang
và trong nguyên lý của phẫu thuật nội soi chức năng mũi xoang [19]
- Động mạch sàng sau (nhánh của động mạch mặt) và động mạch bướmkhẩu cái (nhánh của động mạch hàm trong): ít tổn thương trong phẫu thuật
- Tĩnh mạch: đổ vào tĩnh mạch hàm trong, tĩnh mạch mặt và tĩnh mạch mắt
- Thần kinh: thần kinh giác quan là dây khứu giác, thần kinh cảm giác
là dây mắt và bướm khẩu cái
Trang 19Hình 1.4: Hệ thống cấp máu của mũi.
3 Chức năng sinh lý của mũi xoang:
Toàn bộ hốc mũi xoang được bao phủ bởi niêm mạc đường hô hấp trên
là lớp niêm mạc với tế bào trụ có lông chuyển, tiếp đó là tế bào hình đài tiếtnhầy và các tế bào đáy Các tế bào trụ có lông chuyển chứa khoảng 100-200lông chuyển động liên tục từ trước ra sau, gồm hai pha chủ động và một phanghỉ Quan sát của Messerklinger cho thấy sự chuyển động này tạo nên nhữnglàn sóng chuyển dần thảm nhầy trên bề mặt từ trước ra sau (ở hốc mũi) và từtrong lòng xoang về phía lỗ thông các xoang [23] [24]
3.1 Sự thông khí:
Sự thông khí bình thường của xoang liên quan đến hai yếu tố:
- Kích thước của lỗ thông xoang
- Đường dẫn lưu từ lỗ thông xoang vào hốc mũi
3.2 Sư dẫn lưu bình thường của xoang:
Sự dẫn lưu bình thường của xoàng nhờ sự phối hợp của 2 chứcnăng: Tiết dịch và vận chuyển của tế bào lông Sự dẫn lưu bình thường củaniêm dịch ở trong xoang lại phụ thuộc vào số lượng và thành phần của dịchtiết, vào hoạt động của lông chuyển, vào độ quánh của dịch tiết và tình trạngcủa lỗ thông xoang [25]
Trang 203.3 Vận chuyển niêm dịch ở trong xoang hàm:
- Trong xoang hàm, sự vận chuyển của dịch tiết bắt đầu từ đáy xoangrồi lan ra xung quanh lên các thành xoang theo kiểu hình sao Niêm dịch vậnchuyển dọc theo thành trước, trong, sau, thành ngoài để đi lên phía trên, dọc theotrần của xoang, từ đây các dịch tiết tập trung về lỗ thông của xoang hàm
- Thông thường lỗ thông tự nhiên của xoang hàm mở vào 1/3 sau củađáy phễu sàng Niêm dịch ở trong xoang hàm vận chuyển dọc theo phễu sàng
để đi qua rãnh bán nguyệt, sau đó vượt qua mặt trong cuốn giữa ở phần sau để
đổ vào hốc mũi Các tế bào sàng nằm ở phía trước dưới chân bám của cuốngiữa sẽ đổ các dịch tiết vào vùng phễu sàng (thuộc khe giữa)
3.4 Sự vận chuyển của niêm dịch trong xoang sàng:
Nếu những tế bào sàng có lỗ thông nằm ở đáy thì các niêm dịch sẽ vậnchuyển theo đường thẳng xuống lỗ thông xoang Còn xoang sàng có lỗ thongcao nằm trên thành của xoang thì vận chuyển niêm dịch sẽ đi xuống vùng đáyrồi đi lên đổ vào lỗ thông của xoang Các tế bào sàng nằm ở phía trước dướichân bám cuốn giữa sẽ đổ các dịch tiết vào vùng phễu sàng thuộc khe giữa.Tất cả các tế bào sàng nằm ở phía sau và trên chân bám cuốn giữa thì đổ dịchtiết vào ngách bướm sàng [25], [26]
3.5 Sự vận chuyển niêm dịch trên vách mũi xoang:
- Thứ nhất các dịch tiết từ xoang hàm xoang trán và phức hợp sàngtrước tập trung lại ở phễu sàng hoặc ngay cạnh phễu sàng Từ vùng này dịchtiết vượt qua phần sau mỏm móc rồi đi dọc theo mặt trong cuốn dưới để đếnvùng mũi họng Từ vùng mũi họng dịch tiết vượt qua phần trước và dưới củaloa vòi
- Thứ hai là dịch tiết từ xoang sàng sau và xoang bướm đổ ra rồi hội
tụ lại ở ngách sàng bướm Từ đây dịch tiết được vận chuyển đến phần sau vàtrên của họng mũi hồi đi đến loa vòi
Trang 213.6 Bệnh học của viêm mũi xoang:
3.6.1 Nguyên nhân của viêm mũi xoang.
- Bệnh viêm xoang là một trong những căn bệnh mãn tính phổ biến vàrất dễ phát sinh bệnh đặc biệt là trong điều kiện môi trường sinh hoạt hiệnnay Nguyên nhân gây ra bệnh viêm mũi xoang thì nhiều, nhưng có thể kháiquát một số nguyên nhân như sau:
- Mọi lý do cản trở luồng không khí vào và ra, cũng như dẫn lưu chấttiết ra khỏi xoang đều khiến chất dịch thoát không kịp Khiến cho lỗ thôngxoang ngày càng bị bít tắc thêm Sự ứ đọng chất nhầy trong lòng xoang làmôi trường thuận lợi để vi khuẩn, cũng như một số loại nấm phát triểntrong các xoang
- Do cơ địa dị ứng một chất nào đó, làm cho niêm mạc mũi phù nề, gâybít tắc lỗ thông xoang và nhiễm trùng
- Do sức đề kháng kém, cơ thể không đủ sức đề kháng chống lại
vi khuẩn, suy giảm miễn dịch, suy yếu niêm mạc đường hô hấp, rối loạn hệthần kinh thực vật
- Do tuyến nhầy của viêm mạc xoang hoạt động quá nhiều
- Do hệ thống lông chuyển, có chức năng vận chuyển các chấtnhầy trong xoang ra ngoài hoạt động kém
- Do viêm mũi sau nhiễm virus (cúm, sởi…), bị bội nhiễm, viêm mũi dịứng kéo dài hoặc do tình trạng vẹo vách ngăn Có trường hợp viêm xoang làhậu quả của sâu răng, nhiễm trùng răng hàm trên
- Sau chấn thương có tổn thương niêm mạc xoang Trên đây là một sốnguyên nhân chính có thể dẫn đến bệnh Viêm xoang, chúng ta biết được cácnguyên nhân này để biêt cách phòng tránh bệnh một cách hiệu quả
Trang 22+ Xoang trán: nhức giữa 2 lông mày
+ Xoang sàng trước: nhức giữa 2 mắt
+ Xoang sàng sau, xoang bướm: nhức trong sâu, nhức vùng gáy
3.6.2.2 Chảy dịch mũi mủ:
Viêm xoang thường gây ra hiện tượng xuất tiết, tùy thuộc vào vị tríxoang bị viêm mà dịch nhầy có thể chảy ra phía mũi hoặc xuống họng Viêmcác xoang trước thì dịch chảy ra mũi trước Viêm các xoang sau thì dịch chảyvào họng Triệu chứng chảy dịch làm cho người bệnh có cảm giác luôn phảikhịt khạc mũi hoặc cảm giác lờ đờ ở cổ họng luôn muốn khạc nhổ Tùy theomức độ bệnh nặng hay nhẹ, bệnh mới bị hay bị lâu năm, dịch nhầy sẽ có màutrắng đục, màu vàng nhạt hoặc màu xanh, có mùi hôi, khẳn
3.6.2.3 Nghẹt mũi:
Khiến người bệnh khó chịu không thể thở qua mũi được và phải thởqua miệng Có trường hợp nghẹt 1 bên, có trường hợp nghẹt cả 2 bên
3.6.2.4 Mất ngửi ở mũi:
Người bệnh không ngửi thấy mùi Thường là do niêm mạc mũi phù nề,
và xuất tiết nhiều khiến cho các phân tử mùi không thể đến được với cácreceptor cảm giác
Lưu ý: Cần phân biệt với các triệu chứng của bệnh viêm mũi dị ứng.
Bệnh viêm mũi dị ứng thường gây ra các triệu chứng: Ngứa mũi, hắt hơi liêntục thành tràng dài vào buổi sáng hoặc khoảng 10h tối, thường có chảy dịchmũi trong suốt không màu và nghẹt mũi
Trang 234 Nguyên lý của phẫu thuật nôi soi chức năng mũi xoang (FESS):
Dựa vào những hiểu biết về giải phẫu sinh lý của hệ thống mũi xoang
và cơ chế sinh bệnh của viêm xoang các tác giả đã xác định nguyên lý củaphẫu thuật Nội soi mũi xoang Đó là tạo nên một trạng thái giải phẫu chophép các xoang trán, sàng, hàm tự dẫn lưu qua vùng phức hợp lỗ ngách, nhằmphục hồi hoạt động thanh thải của hệ thống lông nhầy, đưa hệ niêm mạc mũixoang trở lại trạng thái sinh lý binh thường Phẫu thuật được tiến hành từtrước ra sau:
+ Phẫu thuật cắt mỏm móc
+ Mở lỗ thông xoang hàm qua khe giữa
+ Phẫu thuật nạo sàng: phẫu thuật mở sàng trước hay còn gọi là kỹthuật mở bóng sàng Phẫu thuật mở sàng sau hay là phẫu thuật xuyên mảnhđáy [27]
Hình 1.5: Minh họa kỹ thuật mở mỏm móc trong phẫu thuật nội soi
Trang 24- Viêm xoang mạn tính và viêm xoang tái phát
- Polyp mũi
- Bệnh lí vách ngăn
- Bít tắc lỗ thông mũi xoang sau phẫu thuật xoang hàm kinh điển
- Điều trị kết hợp trong viêm mũi dị ứng
- Ngạt mũi do quá phát cuốn
4.2 Chống chỉ định:
- Viêm xoang cấp lan vào ổ mắt hoặc gây nên những biến chứngnão, màng não
- Viêm xương hoặc cất tuỷ viêm xương trán do viêm xoang cấp tính
- Xơ dính do viêm nhiễm có lan vào xương ở vùng lỗ thông xoang trán
- Tiếp theo mở rộng lỗ thông xoang hàm về phía trước và xuốngdưới, đồng thời với mở bóng sàng và xoang sàng trước dẫn lưu, áp dụng cáctrường hợp chỉ có viêm xoang trước
- Nếu các xoang sàng sau bị viêm thì cần phải thực hiện kỹthuật Messerklinger đầy đủ: mở xoang sàng sau sạch để dẫn lưu
4.4 Các phẫu thuật:
4.4.1 Mở khe giữa:
Mở rộng lỗ thông xoang hàm qua ngách giữa bàn cách lấy bỏ một phầnmỏm móc, tạo đường dẫn lưu rộng rãi Mở khe giữa được coi là phẫu thuật
Trang 25NSMX xâm lấn tối thiểu, chỉ định cho viêm xoang hàm mạn tính một bên,polyp xoang hàm, polyp Killian [28].
4.4.2 Mở sàng trước:
Mở khe giữa, lấy toàn bộ mỏm móc Mở rộng dẫn lưu tế bào sàng trước
và bóng sàng Nạo tế bào Agger Na si tạo đường dẫn lưu cho xoang trán
4.4.3 Mở xoang sàng toàn bộ:
Kỹ thuật lấy polyp mũi bằng pince Blakesley hoặc Hummer, giải phóngvùng PHLN Mở sàng trước qua bóng sàng Mở xuyên qua rễ vách ngăn củacuốn giữa vào sàng sau, lấy sạch polyp mở rộng đường dẫn lưu vào hốc mũi
4.4.4 Mở sàng bướm toàn phần:
Còn gọi là phương pháp phẫu thuật của Wigand [29] hay phương pháp
mổ từ sau ra trước Phương pháp này chỉ thích hợp với viêm mũi xoang nặng.Theo phương pháp này cuốn mũi giữa được cắt bỏ một phần để dễ dàng vàotrong những tế bào sàng sau và xoang bướm Việc nạo sàng từ đây được tiếndần ra trước và mở rộng ngách trán Cuối cùng lỗ thông tự nhiên của xoanghàm được mở rộng cho tới khi có đường kính từ 0,5 – 1cm
4.5 Tai biến và biến chứng sau phẫu thuật nội soi mũi xoang.
4.5.1 Chảy máu:
Thường do tổn thương các động mạch lớn, đặc biệt là động mạch sàngtrước, sàng sau hoặc bướm - khẩu cái Hay gặp ở những người bệnh có tiền sửphẫu thuật mũi xoang hoặc cắt polyp nhiều lần Đây là biến chứng khá nguyhiểm Động mạch sàng trước khi bị đứt sẽ co vào trong xương làm cho việccầm máu khó thực hiện đôi khi phải mở từ ngoài vào hốc trong mắt đểđông điện hoặc kẹp mạch Nhiều tác giả khuyên khi xuất hiện biến chúngchảy máu nhiều thì tốt nhất nên nhét bấc và xử lí chảy máu chứ không nêntiếp tục phẫu thuật
Trang 264.5.2 Dò dịch não tuỷ:
Cũng hay gặp ở người bệnh có tiền sử phẫu thuật mũi xoang Chỗ
dò thường ở trên lỗ thông xoang bướm, ở mảnh thủng xương sàng hoặc ở trầnsàng Khi đã xảy ra biến chứng, phải phát hiện sớm không được bỏ qua nếu
lỗ dò nhỏ có thể dùng cân cơ thái dương, niêm mạc cuốn giữa hoặc tổ chức
mỡ bịt lấp lại [30]
Để phòng tai biến này, trong khi mổ cần chú ý thao tác ở phía ngoàicuốn giữa (vì chân cuốn giữa được coi là mốc giải phẫu cực kỳ quan trọng) vàkhông nên đi quá cao về phía mái sàng để tránh làm tổn thương mảnh thủngxương sàng
4.5.3 Giảm thị lực:
Có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn do chèn ép kéo dài hoặc tổnthương trực tiếp đến dây thần kinh thị giác Giảm thị lực tạm thời do phù nề ổmắt hoặc mù hoàn toàn do đút dây thần kinh thị giác
Ngoài ra cũng có một số tai biến khác rất hiếm gặp nhưng cũng đãđược báo cáo như: xuất huyết nội sọ, tổn thương hố não trước, tràn khí não,áp-xe não
số phẫu thuật viên cho rằng không nhất thiết phải đặt vật liệu cầm máu vàotrong mũi khi không có nguy cơ chảy máu
Trang 27- Làm thuốc sau mổ rất quan trọng trong quá trình điều trị, sự thànhcông của phẫu thuật phụ thuộc rất nhiều vào săn sóc của điều dưỡng Cóthể tiến hành lấy hết máu đọng và dịch tiết ở khe mũi nhằm ngăn chặn việcchất xuất tiết và máu đông có thể gây xơ dính sau mổ, và rửa xoang mũicho người bệnh
- Hướng dẫn cho người bệnh tự rửa mũi bằng nước muối sinh lý
- Sau ngày thứ ba có thể dùng nội soi để kiểm tra Nếu thấy vùng nào
đó nghi ngờ chảy máu thi nên đặt một miếng gelaspon hoặc Merocell vào hốcmũi bên chảy máu
4.5.6 Điều trị sau mổ:
- Cho kháng sinh toàn thân từ 5-7 ngày
- Cho thuốc giảm đau chống phù nề
- Cho các thuốc xịt tại chỗ
- Đối với người bệnh có vảy khô dày đặc trong hốc mũi, cần nhỏdung dịch dầu làm mềm vảy ra để dễ lấy và hạn chế chảy máu
5 Chăm xóc người bệnh sau phẫu thuật mũi xoang
5.1 Vai trò của việc chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật mũi xoang:
Bệnh viêm xoang là một trong những căn bệnh măn tính phổ biến
và rất dễ tái phát bệnh đặc biệt là trong điều kiện môi trường sinh hoạt hiệnnay
Phẫu thuật mũi xoang nhằm lấy hết bệnh tích, làm thông thoáng, tạođường dẫn lưu dịch nhày từ trong xoang ra mũi rồi xuống họng hoặc rangoài.Phẫu thuật mũi xoang có tỷ lệ tái phát rất cao liên quan đến rất nhiềuyếu tố Trong đó, sự chăm sóc sau phẫu thuật chiếm 30-50% sự thành côngcủa phẫu thuật Chính vì điều đó mà vai trò của người điều dưỡng trong côngtác chăm sóc sau mổ đóng một vai trò vô cùng quan trọng
Trang 29940/2002/QĐ – BYT ngày 22/3/2002: “Hướng dẫn quy trình chăm sóc ngườibệnh” tập I là tài liệu hướng dẫn về thực hành chuyên môn kỹ thuật chăm sócngười bệnh được áp dụng cho tất cả các cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước,
tư nhân và các cơ sở khám chữa bệnh có vốn đầu tư của nước ngoài [31]
5.2.1 Chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật nội soi mũi xoang:
Ngay sau khi đón người từ phòng mổ ra khoa mũi xoang : đặt ngườibệnh ở tư thế thoải mái nhất đầu thấp nghiêng sang 1 bên theo dõi:
- Ngay khi đón người bệnh về khoa, theo dõi và đo ngay các dấu hiệusinh tồn như mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở
- Phát hiện các biến chứng do gây mê như nôn, buồn nôn, chóng mặt,rối loạn tiêu hóa, tình trạng bí tiểu, bàng quang căng
- Phát hiện các biến chứng do phẫu thuật xoang: biến chứng chảy máu,biến chứng mắt, biến chứng thần kinh – nội sọ
- Đặc biệt trong 24h đầu, cần theo dõi “biến chứng chảy máu”: bằngcách hướng dẫn người bệnh nhằn nước bọt ra miệng để theo dõi chảy máu.Việc theo dõi này cần được tiến hành 30 phút/1 lần trong 3h đầu tiên
- Người bệnh được nhét meche mũi trước 2 bên, có thấm ra ít dịchhồng, meche căng chặt khiến người bệnh căng tức nhẹ Nếu meche thấm vàchảy ra nhiều máu đỏ tươi phải báo bác sĩ kiểm tra và xử trí
- Người bệnh nằm nghiêng, nhè nước bọt thấy nước bọt trong, không
có máu Phẫu thuật nội soi xoang là phẫu thuật có vết mổ trong hô hấp trênnên sự theo dõi tình trạng chảy máu vừa trực tiếp qua meche mũi và gián tiếpqua tình trạng nước bọt [31]
- Người bệnh không được nuốt nước bọt, nhè nhẹ nhàng ra khay quảđậu, điều dưỡng chủ động 15-30 phút/lần qua kiểm tra (Người bệnh sau mổ
Trang 30thường chưa tỉnh hoàn toàn, Người bệnh thường có phản xạ nuốt những gì cótrong họng, rất nguy hiểm nếu chảy máu nhiều vì không theo dõi và khôngbiết được số lượng máu mất Khi nuốt nhiều quá, người bệnh thường sẽ cóphản xạ kích thích của đường tiêu hóa là nôn ra máu, và khi đó người bệnh sẽrất có thể lâm vào tình trạng shock) [32]
- Vai trò của người điều dưỡng ngoài kiểm tra tình trạng nước bọt, nếungười bệnh nuốt ta có thể đánh giá gián tiếp qua mạch và huyết áp Cần phảitheo sõi sát mạch và huyết áp, đó là 2 chỉ số thay đổi nếu có tình trạng mấtmáu nhiều (mạch nhanh, huyết áp tụt) [26]
- Người bệnh không tự ý tháo, rút, bỏ Meche trong mũi
- Người bệnh không tự nút bông, giấy thấm nhét vào mũi vì dễ gâynhiễm khuẩn, chảy máu thêm
- Theo dõi mức độ đau của người bệnh để kịp thời báo lại với bác sĩnhằm có biện pháp giảm đau phù hợp
5.2.2 Hậu phẫu ngày thứ nhất sau mổ:
Công tác chăm sóc:
- Theo dõi các biến chứng giống như ngay sau phẫu thuật đặc biệt làbiến chứng chảy máu
- Hỗ trợ bác sĩ trong công tác rút meche mũi cho người bệnh:
- Người bệnh được yêu cầu nhỏ nhiều nước vào hai bên mũi trước khitiến hành thủ thuật rút Meche
- Chuẩn bị các dụng cụ gồm có: bơm tiêm 5ml và nước muối sinh lý,
mở mũi (speculum), pince, kẹp khuỷu, đoạn Meche tẩm Naphazolin, củ ấu, đèlưỡi, …
- Chuẩn bị tư thế người bệnh: người bệnh được đặt nằm thẳng trêngiường, đầu hơi cúi, gập cằm về phía ngực[33] Người bệnh được hướng dẫn
Trang 31không nuốt nước bọt mà đùn nước bọt qua miệng trong suốt quá trình rútmeche Động viên người bệnh phối hợp trong quá trình thực hiện thủ thuật.
- Tiến hành bơm nước muối qua meche để làm ẩm meche tránh gây xâyxước, chảy máu trong quá trình rút
- Tiến hành rút Meche chậm, nhẹ tay và vừa rút meche vừa quan sátngười bệnh cũng như bảo người bệnh đùn nước bọt qua miệng
- Sau khi rút Meche đánh giá khả năng chảy máu bằng đè lưỡi xem cómáu chảy xuống qua thành sau họng hay không Nếu có chảy máu, có thể đặtlại Meche tẩm Naphazoline theo chỉ định của bác sĩ hoặc tiêm thuốc cầmmáu
- Hút sạch máu đọng
- Đặt người bệnh ở tư thế nghỉ và theo dõi người bệnh trong 30 phút
- Phối hợp cùng người nhà đặt người bệnh ngồi dạy từ từ và trở vềphòng bệnh
- Dặn dò người nhà tiếp tục theo dõi khả năng chảy máu và nằm nghỉyên tĩnh tại giường, không vận động mạnh
- Sau rút bấc nhỏ mũi bằng Naphtazoline 1% 3 đến 6 giờ/lần [34]
5.2.3 Hậu phẫu ngày thứ hai sau mổ:
Công tác chăm sóc:
Tùy từng trường hợp người bệnh, điều kiện sức khỏe, những diễn biếntrong phẫu thuật mà có thể tiến hành rút Merocell theo chỉ định của bác sĩ.Thông thường Merocell có thể được lưu lại trong hốc mũi từ 3 - 5 ngày Tối
đa là 7 ngày Các bước tiến hành rút Merocell:
- Người bệnh được yêu cầu nhỏ nhiều nước vào hai bên mũi trước khitiến hành thủ thuật rút Merocell
Trang 32- Chuẩn bị các dụng cụ gồm có: bơm tiêm 5ml và nước muối sinh lý,
mở mũi (speculum), pince, kẹp khuỷu, đoạn Meche tẩm Naphazolin, củ ấu, đèlưỡi, merocell dự phòng trong trường hợp chảy máu có thể đặt lại, …
- Chuẩn bị tư thế người bệnh: người bệnh được đặt nằm thẳng trêngiường, đầu hơi cúi, gập cằm về phía ngực Người bệnh được hướng dẫnkhông nuốt nước bọt mà đùn nước bọt qua miệng trong suốt quá trình rútmerocell Động viên người bệnh phối hợp trong quá trình thực hiện thủ thuật.Thông báo trước với người bệnh sự khó chịu cũng như nguy cơ chảy máu cóthể phải đặt lại Merocell
- Tiến hành bơm nước muối qua Merocell để làm ẩm Merocell tránhgây xây xước, chảy máu trong quá trình rút [35]
- Tiến hành rút Merocell chậm, nhẹ tay và vừa rút Merocell vừa quansát người bệnh cũng như bảo người bệnh đùn nước bọt qua miệng theo dõi sựchảy máu
- Sau khi rút Merocell đánh giá khả năng chảy máu ở của mũi trướchoặc chảy máu ở cửa mũi sau bằng đè lưỡi xem có máu chảy xuống qua thànhsau họng hay không Nếu có chảy máu, có thể đặt lại Meche tẩm Naphazolinehoặc Merocell theo chỉ định của bác sĩ hoặc tiêm thuốc cầm máu
- Hút sạch máu đọng ở thành sau họng
- Đặt người bệnh ở tư thế nghỉ và theo dõi người bệnh trong 30 phút
- Phối hợp cùng người nhà đặt người bệnh ngồi dạy từ từ và trở vềphòng bệnh
- Dặn dò người nhà tiếp tục theo dõi khả năng chảy máu và nằm nghỉyên tĩnh tại giường, không vận động mạnh
- Sau khi người bệnh đã rút hết Merocell và không có biến chứng gì,hướng dẫn cho người nhà vệ sinh mũi bằng bình rửa mũi để làm sạch máuđọng cũng như tổ chức vảy ở trong hốc mũi
Trang 335.2.4 Hậu phẫu ngày thứ ba cho đến khi ra viện:
Công tác chăm sóc:
- Hướng dẫn người bệnh tự rửa mũi bằng bình rửa hàng ngày 3 – 5 lần.Đảm bảo cho hốc mũi luôn ẩm tạo điều kiện cho sự liền niêm mạc, đồng thờilàm sạch máu đọng và các tổ chức vảy [36]
- Hỗ trợ bác sĩ khám kiểm tra hốc mũi người bệnh xem còn Meche hay
di vật không? Lấy dị vật hoặc vảy máu đọng qua nội soi
a) Thực hiện rửa mũi xoang cho người bệnh:
- Giải thích người bệnh tiến trình làm để họ cùng cộng tác
- Người bệnh cầm khay quả đậu hứng dưới cằm
- Để người bệnh nghiêng đầu, bịt lỗ mũi bên kia bằng ngón tay
- Dùng bơm tiêm bơm 10 – 20ml dung dịch đẳng trương NaCl 0.9%vào hốc mũi bên mổ
- Người bệnh cúi đầu, thở mạnh cho nước trong hốc mũi ra hết
- Làm như trên liên tục 3 lần, ngày rửa 3 đến 5 lần
b) Hướng dẫn người bệnh khí dung mũi bằng cortiphenicol sau mổtrong thời gian 5 phút
- Thực hiện khí dung ngày 1 – 2 lần
- Mỗi lần 2-3 ml dung dịch kháng sinh + corticoid
- Penicillin 50 – 100000 đơn vị + hydrocortison 0,025mg
- Quá trình chăm sóc này được lặp lại cho đến khi người bệnh ra viện.Thông thường là sau khoảng 7 ngày kể từ ngày phẫu thuật
5.2.5 Chăm sóc với tình trạng đau nhiều sau mổ:
- Niêm mạc mũi xoang có rất nhiều thụ cảm thần kinh, và sau mổ ngườibệnh phải nhét meche cả 2 bên mũi, sẽ gây nên tình trạng chèn ép, căng tứcxung quanh nên người bệnh sau mổ xoang đau rất nhiều Người bệnh đau tứcnặng mặt, bốc lên mắt, lan lên đỉnh đầu [37]