Hi vọng thông qua đề tài này chúng tôi có thể phần nào tiếp cận và nhận diện được gương mặt của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy từ đó thấy được nét độc đáo trong phong cách thơ của
Trang 1LÊ THỊ HỒNG LIỄU
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ
NGUYÊN DUY
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Hà Nội - 2016
Trang 2LÊ THỊ HỒNG LIỄU
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ
NGUYÊN DUY Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Nam
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn Văn Nam, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn- cùng các thầy cô giáo phòng sau Đại học,Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Một lần nữa em xin cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô, cảm ơn gia đình cùng toàn thể các bạn, những người thân, đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ và khích lệ tôi hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2016
Học viên
Lê Thị Hồng Liễu
Trang 4Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là của chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Nam Kết quả nghiên cứu không sao chép và không trùng với bất kỳ khóa luận nào Những trích dẫn, kết quả nghiên cứu có trong đề tài lấy từ các công bố chính thức và có ghi chú rõ ràng Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước hội đồng bảo vệ
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2016
Học viên
Lê Thị Hồng Liễu
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu: 9
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc của luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1 PHẠM TRÙ CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN DUY 10
1.1 Cái tôi trữ tình – một phạm trù trung tâm của thơ trữ tình 10
1.1.1 Cái tôi 10
1.1.2 Cái tôi trữ tình 12
1.2 Hành trình sáng tạo và khái quát về phong cách thơ của nhà thơ Nguyễn Duy 15
1.2.1 Hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy 15
1.2.2 Khái quát về phong cách thơ Nguyễn Duy 22
Tiểu kết 27
Chương 2 CÁI TÔI TRỮ TÌNH ĐA DIỆN, SÂU SẮC VÀ ĐỘC ĐÁO TRONG THƠ NGUYỄN DUY 29
2.1 Cái tôi chiến sĩ, cái tôi công dân 30
2.1.1 Cái tôi có sức chiến đấu cao khỏe khoắn, lạc quan, giàu kinh nghiệm thực tế chiến trường 31
2.1.2 Cái tôi mang nặng tình yêu sâu sắc, bình dị với nhân dân và đất nước 40
Trang 62.2 Cái tôi đời thường, cá nhân 52
2.2.1 Cái tôi trải đời, nhiều chua chát nhân tâm – thế sự 52
2.2.2 Cái tôi nhân ái, vị tha, nhạy cảm, dễ bao dung, giàu tình thương 56
2.2.3 Cái tôi khôn ngoan, tỉnh táo, thiết thực và ngang tàng, hóm hỉnh, hài hước, dân dã 62
Tiểu kết: 66
Chương 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN DUY 68
3.1 Nghệ thuật xây dựng hình ảnh và biểu tượng trong thơ 68
3.2 Không gian và thời gian nghệ thuật 72
3.2.1 Không gian trong thơ Nguyễn Duy 73
3.2.2 Thời gian trong thơ Nguyễn Duy 75
3.3 Thể thơ 77
3.4 Ngôn ngữ và giọng điệu 84
3.4.1 Ngôn ngữ 84
3.4.2 Giọng điệu 88
Tiểu kết: 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Duy là một nhà thơ tiêu biểu, một gương mặt thơ xuất sắc trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam Xuất hiện trên thi đàn từ những năm 70 của thế kỷ hai mươi, trong chặng đường hơn 40 năm sáng tác, ông đã có những đóng góp đáng kể cho nền thơ ca dân tộc: hơn chục tập thơ, 3 tập bút
ký, 1 tiểu thuyết Ông đã từng được nhận giải nhất tuần báo văn nghệ 1973, được tặng giải thưởng A về thơ ca của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1985 Nhận giải thưởng Nhà Nước về văn học nghệ thuật năm 2007 Nguyễn Duy không thuộc về thế hệ các nhà thơ trẻ lớp trước trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, khi thơ ca đang phát triển mạnh với một đội ngũ tác giả dồi dào trong một bối cảnh đặc biệt của dân tộc Nguyễn Duy cũng không thuộc những nhà thơ trẻ sau đổi mới nhiều cách tân, tìm tòi để bứt mình lên, khai sáng một con đường còn nhiều bế tắc Ông là thế hệ những nhà thơ nằm ở giai đoạn bản lề Xuất hiện ở những năm tháng cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, trầm mình trong những năm hậu chiến và đầu đổi mới, những nhà thơ như Nguyễn Duy đã phải vượt qua một giai đoạn nhiều thử thách và không mấy thuận lợi cho thơ ca cũng như đời sống con người Trong một bối cảnh như thế, khi nhiều nghệ sĩ loay hoay bế tắc, hoặc không còn đủ tự tin với cái chất riêng của mình, Nguyễn Duy vẫn sáng tạo, đều đặn và chắc tay thì đó chính là một minh chứng rõ nét nhất cho tài năng và thái độ lao động nghiêm túc ở ông
Thơ Nguyễn Duy gắn bó máu thịt với đất nước, với cội nguồn, những dòng thơ ông như chắt ra từ đời sống nhân dân Trong chiến tranh, ông viết những vần thơ bên chiến hào, những vần thơ sinh ra từ lửa đạn, mang theo hơi thở của một trái tim người lính giàu nhiệt huyết Sau 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, thơ ca lắng lại, thơ có nhiều ngã rẽ, một số người tìm đến những phong cách thơ
Trang 8hiện đại, tượng trưng, siêu thực nhưng Nguyễn Duy vẫn đi con đường của
mình, vẫn viết về chiến tranh, quê hương, đất nước, con người: Ánh Trăng (1984), Mẹ và Em (1987), Đường xa, Tình tang, Vợ ơi (1985) với nhiều tìm
tòi, đổi mới Nguyễn Duy đã định hình được phong cách với một cá tính sáng tạo độc đáo Dẫu viết về điều gì, những câu chuyện chung riêng, về người thân ruột thịt hay chuyện cao hơn, xa hơn của đời sống, chúng ta vẫn nhận thấy cái dí dỏm, ngang tàng nhưng chân thật trong cảm xúc của Nguyễn Duy Ngay cả khi ông tuyên bố tạm dừng sáng tác thơ để tìm một hướng đi mới, một thể nghiệm mới trong cách “trình diễn” thơ người ta vẫn thấy được sự gắn bó máu thịt của ông với nhân dân, quê hương, với cuội nguồn Ông đã mang thơ, mang tre nứa, rơm rạ quê hương mình mà đi “khắp thế gian”, để lại một dấu ấn mới, một hình ảnh Nguyễn Duy vừa gần gũi lại vừa mới mẻ Những sáng tạo trăn trở và không ngừng vượt mình đó chính là biểu hiện của một nghệ sĩ chân chính
Nhắc đến Nguyễn Duy người ta nghĩ ngay đến thơ lục bát, đến tính dân tộc, đến cái đời thường giản dị và hồn nhiên Phải chăng đó chính là những nét tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất cho hồn thơ Nguyễn Duy? Có lẽ đúng mà chưa đủ! Bên cạnh một Nguyễn Duy dân dã chúng ta còn có một Nguyễn Duy hiện đại, bên cạnh cái hồn nhiên chân thật về cảm xúc chúng ta lại thấy một Nguyễn Duy sâu lắng giàu triết lý, chiêm nghiệm Từ đó chúng ta có một Nguyễn Duy vừa hóm hỉnh, ngang tàng vừa nồng nàn cảm xúc, vừa dân tộc lại vừa hiện đại Một gương mặt thơ đa sắc diện như thế thực sự là một đề tài hấp dẫn với người nghiên cứu văn học
1.2 Cái tôi trữ tình có một vị trí, vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thơ Ở mỗi thời đại, mối liên hệ giữa thơ và nhà thơ luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm Cái tôi trữ tình chính là biểu hiện rõ nhất cho mối qua hệ ấy Bản chất của cái tôi trữ tình là mang tính chủ quan, cá nhân,
Trang 9đồng thời mang tính khách quan với các dấu ấn của đời sống xã hội Cái tôi trữ tình càng tự ý thức sâu sắc thì thơ trữ tình càng đặc sắc Nhưng cái tôi trữ tình không hoàn toàn đồng nhất và trùng khít với cái tôi nhà thơ mà là sự thể hiện đời sống tinh thần và tư duy sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ Nó là một phần cốt lõi của cái tôi nhà thơ nhưng lại không phải là bản sao trùng khít Nó gợi lên khoảng cách giữa đời thực và nghệ thuật, giữa hiện thực và hiện thực được phản ánh Đó là phiên bản mới mẻ, chọn lọc, kết tinh và thăng hoa
những suy tư, cảm xúc và trải nghiệm của cái tôi nhà thơ: “Có nhiều cuộc đời thi sĩ gắn liền với đời thơ như hình với bóng Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác Những sự kiện, hành động và tâm tình trong cuộc đời riêng cũng in lại nét trong thơ” (Hà Minh Đức) Viên Mai cho rằng: “Tất cả mọi người làm thơ đều có thân phận của mình” Mỗi nhà thơ đều có một phong cách riêng, độc đáo mang dấu ấn chủ quan trong thơ Hàn Mặc Tử viết: “Người thơ phong vận như thơ ấy” Chính cái tôi trữ tình đã tạo nên sự khác biệt của phong cách thơ
Có thể nói cái tôi trữ tình chính là chủ thể trung tâm của thơ Từ cái tôi
đó mà cảm xúc của nhà thơ với hiện thực được thể hiện Cái tôi trữ tình cũng
là “trục chính” để từ đó triển khai những ý tưởng nghệ thuật của bài thơ, thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm Giống như người kể chuyện trong tác phẩm tự sự cái tôi trữ tình trong thơ đóng vai trò như người dẫn dắt cho toàn
bộ sự phát triển của cấu trúc tác phẩm Chúng ta đều biết đặc trưng của thơ là cảm xúc Có cảm xúc mới bật lên thơ, và thơ là để thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau của con người với cuộc sống Cảm xúc ấy phải được gắn vào một chủ thể và chủ thế đó ở đây chính là cái tôi trữ tình Do đó cũng có thể khẳng định cái tôi trữ tình chính là một yếu tố quan trọng bậc nhất của thơ Muốn tìm hiểu thơ không thể bỏ qua nhân tố này
Trang 10Từ những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy làm đề tài nghiên cứu của mình Hi vọng thông qua đề tài này
chúng tôi có thể phần nào tiếp cận và nhận diện được gương mặt của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy từ đó thấy được nét độc đáo trong phong cách thơ của nhà thơ này
Hoài Thanh là một trong những người đầu tiên viết lời bình cho thơ
Nguyễn Duy qua bài: Đọc một số bài thơ Nguyễn Duy (Báo Văn nghệ số ra
442 - 14/4/1972) đã khẳng định thơ Nguyễn Duy trong quá trình định hình
một cá tính thơ: “Thơ Nguyễn Duy đưa ta trở về với một thế giới quen thuộc, một gốc sim, một bụi tre, một ổ rơm nhưng trong thế giới ấy thơ Nguyễn Duy không nhàm Nói sim, rơm, tre là để nói đến người Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của con người, của những cuộc đời cần cù không tuổi, không tên” Hoài Thanh đã phát hiện ra cái đẹp trong thơ Nguyễn Duy chính
là cái bình dị hiền hậu “một cái gì rất Việt Nam” mà chúng ta “giữ nguyên trong thử lửa”, với “một giọng thơ chân chất, tình thơ chác, ý thơ sâu”
Ngoài những bài viết có tính khái quát, đánh giá trên nhiều bài thơ của Nguyễn Duy thì cũng có nhiều bài viết chủ yếu tập trung đánh giá vào những
bài thơ nổi bật của tác giả Ví dụ như bài thơ Tre Việt Nam, Ánh trăng, Đò lèn, Hơi ấm ổ rơm… là những bài thơ thu hút được nhiều nhà nghiên cứu, phê
bình với nhiều hướng tiếp cận khác nhau Như bài của nhà nghiên cứu Hà
Minh Đức, Lê Trí Viễn… về bài thơ Tre Việt Nam, bài viết của Nguyễn Bùi Vợi, Lê Quang Trang,… về bài thơ Ánh trăng, Vũ Quần Phương viết về bài
Trang 11Hơi ấm ổ rơm, Trịnh Thanh Sơn, Đỗ Lai Thúy bình Đò lèn, Đặng Hiển phân tích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,… Những bài viết này tuy chỉ tìm hiểu, đánh
giá, phê bình về thơ Nguyễn Duy qua một tác phẩm cụ thể nhưng lại có những nhận định rất xác đáng, chỉ ra được những đặc sắc của thơ Nguyễn Duy Trong đó chúng tôi đặc biệt nhận thấy các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao những ân tình gắn bó của Nguyễn Duy với nhân dân thông qua những cảm xúc chân thực và đời thường
Trong các bài viết nghiên cứu, phê bình về thơ Nguyễn Duy, công phu hơn cả là bài của Nguyễn Quang Sáng và Chu Văn Sơn, hai nhà nghiên cứu
đã có cái nhìn sâu sắc hơn về thơ Nguyễn Duy, với những nhận định tương đối sắc sảo và chính xác
Trong bài viết Đi tìm tiềm lực thơ Nguyễn Duy - Phụ lục cho tập Mẹ và
em, Nguyễn Quang Sáng đã khẳng định bước tiến của Nguyễn Duy, tìm ra nét
độc đáo, những nét khác biệt trong thơ anh Có những nết khác biệt ấy là do
“có sự chuyển động trong nội tâm mà ứa ra câu chữ” Nhờ đó mà Nguyễn Duy “Dù ở xứ lạ vẫn bắt được cái hồn của con người và hồn của cây cỏ” Ông nhấn mạnh Nguyễn Duy có ưu thế trội hơn hẳn trong thể lục bát “Thơ Nguyễn Duy không rơi vào tình trạng quen tay, mà có sự biến đổi, chuyển động trong câu chữ”, thành công của thơ lục bát Nguyễn Duy là nhờ vào thế
giới nội tâm phong phú và năng động của chính nhà thơ
Qua phân tích một số bài thơ cụ thể, Nguyễn Quang Sáng đi tới nhận
xét: “Nguyễn Duy vẫn sáng tác với bản sắc riêng của mình, không biến dạng, không pha tạp ở hoàn cảnh sống, dù ở đề tài chiến trận hay đề tài tình yêu con người, quê hương thì cũng cùng chung cái gốc nhân bản và tâm hồn nhân hậu ”, “Nguyễn Duy viết đều và có chất lượng về quá khứ, hiện tại, về chiến tranh và tình yêu, về quê hương gốc gác và những người thân đều thống nhất từ trong tâm tưởng, trong mối giao lưu giữa hiện thực với văn hóa cội nguồn”
Trang 12Chu Văn Sơn trong bài viết Nguyễn Duy thi sĩ thảo dân, tạp chí Nhà
văn số 3 năm 2003 đã nói nhiều hơn đến vấn đề tư duy thơ Nguyễn Duy, ông
đi từ quan niệm nghệ thuật của thơ Nguyễn Duy “tôi là dân vậy tôi tồn tại”
Và có thể thấy “Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân ngay từ quan niệm nhân sinh
và nghệ thuật” và quan niệm ấy đi suốt chặng đường thơ Nguyễn Duy càng
về sau càng sắc nét Theo Chu Văn Sơn, Nguyễn Duy coi chân thành là cứu
cánh, cứu tinh của mình Những vần thơ của ông là “tâm tình ở đằng sau tâm tình” Những vần thơ đánh thức lương tri, dám nói thẳng nói thật không hề né tránh Đánh thức tiềm lực, Nhìn từ xa tổ quốc, Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ
Cái tôi tự họa chân thành đến mức không hề làm duyên làm dáng, không nề
hà những nhếch nhác bụi bặm Có thể thấy nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn đã gọi tên ra được nét đặc trưng cơ bản nhất trong nhân sinh quan của Nguyễn Duy từ đó chi phối tới các yếu tố nghệ thuật khác trong thơ ông Đây là một bài viết có giá trị, gợi mở nhiều cho chúng tôi khi tiếp cận đề tài
Tiếp cận thơ Nguyễn Duy từ góc độ nội dung chúng ta có thể kể đến
các bài viết như Tìm giọng mới thích hợp với người thời mình của Lại Nguyên
Ân, Nguyễn Duy thi sĩ đồng quê của Nguyễn Đức Thọ, Người vợ trong thơ Nguyễn Duy của Đỗ Ngọc Thạch, Nguyễn Duy – Người thương mến đến tận cùng chân thực của Vũ Văn Sỹ,… Các bài viết này chỉ ra rằng thơ Nguyễn
Duy thường hướng tới các đề tài như quê hương, tình yêu con người, đất nước,… những đề tài muôn thuở gần gũi và đời thường Nhà thơ thường hướng tới “những cái mong manh mà vững chắc trong đời” và như nhà nghiên cứu Vũ Văn Sỹ đã dùng ngay chính câu thơ của Nguyễn Duy mà khái quát về thơ ông đó là sự tận cùng của chân thực, của cảm xúc mến thương dành cho nhân dân, đất nước mình
Tiếp cận từ phương diện nghệ thuật nhiều nhà nghiên cứu thường xoáy sâu vào các khía cạnh trong tác phẩm của Nguyễn Duy như thể thơ dân tộc
Trang 13lục bát, ngôn ngữ thơ, giọng điệu trong thơ,… Các ý kiến có chỗ thống nhất như đánh giá cao khả năng sử dụng khai thác thể thơ lục bát dân tộc của Nguyễn Duy, ngôn ngữ thơ ông vừa đời thường, dân dã vừa mang màu sắc hiện đại, Vương Trí Nhàn thì cho rằng “là bản hợp xướng của những chữ lạ” hay Hồ Văn Hải thì cho rằng đặc điểm nổi bật của thơ lục bát Nguyễn Duy là sáng tạo những từ láy,…
Thơ Nguyễn Duy cũng được chọn làm đề tài nghiên cứu trong một số
luận văn thạc sĩ: tác giả Dương Tú Anh với đề tài Phong cách thơ Nguyễn Duy, tác giả Nguyễn Thị Đỗ Quyên với đề tài Thơ lục bát Nguyễn Duy, tác giả Mai Thị Nguyệt với đề tài Tìm hiểu phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Duy, tác giả Phạm Thị Phương với đề tài Thơ Nguyễn Duy nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật
Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát thấy một số bài báo giới thiệu tác phẩm của Nguyễn Duy, các bài phỏng vấn tác giả, Nó cho thấy sức hút của Nguyễn Duy đối với độc giả cũng những giới nghiên cứu phê bình
Qua khảo sát tư liệu về các công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy chúng tôi nhận thấy rằng:
Thứ nhất, thơ Nguyễn Duy đã được quan tâm và chú ý nghiên cứu tìm hiểu từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau
Thứ hai, các nhà nghiên cứu đều có những đánh giá nhận định của riêng mình về thơ Nguyễn Duy nhưng khá gặp gỡ và đồng thuận ở một vài phương diện như khẳng định sự thành công của ông trong việc sử dụng thể thơ lục bát, các chất liệu văn học dân gian, khẳng định chất “thảo dân”, mộc mạc mà giàu chiêm nghiệm trong thơ Nguyễn Duy, đánh giá cao tình cảm của Nguyễn Duy dành cho nhân dân, quê hương, đất nước
Những tư liệu đã có phần nào là những gợi mở cho chúng tôi trong quá trình tiếp cận đề tài của mình Chúng tôi cũng hi vọng hướng tiếp cận của
Trang 14mình góp thêm một góc nhìn về thơ Nguyễn Duy để những đánh giá nghiên cứu về thơ ông được toàn vẹn và khái quát hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy”, luận văn
nhằm hướng đến những mục đích sau:
- Chỉ ra những đặc điểm nổi bật về cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy
- Thấy được những đóng góp mới và những nỗ lực của Nguyễn Duy trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và thơ nói riêng
Từ đó luận văn khẳng định Nguyễn Duy trước sau vẫn là một phong cách riêng,không trộn lẫn vào những phong cách thơ tài hoa và đã rất quen
thuộc của thơ ca Viêt Nam hiện đại
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của luân văn là phải thấu hiểu, phân tích làm rõ được cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy
Làm nổi bật được cái tôi trữ tình đa diện, sâu sắc và độc đáo trong thơ Nguyễn Duy Đó là cái tôi chiến sĩ, cái tôi công dân, cái tôi đời thường Qua
đó thấy được sự phân hóa đấu tranh và thống nhất của các mặt khác nhau trong nhân cách một thi sĩ – chiến sĩ – thảo dân
Thấy được nghệ thuật tiêu biểu mà Nguyễn Duy đã sử dụng để góp phần biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ mình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi coi cái tôi là yếu tố chủ quan, là yếu tố căn bản làm nên nội dung trữ tình Đồng thời cái tôi cũng là hạt nhân tổ chức các yếu tố khác nhau như đề tài, cảm hứng, tứ thơ, giọng điệu và ngôn ngữ Trên cơ sở tìm hiểu cái tôi trữ tình luận văn đi vào nghiên cứu những
Trang 15đặc điểm nổi bật của thơ Nguyễn Duy, đi sâu vào một số phương diện nghệ thuật tiêu biểu đã làm bộc lộ rõ cái tôi trữ tình trong thơ anh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát chính trên các tập thơ sau của Nguyễn Duy: Ánh trăng (1984), Mẹ và em (1987),Về (1994), Bụi (1997, “Nguyễn Duy-Thơ”
(2010-NXB Hội nhà văn.Hà Nội)
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thưc hiện đề tài,luận văn vận dụng phối hợp một số
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp hệ thống
6 Đóng góp của luận văn
6.1.Về mặt lí luận: Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về
cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy.Từ đó chúng ta thấy được vai trò của cái tôi trữ tình trong đời sống thể loại
6.2 Về thực tiễn:Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các chuyên
đề văn học Việt Nam đương đại trong nhà trường
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương chính như sau: Chương 1: Phạm trù của cái tôi trữ tình trong thơ và hành trình sáng tạo của nhà thơ Nguyễn Duy
Chương 2: Cái tôi trữ tình đa diện, sâu sắc và độc đáo trong thơ Nguyễn Duy
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy
Trang 16NỘI DUNG Chương 1 PHẠM TRÙ CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN DUY 1.1 Cái tôi trữ tình – một phạm trù trung tâm của thơ trữ tình
1.1.1 Cái tôi
Cái tôi là một phạm trù triết học, thể hiện ý thức của con người về bản thể tồn tại của mình Vì vậy đây là một phạm trù quan trọng, được quan tâm tìm hiểu ngay từ những ngày đầu tiên của triết học cổ đại Có cái tôi, có ý thức về cái tôi con người mới nhận diện được mình như một cá thể độc lập tồn tại khác với thế giới tự nhiên bên ngoài và khác với những cá thể khác Cái tôi càng phát triển càng thể hiện trình độ nhận thức và tự ý thức cao của con người về cá nhân Đó cũng chính là tiền đề cho sự phát triển của xã hội
Nội hàm của cái tôi rất rộng và bao hàm nhiều yếu tố Ở đây chúng tôi chỉ quan tâm tới những góc độ liên quan tới đề tài Mỗi nhà triết học lại nhìn thấy cái tôi ở một góc độ khác nhau R Đề - Các - nhà triết học người Pháp thì khẳng định cái tôi dưới quan điểm nhị nguyên luận bằng một mệnh đề nổi tiếng “tôi tư duy là tôi tồn tại” Ở đây cái tôi được nhìn nhận như một thực thể độc lập, có tư duy và bằng tư duy để mà khẳng định sự tồn tại của mình
Đến Hêghen - nhà triết học biện chứng người Đức thì khẳng định vai trò tuyệt đối của cái tôi, coi đó là trung tâm của sự tồn tại, là thể hiện của khát vọng, khả năng của con người trong đời sống
C Mac nhìn nhận cái tôi, con người cá nhân vừa là khách thể vừa là chủ thể của mối quan hệ xã hội Cá nhân, con người cá nhân là hạt nhân phản ánh bộ mặt xã hội Do đó giải phóng con người cá nhân là để mỗi cá thể tìm thấy tự do của mình, phát huy hết khả năng của mình
Trang 17Như vậy trong triết học, nói một cách đơn giản nhất thì cái tôi được hiểu như là cái tôi của ý thức để phân biệt cá thể này với cá thể khác
Trong tâm lý học, cái tôi được coi là phần cốt lõi của tính cách, liên quan tới thực tại, chịu ảnh hưởng của tác động xã hội Theo nhà tâm lý học Freud thì cái tôi là một trong ba miền của tâm thức Cái tôi được hình thành ngay từ khi con người được sinh ra và qua một quá tình tiếp xúc với thế giới bên ngoài, cái tôi sẽ học được cách cư xử sao cho kiểm soát được những ham muốn vô thức không được xã hội chấp nhận Ở đây có thể hiểu cái tôi có vai trò trung hòa giữa những ham muốn của vô thức của bản năng với những tiêu chuẩn, giới hạn của nhân cách xã hội
Khái niệm cái tôi cũng được các tôn giáo quan tâm, như trong Phật giáo có phần về “ngã” (có thể hiểu như là tôi) Tuy nhiên cách hiểu về “ngã” của Phật giáo không hoàn toàn trùng với cách hiểu về cái tôi trong triết học hay tâm lý học
Trong đời sống có thể hiểu cái tôi như một bản thể tinh thần của con người Nó là tất cả bản sắc của một cá nhân, là cá tính, tâm hồn, nhân sinh quan, thế giới quan của con người Cái tôi càng đặc sắc con người càng giá trị Một xã hội càng đề cao, càng tôn trọng cái tôi của con người thì càng thể hiện sự văn minh và phát triển của mình Tuy nhiên mỗi cái tôi cũng bị hạn định bởi những giới hạn của đạo đức, pháp luật
Như vậy khái niệm cái tôi là một khái niệm được quan tâm ở nhiều lĩnh vực khoa học, tôn giáo khác nhau Nó như một phạm trù cơ bản để con người
tự nhận thức về mình Cái tôi cá nhân qua mỗi thời kỳ phát triển của loài người lại được đối xử khác nhau Nhưng chúng ta có thể nhận thấy rằng cái tôi càng được tự do thì con người dường như lại càng đạt được những thành tựu về khoa học, nghệ thuật
Trang 181.1.2 Cái tôi trữ tình
Từ khái niệm về cái tôi, chúng ta có thể cắt nghĩa phần nào cái tôi trữ tình Hiểu một cách đơn giản nhất, cái tôi trữ tình chính là cái tôi được thể hiện trong thơ trữ tình Hay nói cách khác cái tôi trữ tình chính là những nhận thức, cảm xúc về đời sống, về thế giới khách quan thông qua những biểu đạt của thơ trữ tình, tạo nên một thế giới tinh thần độc đáo, có tính thẩm mỹ cao, truyền đạt đến người đọc một tư tưởng, cảm xúc nào đó
Cái tôi trữ tình là một phạm trù tổng hòa của nhiều yếu tố Có thể nhìn nhận cái tôi trữ tình ở ba phương diện: bản chất cá nhân (mối quan hệ giữa cái tôi trữ tình với tác giả), bản chất xã hội (mối quan hệ giữa cái tôi với cái ta cộng đồng) và bản chất thẩm mỹ (cái tôi trữ tình là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản)
Heghen trong Mỹ học đã cho rằng: Nguồn gốc và diểm tựa của nó là ở chủ thể và chủ thể là người duy nhất độc nhất mang nội dung Chính vì vậy cho nên cá nhân phải có được một bản tính thi si, phải có một trí tưởng tượng phong phú phải có một cảm xúc dồi dào và có thể lĩnh hội được những ý niệm sâu sắc và lớn lao (dẫn lại theo Hà Minh Đức, Lý luận văn học trang 225)
Như vậy có thể thấy cái tôi trữ tình có vai trò quan trọng trong thơ Người làm thơ phải mang được cái tôi của mình vào cái tôi trữ tình, thể hiện được những cảm nghĩ về đời sống của bản thân, có chiều sâu, có nét độc đáo khác lạ với
cá tính riêng Tuy nhiên cái tôi của nhà thơ và cái tôi trữ tình không thể hoàn toàn trùng khít Cái tôi của nhà thơ được phản ánh, cách điệu trong cái tôi trữ tình Thế nên chúng ta không thể đồng nhất cái tôi trữ tình với tác giả Và cái tôi trữ tình cũng càng không phải là nhân vật trong thơ trữ tình Không thể coi cái tôi trữ tình bằng một nhân vật xưng danh nào đó trong bài thơ Bày tỏ quan điểm về mối quan hệ giữa cái tôi trữ tình và tác giả, nhà lý luận văn học
Nga Ju Tynianov đã viết: giọng điệu của tác giả mà ta cảm thấy trong thơ lại
Trang 19chính là bản thân tác phẩm nghệ thuật, là khách thể nghệ thuật, là một thực tại loại khác so với thực tại sống, cho nên cái tôi đó đã không phải là người sáng tạo ra thế giới nghệ thuật này mà chỉ là người dân sống trong thế giới được sáng tạo Cái tôi trữ tình mang bản sắc của cái tôi tác giả nhưng khi nhà
thơ sáng tạo ra nó, nó đã trở thành một thực thể độc lập, tách biệt với nhà thơ
Có lẽ vì vậy mà cái tôi trữ tình không bị hạn định trong thế giới cá nhân của người sáng tạo ra nó Nó được mở ra đến vô hạn, có khả năng đề cập tới những vấn đề mang tính nhân loại hơn là số phận tiểu sử của cá nhân nhà thơ
Tuy nhiên cái tôi trữ tình cũng không thể tách rời được cá nhân nhà thơ Nó ít nhiều chính là hiện thân của tác giả Qua thơ ta có thể thấy được những kí ức, những kỉ niệm, những tình cảm của nhà thơ về chính cuộc đời mình Nhiều khi cảm xúc của nhà thơ được khái quát hướng tới những thứ lớn lao hơn Nên cái tôi trữ tình khi đó lại thể hiện được cảm xúc, tâm trạng, tư tưởng,… của một lớp người, một thế hệ mà nó đại diện
Cái tôi trữ tình là sản phẩm của cá nhân, mang dấu ấn cá nhân song nó cũng không thể tách rời cái khách quan là đời sống xã hội Cảm xúc của mỗi
cá nhân được khơi gợi từ chính đời sống Do đó cái tôi trữ tình trong thơ cũng phản ánh chính những cảm xúc của thời đại Cái tôi trữ tình vì thế vừa mang tính chủ quan nhưng cũng mang tính khách quan, lịch sử Chỉ có như vậy cái tôi trữ tình từ cảm xúc của một người mới chạm tới được cảm xúc của muôn
người khi đọc thơ
Có thể nói cái tôi trữ tình là cơ sở để làm nên bản sắc cho thơ trữ tình khác biệt với thơ tự sự Cái tôi trữ tình là chủ thể bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc trong thơ Nó không giống như các nhân vật trong tự sự, nó không mang một diện mạo cụ thể, không có tiểu sử hay hành động Cái tôi trữ tình được thể hiện qua giọng điệu cảm xúc, cách cảm, cách nghĩ,… những điều mơ hồ nhưng lại làm nên hồn cốt của thơ
Trang 20Cái tôi trữ tình chính là những gửi gắm của nhà thơ về cảm xúc, về suy tư của mình trước cuộc sống Nhận diện được cái tôi trữ tình trong thơ là nhận diện được tâm tư tình cảm của nhà thơ Do đó muốn nắm bắt được một tác phẩm trữ tình người nghiên cứu không thể không quan tâm đến cái tôi trữ tình
Quá trình phát triển của văn học dân tộc cũng cho chúng ta thấy những diện mạo khác nhau của cái tôi trữ tình Trong văn học dân gian mà cụ thể hơn ở thể loại thơ trữ tình – ca dao, chúng ta thấy cái tôi trữ tình không hiện lên với gương mặt của một cá nhân cụ thể mà mang gương mặt của một cộng đồng, một đám đông Đó là những người lao động cần cù chịu thương chịu khó, sống ân tình thủy chung và giàu tình cảm Không gian và thời gian để cái tôi trữ tình xuất hiện trong ca dao cũng không mang tính cá thể hóa mà phần lớn là các không gian chung gắn với lao động và cuộc sống của người bình dân xưa Thời gian phần lớn là mang tính ước lệ Đến văn học trung đại, do ảnh hưởng của tư tưởng xã hội nên cái tôi trữ tình cũng có những màu sắc riêng Văn học ít đề cập tới vấn đề riêng tư của đời sống con người cá nhân
mà hướng tới các vấn đề của dân tộc, cộng đồng Cái tôi trữ tình cũng vì thế
mà mang màu sắc phi ngã, các đại từ nhân xưng ít được sử dụng Ý thức về một cái tôi cá tính có tồn tại và vẫn được các nhà thơ thể hiện song vẫn chịu
sự chi phối của tính quy phạm của văn học trung đại Ở một số nhà thơ chúng
ta thấy được cái tôi cá nhân, cái tôi trữ tình đặc sắc đối diện với chính mình phần nào vượt qua những khuôn khổ của văn học trung đại như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát,…
Đến văn học lãng mạn và tiêu biểu là phong trào Thơ Mới chúng ta lại thấy một cái tôi trữ tình khác Đó là cái tôi cá nhân, cái tôi trong quá trình tìm lại diện mạo cá thể của mình, với sự tự ý thức cao độ Khi này cái tôi trữ tình vừa
có cái mạnh mẽ, tự do lại cũng có cái yếu ớt, cô đơn và bất lực Các nhà thơ lãng
Trang 21mạn dùng cái tôi của mình để cảm nhận và phản ánh thế giới Vì thế cái tôi ấy không tránh khỏi những bi quan, ảo não bên cạnh cái say sưa, bay bổng
Cái tôi trữ tình trong thơ cách mạng lại là cái tôi cộng đồng Do những yêu cầu của lịch sử, của dân tộc mà người nghệ sĩ thời kỳ này phần nào bỏ đi những vấn đề riêng tư của mỗi cá nhân để hòa mình vào đời sống chung của đất nước Cái tôi trữ tình vì thế cũng mang một diện mạo mới Không chỉ là những xúc cảm cá nhân mà lúc này nó là xúc cảm của một lớp người, của một thế hệ chung ý chí, lý tưởng và mục tiêu Cái tôi trữ tình trong thơ đổi mới lại tìm về với đời sống cá nhân, đi sâu vào thế sự đời tư, phản ánh những trăn trở, đấu tranh của người nghệ sĩ Một cái tôi đa diện, phức tạp hơn song sinh động, gần gũi và đời thường hơn xuất hiện
Như vậy có thể nhận thấy, cái tôi trữ tình là một phạm trù đặc biệt quan trọng trong thơ trữ tình Nó là một nhân tố thể hiện sâu sắc tư tưởng, cảm nghĩ của nhà thơ, chi phối cách tổ chức tác phẩm Cái tôi trữ tình và cái tôi nhà thơ
có một độ giãn cách nhất định mà chúng ta không thể đánh đồng làm một Cái tôi trữ tình cùng với sự phát triển của văn học cũng mang những diện mạo khác nhau, phù hợp với đời sống hiện thực của từng giai đoạn, thể hiện những đặc trưng của thời đại
1.2 Hành trình sáng tạo và khái quát về phong cách thơ của nhà thơ Nguyễn Duy
1.2.1 Hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy
Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 tại Đông
Vệ, Đông Sơn, Thanh Hóa (nay thuộc phường Đông Vê, thành phố Thanh Hóa) Năm 1966 ông nhập ngũ trở thành bộ đội thông tin tham gia chiến đấu trực tiếp trên các chiến trường ác liệt nhất lúc bấy giờ như Đường 9 – Khe Sanh, Đường 9 – nam Lào, chiến trường miền Nam, biên giới phía Bắc Sau khi chiến tranh kết thúc, ông giải ngũ quay về với nghề cầm bút Ông làm
Trang 22việc tại tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam và làm tới trưởng đại diện của tờ báo này tại phía Nam Có thể nói những năm tháng tuổi thơ với kí
ức về một vùng quê gian khó và những năm tháng chiến đấu trực tiếp trong kháng chiến chống Mỹ rồi chiến tranh biên giới sau này để lại trong thơ ông nhiều dấu ấn sâu đậm
Nguyễn Duy làm thơ từ khá sớm Đến năm 1973 ông đã đạt giải nhất
cuộc thi thơ do tuần báo Văn nghệ tổ chức với chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt Nam những bài thơ tiểu biểu của tập thơ Cát Trắng
Ngoài làm thơ Nguyễn Duy còn viết tiểu thuyết, bút ký Tuy nhiên người ta biết tới Nguyễn Duy chủ yếu trong tư cách của một nhà thơ bởi đây là thể loại ông thành công hơn cả
Năm 1997, Nguyễn Duy từng tuyên bố “gác bút” để thử nghiệm một hướng đi mới trong cuộc đời sáng tạo của mình Ông tìm cách “trình diễn” thơ mới và đưa những bài thơ với cách thể hiện độc đáo đó đến với bạn đọc không chỉ ở Việt Nam Ông in thơ trên các chất liệu đặc biệt như tranh, tre, nứa, lá, giấy dó, những chất liệu đậm tính dân tộc Nguyễn Duy không chỉ
“trình diễn” thơ của mình mà ông còn biên tập và cho ra mặt tập thơ Thiền thời Lý Trần gồm 30 bài thơ viết trên giấy dó có cả bản nguyên tiếng Hán, bản phiêm âm, dịch nghĩa, dịch thơ bằng tiếng Việt và tiếng Anh kèm theo ảnh nền, ảnh minh họa của ông Dẫu là một hướng đi khác nhưng dường như vẫn là ông là một Nguyễn Duy say đắm với những gì dân tộc nhất, dân dã nhất Hướng đi đó của ông ít nhiều đã tạo được dấu ấn trong lòng những độc giả yêu thơ trong và ngoài nước
Năm 2007, Nguyễn Duy được tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho những cống hiến của ông
Nguyễn Duy sáng tác cả thơ, tiểu thuyết và bút ký Trong đó thơ chiếm
số lượng lớn hơn cả Những tập thơ của ông có thể kể đến là:
Trang 23rõ Rồi từ đó thơ cứ đến một cách tự nhiên như cảm xúc phải được tỏ bày Trong những năm tháng tuổi thơ của Nguyễn Duy, phong trào thơ thiếu nhi miền Bắc lại phát triển mạnh Chính những điều kiện như vậy đã thúc đẩy một cậu bé nơi miền quê xa xôi có bài thơ đăng báo ngay từ khi 9 tuổi, lúc đang học lớp 2 trường làng
Khi Nguyễn Duy nhập ngũ, ông bắt đầu sáng tác chuyên tâm và đều đặn hơn Năm 1973 giải A của cuộc thi thơ báo Văn nghệ như một dấu mốc trong hành trình sáng tạo của ông Từ đó người ta biết đến Nguyễn Duy, biết
đến một nhà thơ của Tre Việt Nam, của Hơi ấm ổ rơm Một chàng trai 25 tuổi,
trưởng thành trong những năm kháng chiến chống Mỹ sục sôi, dùng chính tuổi trẻ và nhiệt huyết của mình mà đi qua những năm tháng gian nan mà vĩ đại của dân tộc Trong một tâm hồn như thế, ta vừa thấy nét trẻ trung, sôi nổi vừa thấy sự đằm thắm, sâu sắc Thơ Nguyễn Duy trong giai đoạn này chan chứa những tình cảm chân thành và sâu sắc với bạn bè, với đồng đội, với
Trang 24người thân với quê hương và tổ quốc Ông không hướng ngòi bút tới những điều lớn lao, vĩ đại Ông bắt đầu từ những giản dị và đời thường từ những thứ thân quen gần gũi Ngay từ giây phút bắt đầu ấy chất “thảo dân” như đã sẵn
có tự nhiên trong thơ Nguyễn Duy Không cần gồng mình, không lên gân thơ Nguyễn Duy vẫn là thơ của nhân dân, thơ cho nhân dân Giữa thời kỳ nở rộ của thơ ca, giữa đội ngũ những người cầm bút trẻ dồi dào và sung mãn, Nguyễn Duy đã tạo được dấu ấn riêng của mình, “chất” riêng của mình bằng một hồn thơ mượt mà và giản dị
Trong thời kỳ hậu chiến, Nguyễn Duy cho ra mắt độc giả tập thơ Ánh trăng, tập thơ đã được giải thưởng của Hội Nhà văn (1978) Nhìn chung, so
với giai đoạn trước, thời kỳ này thơ Nguyễn Duy không có quá nhiều thay đổi
có tính chất bước ngoặt Thơ ông vẫn vậy, vẫn mang cái mộc mạc, chân phương của một người “thảo dân” hiền lành chất phác Nguyễn Duy vẫn gắn
bó máu thịt với nhân dân, vẫn không ngừng nhắc nhở mình về cội nguộn của
mình, của tâm hồn mình chính là quê hương, đất nước, là những thứ giản dị như đồng, như ruộng Ngoài những thành công được ghi nhận, chúng ta cũng thể
không thừa nhận thơ Nguyễn Duy thời kỳ này còn có những hạn chế Đâu đó vẫn còn sự gò bó, cầu kỳ, chưa đều tay trong cách cảm, cách nghĩ, cách thể hiện
Thời kỳ thứ 3 trong thơ Nguyễn Duy là thời kỳ đổi mới Có lẽ vì chưa đừng ca ngợi, cũng chưa từng im lặng nên thơ Nguyễn Duy trước và sau đổi mới tuy có khác biệt nhưng không phải là sự thay đổi bước ngoặt, sang trang hoàn toàn Người ta chỉ thấy chín hơn, đằm hơn, đến “thuần nhất” (chữ dùng của Vương Trí Nhàn) trong hồn thơ Nguyễn Duy Thơ Nguyễn Duy thời kỳ này vừa dân dã vừa hiện đại, có sự từng trải và vẫn giữ được nét tinh tế Ở
thời kỳ này chúng ta không thể không kể tới bộ ba bài thơ: Đánh thức tiềm năng (viết từ 1980 đến 1982), Nhìn từ xa … tổ quốc (hoàn thành năm 1989)
và Kim mộc thủy hỏa thổ (1999) thể hiện những trăn trở suy tư của nhà thơ về
Trang 25tương lai đất nước, về con người và các vấn đề nhân sinh Dường như lúc này
ở Nguyễn Duy người ta đã thấy rõ độ chín về nhận thức để không còn sự gò
bó, cầu kỳ trong cách nghĩ, cách làm Có lẽ khi bản thân nhà thơ đã kinh qua những biến động của lịch sử, đã trải nghiệm qua những năm tháng khó khăn gian khổ của mỗi cá nhân và của cả dân tộc, cái nhìn sẽ rộng mở hơn để cách cảm, cách nghĩ tĩnh lại, chậm lại và sâu hơn
Trong tuyển tập thơ của mình, Nguyễn Duy bổ sung thêm một số bài thơ, sắp xếp, tuyển chọn các bài thơ tiêu biểu của các tập thơ trước để xuất bản (2010) Trong tuyển tập thơ này ông chia các tác phẩm của mình thành 4 phần: Đường làng, đường nước, đường xa, đường về Có lẽ nó cũng chính là những chặng đường mà Nguyễn Duy đã đi qua Bắt đầu từ quê hương, từ những nẻo đường muôn màu nhưng mang màu sắc của một tuổi thơ với những người thân yêu nhất, của mảnh đất Thanh Hóa với dòng sông Mẹ âm thầm trôi Rồi con đường ấy lớn lên mở ra những chân trời mới, đi tới những miền đất mới, thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của một công dân với Tổ quốc của mình Đó là những chặng đường nước với những năm tháng kháng chiến gian khổ mà anh hùng, với những điều lớn lao mà giản dị Để đường xa hơn với lục bát xa xứ, để đứng từ nơi xa, khách quan hơn mà nhìn lại nhân dân mình, quê hương mình, tổ quốc mình, để nỗi nhớ ám ảnh trong cõi về tinh khôi Đường xa là những sáng tác khi Nguyễn Duy sống ở Nga hay ở Mỹ và các nước châu Âu Một cuộc cống xa quê hương, tới những miền đất phát triển và văn minh hơn, nhưng trong Nguyễn Duy luôn đau đáu hình ảnh quê hương, đất nước Ông nhận ra rằng chẳng nơi đâu bằng nhà của mình Nơi xa
xứ có những nỗi buồn, nỗi tủi cho cái nghèo, cái khó của quê hương đất nước nhưng chưa bao giờ cái hồn cốt, dân dã trong Nguyễn Duy phai nhạt Đối với ông không có đối trọng giữa “chân quê” và “thành thị” vì ở đâu và nơi nào ông vẫn chỉ là ông một “thảo dân” chân chất nhất Rồi cuối cùng con đường
Trang 26ấy lại quay về thôi, đường về như một lẽ tất yếu của cuộc hành trình Bắt đầu
từ nơi nào thì tìm về nơi ấy Bắt đầu từ đồng, từ ruộng thì tìm về với đồng với ruộng, với rơm, với rạ với những yêu thương luôn mời gọi ta về Nguyễn Duy trong gia tài thơ của mình luôn dành riêng cho vợ một khoảng không hề nhỏ
Có nhà nghiên cứu đã đánh giá rằng có lẽ sau Tú Xương chỉ có Nguyễn Duy viết về vợ nhiều và xúc động đến thế Vợ đã trở thành một “cõi về” đặc biệt
của Nguyễn Duy Đường về Nguyễn Duy không chỉ là tìm đến những người
thân yêu như một chốn bình yên Hơn thế đường về là một cuộc hành trình
tìm lại chính mình, khẳng định lại lý tưởng của mình Về là thú nhận những sai lầm đã mắc, là khẳng định lại những quan điểm sống của riêng mình:
Cứ chìm nổi với đám đông Riêng ta xác định ta không là gì [13,5]
(Bao cấp thơ)
Về với Nguyễn Duy còn là tìm về với những kỉ niệm tuổi học trò tươi đẹp với tà áo trắng bay thấp thoáng đâu đây, với Kính gửi tuổi học trò “đẹp tới không đâu vào đâu”:
Học trò con trai ma quỷ Học trò con gái thần tiên [13, 10]
(Kính gửi tuổi học trò)
Về còn là đối diện với thực tại với cuộc sống xô bồ, với tuổi già, với sự
cô độc của tâm hồn thi sĩ Nhưng Về cũng là quay lại với những gì gắn bó yêu
thương nhất, với chính tâm hồn và tình yêu của mình
Hành trình thơ của Nguyễn Duy cũng như hành trình của bất kì nghệ sĩ nào đều phải đi qua những thăng trầm để chín dần lên, trưởng thành hơn về phong cách Nguyễn Duy đã đi từ cái đơn sơ mộc mạc, từ làng quê thân thương của mình, điểm trở về có thể vẫn vậy về hình thức nhưng thực tế lại là
sự phát triển hơn nâng cao hơn Trong hành trình thơ, hành trình sáng tạo
Trang 27Nguyễn Duy đã phải tự mình vượt qua những khó khăn thử thách, tự mình đấu tranh với chính mình, luôn tìm tòi sáng tạo để hành trình thơ được đầy đặn và không lặp lại Với một quan niệm thơ, một đường hướng đứng đắn ngay từ đầu, Nguyễn Duy đã tự tin đi trọn vẹn hành trình nhọc nhằn của mình Hành trình đó còn là hành trình để nhà thơ tự nhận diện, tìm tòi và thấu đáo cái tôi của chính mình Và Nguyễn Duy đã có một hành trình ý nghĩa, trọn vẹn Nhìn lại tên các tập thơ chúng ta nhận ra rằng tập thơ đầu tay của
Nguyễn Duy là Cát trắng, tập thơ kết thúc (như lời nhà thơ tuyên bố năm 1997) là Bụi Qua đó, chúng ta có thể nhận ra nhiều điều Nguyễn Duy đã đi
từ “xó bếp” đến “thế giới”, đã từ “cát” để trở về làm hạt “bụi” Đó vừa là một hành trình hướng ra bên ngoài ngày càng rộng mở và bao dung lại cũng là hành trình hướng vào bên trong ngày một thấu đáo và tinh tế Hành trình của Nguyễn Duy vì thế đã giúp chính ông tìm thấy cái tôi của mình một cách trọn vẹn và sâu sắc nhất
Như vậy hành trình thơ của Nguyễn Duy có những quãng khác nhau, những nhánh rẽ khác nhau song luôn thống nhất Bởi trong cuội nguồn tâm thức, Nguyễn Duy đã xác định cho mình một hướng đi ấy, với kim chỉ nam
ấy, để mỗi bước ông đi dẫu đường xa hay gần đều dẫn về với nhân dân, với cái mộc mạc, giản dị và đời thường Ngay cả sau nay khi ông quyết định dừng việc sáng tác để làm một mảng nghệ thuật khác thì cái chất Nguyễn Duy vẫn không bao giờ thay đổi Ông muốn mang những thứ đơn sơ nhất, dân tộc nhất để chinh phục thế giới này Càng hiện đại thơ Nguyễn Duy càng dân tộc
Trong một bài phỏng vấn, Nguyễn Duy đã chia sẻ: Tôi sinh ra ở nông thôn,
làm ruộng từ bé, đằm mình trong đất cát, rơm rạ, cua ốc và ngôn ngữ nhà quê Lớn lên thì đi lang thang nhiều nơi Nhưng cái thần hồn của làng quê trong tôi nó cứ nhập vào như lên đồng Có lẽ “thần hồn” ấy là chất kết dính
Trang 28cho mọi hành trình của Nguyễn Duy đù đi tới đâu, làm việc gì cũng luôn thống nhất về quan điểm, vẫn mang những đặc trưng riêng có
1.2.2 Khái quát về phong cách thơ Nguyễn Duy
Phong cách nghệ thuật của một người nghệ sĩ là một yếu tố quan trọng đánh giá thành công của người nghệ sĩ ấy trên con đường lao động nghệ thuật của mình Một nghệ sĩ thành công không thể không có một phong cách riêng, định hình tên tuổi, cá tính của mình trong lòng người thưởng thức Phong
cách nghệ thuật được hiểu là một phạm trù thẩm mĩ chỉ sự thống nhất tương đối của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nó toát lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn [21,255] Như vậy,
muốn có phong cách, cá tính sáng tạo của nhà văn phải được thể hiện một cách rõ ràng, có hệ thống qua nhiều tác phẩm tạo thành một đặc trưng nổi bật trong sáng tác Nó phải có nét riêng biệt, sự độc đáo của riêng người cầm bút không thể trộn lẫn với bất cứ tác giả nào khác Vì vậy không phải nhà văn nào cũng tạo dựng được phong cách cá nhân cho riêng mình
Nguyễn Duy có phong cách thơ khá độc đáo mang dấu ấn riêng của ông Thơ Nguyễn Duy có sự kết hợp hài hòa giữa cái duyên dáng trữ tình với chất thế sự đậm đặc, nhiều bài thơ là tiếng nói khẳng khái, bộc trực, đầy ngang tàng mà trầm tĩnh, giàu chiêm nghiệm và mang tinh thần công dân sâu sắc Trong khuôn khổ của luận văn chúng tôi không có tham vọng làm rõ được các nét nổi bật trong phong cách thơ Nguyễn Duy Chúng tôi chỉ tóm lược một cách khái quát các đặc điểm đã làm nên sự khác biệt trong thơ Nguyễn Duy, ghi dấu về hình ảnh nhà thơ trong lòng độc giả
Thứ nhất phong cách thơ Nguyễn Duy mang đậm bản sắc dân tộc Đặc điểm này có thể coi là một trong những đặc điểm cốt lõi Ngay từ đầu, dù chưa chính thức tuyên bố nhưng Nguyễn Duy dường như đã đầy bản năng mà hướng tới cái chân lý riêng của đời mình “ta là dân vậy thì ta tồn tại” Trong
Trang 29một cảm hứng và quan niệm nghệ thuật như vậy, thơ Nguyễn Duy trước tiên
là sự dung dị, hướng tới đời sống của nhân dân, của đất nước bằng những điều gần gũi đời thường Tính dân tộc được thể hiện trong thơ Nguyễn Duy trước tiên ở hệ thống đề tài và cảm hứng nghệ thuật Cảm hứng về quê hương trong thơ Nguyễn Duy là một nguồn mạch khá mạnh và xuyên suốt Dường như mảnh đất Thanh Hóa với những kí ức tuổi thơ là những gì quý báu nuôi dưỡng tâm hồn nhà thơ, trở thành một phần máu thịt và tuôn trào trong thơ một cách tự nhiên như hơi thở Đó là dòng sông Mẹ:
Từ dòng sống ấy tôi đi
giọt nước từ nguồn ra biển cả mát suốt đời tôi gió nồm sông Mạ
mẹ và em sinh thành ở đó quê nhà và tình yêu của tôi [13, 25]
Dòng sông ấy dường như còn theo nhà thơ đi mãi, là một tình yêu không ngừng chảy theo năm tháng Ở đó có những ngày tuổi thơ gian khó, có những người thân thương Quê hương trong thơ Nguyễn Duy còn là bà và mẹ, những dáng hình của ấm áp yêu thương Quê hương bỗng chốc không còn là những gì trừu tượng mà là nơi bắt đầu và kết thúc của mỗi con người
Nơi ấy Nhá nhem giữa quên và nhớ Đỉnh núi hiện lên bóng bà và mẹ Mây chiều hôm gánh gạo đưa ta Tất tưởi đường xa cầu vồng ráng đỏ [13,17]
(Xó bếp)
Nơi ấy chỉ là xó bếp với nồi cơm nguội, với món ngô khoai, với nồi râu tôm ruột bầu, với rạ rơm, bồ hóng… Nhưng nơi ấy lại là linh hồn, là chỗ dựa
Trang 30cho ta trên mỗi ngả đường đời Nguyễn Duy gắn hình ảnh quê hương với hình ảnh của gia đình, của những kí ức tuổi thơ và vì thế mà quê hương hiện lên cụ thể, chân thực, giàu cảm xúc Quê hương là bóng bà, bóng mẹ, bóng cha,… là những câu chuyện cụ thể của một phần đời người đã qua Quê hương vì thế là một mối tình không dứt, một mối tình thủy chung trọn đời Làm sao có thể quên:
Ta mơ mộng ở trên đời
Để cha cuốc đất một đời không quên [13, 322]
(Về làng)
Không chỉ gắn bó với quê hương, không chỉ mang tình yêu sâu nặng với mảnh đất Thanh Hóa, Nguyễn Duy còn dành tình cảm của mình cho những mảnh đất ông từng đi qua Đó là những bài thơ viết theo chân những hành trình của nhà thơ rong ruổi trên khắp mọi miền tổ quốc Đó là nỗi đau đáu với nàng Tô Thị trên núi Vọng Phu của Lạng Sơn, là tình cảm với chiến trường xưa, với Đồng Đăng, Kỳ Lừa, là tình yêu với dòng sông Thao của mảnh đất trung du, là tình yêu với thủ đô Hà Nội, là Huế với niềm cảm xúc dâng trào, là những dải đất Miền trung nắng gió, là Nha Trang, Đà Lạt mộng mơ… Và cả Mũi Cà Mau tận cùng của tổ quốc cũng được Nguyễn Duy khám phá với một vẻ đẹp riêng Có thể nói hình ảnh thiên nhiên, đất trời, con người của mọi miền tổ quốc đã đi vào thơ Nguyễn Duy với những nét riêng độc đáo
Không chỉ viết về những miền đất đã đi qua, Nguyễn Duy còn viết về nhân dân, về những người lính
Xin tới cùng tôi chung mái nhà ấm áp Cùng tôi hát lên lời thơ này
Cái lớn lao còn lại hôm nay
Là nguyên vẹn Nhân dân
Tổ quốc [13, 99]
(Tìm nhân dân)
Trang 31Với nhân dân nhiều khi đó là sự đồng cảm, thấu hiểu và thương xót khôn nguôi:
Bà con mất bữa nhiều không?
Những ai bị gậy phiêu bồng chân mây Bóng ai lẻo khoẻo hình cây
Căm căm gió bấc thế này làm sao?[13, 55]
(Dân ơi)
Nguyễn Duy không tách mình khỏi nhân dân, ông tự coi mình là một phần trong đó Vì thế cái nhìn của Nguyễn Duy về nhân dân là cái nhìn của người trong cuộc, có yêu kính tự hào mà cũng có đồng cảm thương xót Nhân dân vì thế đã trở thành một nguồn cảm hứng lớn trong thơ Nguyễn Duy Nhân dân là gốc rễ, là mái nhà cả đời bao bọc chở che cho tác giả:
Thương ai dỡ những mái nghèo Dựng căn hầm vẫn dựng theo dáng nhà Nhà dân che nắng mưa sa
Chắn che cái chết cũng là nhà dân [13, 36]
(Hầm chữ A)
Cũng giống như nhiều nhà thơ khác khi viết về nhân dân thường chọn một hình tượng mang tính khái quát là hình tượng người mẹ nhân dân Nguyễn Duy không xây dựng hình ảnh một người mẹ vĩ đại Trong cảm thức của mình, với nhà thơ, mẹ là chỗ ấm áp, bao bọc trở che bình dị như chính cuộc sống đời thường của nhân dân vậy:
Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm
Bà mẹ đón tôi trong gió đêm Nhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ
Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm [13, 15]
(Hơi ấm ổ rơm)
Trang 32Viết về người lính, Nguyễn Duy viết về chính mình và đồng đội của mình, không phải là ánh hào quan rạng rỡ, không phải là lời ngợi ca hô hào Hình ảnh người lính là hiện thực đau thương nhưng được viết bằng tâm thế nhẹ nhõm của một người trong cuộc, sẵn lòng đón nhận những cam go của bom đạn chiến tranh:
Sốt cơn ác tính chín da Chiều sau lẳng lặng bạn qua đời rồi Đung đưa cánh võng không người Treo trong không khí một lời dở dang [13, 73]
(Người đang yêu)
Cũng có khi đó là hình ảnh oai hùng của bước chân những người chiến thắng, nhưng đọng lại vẫn là hình ảnh người lính gần gũi với vẻ đẹp tâm hồn của những chàng trai trẻ nhiều nhiệt huyết, say mê, sẵn lòng hiến dâng tuổi thanh xuân cho tổ quốc
Có thể nói cảm hứng về quê hương đất nước đã trở thành một trong những nguồn cảm hứng chính trong thơ Nguyễn Duy Bên cạnh đó tính dân tộc còn được thể hiện qua nghệ thuật biểu hiện của thơ ông Nguyễn Duy sử dụng khá nhuần nhuyễn thể thơ lục bát dân tộc Không chỉ sử dụng mà nhà thơ còn sử dụng một cách sáng tạo, với thể lục bát biến thể tạo nên dấu ấn riêng của Nguyễn Duy trong thể thơ này Ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duy cũng gần gũi với lời ăn tiếng nói, với các chất liệu của văn học, văn hóa dân gian, làm nên một gam màu riêng cho phong cách thơ ông
Thơ Nguyễn Duy ngoài tính dân tộc còn mang tính hiện đại Nguyễn Duy có sự sáng tạo trong việc sử dụng các hình ảnh, đưa các hình ảnh của hiện thực đời sống vào thơ mà không thô ráp Thơ ông vì thế mang hơi thơ cuộc sống, tự nhiên chân thực Mặt khác ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duy cũng là ngôn ngữ hiện đại, với nhiều sáng tạo độc đáo
Trang 33Bên cạnh đó phong cách thơ Nguyễn Duy còn được thể hiện ở tính chiêm nghiệm, triết lý đầy trải nghiệm của cái tôi trữ tình Những suy tư về cuộc đời, về nhân dân, về đất nước được Nguyễn Duy chuyển tải một cách uyển chuyển và sâu sắc trong thơ của mình
Những đặc điểm sau của phong cách Nguyễn Duy sẽ được chúng tôi đi sâu phân tích ở những phần sau của luận văn nên ở phần này chúng tôi không
đi sâu vào tái hiện lại Ở đây chúng tôi cũng chưa thể chỉ ra cụ thể và chi tiết phong cách nghệ thuật của một nhà thơ lớn Chúng tôi chỉ điểm những nét lớn làm nên phong cách thơ Nguyễn Duy để từ đó làm tiền đề cho những tiếp cận
ở phần sau của luận văn Thông qua khảo sát của mình, chúng tôi nhận thấy thơ Nguyễn Duy có một phong cách định hình xuyên suốt hành trình sáng tác của nhà thơ Có những biểu hiện cụ thể khác nhau, đa dạng nhiều màu sắc nhưng lại thống nhất và ổn định trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Duy Phong cách thơ Nguyễn Duy làm nên một gương mặt thơ riêng giữa rất nhiều những nhà thơ cùng thế hệ nhà thơ chống Mỹ Thơ Nguyễn Duy nếu chỉ là thơ lục bát, nếu chỉ là cái hồn “chân quê” có thể sẽ chỉ là một Nguyễn Bính thứ hai Thơ Nguyễn Duy nếu chỉ có chiến tranh, nếu chỉ có chiêm nghiệm có thể sẽ lẫn vào vô vàn những nhà thơ của kháng chiến chống Mỹ Nguyễn Duy
có một nẻo riêng, một đường riêng của mình để tìm được cho mình một chỗ đứng riêng trong thơ ca hiện đại Phong cách có được đâu chỉ ở tài năng mà hơn thế nó phải là một thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc và hết mình của một người nghệ sĩ chân chính
Tiểu kết
Như vậy ở chương 1 chúng tôi đi vào làm rõ khái niệm cái tôi và cái tôi trữ tình trong thơ Trong đó đặc biệt nhấn mạnh về cái tôi trữ tình trong thơ như một chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên những đặc trưng thơ của tác giả Cái tôi trữ tình có sự thay đổi theo thời gian, lịch sử
Trang 34nhưng nhìn chung đều là hình ảnh của cái tôi tác giả phản chiếu trong văn chương nghệ thuật Nó thể hiện cảm xúc, nhân sinh quan của nhà thơ nhưng không hoàn toàn trùng lặp với cái tôi đời thực của nhà thơ
Ở chương 1 chúng tôi còn điểm lại hành trình sáng tác hơn 40 năm của Nguyễn Duy với những chặng đường riêng mang dấu ấn riêng Khối lượng tác phẩm Nguyễn Duy để lại không phải là nhỏ cho thấy một quá trình lao động nghiêm túc Đồng thời cũng giống như nhiều nhà thơ khác đi qua những năm tháng chiến tranh thơ Nguyễn Duy cũng có những bước chuyển mình theo lịch sử dân tộc, từ cuộc chiến tới hậu chiến rồi đổi mới là những dấu mốc không nhỏ trong đời sống xã hội, dân tộc và cũng là những dấu mốc trong chặng đường sáng tác của Nguyễn Duy Hành trình của Nguyễn Duy vừa là hành trình hướng ngoại, tìm đến thế giới rộng lớn vừa là hành trình hướng nội
để tìm tới chính mình Đó là một hành trình dài và đủ đầy ý nghĩa
Dù ở chặng đường nào thì thơ Nguyễn Duy vẫn thống nhất trong một phong cách chung, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa dân dã lại vừa nhiều chiêm nghiệm suy tư Có lẽ vì vậy mà Nguyễn Duy
đã tạo dựng lên một “thương hiệu” thơ riêng cho mình Cho nên ngay cả khi ông tuyên bố dừng bút thì con đường mới ông đi cũng vẫn là con đường độc đáo mang màu sắc cá tính Nguyễn Duy
Trang 35Chương 2 CÁI TÔI TRỮ TÌNH ĐA DIỆN, SÂU SẮC VÀ ĐỘC ĐÁO
TRONG THƠ NGUYỄN DUY
Thơ là thế giới của xúc cảm, gắn liền với nội tâm của người làm thơ và cũng tác động tới thế giới nội tâm của người đọc thơ Thơ phản ánh thế giới khách quan không phải bằng sự kiện mà bằng cảm xúc Và vì vậy thơ mang tính chủ quan hơn các thể loại khác Nếu thơ không còn cảm xúc cũng có nghĩa là không còn thơ Cảm xúc được thể hiện thông qua một nhân vật, một cái tôi nội tại Đó chính là cái tôi trữ tình, nhân vật trữ tình trong thơ Thơ có
thể có nhân vật như ông Đồ trong bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên, như cô hàng xén răng đen trong Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, như cô gái trong Chân quê của Nguyễn Bính,… nhưng nhân vật không phải là cái tôi trữ
tình, cái tôi chủ thể trong thơ Cái tôi trữ tình không hiện hữu trong một hình hài cụ thể, không có tên gọi hay nhiều khi chẳng có danh xưng nhưng lại chi phối các yếu tố cấu thành tác phẩm
Mỗi nhà thơ có một diện mạo cái tôi trữ tình riêng Cụ thể hơn thì mỗi bài thơ cũng có một cái tôi trữ tình khác biệt Tuy không thể đồng nhất giữa cái tôi trữ tình và cái tôi thi sĩ nhưng cũng không thể tách biệt rạch ròi mà không nhìn ra sự tương tác qua lại, sự giao thoa của hai đối tượng này với nhau Cái tôi trữ tình cũng không thể tách rời khỏi những thành tố khác của tác phẩm Nó vừa là yếu tố biểu hiện cho phong cách, quan điểm nghệ thuật của nhà văn vừa là yếu tố chi phối đến các phương thức nghệ thuật biểu hiện của tác phẩm
Tìm hiểu về thơ Nguyễn Duy, có nhiều đánh giá nhận xét khác nhau Chúng tôi đặc biệt đánh giá cao bài viết của nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn
Nguyễn duy thi sĩ thảo dân Chu Văn Sơn đã gọi ra được cái chất riêng của
Trang 36Nguyễn Duy gói gọn trong cụm từ “thi sĩ thảo dân”, chỉ ra được chất “thảo dân” từ quan điểm nghệ thuật, đến xây dựng hình tượng, từ xúc cảm đến quan niệm về cái đẹp, từ nội dung tới hình thức thể hiện Trong bài viết, chúng tôi còn đặc biệt chú ý tới một phát hiện của nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn về hình tượng trong thơ Nguyễn Duy Đó là hai bản tướng thống nhất trong một hình hài Đó là thảo dân khoác áo lính và thi nhân trong kiếp thảo dân Dù là khoác
áo lính, hay là một thi nhân thì chất thảo dân theo Chu Văn Sơn vẫn là cốt lõi Chúng tôi, trong quá trình khảo sát của mình, cũng nhận thấy cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy đi theo hai hướng ấy: cái tôi chiến sĩ với trách nhiệm của một công dân và cái tôi cá nhân, đời thường với nhiều cung bậc cảm xúc của thế sự đời tư Nhưng nét chung là dù hiện diện như một người lính mang cái tôi công dân hay như một thi sĩ mang cái tôi cá nhân thì bản chất Nguyễn
Duy vẫn là một thi sĩ thảo dân mang cái chất dân dã, mang cái hồn của nhân
dân vào thơ ca của mình Đồng thời giữa hai hình tượng này cũng không có
sự tách bạch hoàn toàn mà có những chỗ giao hòa với nhau, tạo nên tính đa dạng mà thống nhất trong một chỉnh thể nghệ thuật chung
2.1 Cái tôi chiến sĩ, cái tôi công dân
Nguyễn Duy cũng nhiều văn nghệ sĩ cùng thời có một tư cách kép: nghệ sĩ – chiến sĩ trong hành trình sáng tạo của mình Năm 1966, chàng trai
22 tuổi lên đường nhập ngũ Nguyễn Duy không phải là anh lính ở tuyến sau, không phải là anh lính hậu cần hay văn hóa Ông trực tiếp tham gia chiến đấu trên những mặt trận ác liệt nhất lúc bấy giờ Trường hợp của Nguyễn Duy không phải là hi hữu, rất nhiều các nhà thơ cùng thế hệ với ông là những người tay cầm bút, tay cầm súng Cái tôi chiến sĩ, cái tôi công dân cũng ra đời trên cơ sở đó Nguyễn Duy không đến với binh nghiệp như một con đường để phấn đấu, ông cũng không khoác cho con đường mình đi một cái áo lý tưởng thùng thình Với Nguyễn Duy đơn giản việc cầm súng là việc phải làm của
Trang 37một công dân trước cơn can qua của dân tộc Đó là một thứ nhiệm vụ, một thứ trách nhiệm thiêng liêng của một con người có ý thức với quê hương đất nước Vì thế Nguyễn Duy viết về cuộc chiến như viết về cuộc sống của chính mình, như những gì mình đã trải qua, như tất cả những yêu thương ông dành cho dân tộc
Cái tôi chiến sĩ, cái tôi công dân vốn không phải là cái tôi xa lạ đối với văn học thời chiến và cả thời kỳ đầu hậu chiến nhưng ở Nguyễn Duy nó có nét riêng, nét cá biệt so với những nghệ sĩ – chiến sĩ cùng thời
2.1.1 Cái tôi có sức chiến đấu cao khỏe khoắn, lạc quan, giàu kinh nghiệm thực tế chiến trường
Trong văn học hiện đại, chúng ta có cả một dòng thơ kháng chiến viết
về người lính với đầy đủ các cung bậc, các trạng thái cảm xúc khác nhau Những người lính có thể giản dị đơn sơ:
Áo anh rách vai Quần tôi có hai miếng vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay Đêm này rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo
(Đồng chí – Chính Hữu)
Có thể là người lính hào hoa, hào hùng trong thơ Quang Dũng:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
(Tây Tiến – Quang Dũng)
Trang 38Đó là những người lính ra trận với niềm vui phơi phới, niềm lạc quan
căng tràn, những chàng trai là Thạch Sanh của thế kỉ XX Ở họ ta thấy một
sức trẻ, họ bước vào trận đánh như một lẽ tự nhiên:
Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai
(Theo chân Bác – Tố Hữu)
Và người lính dù ở mặt trận nào, trước đạn bom ra sao, ra đi từ miền quê nào của tổ quốc vẫn là những con người trẻ tuổi trẻ lòng, những con người với lứa tuổi đẹp nhất nguyện hiến dâng tất cả cho đất nước quê hương
Ở họ sức trẻ, sự hồn nhiên vô tư luôn tuôn trào:
Những anh lính trẻ măng tơ Nghêu ngao gõ bát hát chờ cơm sôi
(Nước non ngàn dặm – Tố Hữu)
Họ chính là những người đã làm nên lịch sử, làm nên dáng đứng Việt Nam:
Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ Anh chẳng để lại gì cho riêng anh trước lúc lên đường Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ
Anh là chiến sĩ giải phóng quân Tên anh đã thành tên đất nước
Ôi anh giải phóng quân ơi
Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân
(Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân)
Ở họ tình yêu riêng hòa trong tình yêu chung:
Anh lên xe trời đổ cơn mưa Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ Anh xuống núi nắng về rực rỡ Cái nhành cây gạt mối riêng tư (Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây – Phạm Tiến Duật)
Trang 39Điểm lại hình ảnh người lính trong thơ kháng chiến chống Pháp hay thơ kháng chiến chống Mỹ để nhận ra rằng đây là một hình tượng đẹp, mang phẩm chất tiêu biểu cho một thế hệ trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt của đất nước Nhìn lại, có thể thấy những tên tuổi từ Chính Hữu, Nguyên Hồng, Quang Dũng, đến Tố Hữu, Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Mỹ, đều
là những nhà thơ chiến sĩ Hình ảnh người lính trong thơ họ gắn với cái tôi công dân, cái tôi trách nhiệm, cái tôi chiến sĩ của chính tác giả Và ít nhiều những cái tôi chiến sĩ đó đều có nét chung có sự gặp gỡ Cái tôi chiến sĩ trong thơ của Nguyễn Duy không phải là ngoại lệ Cái tôi đó cũng mang dáng vẻ của tuổi hai mươi, khỏe khoắn lạc quan, căng tràn sức sống
Khi ấy Đời tôi là tia nắng mai Lòng tôi là trang giấy mới Hồn tôi là cơn gió thổi
(Trống giục – Cát trắng)
Đó là những người con trai:
Ở đây có những người con Mang theo cái nõn nòn non lên rừng Nhìn xanh xanh trập xanh trùng Càng ngày càng nhớ quá chừng màu xanh [13, 70]
(Người con trai)
Và những người con gái:
Tuổi mười tám tuổi đôi mươi Ngực tròn căng sức lực thời thanh niên Tròn lay láy những mắt huyền
Buổi đầu ngơ ngác lặng nhìn Trường Sơn [13, 71]
(Người con gái)
Trang 40Cái tôi trữ tình đã thể hiện rõ lứa tuổi hai mươi của mình, tươi mới căng tràn sức sống, trẻ trung và khỏe khoắn Tâm hồn đó giống như tia nắng, giống như cơn gió, giống như tờ giấy trắng tinh khôi, mang theo bao hoài vọng lý tưởng Nếu tinh ý bạn đọc sẽ không thấy cái háo hức của người lính khi ra trận trong thơ Nguyễn Duy Bởi khác với nhiều nhà thơ chiến sĩ cùng thời thơ Nguyễn Duy có nét già hơn Cái tôi trữ tình sâu lắng hơn, không khí
ra trận được gợi ra có tươi trẻ, có sức sống nhưng không nặng cái không khí ngợi ca, háo hức đến gồng mình
Cái tôi trữ tình của Nguyễn Duy có những trải nghiệm của riêng mình,
có những kinh nghiệm của chiến trường nên từ sâu trong bản lĩnh có nét gì bình thản, ung dung Qua kí ức của cái tôi trữ tình đó gương mặt chiến tranh
và những năm tháng bom lửa được gợi lại chân thực Đó là những con văt rừng giữa mùa hành quân:
Cũng liền thịt cũng liền da
Tự nhiên con vắt thành ra bạn đường
Ta mê mải vượt núi non Còn anh bạn vắt căng tròn no say [13, 74]
(Con vắt)
Hiện thực chiến tranh với cuộc sống ở rừng không chỉ là thiếu thốn, không chỉ là hiểm nguy từ bom đạn của kẻ thù mà nhiều khi từ những điều nhỏ bé như một con vắt rừng lại được tái hiện Giọng thơ có cái từng trải, có những kinh nghiệm thực tế mà phải người đã trải qua mới thấu nhưng lại được kể lại bằng một giọng điệu nhẹ nhàng và hài hước Dường như cái tôi trữ tình đã vượt ngoài cái tuổi đôi mươi của mình, vượt qua cái ngỡ ngàng khi vừa đặt chân tới dải núi Trường Sơn để mà gợi lại hiện thực một cách dung dị đến thế
Hiện thực chiến tranh còn là những trận sốt rét: