Cùng thế hệ những nhà thơ trưởng thành trong sáng tác sau năm 1975, nhà thơ Mai Văn Phấn nhận định:“Nguyễn Quang Thiều đã hoàn thành sứ mệnh của thi sĩ tiên phong trong thời đại thi ca c
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÝ THỊ NHIÊN
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thái Nguyên - 2015
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan công trình luận văn này là sự nỗ lực hết mình của tôi trong quá trình nghiên cứu Những số liệu thống kê hoàn toàn do tôi tự nghiên cứu Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình
Tác giả luận văn
Lý Thị Nhiên
Trang 3Lời cảm ơn!
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
- Các thầy cô giáo: khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học – Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, Viện văn học – Trường Đại học sư phạm Hà Nội Đã giảng dạy, động viên và khích lệ em trong quá trình học tập
- Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, người luôn quan tâm và giúp đỡ để em hoàn thành luận văn này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Điệp, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên và đồng hành cùng em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Lý Thị Nhiên
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 5
7 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU 7
1.1 Khái niệm “cái tôi” và “cái tôi trữ tình” 7
1.1.1 Cái tôi 7
1.1.2 Cái tôi trữ tình 9
1.2 Sự vận động cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam 11
1.2.1 Cái tôi trữ tình trong văn học dân gian 11
1.2.2 Cái tôi trữ tình trong văn học trung đại 12
1.2.3.Cái tôi trữ tình trong thơ hiện đại 13
1.3 Những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Quang Thiều 15
1.3.1 Khái quát về cuộc đời nhà thơ Nguyễn Quang Thiều 15
1.3.2 Những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác 16
1.3.3 Quan niệm sáng tác và tư duy đổi mới thơ của Nguyễn Quang Thiều 17
1.3.3.1 Quan niệm sáng tác của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều 17
1.3.3.2 Nguyễn Quang Thiều và những đổi mới trong cảm hứng sáng tác 20
Chương 2: SỰ THỂ HIỆN CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU 27
2.1 Cái tôi của những nỗi niềm muôn thuở 27
Trang 52.1.1 Cái tôi đa cảm 27
2.1.2 Cái tôi của những đối cực 36
2.2 Cái tôi của sự sáng tạo 40
2.2.1 Cái tôi của khát vọng kiếm tìm 41
2.2.2 Cái tôi của những miền tâm linh châu thổ 45
Chương 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU 53
3.1 Thể thơ 53
3.1.1 Thơ tự do 53
3.1.2 Thơ văn xuôi 58
3.2 Ngôn ngữ 61
3.2.1 Ngôn ngữ tự nhiên 62
3.2.2 Ngôn ngữ siêu thực, lạ hóa 65
3.3 Biểu tượng 68
3.3.1 Cánh đồng và dòng sông quê hương 69
3.3.2 Bóng tối và ánh sáng 72
KẾT LUẬN 77
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguyễn Quang Thiều là một trong những nhà thơ tiên phong trên hành trình cách tân thơ Việt Việc hiểu và khám phá thơ Nguyễn Quang Thiều không phải là điều đơn giản, tuy nhiên những sáng tác của ông vẫn luôn giữ một vị trí đặc biệt trong lòng độc giả yêu thơ Sức hấp dẫn của thơ Nguyễn Quang Thiều không chỉ thể hiện qua những nội dung mà nhà thơ phản ánh về cuộc sống mà còn thể hiện qua những hình thức nghệ thuật (những hình ảnh biểu tượng, ngôn ngữ thơ) tạo nên một phong cách nghệ thuật riêng
Nguyễn Quang Thiều là một trong những nhà thơ có bản lĩnh và tài năng sáng tạo nghệ thuật Ông đã có không ít tác phẩm ghi dấu những bước thành công trên văn đàn thi ca Việt Nam hiện đại sau năm 1975 Những tác phẩm thơ của Nguyễn Quang Thiều vẫn là mảnh đất cần khám phá các tầng ý nghĩa sâu
xa nên đòi hỏi phải có niềm đam mê và sự nỗ lực lớn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều có nhiều biểu hiện mới mẻ được ẩn dấu đằng sau những lớp ngôn từ nghệ thuật Trải qua chuyến hành trình dài gồm năm tập thơ tiêu
biểu, bắt đầu từ tập thơ Ngôi nhà tuổi 17 đến tập thơ Cây ánh sáng, cái tôi trữ
tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều cũng đã thực hiện chuyến một hành trình
đi tìm những giá trị tinh thần chân chính Chính vì vậy việc nghiên cứu tìm hiểu
về“Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều”là một việc cần
thiết để làm cơ sở khoa học nhằm nhận diện, đánh giá những nét đặc sắc, độc đáo của cái tôi trữ tình của nhà thơ Đồng thời làm sáng tỏ hơn sự đóng góp của nhà thơ đối với thi ca Việt Nam hiện đại qua những khắc họa rõ nét, giáo dục
sâu sắc
Chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:“Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn
Quang Thiều”với mong muốn trau dồi thêm kiến thức về thơ hiện đại Việt
Nam sau 1975 nói chung và hiểu biết rõ hơn về thơ của Nguyễn Quang Thiều nói riêng Bên cạnh đó, đây sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho bạn yêu thơ và giảng dạy văn thơ Nguyễn Quang Thiều
2 Lịch sử vấn đề
Với sự xuất hiện của tập thơ Ngôi nhà tuổi 17 (1990) phong cách nghệ
thuật của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cũng dần được định hình qua sự nỗ lực
Trang 7nhằm tạo nên một thế giới nghệ thuật thơ độc đáo Với những đóng góp mới
mẻ, cùng những cách tân nghệ thật độc đáo Nguyễn Quang Thiều đã trở thành
một “hiện tượng thơ” Những cuộc tranh luận về hiện tượng thơ Nguyễn
Quang Thiều đã tạo thành hai xu hướng rõ rệt trên thi đàn và hình thành nên nhóm bài viết khá khu biệt Bên cạnh những đánh giá, phản ứng gay gắt là hàng loạt những bài viết cổ vũ sự khám phá, tìm tòi của nhà thơ Năm 1992, tập thơ
Sự mất ngủ của lửa ra đời đã gây làn sóng dư luận mạnh mẽ về “Tài và tâm
của người viết phê bình” [57] Đã có không ít lời phê phán và cho rằng đây là thứ thơ “ngoại nhập” Nhà thơ Trần Mạnh Hảo cho rằng: “Thơ Nguyễn Quang Thiều non kém về mặt nghệ thuật”, là thơ “lai căng”, thơ “dịch sổi”, “Dịch tiếng Việt sang tiếng ta”…[19, tr 82] Tuy nhiên, đó chỉ là những quan niệm
phiến diện chứa đầy mâu thuẫn khi đánh giá về thơ Nguyễn Quang Thiều Nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học dưới đây đã đánh giá rất đúng về nhà thơ:
Trần Vũ Khang khẳng định: “ Nguyễn Quang Thiều phải được xem như
là cái đỉnh bất ngờ nhô lên giữa những ngọn đồi (…) đây là giọng thơ lần mẽ tới những cây bút thế hệ mới phía Bắc đến nỗi có thể vach một danh giới giữa nhóm làm thơ theo Thiều với nhóm làm thơ khác Thiều” [26]
Trong bài viếtNgười đi qua cơn khát của sa mạc thơ, tác giả Nguyễn
Việt Chiến nhận xét: Nguyễn Quang Thiều là “nhà thơ đầu tiên bằng những lỗ lực vượt bậc và tài năng suất sắc của mình đã xác lập một giọng điệu mới trong thơ Việt”, “thơ của anh như một bản giao hưởng của rất nhiều khái niệm, cảm giác, ý tưởng và suy ngẫm cùng tấu lên tràn đầy sức tưởng tượng lạ lẫm Nguyễn Quang Thiều đã âm thầm khắc họa bằng cảm xúc, bằng những liên tưởng thơ để tìm ra cách nói riêng bằng ngôn ngữ hình ảnh đặc thù mà chỉ thơ mới có được”[4]
Nhà thơ Nguyễn Quyến nhận xét về những nỗ lực sáng tạo của nhà thơ
Nguyễn Quang Thiều: “Nguyễn Quang Thiều đã có một cuộc vượt biển thực sự
Trang 8trong tâm hồn mình khi ông xuất bản tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” Không cần nhắc lại chúng ta cũng biết sự đóng góp vô cùng lớn lao của tập thơ này đối với các trào lưu thơ ca hiện đại từ hình thức, ngôn ngữ đến ý tưởng hiện diện trong đó Nhưng tôi khẳng định rằng sự đóng góp lớn lao nhất của tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” không chỉ đối với thơ ca hiện đại nói riêng mà nó còn tác động nhiều đến mỹ cảm của người Việt hiện đại…”[46]
Thành công bước đầu của Nguyễn Quang Thiều đã tạo ra tiếng vang mạnh mẽ, sức ngân vang ấy lan tỏa bởi cảm xúc chân thành mà nhà thơ gửi gắm qua những thể nghiệm ngôn từ đầy sáng tạo Cùng thế hệ những nhà thơ trưởng thành trong sáng tác sau năm 1975, nhà thơ Mai Văn Phấn nhận
định:“Nguyễn Quang Thiều đã hoàn thành sứ mệnh của thi sĩ tiên phong trong thời đại thi ca còn dày đặc sương mù (…) Ông đã đem đến cho thơ Việt một cấu trúc thơ mới lạ, những hình ảnh rời, xa nhau trong những kết dính mờ nhạt, tinh thần phản tỉnh mãnh liệt làm đổ vỡ những trật tự cũ, tường minh từng góc sâu tăm tối trong ký ức mỗi người, tạo những góc nhìn tỉnh táo, sắc lạnh vào đời sống hiện thực.” [42]
Trong bài viết Về biểu tượng lửa trong thơ Nguyễn Quang
ThiềuĐặng Vũ Hoàng đã khái quát chung về những cách tân trong thơ Nguyễn
Quang Thiều: “Là người được đánh giá là gặt hái được nhiều thành công trong thế hệ thơ thứ ba, Nguyễn Quang Thiều đầy nhiệt huyết trong việc tìm tòi
và cách tân thơ ca Về mặt ngôn ngữ, không phải là những cách nhào nặn, sắp xếp kỳ khôi và rối rắm các con chữ kiểu Lê Đạt, Dương Tường, sự cách tân ngôn ngữ thơ của Nguyễn Quang Thiều là sử dụng thuần thục thể thơ văn xuôi
để diễn đạt tân kỳ những câu thơ không vần điệu Về nội dung, đó là góc nhìn cận cảnh những mặt trái của xã hội trong thời kỳ đô thị hóa, là sự khai thác những hình ảnh thơ, những biểu tượng độc đáo, mới lạ: những người đàn bà góa, những con vật, lửa…” [22]
Nghĩ về một số “Phản trường ca” Diêu Lan Phương còn ghi nhận nỗ
lực sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều khi ông và những nhà thơ khác đã mang
Trang 9tới cho thể loại trường ca sự đổi mới quí báu: “Nguyễn Quang Thiều là một trong vài nhà thơ đương đại xuất sắc nhất Thơ anh thể hiện một nội lực dồi dào và đầy ám ảnh.Trong rất nhiều những thể nghiệm cách tân thì những cách tân về thể loại trường ca là vô cùng ấn tượng” [59, Tr 63]
Đỗ Minh Tuấn coi những nội dung mà nhà thơ Nguyễn Quang Thiều phản ánh
đã “Phát lộ tâm thức thời đại” [57].Qua những vần thơ mang đặc điểm thi pháp hiện đại mới mẻ của Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng: “Nguyễn
Quang Thiều đã phá bỏ lối đi quen, mở ra con đường mới chưa hề có” [60, Tr.171]
Mặc dù ủng hộ tinh thần đổi mới nhưng Trần Đăng Khoa và Đỗ Minh Tuấn chưa khơi lên được mạch nguồn mỹ cảm mới mẻ, chưa nhất quán trong việc đánh giá đặc trưng thơ Nguyễn Quang Thiều.
Có thể thấy, hầu như những bài viết này mới chỉ đưa ra những nhận định, tìm hiểu một cách khái quát về thơ Nguyễn Quang Thiều mà chưa đi sâu vào việc phân tích những cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều một cách
hệ thống Tuy nhiên, những đánh giá nhận xét của những người nghiên cứu đi trước chính là con đường gợi mở vô cùng quý giá cho chúng tôi thực hiện đề
tài“Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Luận văn nghiên cứu những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác thơ ca của Nguyễn Quang Thiều Đặc biệt, đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều Từ đó, thấy được giá trị của cái tôi trữ tình, góp phần làm nên phong cách độc đáo trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ
- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát quá trình sáng tác thơ của Nguyễn
Quang Thiều đã xuất bản đó là nghiên cứu tập thơ Châu thổ Đây là tuyển tập thơ gồm 6 tập thơ chính của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, gồm Ngôi nhà tuổi
17 (1990), Sự mất ngủ của lửa (1992), Những người đàn bà gánh nước sông
(1995), Nhịp điệu châu thổ mới(1997), Bài ca những con chim đêm (1999),
Trang 10Cây ánh sáng(2009) Bên cạnh đó còn tìm hiểu sáng tác ở các thể loại khác
của nhà thơ để hiểu rõ hơn hành trình sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu quan niệm và tư tưởng sáng tác của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều qua những phát ngôn, những bài viết, những tiểu luận… để hiểu được cái tôi trữ tình mà tác giả thể hiện qua các tác phẩm thơ
Qua những phân tích các tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều giúp hiểu sâu sắc hơn nội dung để từ đó khái quát về cái tôi trữ tình trong thơ của ông Đồng thời khẳng định được những đóng góp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đối với nền thơ đương đại
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phân tích, chứng minh, thẩm bình để thấy rõ cảm hứng chủ đạo làm nổi bật những nét độc đáo trong thơ Nguyễn Quang Thiều
- Phương pháp đối chiếu - so sánh: Đặt tác giả trong sự tương quan với các nhà thơ khác để thấy rõ những yếu tố làm nên cái tôi trữ tình trong sáng tác của Nguyễn Quang Thiều
- Phương pháp tiểu sử: Nghiên cứu cái tôi trữ tình tác giả làm nổi bật sự độc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ nên đòi hỏi phải có phương pháp tiếp cận tác giả
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn chỉ ra sự khác biệt độc đáo cái tôi trữ tình của nhà thơ, là tài liệu tham khảo hữu ích cho độc giả quan tâm, yêu thích thơ Nguyễn Quang Thiều nói riêng và cho việc giảng dạy thơ Việt Nam hiện đại trong nhà trường nói chung
Trang 117 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu tạo thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về cái tôi trữ tình và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Quang Thiều
Chương 2: Sự thể hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều
Chương 3:Nghệ thuật thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều
Trang 12Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ SỰ NGHIỆP
SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU 1.1 Khái niệm “cái tôi” và “cái tôi trữ tình”
1.1.1 Cái tôi
Cái tôi là một trong những khái niệm triết học cổ nhất đánh dấu ý thức đẩu tiên của con người về bản thể tồn tại của mình Từ đó, con người nhận ra mình là một cá thể độc lập
Các nhà triết học duy tâm quan niệm về cái tôi như là phương diện trung tâm của tâm hồn con người, là cốt lõi của ý thức có khả năng chi phối hoạt động và là sự khẳng định nhân cách con người trong thế giới:
Nhà triết học R Đề các (1596 - 1650) quan niệm: “Tôi tư duy tức là tôi tồn tại” Ông cho rằng cái tôi thể hiện ra như một cái nhìn thuộc về thực thể
biết tư duy như càn nguyên của nhận thức duy lý, cái tôi mang tính độc lập
Theo Kant (1724 - 1804), cái tôi bao gồm hai phương diện: Cái tôi với tư cách chủ thể tư duy nhận thức thế giới và cái tôi với tư cách là khách thể của chính nhận thức Đồng thời ông cũng nhấn mạnh tuyệt đối khả năng nhận thức của cái tôi: tính thống nhất của tự nhiên không phải ở trong tính vật chất của nó
mà trong tính thống nhất của chủ thể nhận thức, của cái tôi
Hêghen (1770 – 1831) một mặt xem cái tôi như là sự tha hóa của “ý thức tuyệt đối” một mặt nhấn mạnh vai trò to lớn của cái tôi.Cái tôi như là trung tâm
của sự tồn tại có khả năng, khát vọng và sức mạnh để thể hiện mình trong hiện thực
Becxong (1858 – 1941) đã chú ý đến cái tôi thuần túy trong ý thức khi nhấn mạnh đến đời sống bên trong cá nhân Theo ông, con người có hai cái tôi:
đó là cái tôi bề mặt và cái tôi bề sâu Trong đó, cái tôi bề mặt là các quan hệ của con người đối với xã hội; còn cái tôi bề sâu là phần sâu thẳm của ý thức
Đó mới chính là đối tượng của nghệ thuật
Trang 13Đối lập với những quan điểm tuyệt đối hóa cái tôi cá nhân, tách nó ra khỏi các mối quan hệ hiện thực xã hội, triết học Mác – Lênin xác định giá trị con người cá nhân từ bản thân con người với tư cách là chủ thể và khách thể của các mối quan hệ xã hội Theo chủ nghĩa Mác, mỗi cá nhân có ý nghĩa như
là một bộ mặt xã hội hóa, cá thể con người và cá nhân cùng tìm thấy mình trong xã hội Lý tưởng về giải phóng cá nhân của triết học Mác là tự do cho mỗi cá nhân trong tự do cho tất cả mọi người Đồng thời vai trò của cái tôi cũng
được khẳng định: “Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính con người có quan hệ tích cực đối với thế giới và chính bản thân mình”
Quan niệm về cái tôi trong triết học và khoa học nhân văn hoặc đóng vai trò phạm trù, hoặc có mối liên hệ chi phối, quen thuộc với cái tôi trữ tình trong thơ của các thời đại
Trong văn học, người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình, giúp con người thể nghiệm ý vị của cuộc đời và lĩnh hội mọi quan hệ có ý nghĩa muôn màu muôn
vẻ của bản thân và thế giới xung quanh.Bởi vậy, tác phẩm văn học vừa mang đậm tính điển hình và mang đậm cá tính tác giả khi vai trò của cá tính sáng tạo
của “cái tôi” cá nhân được ý thức đầy đủ; đặc biệt là những tác phẩm trữ tình
Nếu tác phẩm tự sự lấy bức tranh hiện thực mang đậm tính khách quan
và điển hình làm đối tượng phản ánh thì tác phẩm trữ tình lại chọn bức tranh tâm trạng đậm tính chủ quan và điển hình của chủ thể trữ tình làm đối tượng thẩm mỹ của mình Tác phẩm trữ tình là sự thể hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người: những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ…làm sống dậy trong chủ thể thế giới của hiện thực khách quan như một phương diện năng động, sâu sắc, hấp dẫn của đời sống con người Trong tác phẩm trữ tình, nội dung được thể hiện luôn gắn với hình tượng nhân vật trữ tình Tình cảm riêng của nhân vật trữ tình trong tác phẩm cụ thể luôn nồng cháy, trực tiếp và mãnh liệt, vừa có ý nghĩa khái quát, điển hình và có khả năng tác động mạnh mẽ Tác phẩm trữ tình xuất hiện từ
Trang 14rất sớm trong lịch sử văn học nhưng chỉ thực sự là tác phẩm khi con người ý thức
về cá nhân, khi “cái tôi” cá nhân tự ý thức Bởi vậy, “Cái tôi trữ tình” là nguồn gốc của thơ trữ tình Vậy “cái tôi trữ tình” được hiểu như thế nào ?
Bản chất của cái tôi trữ tình là một khái niệm tổng hòa nhiều yếu tố hội
tụ theo quy luật nghệ thuật bao gồm cả ba phương diện: bản chất chủ quan cá nhân (đây là mối liên hệ giữa tác giả với cái tôi trữ tình thể hiện trong tác phẩm); bản chất xã hội (là mối quan hệ của cái tôi trữ tình và cái ta cộng đồng); bản chất thẩm mỹ (là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản) Cả ba phương diện: Cá nhân, xã hội, thẩm mỹ đều nằm trong hình thức thể loại trữ tình
Theo GS Hà Minh Đức, “Thường thì cái tôi trữ tình trong thơ dễ bộc lộ trực tiếp trong trường hợp viết về chính bản thân mình và trong những quan hệ riêng tư Với những loại đề tài này cái tôi trữ tình trong thơ thường phổ biến là cái tôi của tác giả.”, “Trường hợp thứ hai là cảnh ngộ, sự việc trong thơ không phải là cảnh ngộ riêng của tác giả Nhà thơ nói lên cảm nghĩ về những sự kiện
mà mình có dịp trải qua hoặc chứng kiến như một kỷ niệm, một quan sát (…) Cái tôi trữ tình là nhân vật trữ tình chủ yếu của sáng tác.”, “Trường hợp thứ
ba là những bài thơ trữ tình viết về một loại nhân vật nào đó (…) Đó là nhân vật trữ tình của sáng tác tồn tại bên cạnh cái tôi trữ tình của nhà thơ.”[13,
Trang 15là cái tôi trữ tình Đó cũng là cơ sở để có thể nói đến các loại hình với tư cách những đặc điểm hình thức tiêu biểu tương ứng với các kiểu cái tôi trữ tình
Văn chương không chỉ là bức tranh đời sống mà còn là bức chân dung tinh thần của chủ thể sáng tạo Chủ thể không chỉ là người sáng tạo ra những giá trị tinh thần mà còn là đối tượng miêu tả biểu hiện, chủ thể không chỉ được xem như là một yếu tố tạo nên nội dung tác phẩm mà còn được xem như là phương tiện bộc lộ nội dung của tác phẩm, là một thành tố của thế giới nghệ thuật do tác phẩm tạo ra Ở những nhà thơ có cá tính sáng tạo độc đáo, dấu ấn của chủ thể còn in đậm trong từng từ, từng hình ảnh, từng dòng thơ, bài thơ
Cái tôi của nhà thơ có mối quan hệ trực tiếp và thống nhất với cái tôi trữ tình trong thơ Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác Những sự kiện, hành động, tâm tình và kí ức trong cuộc đời riêng cũng in đậm nét trong thơ Cái tôi của nhà thơ có lúc thể hiện trực tiếp qua những cảnh ngộ riêng, trực tiếp giãi bày những nỗi niềm thầm kín Cái tôi của nhà thơ còn hiện diện qua các cách nhìn, cách nghĩ, qua tình cảm thái độ trước thế giới Tuy nhiên cái tôi trữ tình trong thơ và cái tôi của nhà thơ không hề đồng nhất Cái tôi của nhà thơ ngoài đời thuộc phạm trù xã hội học, còn cái tôi trữ tình trong thơ thuộc phạm trù nghệ thuật Cái tôi nhà thơ trong đời sống thực là sự hiện hữu của con người nhà thơ với dáng vẻ, cử chỉ, điệu bộ
và những mối quan hệ xã hội cụ thể Cái tôi trữ tình là cái tôi được nghệ thuật hóa theo quy luật sáng tạo nghệ thuật Nó thể hiện tư tưởng thẩm mỹ, quan niệm nhân sinh của nhà thơ về thế giới và nó có sự thống nhất cao độ về tư tưởng đối với chủ thể sáng tạo
Cái tôi trữ tình được biểu hiện ở hai dạng: trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc sử dụng những đại từ nhân xưng trong thơ Cùng với sự tài tình của nhà thơ trong việc tổ chức hệ thống ngôn từ, hình ảnh, biện pháp tu từ…Cái tôi trữ tình tạo nên giọng điệu riêng, góp phần thể hiện phong cách nghệ thuật của các nhà thơ
Trang 161.2 Sự vận động cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam
Lịch sử phát triển của thơ ca là lịch sử phát triển của cái tôi trữ tình, là sự thay đổi mô hình quan hệ giữa cái tôi trữ tình và đời sống.Trong thơ ca Việt Nam, cái tôi ngay từ đầu đã được các nhà thơ quan tâm thể hiện nhưng bối cảnh khác nhau nên quan niệm về cái tôi cũng vì thế mà thay đổi.Văn học trung đại là văn học của những nhà nho nhằm thực hiện chức năng giáo huấn những
chuẩn mực đạo đức, lễ giáo phong kiến Nó mang tính quy phạm và tính “tôn sùng cổ nhân”, nó gò bó sự sáng tạo của cái tôi cá nhân Cái tôi trữ tình trong
thơ trung đại chưa có điều kiện để bộc bạch những nỗi niềm riêng của mình Phải tới những năm đầu thế kỷ XX, cùng với sự thay đổi lớn lao về môi trường
xã hội – văn hóa thì cái tôi cá nhân mới có điều kiện để ca lên những cung bậc cảm xúc của cõi lòng Cái tôi cá nhân trong Thơ mới được khẳng định, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trên cả hai phương diện: lịch sử và văn hóa
“Thơ mới khẳng định cái tôi như một bản lĩnh tích cực trong cuộc sống, như một chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật Lần đầu tiên có một cái Tôi cá thể hóa trong cách cảm thụ thế giới và tâm hồn”[2, tr.80] Và cũng lần đầu tiên
trong lịch sử thi ca Việt Nam có một thời đại mà cái tôi cá nhân được cất cao
tâm hồn trong “Cây đàn muôn điệu”, mở ra cuộc cách tân trong văn học
1.2.1 Cái tôi trữ tình trong văn học dân gian
Nói đến cái tôi trữ tình trong văn học dân gian là chủ yếu nói đến cái tôi trữ tình trong ca dao, dân ca Đó là cái tôi tìm thấy tiếng nói chung của tập thể Cái tôi ở đây không bộc lộ như một cá nhân riêng biệt, mà cơ thể chìm đi, biểu hiên cái tôi xã hội, cái tôi của tập thể.Tác giả dân gian bắt nguồn cảm hứng từ nhu cầu chia sẻ, giao hưởng và đồng vọng trong những cảnh ngộ tương đồng Nhân vật trữ tình trong văn học dân gian chủ yếu là những người lao động, là những người đang dãi nắng dầm mưa, là kẻ đang nhọc nhằn lên đồng xuống truông Không gian họ xuất hiện cũng gắn liền không gian lao động sản xuất như: vườn chè, con đò, bến nước…
- Cô kia cắt cỏ bên sông
Trang 17Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây
- Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà
Cái tôi trữ tình dân gian về cơ bản là cái tôi phi cá thể hóa.Hình thức của loại hình văn học dân gian là diễn xướng và truyền miệng.Thời gian và không gian mang tính ước lệ, làm cho thời gian cá thể hóa của cái tôi tác giả mờ nhạt hẳn đi Không gian có thể thay đổi, chẳng hạn từ địa danh này sang địa danh khác vì thế làm mất đi cá tính cụ thể của một hoàn cảnh cụ thể Diện mạo duy nhất của cái tôi dân gian là cái chung
1.2.2 Cái tôi trữ tình trong văn họctrung đại
Trong thơ trung đại đã có sự bộc lộ “cái tôi” tác giả, tuy nhiên “cái tôi”của tác giả trung đại chỉ hiện ra trong khuôn khổ
đại.Chưa có được ý thức về sự tồn tại của mình như một cá thể độc lập, con người trong văn học trung đại ẩn mình, hoà vào trong quan hệ cộng đồng Con người trong thơ trung đại luôn tìm mọi cơ hội để tan biến vào thiên nhiên Do
đó, bối cảnh xuất hiện của “cái tôi” trong thơ ca trung đại là bối cảnh thiên nhiên.Xuất hiện trong bối cảnh ấy, “cái tôi” trong thơ trung đại là “cái tôi”
nhà nho ẩn dật Khi chốn quan trường lấm bụi trần với sự ganh đua danh lợi, các nhà nho thường trở về với thiên nhiên, hoà vào môi trường thiên nhiên thuần khiết Ở chốn thanh tịnh, không có một dấu vết nào của cuộc sống xã hội,
“cái tôi” nho sĩ thật sự gắn bó, thân thiết trong mối quan hệ đặc biệt với thiên
nhiên:
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai Côn Sơn như đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm
Trang 18Trong ghềnh thông mọc như nêm Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm Trong rừng có bóng trúc râm Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn
( Côn Sơn ca – Nguyễn Trãi)
Sự thể hiện “cái tôi” trong thơ ca trung đại, “cái tôi” nhà Nho chủ yếu
xuất hiện ở tư cách nhà nho Họ xem mình là một bộ phận trong chỉnh thể thiên – địa – nhân và có một thiên sứ đặc biệt mà vũ trụ giao phó Ở thời kì
Trung Đại, những câu thơ có sự xuất hiện“cái tôi” trực tiếp trên câu chữ là
một điểm nhấn, báo hiệu biểu hiện “phản thi pháp văn học trung đại” đã đến lúc rõ nét:
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi
(Mời trầu - Hồ Xuân Hương)
1.2.3.Cái tôi trữ tình trong thơ hiện đại
Khác với “cái tôi” trong văn học trung đại, “cái tôi” trữ tình trong văn
học hiện đại có sự chuyển mình rõ rệt qua từng giai đoạn Trước Cách mạng
tháng Tám năm 1945, “cái tôi” trữ tình của tác giả là cái tôi cá nhân, mang dấu
ấn của tác giả Chẳng hạn, cái tôi trữ tình rất “ngông” của Tản Đà:
Trời đất sinh ta rượu với thơ Không thơ không rượu sống như thừa Công danh hai chữ mùi men nhạt
Sự nghiệp trăm năm nét mực mờ
(Ngày xuân thơ rượu)
Trang 19Hay:
Đêm thu buồn lắm chị hằng ơi Trần thế em nay chán nửa rồi Cung Quế đã ai ngồi đó chửa ? Cành đa xin chị nhắc lên chơi
(Muốn làm thằng cuội)
Giai đoạn (1945 – 1954), gắn liền với hoàn cảnh và yêu cầu lịch sử, văn học lúc này đặt vấn đề dân tộc lên trên tất cả Do yêu cầu của Cách mạng nên cái tôi là cái tôi của quần chúng, nói tiếng nói chung của giai cấp tầng lớp địa chúng Cái tôi trữ tình của tác giả hòa tan vào cái chung, nhập vai nhân vật quần chúng Ví dụ: thơ Tố Hữu, ChếLan Viên
Tôi đã là con của vạn nhà
Là anh của vạn kiếp phôi pha
Là em của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm cù bất cù bơ
(Từ ấy – Tố Hữu)
Trong cái tôi mỗi người có cả một hệ thống cái tôi khác nhau, trong quá trình tự nhận thức trước cuộc sống, cái tôi nào đó được lựa chọn, vươn lên tự khẳng định, cái tôi lúc này đã là cái tôi công dân xã hội, hướng về tình cảm chung của cộng đồng, cái tôi hòa hợp vào cái ta cộng đồng Nó khác với cái tôi
cá nhân phân biệt người này với người khác, cái tôi khẳng định sự chung sức chung lòng cho sự nghiệp đánh giặc cứu nước.Đến giai đoạn sau 1954, cái tôi riêng của tác giả xuất hiện trở lại, xu hướng trữ tình hướng nội đã tăng lên Những cảm xúc cá nhân được quan tâm nhiều hơn:
Ngày mai tôi xa rồi Biết bao giờ trở lại
Ôi thành phố tôi yêu Dưới một trời nắng dãi (…) Ngày mai tôi xa rồi
Lòng tôi còn ở lại
(Gặp lại thành phố nắng – Xuân Diệu)
Trang 20Giai đoạn sau năm 1975, cái tôi trữ tình của tác giả là cái tôi đa diện.Chiến tranh đã lùi xa, đất nước vẫn chưa tìm được con đường đi đúng cho mình Cái tôi trong văn học được thể hiện nhiều nhưng là một cái tôi cô đơn, bâng khuâng trước dòng chảy của thời gian, của tình hình đất nước Sau năm 1986, đất nước bước vào thời kì cải cách mở cửa để tìm ra con đường đi đúng đắn cho toàn dân tộc, cái tôi tự do phát triển cùng thời đại.Thơ cũng bước vào thời kì cách tân đi trước thời đại đề cao cái tôi cá nhân, lên tiếng đòi cải cách thay đổi Hàng loạt những cây bút trẻ ra đời với những phong cách mới, thể hiện dấu ấn cá nhân đậm nét như: Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Quang Thiều, Vi Thùy Linh Tóm lại, cái tôi trữ tình trong văn học hiện đại là một cái tôi đa diện, cái tôi ấy thay đổi theo từng giai đoạn trong tiến trình vận động của nền văn học
1.3.Những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Quang Thiều
1.3.1.Khái quát về cuộc đời nhà thơ Nguyễn Quang Thiều
Nguyễn Quang Thiều sinh ngày 13 tháng 2 năm 1957 tại làng Chùa, ven
bờ sông Đáy thuộc xã Sơn Công – huyện Ứng Hòa – tỉnh Hà Tây cũ (Nay thuộc Hà Nội) Hiện giờ, ông sống ở thị xã Hà Đông – Hà Nội Ông xuất thân trong một gia đình viên chức, thủa nhỏ sống ở quê Sau khi tốt nghiệp đại học ở
Cu Ba, ông về nước công tác ở ngành an ninh một thời gian
Năm 1983 Nguyễn Quang Thiều bắt đầu viết văn và trở thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1991 Năm 1992 ông làm việc ở tuần báo văn nghệ - biên tập báo Văn nghệ của Hội nhà văn Việt Nam Năm 2007 ông cùng
với nhà văn, thiếu tướng công an Hữu Ước sáng lập nên hai tờ báo: “An ninh thế giới cuối tháng” và “Cảnh sát toàn cầu”
Tại Đại hội toàn thể Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII (8/2010)Nguyễn Quang Thiều được bầu vào ban chấp hành Hiện nay, ông là phó chủ tịch Hội nhà văn phụ trách đối ngoại, đồng thời là ủy viên ban biên tập báo điện tử Vietnamnet Cùng với ban chấp hành mới, trong bộn bề công việc với trách nhiệm lớn lao nhưng ông vẫn luôn dành thời gian cho việc sáng tạo thơ ca
Trang 211.3.2 Những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác
Tới nay Nguyễn Quang Thiều đã xuất bản 10 tập thơ, 16 tập văn xuôi, 3 tập sách dịch và hơn 300 bút ký, tiểu luận, phê bình, tản văn Những tác phẩm thơ và truyện ngắn của ông đã được xuất bản ở Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Na – uy, Thụy điển, Nhật, Ai – len, Côlômbia, Venezuela, Hàn Qu ốc, Đài Loan, Thái Lan
* Các tác phẩm đã xuất bản
- Thơ: Đêm trên sân ga (1983), Trò chuyện với Hôxê Macti (1986), Ngôi nhà tuổi 17(1990), Sự mất ngủ của lửa(1992), Những người lính của làng(Trường ca, 1994), Những người đàn bà gánh nước sông(1995), Nhịp điệu châu thổ mới(1997), Thơ Nguyễn Quang Thiều(1997), Bài ca những con chim đêm(1999), Cây ánh sáng(2008), Châu thổ (2010)
- Tiểu thuyết: Cỏ hoang(1990), Vòng nguyệt quế cô đơn(1991), Tiếng gọi tình yêu(1992), Kẻ ám sát cánh đồng(1995)
- Truyện ngắn: Mùa hoa cải bên sông(Truyện ngắn, 1989),Thành phố chỉ sống 60 ngày (Bút kí, 1991), Cái chết của bầy mối (Truyện ngắn, 1991), Hai người đàn bà xóm Trại(Truyện ngắn, 1993), Người đàn bà tóc trắng(1993), Rùa trắng(Truyện thiếu nhi, 1995), Đứa con của hai dòng họ (1996), Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều(1996), Người cha(Truyện thiếu nhi, 1997), Bí mật hồ cá thần(Truyện thiếu nhi, 1997), La Fille du Fleuve(Nxb Laube – Pháp, 1998), Lapetide Marchande ge Vermicelles(Nxb Laube – Pháp, 1998), Con quỷ gỗ (Truyện thiếu nhi, 2002), Người nhìn thấy trăng thật(2003), Ngọn núi bà già mù(2004), Có một kẻ rời bỏ thành phố (Tiểu luận và tản văn, 2010)
- Dịch thuật:Chó Dingô(Truyện ngắn Australia tác giả tham gia tuyển chọn, giới thiệu và tham gia dịch chung, 1992),Thế giới không kết thúc (Thơ đương đại Mỹ, 1995), Năm nhà thơ Hàn Quốc (dịch 2003), Khoảng thời gian không ngủ (Tập thơ Mỹ viết về chiến tranh và Việt Nam, tác giả tuyển chọn và
tham gia dịch chung, 1995)
* Giải thưởng văn học đã nhận:
Trang 22Năm 1983 – 1984 đạt giải thưởng thơ của tạp chí Văn nghệ Quân đội với
tác phẩm Đêm trên sân ga Năm 1986 đạt giải thưởng thơ của Liên đoàn Thanh niên sinh viên Đại học Tổng hợp Lahabana với Trò chuyện với Hôxê Macti
Năm 1989 – 1990 đạt giải thưởng tạp chí Văn nghệ Quân đội với tác phẩm
truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông Năm 1991 đạt giải thưởng của Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh với tác phẩm truyện ngắn Cái chết của bầy mối Giải thưởng bút kí 1991 của tuần báo Văn nghệ (Hội nhà văn) với Thành phố chỉ sống 60 ngày Giải thưởng thơ hay 1993 của báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh với tác phẩm Những người đàn bà gánh nước sông Giải thưởng truyện ngắn (1993 – 1994) của tạp chí Văn nghệ Quân đội với Hai người đàn bà xóm Trại Giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam với tập thơ Sự mất ngủ của lửa(1993)
Tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều còn được dịch ra nhiều thứ tiếng và
cũng nhận được nhiều giải thưởng ở ngoài nước Tiêu biểu là cuốn The Women Carry River Warter (Nxb Báo chí Massachu – Sertts and Amharst – USA, 1997) Đây là bản Anh ngữ của cuốn Những người đàn bà gánh nước sông
được University của Massachusetts Press xuất bản năm 1997 và được The national Translation Association of America trao giải thưởng vào năm 1998
1.3.3 Quan niệm sáng tác và tư duy đổi mới thơ của Nguyễn Quang Thiều
1.3.3.1 Quan niệm sáng tác của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều
Đặc tính quan trọng nhất của lao động nghệ thuật là sáng tạo Nó thể hiện bản lĩnh, tài năng và niềm đam mê đối với nghệ thuật của mỗi nhà thơ Trên hành trình đổi mới thơ ca, mỗi một nỗ lực cách tân nghệ thuật đều mang những quan niệm thẩm mỹ và hệ tư tưởng triết học riêng và nó được thể hiện qua những quan niệm và phương thức biểu hiện của mỗi cá nhân khiến cho con đường thơ ca luôn đa chiều, đa sắc
Thơ Việt Nam hiện đại sau 1975 là hành trình đổi mới đầy nỗ lực của nhiều thế hệ thi sĩ, trước hết là cái nhìn mới trong quan niệm về thơ hiện đại
Trang 23Mỗi nhà thơ thể hiện cái tôi thông qua bản lĩnh, tài năng và niềm đam mê khác nhau bằng những quan niệm thẩm mỹ, hệ tư tưởng và phương thức biểu hiện
Nguyễn Quang Thiều đã thể hiện niềm say mê bất diệt ấy của mình qua
nhiều lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật khác nhau Theo nhà thơ: “Không ít văn nghệ sĩ thường nghĩ, có một cái gì đó giống như một sự xung đột hay sự mâu thuẫn giữa nghệ thuật trong cùng một con người sáng tạo ra nó Đấy là một sai lầm Bởi bản chất của mọi sáng tạo nghệ thuật là như nhau Chúng chỉ khác nhau về hình thức
và ngôn ngữ thể hiện Hơn nữa, mọi loại hình nghệ thuật mà tôi sáng tạo chỉ nhằm tìm đến nền tự do của tôi mà thôi Đấy là nơi chốn duy nhất vẫy gọi tôi.”
[3] Nguyễn Quang Thiều hoạt động và sáng tác ở nhiều lĩnh vực khác nhau như truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch sân khấu, kịch bản phim, tiểu luận, báo chí Ở lĩnh vực nào ông cũng gặt hái được những thành công Tuy nhiên, thơ ca vẫn luôn là
“miền đất thánh” vẫy gọi ông, là nơi duy nhất giải phóng hữu hiệu sự sáng tạo
của nhà thơ
Nguyễn Quang Thiều đã mang tới cho độc giả sự lôi cuốn không tưởng trong những sáng tác thơ đầy chất mới mẻ Những phát ngôn mang khát vọng đổi mới tư duy thơ của ông được thể hiện chân thành qua những lời nhận định trong tác phẩm, những bài trả lời phỏng vấn Đây cũng là nhịp cầu dẫn dắt người đọc trên hành trình khám phá thơ Nguyễn Quang Thiều
Nguyễn Quang Thiều quan niệm làm thơ là “làm mới lại những gì đã cũ
và làm sống lại những gì đã chết” [21] Với nhà thơ: thế giới ngàn đời luôn tồn
tại như vậy, cái mới có hay chăng chính là cái nhìn mới của con người về cuộc sống? Bởi vậy, cái mới là những gì mà nhà thơ phát hiện trong đời sống của mình, hoặc một đời sống liên quan đến nhà thơ mà nhiều khi chính ông tưởng
đã cũ mèm Ông nói: “Với cá nhân tôi, khi tôi viết nghĩa là tôi đang hồi tưởng
về một đời sống tôi đã sống Tôi đang tự mang đến cho mình một nền tự do, một trí tưởng tượng và một giấc mơ” [16] Quan niệm này thể hiện mạch cảm
xúc chính trong thơ Nguyễn Quang Thiều
Trang 24Theo Nguyễn Quang Thiều, trong việc đổi mới thơ ca “điều quan trọng nhất là tạo ra sự ám ảnh và điều tệ hại nhất là thiếu trí tưởng tượng.” [21]
Thơ Nguyễn Quang Thiều đã đem tới cho người đọc một thế giới riêng biệt nhưng chứa đầy bí ẩn sâu xa, phản ánh được cuộc sống thực tại đa chiều Những tác phẩm thơ của Nguyễn Quang Thiều không chỉ hướng về cái đẹp mà còn hướng tới việc thể hiện những suy tư, trăn trở về sự đồi bại, sự suy tàn, hủy
diệt cái đẹp của cuộc sống hiện nay Trong “Thông điệp về cái đẹp và tự do”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều bày tỏ: “Sự giải phóng hiệu nghiệm nhất những
bế tắc của đời sống con người là sự tự nở hoa trong tâm hồn của chính con người Thơ ca là con đường dẫn con người đến sự tự nở hoa đó” [53] Chức
năng thẩm mĩ luôn là một đặc tính của thơ ca, nó không chỉ mang tới cho người đọc những tư tưởng đẹp mà còn là những hình thức đẹp Từ những cái nhìn mới
đó, con người sẽ cảm nhận và gạn lọc khơi trong tâm hồn mình để hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn Trong thế giới hiện đại, chức năng thanh lọc tâm hồn của thi ca được nhà thơ Nguyễn Quang Thiều hướng tới với niềm ước vọng
không nguôi: “có thể những bài thơ cụ thể nào đó không cứu rỗi được thế giới nhưng những gì mang tinh thần của thi ca đã và đang cứu rỗi thế giới”[53]
Khi nhìn nhận việc đổi mới trong thơ hiện đại, Nguyễn Quang Thiều cho rằng việc đổi mới thơ ca không dễ dàng một chút nào Nó không chỉ là hình thức, nó không chỉ là nội dung mà nó phải mang đến một tư duy khác, một mỹ học và một tư tưởng khác Đổi mới thơ ca không bao giờ chứa đựng tính thời thượng Quan niệm về thơ của Nguyễn Quang Thiều thể hiện sự nghiêm túc và đầy nỗ lực của một người nghệ sĩ mang khát vọng đổi mới thơ ca; bởi đối với
ông: “Thơ ca mãi mãi là một phần sự sống quan trọng của tôi.” [47]
Nguyễn Quang Thiều luôn sáng tác thơ ca với niềm say mê và không bao giờ thỏa mãn Cái tôi trữ tình trong thơ của ông là sự hối thúc, là sự suy ngẫm
cuộc đời dẫn dắt tới những thành công “Tôi luôn tìm cách phủ định chính bản thân mình bằng những thử thách khác nhau.”, “Phủ định chính bản thân mình chính là sự chuyển động Nếu không chuyển động thì mọi vật đều bị hủy diệt
Trang 25Phủ định thì mới có phát triển.”[3] Khi nhìn nhận sự đổi mới trong cảm hứng
sáng tác của Nguyễn Quang Thiều qua mỗi tập thơ ta sẽ thấy đó là sự khẳng định rõ nét những quan niệm sáng tạo nghệ thuật của ông
1.3.3.2 Nguyễn Quang Thiều và những đổi mới trong cảm hứng sáng tác
Ở Nguyễn Quang Thiều có sự hòa quyện giữa hai mạch nguồn tình cảm phong phú: lối cảm nhận tinh tế đậm màu sắc phương Đông và lối tư duy phân tích sắc sảo của phương Tây đã tạo nên nét riêng biệt trong thơ ông Từ cảm hứng sáng tác cho tới cách diễn đạt đều thể hiện cái nhìn mới về thế giới quan,
nhân sinh quan của một trái tim “mất ngủ” bởi niềm say mê nghệ thuật, bởi
niềm thao thức với cuộc đời
Nhờ sự đổi mới trong cảm hứng sáng tác, Nguyễn Quang Thiều đã mang
tới cho làng thơ hiện đại một giọng điệu thơ đa thanh và đa sắc.Từ Ngôi nhà tuổi 17 (1990) đến Cây ánh sáng(2009) là hành trình sáng tác đánh dấu sự
chuyển biến rõ rệt trong cảm hứng sáng tác thơ Nguyễn Quang Thiều Đó cũng
là hành trình khắc họa những nét chuyển biến chung trong đời sống thi ca thời
kỳ đổi mới, đồng thời ghi nhận những thành công bước đầu của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều trên con đường cách tân thơ ca
Tập thơ Ngôi nhà tuổi 17(1990) là tập thơ đầu tay của Nguyễn Quang
Thiều Tập thơ đã đánh dấu bước chân đầu tiên của nhà thơ trên hành trình đi tìm
“miền đất hứa” trong sự nghiệp thơ ca của ông Ngôi nhà tuổi 17 là “một thế giới trong sáng, tinh khiết của một đời sống ký ức và cả những lo âu thân thuộc của làng quê” [48] Với những thể thơ quen thuộc như: thể thơ lục bát, thơ ngũ ngôn,
thơ tự do Nguyễn Quang Thiều mở ra cho người đọc một không gian thơ gần gũi,
mang giọng điệu hóm hỉnh và hồn nhiên:
Sao mẹ không gọi về cho con Những con thuyền thuở trước Những con thuyền lần ra cửa biển Mưa rất dài ướt hết cả dòng sông
Trang 26(…) Những con thuyền sinh ra từ rừng sâu Mang hình lá đổ về biển cả
Cánh buồm nâu như những bàn tay nhỏ Vẫy con…vẫy con về với biển
Nơi dòng sông vừa gặp vỡ òa
(Những con thuyền sông Đáy)
Khi nói về tập thơ đầu tay của mình, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều viết:
“nó không hoàn toàn là tôi Có một phần của ai đó trong những bài thơ tôi viết
ra Tôi nhận thấy lối viết đó đã ít nhiều đi lại lối đi của một số nhà thơ trước
đó Hơn nữa, tôi nhận thấy con người thực sự của tôi vẫn đang đứng sau những bài thơ kia”[21] Xuất phát từ những yếu tố khách quan và do nhu cầu
nội tại nên ý thức về sự cách tân đã bám sâu vào tâm thức của nhà thơ như một
lẽ tự nhiên để nhà thơ được là chính mình: “Có lẽ tôi không ý thức rõ ràng sự
cách tân mà chỉ muốn là chính tôi Và ngay sau đó hai năm, tập thơ Sự mất
ngủ của lửara đời Đó là giọng nói của chính tôi, là thế giới ngôn từ và hình
ảnh của tôi, là tất cả những gì mà tôi muốn phơi bày và tưởng tượng”[21]
Tập thơ Sự mất ngủ của lửa ra đời năm 1992 (được giải thưởng Hội
nhà văn năm 1993) là một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp thơ ca Nguyễn Quang Thiều, đánh dấu bước ngoặt chuyển đổi về cảm xúc, tư duy,
thi pháp thơ Nguyễn Quang Thiều
Nhìn tổng quan về thi pháp, thơ Nguyễn Quang Thiều trong Sự mất ngủ của lửa đã kiến tạo thành công những kết cấu mới, mở ra những liên tưởng phi
tuyến tính, và đặc biệt, tạo những hình ảnh lạ lẫm, trương nở, chuyển động nhanh, khác hẳn với những quy luật cũ Sông Đáy là hình ảnh quen thuộc trong
thơ Nguyễn Quang Thiều Đến tập thơ này, cái nhìn về “Sông Đáy” đã có sự
đổi mới rõ rệt.Nếu những hình ảnh con thuyền, cửa biển, cơn mưa, dòng
Trang 27sông… trong tập Ngôi nhà 17 tuổi vẫn là cách liên tưởng đơn tuyến, quen
thuộc, ít gây bất ngờ:
Những con thuyền lần ra cửa biển Mưa rất dài ướt hết cả dòng sông
(Những con thuyền sông Đáy)
“Sông Đáy” trong tập thơ Sự mất ngủ của lửa đã nhảy một bước dài:
Cơn mơ vang lên tiếng cá quẫy tuột câu như một tiếng nấc
Âm thầm vỡ trong tôi, âm thầm vỡ cuối nguồn
Ở đây, cơn mơ, tiếng cá quẫy tuột câu, tiếng nấc, tôi, cuối nguồn là
những hình ảnh cách biệt, xa nhau nhưng cùng cuộn trôi theo một từ trường cảm xúc mạnh, nhất quán, tạo được hiệu ứng không gian và bật lên sức liên tưởng mạnh mẽ: đó là cách liên tưởng đa tuyến Thơ Nguyễn Quang Thiều thường không áp dụng cố định những thủ pháp của các trào lưu hiện đại, như siêu thực, tượng trưng, biểu hiệnnhưng câu thơ trên có cách liên tưởng gần với tượng trưng, tạo hiệu ứng về hình ảnh và âm thanh rất kỳ lạ
Việc gián tiếp miêu tả đối tượng, nhìn đời sống bằng “hệ quy chiếu” khác
đã mang tới cho thơ Nguyễn Quang Thiều một cái nhìn mới mẻ về hiện thực, một
giọng điệu ngân vang vượt lên khỏi “giàn đồng ca trong trẻo” thời đó Ý thức mới về sự cách tân được thể hiện rõ khi nhà thơ bứt phá ra khỏi không gian “êm ả, ngọt ngào và đẫm màu cổ tích” của tập thơ Ngôi nhà tuổi 17 để mở ra thế giới hiện thực đa dạng và phức tạp hơn Trong Sự mất ngủ của lửa, nguồn cảm xúc
chủ đạo mà nhà thơ Nguyễn Quang Thiều thể hiện đó chính là nỗi niềm thương nhớ quê hương và những người yêu dấu của mình Tuy nhiên, cách thể hiện mạch nguồn tình cảm ấy lại mang sắc thái riêng qua việc nhà thơ sử dụng những thể thơ tự do, thơ văn xuôi – những thể thơ có sức bao quát rộng, khát quát được những bề bộn của cuộc sống và chuyển tải nhịp nhàng những cung bậc gồ ghề của tình cảm Điều này đã góp phần không nhỏ trong việc khắc họa bản lĩnh cách tân thơ của Nguyễn Quang Thiều
Trang 28Cái nhìn mới của nhà thơ về cuộc sống được thể hiện trong Những người đàn bà gánh nước sông là hình ảnh những thân phận lầm lũi trong thế giới
nham nhở, hỗn tạp đầy ám ảnh với sự đa dạng của nhiều thanh âm: tiếng chó
sủa, tiếng súng bắn tỉa, tiếng nguyện cầu và tiếng “khóc” của cái tôi trữ tình
của nhà thơ dành cho cuộc đời:
Người đàn bà ngồi vấn lại tóc mình Bên cửa sổ hoa xương rồng đã cũ Những tấm áo nhiều màu buồn hơn buổi sáng Mặc vào chiếc dây phơi lạnh lẽo, gầy còm
(Buổi chiều)
Cảm hứng trong tập thơ này phần nào nhuốm màu sắc của tôn giáo Người đọc cũng khó nắm bắt tứ thơ khi những hình ảnh mà nhà thơ thể hiện đôi khi lại rời xa nhau trong những kết dính mờ nhạt nhưng lại mang hiệu quả lớn trong việc thể hiện mục đích sáng tạo nghệ thuật
“Giấc mơ đầy nhân bản” về nhịp sống mới của con người; nhịp điệu sinh tồn, vĩnh hằng của đất đai sứ sở cũng là nguồn cảm xúc toát lên từ Nhịp điệu châu thổ mới Những bài thơ ngắn dường như không đủ chứa những vấn
đề rộng lớn của đời sống nên nhà thơ đã thả hồn mình qua những bài thơ dài
Chuyển dịch màu đen và Nhịp điệu châu thổ mới là hai trường ca tiêu biểu
“Đây là hai bài thơ mà tác giả của nó đã phát triển ý nghĩa tượng trưng của đời sống ở mức độ tầng lớp nên rất khó cảm nhận”[31, tr.511] Bước chuyển
đổi trong thi pháp này phản ánh tầm bao quát rộng lớn trong thơ Nguyễn Quang Thiều và khả năng thay đổi cách viết tài tình của nhà thơ
Tập thơ Bài ca những con chim đêm là một bước ngoặt lớn trong sự
chuyển đổi cảm hứng sáng tác thơ Nguyễn Quang Thiều Với nỗi niềm trăn trở
về cuộc sống về khả năng tái sinh của nhân loại, Nguyễn Quang Thiều đã phản ánh những góc khuất tối vốn bị che dấu trong đời sống xã hội và tâm hồn con người bằng những vần thơ đậm màu sắc tượng trưng:
Trang 29Khi những ngọn đèn lần lượt tắt và chúng ta đi
Tất cả những người chết trở về thành phố
Trà trộn trong những linh hồn thánh thiện,
Những linh hồn ân hận, những linh hồn say đắm là những bóng ma
Một cánh cửa khẽ rít lên, một cái cây chợt rung xào xạc
Một con chó bị xích bỗng sủa thảng thốt
Những đám mây chầm chậm vắt ngang ánh sáng vầng trăng
Gió thổi những tấm rèm tung lên rồi buông xuống bất động
Những người chết trở về đông hơn những người đang sống trong thành phố
Họ trở về và sống trong đời sống chúng ta
Tập thơBài ca những con chim đêm“vang dội tiếng thét khi đời sống quá
uể oải, nhàm chán và trơ cùn Tất cả thực tại giật nảy lên và trong sự sợ hãi, đau đớn thực sự, chúng dường như tìm ra con đường sáng vươn lên tới tận đỉnh đồi của sự bình yên bất tử”[48] Trí trưởng tượng trong thơ Nguyễn Quang Thiều
thể hiện cái tôi với chiều sâu tâm linh hướng tới giấc mơ nhân bản về những điều cần có và nên có trong thế giới đầy sự tranh đấu này:
Và tôi bắt đầu cuộc trò chuyện với chính tôi để chống lại sự can thiệp
Của những gì không là tôi mà lại giống tôi Một đầu bàn tôi ngồi, đầu kia là ảo ảnh Bên cạnh chúng tôi đào sẵn huyệt sâu Đặt giữa bàn, ngôn ngữ cuộc trò chuyện, nửa trắng nửa đỏ Như quả táo trong truyện Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn Những cái lưỡi để phát nổ những đơn âm bắt đầu rướn chạy Một cái chết đang chờ, hoặc ảo ảnh hoặc tôi
(Độc thoại)
Trang 30Ra đời sau 10 năm khi tập thơ Bài ca những con chim đêm khẳng định tài năng thơ Nguyễn Quang Thiều đang ở độ chín, Cây ánh sáng (2009) là tập
thơ ghi dấu sự chuyển biến vượt bậc trong nỗ lực cách tân thơ Nguyễn Quang
Thiều cả về nội dung và thi pháp thể hiện: “Khước từ mọi niêm luật và bỏ qua
sự vòng vèo của vần điệu Nhưng trong “Cây ánh sáng” vẫn hiện ra một tiết nhịp, thật mơ hồ, nhưng không thể chối bỏ sự tồn tại của nó, sự chuyển động của các thi ảnh được kết nối bởi các động từ Đó là sự vận động của bản thể, của tự nhiên, sự hoán chuyển qua lại giữa hữu thể và hư vô trong một hiện thực duy nhất”[49]:
Chiếc chum sành lắc lư
Những con cá ướp Phun chảy những dòng trứng
Nở ra những con cá Trong dòng hải lưu suy tưởng bất tận của tôi
(Những con cá ướp)
Ở tập thơ này, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều lại hướng người đọc trở về với những cội nguồn tình cảm mang đậm dấu ấn cá nhân hơn Đó cũng chính là những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà thơ về cuộc đời không ngừng sóng gió và cũng là kết tinh những quan niệm sáng tác thơ của ông Vẻ đẹp của thơ Nguyễn Quang Thiều mang đầy những trầm tích mà người đọc không chỉ bằng cảm xúc, niềm đam mê mà còn phải nghiền ngẫm, tư duy, xem xét ở nhiều góc độ thì mới phát hiện ra những trạng thái tinh vi của tình cảm mà nhà thơ gửi gắm Nhờ đó, sức hấp dẫn của thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn luôn thao thức trong lòng người bởi chiều kích không gian rộng mở với cái nhìn mới về thế giới được xây dựng qua bút pháp hiện đại
Cách tân nghệ thuật là sự đổi mới không ngừng của nhiều thế hệ thi sĩ trên hành trình sáng tạo thơ ca Trong mạch nguồn văn học dân tộc, những hướng thể nghiệm và cách tân trong thơ hiện đại sau 1975 vẫn còn nhiều ý kiến
Trang 31chưa thỏa đáng Dấn thân trên con đường mạo hiểm và cũng nhiều cay đắng, Nguyễn Quang Thiều sáng tạo thơ ca bằng niềm đam mê của một hồn thơ luôn hướng về vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn con người Cách tân nghệ thuật trong thơ Nguyễn Quang Thiều thể hiện sự kiên định trong quan niệm sáng tác của ông
Tiểu kết:Hình ảnh cái tôi trữ tình là sự đổi mớitrên hành trình sáng tạo
thơ ca của nhiều thế hệ thi sĩ.Nguyễn Quang Thiều dấn thân trên con đường sáng tạo thơ ca đầy mạo hiểm và nhiều cay đắng nhưng bằng niềm đam mê của một hồn thơ luôn hướng về vẻ đẹp của cuộc sống, tâm hồn con người Hình ảnh cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều thể hiện sự kiên định trong quan niệm sáng tác Với bản lĩnh và tài năng ông đã và đang khẳng định vị trí của mình trênhình ảnh cái tôi trữ tình trong thơ Việt
Trang 32Chương 2: SỰ THỂ HIỆN CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ
NGUYỄN QUANG THIỀU 2.1 Cái tôi của những nỗi niềm muôn thuở
Trong thời kỳ đổi mới, những biến động phức tạp của đời sống xã hội đã dẫn tới sự đổi thay trong quan niệm thẩm mỹ Trên cơ sở những quan niệm mới
về con người, cái tôi trữ tình sau 1975 cũng có sự vận động mang tới những đổi
mới trong thơ trữ tình “Thơ trữ tình có xu hướng trở về bản chất nguyên thủy của thể loại: bộc lộ, phơi bày cảm xúc của chủ thể về những nỗi niềm muôn thuở của con người.” [1, tr.195] Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang
Thiều cũng không nằm ngoài sự vận động ấy
2.1.1 Cái tôi đa cảm
Khám phá thơ Nguyễn Quang Thiều, người đọc sẽ cảm nhận được những mạch nguồn tình cảm phong phú, những con sóng thơ nồng nàn tha thiết, trĩu nặng chất suy tư trăn trở của nhà thơ đối với cuộc đời Đó là những cung bậc
cảm xúc của một trái tim đa đoan, đa sự, đầy đam mê, khao khát
Đọc thơ Nguyễn Quang Thiều, ta bắt gặp cái tôi đa cảm của nhà thơ trong tình yêu.Tình yêu luôn là nguồn thi tứ bất tận của văn chương Nhà thơ Xuân Diệu đã viết về tình yêu với những cảm xúc khát khao giao cảm mãnh liệt:
Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!
Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!
Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!
Hãy khắng khít những cặp môi gắn chặt Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng Trong say sưa, anh sẽ bảo em rằng:
“Gần thêm nữa! Thế vẫn còn xa lắm!”
( Xa cách – Xuân Diệu )
Trang 33Hay ƣớc muốn chiếm hữu trong tình yêu nhƣ nhà thơ Nguyễn Bính đã viết:
Cô nhân tình bé nhỏ của tôi ơi Tôi muốn môi em chỉ mỉm cười Những lúc có tôi và mắt chỉ Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi
Tôi muốn em đừng nghĩ đến ai Đừng hôn dù thấy đóa hoa tươi Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ Đừng tắm chiều nay biển lắm người…
Và rồi thi sĩ kết luận:
Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi Thế nghĩa là yêu quá mất rồi
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của riêng tôi
Đến với thơ Nguyễn Quang Thiều, ta cũng bắt gặp những cảm xúc nồng nàn và tha thiết ấy Tuy nhiên, các cung bậc cảm xúc của tình yêu lại đƣợc nhà thơ
nhìn nhận qua một lăng kính mới mẻ thể hiện trong hàng loạt các bài thơ: Bây giờ đang cuối mùa đông, Một bài hát tình yêu của làng chùa, Những ngôi sao, Đêm gần sáng, Bản tuyên ngôn của cơn mơ, Hai con hải cẩu,… Bài thơ Những ngôi sao là một trong những bài thơ viết về tình yêu hay nhất của nhà thơ Nguyễn
Quang Thiều:
Đêm nay là đêm thứ bao nhiêu rồi ta chẳng còn biết nữa
Ta ôm nhau ngồi thở trước sao trời Những ngôi sao tuyệt vời nhưng anh không với được Chẳng bao giờ anh hái được cho em (…)
Đêm nay là đêm thứ bao nhiêu rồi ta chẳng cònbiết nữa
Ta như hai đứa trẻ non mềm vừa mới sinh ra Với hơi thở của người vừa ốm dậy
Ta ôm nhau ngước mắt gọi sao trời
Trang 34Thế giới của tình yêu chứa thật nhiều điều bí ẩn, hai người yêu nhau cùng sống và hướng tới một mục đích chung, nhưng ngay cả trong những giây phút tưởng chừng như hòa hợp với cảm xúc đắm say ấy con người vẫn cảm thấy có một nỗi cô đơn, trống trải trong vũ trụ bao la Trong tâm hồn họ vẫn có một chút gì đó mơ hồ lo âu thoảng qua, vẫn gợn lên như những đợt sóng, những nghĩ suy trăn trở về cuộc sống, về tương lai Tuy vậy, trong nỗi niềm rung cảm riêng tư ấy, họ vẫn luôn có một niềm tin, cùng hướng tới những vì sao, cùng ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc
Viết về tình yêu, vẫn trở về với cõi linh thiêng, sâu thẳm nhất của tình cảm con người nhưng nhà thơ Nguyễn Quang Thiều không chỉ thể hiện những trạng thái của tình yêu mà đặt những tình cảm ấy trong mối quan hệ nhiều chiều:
Và chúng ta cùng hát, đôi môi bất tử Chúng ta như hai khối đồng nung chảy tan hòa vào nhau Chúng ta hắt sáng như ban mai, chúng ta nồng thơm như cánh đồng
Chúng ta vô tận như nơi sinh ra chúng ta
Trong khung cảnh vô cùng đẹp đẽ ấy bỗng xuất hiện những vị khách không mời:
Trên đầu chúng ta bầy chim ăn thịt mỗi lúc một đông Chúng liệng từng vòng mắt nhìn chúng ta không chớp
Từ trên cao tiếng chúng mang theo cái chết Chúng ta thấy những cái móng sắc lướt lạnh dọc sống lưng
Chúng chỉ chờ máu chúng ta ngừng chảy, tiếng chúng ta ngừng vang
thân thể chúng ta ngừng nóng và mắt chứa đầy bóng tối như những kẻ đói khát nhất thế gian này chúng sẽ lao xuống
Và tình yêu sợ hãi của chúng ta sẽ thành bữa tiệc cho sự khoái trá
Trang 35Theo nhà thơ, tình yêu khi đã trải qua những khó khăn, thử thách của cuộc sống khắc nghiệt sẽ trở nên vĩ đại và đáng trân trọng hơn Bởi thế, ông viết tiếp:
Bởi thế tình yêu trở nên vĩ đại và thách đố trong cả những nơi tăm tối chúng ta phải sống trong cả những giấc ngủ trên chiếc giường chật hẹp cơn mơ chúng ta không được phép đầu hàng
(Bản tuyên ngôn của cơn mơ)
Trong bài thơ Hai con hải cẩu ta thấy tình yêu không đơn thuần chỉ là
tình cảm của hai người Ở đó tình yêu còn chịu sự chi phối, ràng buộc của hoàn cảnh, của nhiều mối quan hệ Hai nhân vật trữ tình trong bài thơ yêu nhau nhưng tình yêu ấy không thể cách biệt đơn lẻ với những mối quan hệ của những người thân yêu Cuối tác phẩm mạch nguồn chung của tình cảm gia đình vẫn dạt dào tuôn chảy theo tiếng gọi của biển:
Biển đang gọi họ về với biển Hay đang đuổi họ đi
(Hai con hải cẩu)
Có thể thấy hầu như trong tất cả những sáng tác của mình, nguồn cảm xúc sâu lắng nhất được Nguyễn Quang Thiều trở đi trở lại đó là cảm xúc về những người thân yêu (ông nội, bà nội, cha, mẹ, vợ, con gái ) Với thế mạnh về thể thơ tự do, thơ văn xuôi, Nguyễn Quang Thiều đã tạo nên cách thể hiện mới Nhà thơ không chỉ chú trọng miêu tả những cung bậc tình cảm sâu lắng, thiết tha mà còn chú trọng tới việc tạo dựng, xác lập mối quan hệ giữa nhân vật trữ tình với người cha, người mẹ khiến cho tác phẩm thơ được
đặt trong một kết cấu chặt chẽ Bài thơ Dâng trà đã tái hiện được dòng cảm
xúc thành kính của nhân vật trữ tình dành cho người cha:
Trang 36Thưa cha, con đã dâng trà Sao cha im lặng như là bóng mây
Để hồn trà khuất đâu đây Xác trà lạnh ngắt đổ đầy lòng con
Thơ Nguyễn Quang Thiều giống như một câu chuyện kể, có tình tiết, sự kiện và
có cả những diễn biến trong cảm xúc của nhân vật Đó có thể là câu chuyện về
một con mèo hoang:
Có một con mèo hoang Lang thang trên đồng cỏ Bốn cái chân gầy nhỏ Đôi mắt tròn buồn teo Khi đồng cỏ vào đêm Gió lồng như quỉ dữ Mèo len lén tìm về Những ngôi nhà có lửa
(Có một con mèo hoang)
Khám phá thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều, người đọc tự cảm nhận, tự chiêm nghiệm và thức dậy trong lòng mình một thế giới riêng Thơ Nguyễn Quang Thiều mang tính khái quát, chính điều đó khơi gợi ở người đọc
sự đồng cảm và chia sẻ
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều không chỉ hướng đến khám phá vẻ đẹp cuộc sống qua những biến đổi tinh tế của thiên nhiên, tạo vật mà ông còn luôn khát khao hướng tìm vẻ đẹp ấy ở ngay trong cuộc sống của con người Trước những số phận bất hạnh của con người trong đời sống hiện đại, ông luôn thể
hiện nỗi niềm cảm thương sâu sắc qua hàng loạt những bài thơ như: Những ví
dụ, Cơn mê, Trên đại lộ, Những người đàn bà gánh nước sông, Bản khai sinh lần 2, Buổi chiều, Trong tiếng súng bắn tỉa, Mỗi sáng tôi mở cửa Mạch nguồn
Trang 37cảm xúc ấy thể hiện sự gắn bó sâu sắc của nhà thơ đối với cuộc đời Tiêu biểu
là những câu thơ sau:
Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen tõe ra như móng chân gà mái
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy Những người đàn bà xuống gánh nước sông
Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi Bàn tay kia bám vào mây trắng
(Những Người đàn bà gánh nước sông)
Hay hình ảnh những người đàn bà vác dậm trong bài thơ Trên đại lộ:
Người họ bọc kín bởi những lớp vải nâu và đen Chỉ đôi tay, đôi chân và đôi mắt lộ ra
Nhưng tất cả cùng một màu như thế Những chiếc dậm trên vai họ như vầng trăng khuyết vớt từ bùn lên Những cái giỏ bên hông như những cái đầu trọc lắc lư theo nhịp bước
Bóng họ đổ xuống đường thành những vũng đen
Trong xã hội hiện đại cùng với những thay đổi phức tạp của đời sống là
sự đảo lộn khôn lường của những chuẩn mực cũ Thơ Việt Nam sau 1975 có xu
hướng trở về với đời tư, trở về với cái tôi cá nhân, khẳng định cá tính: “Thơ là nơi xuất phát cuộc tìm kiếm khó khăn và quyết liệt của người làm thơ trên lộ trình trở về bản thể thi sĩ, trở về cái tôi Đối diện với chính mình, nhà thơ có dịp nhận thức những gì đã trải nghiệm của bản thân, đi sâu vào khai thác khám phá “thế giới ngay trong mình” [36]
Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều luôn khát khao tìm lại những giá trị nguyên sơ cao quý của tâm hồn con người Cái tôi ấy cũng mang
cả những nỗi cô đơn trên hành trình tìm kiếm tri ân:
Trang 38Phải đào ba tấc đất sâu Mới tìm được người uống rượu ? Phải lên đến bảy tầng trời
Mới tìm được người hầu chuyện ?
sợ hãi, chấp nhận cái chết không phải là điều đơn giản trong suy nghĩ của con người hiện đại Đó là điều hiện hữu ngay cả trong thơ Nguyễn Quang Thiều, nhưng tinh thần mới mẻ mà nhà thơ hướng tới chính là cái nhìn mới về thế giới bên kia Nhà thơ quan niệm cái chết như là hành trình của một cuộc sống mới,
là một ban mai đến với thế giới này:
“Chúng ta thường chăm sóc những ngôi mộ bằng nỗi sợ hãi và tiếc thương
Nhưng ít người chúng ta nhìn thấy
cỗ xe tang lộng lẫy Trong tiếng trống tưng bừng Làm thần chết cũng hết phiền muộn (…)
Trang 39Và lúc đó ở bên ngoài cửa sổ Khu vườn giàn dụa trăng
Họ đã nhìn thấy vẻ đẹp diệu kỳ Trong những gì luôn đe doạ người khác.”
(Thay lời nguyện cầu)
Chủ đề về cái chết là một trong những vấn đề nhân bản xuyên suốt dòng chảy của thơ ca Đó cũng là bước ngoặt quan trọng trong quan niệm về cuộc đời của các nhà thơ hiện đại sau 1975
Khi suy ngẫm về cuộc sống trong xã hội hiện đại, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều luôn trăn trở về khả năng tái sinh của nhân loại Đây cũng chính
là nguồn cảm hứng xuyên suốt trên hành trình sáng tạo văn chương của Nguyễn Quang Thiều Tính triết lý thấm đượm màu sắc tâm linh bao phủ hai tập thơ:
Nhịp điệu châu thổ mới và Bài ca những con chim đêm mang tới cho thế giới
nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều những bước chuyển biến quan trọng về cảm xúc và thi pháp qua thể loại trường ca Trong thơ Nguyễn Quang Thiều, cái chết luôn được nhìn nhận với một tinh thần phục sinh, cái chết tạo ra một
cuộc sống mới khác đời sống hiện tại Tiêu biểu là trường ca Nhân chứng của
một cái chết Đây là trường cagiữ một vị trí quan trọng trong tập thơ Bài ca
những con chim đêm, mỗi khúc trong trường ca là một câu chuyện về sự tái
sinh một đời sống mới.Trong khúc một của bản trường ca, nhà thơ đã chứng kiến sự biến đổi đời sống bằng một cơn mưa tuôn đổ từ trời Trận mưa đêm như cuốn trôi mọi thứ cả những dục vọng tầm thường hèn mọn của con người:
Đêm nay, nước đã đến Bằng sự im lặng khổng lồ, nước nhấn chìm mọi vật không có cánh
Có những cánh non đang mọc làm đau buốt mạng sườn ta
Tinh thần phục sinh được nuôi dưỡng từ trong đời sống tâm hồn của con người Để vượt qua mọi trở ngại trong cuộc sống thì con người phải luôn có niềm tin, lòng quyết tâm và một nghị lực kiên định Màn đêm và cơn mưa là
Trang 40bối cảnh để nhân vật “tôi” chứng kiến sự biến đổi của đời sống trong suốt
mười chín khúc Và có lẽ chưa bao giờ trong thơ ca Việt Nam, một đời sống đòi sự phục sinh lại được lên tiếng mạnh mẽ như trong thơ Nguyễn Quang Thiều
Mở đầu và kết thúc bản trường ca Nhân chứng của một cái chết là hình
ảnh của cơn mưa trong đêm Cái chết về thể xác chỉ là duyên cớ để nhà thơ nói lên những dự cảm về cái chết của đời sống tinh thần trong thế giới hiện đại Hình ảnh ngôi sao và cây cầu ánh sáng hiện hữu trong bóng tối như một sự vận động không ngừng, nó vẫn bền bỉ soi sáng cho đức tin và nghị lực của con người để hướng về cuộc sống tốt đẹp hơn
TrongCây ánh sáng, tinh thần phục sinh lại được biểu hiện qua bi kịch của Những con cá ướp và Linh hồn những con bò Mặc dù đã bị đã bị chôn vùi
trong chiếc chum sành tăm tối, giữa các hạt muối nhưng những con cá vẫn luôn ước mơ về sự phồn thực, ước mơ được sinh nở:
Chiếc chum sành lắc lư Những con cá ướp Phun chảy những dòng trứng
Nở ra những con cá Trong dòng hải lưu suy tưởng bất tận của tôi”