1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cái tôi trữ tình trong thơ nguyễn duy

118 250 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dẫu viết về điều gì, những câu chuyện chung riêng, về ngườithân ruột thịt hay chuyện cao hơn, xa hơn của đời sống, chúng ta vẫn nhậnthấy cái dí dỏm, ngang tàng nhưng chân thật trong cảm

Trang 1

LÊ THỊ HỒNG LIỄU

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ

NGUYÊN DUY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Hà Nội - 2016

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Nam

Hà Nội - 2016

Trang 3

giáo TS Nguyễn Văn Nam, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ emtrong suốt quá trình thực hiện luận văn này.

Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa N g

ữ V ă n - cùng các thầy cô giáo phòng sau Đại học,Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ e m hoàn thành luận vănnày

Một lần nữa e m xin cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô, cả m ơn g

ia đ ìn h cùn g t oàn t h ể các b ạn , những người thân, đã luôn ở bên độngviên, giúp đỡ và khích lệ tôi hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2016

Học viên

Lê Thị Hồng Liễu

Trang 4

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là của chính tôi thực hiệndưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Nam Kết quả nghiên cứu không saochép và không trùng với bất kỳ khóa luận nào Những trích dẫn, kết quảnghiên cứu có trong đề tài lấy từ các công bố chính thức và có ghi chú rõràng Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước hội đồng bảo vệ.

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2016

Học viên

Lê Thị Hồng Liễu

Trang 5

10Chương 1 PHẠM TRÙ CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ VÀ

HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN

DUY 101.1 Cái tôi trữ tình – một phạm trù trung tâm của thơ trữ tình

101.1.1 Cái tôi

101.1.2 Cái tôi trữ tình

121.2 Hành trình sáng tạo và khái quát về phong cách thơ của nhà thơ

NguyễnDuy 151.2.1 Hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy 151.2.2 Khái quát về phong cách thơ Nguyễn Duy

22

Trang 6

Chương 2 CÁI TÔI TRỮ TÌNH ĐA DIỆN, SÂU SẮC VÀ ĐỘC

ĐÁO TRONG THƠ NGUYỄNDUY 292.1 Cái tôi chiến sĩ, cái tôi công dân

302.1.1 Cái tôi có sức chiến đấu cao khỏe khoắn, lạc quan, giàu kinh nghiệm

thực tế chiến trường 31

2.1.2 Cái tôi mang nặng tình yêu sâu sắc, bình dị với nhân dân và đất nước

40

Trang 7

ngẫm 48

2.2 Cái tôi đời thường, cá nhân 52

2.2.1 Cái tôi trải đời, nhiều chua chát nhân tâm – thế sự 52

2.2.2 Cái tôi nhân ái, vị tha, nhạy cảm, dễ bao dung, giàu tình thương 56

2.2.3 Cái tôi khôn ngoan, tỉnh táo, thiết thực và ngang tàng, hóm hỉnh, hài hước, dân

dã 62

Tiểu kết: 66

Chương 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN

3.4.1 Ngôn ngữ 84

3.4.2 Giọng điệu 88Tiểu kết: 93

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 10

1.1 Nguyễn Duy là một nhà thơ tiêu biểu, một gương mặt thơ xuất sắctrong nền thơ ca hiện đại Việt Nam Xuất hiện trên thi đàn từ những năm 70của thế kỷ hai mươi, trong chặng đường hơn 40 năm sáng tác, ông đã cónhững đóng góp đáng kể cho nền thơ ca dân tộc: hơn chục tập thơ, 3 tập bút

ký, 1 tiểu thuyết Ông đã từng được nhận giải nhất tuần báo văn nghệ 1973,được tặng giải thưởng A về thơ ca của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1985.Nhận giải thưởng Nhà Nước về văn học nghệ thuật năm 2007 Nguyễn Duykhông thuộc về thế hệ các nhà thơ trẻ lớp trước trưởng thành trong khángchiến chống Mỹ, khi thơ ca đang phát triển mạnh với một đội ngũ tác giả dồidào trong một bối cảnh đặc biệt của dân tộc Nguyễn Duy cũng không thuộcnhững nhà thơ trẻ sau đổi mới nhiều cách tân, tìm tòi để bứt mình lên, khaisáng một con đường còn nhiều bế tắc Ông là thế hệ những nhà thơ nằm ở giaiđoạn bản lề Xuất hiện ở những năm tháng cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ,trầm mình trong những năm hậu chiến và đầu đổi mới, những nhà thơ nhưNguyễn Duy đã phải vượt qua một giai đoạn nhiều thử thách và không mấythuận lợi cho thơ ca cũng như đời sống con người Trong một bối cảnh nhưthế, khi nhiều nghệ sĩ loay hoay bế tắc, hoặc không còn đủ tự tin với cái chấtriêng của mình, Nguyễn Duy vẫn sáng tạo, đều đặn và chắc tay thì đó chính làmột minh chứng rõ nét nhất cho tài năng và thái độ lao động nghiêm túc ởông

Thơ Nguyễn Duy gắn bó máu thịt với đất nước, với cội nguồn, nhữngdòng thơ ông như chắt ra từ đời sống nhân dân Trong chiến tranh, ông viếtnhững vần thơ bên chiến hào, những vần thơ sinh ra từ lửa đạn, mang theo hơithở của một trái tim người lính giàu nhiệt huyết Sau 1975, khi miền Namhoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, thơ calắng lại, thơ có nhiều ngã rẽ, một số người tìm đến những phong cách thơ

Trang 11

(1984), Mẹ và Em (1987), Đường xa, Tình tang, Vợ ơi (1985) với nhiều tìmtòi, đổi mới Nguyễn Duy đã định hình được phong cách với một cá tính sángtạo độc đáo Dẫu viết về điều gì, những câu chuyện chung riêng, về ngườithân ruột thịt hay chuyện cao hơn, xa hơn của đời sống, chúng ta vẫn nhậnthấy cái dí dỏm, ngang tàng nhưng chân thật trong cảm xúc của Nguyễn Duy.Ngay cả khi ông tuyên bố tạm dừng sáng tác thơ để tìm một hướng đi mới,một thể nghiệm mới trong cách “trình diễn” thơ người ta vẫn thấy được sựgắn bó máu thịt của ông với nhân dân, quê hương, với cuội nguồn Ông đãmang thơ, mang tre nứa, rơm rạ quê hương mình mà đi “khắp thế gian”, để lạimột dấu ấn mới, một hình ảnh Nguyễn Duy vừa gần gũi lại vừa mới mẻ.Những sáng tạo trăn trở và không ngừng vượt mình đó chính là biểu hiện củamột nghệ sĩ chân chính.

Nhắc đến Nguyễn Duy người ta nghĩ ngay đến thơ lục bát, đến tính dântộc, đến cái đời thường giản dị và hồn nhiên Phải chăng đó chính là nhữngnét tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất cho hồn thơ Nguyễn Duy? Có lẽ đúng màchưa đủ! Bên cạnh một Nguyễn Duy dân dã chúng ta còn có một Nguyễn Duyhiện đại, bên cạnh cái hồn nhiên chân thật về cảm xúc chúng ta lại thấy mộtNguyễn Duy sâu lắng giàu triết lý, chiêm nghiệm Từ đó chúng ta có mộtNguyễn Duy vừa hóm hỉnh, ngang tàng vừa nồng nàn cảm xúc, vừa dân tộclại vừa hiện đại Một gương mặt thơ đa sắc diện như thế thực sự là một đề tàihấp dẫn với người nghiên cứu văn học

1.2 Cái tôi trữ tình có một vị trí, vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọngtrong thơ Ở mỗi thời đại, mối liên hệ giữa thơ và nhà thơ luôn là vấn đề đượccác nhà nghiên cứu quan tâm Cái tôi trữ tình chính là biểu hiện rõ nhất chomối qua hệ ấy Bản chất của cái tôi trữ tình là mang tính chủ quan, cá nhân,

Trang 12

tình không hoàn toàn đồng nhất và trùng khít với cái tôi nhà thơ mà là sự thểhiện đời sống tinh thần và tư duy sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ Nó là mộtphần cốt lõi của cái tôi nhà thơ nhưng lại không phải là bản sao trùng khít Nógợi lên khoảng cách giữa đời thực và nghệ thuật, giữa hiện thực và hiện thựcđược phản ánh Đó là phiên bản mới mẻ, chọn lọc, kết tinh và thăng hoanhững suy tư, cảm xúc và trải nghiệm của cái tôi nhà thơ: “Có nhiều cuộc đờithi sĩ gắn liền với đời thơ như hình với bóng Nhà thơ là nhân vật chính, làhình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác Những sựkiện, hành động và tâm tình trong cuộc đời riêng cũng in lại nét trong thơ”(Hà Minh Đức) Viên Mai cho rằng: “Tất cả mọi người làm thơ đều có thânphận của mình” Mỗi nhà thơ đều có một phong cách riêng, độc đáo mangdấu ấn chủ quan trong thơ Hàn Mặc Tử viết: “Người thơ phong vận như thơấy” Chính cái tôi trữ tình đã tạo nên sự khác biệt của phong cách thơ.

Có thể nói cái tôi trữ tình chính là chủ thể trung tâm của thơ Từ cái tôi

đó mà cảm xúc của nhà thơ với hiện thực được thể hiện Cái tôi trữ tình cũng

là “trục chính” để từ đó triển khai những ý tưởng nghệ thuật của bài thơ, thểhiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm Giống như người kể chuyện trong tácphẩm tự sự cái tôi trữ tình trong thơ đóng vai trò như người dẫn dắt cho toàn

bộ sự phát triển của cấu trúc tác phẩm Chúng ta đều biết đặc trưng của thơ làcảm xúc Có cảm xúc mới bật lên thơ, và thơ là để thể hiện những cung bậccảm xúc khác nhau của con người với cuộc sống Cảm xúc ấy phải được gắnvào một chủ thể và chủ thế đó ở đây chính là cái tôi trữ tình Do đó cũng cóthể khẳng định cái tôi trữ tình chính là một yếu tố quan trọng bậc nhất củathơ Muốn tìm hiểu thơ không thể bỏ qua nhân tố này

Trang 13

chúng tôi có thể phần nào tiếp cận và nhận diện được gương mặt của cái tôitrữ tình trong thơ Nguyễn Duy từ đó thấy được nét độc đáo trong phong cáchthơ của nhà thơ này.

là cái bình dị hiền hậu “một cái gì rất Việt Nam” mà chúng ta “giữ nguyêntrong thử lửa”, với “một giọng thơ chân chất, tình thơ chác, ý thơ sâu”

Ngoài những bài viết có tính khái quát, đánh giá trên nhiều bài thơ củaNguyễn Duy thì cũng có nhiều bài viết chủ yếu tập trung đánh giá vào nhữngbài thơ nổi bật của tác giả Ví dụ như bài thơ Tre Việt Nam, Ánh trăng, Đòlèn, Hơi ấm ổ rơm… là những bài thơ thu hút được nhiều nhà nghiên cứu, phêbình với nhiều hướng tiếp cận khác nhau Như bài của nhà nghiên cứu HàMinh Đức, Lê Trí Viễn… về bài thơ Tre Việt Nam, bài viết của Nguyễn BùiVợi, Lê Quang Trang,… về bài thơ Ánh trăng, Vũ Quần Phương viết về bài

Trang 14

giá, phê bình về thơ Nguyễn Duy qua một tác phẩm cụ thể nhưng lại cónhững nhận định rất xác đáng, chỉ ra được những đặc sắc của thơ NguyễnDuy Trong đó chúng tôi đặc biệt nhận thấy các nhà nghiên cứu đều đánh giácao những ân tình gắn bó của Nguyễn Duy với nhân dân thông qua nhữngcảm xúc chân thực và đời thường.

Trong các bài viết nghiên cứu, phê bình về thơ Nguyễn Duy, công phuhơn cả là bài của Nguyễn Quang Sáng và Chu Văn Sơn, hai nhà nghiên cứu

đã có cái nhìn sâu sắc hơn về thơ Nguyễn Duy, với những nhận định tươngđối sắc sảo và chính xác

Trong bài viết Đi tìm tiềm lực thơ Nguyễn Duy - Phụ lục cho tập Mẹ và

em, Nguyễn Quang Sáng đã khẳng định bước tiến của Nguyễn Duy, tìm ra nétđộc đáo, những nét khác biệt trong thơ anh Có những nết khác biệt ấy là do

“có sự chuyển động trong nội tâm mà ứa ra câu chữ” Nhờ đó mà NguyễnDuy “Dù ở xứ lạ vẫn bắt được cái hồn của con người và hồn của cây cỏ”.Ông nhấn mạnh Nguyễn Duy có ưu thế trội hơn hẳn trong thể lục bát “ThơNguyễn Duy không rơi vào tình trạng quen tay, mà có sự biến đổi, chuyểnđộng trong câu chữ”, thành công của thơ lục bát Nguyễn Duy là nhờ vào thếgiới nội tâm phong phú và năng động của chính nhà thơ

Qua phân tích một số bài thơ cụ thể, Nguyễn Quang Sáng đi tới nhậnxét: “Nguyễn Duy vẫn sáng tác với bản sắc riêng của mình, không biến dạng,không pha tạp ở hoàn cảnh sống, dù ở đề tài chiến trận hay đề tài tình yêucon người, quê hương thì cũng cùng chung cái gốc nhân bản và tâm hồn nhânhậu ”, “Nguyễn Duy viết đều và có chất lượng về quá khứ, hiện tại, vềchiến tranh và tình yêu, về quê hương gốc gác và những người thân đều thốngnhất từ trong tâm tưởng, trong mối giao lưu giữa hiện thực với văn hóa cộinguồn”

Trang 15

đi từ quan niệm nghệ thuật của thơ Nguyễn Duy “tôi là dân vậy tôi tồn tại”.

Và có thể thấy “Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân ngay từ quan niệm nhân sinh

và nghệ thuật” và quan niệm ấy đi suốt chặng đường thơ Nguyễn Duy càng

về sau càng sắc nét Theo Chu Văn Sơn, Nguyễn Duy coi chân thành là cứucánh, cứu tinh của mình Những vần thơ của ông là “tâm tình ở đằng sau tâmtình” Những vần thơ đánh thức lương tri, dám nói thẳng nói thật không hề nétránh Đánh thức tiềm lực, Nhìn từ xa tổ quốc, Kim - Mộc - Thủy - Hỏa -Thổ Cái tôi tự họa chân thành đến mức không hề làm duyên làm dáng,không nề hà những nhếch nhác bụi bặm Có thể thấy nhà nghiên cứu Chu VănSơn đã gọi tên ra được nét đặc trưng cơ bản nhất trong nhân sinh quan củaNguyễn Duy từ đó chi phối tới các yếu tố nghệ thuật khác trong thơ ông.Đây là một bài viết có giá trị, gợi mở nhiều cho chúng tôi khi tiếp cận đề tài

Tiếp cận thơ Nguyễn Duy từ góc độ nội dung chúng ta có thể kể đếncác bài viết như Tìm giọng mới thích hợp với người thời mình của Lại Nguyên

Ân, Nguyễn Duy thi sĩ đồng quê của Nguyễn Đức Thọ, Người vợ trong thơNguyễn Duy của Đỗ Ngọc Thạch, Nguyễn Duy – Người thương mến đến tậncùng chân thực của Vũ Văn Sỹ,… Các bài viết này chỉ ra rằng thơ NguyễnDuy thường hướng tới các đề tài như quê hương, tình yêu con người, đấtnước,… những đề tài muôn thuở gần gũi và đời thường Nhà thơ thườnghướng tới “những cái mong manh mà vững chắc trong đời” và như nhànghiên cứu Vũ Văn Sỹ đã dùng ngay chính câu thơ của Nguyễn Duy mà kháiquát về thơ ông đó là sự tận cùng của chân thực, của cảm xúc mến thươngdành cho nhân dân, đất nước mình

Tiếp cận từ phương diện nghệ thuật nhiều nhà nghiên cứu thường xoáysâu vào các khía cạnh trong tác phẩm của Nguyễn Duy như thể thơ dân tộc

Trang 16

Nguyễn Duy, ngôn ngữ thơ ông vừa đời thường, dân dã vừa mang màu sắchiện đại, Vương Trí Nhàn thì cho rằng “là bản hợp xướng của những chữ lạ”hay Hồ Văn Hải thì cho rằng đặc điểm nổi bật của thơ lục bát Nguyễn Duy làsáng tạo những từ láy,…

Thơ Nguyễn Duy cũng được chọn làm đề tài nghiên cứu trong một sốluận văn thạc sĩ: tác giả Dương Tú Anh với đề tài Phong cách thơ NguyễnDuy, tác giả Nguyễn Thị Đỗ Quyên với đề tài Thơ lục bát Nguyễn Duy, tácgiả Mai Thị Nguyệt với đề tài Tìm hiểu phong cách nghệ thuật thơ NguyễnDuy, tác giả Phạm Thị Phương với đề tài Thơ Nguyễn Duy nhìn từ góc độ tưduy nghệ thuật

Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát thấy một số bài báo giới thiệu tác phẩmcủa Nguyễn Duy, các bài phỏng vấn tác giả, Nó cho thấy sức hút củaNguyễn Duy đối với độc giả cũng những giới nghiên cứu phê bình

Qua khảo sát tư liệu về các công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Duychúng tôi nhận thấy rằng:

Thứ nhất, thơ Nguyễn Duy đã được quan tâm và chú ý nghiên cứu tìmhiểu từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau

Thứ hai, các nhà nghiên cứu đều có những đánh giá nhận định củariêng mình về thơ Nguyễn Duy nhưng khá gặp gỡ và đồng thuận ở một vàiphương diện như khẳng định sự thành công của ông trong việc sử dụng thểthơ lục bát, các chất liệu văn học dân gian, khẳng định chất “thảo dân”, mộcmạc mà giàu chiêm nghiệm trong thơ Nguyễn Duy, đánh giá cao tình cảm củaNguyễn Duy dành cho nhân dân, quê hương, đất nước

Những tư liệu đã có phần nào là những gợi mở cho chúng tôi trong quátrình tiếp cận đề tài của mình Chúng tôi cũng hi vọng hướng tiếp cận của

Trang 17

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ của luân văn là phải thấu hiểu, phân tích làm rõ được cái tôitrữ tình trong thơ Nguyễn Duy

Làm nổi bật được cái tôi trữ tình đa diện, sâu sắc và độc đáo trong thơNguyễn Duy Đó là cái tôi chiến sĩ, cái tôi công dân, cái tôi đời thường Qua

đó thấy được sự phân hóa đấu tranh và thống nhất của các mặt khác nhautrong nhân cách một thi sĩ – chiến sĩ – thảo dân

Thấy được nghệ thuật tiêu biểu mà Nguyễn Duy đã sử dụng để gópphần biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ mình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi coi cái tôi là yếu tố chủ quan, là yếu tốcăn bản làm nên nội dung trữ tình Đồng thời cái tôi cũng là hạt nhân tổ chứccác yếu tố khác nhau như đề tài, cảm hứng, tứ thơ, giọng điệu và ngônngữ Trên cơ sở tìm hiểu cái tôi trữ tình luận văn đi vào nghiên cứu những

Trang 18

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn khảo sát chính trên các tập thơ sau của Nguyễn Duy: Ánhtrăng (1984), Mẹ và em (1987),Về (1994), Bụi (1997, “Nguyễn Duy-Thơ”(2010-NXB Hội nhà văn.Hà Nội)

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thưc hiện đề tài,luận văn vận dụng phối hợp một sốphương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp loại hình

- Phương pháp hệ thống

6 Đóng góp của luận văn

6.1.Về mặt lí luận: Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống vềcái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy.Từ đó chúng ta thấy được vai trò củacái tôi trữ tình trong đời sống thể loại

6.2 Về thực tiễn:Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các chuyên

đề văn học Việt Nam đương đại trong nhà trường

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương chính như sau: Chương 1: Phạm trù của cái tôi trữ tình trong thơ và hành trình sáng tạocủa nhà thơ Nguyễn Duy

Chương 2: Cái tôi trữ tình đa diện, sâu sắc và độc đáo trong thơNguyễn Duy

Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy

Trang 19

NỘI DUNGChương 1PHẠM TRÙ CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ

VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN DUY1.1 Cái tôi trữ tình – một phạm trù trung tâm của thơ trữ tình

1.1.1 Cái tôi

Cái tôi là một phạm trù triết học, thể hiện ý thức của con người về bảnthể tồn tại của mình Vì vậy đây là một phạm trù quan trọng, được quan tâmtìm hiểu ngay từ những ngày đầu tiên của triết học cổ đại Có cái tôi, có ýthức về cái tôi con người mới nhận diện được mình như một cá thể độc lậptồn tại khác với thế giới tự nhiên bên ngoài và khác với những cá thể khác.Cái tôi càng phát triển càng thể hiện trình độ nhận thức và tự ý thức cao củacon người về cá nhân Đó cũng chính là tiền đề cho sự phát triển của xã hội

Nội hàm của cái tôi rất rộng và bao hàm nhiều yếu tố Ở đây chúng tôichỉ quan tâm tới những góc độ liên quan tới đề tài Mỗi nhà triết học lại nhìnthấy cái tôi ở một góc độ khác nhau R Đề - Các - nhà triết học người Phápthì khẳng định cái tôi dưới quan điểm nhị nguyên luận bằng một mệnh đề nổitiếng “tôi tư duy là tôi tồn tại” Ở đây cái tôi được nhìn nhận như một thực thểđộc lập, có tư duy và bằng tư duy để mà khẳng định sự tồn tại của mình

Đến Hêghen - nhà triết học biện chứng người Đức thì khẳng định vaitrò tuyệt đối của cái tôi, coi đó là trung tâm của sự tồn tại, là thể hiện của khátvọng, khả năng của con người trong đời sống

C Mac nhìn nhận cái tôi, con người cá nhân vừa là khách thể vừa làchủ thể của mối quan hệ xã hội Cá nhân, con người cá nhân là hạt nhân phảnánh bộ mặt xã hội Do đó giải phóng con người cá nhân là để mỗi cá thể tìmthấy tự do của mình, phát huy hết khả năng của mình

Trang 20

Như vậy trong triết học, nói một cách đơn giản nhất thì cái tôi đượchiểu như là cái tôi của ý thức để phân biệt cá thể này với cá thể khác.

Trong tâm lý học, cái tôi được coi là phần cốt lõi của tính cách, liênquan tới thực tại, chịu ảnh hưởng của tác động xã hội Theo nhà tâm lý họcFreud thì cái tôi là một trong ba miền của tâm thức Cái tôi được hình thànhngay từ khi con người được sinh ra và qua một quá tình tiếp xúc với thế giớibên ngoài, cái tôi sẽ học được cách cư xử sao cho kiểm soát được những hammuốn vô thức không được xã hội chấp nhận Ở đây có thể hiểu cái tôi có vaitrò trung hòa giữa những ham muốn của vô thức của bản năng với những tiêuchuẩn, giới hạn của nhân cách xã hội

Khái niệm cái tôi cũng được các tôn giáo quan tâm, như trong Phậtgiáo có phần về “ngã” (có thể hiểu như là tôi) Tuy nhiên cách hiểu về “ngã”của Phật giáo không hoàn toàn trùng với cách hiểu về cái tôi trong triết họchay tâm lý học

Trong đời sống có thể hiểu cái tôi như một bản thể tinh thần của conngười Nó là tất cả bản sắc của một cá nhân, là cá tính, tâm hồn, nhân sinhquan, thế giới quan của con người Cái tôi càng đặc sắc con người càng giátrị Một xã hội càng đề cao, càng tôn trọng cái tôi của con người thì càng thểhiện sự văn minh và phát triển của mình Tuy nhiên mỗi cái tôi cũng bị hạnđịnh bởi những giới hạn của đạo đức, pháp luật

Như vậy khái niệm cái tôi là một khái niệm được quan tâm ở nhiều lĩnhvực khoa học, tôn giáo khác nhau Nó như một phạm trù cơ bản để con người

tự nhận thức về mình Cái tôi cá nhân qua mỗi thời kỳ phát triển của loàingười lại được đối xử khác nhau Nhưng chúng ta có thể nhận thấy rằng cáitôi càng được tự do thì con người dường như lại càng đạt được những thànhtựu về khoa học, nghệ thuật

Trang 21

1.1.2 Cái tôi trữ tình

Từ khái niệm về cái tôi, chúng ta có thể cắt nghĩa phần nào cái tôi trữtình Hiểu một cách đơn giản nhất, cái tôi trữ tình chính là cái tôi được thểhiện trong thơ trữ tình Hay nói cách khác cái tôi trữ tình chính là những nhậnthức, cảm xúc về đời sống, về thế giới khách quan thông qua những biểu đạtcủa thơ trữ tình, tạo nên một thế giới tinh thần độc đáo, có tính thẩm mỹ cao,truyền đạt đến người đọc một tư tưởng, cảm xúc nào đó

Cái tôi trữ tình là một phạm trù tổng hòa của nhiều yếu tố Có thể nhìnnhận cái tôi trữ tình ở ba phương diện: bản chất cá nhân (mối quan hệ giữa cáitôi trữ tình với tác giả), bản chất xã hội (mối quan hệ giữa cái tôi với cái tacộng đồng) và bản chất thẩm mỹ (cái tôi trữ tình là trung tâm sáng tạo và tổchức văn bản)

Heghen trong Mỹ học đã cho rằng: Nguồn gốc và diểm tựa của nó là ởchủ thể và chủ thể là người duy nhất độc nhất mang nội dung Chính vì vậycho nên cá nhân phải có được một bản tính thi si, phải có một trí tưởng tượngphong phú phải có một cảm xúc dồi dào và có thể lĩnh hội được những ý niệmsâu sắc và lớn lao (dẫn lại theo Hà Minh Đức, Lý luận văn học trang 225).Như vậy có thể thấy cái tôi trữ tình có vai trò quan trọng trong thơ Người làmthơ phải mang được cái tôi của mình vào cái tôi trữ tình, thể hiện được nhữngcảm nghĩ về đời sống của bản thân, có chiều sâu, có nét độc đáo khác lạ với

cá tính riêng Tuy nhiên cái tôi của nhà thơ và cái tôi trữ tình không thể hoàntoàn trùng khít Cái tôi của nhà thơ được phản ánh, cách điệu trong cái tôi trữtình Thế nên chúng ta không thể đồng nhất cái tôi trữ tình với tác giả Và cáitôi trữ tình cũng càng không phải là nhân vật trong thơ trữ tình Không thể coicái tôi trữ tình bằng một nhân vật xưng danh nào đó trong bài thơ Bày tỏquan điểm về mối quan hệ giữa cái tôi trữ tình và tác giả, nhà lý luận văn họcNga Ju Tynianov đã viết: giọng điệu của tác giả mà ta cảm thấy trong thơ lại

Trang 22

chính là bản thân tác phẩm nghệ thuật, là khách thể nghệ thuật, là một thựctại loại khác so với thực tại sống, cho nên cái tôi đó đã không phải là ngườisáng tạo ra thế giới nghệ thuật này mà chỉ là người dân sống trong thế giớiđược sáng tạo Cái tôi trữ tình mang bản sắc của cái tôi tác giả nhưng khi nhàthơ sáng tạo ra nó, nó đã trở thành một thực thể độc lập, tách biệt với nhà thơ.

Có lẽ vì vậy mà cái tôi trữ tình không bị hạn định trong thế giới cá nhân củangười sáng tạo ra nó Nó được mở ra đến vô hạn, có khả năng đề cập tớinhững vấn đề mang tính nhân loại hơn là số phận tiểu sử của cá nhân nhà thơ

Tuy nhiên cái tôi trữ tình cũng không thể tách rời được cá nhân nhàthơ Nó ít nhiều chính là hiện thân của tác giả Qua thơ ta có thể thấy đượcnhững kí ức, những kỉ niệm, những tình cảm của nhà thơ về chính cuộc đờimình Nhiều khi cảm xúc của nhà thơ được khái quát hướng tới những thứ lớnlao hơn Nên cái tôi trữ tình khi đó lại thể hiện được cảm xúc, tâm trạng, tưtưởng,… của một lớp người, một thế hệ mà nó đại diện

Cái tôi trữ tình là sản phẩm của cá nhân, mang dấu ấn cá nhân song nócũng không thể tách rời cái khách quan là đời sống xã hội Cảm xúc của mỗi

cá nhân được khơi gợi từ chính đời sống Do đó cái tôi trữ tình trong thơ cũngphản ánh chính những cảm xúc của thời đại Cái tôi trữ tình vì thế vừa mangtính chủ quan nhưng cũng mang tính khách quan, lịch sử Chỉ có như vậy cáitôi trữ tình từ cảm xúc của một người mới chạm tới được cảm xúc của muônngười khi đọc thơ

Có thể nói cái tôi trữ tình là cơ sở để làm nên bản sắc cho thơ trữ tìnhkhác biệt với thơ tự sự Cái tôi trữ tình là chủ thể bộc lộ những suy nghĩ, cảmxúc trong thơ Nó không giống như các nhân vật trong tự sự, nó không mangmột diện mạo cụ thể, không có tiểu sử hay hành động Cái tôi trữ tình đượcthể hiện qua giọng điệu cảm xúc, cách cảm, cách nghĩ,… những điều mơ hồnhưng lại làm nên hồn cốt của thơ

Trang 23

Cái tôi trữ tình chính là những gửi gắm của nhà thơ về cảm xúc, về suy

tư của mình trước cuộc sống Nhận diện được cái tôi trữ tình trong thơ là nhậndiện được tâm tư tình cảm của nhà thơ Do đó muốn nắm bắt được một tácphẩm trữ tình người nghiên cứu không thể không quan tâm đến cái tôi trữ tình

Quá trình phát triển của văn học dân tộc cũng cho chúng ta thấy nhữngdiện mạo khác nhau của cái tôi trữ tình Trong văn học dân gian mà cụ thểhơn ở thể loại thơ trữ tình – ca dao, chúng ta thấy cái tôi trữ tình không hiệnlên với gương mặt của một cá nhân cụ thể mà mang gương mặt của một cộngđồng, một đám đông Đó là những người lao động cần cù chịu thương chịukhó, sống ân tình thủy chung và giàu tình cảm Không gian và thời gian để cáitôi trữ tình xuất hiện trong ca dao cũng không mang tính cá thể hóa mà phầnlớn là các không gian chung gắn với lao động và cuộc sống của người bìnhdân xưa Thời gian phần lớn là mang tính ước lệ Đến văn học trung đại, doảnh hưởng của tư tưởng xã hội nên cái tôi trữ tình cũng có những màu sắcriêng Văn học ít đề cập tới vấn đề riêng tư của đời sống con người cá nhân

mà hướng tới các vấn đề của dân tộc, cộng đồng Cái tôi trữ tình cũng vì thế

mà mang màu sắc phi ngã, các đại từ nhân xưng ít được sử dụng Ý thức vềmột cái tôi cá tính có tồn tại và vẫn được các nhà thơ thể hiện song vẫn chịu

sự chi phối của tính quy phạm của văn học trung đại Ở một số nhà thơ chúng

ta thấy được cái tôi cá nhân, cái tôi trữ tình đặc sắc đối diện với chính mìnhphần nào vượt qua những khuôn khổ của văn học trung đại như Hồ XuânHương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát,…

Đến văn học lãng mạn và tiêu biểu là phong trào Thơ Mới chúng ta lạithấy một cái tôi trữ tình khác Đó là cái tôi cá nhân, cái tôi trong quá trình tìmlại diện mạo cá thể của mình, với sự tự ý thức cao độ Khi này cái tôi trữ tìnhvừa có cái mạnh mẽ, tự do lại cũng có cái yếu ớt, cô đơn và bất lực Các nhàthơ lãng

Trang 24

mạn dùng cái tôi của mình để cảm nhận và phản ánh thế giới Vì thế cái tôi

ấy không tránh khỏi những bi quan, ảo não bên cạnh cái say sưa, bay bổng

Cái tôi trữ tình trong thơ cách mạng lại là cái tôi cộng đồng Do nhữngyêu cầu của lịch sử, của dân tộc mà người nghệ sĩ thời kỳ này phần nào bỏ đinhững vấn đề riêng tư của mỗi cá nhân để hòa mình vào đời sống chung củađất nước Cái tôi trữ tình vì thế cũng mang một diện mạo mới Không chỉ lànhững xúc cảm cá nhân mà lúc này nó là xúc cảm của một lớp người, của mộtthế hệ chung ý chí, lý tưởng và mục tiêu Cái tôi trữ tình trong thơ đổi mới lạitìm về với đời sống cá nhân, đi sâu vào thế sự đời tư, phản ánh những trăn trở,đấu tranh của người nghệ sĩ Một cái tôi đa diện, phức tạp hơn song sinhđộng, gần gũi và đời thường hơn xuất hiện

Như vậy có thể nhận thấy, cái tôi trữ tình là một phạm trù đặc biệt quantrọng trong thơ trữ tình Nó là một nhân tố thể hiện sâu sắc tư tưởng, cảm nghĩcủa nhà thơ, chi phối cách tổ chức tác phẩm Cái tôi trữ tình và cái tôi nhà thơ

có một độ giãn cách nhất định mà chúng ta không thể đánh đồng làm một Cáitôi trữ tình cùng với sự phát triển của văn học cũng mang những diện mạokhác nhau, phù hợp với đời sống hiện thực của từng giai đoạn, thể hiện nhữngđặc trưng của thời đại

1.2 Hành trình sáng tạo và khái quát về phong cách thơ của nhà thơNguyễn Duy

1.2.1 Hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy

Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 tại Đông

Vệ, Đông Sơn, Thanh Hóa (nay thuộc phường Đông Vê, thành phố ThanhHóa) Năm 1966 ông nhập ngũ trở thành bộ đội thông tin tham gia chiến đấutrực tiếp trên các chiến trường ác liệt nhất lúc bấy giờ như Đường 9 – KheSanh, Đường 9 – nam Lào, chiến trường miền Nam, biên giới phía Bắc Saukhi chiến tranh kết thúc, ông giải ngũ quay về với nghề cầm bút Ông làm

Trang 25

việc tại tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam và làm tới trưởng đạidiện của tờ báo này tại phía Nam Có thể nói những năm tháng tuổi thơ với kí

ức về một vùng quê gian khó và những năm tháng chiến đấu trực tiếp trongkháng chiến chống Mỹ rồi chiến tranh biên giới sau này để lại trong thơ ôngnhiều dấu ấn sâu đậm

Nguyễn Duy làm thơ từ khá sớm Đến năm 1973 ông đã đạt giải nhấtcuộc thi thơ do tuần báo Văn nghệ tổ chức với chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầutrời vuông, Tre Việt Nam những bài thơ tiểu biểu của tập thơ Cát Trắng.Ngoài làm thơ Nguyễn Duy còn viết tiểu thuyết, bút ký Tuy nhiên người tabiết tới Nguyễn Duy chủ yếu trong tư cách của một nhà thơ bởi đây là thể loạiông thành công hơn cả

Năm 1997, Nguyễn Duy từng tuyên bố “gác bút” để thử nghiệm mộthướng đi mới trong cuộc đời sáng tạo của mình Ông tìm cách “trình diễn”thơ mới và đưa những bài thơ với cách thể hiện độc đáo đó đến với bạn đọckhông chỉ ở Việt Nam Ông in thơ trên các chất liệu đặc biệt như tranh, tre,nứa, lá, giấy dó, những chất liệu đậm tính dân tộc Nguyễn Duy không chỉ

“trình diễn” thơ của mình mà ông còn biên tập và cho ra mặt tập thơ Thiềnthời Lý Trần gồm 30 bài thơ viết trên giấy dó có cả bản nguyên tiếng Hán,bản phiêm âm, dịch nghĩa, dịch thơ bằng tiếng Việt và tiếng Anh kèm theoảnh nền, ảnh minh họa của ông Dẫu là một hướng đi khác nhưng dường nhưvẫn là ông là một Nguyễn Duy say đắm với những gì dân tộc nhất, dân dãnhất Hướng đi đó của ông ít nhiều đã tạo được dấu ấn trong lòng những độcgiả yêu thơ trong và ngoài nước

Năm 2007, Nguyễn Duy được tặng giải thưởng Nhà nước về Văn họcnghệ thuật cho những cống hiến của ông

Nguyễn Duy sáng tác cả thơ, tiểu thuyết và bút ký Trong đó thơ chiếm

số lượng lớn hơn cả Những tập thơ của ông có thể kể đến là:

Trang 26

rõ Rồi từ đó thơ cứ đến một cách tự nhiên như cảm xúc phải được tỏ bày.Trong những năm tháng tuổi thơ của Nguyễn Duy, phong trào thơ thiếu nhimiền Bắc lại phát triển mạnh Chính những điều kiện như vậy đã thúc đẩymột cậu bé nơi miền quê xa xôi có bài thơ đăng báo ngay từ khi 9 tuổi, lúcđang học lớp 2 trường làng.

Khi Nguyễn Duy nhập ngũ, ông bắt đầu sáng tác chuyên tâm và đềuđặn hơn Năm 1973 giải A của cuộc thi thơ báo Văn nghệ như một dấu mốctrong hành trình sáng tạo của ông Từ đó người ta biết đến Nguyễn Duy, biếtđến một nhà thơ của Tre Việt Nam, của Hơi ấm ổ rơm Một chàng trai 25 tuổi,trưởng thành trong những năm kháng chiến chống Mỹ sục sôi, dùng chínhtuổi trẻ và nhiệt huyết của mình mà đi qua những năm tháng gian nan mà vĩđại của dân tộc Trong một tâm hồn như thế, ta vừa thấy nét trẻ trung, sôi nổivừa thấy sự đằm thắm, sâu sắc Thơ Nguyễn Duy trong giai đoạn này chanchứa những tình cảm chân thành và sâu sắc với bạn bè, với đồng đội, với

Trang 27

người thân với quê hương và tổ quốc Ông không hướng ngòi bút tới nhữngđiều lớn lao, vĩ đại Ông bắt đầu từ những giản dị và đời thường từ những thứthân quen gần gũi Ngay từ giây phút bắt đầu ấy chất “thảo dân” như đã sẵn

có tự nhiên trong thơ Nguyễn Duy Không cần gồng mình, không lên gân thơNguyễn Duy vẫn là thơ của nhân dân, thơ cho nhân dân Giữa thời kỳ nở rộcủa thơ ca, giữa đội ngũ những người cầm bút trẻ dồi dào và sung mãn,Nguyễn Duy đã tạo được dấu ấn riêng của mình, “chất” riêng của mình bằngmột hồn thơ mượt mà và giản dị

Trong thời kỳ hậu chiến, Nguyễn Duy cho ra mắt độc giả tập thơ Ánhtrăng, tập thơ đã được giải thưởng của Hội Nhà văn (1978) Nhìn chung, sovới giai đoạn trước, thời kỳ này thơ Nguyễn Duy không có quá nhiều thay đổi

có tính chất bước ngoặt Thơ ông vẫn vậy, vẫn mang cái mộc mạc, chânphương của một người “thảo dân” hiền lành chất phác Nguyễn Duy vẫn gắn

bó máu thịt với nhân dân, vẫn không ngừng nhắc nhở mình về cội nguộn củamình, của tâm hồn mình chính là quê hương, đất nước, là những thứ giản dịnhư đồng, như ruộng Ngoài những thành công được ghi nhận, chúng ta cũngthể không thừa nhận thơ Nguyễn Duy thời kỳ này còn có những hạn chế Đâu

đó vẫn còn sự gò bó, cầu kỳ, chưa đều tay trong cách cảm, cách nghĩ, cách thểhiện

Thời kỳ thứ 3 trong thơ Nguyễn Duy là thời kỳ đổi mới Có lẽ vì chưađừng ca ngợi, cũng chưa từng im lặng nên thơ Nguyễn Duy trước và sau đổimới tuy có khác biệt nhưng không phải là sự thay đổi bước ngoặt, sang tranghoàn toàn Người ta chỉ thấy chín hơn, đằm hơn, đến “thuần nhất” (chữ dùngcủa Vương Trí Nhàn) trong hồn thơ Nguyễn Duy Thơ Nguyễn Duy thời kỳnày vừa dân dã vừa hiện đại, có sự từng trải và vẫn giữ được nét tinh tế Ởthời kỳ này chúng ta không thể không kể tới bộ ba bài thơ: Đánh thức tiềmnăng (viết từ 1980 đến 1982), Nhìn từ xa … tổ quốc (hoàn thành năm 1989)

và Kim mộc thủy hỏa thổ (1999) thể hiện những trăn trở suy tư của nhà thơ về

Trang 28

tương lai đất nước, về con người và các vấn đề nhân sinh Dường như lúc này

ở Nguyễn Duy người ta đã thấy rõ độ chín về nhận thức để không còn sự gò

bó, cầu kỳ trong cách nghĩ, cách làm Có lẽ khi bản thân nhà thơ đã kinh quanhững biến động của lịch sử, đã trải nghiệm qua những năm tháng khó khăngian khổ của mỗi cá nhân và của cả dân tộc, cái nhìn sẽ rộng mở hơn để cáchcảm, cách nghĩ tĩnh lại, chậm lại và sâu hơn

Trong tuyển tập thơ của mình, Nguyễn Duy bổ sung thêm một số bàithơ, sắp xếp, tuyển chọn các bài thơ tiêu biểu của các tập thơ trước để xuấtbản (2010) Trong tuyển tập thơ này ông chia các tác phẩm của mình thành 4phần: Đường làng, đường nước, đường xa, đường về Có lẽ nó cũng chính lànhững chặng đường mà Nguyễn Duy đã đi qua Bắt đầu từ quê hương, từnhững nẻo đường muôn màu nhưng mang màu sắc của một tuổi thơ vớinhững người thân yêu nhất, của mảnh đất Thanh Hóa với dòng sông Mẹ âmthầm trôi Rồi con đường ấy lớn lên mở ra những chân trời mới, đi tới nhữngmiền đất mới, thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của một công dân với Tổ quốccủa mình Đó là những chặng đường nước với những năm tháng kháng chiếngian khổ mà anh hùng, với những điều lớn lao mà giản dị Để đường xa hơnvới lục bát xa xứ, để đứng từ nơi xa, khách quan hơn mà nhìn lại nhân dânmình, quê hương mình, tổ quốc mình, để nỗi nhớ ám ảnh trong cõi về tinhkhôi Đường xa là những sáng tác khi Nguyễn Duy sống ở Nga hay ở Mỹ vàcác nước châu Âu Một cuộc cống xa quê hương, tới những miền đất pháttriển và văn minh hơn, nhưng trong Nguyễn Duy luôn đau đáu hình ảnh quêhương, đất nước Ông nhận ra rằng chẳng nơi đâu bằng nhà của mình Nơi xa

xứ có những nỗi buồn, nỗi tủi cho cái nghèo, cái khó của quê hương đất nướcnhưng chưa bao giờ cái hồn cốt, dân dã trong Nguyễn Duy phai nhạt Đối vớiông không có đối trọng giữa “chân quê” và “thành thị” vì ở đâu và nơi nàoông vẫn chỉ là ông một “thảo dân” chân chất nhất Rồi cuối cùng con đường

Trang 29

ấy lại quay về thôi, đường về như một lẽ tất yếu của cuộc hành trình Bắt đầu

từ nơi nào thì tìm về nơi ấy Bắt đầu từ đồng, từ ruộng thì tìm về với đồng vớiruộng, với rơm, với rạ với những yêu thương luôn mời gọi ta về Nguyễn Duytrong gia tài thơ của mình luôn dành riêng cho vợ một khoảng không hề nhỏ

Có nhà nghiên cứu đã đánh giá rằng có lẽ sau Tú Xương chỉ có Nguyễn Duyviết về vợ nhiều và xúc động đến thế Vợ đã trở thành một “cõi về” đặc biệtcủa Nguyễn Duy Đường về Nguyễn Duy không chỉ là tìm đến những ngườithân yêu như một chốn bình yên Hơn thế đường về là một cuộc hành trìnhtìm lại chính mình, khẳng định lại lý tưởng của mình Về là thú nhận nhữngsai lầm đã mắc, là khẳng định lại những quan điểm sống của riêng mình:

Cứ chìm nổi với đám đôngRiêng ta xác định ta không là gì [13,5]

(Bao cấp thơ)

Về với Nguyễn Duy còn là tìm về với những kỉ niệm tuổi học trò tươiđẹp với tà áo trắng bay thấp thoáng đâu đây, với Kính gửi tuổi học trò “đẹptới không đâu vào đâu”:

Học trò con trai ma quỷHọc trò con gái thần tiên [13, 10]

(Kính gửi tuổi học trò)

Về còn là đối diện với thực tại với cuộc sống xô bồ, với tuổi già, với sự

cô độc của tâm hồn thi sĩ Nhưng Về cũng là quay lại với những gì gắn bó yêuthương nhất, với chính tâm hồn và tình yêu của mình

Hành trình thơ của Nguyễn Duy cũng như hành trình của bất kì nghệ sĩnào đều phải đi qua những thăng trầm để chín dần lên, trưởng thành hơn vềphong cách Nguyễn Duy đã đi từ cái đơn sơ mộc mạc, từ làng quê thânthương của mình, điểm trở về có thể vẫn vậy về hình thức nhưng thực tế lại là

sự phát triển hơn nâng cao hơn Trong hành trình thơ, hành trình sáng tạo

Trang 30

Nguyễn Duy đã phải tự mình vượt qua những khó khăn thử thách, tự mìnhđấu tranh với chính mình, luôn tìm tòi sáng tạo để hành trình thơ được đầyđặn và không lặp lại Với một quan niệm thơ, một đường hướng đứng đắnngay từ đầu, Nguyễn Duy đã tự tin đi trọn vẹn hành trình nhọc nhằn củamình Hành trình đó còn là hành trình để nhà thơ tự nhận diện, tìm tòi và thấuđáo cái tôi của chính mình Và Nguyễn Duy đã có một hành trình ý nghĩa,trọn vẹn Nhìn lại tên các tập thơ chúng ta nhận ra rằng tập thơ đầu tay củaNguyễn Duy là Cát trắng, tập thơ kết thúc (như lời nhà thơ tuyên bố năm1997) là Bụi Qua đó, chúng ta có thể nhận ra nhiều điều Nguyễn Duy đã đi

từ “xó bếp” đến “thế giới”, đã từ “cát” để trở về làm hạt “bụi” Đó vừa là mộthành trình hướng ra bên ngoài ngày càng rộng mở và bao dung lại cũng làhành trình hướng vào bên trong ngày một thấu đáo và tinh tế Hành trình củaNguyễn Duy vì thế đã giúp chính ông tìm thấy cái tôi của mình một cách trọnvẹn và sâu sắc nhất

Như vậy hành trình thơ của Nguyễn Duy có những quãng khác nhau,những nhánh rẽ khác nhau song luôn thống nhất Bởi trong cuội nguồn tâmthức, Nguyễn Duy đã xác định cho mình một hướng đi ấy, với kim chỉ nam

ấy, để mỗi bước ông đi dẫu đường xa hay gần đều dẫn về với nhân dân, vớicái mộc mạc, giản dị và đời thường Ngay cả sau nay khi ông quyết định dừngviệc sáng tác để làm một mảng nghệ thuật khác thì cái chất Nguyễn Duy vẫnkhông bao giờ thay đổi Ông muốn mang những thứ đơn sơ nhất, dân tộcnhất để chinh phục thế giới này Càng hiện đại thơ Nguyễn Duy càng dân tộc.Trong một bài phỏng vấn, Nguyễn Duy đã chia sẻ: Tôi sinh ra ở nông thôn,làm ruộng từ bé, đằm mình trong đất cát, rơm rạ, cua ốc và ngôn ngữ nhàquê Lớn lên thì đi lang thang nhiều nơi Nhưng cái thần hồn của làng quêtrong tôi nó cứ nhập vào như lên đồng Có lẽ “thần hồn” ấy là chất kết dính

Trang 31

cho mọi hành trình của Nguyễn Duy đù đi tới đâu, làm việc gì cũng luônthống nhất về quan điểm, vẫn mang những đặc trưng riêng có.

1.2.2 Khái quát về phong cách thơ Nguyễn Duy

Phong cách nghệ thuật của một người nghệ sĩ là một yếu tố quan trọngđánh giá thành công của người nghệ sĩ ấy trên con đường lao động nghệ thuậtcủa mình Một nghệ sĩ thành công không thể không có một phong cách riêng,định hình tên tuổi, cá tính của mình trong lòng người thưởng thức Phongcách nghệ thuật được hiểu là một phạm trù thẩm mĩ chỉ sự thống nhất tươngđối của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nótoát lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn [21,255] Như vậy,muốn có phong cách, cá tính sáng tạo của nhà văn phải được thể hiện mộtcách rõ ràng, có hệ thống qua nhiều tác phẩm tạo thành một đặc trưng nổi bậttrong sáng tác Nó phải có nét riêng biệt, sự độc đáo của riêng người cầm bútkhông thể trộn lẫn với bất cứ tác giả nào khác Vì vậy không phải nhà văn nàocũng tạo dựng được phong cách cá nhân cho riêng mình

Nguyễn Duy có phong cách thơ khá độc đáo mang dấu ấn riêng củaông Thơ Nguyễn Duy có sự kết hợp hài hòa giữa cái duyên dáng trữ tình vớichất thế sự đậm đặc, nhiều bài thơ là tiếng nói khẳng khái, bộc trực, đầyngang tàng mà trầm tĩnh, giàu chiêm nghiệm và mang tinh thần công dân sâusắc Trong khuôn khổ của luận văn chúng tôi không có tham vọng làm rõđược các nét nổi bật trong phong cách thơ Nguyễn Duy Chúng tôi chỉ tómlược một cách khái quát các đặc điểm đã làm nên sự khác biệt trong thơNguyễn Duy, ghi dấu về hình ảnh nhà thơ trong lòng độc giả

Thứ nhất phong cách thơ Nguyễn Duy mang đậm bản sắc dân tộc Đặcđiểm này có thể coi là một trong những đặc điểm cốt lõi Ngay từ đầu, dùchưa chính thức tuyên bố nhưng Nguyễn Duy dường như đã đầy bản năng màhướng tới cái chân lý riêng của đời mình “ta là dân vậy thì ta tồn tại” Trong

Trang 32

một cảm hứng và quan niệm nghệ thuật như vậy, thơ Nguyễn Duy trước tiên

là sự dung dị, hướng tới đời sống của nhân dân, của đất nước bằng nhữngđiều gần gũi đời thường Tính dân tộc được thể hiện trong thơ Nguyễn Duytrước tiên ở hệ thống đề tài và cảm hứng nghệ thuật Cảm hứng về quê hươngtrong thơ Nguyễn Duy là một nguồn mạch khá mạnh và xuyên suốt Dườngnhư mảnh đất Thanh Hóa với những kí ức tuổi thơ là những gì quý báu nuôidưỡng tâm hồn nhà thơ, trở thành một phần máu thịt và tuôn trào trong thơmột cách tự nhiên như hơi thở Đó là dòng sông Mẹ:

Từ dòng sống ấytôi đi

giọt nước từ nguồn ra biển cảmát suốt đời tôi gió nồm sông Mạ

mẹ và em sinh thành ở đóquê nhà và tình yêu của tôi [13, 25]

Dòng sông ấy dường như còn theo nhà thơ đi mãi, là một tình yêukhông ngừng chảy theo năm tháng Ở đó có những ngày tuổi thơ gian khó, cónhững người thân thương Quê hương trong thơ Nguyễn Duy còn là bà và mẹ,những dáng hình của ấm áp yêu thương Quê hương bỗng chốc không còn lànhững gì trừu tượng mà là nơi bắt đầu và kết thúc của mỗi con người

Nơi ấyNhá nhem giữa quên và nhớ Đỉnh núi hiện lên bóng bà và mẹMây chiều hôm gánh gạo đưa taTất tưởi đường xa cầu vồng ráng đỏ [13,17]

(Xó bếp)Nơi ấy chỉ là xó bếp với nồi cơm nguội, với món ngô khoai, với nồi râutôm ruột bầu, với rạ rơm, bồ hóng… Nhưng nơi ấy lại là linh hồn, là chỗ dựa

Trang 33

cho ta trên mỗi ngả đường đời Nguyễn Duy gắn hình ảnh quê hương với hìnhảnh của gia đình, của những kí ức tuổi thơ và vì thế mà quê hương hiện lên cụthể, chân thực, giàu cảm xúc Quê hương là bóng bà, bóng mẹ, bóng cha,… lànhững câu chuyện cụ thể của một phần đời người đã qua Quê hương vì thế làmột mối tình không dứt, một mối tình thủy chung trọn đời Làm sao có thểquên:

Ta mơ mộng ở trên đời

Để cha cuốc đất một đời không quên [13, 322]

(Về làng)Không chỉ gắn bó với quê hương, không chỉ mang tình yêu sâu nặngvới mảnh đất Thanh Hóa, Nguyễn Duy còn dành tình cảm của mình chonhững mảnh đất ông từng đi qua Đó là những bài thơ viết theo chân nhữnghành trình của nhà thơ rong ruổi trên khắp mọi miền tổ quốc Đó là nỗi đauđáu với nàng Tô Thị trên núi Vọng Phu của Lạng Sơn, là tình cảm với chiếntrường xưa, với Đồng Đăng, Kỳ Lừa, là tình yêu với dòng sông Thao củamảnh đất trung du, là tình yêu với thủ đô Hà Nội, là Huế với niềm cảm xúcdâng trào, là những dải đất Miền trung nắng gió, là Nha Trang, Đà Lạt mộngmơ… Và cả Mũi Cà Mau tận cùng của tổ quốc cũng được Nguyễn Duy khámphá với một vẻ đẹp riêng Có thể nói hình ảnh thiên nhiên, đất trời, con ngườicủa mọi miền tổ quốc đã đi vào thơ Nguyễn Duy với những nét riêng độc đáo

Không chỉ viết về những miền đất đã đi qua, Nguyễn Duy còn viết vềnhân dân, về những người lính

Xin tới cùng tôi chung mái nhà ấm ápCùng tôi hát lên lời thơ này

Cái lớn lao còn lại hôm nay

Là nguyên vẹnNhân dân

Tổ quốc [13, 99]

(Tìm nhân dân)

Trang 34

Với nhân dân nhiều khi đó là sự đồng cảm, thấu hiểu và thương xótkhôn nguôi:

Bà con mất bữa nhiều không?

Những ai bị gậy phiêu bồng chân mâyBóng ai lẻo khoẻo hình cây

Căm căm gió bấc thế này làm sao?[13, 55]

(Dân ơi)Nguyễn Duy không tách mình khỏi nhân dân, ông tự coi mình là mộtphần trong đó Vì thế cái nhìn của Nguyễn Duy về nhân dân là cái nhìn củangười trong cuộc, có yêu kính tự hào mà cũng có đồng cảm thương xót Nhândân vì thế đã trở thành một nguồn cảm hứng lớn trong thơ Nguyễn Duy Nhândân là gốc rễ, là mái nhà cả đời bao bọc chở che cho tác giả:

Thương ai dỡ những mái nghèoDựng căn hầm vẫn dựng theo dáng nhàNhà dân che nắng mưa sa

Chắn che cái chết cũng là nhà dân [13, 36]

(Hầm chữ A)Cũng giống như nhiều nhà thơ khác khi viết về nhân dân thường chọnmột hình tượng mang tính khái quát là hình tượng người mẹ nhân dân.Nguyễn Duy không xây dựng hình ảnh một người mẹ vĩ đại Trong cảm thứccủa mình, với nhà thơ, mẹ là chỗ ấm áp, bao bọc trở che bình dị như chínhcuộc sống đời thường của nhân dân vậy:

Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm

Bà mẹ đón tôi trong gió đêmNhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ

Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm [13, 15]

(Hơi ấm ổ rơm)

Trang 35

Viết về người lính, Nguyễn Duy viết về chính mình và đồng đội củamình, không phải là ánh hào quan rạng rỡ, không phải là lời ngợi ca hô hào.Hình ảnh người lính là hiện thực đau thương nhưng được viết bằng tâm thếnhẹ nhõm của một người trong cuộc, sẵn lòng đón nhận những cam go củabom đạn chiến tranh:

Sốt cơn ác tính chín daChiều sau lẳng lặng bạn qua đời rồiĐung đưa cánh võng không ngườiTreo trong không khí một lời dở dang [13, 73]

(Người đang yêu)Cũng có khi đó là hình ảnh oai hùng của bước chân những người chiếnthắng, nhưng đọng lại vẫn là hình ảnh người lính gần gũi với vẻ đẹp tâm hồncủa những chàng trai trẻ nhiều nhiệt huyết, say mê, sẵn lòng hiến dâng tuổithanh xuân cho tổ quốc

Có thể nói cảm hứng về quê hương đất nước đã trở thành một trongnhững nguồn cảm hứng chính trong thơ Nguyễn Duy Bên cạnh đó tính dântộc còn được thể hiện qua nghệ thuật biểu hiện của thơ ông Nguyễn Duy sửdụng khá nhuần nhuyễn thể thơ lục bát dân tộc Không chỉ sử dụng mà nhàthơ còn sử dụng một cách sáng tạo, với thể lục bát biến thể tạo nên dấu ấnriêng của Nguyễn Duy trong thể thơ này Ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duycũng gần gũi với lời ăn tiếng nói, với các chất liệu của văn học, văn hóa dângian, làm nên một gam màu riêng cho phong cách thơ ông

Thơ Nguyễn Duy ngoài tính dân tộc còn mang tính hiện đại NguyễnDuy có sự sáng tạo trong việc sử dụng các hình ảnh, đưa các hình ảnh củahiện thực đời sống vào thơ mà không thô ráp Thơ ông vì thế mang hơi thơcuộc sống, tự nhiên chân thực Mặt khác ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duycũng là ngôn ngữ hiện đại, với nhiều sáng tạo độc đáo

Trang 36

Bên cạnh đó phong cách thơ Nguyễn Duy còn được thể hiện ở tínhchiêm nghiệm, triết lý đầy trải nghiệm của cái tôi trữ tình Những suy tư vềcuộc đời, về nhân dân, về đất nước được Nguyễn Duy chuyển tải một cáchuyển chuyển và sâu sắc trong thơ của mình.

Những đặc điểm sau của phong cách Nguyễn Duy sẽ được chúng tôi đisâu phân tích ở những phần sau của luận văn nên ở phần này chúng tôi không

đi sâu vào tái hiện lại Ở đây chúng tôi cũng chưa thể chỉ ra cụ thể và chi tiếtphong cách nghệ thuật của một nhà thơ lớn Chúng tôi chỉ điểm những nét lớnlàm nên phong cách thơ Nguyễn Duy để từ đó làm tiền đề cho những tiếp cận

ở phần sau của luận văn Thông qua khảo sát của mình, chúng tôi nhận thấythơ Nguyễn Duy có một phong cách định hình xuyên suốt hành trình sáng táccủa nhà thơ Có những biểu hiện cụ thể khác nhau, đa dạng nhiều màu sắcnhưng lại thống nhất và ổn định trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Duy.Phong cách thơ Nguyễn Duy làm nên một gương mặt thơ riêng giữa rất nhiềunhững nhà thơ cùng thế hệ nhà thơ chống Mỹ Thơ Nguyễn Duy nếu chỉ làthơ lục bát, nếu chỉ là cái hồn “chân quê” có thể sẽ chỉ là một Nguyễn Bínhthứ hai Thơ Nguyễn Duy nếu chỉ có chiến tranh, nếu chỉ có chiêm nghiệm cóthể sẽ lẫn vào vô vàn những nhà thơ của kháng chiến chống Mỹ Nguyễn Duy

có một nẻo riêng, một đường riêng của mình để tìm được cho mình một chỗđứng riêng trong thơ ca hiện đại Phong cách có được đâu chỉ ở tài năng màhơn thế nó phải là một thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc và hết mìnhcủa một người nghệ sĩ chân chính

Tiểu kết

Như vậy ở chương 1 chúng tôi đi vào làm rõ khái niệm cái tôi và cái tôitrữ tình trong thơ Trong đó đặc biệt nhấn mạnh về cái tôi trữ tình trong thơnhư một chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên những đặctrưng thơ của tác giả Cái tôi trữ tình có sự thay đổi theo thời gian, lịch sử

Trang 37

nhưng nhìn chung đều là hình ảnh của cái tôi tác giả phản chiếu trong vănchương nghệ thuật Nó thể hiện cảm xúc, nhân sinh quan của nhà thơ nhưngkhông hoàn toàn trùng lặp với cái tôi đời thực của nhà thơ.

Ở chương 1 chúng tôi còn điểm lại hành trình sáng tác hơn 40 năm củaNguyễn Duy với những chặng đường riêng mang dấu ấn riêng Khối lượngtác phẩm Nguyễn Duy để lại không phải là nhỏ cho thấy một quá trình laođộng nghiêm túc Đồng thời cũng giống như nhiều nhà thơ khác đi qua nhữngnăm tháng chiến tranh thơ Nguyễn Duy cũng có những bước chuyển mìnhtheo lịch sử dân tộc, từ cuộc chiến tới hậu chiến rồi đổi mới là những dấu mốckhông nhỏ trong đời sống xã hội, dân tộc và cũng là những dấu mốc trongchặng đường sáng tác của Nguyễn Duy Hành trình của Nguyễn Duy vừa làhành trình hướng ngoại, tìm đến thế giới rộng lớn vừa là hành trình hướng nội

để tìm tới chính mình Đó là một hành trình dài và đủ đầy ý nghĩa

Dù ở chặng đường nào thì thơ Nguyễn Duy vẫn thống nhất trong mộtphong cách chung, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa truyền thống vừa hiện đại,vừa dân dã lại vừa nhiều chiêm nghiệm suy tư Có lẽ vì vậy mà Nguyễn Duy

đã tạo dựng lên một “thương hiệu” thơ riêng cho mình Cho nên ngay cả khiông tuyên bố dừng bút thì con đường mới ông đi cũng vẫn là con đường độcđáo mang màu sắc cá tính Nguyễn Duy

Trang 38

Chương 2CÁI TÔI TRỮ TÌNH ĐA DIỆN, SÂU SẮC VÀ ĐỘC ĐÁO

TRONG THƠ NGUYỄN DUY

Thơ là thế giới của xúc cảm, gắn liền với nội tâm của người làm thơ vàcũng tác động tới thế giới nội tâm của người đọc thơ Thơ phản ánh thế giớikhách quan không phải bằng sự kiện mà bằng cảm xúc Và vì vậy thơ mangtính chủ quan hơn các thể loại khác Nếu thơ không còn cảm xúc cũng cónghĩa là không còn thơ Cảm xúc được thể hiện thông qua một nhân vật, mộtcái tôi nội tại Đó chính là cái tôi trữ tình, nhân vật trữ tình trong thơ Thơ cóthể có nhân vật như ông Đồ trong bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên, như côhàng xén răng đen trong Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, như cô gáitrong Chân quê của Nguyễn Bính,… nhưng nhân vật không phải là cái tôi trữtình, cái tôi chủ thể trong thơ Cái tôi trữ tình không hiện hữu trong một hìnhhài cụ thể, không có tên gọi hay nhiều khi chẳng có danh xưng nhưng lại chiphối các yếu tố cấu thành tác phẩm

Mỗi nhà thơ có một diện mạo cái tôi trữ tình riêng Cụ thể hơn thì mỗibài thơ cũng có một cái tôi trữ tình khác biệt Tuy không thể đồng nhất giữacái tôi trữ tình và cái tôi thi sĩ nhưng cũng không thể tách biệt rạch ròi màkhông nhìn ra sự tương tác qua lại, sự giao thoa của hai đối tượng này vớinhau Cái tôi trữ tình cũng không thể tách rời khỏi những thành tố khác củatác phẩm Nó vừa là yếu tố biểu hiện cho phong cách, quan điểm nghệ thuậtcủa nhà văn vừa là yếu tố chi phối đến các phương thức nghệ thuật biểu hiệncủa tác phẩm

Tìm hiểu về thơ Nguyễn Duy, có nhiều đánh giá nhận xét khác nhau.Chúng tôi đặc biệt đánh giá cao bài viết của nhà nghiên cứu Chu Văn SơnNguyễn duy thi sĩ thảo dân Chu Văn Sơn đã gọi ra được cái chất riêng của

Trang 39

Nguyễn Duy gói gọn trong cụm từ “thi sĩ thảo dân”, chỉ ra được chất “thảodân” từ quan điểm nghệ thuật, đến xây dựng hình tượng, từ xúc cảm đến quanniệm về cái đẹp, từ nội dung tới hình thức thể hiện Trong bài viết, chúng tôicòn đặc biệt chú ý tới một phát hiện của nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn về hìnhtượng trong thơ Nguyễn Duy Đó là hai bản tướng thống nhất trong một hìnhhài Đó là thảo dân khoác áo lính và thi nhân trong kiếp thảo dân Dù là khoác

áo lính, hay là một thi nhân thì chất thảo dân theo Chu Văn Sơn vẫn là cốt lõi.Chúng tôi, trong quá trình khảo sát của mình, cũng nhận thấy cái tôi trữ tìnhtrong thơ Nguyễn Duy đi theo hai hướng ấy: cái tôi chiến sĩ với trách nhiệmcủa một công dân và cái tôi cá nhân, đời thường với nhiều cung bậc cảm xúccủa thế sự đời tư Nhưng nét chung là dù hiện diện như một người lính mangcái tôi công dân hay như một thi sĩ mang cái tôi cá nhân thì bản chất NguyễnDuy vẫn là một thi sĩ thảo dân mang cái chất dân dã, mang cái hồn của nhândân vào thơ ca của mình Đồng thời giữa hai hình tượng này cũng không có

sự tách bạch hoàn toàn mà có những chỗ giao hòa với nhau, tạo nên tính đadạng mà thống nhất trong một chỉnh thể nghệ thuật chung

2.1 Cái tôi chiến sĩ, cái tôi công dân

Nguyễn Duy cũng nhiều văn nghệ sĩ cùng thời có một tư cách kép:nghệ sĩ – chiến sĩ trong hành trình sáng tạo của mình Năm 1966, chàng trai

22 tuổi lên đường nhập ngũ Nguyễn Duy không phải là anh lính ở tuyến sau,không phải là anh lính hậu cần hay văn hóa Ông trực tiếp tham gia chiến đấutrên những mặt trận ác liệt nhất lúc bấy giờ Trường hợp của Nguyễn Duykhông phải là hi hữu, rất nhiều các nhà thơ cùng thế hệ với ông là nhữngngười tay cầm bút, tay cầm súng Cái tôi chiến sĩ, cái tôi công dân cũng ra đờitrên cơ sở đó Nguyễn Duy không đến với binh nghiệp như một con đường đểphấn đấu, ông cũng không khoác cho con đường mình đi một cái áo lý tưởngthùng thình Với Nguyễn Duy đơn giản việc cầm súng là việc phải làm của

Trang 40

một công dân trước cơn can qua của dân tộc Đó là một thứ nhiệm vụ, một thứtrách nhiệm thiêng liêng của một con người có ý thức với quê hương đấtnước Vì thế Nguyễn Duy viết về cuộc chiến như viết về cuộc sống của chínhmình, như những gì mình đã trải qua, như tất cả những yêu thương ông dànhcho dân tộc.

Cái tôi chiến sĩ, cái tôi công dân vốn không phải là cái tôi xa lạ đối vớivăn học thời chiến và cả thời kỳ đầu hậu chiến nhưng ở Nguyễn Duy nó cónét riêng, nét cá biệt so với những nghệ sĩ – chiến sĩ cùng thời

2.1.1 Cái tôi có sức chiến đấu cao khỏe khoắn, lạc quan, giàu kinh nghiệmthực tế chiến trường

Trong văn học hiện đại, chúng ta có cả một dòng thơ kháng chiến viết

về người lính với đầy đủ các cung bậc, các trạng thái cảm xúc khác nhau.Những người lính có thể giản dị đơn sơ:

Áo anh rách vaiQuần tôi có hai miếng váMiệng cười buốt giá Chân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tayĐêm này rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo

(Đồng chí – Chính Hữu)

Có thể là người lính hào hoa, hào hùng trong thơ Quang Dũng:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tócQuân xanh màu lá dữ oai hùmMắt trừng gửi mộng qua biên giớiĐêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

(Tây Tiến – Quang Dũng)

Ngày đăng: 24/01/2019, 22:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w