1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật trữ tình trong đông khê thi tập của chí đình nguyễn văn lý

99 181 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng như các thi tập khác, trong Đông Khê thi tập, muốn đi sâu nghiên cứu giá trị của thi tập này không thể không tìm hiểu về nhân vật trữ tình trong tác phẩm.Việc đánh giá, bình luận, p

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG ĐÔNG KHÊ THI TẬP

CỦA CHÍ ĐÌNH NGUYỄN VĂN LÝ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG ĐÔNG KHÊ THI TẬP

CỦA CHÍ ĐÌNH NGUYỄN VĂN LÝ

Ngành: Văn học Việt Nam

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dungtrình bày trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất

cứ một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 04 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn đã được hoàn thành tại khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm,Đại học Thái Nguyên

Với tình cảm chân thành nhất của mình, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

TS Ngô Thị Thu Trang, người tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện cho emtrong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Ban Giám hiệu, khoaSau đại học, khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp

đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu

Em cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân đã động viên và nhiệt tìnhgiúp đỡ em trong thời gian hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 04 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phương

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn .ii Mục lục iii MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề .2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc của luận văn 7

NỘI DUNG 8

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .8

1.1 Cơ sở lí luận .8

1.1.1 Khái niệm nhân vật trữ tình 8

1.1.2 Nhân vật trữ tình trong thơ trung đại 10

1.2 Cơ sở thực tiễn .17

1.2.1 Vài nét về bối cảnh lịch sử giai đoạn đầu thời nhà Nguyễn 17

1.2.2 Tác giả Chí Đình Nguyễn Văn Lý .20

1.2.3 Tác phẩm Đông Khê thi tập .24

Tiểu kết chương 1 29

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG ĐÔNG KHÊ THI TẬP 30

2.1 Khái quát về nhân vật trữ tình trong Đông Khê thi tập 30

Trang 6

2.2 Nhân vật trữ tình trong Đông Khê thi tập 32

2.2.1 Nhà Nho có tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc 322.2.2 Con người nặng lòng gắn bó và yêu thương những người thân trong gia đình 42

2.2.3 Con người luôn mở lòng với bạn bè, bậc hiền nhân 48

Trang 7

2.2.4 Con người gần gũi với thiên nhiên 54

Tiểu kết chương 2 61

Chương 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG ĐÔNG KHÊ THI TẬP 63

3.1 Nghệ thuật ngôn từ 63

3.1.1 Ngôn ngữ thơ 63

3.1.2 Nghệ thuật tự dẫn, chú giải 67

3.1.3 Nghệ thuật sử dụng điển cố 70

3.2 Không gian, thời gian nghệ thuật 77

3.2.1 Không gian nghệ thuật 77

3.2.2 Thời gian nghệ thuật 81

Tiểu kết chương 3 84

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

So với các triều đại phong kiến nước ta, triều Nguyễn tồn tại trong khoảng thờigian không dài (trên một trăm năm) nhưng số lượng tác phẩm thơ văn được sáng tạotrong thời kì này lại hết sức phong phú, đồ sộ Trước đây do nhiều nguyên nhân, vănhọc thời kì này chưa được quan tâm, đánh giá một cách thỏa đáng nhưng gần đây,cùng với việc nhìn nhận lại nhiều vấn đề về triều Nguyễn thì văn học thời kì này cũng

đã được các học giả nghiên cứu một cách toàn diện hơn Rất nhiều tác phẩm thơ vănviết bằng chữ Hán, chữ Nôm bị quên lãng hoặc chưa từng được công bố trước đó thìđến nay đã bước đầu được chuyển dịch sang tiếng Việt hiện đại Tuy nhiên, nhiều tácgiả và tác phẩm vẫn đòi hỏi phải có sự nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu

hơn nữa để giúp cho độc giả có thể tiếp cận tác phẩm đầy đủ và dễ dàng hơn Đông

Khê thi tập của Chí Đình Nguyễn Văn Lý là một trong những trường hợp như vậy.

Chí Đình Nguyễn Văn Lý là một sĩ phu, một trí thức sống trong thời kì lịch sử đầy biến động Ông là người có tầm ảnh hưởng lớn trong dòng họ Nguyễn Đông Tác

- dòng họ mà văn nghiệp đã đóng góp nhiều thành tựu cho nền văn học - văn hóaThăng Long Chí Đình Nguyễn Văn Lý có một sự nghiệp thơ văn dày dặn Đến nay,sau khi tổng hợp đầy đủ, số bài thơ của ông đã lên tới con số hàng nghìn bài và đều

có giá trị nội dung tư tưởng nhất định Khẳng định bản thân với hàng ngàn trang sách

để lại, cùng với đó là tấm lòng yêu nước thương dân, ông xứng đáng là một danhnhân văn hóa được đời sau tôn vinh

Là nhà thơ sống trong thời kì xã hội đầy khó khăn, phức tạp, nhân cách và tàinăng của ông luôn được mọi người đề cao, kính trọng Qua thơ văn Chí Đình NguyễnVăn Lý chúng ta có thể cảm nhận được một tâm hồn lạc quan gắn bó với thiênnhiên, một tấm lòng ưu thời mẫn thế, một trái tim nhân hậu bao dung, một conngười đầy trách nhiệm với dân với nước Thế nhưng cho đến nay thơ văn của ônghầu như chưa được biết đến Năm 2015, một số nhà nghiên cứu của Viện Văn họccùng với dòng họ Nguyễn Đông Tác đã phối hợp nghiên cứu, dịch chú toàn bộ thơ

văn của ông và cho xuất bản Tổng tập thơ văn Chí Đình Nguyễn Văn Lý Trong

Trang 9

cuốn tổng tập ấy, chúng tôi nhận thấy Đông Khê thi tập là tập thơ có giá trị và

đáng được lưu tâm, nghiên cứu Qua tác phẩm này độc giả sẽ phần nào cảm nhậnđược chân dung con người đời thực của tác giả đồng thời cũng giúp người đọc cócái nhìn toàn diện hơn về văn học thời Nguyễn

Con người là yếu tố quan trọng nhất khi nghiên cứu tác phẩm văn học Bởi lẽ,văn thơ trước hết bắt nguồn từ tâm hồn con người, mọi tâm tư tình cảm đều từ lòngngười nảy sinh, gửi gắm vào các sự vật mà kết tinh thành câu chữ Văn chương lấycon người làm trung tâm phản ánh, qua đó người đọc hiểu được những quan niệm củatác giả về thế sự, nhân tình Đó là một trong các thi pháp nổi bật của thơ trữ tình trungđại Vì vậy, nghiên cứu về nhân vật trữ tình trong các tác phẩm văn học là một việclàm quan trọng để chúng ta có thể hiểu sâu, hiểu đúng về tác phẩm cũng như về tácgiả Hơn nữa, với khoảng cách về thời gian, sự khác biệt về cách nghĩ, cách cảm thìviệc nghiên cứu nhân vật trữ tình trong những tác phẩm thơ trung đại càng cần được

lưu tâm Cũng như các thi tập khác, trong Đông Khê thi tập, muốn đi sâu nghiên cứu

giá trị của thi tập này không thể không tìm hiểu về nhân vật trữ tình trong tác phẩm.Việc đánh giá, bình luận, phân tích hình tượng con người, đời sống tình cảm, quanniệm của tác giả đồng thời tìm hiểu về nghệ thuật được sử dụng trong tác phẩm làviệc làm có ý nghĩa thiết thực, góp phần vào việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu vănhọc cổ của nước nhà

Với những lí do nêu trên, chúng tôi chọn “Nhân vật trữ tình trong Đông Khê

thi tập của Chí Đình Nguyễn Văn Lý” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn.

2 Lịch sử vấn đề

Qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, có rất nhiều những tên tuổi tác giảvăn học vào thời kỳ nhà Nguyễn dần bị phủ bụi thời gian; công lao và tài năng của họ

chưa được nhìn nhận một cách thỏa đáng Chỉ một số ít những tên tuổi lớn như Thần

Siêu, Thánh Quát, thầy Lập Trai Phạm Quý Thích được nhiều người biết đến, tôn

vinh Tác phẩm thơ văn của họ đã được sưu tầm và giới thiệu qua nhiều thời kỳ.Còn lại rất nhiều nhà trí thức uyên bác vẫn chưa được nhìn nhận đúng mực.Trong số những nhà Nho học đại tài ấy, có Chí Đình Nguyễn Văn Lý là một học

sĩ dòng dõi danh gia ở đất Thăng Long, người có công rất lớn trong việc gìn giữ

Trang 10

nền văn hóa của mảnh đất “nghìn năm văn hiến”, đến nay đang được giới nghiêncứu quan tâm và tìm hiểu.

Để nghiên cứu, đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp của ông, ngày 24/4/1998Hội thảo “Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý (1795 - 1868) và dòng họ Nguyễn Đông Tác” doHội Sử học Hà Nội chủ trì đã được tiến hành trọng thể tại Bái đường Văn Miếu - Quốc Tử Gi á m , Hà Nội Các tham luận tại Hội thảo đã nêu bật đóng góp to lớn củaTiến sĩ Nguyễn Văn Lý vào sự phát triển của văn hóa và giáo dục T hăng Long th ế kỉXIX Qua đây có thể thấy tác giả Nguyễn Văn Lý đã bước đầu được giới nghiên cứu

và những người yêu thơ văn quan tâm Tuy vậy, những năm gần đây (từ năm 2015),tiến sĩ Chí Đình Nguyễn Văn Lý mới được nhiều độc giả biết đến và tìm hiểu Cuộcđời, sự nghiệp cũng như con người ông từng bước được độc giả khám phá và ghi

nhận, chủ yếu thông qua hai tập Tổng tập thơ văn Chí Đình Nguyễn Văn Lý Đây là

thành quả nghiên cứu của hậu duệ dòng tộc cụ Chí Đình và một nhóm những nhànghiên cứu do PGS.TS Trần Thị Băng Thanh làm chủ biên Họ đã dày công và đầyquyết tâm, miệt mài trong nhiều năm sưu tầm, hiệu đính, hệ thống để cho ra mắthai cuốn tổng tập Họ đã góp phần giới thiệu một sĩ phu Bắc Hà nửa đầu thế kỷXIX, bổ khuyết vào phần còn trống trong tủ sách Thăng Long Trong bộ tổng tậpnày các nhà nghiên cứu đã sưu tập, xác định văn bản, dịch, công bố hầu hết thơvăn của Nguyễn Văn Lý hiện đang được lưu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ởgia đình và rải rác trong một vài cơ sở khác, trong đó Viện Nghiên cứu Hán Nôm

là nơi lưu giữ đầy đủ nhất

Tác phẩm của Chí Đình Nguyễn Văn Lý đóng góp một phần quan trọng trongthành tựu văn học Thăng Long - Hà Nội Các sáng tác của ông vẫn chưa được giớithiệu nhiều và vẫn đang trong quá trình nghiên cứu, sưu tầm Tuy vậy, các nhà nghiêncứu đều khẳng định các sáng của ông có giá trị về cả nội dung và nghệ thuật, cần tiếptục nghiên cứu sâu thêm để có thể khẳng định được vị trí của Nguyễn Văn Lý trongmảng văn học thời Nguyễn nói riêng, trong nền văn học dân tộc nói chung Tác giảPhan Trứ cho rằng Chí Đình đã đóng góp vào phong khí thơ đương thời một giọngthơ “đa thanh”: “Thơ của Chí Đình cổ mà đẹp, hoa lệ mà nhã; nghị luận là tấm lòng

cổ nhân; phẩm đề là nét bút họa công Những bài bình đạm của ông thì trẻ mới họccũng hiểu, những bài sâu sắc của ông thì các bậc lão nho cũng không hiểu hết được

Trang 11

Thơ của ông có vẻ duyên dáng của thiếu nữ chơi xuân, có vẻ hào hùng của tráng niênxông trận Nói một cách đại quát đó là bậc thượng thặng của thi học” [40] Tác giả LêĐôn cho rằng thơ Đông Khê “thuật hoài thì trầm uất nồng đạm mà không viển vông,thương cảm thì buồn khổ sầu muộn nhưng không oán thán, thù tặng thì mỹ lệ mà điểnnhã, phẩm đề thì phong phú mà hùng hồn Đại để là không thiên lệch mà tự có khuôn

thước riêng một nhà” [40] Sách Đại Nam liệt truyện chính biên (nhị tập, tập 4, Nhà

xuất bản Thuận Hoá, Huế 1993, trang 144) do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn nhậnxét: “Văn Lý việc học rất ngay thẳng, trọng đạo lại trung thực và thơ văn chuộng về ýcách, nên Nội các là Hà Quyền cùng Đô ngự sử là Phan Bá Đạt thường giao tiến lên

vua” Về sự nghiệp giáo dục của ông, Đại Nam liệt truyện khẳng định: “Ông trước

sau làm việc giảng học 20 năm có lẻ, người tới học thành tựu cũng nhiều” [42]

Về tác phẩm Đông Khê thi tập, tuy mới được biết đến nhưng thi tập này bước

đầu đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Họ nhận định: “Thơ của

Nguyễn Văn Lý ở tập Đông Khê, dù lập chí cứng cỏi, dù bộc lộ nỗi buồn lữ thứ, tâm

sự chán nản quan trường, nhớ nhà nhớ quê, cũng đều thể hiện hồn thơ trung hậu củamột con người cả đời tu dưỡng theo mẫu hình nhân cách đạo đức Nho gia Vì vậy khitập thơ đưa vào Bí các đã nhận được một sự đánh giá chính thống: “Thơ ông trọnglập chí tinh thâm, hồn hậu mà trang nhã” [2, tr.55]

Dù đã và đang nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu và độc giả, tuy

nhiên có thể thấy rằng, giá trị của Đông Khê thi tập chỉ mới được đề cập đến qua rất ít

bài viết và mới dừng ở cấp độ khái quát Việc nghiên cứu giá trị nội dung, nghệ thuậtthơ văn cũng như con người Chí Đình Nguyễn Văn Lý nói chung vẫn còn là vấn đề bị

bỏ ngỏ Và hình ảnh con người trong thơ Chí Đình Nguyễn Văn Lý chưa được tác giảnào đề cập đến Nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Văn Lý là chân dung con ngườivừa mang nét truyền thống vừa mang màu sắc hiện thực, tiêu biểu cho một nhân cáchtrong sạch, cao quý, một tấm lòng ưu thời mẫn thế luôn đau đáu nỗi niềm với nhândân, đất nước Vậy nên trong luận văn của mình, chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu vềhình ảnh nhân vật trữ tình trong thơ ông, để góp phần đánh giá toàn diện, cụ thể vàchính xác hơn về Nguyễn Văn Lý cũng như sự nghiệp thơ văn của ông Từ đó gópphần giới thiệu và khẳng định giá trị thơ văn cũng như tâm hồn cao đẹp của tác giả.Chúng tôi

Trang 12

hy vọng rằng con người và thơ văn Nguyễn Văn Lý sẽ được nghiên cứu nhiều hơn nữa để chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về một danh nhân đất Thăng Long.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện luận văn này nhằm những mục đích như sau:

Góp phần tìm hiểu về thời đại, cuộc đời, sự nghiệp trước tác của Chí Đình

Nguyễn Văn Lý và tác phẩm Đông Khê thi tập.

Góp phần làm rõ đặc điểm nhân vật trữ tình trong Đông Khê thi tập của Chí Đình Nguyễn Văn Lý (vấn đề phản ánh nhân vật trong thơ nói chung và trong Đông

Khê thi tập nói riêng, nhân vật trữ tình được phản ánh đa dạng qua những chủ đề khác

nhau của từng thời kỳ, hoàn cảnh, đề tài có trong tập thơ)

Trên cơ sở nhận xét, bình luận về nghệ thuật thể hiện nhân vật trữ tình trong

Đông Khê thi tập chúng tôi sẽ bước đầu có những đánh giá, nhận định về giá trị của

tác phẩm cũng như đóng góp của tác giả Chí Đình Nguyễn Văn Lý trong nền văn họcdân tộc

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên đây, nhiệm vụ của luận văn là:

Tìm hiểu những vấn đề chung về tác giả Chí Đình Nguyễn Văn Lý (thời đại,quê hương, gia đình, cuộc đời, sự nghiệp trước tác…); tìm hiểu những vấn đề líthuyết có liên quan như khái niệm nhân vật trữ tình, hình tượng nhân vật trữ tìnhđược phản ánh trong thơ trung đại

Khảo sát những đặc điểm của nhân vật trữ tình qua các bài thơ để thấy được sự

đa dạng trong cách thể hiện của tác giả

Phân tích, bình luận về những đặc điểm và nghệ thuật thể hiện nhân vật trữtình qua các bài thơ cụ thể để thấy sự hiểu biết sâu rộng, tình cảm sâu sắc của tác giảđối với đất nước, gia đình, bạn bè cũng như sự tỉ mỉ chu đáo trong hành xử của ông

Từ đó đưa ra những nhận định về giá trị nội dung, hiệu quả nghệ thuật trong việc thểhiện nhân vật trữ tình trong tác phẩm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi tập trung tìm hiểu về nhân vật trữ tình trong

Đông Khê thi tập của Chí Đình Nguyễn Văn Lý Cụ thể là 429 bài thơ nằm trong

Trang 13

cuốn Tổng tập thơ văn Chí Đình Nguyễn Văn Lý, tập 1 do PGS.TS Trần Thị Băng

Thanh làm chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2015

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Những tư liệu liên quan đến thời đại, cuộc đời, sự nghiệp của Chí ĐìnhNguyễn Văn Lý

429 bài thơ được chọn dịch và giới thiệu trong cuốn sách Tổng tập thơ văn Chí

Đình Nguyễn Văn Lý, tập 1, PGS.TS Trần Thị Băng Thanh (chủ biên), Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội, (2015)

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích, đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu đã được xác đinh,chúng tôi chọn ra những phương pháp cụ thể để tiến hành giải quyết đề tài này Đó làcác phương pháp sau:

Phương pháp nghiên cứu văn học sử: Phương pháp này giúp người nghiên cứu

tiến hành tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của tập thơ để từ đó khẳng định giá trị vànhững đóng góp của Chí Đình Nguyễn Văn Lý trong mảng văn học cuối thế kỷ XIXđầu thế kỷ XX nói riêng và trong nền văn học dân tộc nói chung

Phương pháp thống kê phân loại: Để phân tích, lí giải kết quả cần tiến hành

việc thống kê, phân loại Đây chính là phương pháp cần thiết cho việc tìm hiểu vàlàm rõ hiệu quả của nghệ thuật thể hiện hình tượng nhân vật trữ tình trong tác phẩm

Đông Khê thi tập của Chí Đình Nguyễn Văn Lý.

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở thống kê, phân loại, phương

pháp phân tích, tổng hợp giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc và toàn diện về nhânvật trữ tình được phản ánh trong tác phẩm

Phương pháp so sánh, đối chiếu: Chúng tôi nhìn nhận, đánh giá sự khác biệt

của nhân vật trữ tình hiện diện trong tác phẩm của Nguyễn Văn Lý với tác phẩm củacác tác giả khác cùng thời Từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về con người của tác giả

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Chúng tôi vận dụng phương pháp nghiên

cứu của các ngành có liên quan như văn học sử, lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa để đi sâuxem xét, phân tích tác phẩm, đưa ra những nhận định và sự đánh giá cần thiết

Trang 14

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn muốn khám phá những đặc sắc, những đóng góp của tác giả trongdòng chảy văn học trung đại Đồng thời là đem đến một cái nhìn đa diện về nhân vật

trữ tình trong tác phẩm Đông Khê thi tập của Chí Đình Nguyễn Văn Lý Từ đó góp

một phần nhỏ vào kho tư liệu tham khảo, có ý nghĩa phần nào trong việc nghiên cứu,tìm hiểu về văn học triều Nguyễn nói riêng và văn học trung đại Việt Nam nói chung

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của

luận văn được triển khai thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Trong chương này chúng tôi trình bày những vấn đề có liên quan phục vụ choviệc triển khai luận văn như giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp của tác giả Chí Đình

Nguyễn Văn Lý và tác phẩm Đông Khê thi tập, các khái niệm lí thuyết liên quan đến

đề tài luận văn

Chương 2: Đặc điểm nhân vật trữ tình trong Đông Khê thi tập

Trong chương này chúng tôi tập trung làm rõ những đặc điểm của nhân vật trữ

tình qua 429 bài thơ trong Đông Khê thi tập Qua đó giúp người đọc thấy được con

người bao dung, nhân ái, luôn trăn trở không chỉ với những điều lớn lao mà còn vớinhững điều tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại hết sức tinh tế trong cuộc sống thườngnhật của con người Qua đó thấy được tư chất nhà Nho - mẫu người chuẩn mực củatác giả

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện nhân vật trữ tình trong Đông Khê thi tập

Ở chương này chúng tôi tập trung phân tích và bình luận nghệ thuật thể hiệnnhân vật trữ tình của tác phẩm Từ đó bước đầu khẳng định được tài năng thơ ca cũngnhư những đóng góp của tác giả Chí Đình Nguyễn Văn Lý trên thi đàn văn học dântộc

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái niệm nhân vật trữ tình

Khái niệm về nhân vật trữ tình xuất hiện khá phổ biến trong việc nghiên cứucác tác phẩm văn học Trước hết chúng ta có thể nhận định rằng nhân vật trữ tình lànhững nhân vật thường xuất hiện trong tác phẩm văn học trữ tình Và vì mang bảnchất trữ tình - bộc lộ tình cảm, nên nhân vật trữ tình được cảm nhận chủ yếu thôngqua thế giới tình cảm của con người Khác với các tác phẩm thuộc thể loại tự sự, cáctác phẩm trữ tình có đời sống tình cảm là nội dung cốt lõi Nhìn nhận về nhân vậttrong các tác phẩm tự sự, người đọc quan tâm đến bức tranh cuộc sống của nhân vật.Tức là, họ nhìn nhận nhân vật với những đặc điểm tính cách, số phận khác biệt thôngqua những biểu hiện từ phát ngôn, hành động của mỗi nhân vật Nhân vật trong tácphẩm tự sự có đời sống giàu chất hiện thực, và được soi chiếu theo nhiều tuyến nhânvật với vị trí vai trò khác nhau Nhìn chung nhân vật trong tác phẩm tự sự được nhìnnhận một cách tổng thể, và tùy vào dụng ý xây dựng nhân vật của tác giả, độc giả sẽđón nhận nhân vật theo những hướng tiếp cận khác nhau để khám phá nhân vật ấytrong tương quan các mối quan hệ xã hội được xây dựng trong tác phẩm Với các tácphẩm trữ tình, tác giả cũng như người đọc đặc biệt chú ý đến việc bộc bạch tâm sựcủa nhân vật Do vậy, nhân vật trong tác phẩm trữ tình không chia ra tuyến nhân vậtchính diện, phản diện… mà chỉ được gọi chung là nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình

sẽ biểu hiện trực tiếp cảm xúc, suy tưởng của mình, qua đó phản ánh, làm sống dậythế giới chủ thể của hiện thực khách quan, giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy

tư, tâm trạng, nỗi niềm chung của con người mà thông qua nhân vật tác giả muốn bày

tỏ Và nhân vật trữ tình mang màu sắc cá nhân đậm nét Tuy nhiên cũng sẽ là sai lầmnếu cho rằng tác phẩm trữ tình chỉ thể hiện những gì thầm kín, chủ quan, cá nhân.Bởi lẽ, những cảm xúc được thể hiện trong tác phẩm thông qua nhân vật trữ tình baogiờ cũng là những cảm xúc chung mà con người nào cũng có Những cảm xúc yêu

Trang 16

thương, vui buồn, hờn giận, đau đớn, tiếc nuối… xuất hiện phổ biến trong đời sốngtình cảm của mỗi cá nhân được phản ánh sinh động qua mỗi tác phẩm trữ tình Vì vậynỗi niềm xúc cảm của một cá nhân trong tác phẩm là cảm xúc chung của rất nhiềucon người trong đời sống hiện thực Vì thế tiếng nói cá nhân trong tác phẩm trở thànhtiếng nói đồng điệu với muôn người Từ đó có thể khẳng định tác phẩm trữ tình biểuhiện cảm xúc chủ quan của nhà thơ, nhưng điều đó cũng được xác lập trong mối quan

hệ giữa con người và hiện thực khách quan Bởi vì mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩcủa con người bao giờ cũng đều là cảm xúc về cái gì, tâm trạng trước vấn đề gì Do

đó, trong tác phẩm trữ tình hiện thực cuộc sống vẫn được phản ánh thông qua cáchnhìn nhận của nhân vật

Nội dung của tác phẩm trữ tình được thể hiện gắn liền với hình tượng nhân vậttrữ tình Đó là hình tượng người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trongtác phẩm Nhân vật trong tác phẩm tự sự và kịch có diện mạo, hành động, lời nói,quan hệ cụ thể Nhân vật trữ tình trong thơ được thể hiện cụ thể thông qua giọngđiệu, cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ Hình tượng nhân vật trữ tình gắn liền vớinội dung của tác phẩm và cần phân biệt rõ 2 khái niệm: nhân vật trữ tình và nhân vậttrong tác phẩm trữ tình Nhân vật trong tác phẩm trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửigắm tâm sự, cảm xúc, suy nghĩ, là yếu tố trực tiếp khơi gợi nguồn cảm hứng cho tácgiả Nhân vật trữ tình không phải là đối tượng để nhà thơ miêu tả mà chính là nhữngcảm xúc, ý nghĩ, tình cảm, tâm trạng, suy tư về lẽ sống và con người được thể hiệntrong tác phẩm Khi đọc một bài thơ, trước mắt chúng ta không chỉ xuất hiện nhữngcảnh thiên nhiên, con người mà còn là hình tượng của một ai đó đang ngắm nhìn,rung động, suy tư về chúng, về cuộc sống nói chung Hình tượng ấy chính là nhân vậttrữ tình

Phần lớn nhân vật trữ tình xuất hiện với tư cách là những tình cảm, tâm trạng,suy tư trăn trở của chính bản thân nhà thơ Trước một vấn đề nào nó từ cuộc sống tácđộng đến nhà thơ làm cho mạch cảm xúc của họ rung lên mạnh mẽ khác với các xúchiện hữu trước đó sẽ là điều kiện để họ bày tỏ nỗi lòng của mình qua trang thơ Tuynhiên, có nhiều trường hợp nhân vật trữ tình không phải là hiện thân của tác giả Dotính chất tiêu biểu, khái quát của nhân vật trữ tình nên nhà thơ có thể tưởng tượng,hóa thân vào một đối tượng nào đó để xây dựng nhân vật trữ tình theo quy luật điển

Trang 17

hình hóa trong sáng tạo nghệ thuật Tức là bằng thứ cảm xúc cá nhân của bản thân,tác giả gửi gắm vào cảnh vật hay một nhân vật tưởng tượng, đứng ra bộc bạch thaytác giả Hay có khi tác giả nói thay tâm trạng của một ai đó cũng là lời nói từ tâmhồn của tác giả Khi ấy có thể coi những nhân vật trữ tình ấy là nhân vật trữ tìnhnhập vai, nói lên tiếng nói không chỉ của riêng tác giả mà còn là tiếng nói chungcủa muôn vạn người.

Trên cơ sở những lí thuyết đã đề cập, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về nhân

vật trữ tình: Nhân vật trữ tình là hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình, là con người

“đồng dạng” của tác giả, hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình như một con người

có đường nét hay một vai sống động, có thế giới nội tâm cụ thể, những dòng cảm xúc được thể hiện rõ nét trong tác phẩm Qua đó ta thấy được quan niệm, cách nhìn, suy

nghĩ, cảm xúc hiện tại của nhà thơ - nhân vật trữ tình Trong các tác phẩm trữ tình,nhân vật trữ tình có thể được nhìn nhận một cách trực tiếp hay qua người tác giả nhậpvai, cũng có khi chỉ nhận biết qua nỗi niềm cảm xúc

1.1.2 Nhân vật trữ tình trong thơ trung đại

1.1.2.1 Thơ trữ tình trung đại

Trong văn học trung đại Việt Nam, tới khoảng thế kỷ XVIII - XIX mới xuất

hiện những bộ sách bàn về thể loại văn học như Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn Theo truyền thống Trung Hoa, các

công trình này vẫn dùng các khái niệm “văn thể” hay “thể” để chỉ thể loại văn học.Song ngay từ khi con người sáng tác văn học, người ta đã ý thức về thể loại văn học

Từ xưa, các nhà văn nhà thơ cổ gọi tên sáng tác của mình dựa theo thể loại và đặt tên

tác phẩm của mình theo thể loại, ví thử như: Bạch Đằng giang phú, Bình Ngô đại

cáo… Vai trò thể loại vô cùng quan trọng trong nhận thức thẩm mỹ đối với văn học

cổ Sáng tác văn học là sáng tác theo thể loại Từ việc xác định thể loại định viết, cáctác giả mới tiến hành đặt những nguồn cảm hứng trên việc dẫn bước của thể loại.Giáo Sư Bùi Duy Tân đã đưa ra hai căn cứ để xác định thể loại văn học cổ Một là,

căn cứ vào phương thức phản ánh ông chia ra ba nhóm thể loại (các thể loại trữ tình, các thể loại tự sự, các thể loại chính luận) Hai là, căn cứ vào thể văn ông chia ra ba

loại là các thể loại thơ, các thể loại văn và biền ngẫu, các thể loại văn xuôi Và theogiáo sư Trần Đình Sử thì xét về tên gọi, trong quá khứ các nhà thơ trung đại Việt

Trang 18

Nam chưa bao giờ tự gọi thơ mình là thơ “trữ tình” Trữ tình là một khái niệm hiện

đại Mặc dù trong Cửu chương của Khuất Nguyên có thể tìm thấy hai chữ trữ tình

song nó chưa trở thành thuật ngữ trong thời trung đại Phần lớn thơ làm trong các dịptiễn tặng, hoạ thơ người khác, đề thơ kỷ niệm, tức cảnh, tức sự, tức là làm thơ theo sựđòi hỏi, khêu gợi của ngoại cảm Khi muốn tự bộc lộ nỗi lòng thì họ gọi là “ngônhoài”, “thuật hoài”, “ngôn chí”, “tự tình”, “tự thuật”, “mạn thuật”, “trần tình” Nhữngtên gọi này rất đáng chú ý Những tên gọi như “chí”, “tình”, “hoài”, “sự”, “cảnh”… lànội dung trữ tình, còn “thuật”, “ngôn”, “tự”, “trần”… là cách trữ tình, “thuật” là kể,

“tự” cũng là kể, “ngôn” là nói ra, là tuyên bố cho mọi người biết, “trần” là bày tỏ Cóthể xem đó là những dấu hiệu đặc trưng của ý thức trữ tình truyền thống “trữ tìnhbằng cách thuật kể nỗi lòng mình, cảm xúc chí hướng của mình” [27, tr.148] Từ ýkiến của các nhà nghiên cứu, ta có thể hiểu khái niệm thơ trữ tình trung đại Việt Nam

như sau: Thơ trữ tình trung đại Việt Nam là loại thơ do các nhà thơ trung đại Việt

Nam sáng tác ra để biểu thị những cảm xúc, suy tư, tư tưởng tình cảm của họ - nhân vật trữ tình trước các hiện tượng của đời sống được thể hiện một cách trực tiếp hoặc thông qua các phương thức nghệ thuật nhất định.

Xét theo chiều dài lịch sử, “thơ trữ tình trung đại” xuất hiện từ thời nhà Lý.Giai đoạn này, các tác phẩm chưa có hình thức độc lập của các tác phẩm thơ với đầy

đủ những giá trị về thẩm mĩ nghệ thuật và yếu tố chức năng của văn học Các tácphẩm trữ tình vào thời điểm này chủ yếu là các bài thơ với dung lượng ngắn và làmtheo lối của sấm ký, kệ, từ Nội dung của các tác phẩm này chủ yếu mang tính chấtgiáo huấn, vấn đáp, thù tạc, tức là chủ yếu phản ánh chức năng ngoài văn học của cáctác phẩm nghệ thuật, bước đầu đã có sự phá vỡ quy phạm thể hiện trong các thể loạivay mượn Và vì phần lớn thơ thời kì này là những bài kệ nên hình tượng tác giảtrong thơ tuy đã có, nhưng còn chưa có nhân vật trữ tình toàn diện Có thể nói, nhữngtác phẩm thơ thời Lý là bước nền cho sự hình thành thơ trữ tình Việt Nam thời kì saunày Qua văn học thời nhà Lý, đến thế kỷ XVIII nhà Lê mạt và thế kỷ XIX nhàNguyễn đánh dấu bước phát triển rực rỡ của thơ trữ tình trung đại về cả số lượng tácphẩm và đội ngũ sáng tác Sở dĩ có thể khẳng định như vậy, chúng tôi căn cứ vào sự

đa dạng, thành thục của thơ Nôm cùng với những điêu luyện đỉnh cao của các tácphẩm thơ chữ Hán văn học

Trang 19

trữ tình trung đại giai đoạn này Đây là bước phát triển đánh dấu sự chín muồi của vănhọc trữ tình thời kì trung đại.

Như đã đề cập ở trên, phần lớn các tác phẩm thơ trữ tình trong văn học trungđại thường là thơ nói chí, tỏ lòng Cho dù những tác phẩm trữ tình ấy đề cập đếnnhiều đề tài khác nhau, các thi nhân cũng không quên đề cập đến cái chí của mình

Và trong số những bài thơ thuộc thời kì này, có riêng một mảng thơ để các tác giảtrung đại thể hiện “tiếng nói cá nhân” của mình Các nhà thơ trực tiếp bày tỏ hoàibão, chí khí, tâm tư của cá nhân mình hay sự chiệm nghiệm trước những vấn đề lớnlao của thời cuộc Với loại thơ này, tác giả trung đại đánh dấu bằng cách gắn liềnchúng với những nhan đề như ngôn hoài, thuật hoài, ngôn chí Loại thơ này có tứ thơphổ biến đó là được triển khai dựa trên sự đối lập nhưng đồng nhất giữa nhân vật trữtình với các đại lượng lớn của vũ trụ Ví thử như như trời, đất, sông, núi, nhật,nguyệt Trong tương quan với những yếu tố ấy, kích thước con người có khi đượcphóng to lên và sự giao cảm của con người đối với đất trời xung quanh gần như là vôhạn Mặt khác, đối với những bài thơ tỏ lòng, những quan hệ xã hội thực tại của thờiđại đã được các tác giả thiên nhiên hóa, vũ trụ hóa, bằng việc các nhà thơ quy những

sự kiện cụ thể của con người, đời sống vào các phạm trù chung như: thời, thế, vận,mệnh, quy những sắc thái tình cảm phong phú của con người vào những khái niệmchung nhất như: sân, hận, bi, phẫn và quy những phản ứng có thể rất đa dạng củanhân vật trữ tình vào các hành động mang tính công thức rất dễ nhận ra như: nhỏ lệ,chắp tay sau lưng, …

Về cách biểu hiện của chủ thể trong thơ trung đại, có thể thấy rằng chủ thể nhàthơ biểu hiện trong thơ là một người cảm nhận tĩnh tại thuần túy Khác với thơ hiệnđại sau này, khi bộc lộ cảm xúc, chủ thể đa phần sẽ “xưng danh”, tức là độc giả có thể

dễ dàng xác định được chủ thể mang nguồn tâm tư ấy là ai, những từ ngữ biểu thị chủthể xuất hiện trực tiếp trong câu thơ Còn trong thơ trung đại, độc giả đọc tác phẩmthơ thường thấy câu thơ vắng chủ từ biểu thị chủ thể mà các tác giả có những dấuhiệu nghệ thuật tương ứng riêng thay cho sự bộc lộ chủ thể trực tiếp, để từ đó tạo một

sự cảm nhận mơ hồ, phiếm chỉ về một chủ thể có tính tổng hợp, mỗi người có thểthấy những nỗi niềm tâm trạng ấy mang dáng dấp của cá nhân nào đó nhưng lạikhông thể chỉ mặt đặt tên một cách chính xác mà tất cả chỉ mang tính chất ngầm hiểu

Trang 20

Có điều cần lưu ý, chủ thể trong bài thơ không phải là chủ thể của toàn bộ lời thơ Cóthể thấy rằng, thơ trung đại chưa phải là thời của “cái tôi cá nhân”, nên nhân vật trữtình có tồn tại thông qua lời thơ cũng không trực tiếp xưng tôi khẳng định con người

cá nhân của mình Sự xuất hiện của nhân vật trữ tình không mang mục đích chủ địnhbày tỏ cái tôi độc lập cùng cảm xúc khác biệt, đối nghịch với thời đại mà chỉ đơn giản

là bày tỏ những suy tư, tình cảm cá nhân trên cơ sở quy chuẩn chung của xã hội Bởivậy, lời thơ trong bài là lời “không của ai cả”, nhân vật trữ tình được độc giả cảmnhận thông qua những quan điểm, cảm xúc được đề cập qua nhiều yếu tố được thểhiện trong tác phẩm Về đặc điểm hình thức lời thơ, thơ trung đại là thơ lấy cảm xúc

từ nghe nhìn cho nên yếu tố họa rất phổ biến Cảm xúc lời nói với ngữ điệu cảm thán,nghi vấn, nghị luận chỉ chiếm một phần nhỏ nhưng rất quan trọng và không thể thiếutrong rất nhiều tác phẩm

Nhìn chung thơ trung đại không phát triển năng lực giao tiếp trực tiếp của lờithơ, nó không hướng tới việc trò chuyện với người đọc mà giao tiếp gián tiếp Tức là,một bài thơ được tác giả viết lên không nhằm mục đích nói với riêng ai, có khi là nóivới toàn vũ trụ, nói với không gian, nói với đất trời, và đôi lúc là nói với chính mình.Chủ thể trữ tình trong thơ không được xác định cụ thể, vậy nên đối tượng hướng đếncủa nó cũng là đối tượng chung, đối tượng phiếm chỉ, tùy thuộc vào cách cảm củamỗi người Các tác giả, bằng năng lực cảm nhận nghe nhìn, suy cảm, và bằng cáchcủa riêng mình, mỗi tác phẩm thơ được viết lên có tiếng nói riêng, nó phát huy nănglực cảm giác tưởng tượng, liên tưởng hết sức sắc bén, tinh tế nơi người đọc Đặc biệt,yếu tố mô tả, hình dáng trong thơ trung đại có ý nghĩa hết sức quan trọng Yếu tố nàyđược tổ chức theo những nguyên tắc nhất định, trên nền không gian, thời gian tươngứng Từ đó tạo nên những đặc sắc nghệ thuật trong việc xây dựng, mô tả hình dángtrong thơ, tạo thành những hình ảnh mang ý nghĩa tiêu biểu, tượng trưng Tùy vàonhững cảnh vật, sự việc được đề cập mà tác giả gợi ra những hoàn cảnh, tình huốngthực tế khác nhau, từ đó độc giả cảm nhận, khái quát những cảm xúc, suy nghĩ tâm tư

của chủ thể trữ tình Nhân vật trữ tình trong thơ trung đại hiện lên thông qua những

yếu tố như vậy

Trang 21

1.1.2.2 Con người trong thơ trữ tình trung đại

Vấn đề con người trong văn học có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi conngười là phạm trù cơ bản của văn hóa, là nội dung cơ bản của văn học và trình độ ýthức về con người, đánh dấu trình độ phát triển của văn học Tùy từng giai đoạn củavăn học trung đại, con người hiện lên trong các tác phẩm trữ tình tuân theo nhữngquan điểm của thời đại tương ứng

Giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV: Trong giai đoạn văn học thời kì này,

đáng chú ý nhất là sự xuất hiện con người sử thi Hình tượng con người sử thi, xuấthiện trong một số bài thơ của Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Đặng Dung… Trongcác sáng tác của những tác giả này, những con người sử thi không chỉ mang đầychiến công mà còn mang lương tâm của dân tộc, biết hận, biết thẹn, day dứt khi nghĩa

vụ chưa thành Con người sử thi còn được bộc lộ trong thơ bang giao Tác giả làm lênnhững bài thơ này chủ yếu bộc lộ tình cảm của những con người đại diện đất nước,làm tăng giá trị của quốc gia, dân tộc với ý thức trách nhiệm với thời cuộc Đây là tưtưởng, là ý thức dân tộc của người Việt Nam Bên cạnh hình ảnh của con người sử thi

là hình ảnh của con người có khí tiết, luôn có ý thức giữ mình trong sạch Những conngười này tuy không được thời vận, có chí quy ẩn nhưng vẫn nặng lòng lo cho đấtnước Đây là hình bóng con người kẻ sĩ, biết thời thế, một con người đau đáu nỗiniềm với đất nước, không bị vấy bụi ô trọc Hình tượng này là kiểu con người mớixuất hiện trong thơ

Giai đoạn từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII: Đến giai đoạn này, thơ văn có sự

thay đổi lớn Văn học Nôm đã trở thành một mảng văn học đặc biệt trong dòng chảyvăn học trung đại Rất nhiều tác phẩm có giá trị thời kì này được lưu truyền kết tinh

từ chữ Nôm Những tên tuổi có thể kể đến như Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, NguyễnBỉnh Khiêm Con người được đề cập đến trong giai đoạn này là những con người bộc

lộ cảm thức trực giác, con người duy lí và mang tính chất giáo huấn ngày càng đậm.Nguyễn Trãi trong thơ biểu hiện là một con người đau khổ, day dứt trước sự lựa chọnđầy mâu thuẫn khi đứng trước thời thế Ông đã có quan niệm sâu sắc về cuộc đời - cótài lớn thì phải dùng vào việc lớn và có ích cho dân Thế nhưng, sinh nhầm thời,không được trọng dụng đúng với tài trí của mình, con người mong muốn lánh đời

Trang 22

xuất hiện, với ý nguyện ở ẩn, gìn giữ danh tiết Trong một số tác tác của các tác giảkhác có xuất hiện những con người lí trí, cứng cỏi, mang bản chất của một nhà Nhomẫu mực, trung quân.

Giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX: Nét đặc trưng về quan niệm con

người trong thơ trữ tình giai đoạn này là nhu cầu tự nhiên của con người được khẳngđịnh Con người dần ý thức về chính mình với chữ thân, chữ tài, chữ tình trở thànhkhái niệm phổ biến Giai đoạn văn học này là giai đoạn văn học phát triển rực rỡ nhấttrong văn học trung đại Việt Nam Riêng với lĩnh vực thơ trữ tình, con người đã đượcthể hiện qua những phương diện mới Khác với giai đoạn trước, con người Nho giavới những đắn đo về thời cuộc nhường chỗ đứng trung tâm cho những con người trầntục Những nhục cảm cá nhân đã xuất hiện trong thơ để khẳng định nhu cầu sống tựnhiên của mình, cùng với đó là ý thức về quyền sống, ý thức về số phận con ngườicũng được nêu cao, những nỗi buồn, nỗi oan, nỗi hận trong các số phận oan trái trởthành niềm day dứt thổn thức của nhà thơ Điều đặc biệt ý thức cá nhân, cá tính, tàinăng cũng được khẳng định trong thơ trung đại giai đoạn này Mở ra một diện mạomới cho thơ ca Việt Nam giai đoạn sau

Chung quy lại, con người trong thơ trữ tình trung đại có thể được nhìn nhận

qua hình tượng con người vũ trụ, con người đạo đức Từ đó có thể đưa ra kết luận:

Thứ nhất, ở thời kỳ ổn định và phát triển của nhà nước phong kiến, mối quan tâm

hàng đầu của văn học chính là hình tượng con người công dân Hình tượng con ngườinày gắn bó mật thiết với những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm vĩ đại của dântộc và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước đất nước Đó là những con ngườiđược đề cao với ý thức trách nhiệm, mang trong mình những tình cảm công dân lớn

lao, cao cả Thứ hai, trong giai đoạn nhà nước phong kiến trượt dài trên con đường

suy thoái, lúc này con người cá nhân với ý thức cá tính, tài năng, với nhu cầu tựkhẳng định và khát vọng mãnh liệt về tự do, tình yêu, hạnh phúc lại là hình tượngtrung tâm của các tác phẩm Những con người này chứa đựng tinh thần nhân văn cao

cả Con người trong văn học có sự chuyển biến từ chỗ quan tâm đến những con ngườicông dân sống vì lí tưởng, lợi ích chung của cộng đồng đến chỗ dành vị trí trung tâmcho con người với ý thức cá nhân Đây là yếu tố thể hiện rõ nét đặc trưng của văn học

Trang 23

Việt Nam trung đại Thứ ba, vào thời kì cuối của văn học trung đại, con người cá

nhân hình thành và phát triển mạnh mẽ Con người ý thức được bản thể của mình vàmong muốn khẳng định cái bản thể ấy với người với đời từ những điều nhỏ nhặt chođến lớn lao Họ không ngại phô bày bản ngã về mọi mặt Và đây là tiền đề cho chữ

“tôi” thay cho chữ “bác”, chữ “anh” trong văn học thời đổi mới

1.1.2.3 Nhân vật trữ tình trong thơ trung đại

Nhân vật trữ tình trong thơ trung đại là cái tôi thứ hai của nhà thơ, gắn bó máuthịt với tư tưởng, tình cảm của nhà thơ, hòa lẫn vào trong thiên nhiên ngoại cảnh, nótan trong cảm xúc và đạt tới tính tổng quát Tìm hiểu “nhân vật trữ tình trong thơtrung đại” tức là làm sáng tỏ yếu tố con người trong thơ, từ đó nêu bật được hìnhtượng tác giả được bộc lộ thông qua đó Dựa vào những đặc điểm chung của nhân vậttrữ tình, chúng tôi nhận thấy trong thơ trữ tình trung đại, nhân vật trữ tình có nhữngđặc điểm nổi bật như sau:

Điểm thứ nhất, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong thơ trung đại là cảm xúc

của một cá nhân (tác giả) và trước hết là hoàn cảnh cá nhân nhưng nó lại mang tínhkhái quát (đại diện cho tâm trạng của nhiều người) Ở đặc điểm này chúng ta thấy,nhân vật trữ tình thể hiện cảm xúc là cảm xúc của cá nhân trước một hoàn cảnh cụ thểcủa cá nhân nào đó Nhưng quang trọng hơn là cảm xúc ấy nó khái quát được cảm

xúc của đa số Điểm thứ hai, nhân vật trong tác phẩm trữ tình trung đại là loại nhân

vật mang nhiều cảm xúc Vào thời điểm xuất hiện trong tác phẩm thì nó mang tâm sựgiãi bày Do thể loại trữ tình là thể loại bộc lộ cảm xúc, mỗi một tác phẩm đều thểhiện một hoặc nhiều tâm sự giãi bày nào đó Do vậy nhân vật trữ tình của thể loại này

chính là chủ thể trữ tình thể hiện cảm xúc được đề cập Điểm thứ ba, nhân vật trữ tình

không hành động, mọi tác động của môi trường sống chỉ dẫn đến cảm xúc buồn hoặcvui mà không dẫn đến hành động cụ thể nào Tức là nhân vật trữ tình được cảm nhậnthông qua hệ thống ngôn từ bằng những xúc cảm, những tâm tư, được đánh dấu bằngnhững giá trị tinh thần mà không phải là con người bằng hành động cá nhân tác động

vào ngoại cảnh Điểm thứ tư, nhân vật trữ tình chỉ xuất hiện khi sự việc đã xảy ra, lúc

mà cuộc sống bao quanh nó không còn sôi động với tất cả sự sôi nổi của nó Đặcđiểm của thể loại trữ tình là biểu cảm, thể hiện cảm xúc chủ quan của một chủ thể với

Trang 24

một hoặc nhiều sự vật, sự kiện trong thế giới khách thể Nghĩa là bộc lộ cảm xúc vềmột cái gì đó đã xảy ra rồi, đã diễn ra và không còn là lúc cao trào, gay cấn nhất nữa.

Điểm thứ năm, nhân vật trữ tình ít nhiều gắn bó với cuộc đời thực của tác giả nhưng

không có nghĩa là đồng nhất với tác giả Qua nhân vật trữ tình, chúng ta có thể thấybóng dáng tác giả Con người tác giả hiện lên qua nhân vật trữ tình, phần nào đó đãđược các phương tiện nghệ thuật chi phối trở thành con người văn học, mang nhữnggiá trị cốt lõi dựa trên quan niệm về con người được quy định bởi thời đại

Nhân vật trữ tình trong tác phẩm của Đông Khê sẽ cho thấy cụ thể những quan

điểm thời đại về con người - bóng dáng tác giả được liên tưởng với những biểu hiện

đa dạng, sâu sắc Và việc tìm hiểu những khái niệm liên quan trên đây sẽ là bước đệm

đầu tiên giúp việc tìm hiểu, nghiên cứu nhân vật trữ tình trong Đông Khê thi tập của

Chí Đình Nguyễn Văn Lý được cụ thể và dễ dàng hơn.

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vài nét về bối cảnh lịch sử giai đoạn đầu thời nhà Nguyễn

Để hiểu rõ hơn một đối tượng hoặc một vấn đề trong lịch sử, chúng ta phảinhìn vào bối cảnh của nó, và những điều bao quanh nó trong thời gian và địa điểmcung cấp cho nó những ý nghĩa nhất định Do vậy, để hiểu rõ hơn về con người cũngnhư những sáng tác của Chí Đình Nguyễn Văn Lý thì phải có cái nhìn khái quát vềthời đại mà ông sinh sống Bởi lẽ, mỗi cá nhân sinh ra đều gắn với một thời đại nhấtđịnh Chính thời đại đó đã ảnh hưởng đến phẩm chất, tài năng cũng như hệ tư tưởng,

ý thức cá nhân của mỗi người Tác giả không phải là ngoại lệ Đặc biệt, thời đại màtác giả sinh sống lại là một giai đoạn đầy biến động với bối cảnh đặc biệt trên dònglịch sử nước nhà Ông sống vào thời nhà Nguyễn - thời kì lịch sử đến nay vẫn cònnhiều dấu hỏi cần phải khám phá Trong khoảng thời gian tồn tại, nhà Nguyễn trảiqua rất nhiều biến cố mang tính thị phi như cầu viện ngoại bang, làm mất nước vàotay Pháp và cũng có nhiều công lao trong việc thống nhất đất nước, mở mang lãnhthổ, phát triển kinh tế Nên khi nhìn nhận về triều đại này cần những đánh giá côngtâm, khách quan vai trò của nó trong lịch sử nước Việt Tựu trung lại, khi nhìn nhận

sự phát triển của triều đại nhà Nguyễn đến khi sụp đổ, chúng ta có thể thấy hai giai

đoạn rõ rệt: giai đoạn độc lập tự chủ và giai đoạn mất quyền tự chủ khi bị đế quốc

Pháp xâm lăng áp đặt quyền bảo hộ

Trang 25

Thứ nhất, giai đoạn độc lập (1802 - 1858) kéo dài trong tổng cộng 56 năm bắt

đầu từ khi vua Gia Long lên ngôi (năm 1802) đến thời vua Tự Đức (năm 1858), trảiqua 4 đời vua (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức) Đây là giai đoạn mà cácvua nhà Nguyễn nắm toàn quyền quản lý đất nước Gia Long và con trai là MinhMạng (1820 - 1841) đã cố gắng xây dựng Việt Nam trên nền tảng Nho giáo Vua GiaLong rất đề cao Nho học, cho lập Văn Miếu ở các doanh, các trấn, thờ đức Khổng

Tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở Kinh thành Huế để dạy cho các quan và các sĩ

tử, mở khoa thi Hương lấy những người có học, có hạnh ra làm quan

Từ thập niên 1850, một nhóm trí thức Việt Nam (đại diện tiêu biểu là NguyễnTrường Tộ) đã đả kích mạnh mẽ lối học từ chương, hư văn, khuyến khích đẩy mạnhtiếp thu khoa học kỹ thuật, học thiên văn, địa lý, luật từ phương Tây để phát triểncông nghiệp - thương mại, cải cách quân sự - ngoại giao Nhưng họ chỉ là thiểu số

Do đa số quan chức triều Nguyễn và giới sĩ phu không ý thức được sự cần thiết củaviệc cải cách kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao và mở cửa đất nước nên Tự Đức(1847-1883) không quyết tâm thực hiện những đề xuất này Đây là một điều vô cùngđáng tiếc cho sự phát triển của nước nhà

Việc học tập trong dân chúng khá thông thoáng Chỉ cần có học lực khá, người

ta cũng có thể mở trường tư thục để dạy học Mỗi làng có vài ba trường tư thục, hoặc

ở nhà thầy, hoặc ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lâncận đến học Chí Đình Nguyễn Văn Lý sinh thời là một người rất trọng đạo học và làmột người thầy ưu tú, luôn ý thức về vấn đề tôi luyện nhân tài phò vua giúp nước.Ông đã có thời gian rất tâm huyết khi mở ngôi trường Đại tập Chí Đình Sau khôngthấy ông nhắc đến nhưng sau nhiều năm sóng gió trên con đường hoạn lộ khi trở vềquê hương ông “lấy nghề dạy trẻ làm kế sinh nhai”, thì có lẽ ngôi trường cũ của ông

sẽ được mở lại Công việc dạy học của Nguyễn Văn Lý còn tiếp tục suốt những nămông làm Đốc học Hưng Yên, có số học trò lên đến cả trăn người Trong đó, khóa ẤtSửu (1865) có đến 2 người đỗ đại khoa Ông cùng với những người bạn của mình,ngoài thú văn chương còn tìm cách đưa việc học đến cả những nơi xa xôi với mongmuốn gìn giữ và phát triển nền khoa cử

Văn học nhà Nguyễn phát triển ở cả Hán văn lẫn chữ Nôm Hai thể lục bát vàlục bát gián cách được sử dụng phổ biến với nghệ thuật ngôn từ đặc sắc Về nội dung,

Trang 26

ngoài các nội dung văn chương mang đậm tư tưởng Nho giáo truyền thống thì sốphận con người và phụ nữ cũng được đề cập đến Những cái tên nổi bật cho văn họcthời kì này là Phạm Qúy Thích, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và đại thi hàoNguyễn Du với kiệt tác Truyện Kiều Nội dung bao trùm là tâm lí hoài Lê và mộtlãnh thổ văn chương Việt Nam mới hình thành ở phương Nam Thời nhà Nguyễn độclập là thời của các nhà thơ thuộc đủ mọi tầng lớp xuất thân trong đó có các vuanhư Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và các thành viên hoàng tộc như Tùng ThiệnVương Nguyễn Phúc Miên Thẩm, ba nàng công chúa tạo nên “Tam khanh” của nhàNguyễn Các Nho sĩ thì gồm có Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền,Trương Quốc Dụng, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ Văn thơ của Nguyễn Văn Lýtuy không được biết đến sâu rộng như những người bạn cùng thời lúc bấy giờ nhưngnhìn nhận vào số lượng tác phẩm hiện có và những nội dung tư tưởng ông đề cập đếnthì giới nghiên cứu hay những người có thẩm mĩ văn chương đều có thể thấy đượcmột con người tài năng và có tấm lòng vàng với đời và người.

Thứ hai, giai đoạn mất quyền tự chủ - giai đoạn bị Pháp xâm lăng và đô hộ

(1858-1945) Đây là giai đoạn bắt đầu khi quân Pháp đánh Đà Nẵng và kết thúc saukhi hoàng đế Bảo Đại thoái vị Tháng 8 năm 1858, hải quân Pháp đổ bộ tấn công vàocảng Đà Nẵng và sau đó rút vào xâm chiếm Gia Định Tháng 6 năm 1862, vua TựĐức ký hiệp ước cắt nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp Năm 1867, Pháp chiếmnốt ba tỉnh miền Tây kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (NamKỳ) Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, từ năm 1873 đến năm 1886, Phápxâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ởBắc Kỳ, đến năm 1884 thì nhà Nguyễn chính thức công nhận quyền cai trị của Pháptrên toàn Việt Nam Pháp có quyền cai trị, còn các vua nhà Nguyễn chỉ mang ý nghĩatượng trưng, quân Pháp có thể tùy ý phế lập vua Nguyễn Giai đoạn này kết thúc khiBảo Đại tuyên bố thoái vị năm 1945

Thời nhà Nguyễn thuộc Pháp là thời kỳ ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sửđương thời tác động rất lớn vào văn chương, thể hiện sự căm phẫn trước hành vi xâmlăng của Pháp và tố cáo tội ác, tâm trạng bất lực trước thời cuộc Tác giả tiêu biểuthời kỳ này gồm Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Thông, Nguyễn Khuyến, Dương Lâm,Nguyễn Thượng Hiền

Trang 27

Trong thời gian đầu khi thực dân Pháp đặt gót giầy lên đất nước, Nguyễn Văn

Lý đã thể hiện mình là người ý thức đến tự tôn dân tộc Khi tình hình Bắc Hà đã trởnên không yên ổn, nhiều người trong giới sĩ phu không đồng thuận với triều đình.Nguyễn Văn Lý là người nhiệt thành yêu nước, dù chỉ giữ chức học quan nhưng nghe

có việc nghị hòa, ông đã cùng các Giáo thụ, Huấn đạo trong hạt mình dâng sớ can

ngăn Một số sáng tác của ông trong Đông Khê thi tập cũng đã thể hiện được tấm

lòng yêu nước, hết lòng vì dân của ông Trong hoàn cảnh xã hội đang như một cuộn

tơ rối, Nguyễn Văn Lý cùng với nhiều văn nhân trí thức Hà thành đã tỏ ra là ngườinặng lòng với cuộc chấn hưng văn hóa Thăng Long Họ đã dùng trí lực của mìnhhành động, đào tạo kẻ sĩ, sáng tác và sưu tầm văn chương, nhằm cố gắng làm nhữngviệc đem lại lợi ích cho đời

Từ bối cảnh lịch sử chung của thời đại, chúng tôi nghiên cứu về Nguyễn Văn

Lý, tìm hiểu ông với tư cách là một nhân vật lịch sử, một nhà văn hóa với những tácphẩm đã phản ánh không khí của một thời đại lịch sử và hình ảnh con người cá nhânphản chiếu qua các sáng tác Từ đó có những cảm nhận chân thực về ông thông qua

nhân vật trữ tình phản ánh trong tác phẩm Đông Khê thi tập Trên cơ sở ấy, có thể

hiểu rõ hơn về tài năng, phẩm chất con người đời thực nơi ông

1.2.2 Tác giả Chí Đình Nguyễn Văn Lý

1.2.2.1 Cuộc đời

Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý (阮 阮 阮) sinh ngày 6 tháng 3 năm Ất Mão tức nămCảnh Thịnh thứ 3 (1795), húy là Dưỡng, tự Tuần Phủ, hiệu Chí Đình, Chí Am, ChíHiên, biệt hiệu Đông Khê Ông là người làng Đông Tác huyện Thọ Xương (nay làphường Phương Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội) Mảnh đất Đông Tác xưa làmột làng cổ của Kinh thành Thăng Long và Nguyễn Văn Lý được sinh trưởng trongmột dòng họ được coi là định cư lâu đời nhất ở đất Thăng Long Ông sinh ra trongmột gia đình dòng dõi thi thư, nhiều đời làm quan to Họ Nguyễn vốn ở Gia Miêungoại trang, huyện Tống Sơn (nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa), vào cuốiđời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) thủy tổ ông là Chính Thiện từ Gia Miêu mới rời raphường Đông Tác định cư và có nghề nung đúc Đến đời thứ bảy của tổ Chính Thiệnsinh ra cụ Nguyễn Hy Quang (1634 - 1692) gia cảnh nghèo khó nhưng đã vượt lên trởthành vị thầy dạy các Thế tử Khi mất, cụ được thờ ở đình Trung Tự - nơi thờ CaoSơn đại vương, cùng trong quần thể với đình Kim Liên (cũng thờ Cao Sơn đại vương)

Trang 28

- Một trong Thăng Long tứ trấn Cháu của cụ Nguyễn Hy Quang là Nguyễn Trù(1668-1736) đỗ Hoàng giáp năm 1697, làm đến Tế tửu Quốc Tử Giám và Hình bộHữu Thị lang Con của Nguyễn Trù là Nguyễn Hữu Dụng đỗ Tạo Sĩ làm tới Đặc tiếnPhụ quốc thượng tướng quân, tước Tào Quận Công Khi mất được phối thờ ở hậucung đình Trung Tự Cháu nội Nguyễn Trù là Nguyễn Hữu Vọng (1762 - 1818), đỗsinh đồ thời Lê, được phong tước Lương Vũ Bá Và Nguyễn Hữu Vọng đã sinh raTiến sĩ Nguyễn Văn Lý Khi Nguyễn Văn Lý sinh ra, Thăng Long không còn là đất

đế đô Đời sống dân cư về mọi mặt không còn hưng vượng như trước nữa Ông thừanhận: “Họ ta nghèo, thôn ta ở giữa thành thị, không có đất để cày cấy lại không cónghề nghiệp ổn định, rất đáng phải lo nghĩ” [2, tr.27] Gặp những năm mất mùa, thócgạo kém, tình hình dân chúng cùng quẫn thì vùng quê của ông là nơi thuộc thành thịcàng trầm trọng Thân phụ Nguyễn Văn Lý từng đề xuất lập kho nghĩa thương “tíchtiểu thành đa phòng khi thiếu thốn” nhưng mãi đến năm 1865, Nguyễn Văn Lý vềhưu mới bắt đầu gây dựng

Dòng họ Đông Tác của ông rất coi trọng truyền thống học hành và khá hiểnđạt cả về đường võ Tiếp nối truyền thống của gia đình, Nguyễn Văn Lý ngay từ tuổi

ấu thơ đã để tâm đến việc đèn sách Năm 14 tuổi (1808) ông theo học Bùi Chỉ Trai,

em của Tham tụng triều Lê Bùi Huy Bích và chịu nhiều ảnh hưởng của học phong họBùi Đến năm 18 tuổi (1812) ông theo học Bạch Trai Lê Hoằng Đạo, Tiến sĩ, Đốc học

Hà Nội Thời gian tiếp sau đó, biến cố gia đình của ông liên tiếp ập đến khi việc họchành đang thuận lợi Năm 1817 thân mẫu Nguyễn Văn Lý bị bệnh nặng, tháng hainăm sau (Mậu Dần 1818) thì bà mất Lo tang ma cho mẹ mới được vài tháng thì cha

bị bệnh, đến tháng sáu cũng qua đời Như vậy chỉ trong vòng có một năm mà ông đãphải chịu hai sự mất mát lớn của đời người, cùng đó gia sản tổ tiên để lại có bốn mẫuruộng bạc điền đã bán hết để lo việc tang Chính lẽ đó, Nguyễn Văn Lý phải lấy việcdạy trẻ làm kế sinh nhai, việc học hành thi cử cũng bị gián đoạn Năm 28 tuổi,Nguyễn Văn Lý cưới vợ Sau đó ông tìm theo học tiến sĩ Lập Trai Phạm Quý Thích,Đốc học Cao Duy Hiệu, Tri huyện Tiên Minh Nguyễn Trừng Nhưng đối với NguyễnVăn Lý, người thầy hiểu ông nhất, có ảnh hưởng đến ông lớn nhất mà ông vô cùngkính trọng là Lập Trai Phạm Quý Thích Được sự khuyến khích, dẫn dắt của thầyPhạm Lập Trai, khoa thi Hương năm Ất Dậu (1825), Nguyễn Văn Lý đỗ Cử nhân,cùng khoa với Nguyễn Văn Siêu, Hoàng Tế Mỹ, Vũ Tông Phan… Con đường khoa

cử của Nguyễn Văn Lý sau đó khá lận đận Ông thi hỏng liền hai khóa thi Hội vào

Trang 29

các năm Bính Tuất (1826) và Kỷ Sửu (1829) Phải tới khoa thi khoa Nhâm Thìn,Minh Mệnh thứ 13 (1832) ông mới đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân (ông Nghè), năm

đó ông 38 tuổi Năm 1833, tháng hai (âm lịch), ông được bổ làm Tri phủ phủ Thuận

An, 8 tháng sau thì có lệnh triệu vào kinh và tháng tư (âm lịch) năm 1834 được traochức Viên ngoại lang Bộ Lại Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) ông được bổ làm Ámsát sứ Phú Yên đồng hộ lý tuần phủ quan phòng Tháng Tám được cử làm Chánh chủkhảo trường thi Gia Định Cuộc đời làm quan của ông cũng nhiều thăng trầm và cónhững nỗi oan Khi làm quan ở Phú Yên có hai lần ông bị giáng chức Năm 1844,một lái buôn ở Phú Yên vu khống ông nhận hối lộ, dù Học sĩ Vũ Phạm Khải và Ánsát Nguyễn Công Vịnh xét xử đã kết luận Nguyễn Văn Lý vô tội nhưng vẫn bị cáchchức Nguyễn Văn Lý bị cách chức cho về quê tháng 5 năm 1846, nhưng chỉ haitháng sau, tháng 7 lại có chỉ khởi phục chức Hàn lâm viện Điển bạ, làm Tu văn quy.Khi vua Thiệu Trị băng hà, ông lại được mệnh đi tìm đất an lăng, đây cũng là mộtviệc chứng tỏ sự tín nghiệm của vua Tự Đức đối với ông Nhân dịp này ông được banthưởng, nhưng lộ trình làm quan dường như đã chững lại Năm Mậu Thân (1848),tháng 9 được sai làm sơ khảo trường thi Nam Định; tháng 11 công việc xong Cáoquan mấy bận nhưng đến năm 54 tuổi (1848), Nguyễn Văn Lý mới được chấp thuậncho nghỉ một thời gian Ông ở nhà cho đến giữa năm Bính Thìn (1856), mở trườngChí Đình ven Hồ Hoàn Kiếm Nguyễn Văn Lý luôn quan tâm đến việc giúp dân cứuđời, quan tâm đến việc học của sĩ tử Quan điểm mở trường Chí Đình của ông NghèĐông Tác Nguyễn Văn Lý là đào tạo ra những nhân tài xây dựng đất nước, chứkhông chỉ là đỗ đạt để ra làm quan, cầu công danh bổng lộc Những học trò xuất thân

từ trường lớp Chí Đình đã làm rạng danh thầy và ngôi trường mang hoài bão chíhướng của kẻ sĩ Bắc Hà Có thể kể những nhân tài xuất thân từ trường Chí Đình như:Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp người Kim Lũ làm đến Thượng thư Bộ Lại, Tổng tàiQuốc sử quán, Đại thần Cơ Mật viện, Văn Minh Đại học sĩ, Phụ chính vua ThànhThái Cùng với lập trường quanh khu vực Hoàn Kiếm, Nguyễn Văn Lý còn cùng cácbạn đồng môn, đồng chí hướng Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, NgôThế Vinh, Phạm Sĩ Ái, Lê Duy Trung, Trần Văn Vi… xây dựng trung tâm văn hóa

Hà Nội Ông đã góp công sức vào việc xây dựng Hội Hướng thiện ở đền Ngọc Sơn.Nhưng khi địa hội thành lập, ông đã phải trở lại kinh thành Huế nhậm chức Tuynhiên, dưới sự lãnh đạo của Hội trưởng Vũ Tông Phan, rồi Nguyễn Văn Siêu, hội đã

có tác động rộng hơn trong việc khuyến khích giữ vững truyền thống văn hóa dân tộc

Trang 30

Đặc biệt, hội đã tổ chức tôn tạo vùng phía Bắc của Hồ Gươm thành quần thể văn hóagiữa lòng Thăng Long - Hà Nội Nguyễn Văn Lý là một trong những văn nhân tríthức Hà Thành đầu thế kỷ XIX có tấm lòng với văn hóa Thăng Long và đã góp phầnkhông nhỏ vào công cuộc chấn hưng văn hóa đó, khiến cho Thăng Long tuy khôngcòn là nơi vua chúa ở nhưng vẫn là thành phố đứng đầu nước về nghệ thuật, về kỹnghệ, thương nghiệp, sự giàu có, dân số đông đúc, sự lịch duyệt và học vấn…

Nguyễn Văn Lý mất ngày 17 tháng 8 năm Mậu Thìn (18 6 8 ) tại ngôi nhà ởphố Hàng B ồ , thọ 74 tuổi Trưởng môn Ng u y ễn Trọng Hợp c ùng các môn sinh dựngnhà thờ thầy tại làng Trung Tự (nay thuộc tổ 23B, phường Phương Liên, quận Đống

Đa, Hà Nộ i )

1.2.2.2 Sự nghiệp sáng tác

Cùng với việc giáo dục, những hoạt động không mệt mỏi nhằm giữ gìn pháttriển nền văn hóa dân tộc, tài năng, đức độ của Nguyễn văn Lý còn được khẳng địnhthông qua sự nghiệp trước tác Như đã đề cập ở trên, có thể thấy ông đã được nhiềudanh sĩ đương thời đánh giá cao Nói về các trước tác thơ văn của ông, thi sĩ nổitiếng Tùng Thiện V ư ơ ng ca ngợi: “Đãi cát mới thấy vàng, đẽo đá mới được ngọc, đó

là con người đã suy xét đến cùng cực nên thơ văn mới hay đẹp như thế” [43]

Cho đến nay, chúng ta có thể thấy những tác phẩm của Nguyễn Văn Lý được thống

kê một cách đầy đủ nhất thông qua phần giới thiệu trong cuốn sách Tổng tập thơ văn

Chí Đình Nguyễn Văn Lý, tập 1, PGS.TS Trần Thị Băng Thanh (chủ biên), Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, (2015) Qua cuốn tổng tập này, độc giả có thể thấy Nguyễn Văn

Lý đã để lại nhiều trước tác như Đông Khê thi tập, Đông Khê văn tập, Chí Am Đông

Khê thi tập, Chí Hiên thi thảo, Thọ Xương Đông Tác Nguyễn thị tông phả, Đông Tác Nguyễn thị gia huấn Theo Đại Nam liệt truyện thì ông để lại bốn quyển Đông Khê thi tập, năm quyển Văn tập và một quyển Tự gia yếu ngữ, đúng như Nguyễn Văn Lý

xác nhận trong Chí Am tự truyện “Trước tác của ta có hai tập: Đông Khê thi tiền hậu

tập, Văn tập lưu hành ở đời và một quyển Tự Gia yếu ngữ để dạy con cháu” Theo

thống kê của Thư mục đề yếu, tác phẩm của Nguyễn Văn Lý hiện có khoảng trên

-dưới 900 trang chữ Hán, con số này cũng không nhỏ Đến với tác phẩm của ông trướchết là để hiểu tài năng, con người của ông, từ đó hiểu hiện trạng đất nước và tấm lòng

kẻ sĩ Thăng Long trong một thời đoạn lịch sử mà dân tộc gặp rất nhiều khó khăn,đang trăn trở về kế sách, hành động giữ nước cũng như sự phát triển đất nước Đócũng chính là giá trị của những di sản tinh hoa dân tộc đang còn nằm im lìm trong

Trang 31

những cuốn sách cũ kỹ Đông Khê thi tập, nơi gửi gắm tấm lòng thơ tha thiết và nồng hậu với cuộc đời Chí Hiên thi tập, một cánh cửa riêng cho cái tôi nhà thơ Có một số

tác phẩm khá lớn ông không đưa vào tập Đông Khê được chép vào tập thơ này Đọcnhững bài thơ xuất hiện trong tập này có thể thấy, tác giả có một chút “buông thả”, dù

đề vịnh, ký tặng bạn bè hay tâm sự, bàn luận ông cũng nặng về tình cảm và có một số

bài thơ viết về “người đẹp” Đông Khê văn tập, kiến thức uyên thâm và cái nhìn sắc

sảo, thâm trầm, bản lĩnh của Nguyễn Văn Lý đối với cuộc đời và một số vấn đề vănhóa dân tộc

Những tác phẩm hiện còn của Nguyễn Văn Lý đã đạt được những thành tựu

nhất định về mặt nội dung và nghệ thuật Đặc biệt với Đông Khê thi tập độc giả sẽ

cảm nhận được tấm lòng tha thiết và nồng hậu với cuộc đời của một con người bình dị,đời thường, với tài năng và tấm lòng kẻ sĩ đất Thăng Long nơi ông Nghè Đông Tác

1.2.3 Tác phẩm Đông Khê thi tập

Dựa trên những giới thuyết trong phần giới thiệu trong cuốn sách Tổng tập thơ văn

Chí Đình Nguyễn Văn Lý, tập 1, PGS.TS Trần Thị Băng Thanh (chủ biên), khi khảo

sát các văn bản cụ thể có thể thấy thơ của Nguyễn Văn Lý được sáng tác trong suốt

hành trình cuộc đời và cũng đã được nhiều lần tập hợp, sắp xếp Trong Tự truyện, Nguyễn Văn Lý nói ông có Đông Khê tiền hậu tập “Hiện nay, theo các nhà biên soạn

Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu thì Đông Khê thi tập bản A.2439 mới là

“bản cũ nhất”, nhưng A.1873 là bản đầy đủ hơn cả Bản này có đủ 3 lời đề Tựa, 1 lời

Bạt và 1 Lệ ngôn Tựa của Đôn Phủ Lê Văn Đức viết năm 1841, Bạt của Hi Hiến Phan Tử Cử viết năm 1842, Tựa của Hiển Phủ Phan Trứ viết năm 1846 và Tựa của Thương Sơn Chủ nhân Bạch Hào Tử viết năm 1866 Lệ ngôn của Nguyễn Trọng Hợp nói rõ Đông Khê thi tập là một tuyển tập Hiện bản A.1873 chia làm 2 tập Tập tiền

gồm 2 quyển, quyển 1 chép thơ làm từ năm Kỷ Sửu (1829) đến năm Canh Tý (1840),quyển 2 chép thơ làm từ năm Tân Sửu (1841) đến năm Bính Ngọ (1846); Tập hậucũng gồm 2 quyển, quyển 1 chép thơ làm từ năm Bính Ngọ (1846) đến năm BínhThìn (1856), quyển 2 chép thơ làm từ năm Bính Thìn (1856) đến năm Mậu Thìn

(1868) Trong Lệ ngôn, Nguyễn Trọng Hợp cũng cho biết tác phẩm của thày còn tản

mát nhiều, đợi sưu tập được sẽ đưa vào “bổ di” Hiện A.1873 vẫn là văn bản chép tay,

có thể là bản sao từ bản tuyển của Nguyễn Trọng Hợp Bản này có số bài và nhiềucâu sai dị so với bản được lưu giữ ở gia đình và cả A 2439 Tất nhiên với những vănbản chép tay thì tình trạng “tam sao thất bản” là không tránh khỏi Trong trường hợp

Trang 32

này từ bản lưu giữ ở gia đình đến bản A.1873 thì không biết đã mấy lần sao Tuynhiên có những sai dị không phải do “lỗi kỹ thuật” mà là một sự “hữu ý” [39].

Theo sự khẳng định của chính tác giả thì về thơ ông chỉ có Đông Khê thi tập,

số lượng vào năm 1846, khi Phan Trứ viết lời Tựa là hơn 400 thiên Tuy nhiên, tổngkết lại từ các văn bản thì con số lớn hơn nhiều Cụ thể là: Bản A.1873, 4 quyển gồm

433 bài, theo con số Nguyễn Trọng Hợp công bố Bản Đông Khê thi tập lưu giữ ở gia

đình chỉ có 345 bài, thiếu hầu hết phần sáng tác hơn 20 năm cuối đời (gồm 105 bàichép ở Quyển 4 của Bàn A.1873 và một số bài ở các phần khác), đồng thời lại dôi rakhoảng gần 100 bài so với A.1873 Như vậy nếu cộng cả phần dôi ra của 2 bản, số bài

thơ của Đông Khê thi tập có thể tới hơn 600 bài [39] Nghiên cứu Nhân vật trữ tình

trong Đông Khê thi tập của Chí Đình Nguyễn Văn Lý, chúng tôi căn cứ theo bản dịch,

tổng hợp của PGS.TS Trần Thị Băng Thanh trong cuốn Tổng tập thơ văn Chí Đình

Nguyễn Văn Lý (hai tập) của nhà xuất bản khoa học xã hội Trong hai cuốn tổng tập

này, Đông Khê thi tập gồm tất cả 712 bài, chúng tôi tập trung nghiên cứu 429 bài thơ trong Đông Khê thi tập, theo cuốn tổng tập quyển một.

Đông Khê thi tập là nơi gửi gắm tấm lòng thơ tha thiết và nồng hậu với cuộc

đời Ngòi bút của Nguyễn Văn Lý trong Đông Khê thi tập đề cập đến rất nhiều cảm

xúc, đa dạng về đề tài, nhân vật trữ tình vì thế hiện lên rất chân thực Những vấn đềđược ông đề cập rất nhiều và nổi bật trong số đó là cái nhìn về thời đại và tình cảm

con người Về cái nhìn thời đại của tác giả qua Đông Khê thi tập, có thể thấy bản thân

ông là người từ nhỏ đã để chí vào việc học, hết lòng tuân thủ theo những nguyên tắcđạo đức của Nho gia, đối với Nguyễn Văn Lý nhà Lê đối với ông vẫn là một triều đạichính thống, có nhiều công lao Vì thế ông đã dành những lời ca ngợi hết mực cho

vua Lê Thái Tổ (Truy tư Lê Thái Tổ Hoàng đế công đức) Ông cũng dành sự ngưỡng

vọng sâu xa cho vua Lê Thánh Tông, vị vua thủ thành - vua thánh - trong lòng những

người theo nghiệp Nho (Phú Yên Hội đồng miếu phụng Lê Thánh Tông hoàng đế bái

yết cung phú).

Vì thế một số sáng tác của ông trong tập Đông Khê cho thấy ông coi Tây Sơn

là “giặc”, Nhà Lê vẫn được ông đề cao, tuy nhiên nhà Lê trong ông cũng đã trở thànhlịch sử Kính trọng, ngậm ngùi, có thể nuối tiếc trước sự suy tàn của một triều đại lớn

có công với dân với nước nhưng cũng không thể cứu vãn Đó cũng là tâm sự chung

Trang 33

của nhiều kẻ sĩ Thăng Long buổi đầu triều Nguyễn Họ không “hoài Lê” theo quanniệm “trung quân” kiểu Nho gia, bởi thực ra, sự thâu tóm giang sơn về một mối cũng

là việc tiếp nối thành công bước đi từ các triều đại trước và cũng là khát vọng củanhân dân Công cuộc thống nhất đất nước đã đem lại cho giới Nho sĩ niềm tin về một

xã hội thịnh trị Đối với nhà Nguyễn, ở Nguyễn Văn Lý trước hết là một tinh thầnchấp nhận, tôn sùng Với niềm tin về triều đại mới, ông phấn chấn, phấn đấu trên con

đường cử nghiệp Những bài thơ trong Đông Khê thi tập đã phần nào cho thấy hình

ảnh của một Nho sĩ nặng lòng với đất nước, tận trung với vua Đây cũng là tình cảmđặc biệt, chiếm số lượng tác phẩm khá lớn trong tuyển tập, nhân vật trữ tình hiện lênvới một lòng nồng nàn yêu nước

Hơn thế, là một Nho sĩ nặng lòng với thế cuộc, có một tấm lòng đôn hậu, khilàm quan ông không thể thờ ơ trước cảnh người dân trong hạt mình khổ sở vì thiên taihoặc là những tai nạn mà do việc mưu sinh không có điều kiện tự bảo vệ Khi dântrong hạt bị bệnh tật, có kẻ khổ sở vì lưu vong, cư dân sống ở Bàn Thạch có người bị

hổ vồ ông đều tức cảnh thành thơ

Trong thơ ông, không ít những câu thơ chua xót hoặc thẳng thừng lên án chính

sự hà khắc Có những câu thơ đọc lên mà cảm giác hình dung được cái chau mày củatác giả Quãng đường làm quan cho nhà Nguyễn, ông trải qua nhiều thăng trầm.Trong một thời gian dài ông không được giao một công việc gì phù hợp với tài năng

và hoài bão của ông Những bài thơ ông làm trong thời gian này nhiều bài cho biếtđiều đó Quanh đi quẩn lại, dường như ông chỉ có việc đi trực trong Ban, trong Các

(Thu trực bất mị, Cửu nhật trực hồi, Phú thị niên huynh Phạm Nghĩa Khê…), mà có

vẻ ông rất nhàn - xem hoa, cảm nhận thời gian trôi đi và thù tiếp các bạn đồng liêu,tiến người sung một chức nào đó thuyên chuyển đi xa, tiễn người về hưu, tiễn người

đi hiệu lực, tiễn người bị bãi chức cho về quê… Vui vẻ nhất trong những cuộc hộihọp ấy là được bạn bè xướng họa, nối vần làm thơ Ngoài ra là những lúc ông mộtmình đối diện với thời gian, với gió mưa bão lũ của thiên nhiên khắc nghiệt nơi ôngsống, cảm giác cô đơn dễ thấy trong những bài thơ ông viết Cuộc sống tẻ nhạt, nơmnớp lo âu và khí hậu khắc nghiệt đã khiến Nguyễn Văn Lý nhiều lần đối diện với sựhao mòn về thể lực Chính vì thế khi được bổ làm Án sát Phú Yên, ông như đã lấy lại

Trang 34

được nhuệ khí và cũng đã có nhiều dự định, nhiều quyết tâm Người và cảnh Phú Yên

đã đem lại cho ông những sinh khí mới Các bài Phú Yên phong thổ ca, Quá Hải Vân

quan… đều thể hiện tinh thần nhập cuộc, tự tin, như một cảm giác được tự do Những

vần thơ làm trong thời gian này vì thế trở lại được phong cách mạnh mẽ, tươi tắn vàgiàu chất suy tư Nhưng rồi ở Phú Yên chẳng bao lâu, Nguyễn Văn Lý lại vấp váp,quan Án sát mà đến nỗi phải bị “đối tụng”, cuối cùng là bật trở lại Bắc Thành vớiquyết án “miễn nhiệm” Cho nên đối với Nguyễn Văn Lý, những năm làm quan làmột chuỗi ngày không mấy vui vẻ và nhiều khi còn rất buồn Vì vậy thơ của ông cũngthường biểu lộ một trạng thái tâm tư mơ hồ, vẩn vơ, lạnh lẽo, những đêm mất ngủ Cónhững bài thơ tưởng rằng chỉ là những bài vịnh cảnh công thức, sáo mòn thì lại là cáibầu chứa đựng một sự suy tư về triết lí nhân sinh, về một cuộc sống không được tựmình làm chủ

Bên cạnh đó, ngoài việc bày tỏ tấm lòng với dân với nước, trong Đông Khê

thi tập có thể thấy Nguyễn Văn Lý tìm được ở thiên nhiên những bức tranh sơn thủy

biếc xanh, tươi sáng cho thấy được sự đắm say với thiên nhiên của ông Ông có thể

thấy triền núi bao quanh hoa trên lầu, ánh màu biếc trải khắp thành (Nham đới lâu

hoa thúy mãn thành), nơi đèo Tam Điệp hiện hữu màu xanh hàng ngàn dặm ngút

ngàn khiến cho sắc cây không còn phân biệt được (Thiên lý bích mê phương thụ sắc);

thác nước đổ xuống trắng xóa như nhà ai phơi vải, tiếng chim huyên náo trong rừng

(Thùy gia bộc bố lâm huyên điểu) Dù là miêu tả thiên nhiên tươi tắn nhưng hình

tượng, ngôn ngữ thơ của Nguyễn Văn Lý rất cứng cỏi, mạnh mẽ, trẻ trung tạo nên khícốt của thơ Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả thiên nhiên đơn thuần, cảnh đẹp đấttrời, đôi khi đằng sau bức “họa” thiên nhiên ấy là hình ảnh một người đứng ngắm đầytâm tư Tác giả hòa mình vào thiên nhiên để cảm nhận đất trời và dùng chính hìnhảnh đó phác họa thế giới tâm hồn của mình Vì vậy, những vần thơ viết về thiên nhiên

trong Đông Khê thi tập không chỉ đẹp, giản dị mà còn rất sâu sắc Song song với tình yêu thiên nhiên, Đông Khê thi tập còn cho độc giả thấy một Nguyễn Văn Lý rất nặng

lòng với bạn bè Ông nặng quan điểm Nho gia, đối với ông, cương thường là rấttrọng, cho nên những mối quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng, bạn bè rất quan trọngtrong đời sống kẻ sĩ Nhưng điều đặc biệt là ở Nguyễn Văn Lý, bạn bè không chỉ

Trang 35

riêng là quan hệ xã hội, là đạo lý mà còn xuất phát từ tình cảm chân thành, từ tìnhthân và sự đồng chí hướng Mảng nội dung viết về bạn bè chiếm một vị trí quan trọngtrong thơ ông Những bài viết mừng bạn đỗ đạt, tâm trạng đều hứng khởi, khẳng địnhniềm vinh hạnh của khoa danh, của tiền đồ rộng mở Ông cũng thể hiện chí hướngcủa mình qua những bài thơ đề cao phẩm cách, tự răn không được trễ nải nghiệp thithư Cùng với đó, ông răn dạy những môn sinh của mình phải biết giữ khí tiết, vữngvàng, phải có lòng tin vào đạo lý nhân nghĩa thánh hiền.

Thơ của Nguyễn Văn Lý ở tập Đông Khê phần nhiều là những bài thơ thể hiện

chí khí cứng cỏi của bậc quân tử, cũng có khi thể hiện những nỗi buồn trước thờicuộc, niềm băn khoăn trăn trở về sự nghiệp chốn quan trường, và có lúc là tâm sự cánhân với niềm yêu bạn, nhớ quê hương, gia đình… và có thể thấy dù đề cập đến nộidung gì đi nữa ông cũng đều thể hiện hồn thơ trung hậu của một con người cả đời tudưỡng theo mẫu hình nhân cách đạo đức Nho gia - hồn thơ trang nhã, đậm tình Chonên từ vị chính khách Thượng thư Bộ Binh Lê Đôn, Bố Chánh sứ Bình Định PhanTrứ, Đốc học Bình Định Phan Cử đã dành cho ông những lời khen ngợi trân trọng:

“Chí Đình cũng không ham thơ, nhưng kiến thức lỗi lạc không tầm thường Trướcnhững điều gặp gỡ xúc động, cảnh sắc sâu vắng lạ kỳ, không nỡ để núi sông phải tịchmịch; xem xét sử sách việc đời, không nỡ để sự tích mai một, những điều sở đắc đềughi lại, bất giác thành thiên thành lập Tựu trung là hoài cổ tụng kim mà ngôn ngữ

phần nhiều đúng lý, nhớ xưa khuyên nay mà văn chương xuất ở tình” (Tựa của Phan

Cử) [2, tr.55]

Như vậy, qua việc giới thuyết đôi nét về nội dung các tác phẩm thơ và đời

sống tình cảm của nhân vật trữ tình, chúng ta có thể thấy Đông Khê thi tập đã khẳng

định phần nào cái tài và cái tâm của tiến sĩ Chí Đình Nguyễn Văn Lý

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Trong chương một, chúng tôi đã tìm hiểu những vấn đề cơ sở về mặt lí thuyết

có liên quan đến luận văn như: nhân vật trữ tình, thơ trữ tình trung đại, nhân vật trữtình trong thơ trung đại Nhân vật trữ tình được hiểu là hình ảnh của tác giả phản

chiếu trong tác phẩm họ sáng tác Cụ thể, khi tìm hiểu nhân vật trữ tình trong Đông

Khê thi tập là chúng tôi tập trung tìm hiểu và làm sáng tỏ con người của vị tiến sĩ đất

Hà thành - Nguyễn Văn Lý trong những thi phẩm của ông, để từ đó có những nhậnxét xác thực nhất về thế giới nội tâm, những chiêm nghiệm, quan điểm của thi nhân

về cuộc đời và con người

Chúng tôi đã trình bày những nét khái quát nhất về tác giả làm cơ sở nghiêncứu nhân vật trữ tình ở những chương sau Chí Đình Nguyễn Văn Lý là một nhà Nhokhiêm nhường, bền bỉ khổ học Ông là người biết mình, không thích thú, ham muốndanh vọng Rõ ràng ở cả hai tư cách con người phận vị và con người cá nhân, NguyễnVăn Lý thuộc kiểu nhà Nho chừng mực, đoan chính và cương trực, không bị cuộc đờilàm gục ngã mà cũng không bị tha hóa bởi mũ áo quan trường Về thơ văn của ônghầu hết là tiếng nói hồn hậu, chân thật Điều này thể hiện ở việc những bài thơ củaông ấn tượng để lại rõ nhất không phải là cái gì mang sự dằn vặt hoặc sự suy nghiệmcao xa mà là những tình cảm tưởng chừng như nhỏ nhặt thôi, nhưng là những cái nhỏnhặt cần thiết mà cuộc sống thường tình mỗi người đều có

Chúng tôi tiến hành khái quát bối cảnh lịch sử triều Nguyễn để trên cơ sở đósoi chiếu nội dung tư tưởng mà tác giả truyền đạt qua tác phẩm của mình Cùng với

đó, chúng tôi quan tâm đến những trước tác, đặc biệt là Đông Khê thi tập để thấy được sự thống nhất trong hành trình sáng tác văn chương của ông Đông Khê thi tập

không chỉ là biểu hiện sâu sắc hồn thơ rộng mở, thể hiện tấm lòng cao đẹp của nhàthơ mà nó còn là bài học lớn cho chúng ta trong cuộc sống với nhiều biến đổi ngàynay Muốn nghiên cứu về tác giả Nguyễn Văn Lý thì không thể nào không tìm hiểu

về tác phẩm này Những giá trị nhân văn sâu sắc và nghệ thuật truyền tải đa dạng mà

Đông Khê thi tập đem lại sẽ luôn là nguồn cảm hứng, là đề tài hấp dẫn cho các

nhà nghiên cứu Đặc biệt chúng tôi chú ý đến sự biểu hiện của nhân vật trữ tình

trong tác phẩm

Đây là những cơ sở quan trọng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu chương 2,chương 3 của luận văn

Trang 37

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG

ĐÔNG KHÊ THI TẬP 2.1 Khái quát về nhân vật trữ tình trong Đông Khê thi tập

Trong Đông Khê thi tập của Chí Đình Nguyễn Văn Lý, nhân vật trữ tình - con

người tác giả, được thể hiện qua rất nhiều khía cạnh và rất gần gũi Trong chươngmột, chúng tôi đã giới thiệu khái quát về nội dung và một vài biểu hiện của nhân vậttrữ tình thể hiện trong tác phẩm Để tìm hiểu nhân vật trữ tình một cách cụ thể, sâu

sắc, chúng tôi tiến hành khảo sát hình ảnh tác giả qua cuốn Tổng tập thơ văn Chí

Đình Nguyễn Văn Lý, tập 1 do PGS.TS Trần Thị Băng Thanh chủ biên, với tổng số

429 bài thơ Sau khi khảo sát, chúng tôi thu được số liệu như sau:

B à y t ỏ tì

B à y t ỏ t

19b

39b

20bà

37bà

12bà

72bà

14bà

62bà

65b

210

Trang 38

Trong số các bài đã khảo sát bên trên ta thấy:

Qua con số đã thống kê trên đây, chúng tôi nhận thấy tác giả Nguyễn Văn Lý

có đời sống tình cảm rất sâu sắc và đa dạng, mối quan hệ nào ông cũng để tâm Trongtổng số 429 bài thơ khảo sát, có tới 49% bài thơ tác giả bài tỏ tình cảm với bạn hiền.Con số này cho thấy ông rất coi trong mối quan hệ với bạn bè, đặc biệt ông có mốithâm tình với Cao Bá Quát, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Nghĩa Khê Phạm Sĩ Ái,Phù Xuyên Phan Trứ Ngoài mấy bạn chí thiết, ông còn nhiều bạn thân quen khácđược ghi trong các bài mừng thi đỗ, tiễn nhau, mừng thọ… Bên cạnh đó, số bài thơthể hiện nỗi lòng ông với thời cuộc, con đường hoan lộ cũng chiếm phần nhiều(20,7%) Nguyễn Văn Lý đi nhiều nơi, qua nhiều chốn, trải nghiệm nhiều sự việc -đất nước, thế cuộc, nhân tình, suy tư, cảm xúc… đều thể hiện rõ nét qua tập thơ Từnhững bài thơ ấy có thể hiểu hiện trạng đất nước cũng như tấm lòng của ông với vua,với dân, với nước Số bài thơ ông viết bày tỏ lòng yêu nước một cách trực tiếp là 36

Trang 39

bài thơ (8,4%) Cùng với đó là tình cảm thiêng liêng ông dành cho gia đình và sự giaohòa cùng với thiên nhiên Số bài thơ ông viết cho gia đình là những bài bày tỏ tâmtrạng nhớ thương, sự cổ vũ con cháu học hành thành tài, sự quan tâm đến đời sốngcủa những người thân cùng với niềm hoài vọng biết ơn bậc tiên tổ,… tất cả đều chânthành, nồng hậu Những bài thơ ông viết về thiên nhiên (15,1%) sẽ cho thấy đượccảnh đẹp đất trời cùng những suy tư chiêm nghiệm ông gửi gắm qua cảnh vật Tất cảđiều này tạo dựng nên hình tượng nhân vật trữ tình gần gũi, mộc mạc rất đời khi độc

giả tiếp nhận Đông Khê thi tập Đồng thời những con số đã thống kê được trên đây sẽ

là nguồn dữ liệu chúng tôi căn cứ để tìm hiểu nhân vật trữ tình một cách toàn diện

2.2 Nhân vật trữ tình trong Đông Khê thi tập

2.2.1 Nhà Nho có tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc

Đất nước chính là nguồn sinh dưỡng nuôi lớn, bao bọc mỗi con người Mỗingười đều được thừa hưởng tinh hoa về vật chất cũng như tinh thần mà cha ông đểlại Nên mỗi cá nhân đều có mối quan hệ với quốc gia, dân tộc, có trách nhiệm phảixây dựng và bảo vệ những giá trị cốt lõi từ lịch sử đã gây dựng lên đất nước Để làmđược điều đó, mỗi cá nhân đều phải có lòng yêu nước sắc sắc Điều này được thể hiệnrất rõ thông qua văn học Đối với văn học trung đại, chủ nghĩa yêu nước thể hiện chủyếu qua ý thức sâu sắc về quốc gia dân tộc, truyền thống văn hiến lâu đời, quan điểm

về thời cuộc của các tác giả Văn học trung đại miêu tả thực tế đen tối của xã hội, phơibày những cảnh đời đau khổ của nhân dân, đấu tranh cho quyền lợi của con người.Bên cạnh đó còn là sự bày tỏ tình cảm với đấng thiên tử và ý thức cá nhân với thờicuộc, cách cảm nhận cuộc sống của mỗi con người

Thời đại mà Nguyễn Văn Lý sinh sống là khoảng thời gian đặc biệt, vấn đềgiúp dân cứu đời trở nên bức thiết Đặc biệt với những trí sĩ có lòng tự tôn dân tộc vàtình thương yêu với dân chúng như Nguyễn Văn Lý lại càng có nhiều suy tư trăn trở.Suốt quá trình làm quan của mình, vấn đề hàng đầu được ông quan tâm chính là sựyên bình của đất nước và sự ấm no của nhân dân Trong quá trình làm quan Phú Yên,ông đã nhận được sự kính trọng, yêu mến của dân chúng Thể hiện sự biết ơn ân đứccủa ông, họ đem vàng, bạc hàng trăm lạng tới tạ, nhưng ông không nhận, bảo rằng:

“Ta

chỉ để ơn lại cho dân ta mà thôi” [2, tr.31] Khi thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâmlược

Trang 40

Việt Nam (1 8 5 8 ) , giống như nhiều nhà Nho chân chính, Nguyễn Văn Lý, mặc dù đãcao tuổi nhưng vẫn dốc lòng vì quốc sự Mùa đông năm ấy, ông cùng quan Tổng đốc

Hà Ninh Hoàng Văn Thu dâng “Mật trần kế sách đánh Tây” lên vua và được T ự Đ ứ c

châu phê “đã xem”

Nguyễn Văn Lý là người luôn tận tâm với việc phát triển văn hóa đất nước.Đứng trước nguy cơ truyền thống văn hóa và sự phát triển cốt lõi của đất Thăng Longđang bị lung lay, mai một, nhân dân chịu nhiều nỗi bi ai, ông cùng với rất nhiềungười bạn chí thiết của mình là sĩ phu Bắc Hà đương thời giúp dân và gìn giữ truyềnthống văn hóa dân tộc và vai trò trung tâm văn hóa của Thăng Long Ngay saungày vi n h q uy b ái tổ, ông đã cùng bạn bè hoàn thành việc lập V ă n H ộ i T h ọ X ư ơ n g Hội được lập ra nhằm tập hợp đông đảo trí thức của gần hết vùng nội thành với mụcđích thực hiện việc trấn hưng đất Kinh kỳ Nguyễn Văn Lý chính là một trong nhữngthành viên hoạt động tích cực nhất Văn hội dưới sự lãnh đạo của nhóm các ông và cảsau khi các ông qua đời đã gắng sức thực hiện đúng tôn chỉ đã đề ra Và bằng sức lực,tâm huyết của họ văn hóa đất đế đô đã được gìn giữ, phát triển hưng thịnh Và khiĐốc học Hà Nội Lê Đình Diên bị bọn tay chân Pháp hành hung, Văn hội của ông đãkêu gọi được rất nhiều người đi phản kháng, thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc và tinhthần đoàn kết, một lòng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc

Bên cạnh đó, ông đã góp công sức vào việc xây dựng Hội H ư ớ ng Thiện ở HàNội Nhưng khi họp đại hội thành lập, có việc khẩn ông đã phải trở lại Huế Nhữngngười bạn đồng chí hướng với ông vẫn duy trì và phát triển hội Dưới sự lãnh đạocủa TôngVũ P ha n , sau này là Ng u y ễ n Văn Siê u , hội đã có tác động rộng hơn trongviệc khuyến khích và giữ vững truyền thống văn hóa dân tộc Đặc biệt, hội đã tổ chứctôn tạo vùng phía Bắc của Hồ G ư ơ m thành quần thể kiến trúc Ng ọ c Sơn - một di tíchlịch sử - văn hóa giữa Thăng Long Nguyễn Văn Lý có công rất lớn trong việc sưutầm bộ Thế phả với số trang là 418 Để có thể đạt được kết quả như vậy ông đã dànhrất nhiều tâm huyết và 20 năm kiên trì tìm tòi “Trong lời tựa, có câu: “ông Lê Chấtchỉ là tướng võ mà chí nghiệp rộng xa như thế đấy” Trong hoàn cảnh đương thời khi

Lê Chất nguyên Tổng trấn Bắc Thành đã cùng với L ê V ă n D u y ệ t bị kết tội rất nặng,

mộ bị san phẳng thì có thể đánh giá lòng quả cảm và tâm huyết với việc xây dựng nềnvăn hóa dân tộc của ông” [43]

Ngày đăng: 16/11/2018, 03:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Sỹ Cẩn (1984), Mấy vấn đề phương pháp dạy thơ văn cổ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề phương pháp dạy thơ văn cổ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Sỹ Cẩn
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1984
2. Chí Đình Nguyễn Văn Lý (2015), Tổng tập thơ văn (Quyển I), PGS.TS Trần Thị Băng Thanh (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập thơ văn
Tác giả: Chí Đình Nguyễn Văn Lý
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2015
3. Chí Đình Nguyễn Văn Lý (2015), Tổng tập thơ văn (Quyển II), PGS.TS Trần Thị Băng Thanh (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập thơ văn
Tác giả: Chí Đình Nguyễn Văn Lý
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2015
4. Nguyễn Thạch Giang - Lữ Huy Nguyên (1999), Từ điển điển cố văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển điển cố văn học
Tác giả: Nguyễn Thạch Giang - Lữ Huy Nguyên
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
5. Dương Quảng Hàm (2002), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2002
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
7. Nguyễn Phạm Hùng (2001), Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XX, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XX
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2001
8. Trần Đình Hượu (1999), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1999
9. Trần Trọng Kim, (2000), Nho giáo xưa và nay, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
10. Đinh Xuân Lâm chủ biên (2007), Đại cương lịch sử Việt Nam tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam tập 2
Tác giả: Đinh Xuân Lâm chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
11. Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận (2007), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuốithế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
12. Phan Ngọc Liên, Đỗ Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Cơ (2005), Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nhà Nguyễnmột cách tiếp cận mới
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Đỗ Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Cơ
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2005
13. Đoàn Ánh Loan (2003), Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố
Tác giả: Đoàn Ánh Loan
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
14. Phạm Thị Loan (2017), Tình cảm gia đình trong thơ Phan Thúc Trực, Luận văn tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Sư phạm – ĐHTN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình cảm gia đình trong thơ Phan Thúc Trực
Tác giả: Phạm Thị Loan
Năm: 2017
15. Nguyễn Lộc (1999), Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX)
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
16. Phương Lựu (chủ biên), (2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
17. Phương Lựu (1997), Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung đại ViệtNam
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
18. Nguyễn Đăng Na, (2005), Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2005
19. Nguyễn Đăng Na (2001), Những vấn đề lịch sử và phương pháp nghiên cứu văn học Việt Nam trung đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lịch sử và phương pháp nghiên cứu văn học Việt Nam trung đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
20. Lạc Nam (1993), Tìm hiểu các thể thơ, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các thể thơ
Tác giả: Lạc Nam
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w