1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát mức độ LO âu và một số yếu tố LIÊN QUAN của NGƯỜI BỆNH TRƯỚC PHẪU THUẬT dạ dày tại BỆNH VIỆN hữu NGHỊ VIỆT đức

71 1,5K 51

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 613,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

---***---NGUYỄN THỊ THƯ KHẢO SÁT MỨC ĐỘ LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH TRƯỚC PHẪU THUẬT DẠ DÀY TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG HÀ

Trang 1

-*** -NGUYỄN THỊ THƯ

KHẢO SÁT MỨC ĐỘ LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH TRƯỚC PHẪU THUẬT

DẠ DÀY TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

-*** -NGUYỄN THỊ THƯ

KHẢO SÁT MỨC ĐỘ LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH TRƯỚC PHẪU THUẬT

DẠ DÀY TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

Chuyên ngành : Điều dưỡng

Trang 3

APAIS : The Amsterdam Preoperative Anxiety and Information Scale

BVHNVĐ : BV Hữu nghị Việt Đức

HADS-A : Hospital Anxiety and Depression Scale-Anxiety

HAM-A : Hamilton Anxiety Rating Scale

MDSS : Multi-Dimensional Support Scale

NCV : Nghiên cứu viên

STAI : The State-Trait Anxiety Inventory

VAS-A : Visual Analog Scale for Anxiety

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Lo âu 3

Trang 4

1.1.3 Đặc điểm lâm sàng lo âu 4

1.1.4 Rối loạn lo âu 5

1.1.5 Các thang đo về tình trạng lo âu trước phẫu thuật 5

1.2 Phẫu thuật dạ dày 7

1.2.1 Chỉ định Phẫu thuật dạ dày 7

1.2.2 Phương pháp phẫu thuật dạ dày 8

1.3 Tâm lý và tình trạng lo âu trước phẫu thuật của người bệnh 8

1.3.1 Trạng thái tâm lý chung người bệnh 8

1.3.2 Đặc điểm tâm lý của người bệnh trước phẫu thuật dạ dày 8

1.3.3 Lo âu trước phẫu thuật 9

1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng lo âu của người bệnh trước phẫu thuật 9

1.3.5 Các vấn đề lo âu của người bệnh trước phẫu thuật 11

1.4 Thực trạng chăm sóc người bệnh trước phẫu thuật dạ dày tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 11

1.5 Tình hình nghiên cứu về sự lo âu của người bệnh trước phẫu thuật dạ dày 12

1.5.1 Trên thế giới 12

1.5.2 Tại Việt Nam 14

1.6 Học thuyết sự thoải mái của Katharine Kolcaba và sự ứng dụng trong nghiên cứu 14

1.6.1 Học thuyết sự thoải mái của Katharine Kolcaba 14

1.6.2 Phát triển học thuyết 16

1.6.3 Ứng dụng học thuyết trong nghiên cứu 16

1.6.4 Khung lý thuyết nghiên cứu các yếu tố liên quan đến lo âu ở người bệnh trước phẫu thuật dạ dày 17

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18

Trang 5

2.2 Đối tượng nghiên cứu 18

2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn: 18

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ: 18

2.3 Phương pháp nghiên cứu 18

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: 18

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 18

2.4 Công cụ nghiên cứu 19

2.4.1 Cấu trúc bộ công cụ 19

2.4.2 Tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ 20

2.4.3 Biến số nghiên cứu và tiêu chí đánh giá 20

2.5 Kỹ thuật thu thập số liệu 25

2.5.1 Thời điểm thu thập số liệu 25

2.5.2 Cách thức thu thập dữ liệu 25

2.5.3 Quy trình thu thập số liệu 26

2.6 Xử lý và phân tích số liệu 26

2.6.1 Xử lý sô liệu 26

2.6.2 Phân tích dữ liệu 26

2.7 Sai số và biện pháp khắc phục sai số trong nghiên cứu 27

2.7.1 Sai số trong nghiên cứu 27

2.7.2 Biện pháp khắc phục sai số 27

2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 27

CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 29

3.1.1 Đặc điểm chung của NB 29

3.1.2 Đặc điểm về bệnh của người bệnh trước phẫu thuật 31

3.2 Tình trạng lo âu của người bệnh trước phẫu thuật 32

Trang 6

3.5.2 Mối liên quan giữa lo âu trước phẫu thuật dạ dày và đặc điểm bệnh của

người bệnh 34

3.5.3 Mối tương quan giữa lo âu trước phẫu thuật với sự hỗ trợ xã hội (sự hỗ trợ của gia đình/bạn bè và sự hỗ trợ của nhân viên y tế) 36

3.5.4 Mối tương quan giữa lo âu trước phẫu thuật dạ dày với sự nhận thức về bệnh của người bệnh 37

CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 38

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 38

4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học 38

4.1.2 Đặc điểm về bệnh của đối tượng nghiên cứu 38

4.2 Tình trạng lo âu và các vấn đề lo âu của người bệnh trước phẫu thuật dạ dày 38

4.2.1 Tình trạng lo âu của người bệnh trước phẫu thuật dạ dày 38

4.2.2 Các vấn đề lo âu của người bệnh trước phẫu thuật dạ dày 38

4.3 Các yếu tố liên quan đến sự lo âu của người bệnh trước phẫu thuật dạ dày 38

4.3.1 Mối liên quan giữa sự lo âu của người bệnh trước phẫu thuật dạ dày với các đặc điểm chung của người bệnh 38

4.3.2 Mối liên quan giữa sự lo âu của người bệnh trước phẫu thuật dạ dày với các đặc điểm bệnh của người bệnh 38

4.3.3 Mối liên quan giữa sự lo âu của người bệnh trước phẫu thuật dạ dày với sự hỗ trợ từ gia đình và nhân viên y tế 38

4.3.4 Mối liên quan giữa sự lo âu của người bệnh trước phẫu thuật dạ dày với sự nhận thức về bệnh của người bệnh 38

4.4 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 38

4.4.1 Ưu điểm 38

4.4.2 Hạn chế 38

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 39

Trang 7

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu 21

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của NB 29

Bảng 3.2 Đặc điểm về bệnh của người bệnh trước phẫu thuật 31

Bảng 3.3 Các vấn đề lo âu của người bệnh trước phẫu thuật 32

Bảng 3.4 Mức độ nhận thức bệnh và sự hỗ trợ xã hội 33

Bảng 3.5 So sánh điểm trung bình lo âu trước phãu thuật dạ dày của nhóm chẩn đoán bệnh ung thư và không ung thư 34

Bảng 3.6 So sánh điểm trung bình lo âu trước phẫu thuật dạ dày của phương pháp phẫu thuật nội soi và phẫu thuật mở 34

Bảng 3.7 So sánh điểm trung bình lo âu trước phẫu thuật của nhóm người bệnh có và không có bệnh mãn tính kèm theo 35

Bảng 3.8 So sánh điểm trung bình lo âu của các nhóm có phẫu thuật trước 35

Bảng 3.9 Mối tương quan giữa lo âu trước phẫu thuật dạ dày và thời gian chờ phẫu thuật 35

Bảng 3.10 So sánh điểm trung bình lo âu trước phẫu thuật của các nhóm người bệnh điều trị tại các khoa 36

Bảng 3.11 Mối tương quan giữa lo âu trước phẫu thuật và sự hỗ trợ xã hội 36

Bảng 3.12 Mối tương quan giữa lo âu trước phẫu thuật và sự nhận thức về bệnh của người bệnh 37

Trang 9

Biểu đồ 3.1 Phân loại lo âu của người bệnh trước phẫu thuật 32Biểu đồ 3.2 Trung bình mức độ nhận thức của người bệnh theo từng nội dung 33

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.2: Các yếu tố liên quan đến lo âu NB trước PT dạ dày 17

Sơ đồ 2.1: Quy trình thu thập số liệu 26

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhập viện là sự kiện tiêu cực trong cuộc sống dẫn đến sự lo âu ở người bệnh,đặc biệt ở những người bệnh nhập viện chờ phẫu thuật [1],[2], nếu không được pháthiện, sự lo âu kéo dài sẽ tạo ra căng thẳng, sau đó có thể gây hại và ảnh hưởng đến

sự phục hồi sau phẫu thuật của người bệnh [3],[4]

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng lo âu trước phẫu thuật sẽ gây ra nhiều ảnhhưởng xấu như tăng đau, buồn nôn và nôn trong giai đoạn hậu phẫu, tăng nguy cơnhiễm trùng, kéo dài thời gian phục hồi của người bệnh [5],[6] Những tác động tiêucực này có thể làm tăng chi phí điều trị và có thể trở thành gánh nặng kinh tế củangười bệnh và gia đình của họ [7]

Xác định tình trạng lo âu của người bệnh trước phẫu thuật đã được thực hiệnnhiều nghiên cứu trong nước và trên thế giới Theo Jlala (2010) [8], lo âu trướcphẫu thuật được tìm thấy với tỉ lệ lên đến 80% Tại Anh Quốc, 82% NB có lo âutrước phẫu thuật [9] Theo Seifu Nigussie, tại bệnh viện đại học Jimma, Tây NamEthiopia, 70,3% nguời bệnh có lo âu trước phẫu thuật [1] Theo Rosiek và cộng sự(2016) [10], 55% người bệnh lo âu trước phẫu thuật mức độ trung bình tại Ba Lan.Tại Việt Nam, một báo cáo ở Thái Nguyên có đến 100% người bệnh có lo âu trướcphẫu thuật vùng bụng, trong đó 75% lo âu mức độ trung bình [11], tại Phú Thọ tỉ lệnày là 98,9% và 50% người bệnh lo âu mức độ trung bình [12]

Lo âu trước phẫu thuật là một khái niệm đầy thách thức trong chăm sócngười bệnh Mức độ lo âu ở mỗi người bệnh điều trị phẫu thuật là không giốngnhau Tìm hiểu tâm lý cũng như tình trạng lo âu của người bệnh là một trong nhữngvai trò quan trọng của người điều dưỡng ngoại khoa trong việc chuẩn bị người bệnhtrước phẫu thuật

Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là bệnh viện chuyên khoa ngoại hạng đặcbiệt, là trung tâm phẫu thuật lớn của cả nước, với hơn 1500 giường bệnh Trungbình hàng năm có khoảng 6000 ca phẫu thuật tiêu hóa, trong đó những ca phẫuthuật về dạ dày tương đối nhiều chiếm khoảng 11% [13] nhưng các thông tin về sự

Trang 11

lo âu và các yếu tố liên quan đến sự lo âu của người bệnh trước phẫu thuật dạ dàycòn bị hạn chế

Để nâng cao chất lượng chăm sóc, tăng sự hài lòng của người bệnh thì việchiểu được tâm lý của người bệnh là một vấn cần thiết Với mong muốn xác địnhmức độ lo âu của người bệnh trước phẫu thuật dạ dày và tìm hiểu về mối liên quangiữa lo âu trước phẫu thuật dạ dày với đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm bệnh, sự

hỗ trợ từ gia đình và xã hội, nhận thức về bệnh của người bệnh để từ đó có hướngcan thiệp phù hợp giúp người bệnh giảm lo âu trước phẫu thuật, tăng khả năng phụchồi sớm sau phẫu thuật, rút ngắn thời gian điều trị Đó là lý do nhóm nghiên cứu

thực hiện đề tài: “Khảo sát mức độ lo âu và tìm hiểu một số yếu tố liên quan của

người bệnh trước phẫu thuật dạ dày tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức” với các

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Lo âu

1.1.1 Khái niệm lo âu

Lo âu bình thường - Lo lắng là hiện tượng phản ứng của con người trước nhữngkhó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua

và tồn tại Lo lắng là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, chophép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa [14]

Lo lắng có thể được coi là một điều tốt, trước những tình huống căng thẳng,

“nguy hiểm” như trước một kỳ thi, trước khi phỏng vấn, chuẩn bị nhận một công việcmới, khi bị nhập viện điều trị bệnh, nó sẽ kích thích cơ thể giải phóng các chất hóa họcnhư adrenaline hay cortisol có chức năng điều chỉnh một số chức năng thần kinh, nhờ

đó cơ thể có thêm sức mạnh để có thể “chiến đấu” với tình huống đó và nó sẽ khôngcòn khi những tình huống căng thẳng, “nguy hiểm” được giải quyết [15]

Lo lắng này coi là “Lo âu” bình thường của con người, nhưng nếu lo lắngdiễn ra quá mức hoặc dai dẳng không tương xứng với sự đe dọa được cảm thấy, ảnhhưởng đến hoạt động của con người có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động

có vẻ như quá mức vô lý thì lo âu bình thường hay lo lắng sẽ chuyển sang trạng thái

lo âu bệnh lý [14]

Trong phạm vi nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu thực hiện khảo sát mức độ

lo âu - lo lắng của đối tượng nghiên cứu

1.1.2 Mức độ lo âu

Theo Halter và Varcarolis [16], lo âu được phân thành 4 mức độ:

- Nhẹ: Lo âu ở mức độ nhẹ xảy ra trong trải nghiệm bình thường của cuộcsống hằng ngày và nó tích cực vì nó tác động đến cá nhân giải quyết vấn đề mộtcách hiệu quả hơn Ở mức độ này, người lo âu có thể thể hiện các triệu chứng như

sự khó chịu nhẹ, bồn chồn hay cáu gắt

Trang 13

- Trung bình: Lo âu ở mức độ trung bình dẫn đến nhận thức bị thu hẹp, khảnăng suy nghĩ rõ ràng bị giới hạn Nhưng việc học hỏi và giải quyết vấn đề vẫn cóthể xảy ra mặc dù nó không ở mức tối ưu Thay đổi cơ thể có thể được nhận thấynhư căng thẳng, nhịp tim nhanh, nhức đầu, kích thích dạ dày Lo âu ở mức độ trungbình thì vẫn còn mang tính suy diễn

- Nặng: Ở mức độ nặng của sự lo âu, người này chỉ tập trung vào một chi tiếtđặc biệt và có thể có khó khăn trong việc nhận thấy những gì đang xảy ra trong môitrường Người chịu đựng sự lo âu này có thể gặp giảm thông khí, choáng váng, bốirối hay không thể giải quyết vấn đề

- Lo âu hoảng sợ: là hình thức khắc nghiệt nhất và có thể dẫn đến hành vi quấyrầy Những người đó không thể nhận ra những gì đang xảy ra trong môi trường Họ

có thể biểu hiện rối loạn, la hét hoặc sự co rút lại Hành vi của họ có thể thiếu sựphối hợp và bốc đồng Hành vi cá nhân để giảm lo âu có thể là không hiệu quả và lo

âu hoảng sợ cấp tính có thể dẫn đến kiệt sức

1.1.3 Đặc điểm lâm sàng lo âu

Lo âu là triệu trứng phổ biến của con người khi đứng trước những khó khăn,thử thách, lo âu là triệu trứng cốt lõi của bệnh tâm căn, biểu hiện lâm sàng phụthuộc vào cá thể và mức độ lo âu [17] Một số triệu chứng phổ biến bao gồm:

- Hồi hộp, bồn chồn hoặc căng thẳng

- Cảm giác nguy hiểm, hoảng loạn hoặc sợ hãi

- Nhịp tim nhanh

- Thở nhanh hoặc thở nhanh

- Đổ mồ hôi nhiều hoặc nặng

- Run rẩy hoặc co giật cơ bắp

Trang 14

- Một mong muốn mạnh mẽ để tránh những điều gây ra lo lắng của bạn

- Thực hiện một số hành vi nhất định nhiều lần

1.1.4 Rối loạn lo âu

Lo âu là không thể tránh khỏi trong cuộc sống và có thể phục vụ nhiềuchức năng tích cực như thúc đẩy con người hành động để giải quyết vấn đề hoặcgiải quyết khủng hoảng Nó được coi là bình thường khi nó phù hợp với tìnhhuống và tiêu tan khi tình huống đã được giải quyết, nhưng nếu kéo dài hoặc lo

âu quá mức sẽ dẫn đến trạng thái bệnh lý rối loạn lo âu trong bệnh lý tâm thần[18] Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) [19], rối loạn lo âuđược phân loại như sau:

- F40: Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ

- F41: Các rối loạn lo âu khác

- F41.0: Rối loạn hoảng sợ

- F41.1: Rối loạn lo âu lan tỏa

- F41.2: Rối loạn lo âu và trầm cảm

- F41.3: Các rối loạn lo âu hỗn hợp khác

- F41.8: Các rối loạn lo âu biệt định khác

- F41.9: Rối loạn lo âu không biệt định

1.1.5 Các thang đo về tình trạng lo âu trước phẫu thuật

Có rất nhiều thang đo để đo lường mức độ lo âu của NB, các thang đothường được sử dụng như: The Amsterdam Preoperative Anxiety and InformationScale (APAIS), Hamilton Anxiety Rating Scale (HAM-A), The State-Trait AnxietyInventory (STAI),Visual Analog Scale for Anxiety (VAS-A), Hospital Anxiety andDepression Scale-Anxiety (HADS-A), …

The Amsterdam Preoperative Anxiety and Information Scale (APAIS) đượcxây dựng vào năm 1996 của Nelly Moerman và cộng sự [20] APAIS là công cụđáng tin cậy cho các chuyên gia gây mê, gây tê dùng để đánh giá sự lo âu trước mổ

và các thông tin cần cung cấp của NB APAIS gồm 6 mục được đánh giá theo thang

Trang 15

điểm Likert từ 1-5, trong đó mục một, hai, bốn và năm dùng để đo lường mức độ lo

âu của NB trước PT; mục ba và sáu dùng để biết thông tin cần được cung cấp cho

NB về phương pháp vô cảm hay về tiến trình PT

The State-Trait Anxiety Inventory (STAI) là công cụ tự báo cáo sự lo lắng,được Charles Spielberger và cộng sự xuất bản năm 1983 [21], gồm 2 phần, mỗiphần 20 mục, mỗi mục được đánh giá theo thang điểm Likert từ 1 đến 4 STAI-Sdùng để xác định tình trạng lo âu tạm thời trong các tình huống nguy hiểm, và thangđiểm Likert theo cường độ xuất hiện (1: không có, 2: có một phần, 3: trung bình, 4:rất nhiều) STAI-T dùng để đánh giá tính ổn định của sự lo âu lâu dài, thang điểmLikert biểu hiện tần số, mức độ thường xuyên của cảm giác (1: hầu như không có,2: thỉnh thoảng, 3: thường xuyên, 4: luôn luôn) STAI thường được phân loại thành

ba mức: từ 20-37 điểm là không lo âu hoặc lo âu nhẹ; từ 38-44 điểm là lo âu trungbình; từ 45-80 điểm là lo âu cao

Hamilton Anxiety Rating Scale (HAM-A) được xây dựng do Max Hamiltonnăm 1959 [22], là một trong những thang điểm đầu tiên để đo lường mức độ nghiêmtrọng của các triệu chứng lo âu HAM-A gồm 14 mục, mỗi mục gồm các triệu chứngcủa lo âu được cho điểm từ 0 đến 4 (0 là không có, 4 là trầm trọng), tổng điểm củaHAM-A là 0-56 điểm được chia thành 3 nhóm: <17 điểm chỉ những trường hợp lo âunhẹ, 17-24 điểm chỉ lo âu nhẹ đến trung bình, 25-30 điểm chỉ lo âu trung bình đếnnặng HAM-A đã được dịch sang các tiếng Trung Quốc, Pháp, Tây Ban Nha

Visual Analog Scale for Anxiety (VAS-A) là thang đo tự đánh giá sự lo âucủa NB bằng cách chọn các con số thể hiện mức lo âu cuả họ trong khoảng từ 0 đến

100 mm, với 0 là không lo âu và 100 là lo âu nghiêm trọng nhất Trong các nghiêncứu đo lường sự lo âu của NB, VAS-A thường được sử dụng phối hợp cùng với mộtthang đo lo âu khác và đã chứng minh được mối liên quan của 2 thang đo [23],[24],[25],[26]

Thang đo lo âu và trầm cảm Hospital Anxiety and Depression Scale-Anxiety(HADS) được phát triển bởi Zigmond và Snaith (1983) đã được sử dụng để đánhgiá mức độ lo âu và trầm cảm của NB trước PT [27] Thang đo HADS bao gồm 14

Trang 16

mục được chia thành hai phần: bảy mục đo lường sự lo âu (HADS-A) và bảy mụcđánh giá trầm cảm (HADS-D) Điểm số từ 0 đến 21 cho mỗi phần Trong đó thang

đo HADS-A được phát triển như một thước đo ngắn gọn từ các triệu chứng của lo

âu tổng quát Mục đích của HADS-A là sàng lọc những triệu chứng lâm sàng của lo

âu trên NB Thang đo HADS- A gồm 7 câu hỏi, mỗi câu được tính theo thang điểmLikert từ 0 đến 3 tương ứng với mức độ xuất hiện tăng dần của các triệu chứng lolắng Tổng điểm cho bộ câu hỏi từ 0-21 điểm, được chia thành các mức: 0 điểm -không lo lắng, từ 1 đến 7 điểm: lo âu nhẹ, từ 8 – 14 điểm: lo âu vừa, từ trên 15điểm: mức độ lo âu nặng [12] HADS-A đã được chứng minh được tính giá trị vàtính ổn định trong nhiều nghiên cứu [28],[29] HADS-A cũng đã được dịch sangtiếng Việt và cũng được kiểm tra tính giá trị, tính ổn định phù hợp để đo lường sự lo

âu của NB trước PT và đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu tại Việt Nam [12],[30] Đặc biệt hơn, bộ công cụ này đã được tác giả Nguyễn Hoàng Long sử dụngđánh giá sự lo âu của NB trước PT ổ bụng tại 3 BV lớn ở Hà Nội, trong đó có BVhữu nghị Việt Đức vào năm 2010 [31] Do vậy, trong nghiên cứu này, nhóm nghiêncứu sử dụng HADS-A để xác định sự lo âu của NB trước PT dạ dày

1.2 Phẫu thuật dạ dày

Phẫu thuật dạ dày là một phương pháp điều trị ngoại khoa, được chỉ định vìmột số lý do lâm sàng bao gồm các bệnh lý về dạ dày hoặc lành tính hoặc ác tính

PT dạ dày bao gồm cắt dạ dày một phần hoặc cắt toàn bộ dạ dày [32] PT cắt dạ dàymột phần đã được Pean thực hiện lần đầu tiên vào ngày 9-4-1879 để điều trị cho NBung thư môn vị Người bệnh đã chết vào ngày thứ 5 sau mổ Sau đó Rydygier thựchiện lại và ngày 16-11-1880 và Billroth thực hiện vào ngày 29-1-1881 với kết quảtốt [33] Ca PT cắt bỏ dạ dày cho NB loét dạ dày tá tràng thành công đầu tiên đượcthực hiện bởi Ludwik Rydygier, vào năm 1881 [34] Có hai loại PT dạ dày chính:

- Cắt dạ dày một phần là cắt bỏ một phần của dạ dày Nửa dưới thường được loại bỏ

- Cắt dạ dày hoàn toàn là loại bỏ toàn bộ dạ dày

1.3.1 Chỉ định Phẫu thuật dạ dày

Theo Weledji E.P [32], PT dạ dày thường được chỉ định trong các trường hợp sau:

Trang 17

- Chảy máu dạ dày

- Viêm loét dạ dày nặng

- Thủng dạ dày

- Polyp, hoặc tăng trưởng bên trong dạ dày của bạn

- Ung thư dạ dày

- Điều trị béo phì

1.3.2 Phương pháp phẫu thuật dạ dày

Có 2 phương pháp:

- Phẫu thuật mở: PTV dạch da, cơ và mô để tiếp cận vào dạ dày và tiến hành

PT Phương pháp này dễ thực hiện, vết mổ lớn NB sẽ phải trải nghiệm đau và sựliền vết thương kéo

- Phẫu thuật nội soi: Là PT xâm lấn tối thiểu bằng công cụ PT chuyên dụng, Nóliên quan đến vết mổ nhỏ, ít đau đớn hơn và cho phép thời gian phục hồi nhanh hơn

1.3 Tâm lý và tình trạng lo âu trước phẫu thuật của người bệnh

1.4.1 Trạng thái tâm lý chung người bệnh

Khi mắc bệnh dù nặng hay nhẹ đều làm thay đổi tâm lý NB, bệnh tật càngnặng càng càng kéo dài thì sự biến đổi tâm lý càng trầm trọng NB khi nằm viện đều

lo âu về bệnh của mình và mong chờ sự giúp đỡ của thầy thuốc cũng như mongmuốn bệnh được mau lành, ít tốn kém về thời gian và kinh tế, NB thường có cảmgiác mặc cảm, có lỗi với người thân trong gia đình, lo sợ ảnh hưởng đến công việc

và tương lai Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng bất lực, suy sụp về tinhthần, nặng hơn nữa NB sẽ bị trầm cảm Những biến đổi về bệnh tật và những biếnđổi về tâm lý NB có sự tác động qua lại với nhau [35]

1.4.2 Đặc điểm tâm lý của người bệnh trước phẫu thuật dạ dày

Người bệnh trước PT dạ dày cũng mang tâm lý của một NB trước mỗi ca PTnói chung, thường đối mặt với lo âu và căng thẳng Họ phải thích nghi hoặc đối phóvới tình huống này để lấy lại quyền kiểm soát cảm xúc của cá nhân [36] Đối mặttrước ca mổ, NB hoặc là quá lo sợ (sợ đau, sợ biến chứng, sợ chết…), hoặc là khôngtin tưởng vào bác sĩ, vào chẩn đoán, vào kết quả PT… Cũng có người phủ nhận tình

Trang 18

trạng bệnh tật, che giấu triệu chứng, không thích mổ; cũng có NB quá lạc quan, chorằng sau mổ là mình khỏi bệnh hoàn toàn…PT không phải là sự kết thúc điều trị,

mà chỉ là tạo nền tảng cho một điều trị mới tiếp theo [37]

Sự biến đổi tâm lý của NB phụ thuộc rất nhiều vào các giai đoạn PT Trước PT,

NB hay lo âu về chỗ nằm trước và sau mổ; quan tâm đến những lời bàn tán về trình độcủa bác sĩ PT chính, về cách mổ và những điều khác liên quan đến cuộc mổ [1]

1.4.3 Lo âu trước phẫu thuật

Lo âu trước PT ảnh hưởng đến NB ở cả hai mặt thể chất và mức độ tâm lý

Về mặt tâm lý, nó có thể thay đổi cách suy nghĩ, cảm nhận và hành động cá nhân

Về thể chất, lo âu làm tăng giải phóng epinephrine vào tuần hoàn gây co thắt mạchmáu, tăng nhịp tim và lực co bóp, dẫn đến tăng huyết áp và nhiệt độ, nóng bừng và

đổ mồ hôi Nó cũng gây ra không có khả năng tập trung hoặc khó khăn trong việcthực hiện nhiệm vụ Lo âu trước PT đã được tìm thấy là các yếu tố nguy cơ của kếtquả xấu sau PT cũng như tỉ lệ bệnh tật và tử vong [31] Theo Kagan và Bar-Tal(2006) [38] khẳng định rằng sự lo âu trước PT tương quan thuận với nỗi đau, buồnnôn, mệt mỏi và khó chịu, nhu cầu nghỉ ngơi tại giường, rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi,thiếu vận động, chất lượng cuộc sống giảm, thời gian lưu trú, tình cảm phục hồi vàliều lượng thuốc trong quá trình gây mê

1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng lo âu của người bệnh trước phẫu

thuật

Theo Seifu Nigussie [1], có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý

NB, như đặc điểm các giai đoạn phát triển và những dấu hiệu đặc trưng của bệnh,đặc điểm nhân cách, các yếu tố nhiễm trùng, nhiễm độc, các yếu tố môi trường:người chăm sóc lúc nằm viện, chẩn đoán bệnh, số ngày nằm viện, bệnh kèm theo,

số lần PT trước, phương pháp PT, sự hỗ trợ từ bạn bè/gia đình, sự hỗ trợ từ NVYT,nhận thức về bệnh của NB

1.8.1.1 Yếu tố nhân khẩu học

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự liên quan giữa đặc điểm nhân khẩuhọc với điểm số lo âu của NB trước PT, phụ nữ có điểm số lo âu trước PT cao hơn

Trang 19

nam giới [39],[40] Điểm lo âu trước PT tăng theo trình độ giáo dục và giảm dầntheo tuổi [1],[41] Mức độ lo âu cao hơn đáng kể ở người độc thân, ly dị [1],[42].Những người làm nghề nội trợ có điểm lo âu cao hơn những người đang làm việc vànhững người nghỉ hưu [43]

1.8.1.2 Yếu tố bệnh tật

Theo nghiên cứu của Henok Mulugeta đã chỉ ra rằng NB có tiền sử trảinghiệm PT trước đây ít lo âu hơn so với NB lần đầu tiên PT [44] Theo Hernandez-Palazon J và cộng sự, thời gian chờ trước PT > 2 ngày là yếu tố nguy cơ đáng kểvới chứng lo âu trước PT [24]

Theo Ali, Achmet và cộng sự, phương pháp PT (mổ nội soi hay mổ mở)cũng là một trong những yếu tố tác động đến sự lo âu của NB trước PT [45]

1.8.1.3 Yếu tố hỗ trợ của người thân

Khi nằm viện, NB thường có tâm lý mặc cảm lo âu cho người thân trong giađình, sợ bệnh tật sẽ làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế gia đình, sợ bản thân sẽ làgánh nặng cho gia đình, sợ không được người thân quan tâm [35]

Theo Seifu Nigussie, đã chỉ ra lý do phổ biến nhất của sự lo âu là nỗi sợkhông nhận được đủ sự quan tâm từ những người chăm sóc [1] Theo Nguyễn TấnViệt, tăng cường sự hỗ trợ từ gia đình sẽ làm giảm đáng kể tình trạng lo âu của NBtrước PT [30]

1.8.1.4 Yếu tố hỗ trợ của nhân viên y tế

Giữa NB và NVYT là mối quan hệ giữa con người với con người, giữa nhâncách với nhân cách Điều trị NB một cách toàn diện, nghĩa là người thầy thuốc đồngthời với quá trình tích cực cứu chữa bệnh tật, phải hết lòng chăm lo, nâng đỡ tâm lý,tinh thần cho NB, giúp cho người khắc phục các yếu tố gây stress, tránh những gánhnặng tâm lý trong khám, chữa bệnh cũng như trong quá trình hồi phục sức khỏe[37] Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng NB được NVYT hướng dẫn giáo dụctrước PT đã giúp họ giảm đáng kể lo âu trước PT [46]

1.8.1.5 Yếu tố hiểu biết về bệnh của người bệnh

Trang 20

Theo nghiên cứu của Vandana BN và cộng sự tại Ấn Độ chỉ ra rằng những

NB được thông báo rõ về quy trình PT trước đó có sự lo âu trước PT ít hơn đáng kể

so với những người không biết [47], điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứucủa Seifu Nigussie và cộng sự [1]

1.4.5 Các vấn đề lo âu của người bệnh trước phẫu thuật

Theo kết quả của các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra NB trước phẫu thuậtthường lo âu về các vấn đề sau:

- Không tỉnh sau gây mê/PT [1],[48],[49]

- Tử vong do gây mê [49], [44]

- Đau sau PT [41], [48]

- Ảnh hưởng xấu từ sai sót trong PT [1]

- Phẫu thuật có khả năng bị hoãn lại [1], [41]

- Sai lầm do PT [1]

- Phẫu thuật không thành công [44]

- Tử vong do PT [1]

- Môi trường bệnh viện không thoải mái [12]

- Thời gian chờ đợi phẫu thuật lâu [30]

- Không có khả năng trả viện phí [1]

- Không có thu nhập vì nằm viện [30]

1.4 Thực trạng chăm sóc người bệnh trước phẫu thuật dạ dày tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Chăm sóc tâm lý NB trước PT là cần thiết đối với sự an toàn, phục hồi sứckhỏe của NB, trong đó vai trò ĐD quan trọng [50] Theo Liddle.C (2012), chuẩn bịtâm lý NB tốt, đặc biệt là tư vấn, giáo dục sức khỏe trước PT có thể làm giảm sự lo

âu một cách hiệu quả ở những NB trước PT tim [51]

Hàng năm, tại BV Hữu nghị Việt Đức có rất nhiều NB điều trị PT dạ dày.Theo thống kê của BV, trong năm 2019, tại BVHN Việt Đức có hơn 6000 ca PTtiêu hóa, trong đó PT dạ dày có khoảng 650 ca (chiếm 11%), [13]

Trang 21

Công tác chăm sóc NB trước PT nói chung và trước PT dạ dày nói riêng tại

BV HN Việt Đức là một trong những công việc phổ biến của người ĐD, được thựchiện thường quy hàng ngày Sau khi NB được hội chẩn có chỉ định PT, NB sẽ đượcbác sỹ điều trị giải thích về ca phẫu thuật, bao gồm các chỉ định điều trị, phươngpháp phẫu thuật dự kiến, những rủi ro có thể xảy ra Sau đó ĐD sẽ thực hiện côngviệc chuẩn bị mổ cho NB vào ngày trước mổ theo quy trình chuẩn bị NB trước mổ

đã được bệnh viện xây dựng (phụ lục 1), bao gồm:

Chăm sóc tinh thần; Chăm sóc dinh dưỡng; Vệ sinh cá nhân; Thực hiệnthuốc và các chỉ định điều trị khác cho NB

Nhìn chung, theo thông tư số 07/2011/TT-BYT (Hướng dẫn công tác ĐD vềchăm sóc NB trong bệnh viện) [52], các ĐD đã thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sócngười bệnh có chỉ định PT, thủ thuật Tuy nhiên, trong thực tế, công tác chăm sóctinh thần NB còn chưa được chú trọng nhiều, ĐD chưa thực sự tìm hiểu tâm lý,đánh giá được sự lo lắng, các yếu tố liên quan đến sự lo âu của NB khi phải đối diệnvới ca mổ có nhiều nguy cơ rủi ro Để công tác chăm sóc NB trước PT thực sự đượctoàn diện đạt hiệu quả cao cần phải có những nghiên cứu về vấn đề này, BV cần banhành những hướng dẫn, quy định cụ thể trong việc đánh giá mức độ lo âu cũng nhưviệc tìm hiểu tâm lý của NB trước PT để đảm bảo sự an toàn, nâng cao chất lượngchăm sóc và điều trị hướng đến sự hài lòng NB

1.5 Tình hình nghiên cứu về sự lo âu của người bệnh trước phẫu thuật dạ dày

1.6.1 Trên thế giới

Tìm kiếm tài liệu trên internet, Cochrane, PubMed, Google scholar với các từkhóa tìm kiếm như: Anxiety, anxiety before surgery, anxiety before stomach surgery,preoperative care Chúng tôi đã tìm được nhiều nghiên cứu từ Anh, Hà Lan, Ba Lan,Thổ Nhĩ Kỳ, Bồ Đào Nha, Pakistan, Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia…

Kết quả cho thấy đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về sự lo âu của NB trước

PT Tình trạng lo âu trước PT của NB đa số ở mức độ trung bình và có sự khácnhau về các yếu tố liên quan đến lo âu trước PT ở các nghiên cứu Theo một nghiêncứu tại Ethiopia (2014) đã chỉ ra rằng 70,3% NB lo âu đáng kể trước PT (điểm lo âu

Trang 22

>44, theo thang điểm state-trait anxiety inventory (STAI)), các yếu tố liên quan đến

sự lo âu là độc thân hoặc li hôn, thời gian PT và thu nhập Yếu tố liên quan đến việclàm giảm lo âu trước PT của NB là sự cung cấp thông tin liên quan đến cuộc PT củangười chăm sóc sức khỏe [1]

Cũng theo thang điểm STAI, tại nghiên cứu của Asiye Gul và cộng sự [53],điểm trung bình tình trạng lo âu trước PT của NB là 44,74±11,91 và có mối liênquan giữa lo âu trước PT với tổng liều gây mê Theo kết quả một nghiên cứu tại BồĐào Nha, điểm trung bình tình trạng lo âu trước PT là 3,47±3,71 (theo thang điểmAnxiety, Depression and Stress Scale-21 (DASS-21)) và có sự khác biệt giữa tâm lýtrước PT và chẩn đoán lâm sàng [54] Tại Trung Quốc, 47,4% NB có triệu chứng lo

âu vừa hoặc nặng khi đợi PT [55] Theo kết quả nghiên cứu của Sadati và cộng sự[56] cho thấy sự quan tâm của ĐD đối với NB làm giảm sự lo âu trước PT và biếnchứng sau PT của NB Theo kết quả nghiên cứu của Rosiek và cộng sự [57] chothấy không chỉ các yếu tố bên trong cá nhân (đau, bệnh tật và sự chịu đựng) mà cònnhững yếu tố bên ngoài (gây mê, PT và biến chứng sau PT) là những nguyên nhâncủa lo âu trước PT Phụ nữ thường lo âu nhiều hơn nam giới Một nghiên cứu kháctại Pakistan cho thấy 62% NB có lo âu trước PT và có liên quan với nữ giới, tuổitrẻ, trình độ học vấn và đã có PT trước đó [39]

Có sự khác nhau về các vấn đề lo âu trước PT của NB ở các nghiên cứu.Theo Ebirim & Tobin (2010) [41], 90% NB có lo âu trước PT, vấn đề lo âu chiếm

đa số là tiến trình PT bị hoãn lại Theo Mitchell (2011) [58], 82,4% NB lo âu trước

PT, với sự chờ đợi, gây mê và giảm đau là những lo âu phổ biến, đồng thời sự khácbiệt về giới tính cũng liên quan đến sự lo âu trước PT Một nghiên cứu khác tạiMalaysia cho thấy 78,8% NB lo âu trước PT vùng bụng, trong đó 47,5% ở mức độ

lo âu cao Nghiên cứu cũng đưa ra những thông tin quan trọng mà NB cần có đểgiảm lo âu là chi tiết cuộc PT, chi tiết về chăm sóc ĐD và thông tin về gây mê [59].Theo Mavridou (2013) [60], 80% NB lo âu trước PT, những vấn đề lo âu chính của

NB là đau sau PT (84%), không tỉnh sau PT (64,8%), nôn và buồn nôn (60,2%).Một nghiên cứu với 500 NB trước PT tại Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy 62% NB lo âu trước

Trang 23

PT ở mức độ vừa, có liên quan đến các đặc điểm nhân khẩu xã hội học của NB và

sự hỗ trợ của xã hội [61]

1.6.2 Tại Việt Nam

Tác giả Nguyễn Hoàng Long [31] đã sử dụng bộ câu hỏi Hospital AnxietyDepression Scale-Anxiety (HADS-A) để đánh giá sự lo âu trước PT ổ bụng và chothấy điểm trung bình lo âu trước PT là 6,9±3,4, trong đó có 55,8% NB lo âu ở mức

độ nhẹ, 41,5% NB lo âu ở mức độ trung bình và hơn Nghiên cứu cũng sử dụng bộcông cụ Multi-Dimensional Support Scale (MDSS) để đánh giá sự hỗ trợ xã hội vàcho kết quả giá trị trung bình chung của sự hỗ trợ xã hội là 13,8±3,2, trong đó sự hỗtrợ từ gia đình là 8,39±2,9, từ NVYT là 5,4±2,2 Sử dụng bộ câu hỏi HospitalAnxiety Depression Scale-Anxiety (HADS-A) để đánh giá sự lo âu của NB trước

PT vùng bụng tại Phú Thọ cho thấy NB lo âu ở mức độ trung bình (8,22±3,82), cómối liên quan giữa nhận thức về bệnh của NB, sự hỗ trợ của NVYT với sự lo âutrước PT của NB [12] Theo tác giả Thái Hoàng Để và cộng sự lo âu trước PTchiếm tỉ lệ 83,43% tại An Giang [62] Một nghiên cứu khác tại Thái Nguyên chothấy giá trị trung bình lo âu trước PT vùng bụng là 51,65±8,28 và có mối liên quanvới thời gian chờ PT [11] Gần đây nhất Bộ công cụ HAD-A và MDSS cũng đượctác giả Nguyễn Tấn Việt (2018) sử dụng nghiên cứu trên 96 NB trước PT tiết niệu tại

BV Y dược TP Hồ Chí Minh để xác định mức độ lo âu và các yếu tố liên quan đến lo

âu trước PT và các vấn đề hỗ trợ từ xã hội Kết quả đã chỉ ra mức độ lo âu của NB là16,7% Mối quan tâm từ gia đình trung bình là 13,2 ± 3,2 điểm, điểm hỗ trợ từ NVYTtrung bình là 9,4 ± 2,7 Các yếu tố cho thấy để giảm tình trạng lo âu là cung cấp đầy đủthông tin và tăng cường sự hỗ trợ từ gia đình [30]

Như vậy hiện tại đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về sự lo âutrước PT nhưng nghiên cứu về tình trạng lo âu của NB trước PT dạ dày còn hạn chế.Các nghiên cứu trên cũng đã chỉ ra các mối liên quan đến tình trạng lo âu như nhậnthức về bệnh, sự hỗ trợ của NVYT

1.6 Học thuyết sự thoải mái của Katharine Kolcaba và sự ứng dụng trong nghiên cứu

1.7.1 Học thuyết sự thoải mái của Katharine Kolcaba

Trang 24

Học thuyết thoải mái là một Học thuyết điều dưỡng được phát triển lần đầutiên vào những năm 1990 bởi Katharine Kolcaba Học thuyết thoải mái là Họcthuyết tập trung cho thực hành y tế, giáo dục và nghiên cứu Học thuyết củaKolcaba có khả năng đặt sự thoải mái một lần nữa lên hàng đầu trong lĩnh vực chămsóc sức khỏe [63].

Kolcaba mô tả sự thoải mái như tồn tại dưới 3 hình thức: nhẹ nhõm, dễ dàng

và siêu việt Ngoài ra, Kolcaba đã mô tả 4 bối cảnh trong đó sự thoải mái của ngườibệnh có thể xảy ra: thể chất, tâm thần, môi trường và văn hóa xã hội [64]

- Nếu nhu cầu thoải mái cụ thể của bệnh nhân được đáp ứng, ví dụ, giảm đausau phẫu thuật bằng cách sử dụng thuốc giảm đau theo quy định, cá nhân trảinghiệm sự thoải mái theo nghĩa nhẹ nhõm

- Nếu bệnh nhân ở trạng thái thoải mái, người bệnh cảm thấy thoải máitheo nghĩa dễ chịu, ví dụ, người ta có thể cảm thấy như thế nào sau khi gặp vấn đềgây lo lắng

- Cuối cùng, siêu việt được mô tả là trạng thái thoải mái trong đó bệnh nhân cóthể vượt lên trên các thách thức của họ

Kolcaba đã đưa ra các khái niệm:

- Nhu cầu Chăm sóc Sức khỏe (health care needs) là những nhu cầu được xácđịnh bởi bệnh nhân/gia đình trong một môi trường thực hành cụ thể Kolcaba xácđịnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe là những nhu cầu cho sự thoải mái, phát sinh từnhững tình huống chăm sóc sức khỏe mà điều này không có ở hệ thống chăm sócsức khỏe truyền thống Những nhu cầu này bao gồm nhu cầu về thể chất, tinh thần,môi trường và xã hội tạo nên sự theo dõi xuyên suốt và có thể báo cáo bằng lời hoặckhông bằng lời, những nhu cầu này liên quan đến những chỉ số sinh lý bệnh, nhucầu giáo dục, hỗ trợ; nhu cầu về tư vấn và can thiệp tài chính [65]

- Can thiệp thoải mái là các hành động điều dưỡng được thiết kế để giải quyếtcác nhu cầu thoải mái cụ thể của người bệnh, bao gồm các can thiệp về sinh lý, xãhội, văn hóa, tài chính, tâm lý, tinh thần, môi trường và thể chất [66]

- Các biến can thiệp là những yếu tố có khả năng tác động đến sự nhận thứccủa con người về sự thoải mái, bao gồm: tuổi, trạng thái cảm xúc, tiên lượng, tìnhhình tài chính, mức độ hỗ trợ [65]

Trang 25

- Đo lường sự thoải mái (comfort measures)

- Đo lường sự thoải mái được xác định qua những can thiệp điều dưỡng được xây dựng theo những nhu cầu thoải mái cụ thể của người nhận, bao gồm sinh lý,

xã hội, tài chính, tâm lý, tinh thần, môi trường và can thiệp về thể chất [65]

Thoải mái (comfort) là một kết quả mong muốn trong chăm sóc điều dưỡng,theo thuyết thoải mái Học thuyết về sự thoải mái coi NB là cá nhân, gia đình, tổchức hoặc cộng đồng cần chăm sóc sức khỏe Môi trường là bất kỳ khía cạnh nàocủa NB, gia đình hoặc môi trường xung quanh (có thể được điều dưỡng hoặc ngườithân) để tăng cường sự thoải mái Sức khỏe được coi là hoạt động tối ưu ở NB [67]

Trong mô hình, điều dưỡng được mô tả là quá trình đánh giá nhu cầu thoảimái của NB, xây dựng và triển khai các kế hoạch chăm sóc điều dưỡng phù hợp vàđánh giá sự thoải mái của NB sau khi các kế hoạch chăm sóc được thực hiện Điềudưỡng bao gồm đánh giá có chủ ý về nhu cầu thoải mái, thiết kế các biện pháp thoảimái để giải quyết các nhu cầu đó và đánh giá lại mức độ thoải mái sau khi thực hiệncác biện pháp Đánh giá có thể là khách quan, chẳng hạn như quan sát chữa lành vếtthương, hoặc chủ quan, chẳng hạn như hỏi NB xem có thoải mái không [67]

1.7.2 Phát triển học thuyết

Kolcaba đã tiến hành phân tích khái niệm về sự thoải mái khi kiểm tra tàiliệu từ một số ngành bao gồm điều dưỡng, y học, tâm lý học, tâm thần học Đầutiên, ba loại thoải mái (nhẹ nhõm, dễ chịu, siêu việt) và bốn bối cảnh trải nghiệmtoàn diện của con người trong các khía cạnh khác nhau của bối cảnh trị liệu đã đượcgiới thiệu [64] Một cấu trúc phân loại đã được phát triển để hướng dẫn đánh giá, đolường và đánh giá sự thoải mái của NB [68] Thoải mái như quá trình và sản phẩmhợp nhất trong nghệ thuật điều dưỡng toàn diện [69]

1.7.3 Ứng dụng học thuyết trong nghiên cứu

NB trước gây mê và PT thường đối mặt với lo âu và căng thẳng Họ phảithích nghi hoặc đối phó với tình huống này để lấy lại quyền kiểm soát cảm xúc [36].Mặt khác, căng thẳng như vậy có thể vượt quá khả năng chịu đựng của NB và cóthể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phục hồi sau PT [4],[70]

Xác định tình trạng lo âu và giúp giảm lo âu trước PT để NB được thoải mái

Trang 26

Đặc điểm bệnh tật

Thời gian chờ

phẫu thuật

Phương pháp phẫu thuậtt

Có chẩn đoán ung thư

bệnh mãn tính kèm theo

là nhiệm vụ của ĐD nhằm giúp NB có những phản ứng tích cực trước ca PT Bêncạnh việc xác định tình trạng lo âu của NB, người ĐD cần tìm những yếu tố nào ảnhhưởng đến sự lo âu đó và có kế hoạch chăm sóc cụ thể cho NB Ứng dụng mô hình

lý thuyết về sự thoải mái của Kocalba trong nghiên cứu, nhóm nghiên cứu xác địnhnhu cầu chăm sóc sức khỏe của NB trong trường hợp này là nhu cầu giảm lo lắng,căng thẳng trước PT; can thiệp ĐD là sự hỗ trợ của ĐD; biến số can thiệp là các yếu

tố tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, số ngày nằm viện, số lần PT trước, phươngpháp PT và sự nhận thức về bệnh của NB

1.7.4 Khung lý thuyết nghiên cứu các yếu tố liên quan đến lo âu ở người bệnh

trước phẫu thuật dạ dày

LO ÂU CỦA NGƯỜI BỆNH TRƯỚC

PHẪU THUẬT DẠ DÀY

Số lần phẫu thuật

Trang 27

Sơ đồ 1.2: Các yếu tố liên quan đến lo âu NB trước PT dạ dày

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Tại 3 khoa có NB phẫu thuật dạ dày theo chương trình (PT cấp cứu tiêu hóa,

PT tiêu hóa, Ung bướu), bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3/2020 đến tháng 7/2021 Trong đó:

- Thời gian viết đề cương nghiên cứu từ tháng 03/2020 đến tháng 06/2020

- Thời gian lấy số liệu từ tháng 9/2020 đến tháng 12/2020

- Thời gian xử lý số liệu và viết báo cáo từ tháng 1/2021 đến tháng 4/2021

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là NB điều trị nội trú tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đứcthỏa mãn tiêu chuẩn nghiên cứu

2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Người bệnh từ 18 tuổi trở lên có chỉ định PT dạ dày theo chương trình

- Tự nguyện tham gia nghiên cứu

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ:

- NB không biết đọc và viết

- NB có bệnh tâm thần kèm theo

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:

Mô tả cắt ngang

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Trang 28

2.3.2.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng:

Cỡ mẫu được xác định dựa trên công thức tính cỡ mẫu cho việc ước lượngmột tỷ lệ trong quần thể:

(Chọn α = 0,05 ứng với độ tin cậy 95%, ta có Z(1 – α/2) = 1,96);

- p: tỷ lệ lo âu trước phẫu thuật của một nghiên cứu tương tự

- d: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tham số mẫu và tham số quần thể(d=0,07 với mong muốn độ chính xác là 93%)

Theo kết quả nghiên cứu của Thái Hoàng Để và cộng sự [62], tỷ lệ này là 83%(p=0,83) Thay vào công thức trên, n= 110 Sau khi làm tròn và thêm 10% tỷ lệ bỏ

nhóm nghiên cứu dự kiến lấy cỡ mẫu là 121 NB có chỉ định PT dạ dày theo chương

trình

2.3.2.2 Phương pháp chọn mẫu

Tổng số người bệnh PT cắt dạ dày trung bình một quý từ 100 -120 NB Vì

thời gian nghiên cứu có hạn nên nhóm nghiên cứu thực hiện chọn NB theo hìnhthức chọn mẫu thuận tiện, trong thời gian nghiên cứu chọn những NB đủ tiêu chuẩntham gia nghiên cứu cho đến khi đủ cỡ mẫu là 121 NB

2.4 Công cụ nghiên cứu

Trang 29

- Phần D: Thang đo hỗ trợ đa chiều (MDSS), từ câu D1 đến D11 đánh giá sự

hỗ trợ từ gia đình và xã hội

- Phần E: Bộ câu hỏi nhận thức về bệnh tật ngắn gọn (BIPQ), từ câu E1 đếnE9

đánh giá sự nhận thức về bệnh của NB

2.4.2 Tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ

- Mức độ lo âu được đo lường bằng bộ câu hỏi Hospital Anxiety DepressionScale – Anxiety (HADS-A) HADS-A được phát triển bởi Zigmond và Snaith(1983) [27] Bộ câu hỏi HADS-A đã được dịch sang tiếng Việt và được sử dụngtrong nhiều nghiên cứu tại Việt Nam [12], [31], [30] để đánh giá lo âu trước PT của

NB Tại nghiên cứu của Đỗ Cao cường, chỉ số giá trị nội dung của HADS-A là 1,Cronbach alpha là 0,81 [12]

- Thang đo hỗ trợ đa chiều (MDSS) được phát triển bởi Winefield.H và cộng

sự [71] đã được dịch sang tiếng Việt và đã được kiểm tra về tính giá trị cũng như độtin cậy của thang đo Trong nghiên cứu của Đỗ Cao Cường, chỉ số Cronbach alpha

cả bộ câu hỏi (11 câu) là 0,9, của 6 câu đánh giá sự hỗ trợ từ bạn bè và gia đình là0,85, của 5 câu đánh giá sự hỗ trợ của NVYT là 0,81 [12] Trong nghiên cứu của tácgiả Nguyễn Hoàng Long thực hiện tại BV hữu nghị Việt Đức năm 2010 các chỉ sốnày là 0,74; 0,80 và 0,79 [31]

- Bộ câu hỏi nhận thức về bệnh tật ngắn gọn BIPQ được phát triển bởiBroadbent và cộng sự (2006) [72] Bộ câu hỏi đã được dịch sang tiếng Việt và đãđược tác giả Đỗ Cao Cường sử dụng nghiên cứu trên NB trước PT ổ bụng Bộ câuhỏi cho thấy được độ tin cậy tốt, sự tương quan 0,81 với mức ý nghĩa 0,01 [12]

- Trong nghiên cứu này, đã sử dụng bộ công cụ nghiên cứu được thiết lập baogồm 3 thang đo trên cùng đặc điểm nhân khẩu học, thông tin về bệnh và vấn đề lo

âu của NB trước PT dạ dày, phần này được xây dựng dựa trên các nghiên cứu đãđược công bố về yếu tố nguy cơ của lo âu trước PT

2.4.3 Biến số nghiên cứu và tiêu chí đánh giá

Trang 30

2.4.3.1 Biến số nghiên cứu

- Biến số phụ thuộc: Điểm lo âu trước PT dạ dày

- Các biến đôc lập: Biến độc lập được chia làm 4 nhóm:

 Đặc điểm người bệnh (Tuổi, giới, ngày nhập viện, khu vực sinh sống, tôngiáo, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, tình trạng kinh

tế, tình trạng bảo hiểm y tế, người chăm sóc khi nằm viện) và thông tin

về bệnh (khoa điều trị, chẩn đoán bệnh, bệnh ung thư, bệnh mãn tínhkèm theo, số lần phẫu thuật trước đây, phương phẫu thuật)

 Các vấn đề lo lắng của người bệnh

 Sự hỗ trợ gia đình và xã hội

 Sự nhận thức của người bệnh về bệnh

Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu

loại biến

Phươngpháp thuthập

Thu thập sốliệu từ hồ sơbệnh án

2

Thời gian

chờ phẫu

thuật

Là thời gian từ ngày người bệnh

có chỉ định phẫu thuật đến ngàyphẫu thuật được tính bằng: ngàyphẫu thuật - ngày có chỉ định phẫuthuật

Biến thứ tự

Thu thập sốliệu từ hồ sơbệnh án

Biến nhị phân

Thu thập sốliệu từ hồ sơbệnh án

4 Phương

pháp phẫu

thuật

Phương pháp mổ dự kiến áp dụngcho đối tượng nghiên cứu đượcghi trong biên ban thông qua mổ,gồm phẫu thuật mở và phẫu thuật

Danh mục Thu thập số

liệu từ hồ sơbệnh án

Trang 31

TT Tên biến Định nghĩa biến Phân

loại biến

Phươngpháp thuthậpnội soi

Thu thập sốliệu từ hồ sơbệnh án

6 Tuổi

Là số tuổi hiện có của người bệnhkhi trả lời bộ câu hỏi được tính bằngcách lấy năm hiện tại trừ năm sinh

Được chia thành 5 nhóm: ≤30 tuổi,31-≤40 tuổi, 41-≤50, 51-≤60 và ≥61tuổi

Biến thứ bậc

Thu thập sốliệu từ hồ sơbệnh án

7 Giới

Giới tính của đối tượng nghiên cứugồm nam và nữ ghi trong giấy khaisinh

Biến nhị phân Phát vấn

8 Khu vực

sinh sống

Là nơi cư trú thường xuyên củađối tượng nghiên cứu, gồm 3 giátrị: thành thị (sống ở thành phốhoặc thị xã), nông thôn (sống ởcác tỉnh, huyện), miền núi (vùngdân tộc và miền núi)

Biến danh mục Phỏng vấn

9 Tôn giáo

Là tình trạng mang tôn giáo củađối tượng nghiên cứu Gồm cácgiá trị: không theo tôn giáo, theođạo phật, đạo thiên chúa giáo, cácđạo khác

Biến danh mục Phỏng vấn

10 Học vấn Là mức độ bằng cấp cao nhất mà

người bệnh hiện có được, với cácgiá trị: mù chữ; giáo dục phổthông (cấp I, cấp II, cấp III); trung

Biến phân hạng

Phát vấn

Trang 32

TT Tên biến Định nghĩa biến Phân

loại biến

Phươngpháp thuthậpcấp/cao đẳng; đại học/sau đại học

11 Tình trạng

hôn nhân

Là tình trạng hôn nhân hiện tại củađối tượng nghiên cứu, với các giátrị: độc thân, ly dị/ly thân, mất vợ/

mất chồng, Có gia đình (đã kếthôn và còn vợ/chồng)

Biến danh mục Phát vấn

12 Nghề

nghiệp

Là hình thức công việc hiện tạicủa đối tượng nghiên cứu đanglàm trước khi nhập viện, với cácgiá trị: Nội trợ/ở nhà, Nghỉhưu/mất sức, Lao động tự do,Công nhân, Cán bộ/viên chức nhànước, khác

Biến danh mục Phát vấn

tự chi trả cho các chi tiêu hàngngày, kể cả chi phí y tế), phụthuộc 1 phần (có thu nhập nhưngkhông đủ chi trả), không phụthuộc (có thể tự chi trả cho các chitiêu hàng ngày, kể cả chi phí y tế)

Biến phân hạng Phát vấn

Có BHYT đúng tuyến (có thẻ bảo

Biến danh mục

Phát vấn

Trang 33

TT Tên biến Định nghĩa biến Phân

loại biến

Phươngpháp thuthậphiểm y tế và có giấy chuyển viện),

1 người, 2 người, 3 người

Số lần đã phẫu thuật trước không

kể lần phẫu thuật này, gồm các giátrị: không có, một lần, hai lần,

ba lần

Biến thứ tự

Thu thập sốliệu từ hồ sơbệnh án

17 Mức độ lo

âu

Là điểm số về mức độ lo âu củađối tượng nghiên cứu được đolường bằng thang HADS-A

không tỉnh sau gây mê/phẫu thuật,

tử vong do gây mê, đau sau PT, taibiến từ PT, phẫu thuật có khả năng

bị hoãn lại, nôn và buồn nôn sauphẫu thuật, sai sót trong PT, phẫuthuật không thành công, môitrường BV không thoải mái, thờigian chờ PT lâu, không có khảnăng trả viện phí, không có thunhập khi nằm viện

Biến Danh mục Phát vấn

Trang 34

TT Tên biến Định nghĩa biến Phân

loại biến

Phươngpháp thuthập

và NVYT trong lần PT này

Liên tục Phát vấn

2.4.3.2 Tiêu chí đánh giá

- Mức độ lo âu: được tính theo thang đo HADS-A, gồm 7 câu hỏi với giá trị

mỗi câu từ 0-3 điểm Tổng giá trị cho cả bộ câu hỏi từ 0-21 điểm Cách tính [12]:

 0 điểm: không lo âu,

 7 điểm: lo âu nhẹ;

 8 – 14 điểm: lo âu vừa;

 ≥15 điểm: lo âu nặng

- Sự hỗ trợ từ phía gia đình và NVYT: Được đánh giá bằng thang đo hỗ trợ

đa chiều Multi-Dimensional Support Scale (MDSS) Công cụ này có 11 mục baogồm 6 mục hỗ trợ gia đình / bạn bè và 5 mục hỗ trợ từ nhân viên y tế, với thangđiểm 4, người tham gia sẽ chọn một trong 4 giá trị 0 (không có), 1 (thỉnh thoảng), 2(thường xuyên), 3 (luôn luôn) Tổng điểm của hỗ trợ gia đình / bạn bè dao động từ 0đến 18 và tổng điểm của hỗ trợ từ nhân viên y tế dao động từ 0 đến 15 Điểm caohơn thể hiện sự hỗ trợ xã hội tốt hơn theo cảm nhận của bệnh nhân

- Sự nhận thức về bệnh của người bệnh: Được đo lường bằng bộ câu hỏi

nhận thức về bệnh tật ngắn gọn Brief Illness Perception Questionnaire (BIPQ), Bộ

Trang 35

câu hỏi này bao gồm 9 mục Trong đó 5 mục dùng để thể hiện sự nhận thức về bệnhcủa người bệnh bao gồm: hậu quả, thời gian, kiểm soát cá nhân, kiểm soát điều trị

và nhận dạng bệnh; hai mục thể hiện sự quan tâm và cảm xúc; một mục thể hiện sựhiểu biết về bệnh Trong nghiên cứu này, kiểm soát điều trị là phẫu thuật dạ dày Bộcâu hỏi này gồm 9 mục, trong đó các mục 1 đến 8 người bệnh trả lời theo thangđiểm từ 0 đến 10, mục 9 là câu hỏi mở yêu cầu người bệnh liệt kê 3 yếu tố quantrọng nhất mà người bệnh cho rằng là nguyên nhân gây bệnh của họ

2.5 Kỹ thuật thu thập số liệu

2.5.1 Thời điểm thu thập số liệu

- Từ 14 giờ - 18 giờ ngày trước PT, thời gian đảm bảo thuận lợi cho đối tượngnghiên cứu

2.5.2 Cách thức thu thập dữ liệu

- Phát vấn: NB được ĐTV giải thích và phát bộ câu hỏi thiết kế sẵn (phụ lục1) NB thực hiện trả lời bộ câu hỏi, sau khi người bệnh trả lời xong các phiếu trả lời

sẽ được ĐTV kiểm tra về tính phù hợp và tính hoàn tất

- ĐTV: Nghiên cứu viên chính tham gia thu thập khoảng 40% mẫu nghiên cứu vàtuyển chọn thêm 3 ĐTV khác là 03 ĐDT khoa cùng trình độ thạc sỹ đã có kinh nghiệmtham gia điều tra, thu thập số liệu cho các nghiên cứu trước đó ít nhất 02 lần và có khảnăng thu thập thông tin về đặc điểm lâm sàng từ hồ sơ bệnh án của người bệnh

- Tập huấn cho ĐTV cách thức thu thập số liệu

- ĐTV đối chiếu với tiêu chí lựa chọn đối tượng nghiên cứu, ĐTV lập danhsách người bệnh và chọn thời gian thuận lợi phù hợp với người bệnh (chiều ngàyhôm trước khi người bệnh được chuẩn bị phẫu thuật)

- ĐTV sử dụng trang thông tin nghiên cứu (phụ lục 2) để mời người bệnhtham gia vào nghiên cứu Người bệnh sau khi đọc, nếu đồng ý tham gia vào nghiêncứu thì ký vào thư mời tham gia nghiên cứu (xem phụ lục)

- Thông tin về bệnh (từ câu A1 đến câu A9) của người bệnh sẽ do điều tra viênthu thập dựa trên hồ sơ bệnh án của người bệnh tại phòng Hành chính của khoa

Ngày đăng: 08/07/2020, 22:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w