Viết về thư Nguyễn Bính trên báo đặc san Hương Cúc mới Sông văn - Đà Lạt 1952 Trọng Thư một mặt phê phán nội dung thư Nguyễn Bính là "không hợp thời" và "cái tôi" đắm mình trong tình yêu
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Người hướng dẫn: PGS – TS PHÙNG QUÝ NHÂM
Người thực hiện: PHẠM THỊ THANH PHƯỢNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2000
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Luận án "Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính" đã được hoàn thành Nhân dịp này, tôi xin dược bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với công lao dạy dỗ và giúp đỡ của các quý thầy, quý cô Trường Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, đặc biệt là thầy Phùng Quý Nhâm đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và chu đáo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Cũng nhân dịp này tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu và tập thế giáo viên Trường Trung học Sư phạm Bạc Liêu đã quan tâm tạo điều kiện cho tôi hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian học tập
Xin chân thành cám ơn
Thành phố Hồ Chí Minh 5 - 2000
Người thực hiện
Phạm Thị Thanh Phượng
Trang 4MỤC LỤC
DẪN LUẬN 1
1/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
2/ LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2
3/ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 9
4/ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU 10
5/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
6/ CẤU TRÚC LUẬN ÁN 11
NỘI DUNG 14
CHƯƠNG I: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH 14
I- Cái tôi hoài niệm 14
1.1/ Ý thức sâu sắc về sự đổi thay của nông thôn trước vấn đề đô thị hóa: 14
1.2/ Những hoài niệm về quê hương và khát vọng giữ gìn bản sắc chân quê 24 2/ Cái tôi tự ý thức về thân phận của kẻ tha hương 37
3/ Cái tôi yêu thương và chia xẻ 48
3.1/ Đối với người thân 48
3.2/ Đối với cộng đồng 56
4/ Cái tôi yêu thương và lỡ làng trong tình yêu 67
CHƯƠNG II: PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH 84
1/ Quan niệm nghệ thuật về con người 84
2/ Không gian và thời gian nghệ thuật 90
2.1/ Không gian nghệ thuật 91
2.2/ Thời gian nghệ thuật 97
3/ Giọng điệu nghệ thuật 100
4/ Thể thơ và các phương tiện nghệ thuật 109
4.1/ Thể thơ 109
4.2/ Ngôn ngữ 113
4.3/ Hình ảnh 121
KẾT LUẬN 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Trang 5DẪN LUẬN
1/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nguyễn Bính bước vào trong thơ mới bằng cái tôi chân quê mộc mạc, bình dị, mang nỗi niềm của một con người hiện đại để góp phần tạo nên hương sắc cho phong trào thơ lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945 Nhưng lại đứng riêng một góc trời đằm thắm, em dịu Cái tôi được biểu hiện trong những vần thơ mượt mà đằm thắm mang hương vị ca dao, dân ca ấy có một sức hấp dẫn kỳ lạ, đã làm rung cảm bao trái tim yêu của độc giả trên mọi miền đất nước, những lời thơ của ông cứ ngân nga mãi trong lòng bao thế hệ độc giả Việt Nam
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở góc độ này hay góc độ khác, phương diện này hay phương diện khác đánh giá về các thành tựu và các giá trị khác nhau của thơ Nguyễn Bính trong phong trào thư mới nói riêng và trong văn đàn Việt Nam nói chung Tuy nhiên sự thu hút và hấp dẫn của thơ ông là một ấn tượng thôi thúc người viết muốn tự mình đi vào tìm hiểu và khám phá sâu hơn nữa tiếng nói của những lời tâm tình, những cảm xúc dịu dàng và sâu nặng tha thiết trong thư ông để rồi qua đó cũng xin đóng góp một phần nhỏ vào việc khẳng định giá trị và vị trí thơ của Nguyễn Bính
Để thực hiện được nhiệm vụ trên luận án có mục tiêu nghiên cứu như sau:
- Tìm hiểu những đặc điểm cơ bản về cái tôi và cái tôi trữ tình, mối quan hệ giữa cái tôi trữ tình và thơ trữ tình
- Xác định và phân tích các đặc điểm về cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính trên cơ
sở liên hệ so sánh với một số nhà thơ khác trong phong trào thơ mới
Trang 6- Tìm hiểu và đánh giá các phương diện nghệ thuật đặc sắc của thơ Nguyễn Bính để thấy rõ khả năng khám phá và biểu đạt thế giới tâm trạng của cái tôi trữ tình trong thơ ông
2/ LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Ra đời trong phong trào Thơ Mới, Nguyễn Bính đã mau chóng trở thành một nhà thơ xuất sắc trên văn đàn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 Hòa mình vào dòng chảy chung của thơ lãng mạn, thơ Nguyễn Bính vẫn tạo được cho mình một vị trí rất riêng Khi phong trào Thơ Mới phát triển rầm rộ, dòng thơ trữ tình của Nguyễn Bính mau chóng trở thành một đề tài hấp dẫn đối với các nhà phê bình nghiên cứu Hoài Thanh - Hoà Chân là những nhà
nghiên cứu, phê bình đầu tiên đánh giá cao về thơ Nguyễn Bính Trong cuốn "Thi nhân Việt
Nam", hai ông đã khẳng định "Tôi muốn nói Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất chân
quê nhiều lắm Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức được người nhà quê ẩn náu trong lòng ta
Ta bỗng thấy hình ảnh vườn cau, bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình cơ bản của ta" [Hoài Thanh - (42,342)]
Nguyễn Bính đã để lại một di sản nghệ thuật thơ văn phong phú bao gồm nhiều thể loại: Thơ, truyện thơ, chèo, kịch thơ, truyện ngắn Hầu hết các tác phẩm đều thể hiện được tâm hồn và hơi thở của con người của cuộc sống dân quê Đặc biệt thơ trữ tình của thi nhân
đã thể hiện được một khả năng đồng cảm nhạy bén, sâu sắc với mọi người, thể hiện được
tiếng lòng dạt dào cảm xúc, chan chứa tình người của một hồn thơ Trên bình diện của "cái
tôi" nhà nghiên cứu phê bình Hoài Thanh - Hoài Châu đã xem Nguyễn Bính là "nhà thơ chân quê'", là người đã đem những hồn quê thuần khiết trở về trong những điệu ca dao mượt mà để
tìm lại bản chất Việt Nam Trong cuộc hành trình này, cái tôi trong thơ ông chính là sự tổng
hợp và phát quang của một tài sản vô cùng quý giá "Hồn xưa đá nước" Những nhận xét khái
quát và gợi ý ban đầu của Hoài Thanh Hoài Chân là cơ sở để nửa thế kỷ sau những nhà phê bình nghiên cứu góp phần nghiên cứu và bàn đến những vấn đề mới về cái tôi trong thơ trữ
tình của Nguyễn Bính mà trong "Thi nhân Việt Nam" chưa nói đến
Trang 7Ở miền Nam, từ năm 1945 đến 1975, thơ Nguyễn Bính trở thành một đề tài được nhiều người quan tâm Thế Phong trong một công trình nghiên cứu về nhà thơ đã đặc biệt chú trọng đến tính chất "Bình cũ rượu mới" trong thơ Nguyễn Bính Chính điều ấy tạo cho thơ ông một "bàn sắc độc đáo" và "một địa vị" không nhà thơ nào có được Trong bài viết của mình, Thế Phong cũng chỉ ra được nguyên nhân của sức "truyền cảm mãnh liệt" của thơ
Nguyễn Bính: "Thơ Nguyễn Bính không giống một ai, chính thi nghiệp của ông cũng như
Hàn Mặc Tử, là rút ra được từ cuộc sống thành khẩn của mình, sống sâu và nghệ thuật cao diễn tả thành công rực rỡ Không cầu kỳ như Vũ Hoàng Chương, không thuần túy lãng mạn dành riêng cho một giai cấp như Xuân Diệu, không khóc đời suy tư kiểu Huy Cận, không có những thiên nhiên tạo vật buồn nhẹ như Lưu Trọng Lư nhưng đi sâu vào khía cạnh tâm hồn mọi người, khi mà thi sĩ cũng hòa đồng rung cảm" [ Thế Phong (33, 258 - 259)]
Sự phân tích tỉ mỉ này đã chỉ ra được rằng: Điều khiển người đọc "rung cảm chân
thành ứa lệ" chính là ở cái cá biệt trong chiều sâu của cái tôi và ở cách thức thể hiện của nó:
Cái tôi cá thể hòa trong cái tôi cộng đồng, khám phá tâm hồn con người bằng một sắc thái trữ tình nhẹ nhàng nhưng mang tính chia xẻ và đồng cảm cao
Viết về thư Nguyễn Bính trên báo đặc san Hương Cúc mới (Sông văn - Đà Lạt 1952)
Trọng Thư một mặt phê phán nội dung thư Nguyễn Bính là "không hợp thời" và "cái tôi" đắm mình trong tình yêu và "than rằng tình mình đã khép lại vì một người con gái", nhưng mặt khác lại thừa nhận rằng đó là những bài thơ của một tâm hồn thơ "tình tứ, nhẹ nhàng,
man mác" và "mang cả hồn chúng ta về phía xa xôi, chốn quê hương thân mến"
Ngoài ra, nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính còn có một số công trình nghiên cứu khác
Vũ Bằng với "có hai Nguyễn Bính", Mộng Tuyết với "Nguyễn Bính với hai khía cạnh nhà thơ
tình thất và nhà thơ bình dân" Ta Tỵ với "Nguyễn Bính một thiên tài lỡ dở", Sông Thai với
"Nguyễn Bính với những bước lỡ làng" Nhưng nhìn chung việc nghiên cứu về cái tôi trữ
tình chưa có một công trình riêng hoàn chỉnh, nó chỉ được bộc lộ rải rác trong các công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính trên cái nhìn ở bình diện chung Hơn nữa trong vấn đề cái tôi trữ tình, những nhận xét
Trang 8đánh giá chỉ dừng lại ở chỗ phát hiện, nêu vấn đề một cách khái quát chứ chưa đi vào phân tích sâu
Ở miền Bắc, việc nhận định thơ mới nói chung, thơ Nguyễn Bính nói riêng lại nghiêng về khuynh hướng phủ định Nhận định về thơ mới, Vũ Đức Phúc trong quyển "Bàn
về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong văn hóa Việt Nam hiện đại 1930 - 1954" viết
rằng: "Bài thơ mới nào khá nhất cũng có ít nhiều những yếu tố xấu về tư tưởng Cái gọi là
chủ nghĩa nhân đạo" trong Thơ Mới chỉ là một thứ chủ nghĩa cá nhân gầy còm, trống rỗng và
vô vị" Với quyển "Phong trào Thơ Mới 1932 - 1945 (NXB Giáo dục, Hà Nội 1997" Phan
Cự Đệ cho rằng Thơ Mới chịu ảnh hưởng của ý thức hệ tư sản, về cơ bản là tiêu cực Tuy nhiên, công bằng mà nói thơ Nguyễn Bính không bị xem như là một ví dụ điển hình có tính chất gay gắt như một số nhà thơ khác ở thời kỳ này có lẽ do hồn thơ mang bản sắc chân quê trữ tình đằm thắm của thơ ông
Trên thực tế, từ sau Đại hội VI (1986) cùng với không khí dân chủ hóa trong đời sống
xã hội, trong sáng tác văn học, việc nhìn nhận lại giá trị của trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945 đã trả cho thơ Mới cũng như thơ Nguyễn Bính trở về với vị trí của nó trên văn đàn Chính bản sắc riêng và sự thể hiện rất riêng của thi nhân mà hiện tượng thơ ông
được xem như là một hiện tượng khá đặc biệt: "Một trường thơ, một khoanh tre trong bờ tre
làng thơ Việt Nam" [Tô Hoài (12,23 )]
Sau một quãng lùi lịch sử, hàng loạt các công trình nghiên cứu và đánh giá của giới nghiên cứu và phê bình văn học lần lượt ra mắt bạn đọc với sự đánh giá mới khách quan hơn
và khoa học hơn Tôn Phương Lan trong "Nguyễn Bính - nhà thơ chân quê" trên cơ sở
phân tích đóng góp về nội dung và nghệ thuật đã khẳng định "Khi Huy Cận, Xuân Diệu, Chế
Lan Viên và phần lớn các nhà thơ đương thời chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây và chính
nó đã dem lại cho phong trào Thơ Mới những nét đặc sắc thì Nguyễn Bính mang đến cho phong trào thơ một phong cách mộc mạc, chân quê, một lối ví von đậm đà màu sắc ca dao"
(20, 54)
Thơ Nguyễn Bính giàu chất trữ tình, nó là kết quả của một sự hòa quyện gần như là máu thịt giữa nhà thơ với cuộc đời Các giai điệu của nỗi buồn chia ly, niềm đau bị bội bạc hay cảm xúc bâng khuâng trước một phong cảnh mộc mạc, bình dị của quê hương đều được nhà thơ rung động bằng tất cả tình cảm chân thành, tha thiết của mình và chính cái tình
Trang 9ấy theo Vũ Quần Phương nhận xét thì "đã làm cho cảnh quê Nguyễn Bính bâng khuâng xao
xuyến, có sức khêu gợi, đánh thức trong tâm hồn ta những kỷ niệm về một miền quê có thực
và cả một miền quê chỉ có trong hoài niệm" (34, 26)
Khi thể hiện chất "chân quê" vẫn là con người của hiện đại với hồn thơ phảng phất
tình điệu lãng mạn đương thời Trong "Thơ Mới những bước thăng trầm" Lê Đình Kỵ đã
khẳng định giá trị của sự kết hợp hài hòa này: "Nói hương vị của quê hương đất nước thì
không đâu bằng ca dao Nhưng nếu nói thơ Nguyễn Bính không khác gì ca dao xưa thì Thơ
Mới sẽ nghèo mất đi một Nguyễn Bính" Ông đồng thời cũng đã nhìn thấy rõ rằng cảm xúc
thơ của nhà thơ là thứ cảm xúc gắn bó với cuộc sống của đại đa số người dân Việt Nam:
"Nguyễn Bính đã đến với người đọc không phải như một thợ thơ mà bằng "tâm hồn tôi", một tâm hồn mộc mạc dễ rung động trước những vui buồn quen thuộc hàng ngày và giống như ca dao, nó có sức lắng đọng và vương vấn người đọc" [ Lê Đình Kỵ (26,109 và 203)]
Mối quan hệ gắn bó giữa "cái tôi" với cuộc sống, con người như thế là đã được xác định
Tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính là phát hiện ra đặc điểm bản chất và
nét đặc sắc của "cái tôi" trong tình và ý thơ ông Các nhà phê bình nghiên cứu cũng đã chỉ ra
rằng sự thể hiện của “cái tôi" trong thơ Nguyễn Bính không chỉ ảnh hưởng mạnh đến nội dung mà còn tác động rất lớn vào nghệ thuật của nhà thơ Bằng sự hiểu biết sâu sắc và gần gũi với cuộc sống của con người Việt Nam, "Tâm hồn tôi" của Nguyễn Bính được thể hiện
một cách mộc mạc, bình dị và thấm đẫm chất tình Tình trong thơ ông chính là tình cảm đối
với quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa, nỗi thông cảm đối với những
phụ nữ bất hạnh, nỗi lo lắng trước sự tàn phai của "Hồn xưa đất nước" và sự đổi thay của
cuộc đời Trong một công trình nghiên cứu phê bình phong cách của các nhà thơ mới có lên
"Con mắt thơ", Đỗ Lai Thúy đã đi sâu vào khám phá thế giới nghệ thuật của các nhà thơ
mới có sự kết hợp giữa tư duy khoa học và tư duy nghệ thuật Nguyên tắc khám phá đó đã
giúp ông chỉ ra được bản chất của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính: "Cái tôi của nhà
thơ vừa là một sản phẩm của đô thị vừa là một thực thể độc lập tách biệt với thế giới bên ngoài, nhất là với chính cuộc sống đô thị"
Trang 10Có một góc độ riêng trong cảm nhận cuộc sống và phương thức biểu hiện, nhà thơ đã đưa ra
cái tôi của mình trở thành trung tâm sáng tạo Và cũng theo ý kiến của nhà phê bình nghiên
cứu Đỗ Lai Thúy thì đó là một cái tôi độc đáo với những phẩm chất bình dị nhưng hết sức
tinh túy "Nỗi niềm quê hương chẳng những là một hương thơm đặc biệt của thơ Nguyễn Bính
mà còn là một dòng nước mạnh thay đổi cả đôi bờ thể loại thơ ông" và "xét trong toàn bộ
sáng tạo của Nguyễn Bính thì mảng thơ giang hồ hoài niệm quê hương có một vị trí đặc biệt Dường như nó tỏa ánh sáng kỳ ảo làm tôn lên vẻ đẹp của chân quê đang biến đổi trước sự tiếp xúc với đô thị hiện đại và tấm lỏng thiết tha của nhà thơ trước sự thay đổi của nó"
Hiểu sâu sắc tâm hồn của thi nhân, Đỗ Lai Thúy cũng đồng thời cho rằng Nguyễn
Bính là một trong những trường hợp hiếm hoi trong sự cọ xát giữa cũ và mới đã "Bộc lộ sâu
sắc trong tâm hồn không chỉ một cá nhân mà cả một dân tộc, không chỉ một thời mà có lẽ của
nhiều thời" Tuy không sinh ra trong một gia đình nông thôn nhưng sống nhiều ở nông thôn,
rồi lớn lên theo bước chân phiêu bạt nhuốm cát bụi thị thành, trong cuộc sống nhiều tương
phản ấy, thi sĩ đã có dịp hiểu tường tận cuộc đời Môi trường đô thị góp phần "mài sắc ý thức
cá nhân của nhà thơ" Và thơ ông "là những con sóng vỗ về cả hai phía Tiếng dội của nó
vọng từ bờ nọ sang bờ kia" [Đỗ Lai Thúy (41,45 và 113)]
Nói đến thơ Nguyễn Bính là nói đến tình yêu thương sâu nặng mà lúc nào nhà thơ cũng dành cho cuộc đời Viết về tâm hồn thơ Nguyễn Bính, nhân ngày giỗ của nhà thơ, Hoài
Việt trong "Nguyễn Bính thi sĩ của yêu thương" đã nhận xét "Tâm hồn Nguyễn Bính như một
cây đàn muôn điệu, thoáng một chút gió đã ngân lên " (49, 62)
Theo Hồ Sĩ Hiệp, cội nguồn của cái tôi trong thơ Nguyễn Bính "Bắt rễ từ những hoa
đồng, cỏ nội, những ao muống, vạt cần, những mồ hôi, nước mắt, những lam lũ thường nhật của quê hương, một quê hương gắn bó suốt cuộc đời, dù có lúc ông phai lênh đênh khắp từ Bắc chí Nam hoặc bị cuộc đời hất hủi" Hồ Sĩ Hiệp nói rõ hơn: "Nguyễn Bính không ca ngợi những bóng dáng mỹ nhân mà luôn đi sâu vào thế giới tâm tình của những mảnh đời ngang trái dở dang Có thể nói, với ngòi bút của mình Nguyễn Bính đã nói lên chân thật đầy đủ nỗi
ưu buồn trầm lắng, giải tỏa được những tiếng kêu bi thương của những tâm hồn mộc mạc Tiếng thơ của Nguyễn Bính gây được sự rung cảm chân thành, lời thơ không gò bó
Trang 11gượng ép giả tạo, như chính nhà thơ đã mang nỗi niềm tâm sự hơn là do chính tác giả tưởng tượng làm ra " [20, 18 và 97]
Hà Minh Đức trong những nghiên cứu của mình cũng có những nhận định về "Cái tôi" trữ tình trong thơ Nguyễn Bính khá sâu sắc:
"Ở Nguyễn Bính dường như có hai con người, con người của đồng quê và con người thi sĩ giang hồ đắm đuối với sự nghiệp Hai con người đã tạo nên hai cái tôi trữ tình." Quá
trình khúc xạ để tạo nên hai cái tôi trữ tình ấy đã hình thành một tâm hồn - Hồn thơ Nguyễn Bính Để rồi từ những rung động và thổn thức của trái tim mình, hồn thơ ông như những cung đàn cứ ngân lên hoài giai điệu yêu thương của cuộc sống Khi đề cập đến tác phẩm "Lỡ bước
sang ngang" của Nguyễn Bính, Hà Minh Đức cũng đã nói: "Cái tôi trữ tình của Nguyễn Bính
có căn cứ để thâm nhập, để chan hòa vào cuộc sống, nhiều số phận" và kết luận: "Cái tôi trữ tình của Nguyễn trước sau vẫn là cái tôi trữ tình yêu cầu sự thông cảm Tác giả không tự tôn mình lên, "Cái tôi" của nhà thơ không khinh bạc, kiêu căng tách khỏi mọi người".[Hà Minh
Đức( 17, 208 và 209,213)]
Thể hiện cái tôi bằng khả năng đồng cảm cao giữa nhà thơ và cuộc đời là điều không thể phủ nhận được, có phải vì thế mà sau năm 1945, trước sự chuyển đổi của nhiều nhà thơ mới thì thơ Nguyễn Bính lại dễ dàng ít vật vã?
Thơ Nguyễn Bính mượt mà dung dị giàu chất nhân ái, gắn bó với cuộc sống của nhân dân, cùng với cảm hứng lãng mạn là cảm hứng nhân bản Ông viết về nỗi đau bằng những nếm trải và viết về tình đời bằng những tình cảm chân thành của trái tim mình Chính vì vậy
mà những vần thơ mang đậm đà bản sắc dân tộc của Nguyễn Bính được đông đảo bạn đọc
mến mộ Lại Nguyên Ân trong bài nghiên cứu "sự có mặt của Nguyễn Bính" đăng trong tuyển tập " Nguyễn Bính thi sĩ của yêu thương" đã đánh giá thơ của Nguyễn Bính bằng cách
đi sâu vào phân tích thực chất sự thể hiện của cái tôi trữ tình Ông cho rằng cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính bên cạnh nỗi niềm tâm sự hoài cổ thì những vần thơ được viết ra từ
trái tim nhà thơ còn là sự tự ý thức và "ý thức về sự sống của cá nhân và quyền được vui sống
của con người" Cũng phân tích về "cái tôi" trong thơ Nguyễn Bính, Lại Nguyên Ân đã xác
định một khía cạnh quan trọng trong cảm hứng sáng tác của nhà thơ: "Ngay từ đầu, giữa "thời
Trang 12"thật như đếm" của chính mình, mà "cái tôi" trữ tình trong thơ Nguyễn Bính phần nhiều là
gởi tâm sự theo lối "thác lời", "làm lời" người khác, nói hộ người khác và ngay khi nói
chuyện mình, nhiều lúc ông cũng đưa ra cái "tôi" nửa mình, nửa người khác, thiêu dệt "tôi" trong một câu chuyện khác xa tiểu sử của bản thăn Ông rất tài nhập vai và nói rất đúng giọng của họ" (49, 32 và 33)
Có thể nói thơ Nguyễn Bính giàu chất tưởng tượng, chính chất tượng tưởng phong phú này là cảm hứng sáng tác trong thơ ông
Thơ là tình Tình ấy bén rễ rất sâu trong cuộc sống rồi dội vào trái tim nhà thơ thành những vần thơ ứ đầy chất liệu cuộc sống và nỗi niềm của người sáng tạo Trong thơ Nguyễn Bính, cái tôi trữ tình của nhà thơ không chỉ chứa đựng tình cảm, nỗi niềm tâm trạng của nhà thơ mà còn là khúc giao cảm của nhà thơ đối với cuộc đời Trong các công trình nghiên cứu
gần đây như: Phân tích bài thơ "Tết của mẹ tôi" của giáo sư Hoàng Như Mai, "Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê" - Hà Minh Đức, phân tích bài "Tương tư" của Hà Bình Trị, phân tích "Lỡ bước sang ngang" của Hoàng Như Mai Các tác giả cũng đã ít nhiều đề cập đến
các đặc điểm của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính: Thiết tha gắn bó với cuộc đời, với con người và với quê hương ở cả nội dung thơ và nghệ thuật sáng tạo Đồng cảm với thi
nhân, Hà Bình Trị trong "Bài thơ tương tư" của Nguyễn Bính đã đi sâu vào phân tích cảm
xúc của thơ trữ tình và nhu cầu giải bày của nó Tác giả xem "cái tôi" của Nguyễn Bính là
"cái tôi tha thiết có nhu cầu phơi trải" và cái tôi ấy "phản ánh mảng tâm hồn của tầng lớp thanh niên tiểu tư sản những năm 30 của thế kỷ này" (20,76)
Vấn đề "cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính" đã được các nhà phê bình nghiên cứu
khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau với các đặc điểm khác nhau Chúng ta có thể rút ra một số điểm chung trong những nhận xét về cái tôi như sau:
- Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính vừa mang tính truyền thống vừa mang tính hiện đại Đó cũng là cái tôi vừa gắn liền với hoàn cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 -
1945, vừa như là một "thực thể độc lập" vượt qua bên ngoài hoàn cảnh ấy để trở về với cội nguồn "chân quê"
Trang 13- Cái tôi của nhà thơ một mặt đưa chúng ta đến với phần "người" bên trong của nhà thơ, mặt khác lại giúp chúng ta hiểu thêm về tình đời, tình người và cuộc đời qua khúc giao cảm của nhà thơ đối với cuộc sống
Bên cạnh đó, như chúng ta đã nói, việc nghiên cứu về cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính vẫn chưa có một công trình riêng hoàn chỉnh Các đặc điểm của cái tôi chỉ được nêu rải rác trong các bài nghiên cứu về một vấn đề khác thuộc phần nội dung hay nghệ thuật của thơ ông Hơn nữa, trong vấn đề cái tôi trữ tình, các nhận xét đánh giá chỉ dừng lại ở chỗ phát hiện, nêu vấn đề một cách khái quát chứ chưa phân tích sâu
Tuy nhiên, những nhận xét, đánh giá trên chính là cơ sở quý báu để người viết đi sâu hơn trong việc nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính, xem cái tôi là hạt nhân, nhân cách của hình tượng thơ và là cơ sở để chủ thể trữ tình bộc lộ ý thức chủ quan của mình trong mối quan hệ giữa nhà thơ và cuộc sống
- Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính là cái tôi trữ tình nhập vai Ông đã hóa thân vào tâm trạng của những chàng trai những cô thôn nữ dịu dàng e ấp và tất cả những người thôn quê bình dị mộc mạc để nói lên nỗi lòng của họ Cái tôi trữ tình trong thơ ông chính là cái tôi hoài niệm, cái tôi tự ý thức về mình, cái lôi yêu thương - chia xẻ và cái tôi với những yêu thương và lỡ làng trong tình yêu
- Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính được chuyển tải qua các phương diện nghệ thuật - phương tiện lý giải và khám phá cuộc sống - mang tính cảm tính và mang tính quan niệm của Nguyễn Bính như thể thơ, ngôn từ, hình ảnh đến nghệ thuật biểu hiện và quan niệm nghệ thuật về con người, giọng điệu nghệ thuật, thời gian và không gian nghệ thuật
Trang 14- Để giải quyết vấn đề, chúng tôi xem cái tôi là hạt nhân, nhân cách của hình tướng thơ
4/ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
So với các nhà thơ cùng thời, ưước Cách mạng tháng Tám Nguyễn Bính là nhà thơ có nhiều thi phẩm được in nhất (7 tập thơ, 1 truyện thơ, 1 kịch thơ và một số bài thơ lẻ chưa xuất bản) Sau Cách mạng Tháng tám Nguyễn Bính vẫn tiếp lục làm thơ và cho ra đời nhiều tập thơ khác kể cả truyện thơ Tuy nhiên khi tiến hành đề tài này, chúng tôi chỉ chú trọng tìm hiểu, khảo sát "cái tôi trữ tình" của thơ ông trong các tập thơ sau:
"Nguyễn Bính và tôi" xuất bản năm 1995 và quyển "Nguyễn Bính một vì sao sáng" xuất bản
1999
Đây là nguồn tài liệu cơ bản để chúng tôi tìm hiểu vấn đề cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
5/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính, luận văn
sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu dưới đây:
Trang 15- Phương pháp phân tích - tổng hợp:
Để tìm ra những đặc điểm của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính, người viết đi vào phân tích lý giải mối quan hệ giữa nhà thơ với cuộc sống, thời đại, đồng thời tìm hiểu nguyên nhân của sự hình thành và thể hiện của những đặc điểm ấy nhằm khám phá sâu sắc hơn hồn thơ của ông trên bình diện của cái tôi Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp người viết cũng tìm hiểu về thơ Nguyễn Bính trên cơ sở xem xét các quan điểm của những nhà nghiên cứu, phê bình đánh giá về thơ ông để sau dó tổng hợp, rút ra được những đặc điểm chung mang tính đặc trưng nhất của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính, đồng thời sử dụng hệ thống lý luận về cái tôi trữ tình của thi pháp như một hệ qui chiếu, để phân tích lý giải tìm ra những đặc điểm riêng của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
- Phương pháp so sánh:
Mục đích của phương pháp so sánh là nhằm chỉ ra những đặc điểm tương đồng và dị biệt của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính so với cái tôi trữ tình trong thơ của các nhà thơ mới đương thời Phương pháp này giúp cho người viết có cơ sở để lý giải sâu hơn và rõ ràng hơn sự thể hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính Trên cơ sở đó xác định đúng giá trị chung và riêng của thơ ông trên thi đàn thơ mới nói riêng và văn đàn Việt Nam nói chung Thao tác này được tiến hành như sau: Đặt thơ Nguyễn Bính trorng mối quan hệ với các nhà Thơ Mới cùng thời Sử dụng phương pháp phân tích, lý giải cùng với phương pháp so sánh
để rút ra được đặc điểm chung và riêng trong sự thể hiện của cái tôi trữ tình, đồng thời qua đó
so sánh thơ Nguyễn Bính với các nhà thơ có cùng đề tài phản ánh như: Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Bàng Bá Lân nhằm làm nổi bật bản sắc riêng của thơ Nguyễn Bính và cái tôi trữ tình trong thơ ông
Ngoài ra, để làm nổi bật đặc điểm và sự thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính, người viết còn sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp hệ thống, phương pháp loại hình đan xen vào để hỗ trợ cho việc phân tích và tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
6/ CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Luận án gồm có ba phần: Phần dẫn luận, nội dung và kết luận
Trang 16Dẫn luận:
1/ Lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu
2/ Lịch sử vấn đề
3/ Đóng góp của luận án
4/ Giới hạn phạm vi nghiên cứu
5/ Phương pháp nghiên cứu
6/ Cấu trúc luận án
Nội dung:
Chương I: Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
1/ Cái tôi hoài niệm
1.1/ Ý thức sâu sắc về sự đổi thay của nông thôn trước vấn đề đô thị hóa
1.2/ Những hoài niệm về quê hương và khát vọng giữ gìn bản sắc chân quê
2/ Cái tôi tự ý thức về về thân phận của kẻ tha hương
3/ Cái tôi yêu thương chia xẻ
3.1/ Đối với người thân
3.2/ Đối với cộng dồng
4/ Cái tôi yêu thường và lỡ làng trong tình yêu
Chương II: Phương thức biểu hiện cái tôi trữ tình
1/ Quan niệm nghệ thuật về con người
2/ Không gian và thời gian nghệ thuật
2.1/ Không gian nghệ thuật
2.2/Thời gian nghệ thuật
3/ Giọng điệu nghệ thuật
4/Thể thơ và các phương tiện nghệ thuật
4.1/Thể thơ
4.2/ Ngôn ngữ
Trang 174.3/ Hình ảnh
Kết luận
Thƣ mục tham khảo
Trang 18NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH
I- Cái tôi hoài niệm
1.1/ Ý thức sâu sắc về sự đổi thay của nông thôn trước vấn đề đô thị hóa:
Vào những năm đầu của thế kỷ 20, sau khi củng cố xong bộ máy chính quyền đô hộ, thực dân Pháp bắt đầu chính sách khai thác thuộc địa Đi đôi với việc thay đổi bộ mặt kinh tế
là việc làm thay đổi các giá trị vãn hóa của xã hội nước ta Cuộc sống đô thị hình thành, phát triển cùng với sự du nhập của luồng văn hóa Âu Tây từ sách vở, báo chí đến lối sống Tác động đến các giá trị tinh thần của cộng đồng người Việt, bào mòn bản sắc văn hóa truyền thống vốn như một giá trị bất biến mà từ bao đời nay con người nâng niu gìn giữ Sự đổi thay
ấy một mặt ảnh hưởng lớn đến sự đổi mới về nội dung và nghệ thuật của văn thư, mặt khác
nó là nguyên nhân những luồng tư duy nghệ thuật với những nỗi day dứt, trăn trở của nhà văn, nhà thơ
Sự xâm lấn của cuộc sống đô thị vào nông thôn cùng lúc tác động đến nhiều phương diện cuộc sống của con người Việt Nam quanh năm sống sau lũy tre xanh Sự du nhập của cuộc sống mới khác hẳn cuộc sống cũ vừa gợi sự thích thú nhưng lại vừa làm cho con người
ta cảm thấy xa lạ, âu lo Ra đời từ những năm đầu thế kỷ thứ XX, Thơ Mới với sự đa dạng về
phong cách "Một tâm hồn rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như
Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo nảo như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên" [Hoài Thanh (42,34)] là kết quả của những tác động từ cơ sở
văn hóa, kinh tế, chính trị của xã hội lúc bấy giờ Xu hướng chung của các nhà thơ lãng mạn thời kỳ này là né tránh cuộc sống xã hội ngột ngạt bằng cách đi sâu vào thế giới của tâm hồn con người, khám phá những góc cạnh của tình yêu, của nỗi buồn, sự cô đơn và không ít nhà thơ quay trở về quá khứ mơ lại giấc mơ xưa như tìm kiếm một khoáng không gian êm đềm Nguyễn Bính cũng là một trong những nhà thơ như vậy
Trang 19Nhưng khác hẳn với sự trở về của Anh Thơ, Bàng Bá Lân hay Đoàn Văn Cừ trong những bức tranh nông thôn thuần khiết hương vị quê mà nhà thơ như một người du ngoạn cảnh quê:
Tháng cắp bên hông nón đội đầu Khuyên vàng yếm thắm áo the nâu Trông u chẳng khác thời con gái Mắt sáng, môi hồng má đỏ au
Chiều mát đường xa nhạt nắng vàng Đoàn người về ấp gánh khoai lang, Trời xanh cò trắng bay từng lớp
Xóm chợ lều phơi xác lá bàng
(Đường về quê mẹ - Đoàn Văn Cừ)
Sự trở về của Nguyễn Bính là sự trở về của một đứa lúc nào con gắn bó với quê hương cho nên nó chất chứa khôn nguôi những day dứt, trăn trở, những nhận thức sâu sắc về cuộc sống và những dự cảm xã hội mang tính thời sự Với nhà thơ, hơi thơ cuộc sống ở nông thôn trong từng cảnh vật của làng quê từ bến nước, giàn trầu, hàng cau, giậu mồng tơi, khung cửi đã khắc sâu vào máu thịt của ông Ông hiểu rất rõ những phong tục tập quán, nền nếp thế giới tâm linh qua cách ăn mặc, cách cư xử và qua sự tín ngưỡng tôn giáo của người dân Một đêm hát chèo, một buổi lễ chùa, một ngày hội xuân, lời hò hẹn của đôi trai cái yêu nhau, tình cảm con người sâu nặng trong thơ Nguyễn Bính bao giờ cũng mang hồn sắc dân tộc
Nó chính là những bộ phận nhỏ của văn hóa làng quê từ bao đời đã trở thành cố hữu trong tâm thức người dân Chính vì vậy một sự đổi thay của cuộc sống dù rất nhỏ trong thư ông đều mang nội niềm khắc khoải âu lo của nhà thơ về sự đổi thay của ban sắc dân tộc Đỗ Lai Thúy trong bài viết "Đường về chân quê của Nguyễn Bính có nhận xét rõ về chất hoài niệm trong
thơ Nguyễn Bính: "Trong số các nhà thơ cùng thời viết về nông thôn như Bàng Bá Lân, Anh
Thơ, Đoàn Văn Cừ có là chỉ có Nguyễn Bính là nhận thức sâu sắc được sự thay đổi của thôn quê trước cuộc xâm lăng của đô thị Nếu thơ của các thi sĩ trên chỉ là những “bức tranh quê" những bài "Thôn ca" những họa phẩm phong tục tục và lịch sử
Trang 20quý giá thì thơ Nguyễn Bính là nhớ thương, lo âu và khắc khoải về sự phôi pha của quê hương" [Đỗ Lai Thúy (42, 111)]
Trong tâm trạng của một người "thị dân hiện đại" có nguồn gốc nho gia, sự trăn trở của Nguyễn Bính xuất phút từ sự ý thức sâu sắc về sự xói mòn của các giá trị văn hóa truyền thống của làng quê Việt Nam trước những ảnh hưởng của luồng văn hóa du nhập từ Âu tây sang Trong tâm trạng của một chàng trai làng chờ đợi người yêu đi tỉnh về nhà thơ xót xa:
Hôm qua, em đi tỉnh về, Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng,
Áo cài khuy bấm! Em làm khổ tôi!
(Chân quê) Trong cái tứ của ca dao, hồn thơ của Nguyễn Bính trở về với cội nguồn của dân tộc đã hàng ngàn năm ấp ủ ở làng quê Hình ảnh của con người và cảnh vật làng quê trong thơ ông luôn luôn được định hình trở thành những chuẩn mực về đạo đức, về thẩm mỹ Đó cũng là nét thẩm mỹ đượm màu sắc dân tộc Do vậy, cái cảm hứng "chân quê "được khơi nguồn từ đời sống của quê hương,của dân tộc với những tình cảm bình dị gần gũi mà quý báu của ông xuất phát lừ ý thức muốn chống lại tình trạng tha hóa, xu hướng học đòi làm mất đi bản sắc văn hóa tốt đẹp của quê hương Nhà thơ hụt hẫng tìm kiếm:
Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
(Chân quê) Làng quê Việt Nam từ bao đời nay gắn liền một cách thân thiết với những sự vật mà con người sử dụng hàng ngày Hình ảnh "yếm lụa sồi" "Dây lưng đũi", "Áo tứ thân", "Khăn
mỏ quạ" từ lâu đã trở thành những thứ y phục truyền thống của người Việt Nó góp phần làm tăng thêm nữ tính cho người phụ nữ Đặc biệt hình ảnh cái yếm còn là biểu tượng tình yêu trong ca dao:
Trang 21Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu giải yếm mời nàng sang chơi
và ước nguyện của tâm hồn ông Những êm đềm và ngọt ngào của cuộc sống bình dị sau lũy tre làng khác biệt hầu như hoàn toàn với những cay đắng mà nhà thơ đã nếm trải trong những ngày lăn lộn kiếm sống ở thành thị đã biến nhà thơ thành người của quê hương - một quê hương thiết tha và đằm thắm nghĩa tình - thế mà những năm đầu của thế kỷ XX này, tất cả đang bị xói mòn đi và đang có nguy cơ biến mất Lời tâm sự của anh trai làng vì thế là sự thấm thìa sâu sắc những đổi thay đang đi đến chỗ mất mát của hồn xưa đất nước
Trong thơ Nguyễn Bính sự tàn phai của "Hồn xưa đất nước" cứ trăn đi trở lại như một
ám ảnh với tất cả sự day dứt và trăn trở Sài Gòn đang biến mình thành đô thị hiện đại chớm bắt mình vào nền văn minh công nghiệp Văn hóa Âu tây đã có những ảnh hưởng mạnh đến đời sống văn hóa của người việt Trong xã hội Việt, do sự qui định của cơ chế kinh tế nông nghiệp, các thành viên của làng không chỉ quan hệ gắn bó với nhau bằng quan hệ máu thịt mà còn gắn bó với nhau bằng quan hệ sản xuất, con người cùng lao động với nhau trên mảnh vườn, đồng ruộng, rồi hẹn hò gặp gỡ ở những buổi hội chèo sự thay đổi theo cơ cấu đô thị của cả một nền kinh tế văn hóa đã phá vỡ mối quan hệ gắn bó của cộng đồng
Trang 22đưa người ta ra khỏi tổ ấm gia đình Trong cái nhìn đầy nỗi âu lo của một thành viên trong cộng đồng, nhà thơ cảm nhận:
Những cuộc chia lìa khởi tự đây Cây đàn sum họp đứt từng dây Những đời phiêu bạt thân đơn chiếc Lần lượt theo nhau suốt tối ngày
(Những bóng người trên sân ga)
Cùng với việc chứng kiến cảnh chia ly là dự cảm về những "cái tôi cô đơn" mà trong
đó bản thân nhà thơ cũng không thể thoát ra khỏi hoàn cảnh ấy
Thời gian sống ở thôn quê của ông có lẽ không nhiều nhưng gắn bó và có nhiều kỷ niệm êm đềm Ông am hiểu tường tận cuộc sống, cách cảm, cách nghĩ của nông thôn Trong thơ ông có những hình ảnh thường thấy được xem là biểu tượng văn hóa làng, thể hiện tính cộng đồng của nông thôn như: Cây đa, bến nước, con đò, hội hè, đình đám, mái chùa Nói đến làng người ta nghĩ đốn mái đình: Trung tâm hành chính, trung tâm văn hóa và trung tâm
về mặt tình cảm với những đêm hội chèo thân thương: "Qua đình ngả nón trông đình - Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu", "Đêm qua tát nước đầu đình, bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen", cây đa: nơi hò hẹn Cũng với ý nghĩa ấy nhưng những biểu tượng của làng còn mang cả tâm trạng khắc khoải không yên của một tâm tư hoài niệm:
Ánh chiều vàng ánh chiều rơi Chiều xưa rêu phủ tự muôn đời
(Chiều quê) Chùa chiền, mái đình là nơi tổ chức hội hè đình đám, nhưng khi những chỗ ấy bị người ta quên lãng thì những đám hát, những hội hè cũng dần dần trở về với dĩ vãng:
Đến ngay trai trẻ quanh làng Thượng Đình đám thâu đêm họ chẳng màng
Họ kháo nhau rằng trò dở lắm;
Phường Mơ năm ấy thế rồi tan
Trang 23(Phường mơ)
Đi vào phân tích thế giới trữ tình của nhà thơ chúng ta có thể nhận thấy rằng thật ra thì thi nhân không phải là một anh nhà quê cố hữu với tất cả những gì mình có, bản thân người cũng đã nhiều lần đi tỉnh, cũng "dan díu nợ kinh thành" Bằng trực giác và bằng cảm giác, thi nhân cảm nhận được rằng đô thị càng phát triển thì bản sắc văn hóa truyền thống càng phôi pha, tính hài hòa vốn có trong quan hệ xã hội bị phá vỡ, con người cảm thấy chênh vênh, mất đi thế cân bằng Trong tâm trạng ấy của con người, cuộc sống thuần khiết êm ả sau lũy tre làng cũng trở thành bất an:
Năm sau vườn cải hoa vàng hết Bướm lại sang mà em chẳng sang
Thui thủi một mình anh bắt bướm Trông chèo thưa thớt động làng Ngang
(Hết bướm vàng) Con người Việt Nam đời đời kiếp kiếp gắn bó với mảnh vườn, đồng ruộng để mà sinh sống, chuyện cái tình cái nghĩa cũng sinh ra từ đây Đứng ở mảnh vườn hiện tại làm một cuộc trở về bằng giấc mơ có hình ảnh của cánh bướm, một kỷ niệm đẹp hiện về cùng lúc con người ý thức được thế lẻ loi của mình ở hiện tại, bồn chồn nghe tiếng trống chèo đang vọng một cách thưa thớt Điều này cũng có nghĩa là trong nhận thức của thi nhân, cuộc sống không
đi theo chiều hướng sinh sôi nảy nở mà đang trên đường trượt trở về với cái xơ xác, hoang tàn:
Một thửa vườn hoang bên cạnh am, Xương rồng, bãi cỏ lấn rau sam;
Vườn này ngày nhỏ, anh còn nhớ
Đã nhẩy qua tường trẩy trộm cam
(Vườn xưa) Con người nhà quê trong thơ Nguyễn Bính luôn có những cuộc trở về với những hình ảnh đẹp của cuộc sống trong quá khứ: Một con đường làng rụng trắng hoa xoan, thoảng mùi hoa cam, hoa bưởi, một con người đang náo nức chờ đợi buổi hội chèo Trong hành trình trở
Trang 24thơ tạo ra cái thế đối lập không thể dung hợp được giữa cuộc sống hiện đại và quá khứ "Hoa với rượu" là một bài thơ hồi cố về một kỷ niệm rất đẹp của nhà thơ là dẫn chứng tiêu biểu của
âm hưởng vỗ về của tâm hồn thơ giữa đôi bờ quá khứ và hiện tại ấy:
Chao ôi là mộng hay là thực
Là thực hay là mộng bấy lâu Hai đứa sống bằng hoa với rượu Sống vào giời đất, sống cho nhau Nhưng mộng mà thôi mộng mất rồi Hoa tàn rượu ế ấy tình tôi
Chiều nay tôi chắp đôi tay lại:
Đừng gặp người xưa nữa lạy giời
(Hoa với rượu) Quá khứ là quê hương, nơi nuôi dưỡng hồn thơ của nhà thơ và nơi mà nhà thơ có thể hòa hợp được những phẩm chất trong sáng, chân thực của mình với cuộc đời nhân hậu còn thuần phác Quá khứ với những hình ảnh đẹp về con người và cảnh vật trong thơ Nguyễn Bính như một truyền thống vốn có, như cuộc đời hiện lại nhiều màu, nhiều vẻ và như những mong ước vốn không hề thay đổi trước những biến động của cuộc đời Có lẽ chính vì vậy mà khi gởi gắm tình yêu của mình về với quê hương để tìm lại những vẻ đẹp truyền thống, thanh khiết mà không dễ nhận ra ở một nơi nào khác nhất là ở chốn đô thị phồn hoa, nhà thư cảm nhận được những mất mát lớn lao của cuộc sống mà mảng đậm của nó là nỗi cô đơn, tâm trạng nuối tiếc của con người
Phong trào Âu hóa ở những năm 1930 - 1945 du nhập vào Việt Nam trên hai phương diện: Phương diện nổi và phương diện chìm Người ta có thể dễ dàng nhận ra bề nổi của nó ở một lối sống, một cách ăn mặc, một cuộc thi sắc đẹp, một cuốn tiểu thuyết tình, một buổi chợ phiên Nhưng trong cơn lốc mở đường vào thế kỷ này của người Việt lúc bấy giờ còn có một trào lưu khác lặng lẽ nhưng rất quan trọng và không dễ dàng gì nhân ra nó: Đó là trào lưu
ý thức Chính cái âu hóa trầm sâu này mà không phải là cái âu hóa bèo bọt nói trên mới là đối đầu đích thực của nền văn hóa dân tộc Không thận trọng con người sẽ đứng trước nguy cơ
Trang 25còn đấy nhưng lại mất tất cả Thơ Nguyễn Bính vì thế trở thành những dự báo đầy trách nhiệm của một nhà thơ về số phận của những giá trị văn hóa, tinh thần trong sự phát triển của
xã hội theo xu hướng mở cửa và thực tế, trong thời đại ngày nay vấn đề này cũng được đặt ra như một thử thách đối với xã hội Và khi xã hội thay đổi, con người có xu hướng "cố lùi xa nếp cũ để đi đến chỗ mà người ta gọi là văn minh" (Hoài Thanh), thì những gì mà nhà thơ gởi gắm trong thơ mãi mãi sẽ làm lay động tâm hồn, nó như lời nhắn gởi con người, trong khi đi đến cuộc sống văn minh, hãy xây dựng nó trên nền tảng của một nền văn hóa mang đậm cốt cách và bản sắc dân tộc của con người Việt Nam, hội nhập chớ không bị hòa tan trong những nền văn hóa khác
Chế Lan Viên đã từng có một ý tưởng rất lạ:
Ai đâu trở lại mùa thu trước Nhặt lấy cho tôi những lá vàng Với những hoa tươi muôn cánh rã
Về đây đem chắn nẻo thu sang
( Xuân - Chế Lan Viên)
Sợ thời gian trôi đi nhà thơ muôn quay trở lại với mùa thu của quá khứ sống ở đó với những vui buồn Nhưng Nguyễn Bính có lẽ là nhà thơ duy nhất đứng trên chính mảnh đất quê hương của mình ở hiện tại mà phải hướng tâm hồn mình về quá khứ để tìm lại quê hương với một tâm trạng hụt hẫng xót xa trước tất cả những gì đã mất và đang mất Sống với hiện tại nhưng trong lòng lại trĩu nặng ân tình với một làng quê thuần khiết Việt Nam, có cây đa, bến nước, con đò và những con đường thơm hương bưởi, hương cau Có lúc phải thốt ra với nỗi lòng tê tái:
Ngự Viên ngày trước không còn nữa Giờ chỉ còn tên xóm Ngự Viên
(Xóm Ngự Viên) Đọc thơ Nguyễn Bính, chúng ta luôn bắt gặp đâu đó tâm trạng bất an chênh vênh của cái tôi trữ tình Điều này cũng dễ hiểu, khi mà trong xã hội một tư tưởng khác xuất hiện và xâm nhập vào cuộc sống của nhiều người, thì cơ chế xã hội cùng với tất cả các mối quan hệ
Trang 26cái bất lợi Hệ thống đạo lý truyền thống của cộng đồng cũng theo đó mà thay đổi:
Mụ vợ Bắc Nam người tứ xứ Anh chồng tay trắng lẫn tay đen Đổi thay tình nghĩa như cơm bữa Khúc "Hậu đình hoa" hát tự nhiên Nhọc nhằn tiếng cú trong canh vắng Nhao nhác đàn dơi lúc đỏ đèn
(Xóm Ngự Viên) Coi trọng tình nghĩa, giữ gìn tôn ti trật tự kỷ cương là truyền thống đạo lý ngàn đời của con người Việt Nam cổ truyền Tinh thần ấy thấm nhuần trong ca dao: "Lá lành đùm lá rách", "Chị ngã em nâng", "Môi hở răng lạnh" Những cuộc đấu tranh gay gắt với thiên nhiên để sinh tồn và phát triển, những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm của cha ông xưa với những hy sinh mất mát để giữ vững độc lập và chủ quyền của dân tộc được lấy từ sức mạnh đoàn kết, tinh thần yêu thương, gắn bó của cộng đồng Đó vừa là ý thức dân tộc, vừa là tình cảm dân tộc, là phần tinh hoa nhất trong những tư tưởng, tình cảm cao đẹp của dân tộc
ta Vậy mà giờ đây mọi thứ đều bị đảo lộn Người ta có thể đổi trắng thay đen Nơi thiêng liêng không được tôn trọng và khi chuyện tình nghĩa có thể dễ dàng đổi thay như cơm bữa thì
sự tha hóa của con người dường như trở thành một quy luật tất yếu Nhận ra cuộc sống đang đổi thay đã thấy xót xa, nhận ra chính mình đang đổi thay lại càng thấy xót xa hơn:
Ở mãi kinh thành với bút nghiên Đêm đêm quán trọ thức thi đèn Xót xa một buổi soi gương cũ Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền
(Sao chẳng về đây) Con người suy tư nhận ra chính mình đang thay đổi sau khi rơi vào vòng xoáy của cuộc đời Sự hài hòa cổ điển bị phá vỡ, cá nhân trở nên lẻ loi nhỏ bé Con người cảm thấy cô độc khi thiếu không khí ấm áp của tình người Cái tôi nỗi lòng, cái tôi lo âu của nhà thơ đang thấm trong
Trang 27từng con chữ Ý thức về việc con người đang tự đánh mất mình là tâm trạng của người thị dân hiện đại khi đang tự tách mình ra và quan sát mình trên bình diện tập thể
Thơ Nguyễn Bính mang tiếng nói trăn trở của ông về những đổi thay của cuộc sống hiện tại, những đổi thay đã bào mòn đi bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Vì thế cảnh quê và tình quê trong thơ ông luôn gắn liền với cách tư duy, lối suy nghĩ phù hợp với tâm hồn, tính cách người Việt Đặt cảnh quê và tình quê ấy trong một thế giới nghệ thuật thơ vừa truyền thống vừa hiện đại và trong các thế có sự cọ xát giữa cái đang đổi thay " khăn nhung, quần lĩnh", "áo cài, khuy bấm", " lệch mặt chữ điền", "Ngự Viên ngày trước không còn nữa" và cái không thay đổi: một cây đa, bến nước, con đò, vườn dâu, vườn chè, những con người đôn hậu dù ở đâu, hoàn cảnh nào cũng chung thủy, nồng tình thắm nghĩa, nhân ái Nguyễn Bính đã nêu bật được mối quan hệ giữa khả năng tha hóa con người và sự đổi thay của các hiện tượng cuộc sống như một kết quả tất yếu Nguyễn Bính cảm nhận tất cả những đổi thay đang diễn ra một cách âm thầm lặng lẽ ấy bằng sự nhận thức sâu sắc về mối nguy hiểm của nó với hệ thống giá trị văn hóa làng quê và bằng nỗi lòng âu lo khắc khoải của thi nhân
Trong tâm trạng của một cái tôi lo âu, khắc khoải và trong sự lưỡng phân của tâm hồn giữa đôi bờ hiện tại và quá khứ, nông thôn và thành thị, thơ Nguyễn Bính đã bộc lộ những nhận thức sâu sắc trong tâm hồn không chỉ của một cá nhân mà còn của cả một dân tộc Những vần thơ trữ tình đằm thắm, đầy tâm trạng của nhà thơ đã trở thành một bức thông điệp gửi gắm những dự báo những vấn đề mang tính chất thời sự Vấn đề bảo tồn những giá trị văn hóa tinh thần thể hiện bản sắc dân tộc trong quá trình phát triển của xã hội không chỉ ở thời điểm những năm đầu của thế kỷ thứ XX này, mà cho đến nay, nó vẫn còn là vấn đề đang được xã hội đặc biệt quan tâm chú ý Phát triển cuộc sống là một nhu cầu cần thiết nhưng phát triển ấy chỉ bền vững khi và chỉ khi chúng ta xây dựng trên nền tảng của văn hóa truyền thống và những tinh hoa cổ truyền của dân tộc có nghĩa là trên một phương diện nào đó của bình diện văn hóa, chúng ta vẫn là:
Hoa chanh nở giữa vườn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê
Trang 28(Chân quê)
1.2/ Những hoài niệm về quê hương và khát vọng giữ gìn bản sắc chân quê
Thơ Nguyễn Bính nhẹ nhàng, man mác nhưng trong từng chữ, từng dòng thơ, người
ta cảm nhận được nỗi lòng đang trĩu nặng suy tư của nhà thơ Âu lo trước cuộc sống hiện lại nhà thơ tìm về quá khứ đốt cháy lòng mình trong nỗi khát khao tìm lại cuộc sống xưa thuần khiết êm đềm Trong Thi nhân Việt Nam - Hoài Thanh đã nói về thơ Nguyễn Bính: "Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất nhà quê nhiều lắm Và trong thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê ẩn náu trong lòng ta" [Hoài Thanh (42, 343)] Sự phân thân của cái tôi trữ tình
để làm con sóng vỗ giữa đôi bờ hiện tại và quá khứ là cảm hứng chủ đạo trong suốt cuộc đời thơ của Nguyễn Bính Những năm tháng gắn bó với cuộc sống nông thôn và những cuộc phiêu lưu nơi chốn thị thành giúp nhà thơ hiểu rõ hơn giá trị của cuộc sống và thân phận của con người Tâm hồn thơ Nguyễn Bính đã được gọt giũa từ những nếm trải thấm thía Cuộc sống là đề tài vô tận và nhà thơ đã cần mẫn chắt lọc những hương vị của cuộc đời để tạo thành những giọt mật mang hương vị riêng của mình Có thể nói, trong thơ Nguyễn Bính hình ảnh nhân vật trữ tình chán nản với hiện tại và trở về quá khứ có một tần số xuất hiện rất nhiều:
Đương đêm trời đổ mưa rào, Nằm đây mơ dáng lầu cao kinh thành
Mây hồ trắng nước hồ xanh, Ngày xưa hai đứa chúng mình có nhau
(Thương nhớ kinh thành) Khi hiện tại không thỏa lòng thì quá khứ sống lại bao giờ cũng đẹp hơn Hướng tâm hồn trở về quá khứ, Nguyễn Bính đã đưa con người trở về với cảm giác mênh mông, êm dịu
Nó góp phần làm giảm đi cái không khí ngột ngạt, oi bức của cuộc sống hiện tại Cuộc sống của con người với tình yêu và những kỷ niệm trong thơ Nguyễn Bính gắn liền với cảnh vật làng quê: Một mái đình cong cong cổ kính, một cây đa, bên nước, con đò quê
Năm xưa chở chiếc thuyền này
Trang 29Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều
(Giấc mơ anh lái đò) Niềm hoài niệm của thi nhân nằm trong cấu trúc cảm hứng: Cắm con trên bến vắng ở dòng sông hiện lại người lái đò mơ lại giấc mơ xưa rồi thả mình trong giấc mơ ấy:
Tưng bừng vua mở khoa thi Tôi đỗ quan Trạng vinh quy về làng
"Võng anh đi trước võng nàng
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò"
(Giấc mơ anh lái đò) Nhưng ước mơ vẫn chỉ là mơ ước, hiện tại là cái mà con người không thể chối bỏ Người lái đò đành phải bán con thuyền bản mệnh của mình đi:
Lang thang tôi dạm bán thuyền
Có người trả chín quan tiền lại thôi
(Giấc mơ anh lái dò) Trong khi Thế Lữ mơ màng chốn bồng lai tiên cảnh có cung tần mỹ nữ múa lượn trong tiếng đàn, tiếng sáo, có suối trong giếng ngọc:
Tiên nga xõa tóc bên nguồn Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu Mây hồng ngừng lại sau đèo Mình cây nắng nhuộm bóng chiều không đi
(Tiếng sáo thiên thai - Thế Lữ)
Và Xuân Diệu ngập chìm trong tình yêu cuồng nhiệt, khát vọng tình yêu cũng là khát vọng sống của thi nhân:
Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi Trong vườn thơm ngát của hồn tôi
(Nguyên đán-Xuân Diệu)
Trang 30Chế Lan Viên dẫn dắt người đọc vào thế giới ma quái "đầy sọ người, xương máu cùng yêu ma" đồng thời với một nỗi lòng xót xa về quá khứ huy hoàng của một đất nước bây giờ chỉ còn lại: "những tháp gầy mòn", "những đền đổ nát", "những tượng chàm lở lói rỉ rên than" Còn Nguyễn Bính trong phong cách ca dao ở cả tư duy lẫn cảm xúc, ở cả ý, tình điệu, nhà thơ đã làm những cuộc hành trình trở về quá khứ với "những ước mơ quan trạng, những tâm tình bao chùm, lặng lẽ của người mẹ, người chị, người vợ, cô lái đò, cô hái dâu " {Đỗ Lai Thúy(20, 48)}
Với cái tôi trữ tình luôn láng sâu, đậm đà, tha thiết với quê hương, trong thơ ông, chúng ta có thể đễ dàng tìm thây rất nhiều từ ngữ chỉ thời gian xuất hiện với tần số cao như: Vườn xưa, ngày xưa, thời trước, bữa ấy
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước Trên bến cùng ai đã hẹn thề
(Cô lái dò) hay:
Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay Hoa xoan đã nát dưới chân giày
(Mưa xuân) Không khí thuở xưa dịu dàng bàng bạc trong thơ ông chính là những ước mơ và nỗi đau khắc khoải của nhà thơ trước cuộc đời dâu bể Xuất thân trong gia đình có truyền thống nho giáo, lớn lên trong mùi thơm nồng nàn của hương bưởi, hương cau, chất thơ ngọt ngào trong thơ ông là kết quả của một tài năng thi sĩ bẩm sinh và là kết quả của sự tiếp thu trọn vẹn của nền văn minh thôn dã Hầu hết những bài thơ viết về quá khứ qua sự hồi cố của nhà thơ như: Giấc mơ anh lái đò, xóm cũ, quan trạng vườn xưa, lạy giời cấm cửa rừng mai, thời trước là những bài thơ viết về những kỷ niệm rất đẹp Quá khứ càng đẹp, chất hoài niệm trong thơ càng đậm, khát khao gìn giữ cái đẹp càng cháy bỏng Nơi thành thị xa hoa không phải là nơi nhà thư có thể tìm thấy sự đồng cảm cảm, chia xẻ, tâm hồn thi nhân hướng về làng quê nơi có mảnh vườn, căn nhà nhỏ:
Sáng trăng chia nửa vườn chè Một gian nhà nhỏ đi về có nhau
Trang 31Vì tằm tôi phải chạy dâu,
Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay, Chồng tôi thi đỗ khoa này,
Bõ công kinh sử từ ngày lấy tôi
Tưng bừng vua mở khoa thi Tôi đỗ quan Trạng vinh quy về làng
(Giấc mơ anh lái đò) Vào cái thời văn minh phương Tây thâm nhập mạnh vào nước ta, bút sắt thay bút lông, các khoa thi chữ hán đã bị hủy bỏ, chuyện khoa bảng không còn thì giấc mơ trở thành quan trạng không phải là biểu hiện của một xu hướng hướng tới quyền lực hay danh vọng
Mơ lại giấc mơ xưa cái tôi trữ tình của nhà thơ ẩn chứa nỗi cảm thương nuối tiếc khôn nguôi đối với ánh sáng vàng son của một thời đã qua Niềm tiếc nuối quá khứ vàng son dĩ vãng đã
là nguồn cảm hứng của không ít thi nhân Bài thơ "Ông đồ" của Vũ Đình Liên là một dẫn chứng:
Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài Hoa tay thảo những nét
Trang 32…
Năm nay đào lại nở Không thấy ông đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ
(Ông đồ - Vũ Đình Liên) Những câu thơ chất chứa nỗi niềm, khác hẳn với cái nhìn vui tươi hồn nhiên của Nguyễn Nhược Pháp khi nhìn về quá khứ:
Hôm nay đi chùa Hương Hoa cỏ mờ hơi sương Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương
(Chùa hương - Nguyễn Nhược Pháp)
Và với Nguyễn Bính cảm xúc đó đâu chỉ là nỗi niềm thương cảm cho một thời đã tàn Giữa một hiện tại mà con người cảm thấy mình không thể hòa nhập, tâm trạng hướng về quá khứ sẽ góp phần củng cố mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng Con người còn có chỗ dựa, có hy vọng để mà sớm quên đi những ngày tháng chán nản không biết ngày mai cuộc đời rồi sẽ đi đâu, làm gì Quá khứ như một chỗ dừng chân của người khách bộ hành:
Thuở ấy làm sao thật thái bình Trai hiền bạn với gái đồng trinh Đời say men rượu thơm hoa rụng Tràn những thơ ngây ngập cảm tình
(Hoa với rượu) Quá khứ trong thơ Nguyễn Bính là một quê hương dịu dàng, là những con người hiền lành và những kỷ niệm êm đềm Nhìn cuộc đời một cách thấu thị qua hình ảnh đẹp của quá khứ chính là góc độ mà Nguyễn Bính quan sát hiện tại Điều này không có nghĩa là Nguyễn Bính viết về thực tại với cái nhìn chiêm nghiệm của người xưa, cũng không phải cái nhìn của anh nông dân cố thủ, nhà thơ nhận thức được qui
Trang 33luật thực tại của cuộc sống, vì thế thư ông là sự lưỡng phân của tâm hồn giữa đôi bờ cuộc sống hiện tại và quá khứ Cái tôi trữ tình của nhà thơ trong tâm trạng níu kéo, dùng dằng Quá khứ nằm trong một trạng thái viên mãn, hài hòa giữa con người với tự nhiên, con người với cuộc đời, còn hiện tại nằm trong cái thế vừa hút lại vừa đẩy Do đó cái tôi mang cảm giác cô đơn, lạc lõng Chính vì vậy mà giữa một xã hội đang chạy theo lối sống phương Tây, giấc
mơ anh lái đò muốn trở thành quan trạng của Nguyễn Bính vẫn không chút lỗi thời
Cùng với cảm hứng trở về với cuộc sống cuội nguồn, thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 đã nổi lên một số gương mặt tiêu biểu như: Thơ của Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ trên cuộc hành trình ấy, mỗi tác giả lại nhìn ngắm quá khứ ở những góc độ khác nhau với những cảm quan sáng tác khác nhau Đoàn Văn Cừ tái hiện lại quá khứ bằng những bức tranh nông thôn đầy đủ những đường nét, màu sắc và ngồn ngộn sức sống trong những quan sát và nhận xét tinh tế:
Anh hàng tranh kĩu kịt quẫy đôi bồ Tìm đến chỗ đông người ngồi dở bán Một thầy khóa gò lưng trên cánh phản Tay mài nghiên hý hoáy viết thơ xuân
Cụ đồ nho ngừng lại vuốt râu cằm Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ Nước thời gian gội tóc trắng phau phau Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu
Áo cụ lý bị người chen sấn kéo Khăn trên đầu đương chít cũng tung ra
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh già Quên cả chị bên đường đang đứng gọi
(Chợ tết - Đoàn Văn Cừ)
Trang 34Nhà thơ đi sâu vào việc tái hiện lại, lựa chọn đúng những chi tiết sinh động của một phiên chợ tết, tâm trạng của nhà thơ được ký thác trong những cái nhìn hóm hỉnh và những câu thơ có sức khái quát cao Chính vì vậy mà những cảnh sinh hoạt tưởng như rất bình thường qua sự miêu tả tài tình của thi nhân trở nên những hoạt động rộn ràng, lung linh óng ánh sắc màu, "Hồn xưa đất nước" cũng toát ra từ đó Hồn của cảnh và hồn của thi nhân như hòa quyện vào một để gây cảm giác bâng khuâng về một thời mà giờ đây chỉ còn là ký ức của
dĩ vãng
Cũng bằng sự cộng hưởng của các chi tiết, thơ của Anh Thơ đã đưa con người trở về với một miền quê tĩnh lặng, êm đềm, có đường đê, ruộng lúa, có cánh bướm rập rờn Đắm mình trong thơ của Anh Thơ chúng ta tưởng chừng như đang sống lại cái nhịp sống thong thả, yên bình dường như cố hữu của phương thức sản xuất nông nghiệp làng xã Nhà thơ thản nhiên gạt ra ngoài những ồn ào, chấn động để đi tìm cái tĩnh lặng trong sáng:
Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa
(Chiều xuân - Anh Thơ) Khác với thơ của Đoàn Văn Cừ và Anh Thơ, thơ của Bàng Bá Lân không nhiều cảnh Cái đặc sắc của Bàng Bá Lân là chớp lấy hồn quê của cảnh quê mà tưởng chừng nó chỉ bộc lộ trong giây lát:
Quán cũ nằm lười trong sóng nắng
Bà hàng thưa khách ngủ thiu thiu Nghe mồ hôi chảy đầm như tắm Đứng lặng trong mây một cánh diều
Trang 35Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo "Thôn Đoài hát tối nay"
(Mưa xuân) Quê hương qua sự hoài niệm của Nguyễn Bính không cụ thể như Anh Thơ, tỉ mỉ như Đoàn Văn Cừ mà biểu hiện người ở thế giới nội tâm, ở tình đời và tình người
Tâm trạng hoài niệm bằng những biểu hiện cụ thể của nó: Tương tư, mơ mộng và chiêm bao đã đưa nhà thơ vượt qua khỏi những rào cản:
Thơ thẩn đường chiều một khách thơ Say nhìn ra rặng núi xanh lơ
Khí trời lặng lẽ và trong trẻo Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ
(Cô hái mơ) Hay:
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng
Có con bướm trắng thường sang bên này
Trang 36Bướm ơi! Bướm hãy vào đây ! Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi
(Người hàng xóm) Tâm trạng hoài niệm của nhà thơ còn là biểu hiện của một cái tôi khao khát giao cảm Trong không khí bảng lảng một sắc màu hoài cổ, thơ Nguyễn Bính xuất hiện hàng loạt những hình ảnh biểu hiện cho một làng quê truyền thống Việt Nam: Mái đình, cây đa, bến nước, con đò Hệ thống hình ảnh trở thành những hình tượng nghệ thuật vẽ lên vẻ đẹp một làng quê Việt Nam thuần khiết, nơi từ ngàn đời đã sản sinh, nuôi dưỡng nền văn hóa làng xã và chuyển lai nỗi ám ảnh, lo sự của thi nhân về sự tồn tại của những giá trị tưởng chừng như bất biến lại đang vơi cạn và thay đổi Sự vơi cạn và thay đổi bắt đầu từ chiếc "khuy bấm", "khăn nhung", "quần lĩnh" và tâm trạng "rộn ràng" của cô gái quê vừa đi tỉnh về Cho nên, xét trong toàn bộ những bài thơ về quê hương của nhà thơ, dù với cái lôi vui buồn hay lo âu khắc khoải, bao giờ chúng ta cũng cảm nhận được tấm lòng tha thiết của thi nhân
Trong cuộc hành trình trở về sống trong quá khứ xưa với nông thôn bằng mơ mộng, tưởng tượng, nhà thơ liệu có gặp lại mình không?
Lá sen vương vấn hương sen ngát
Nông thôn Việt Nam trong thơ Nguyễn Bính đẹp, tinh tế và gắn liền với những tồn tại mang giá trị tinh thần của cá cộng đồng Hà Minh Đức trong "Một thời đại thi ca" đã nhận xét rất có lý về cái tôi trong mảng thơ
Trang 37viết về làng quê của nhà thơ: "Trong mảng thơ viết về làng quê "cái tôi" của Nguyễn Bính
không đứng ngoài mà luôn chia xẻ, hòa đồng với cảnh vật, con người của làng quê Tuổi trẻ lớn lên trong hương đồng gió nội, Nguyễn Bính cũng tự xem mình là thành viên của cộng đồng" [Hà Minh Đức (17, 209)]
Viết về quê hương, nhà thơ đã gửi trọn tâm hồn của mình vào trong từng bức tranh quê, nhập trong tiếng trống hội chèo, trong tâm hồn náo nức của cô gái quê và trong nỗi bồi hồi xao xuyến của đôi trai gái đang hò hẹn để rồi vẽ lên những cánh đẹp thuần khiết, nói lên tất cả những nỗi lòng trong sự hiểu biết sâu sắc, tinh tế và chia xẻ Và từ những cảnh đẹp ấy, những nỗi lòng ấy, toát lên một thứ giá trị vô cùng quý giá "Hồn xưa đất nước" làm rung lên trái tim yêu thương của độc giả trên khắp mọi miền đất nước Người ta thuộc lòng những bài thơ viết về quê hương của Nguyễn Bính bởi vì quê hương nằm sâu trong tâm khảm của nhà thơ với nỗi nhớ niềm thương và những âu lo, khắc khoải của một "tâm hồn tôi" chưa bao giờ người những day dứt:
Ơi thôn Vân hỡi thôn Vân Nơi nao kết giải mây Tần cho ta
Ở đây tưởng nhớ quê nhà Thấy mây Tần đó ngỡ là thôn Vân
(Thôn Vân quê mẹ) Cái tôi trữ tình của Nguyễn Bính gắn chặt với quê hương, một quê hương trĩu nặng ân tình và tuyệt vời nhân nghĩa Một quê hương chắp cánh cho những ước mơ, sáng tạo và khát vọng ở đời Nguyễn Bính lớn lên trên một vùng quê trắng trời - trắng nước Gió nên đông đêm ngày giật gào từng cơn Nơi ấy, nuôi dưỡng những ước mơ, những dằn vặt theo đúng nghĩa Con Người của nhà thơ Không nặng lòng sao được khi mà ở quê hương trong từng rặng cây, bờ đê, đều có thể gợi lên một kỷ niệm:
Nhà em có một giàn giầu Nhà tôi có một hàng cau liên phòng Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
(Tương tư)
Trang 38Tình yêu quê hương gắn chặt với tình yêu con người Quê hương trong thơ Nguyễn Bính là một quê hương bình dị mà gắn bó thân thương: Nơi trong một căn nhà nhỏ có một người cha quãng đại, một người mẹ tần tảo dịu dàng và một đứa em ngoan:
Dạy dăm ba dứa học trò loanh quanh
(Nhà tôi) Không những thế quê hương qua hoài niệm của thi nhân còn là những hình ảnh của người dân quê chất phát, lạc quan nhưng cuộc đời lại mang nhiều oan khiên Đặc biệt Nguyễn Bính nói nhiều đến hình ảnh của những người phụ nữ có tình duyên lỡ làng:
Năm ấy sang sông lỡ chuyến đò
Đò đầy, gió lớn, sóng sông to
" Mười hai bến nước" xa lăng lắc Lầm tự ngày xưa, lỡ đến giờ
(Mười hai bến nước)
Sự tái hiện những cảnh đời này đã góp phần làm nên giá trị nhân văn đậm đặc và sâu lắng tình đời, tình người trong thơ ông Cái đẹp trong sự hoài niệm của nhà thơ chính là cái đẹp của lòng mến yêu tha thiết cuộc sống thanh bình trong trẻo của làng quê và nỗi cảm thương những cảnh đời ngang trái
Trên bình diện xã hội, hình ảnh quê hương trong thơ Nguyễn Bính vượt lên trên cái nhìn của thực lại Nhà thơ không vẽ lên bức tranh quê bằng sự chính xác tỉ mỉ của các chi tiết
mà chỉ phác họa nắm bắt được cái thần của hồn quê, chính vì vậy mà quê hương của nhà thơ vừa mang đầy chất thơ, vừa đẹp, vừa hữu tình:
Trang 39Thôn Vân có biếc có hồng Biếc trong nắng sớm hồng trong vườn chiều
Đê cao có đất thả diều Trời cao lắm lắm có nhiều chim bay Quả lành trĩu nặng cành cây Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen Hiu hiu gió quạt giăng đèn Vài dăm trẻ nhỏ thả thuyền ta chơi
(Thôn Vân) Một làng quê hiền hòa, bình dị, yên vui được cảm nhận qua cái tôi duyên quê đằm thắm của thi nhân Có nếm trải nhiều trong những năm tháng lênh đênh nơi đất khách quê người, có trải lòng mình ra để yêu thương mới hiểu hết nỗi lòng gắn bó của nhà thơ đối với quê hương Vẻ đẹp của quê hương trong thơ ông có nguồn gốc sâu xa từ vẻ đẹp của tình quê,
vẻ đẹp của lòng người Chính sự hài hòa bình dị của mỗi cá nhân trong cộng đồng đã tạo nên bản sắc chung ấy, khỏi sắc cho mọi sự thăng hoa của tâm hồn:
Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh
Tôi đợi người yêu đến tự tình
Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy Bắt đầu là cái thắt lưng xanh
(Mùa xuân xanh) Sau lũy tre làng trong sắc màu thanh thoát, nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp của người thiếu nữ Hòa trong cảnh của đất trời cây cỏ, vẻ đẹp ấy đã gợi lên một tình quê nồng nàn và gieo vào tâm hồn người đọc một ấn tượng khó quên
Nông thôn Bắc Bộ từ bao đời nay gắn liền với hình ảnh: Lũy tre, mái gianh, mảnh vườn Đây cũng là hình ảnh biểu tượng cho quê hương thanh bình trong thơ Nguyễn Bính Cái tôi trữ tình của nhà thơ đã hóa thân vào những hình ảnh rất đỗi thân thương ấy:
Ngõ làng rơi lắm lá tre
Trang 40Vườn suông chỉ có hoa chè rụng mau
(Vô duyên) Cùng với hình ảnh của lũy tre là hình ảnh của mái gianh Trong thơ Nguyễn Bính, mái gianh mang nỗi niềm tâm sự của cái tôi trữ tình là nơi tâm hồn con người được chở che và nương tựa Viết về mái gianh làng quê, nhà thơ nghe dâng lên trong lòng mình một nỗi buồn man mác:
Chốn này đây nhiều mái gianh, Nhiều hoa tim tím lắm trời xanh
Nhiều bươm bướm trắng, nhiều tơ trắng
Ta nhớ ai đâu chốn thị thành
(Không đề) Mái gianh chứ không phải là một chỗ nào khác là nơi nhà thơ mong mỏi, tin tưởng về một nơi yên bình nương náu của cô gái quê ngày xưa:
Chắc ở nơi nào dưới mái gianh Chị em Nhi vẫn sống yên lành
(Hoa với rượu) Hình ảnh quê hương trong xa cách được kết lại bằng những kỷ niệm đẹp của tuổi trẻ
và nỗi nhớ quê Nhắc đến quê hương, chúng ta thường nhắc đến những mảnh vườn quanh nhà, vườn cũng được nói tới khá nhiều trong thơ Nguyễn Bính với nhiều sắc thái khác nhau
và nhiều cung bậc tình cảm khác nhau của cái tôi trữ tình Vườn là sự hiện diện và là "nhân chứng" của một cuộc sống hạnh phúc:
Sáng trăng chia nửa vườn chè Một gian nhà nhỏ đi về có nhau
(Thời trước) Trong lúc cuộc sống xã hội đang có xu hướng chạy theo lối sống Âu tây thì thơ Nguyễn Bính vẫn kéo được người đọc ngược dòng thời gian trở về với cuộc sống xa xưa Hóa thân trong niềm vui và tấm lòng của người vợ có chồng đỗ trạng, nhà thơ đã tạo ra được một âm điệu cộng hưởng giữa mảnh vườn với cuộc sống của con người:
Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy