cuộc đời, là tiếng nói của một cây bút có trách nhiệm trước cuộc sống xây dựng và chiến đấu sôi động trên đất nước ta những năm qua” [13,158].Trong bài Hoa trên đá và Ánh trăng đăng trên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
LÊ THỊ THU HƯƠNG
HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ
NGUYỄN DUY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
LÊ THỊ THU HƯƠNG
HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ
NGUYỄN DUY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
ThS LÊ KIM NHUNG
Hà Nội – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng kính trọng, biết
ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới ThS Lê Kim Nhung người đã tận tình
chỉ bảo, hướng dẫn em trong quá trình học tập, nghiên cứu
Em xin trân trọng cảm ơn các quý Thầy Cô trong tổ Ngôn ngữ khoa Ngữ văn
đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả khóa luận
Lê Thị Thu Hương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của ThS Lê Kim Nhung Khóa luận với đề tài Hiệu quả nghệ thuật
của từ láy trong thơ Nguyễn Duy chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình
nghiên cứu nào khác Nếu có gì sai phạm, người viết sẽ chịu mọi hình thức kỷ luậttheo đúng quy định của việc nghiên cứu khoa học
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả khóa luận
Lê Thị Thu Hương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Đối tượng nghiên cứu 6
5 Phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Bố cục của khóa luận 7
NỘI DUNG 8
Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.1 Từ láy 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Đặc điểm của từ láy tiếng Việt 9
1.1.2.1 Đặc điểm cấu tạo 9
1.1.2.2 Đặc điểm ý nghĩa 9
1.1.3 Phân loại từ láy 12
1.1.3.1 Từ láy đôi 12
1.1.3.2 Từ láy ba 13
1.1.3.3 Từ láy tư 14
1.1.4 Khả năng kết hợp của từ láy 15
1.1.5 Hiệu quả của việc sử dụng từ láy 16
1.2 Tác giả Nguyễn Duy 19
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp 19
1.2.2 Phong cách nghệ thuật 20
Chương 2.TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY 24
2.1 Kết quả khảo sát thống kê ngữ liệu 24
2.2 Nhận xét kết quả thống kê 24
2.2.1 Nhận xét kết quả thống kê theo từng tiểu loại từ láy 24
Trang 62.2.2 Nhận xét kết quả thống kê theo thể thơ 25
2.2.2.1 Thể thơ lục bát 25
2.2.2.2 Thể thơ tự do 26
2.2.2.3 Thể thơ ngũ ngôn 27
2.3 Hiệu quả nghệ thuật của từ láy trong thơ Nguyễn Duy 27
2.3.1 Phản ánh sinh động hiện thực cuộc sống và thời đại 28
2.3.1.1 Tái hiện hiện thực cuộc kháng chiến chống Mĩ anh hùng của dân tộc 28
2.3.1.2 Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người trên mọi miền đất nước 31
2.3.2 Thể hiện tâm trạng, cảm xúc của tác giả 35
2.3.2.1 Ngợi ca những vẻ đẹp đơn sơ, bình dị của quê hương đất nước 35
2.3.2.2 Cảm thông da diết với cuộc sống vất vả và lam lũ của người dân 38
2.3.2.3 Mạnh mẽ, táo bạo, tỉnh táo phơi bày những bất cập của xã hội đương thời trong thời kì đổi mới 41
2.4 Sáng tạo của Nguyễn Duy trong việc sử dụng từ láy 47
2.4.1 Thành công trong việc sử dụng từ láy khẩu ngữ 47
2.4.2 Sáng tạo trong sử dụng từ láy ba, láy tư 48
2.4.3 Độc đáo trong cách kết hợp 50
KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 71 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
- Từ láy là lớp từ thuần Việt xuất hiện trong mọi mặt của đời sống ngôn ngữ,
từ lời ăn tiếng nói hằng ngày cho đến ngôn ngữ văn chương Từ láy mang trongmình những đặc trưng có tính chất loại hình của tiếng Việt cũng như các ngôn ngữđơn lập khác ở phương Đông Láy là một hiện tượng đặc trưng cho loại hình ngônngữ đơn lập mà không phải ngôn ngữ nào trên thế giới cũng có Tác giả Đỗ Hữu
Châu khẳng định: “Láy là một phương thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt” Từ một
hình vị gốc (hình vị cơ sở) chúng ta có thể tạo ra nhiều từ mới có sắc thái ý nghĩakhác nhau Đây là một phương thức tạo từ đóng vai trò quan trọng, góp phần làmphong phú thêm vốn từ của tiếng Việt
Chính vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về từ láy trên nhiều bìnhdiện: cấu tạo, ngữ âm, phong cách Tuy nhiên các công trình nghiên cứu mới chỉdừng lại ở việc nghiên cứu hàn lâm về từ láy mà chưa thấy được sự phát triển cũngnhư hiệu quả của từ láy trong thực tế sử dụng Vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu hiệuquả của việc sử dụng từ láy trong các tác phẩm văn học là rất cần thiết
- Nguyễn Duy là nhà thơ xuất hiện vào chặng cuối của cuộc kháng chiếnchống Mĩ cứu nước Cũng từ đó ông trở thành gương mặt tiêu biểu cho lớp nhà thơtrẻ thời chống Mĩ Cho đến nay, Nguyễn Duy vẫn là một trong số những nhà thơ
“thời ấy” còn sung sức và được bạn đọc yêu thích Có thể thấy tài năng và conđường thơ của ông được phát triển và khẳng định gắn chặt với những năm thángđầy biến động của lịch sử dân tộc
Thơ Nguyễn Duy đã được chọn đưa vào chương trình giảng văn ở bậc phổthông, giới thiệu ra nước ngoài, đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn họcđánh giá, công bố trên các báo chuyên ngành, được công chúng yêu thơ đọc và bìnhphẩm Vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong thơNguyễn Duy không chỉ có ý nghĩa trong việc khẳng định phong cách cá nhân củamột nhà thơ lớn, mà còn cần thiết trong việc chuẩn bị, tích lũy kiến thức cho việcgiảng dạy văn học và tiếng Việt sau này ở phổ thông
Trang 8Từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn như trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Hiệu quả nghệ thuật của từ láy trong thơ Nguyễn Duy”
2 Lịch sử vấn đề
Xuất hiện trên thi đàn Việt Nam những năm bảy mươi, Nguyễn Duy gây ấntượng với người đọc bởi vẻ mới lạ và tinh tế mà ông mang đến cho thơ hiện đại.Trong thời điểm đó, nhà phê bình Hoài Thanh là người có công phát hiện và giớithiệu thơ Nguyễn Duy tới bạn đọc Trải qua những thăng trầm và biến cố trong lịch
sử cũng như văn học, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học lại càng mở rộng hướngtiếp cận thơ Nguyễn Duy trên nhiều phương diện Nhìn chung, các tài liệu nghiêncứu đã đi vào tìm hiểu nội dung và nghệ thuật thơ ông ở những mức độ khác nhau.Tài liệu nghiên cứu, phê bình nhận xét, đánh giá về thơ Nguyễn Duy có thể chíalàm bốn nhóm: một là, loại bài tìm hiểu những bài thơ, tập thơ tiêu biểu; hai là, loạibài nghiên cứu khái quát thơ Nguyễn Duy; ba là, những bài phát biểu trả lời phỏngvấn của chính nhà thơ về tác phẩm của mình; bốn là, một số luận văn nghiên cứu vềthơ Nguyễn Duy
Tuy nhiên trong khóa luận này, chúng tôi phân chia các nhóm ý kiến theo haihướng tiếp cận chính: hướng tiếp cận về nội dung và hướng tiếp cận về nghệ thuật
2.1 Hướng tiếp cận về nội dung
- Có thể nói, người có công đầu tiên trong việc phát hiện, nghiên cứu thơ
Nguyễn Duy là Hoài Thanh Trong bài viết Đọc một số bài thơ của Nguyễn Duy (Báo Văn nghệ số 444/1972), ông khẳng định: “Thơ Nguyễn Duy đưa ta về một thế
giới quen thuộc…Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời cần cù gian khổ, không tuổi không tên…Đọc thơ Nguyễn Duy, thấy anh thường hay cảm xúc, suy nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình…”.
Trong bài Đi tìm tiềm lực trong thơ nguyễn Duy, in trong phụ lục tập thơ Mẹ và
em, Nguyễn Quang Sáng nhận định: “Ngoài mảng thơ về đề tài chiến trận, thơ Nguyễn Duy chủ yếu dành cho những đề tài muôn thuở: tình yêu, con người và đất
Trang 9nước quê hương…Trong thơ Nguyễn Duy có hầu hết gương mặt các miền đất với những cảnh sắc, thần thái riêng” [14,91]
- Nghiên cứu, bình phẩm về thơ Nguyễn Duy, các tác giả đã phát hiện những
nét riêng độc đáo đối với từng tác phẩm của ông Trong Đò Lèn, Trịnh Thanh Sơn cho là “những thước phim quay chậm” về nỗi gian truân của người bà, khiến độc giả “chỉ đọc thôi đã muốn trào nước mắt” [15,14] Trong Ánh trăng, Nguyễn Bùi Vợi đã cảm “nỗi ăn năn nhân bản, thức tỉnh tâm linh, làm đẹp con người” [20,7].
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa “đã động thấu đến những tình cảm thiêng liêng nhất, sâu
xa nhất và thân thương nhất của chúng ta – tình cảm đối với mẹ” (Đặng Hiển)
[12,34] Còn Lê Trí Viễn khi nói về Tre Việt Nam đã khẳng định đó là những biểu hiện của “phẩm chất con người” [8,289] Có thể thấy rằng các bài nghiên cứu đã
chỉ ra cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Duy xuất phát từ sự trân trọng, yêuthương, phát hiện ra vẻ đẹp của con người Việt Nam trong những hoàn cảnh khókhăn, gian khổ đặc biệt là những gian khổ thấm đẫm mồ hôi, máu và nước mắt củanhân dân
- Đặc biệt, tập thơ Ánh Trăng được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình chú ý Đánh giá về tập thơ này, Từ Sơn viết: “Tám mươi bài thơ chọn in trong hai tập Cát
trắng và Ánh trăng chiếm số lượng lớn vẫn là những bài thơ về người lính, về những điều đã cảm nhận trên các nẻo đường chiến tranh…Nguyễn Duy đã đi nhiều nơi, đã tiếp xúc với nhiều người Bao giờ anh cũng dành những tình cảm tốt đẹp nhất của mình cho đồng đội và cho những người dân bình thường” [16,2] Cũng
vấn đề đó, Lê Quang Hưng đã viết: Trong Ánh trăng “Trước tiên vẫn là tiếng nói
của một người lính, tiếng nói tìm đến những người lính - những đồng đội để sẻ chia, trò chuyện…Đúng như Nguyễn Duy tâm sự: anh luôn cảm thấy mình mắc nợ cuộc sống, mắc nợ những đồng đội Cái cảm giác đáng quý cũng là cái ý thức trách nhiệm ấy đã thôi thúc anh, nâng giúp anh viết ngày một nhiều, ngày một hay hơn về những người chiến sĩ” [13,156] Từ đó, Lê Quang Hưng rút ra kết luận về tập thơ:
“Ánh trăng được nhiều bạn đọc yêu thích trước hết vì nó thực sự là một phần của
Trang 10cuộc đời, là tiếng nói của một cây bút có trách nhiệm trước cuộc sống xây dựng và chiến đấu sôi động trên đất nước ta những năm qua” [13,158].
Trong bài Hoa trên đá và Ánh trăng đăng trên báo Văn nghệ số 15/1986, Tế Hanh cũng thể hiện sự trân trọng của mình khi nói về tập thơ Ánh trăng: “Đọc thơ
Nguyễn Duy trước hết ta thấy anh là một người lính đã chiến đấu ở nhiều mặt trận Hiện nay anh không phải là quân nhân nhưng những câu thơ anh viết về bộ đội, về cuộc đời quân nhân vẫn là những câu thơ thấm thía nhất”.
Tuy mỗi nhà nghiên cứu nhìn nhận tập thơ này ở những khía cạnh khác nhaunhưng nhìn chung các ý kiến đều thống nhất: cảm hứng để Nguyễn Duy viết là từnhững tâm sự và trải nghiệm của chính bản thân nhà thơ – một người lính đã từngtrải qua những địa danh trận mạc cũng là những địa danh của thi ca, một công dân
có trách nhiệm sâu sắc đối với cuộc đời
2.2 Hướng tiếp cận về nghệ thuật
- Thể loại là phương diện được đông đảo các tác giả quan tâm và tương đối
thống nhất Nhà thơ Trần Đăng Khoa trong lời giới thiệu in ở đầu tập thơ Nguyễn
Duy – thơ với tuổi thơ đã chỉ ra sự đổi mới cách tân của Nguyễn Duy khi sử dụng
thể thơ dân tộc: “Lục bát của Nguyễn Duy rất hiện đại Câu thơ vừa phóng túng
ngang tàng lại vừa uyển chuyển, chặt chẽ với một bút pháp khá điêu luyện Nguyễn Duy là người có công trong việc làm mới thể thơ truyền thống” Cùng nhận định về
vấn đề này, Vũ Văn Sỹ khẳng định: “Nguyễn Duy đã sử dụng lục bát để thuần hóa
chất liệu cập nhật của đời sống Lục bát trong tay Nguyễn Duy trở nên vừa êm ái vừa ngang ngạnh, vừa quen thuộc vừa biến hóa, “cựa quậy” Làm thơ lục bát đến như Nguyễn Duy có thể xếp vào bậc tài tình” [18,74] Và chính Nguyễn Duy, khi
trả lời phỏng vấn trên báo Đại đoàn kết đã bộc bạch: “Những bài thơ lục bát là
phần quý giá nhất của mình” [9,14] Nguyễn Quang Sáng cũng cùng ý kiến khi cho
rằng: “Nguyễn Duy vốn có ưu thế và trội hẳn lên trong thể thơ lục bát” [14,91].
Mỗi tác giả đánh giá thơ lục bát của Nguyễn Duy ở một khía cạnh khác nhau nhưngnhìn chung các ý kiến này đều thống nhất thơ lục bát Nguyễn Duy thực sự có vị trícao trong các sáng tác lục bát đương đại
Trang 11- Ngôn ngữ - phương diện rất quan trọng trong việc tìm hiểu nghệ thuật thơNguyễn Duy- cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu ở các góc độ khác
nhau Theo Phạm Thu Yến: thơ Nguyễn Duy là sự kết hợp giữa “ngôn ngữ đời
thường” và ngôn ngữ “đậm màu sắc hiện đại” [21,79] Nguyễn Quang Sáng lại cho
rằng: “Thơ Nguyễn Duy đượm tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian” [14,96] Với Vương Trí Nhàn, thơ Nguyễn Duy là “bản hợp xướng của những chữ
lạ” [7,283] Hồ Văn Hải mạnh mẽ khẳng định: “Sáng tạo từ láy là điểm nổi bật nhất trong lục bát Nguyễn Duy” [11,6].
- Ngoài ra, giọng điệu là phương diện cũng được nhiều nhà nghiên cứu, phê
bình chú ý đến Khi bình bài Tre Việt Nam, GS Lê Trí Viễn cho rằng: “Giọng điệu
bài thơ là kể chuyện như kể chuyện cổ tích” [8,289] Ngô Thị Kim Cúc khi đọc tập
thơ Bụi của Nguyễn Duy đã nhận xét: “Từ bài đầu đến bài cuối hầu hết vẫn giống
nhau ở một cách viết, vẫn cái giọng cà tửng cà khịa khiến người ta lúc đầu bật cười rồi sau đó thấm thêm một tí lại trào nước mắt” [10,5].
Trong khi đó, bài viết Nguyễn Duy – thi sĩ thảo dân cung cấp cho người đọc cái
nhìn tương đối rõ về con đường sáng tác của Nguyễn Duy Ông gọi thế giới thơ
Nguyễn Duy là “cõi chúng sinh thì hiện tại”: “binh lửa và bụi bặm, bùn nước và
gió trăng, nghèo đói và tiềm năng, tàn phá và gây dựng, xơ xác và nhen nhóm, bần bách và phù hoa”; nhân vật là “thập loại chúng sinh” [17,164]: bà, mẹ, cha, vợ,
con,…đặc biệt là những con người không may mắn trong đời sống Qua đó, tác giả
nhận định: “Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân” [17,152], bản chất thảo dân ấy thể hiện
ở cảm hứng sáng tác, ngôn ngữ, giọng điệu và thể thơ
Như vậy, qua các công trình nghiên cứu trên đây, chúng tôi nhận thấy việcnghiên cứu về thơ Nguyễn Duy nói chung, ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy nói riêng rấtđược quan tâm nghiên cứu Chứng tỏ đây là một đề tài hấp dẫn, vừa truyển thống,vừa mới mẻ, hiện đại Tuy nhiên việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy mớichỉ đi sâu phân tích các vấn đề về thể loại, giọng điệu và những nhận xét khái quát
về phong cách tác giả Trên cơ sở những tiền đề ấy, chúng tôi đi sâu nghiên cứu mộtvấn đề cụ thể hơn Đó là hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong thơ Nguyễn Duy
Trang 12Hy vọng kết quả nghiên cứu của chúng tôi được góp thêm một tiếng nói trong việc khám phá những nội dung và giá trị nghệ thuật sáng tác của Nguyễn Duy.
3 Mục đích nghiên cứu
- Góp phần khẳng định giá trị nghệ thuật của biện pháp tu từ từ vựng mà cụ thể
ở đây là hiệu quả sử dụng từ láy – lớp từ giàu giá trị nghệ thuật
- Góp thêm một tiếng nói khẳng định phong cách và tài năng của tác giảNguyễn Duy trong việc lựa chọn, sử dụng ngôn từ
- Mặt khác, đề tài còn là tư liệu giúp chúng tôi trong việc nghiên cứu, học tập vàgiảng dạy thơ Nguyễn Duy, đồng thời góp phần bồi dưỡng cho bản thân năng lựcphân tích và cảm thụ ngôn ngữ thơ
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Muốn đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Tập hợp những vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài
- Khảo sát, thống kê, phân loại việc sử dụng từ láy trong các tập thơ củaNguyễn Duy
- Phân tích giá trị nghệ thuật của từ láy trong các tác phẩm và rút ra những kếtluận cần thiết
4 Đối tượng nghiên cứu
Từ láy trong thơ Nguyễn Duy
5 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này chúng tôi nghiên cứu việc sử dụng từ láy trong các tập thơ:
- Nguyễn Duy (1984), Ánh trăng, Nxb Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam
- Nguyễn Duy (1987), Mẹ và em, Nxb Thanh Hóa
- Nguyễn Duy (1989), Đường xa, Nxb Trẻ TP.HCM
- Nguyễn Duy (1994), Về, Nxb Hội nhà văn
- Nguyễn Duy (1995), Cát trắng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội
- Nguyễn Duy (1997), Bụi, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội
- Nguyễn Duy (2017), Thơ Nguyễn Duy – quê nhà ở phía ngôi sao, Nxb Văn
hóa – văn nghệ TP.HCM
Trang 13- Phan Huy Đường (2006), Một hành trình tư duy II, Nxb Đà Nẵng
[tr 231-232]
6 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp miêu tả
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ học
- Phương pháp phân tích phong cách học
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được cấu trúc thành 2 chương:
Chương 1.Cơ sở lí luận
Chương 2.Từ láy trong thơ Nguyễn Duy
Trang 141.1 Từ láy
1.1.1 Khái niệm
NỘI DUNG Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong Tiếng Việt, từ láy không chỉ là loại từ giàu màu sắc biểu cảm mà còn
là “Phương tiện diễn đạt quan trọng có vị trí đặc biệt trong kho tàng từ ngữ Tiếng
Việt” Láy là một trong những phương thức ngữ pháp bên trong từ Theo tác giả
Diệp Quang Ban trong giáo trình Ngữ pháp Tiếng Việt có nhận xét: “Láy là hiện
tượng lặp lại về mặt ngữ âm Phần được lấy làm cơ sở cho sự láy gọi là phần gốc (còn gọi là phần cơ sở), phần lặp lại nó gọi là phần láy” Biện pháp tu từ từ vựng
này vẫn có rất nhiều những ý kiến khác nhau
Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp: “Có thể coi láy là một hiện tượng ghép đặc
biệt, một đơn vị được ghép với chính nó để tạo ra một đơn vị mới” Theo quan niệm
này, tác giả chưa nhìn nhận được sự độc đáo về mặt ngữ nghĩa của cấu tạo từ láy,đồng thời không thấy được sự sáng tạo từ ngữ của nhân dân ta
Tác giả Đỗ Hữu Châu lại quan niệm: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo
phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là theo quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa”.
Mặt khác, tác giả Hoàng Văn Hành cho rằng: “Từ láy là từ đa tiết (thường
gồm hai âm tiết) được tạo ra bằng phương thức hòa phối ngữ âm giữa các âm tiết với hiệu ứng tạo ra nghĩa biểu trưng”.
Tác giả khẳng định: “Đối với từ láy, việc các thành tố (các tiếng) tạo nên nó
tự thân có nghĩa hay vô nghĩa không quan trọng Cái quan trọng là hình thức ngữ
âm đặc thù cho sự hòa phối âm thanh giữa các tiếng, cái quyết định diện mạo của
từ láy Hơn nữa, ý nghĩa của từ láy là ý nghĩa biểu trưng do sự hòa phối ngữ âm tạo
ra, chứ không phải là phép cộng giản đơn nghĩa của từng thành tố trong từ láy,
Trang 15ngay cả với các từ láy có thành tố có nghĩa tự thân và có khả năng hoạt động độc lập của một từ”.
Quan điểm của tác giả Hoàng Văn Hành và Đỗ Hữu Châu nhận được sự ủng
hộ và tán đồng của nhiều nhà nghiên cứu khi khảo sát hiện tượng từ láy trong TiếngViệt Đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất: nếu coi từ láy là sự hòa phối ngữ
âm thì sản phẩm sản sinh sẽ là cả hệ thống từ láy trong Tiếng Việt
Tóm lại, đứng trên quan điểm chung nhất ta có thể đưa ra khái niệm từ láynhư sau: Từ láy là những từ có ít nhất hai âm tiết, được hình thành dựa trên phươngthức láy hình vị Các âm tiết trong một từ láy có quan hệ về ngữ âm và có tác dụngtạo nghĩa, tạo sắc thái
1.1.2 Đặc điểm của từ láy tiếng Việt
1.1.2.1 Đặc điểm cấu tạo
Từ láy hình thành do phương thức láy tác động vào các hình vị cơ sở từ đótạo ra một hình vị mới giống nó toàn bộ hay bộ phận về âm thanh Căn cứ vào đó, ta
có thể xác định từ láy được cấu tạo từ hình vị gốc (hình vị cơ sở) và hình vị láy
VD: Phương thức láy tác động vào hình vị vàng cho ta hình vị láy vàng vàng Hình vị cơ sở và hình vị láy tạo thành từ láy toàn bộ vàng vàng, từ láy bộ phận vàng
vọt.
1.1.2.2 Đặc điểm ý nghĩa
Xuất phát từ đặc điểm cấu tạo của từ láy, khi xem xét ý nghĩa của từ láy cầnphải đối chiếu ý nghĩa của nó với ý nghĩa của hình vị cơ sở Thí dụ, để biết nghĩa
của từ bối rối cần đối chiếu nó với nghĩa của rối.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chúng ta không nhận ra mối liên hệ ýnghĩa của hình vị cơ sở với ý nghĩa của cả từ nữa Nói cách khác, hình vị cơ sở đã
bị quên mất nghĩa Ý nghĩa của các từ láy trùng trình, rạch ròi, pha phôi, lỗ chỗ,
lấm tấm, lọ mọ,…khác hẳn đột biến so với nghĩa của trùng, rạch, pha, chỗ, tấm, mọ,…Có thể xem những từ láy không xác định được hình vị cơ sở này là kết quả
cực đoan của quá trình mất nghĩa nêu trên
Trang 16Ý nghĩa của các từ láy bối rối, nhẹ nhàng, kháu khỉnh… sắc thái hóa ý nghĩa của hình vị cơ sở rối, nhẹ, kháu…Có thể nói rằng: “Sắc thái hóa là tác dụng điển
hình của phương thức láy” [1,49]
Vì vậy, khi xem xét ý nghĩa, chúng ta cần chú ý và làm rõ tác dụng sắc thái
hóa của các từ láy: “Sắc thái hóa có nghĩa là thêm cho ý nghĩa của hình vị cơ sở
một số sắc thái nào đó chứ không thay đổi hẳn nó” Kết quả của sự sắc thái hóa ý
nghĩa có thể là thu hẹp hoặc mở rộng phạm vi biểu vật của hình vị cơ sở
VD: Từ xanh xao so với từ xanh có phạm vi biểu vật hẹp hơn Song, từ xanh
xao lại có thể gợi ra những ấn tượng, những hình ảnh cụ thể về tình trạng bệnh tật,
yếu đuối, thiếu sức sống hơn từ xanh Ngược lại, từ chim chóc so với từ chim có phạm vi biểu vật rộng hơn từ chim; chim chóc là nói về loài chim nói chung, chứ
không còn chỉ một con chim nào cụ thể nữa
Đột biến và sắc thái hóa là hai tác dụng nói chung của phương thức láy.Song, với những từ láy nhiều nghĩa, có thể nghĩa này là sắc thái, nghĩa kia là đột
biến Chẳng hạn, từ láy bấp bênh trong cái bàn bấp bênh có nghĩa sắc thái hóa so với từ bênh nhưng trong tư tưởng bấp bênh lại mang ý nghĩa đột biến.
Từ láy trong Tiếng Việt vẫn liên tục sản sinh và ngày càng trở nên phongphú Tuy được tạo thành từ các hình vị cơ sở khác nhau nhưng chúng ta có thểnhóm chúng vào một số nhóm ý nghĩa tương đối thuần nhất (theo quan điểm của tác
giả Đỗ Hữu Châu, giáo trình Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt):
- Các từ láy toàn bộ hình vị cơ sở gốc tính từ ở sau, hình vị láy ở trước vớithanh bằng thường diễn đạt sự giảm nhẹ tính chất kèm thao sự “loang” ra tính chất
đó: xanh xanh, đo đỏ, hiền hiền, tim tím Nếu hình vị láy ở trước có thanh trắc thì cường độ của tính chất lại tăng lên: cỏn con, dửng dưng…
Các từ láy toàn bộ gốc động từ thường diễn tả sự lặp đi lặp lại các động tác
không biến điệu kèm theo sự giảm nhẹ cường độ của mỗi động tác: nói nói, cười
cười, vẫy vẫy…
Các từ láy toàn bộ gốc danh từ thường diễn tả sự lặp đi lặp lại của một số sự
kiện, hiện tượng, sự vật…cùng tính chất: nhà nhà, ngày ngày, người người, đêm
Trang 17đêm… (ý nghĩa của các từ láy này được giải thích như sau: nhà nhà: nhiều nhà và
nhà nào cũng thế; đêm đêm: nhiều đêm và đêm nào cũng thế…)
- Các từ láy âm mà hình vị láy ở sau có vần “ăn” thường diễn tả một tính chấtđạt chuẩn mực chứng tỏ người mang hoặc thực hiện tính chất đó là người trung
thực, tin cậy được: may mắn, đúng đắn, vuông vắn, thẳng thắn…
Các từ láy âm mà hình vị láy ở trước có vần “âp” thường diễn tả sự dao động
đều đặn theo chiều lên xuống hoặc theo tình thế hiện ra – mất đi: mập mờ, tấp nập,
bấp bênh, dập dềnh, hấp tấp, gấp gáp, thập thò…
Các từ láy âm mà hình vị láy ở trước có vần “uc”diễn tả dao động theo chiều
ngang từng quãng ngắn: lúc lắc, rục rịch, nhúc nhích…
- Các từ láy âm mà hình vị ở sau có vần “iêc” có ý nghĩa phi các thể hóa kèm
theo thái độ phủ định giá trị thực của sự vật, hiện tượng: máy miếc, sách siếc,
giường giếc, ghế ghiếc, học hiếc, nói niếc…
- Các từ láy kiểu khấp kha khấp khểnh, lúng ta lúng túng, nhí nha nhí nhố… thường được sản sinh từ các từ láy đôi chỉ trạng thái hoặc tính cách động: khấp
khểnh, lúng túng, nhí nhố… và có hiệu quả ngữ nghĩa là lặp lại một lần nữa hiệu quả
ngữ nghĩa của từ gốc
- Các từ láy kiểu bổi hổi bồi hồi, cảu nhảu càu nhàu, nham nham nhở nhở,
nhăn nhăn nhó nhó… về thực chất là một kiểu láy toàn bộ với đơn vị gốc có hai âm
tiết (khác với từ láy đôi toàn bộ có hình vị cơ sở một âm tiết) cho nên mang hiệuquả ngữ nghĩa của các từ láy toàn bộ mà hình vị láy ở trước với thanh trắc
Phương thức láy là phương thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt: “Mỗi từ láy là
một nốt nhạc về âm thanh, chứa đựng trong mình một bức tranh cụ thể của các giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác…kèm theo những ấn tượng
về sự cảm thụ chủ quan, những cách đánh giá, những thái độ của người nói trước
sự vật, hiện tượng, đủ sức thông qua các giác quan hướng ngoại và hướng nội của người nghe mà tác động mạnh mẽ đến họ” [1,54].
Trang 181.1.3 Phân loại từ láy
Từ láy được cấu tạo theo phương thức hòa phối ngữ âm Do đó, mặt ngữ âmđược coi là dấu hiệu cơ bản khi phân loại từ láy Ngoài ra, để phân loại từ láy người
ta thường dựa trên hai cơ sở:
- Số lượng âm tiết trong từ láy
- Sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo của các thành tốtrong từ láy, do cách phối hợp ngữ âm tạo nên
Căn cứ vào hai cơ sở trên, từ láy trong tiếng Việt được phân chia thành cácloại
1.1.3.1 Từ láy đôi
Từ láy đôi là từ láy có hai âm tiết giữa chúng có sự hòa phối ngữ âm vớinhau Quá trình láy thực chất là quá trình hòa phối về mặt ngữ âm Đó là sự hòaphối về mặt thanh điệu kết hợp với sự hòa phối về phần vần hoặc phụ âm đầu
Về thanh điệu: Thanh điệu trong từ láy đôi hòa phối theo quy tắc đối lập B-T(bằng – trắc) giữa các thanh điệu thuộc cùng một âm vực
VD: Từ láy đèm đẹp có hai thanh điệu là thanh huyền và thanh nặng cùng thuộc âm vực cao Song, âm tiết đèm mang thanh B (bằng) còn âm tiết đẹp mang
thanh T (trắc)
Về âm và vần: Trong từ láy đôi, nếu như hiệp vần thì đối âm và ngược lạinếu như hiệp âm thì đối vần
VD: Từ láy lủng củng hiệp vần ung nhưng đối phụ âm đầu (/l/ là phụ âm đầu
lưỡi, /k/ là phụ âm gốc lưỡi)
Từ láy róc rách hiệp phụ âm đầu /r/ nhưng lại đối về vần oc và ach
Căn cứ vào những quy luật trên, ta có thể phân chia từ láy đôi thành các kiểu:a) Từ láy toàn bộ (từ láy hoàn toàn)
Từ láy toàn bộ là những từ láy hoàn toàn có sự trùng lặp về hình thức ngữâm
VD: xanh xanh, cao cao, tím tím…
Trong từ láy hoàn toàn tồn tại hai biến thể:
Trang 19- Từ láy biến thanh là những từ láy hoàn toàn nhưng có sự khác nhau vềthanh điệu.
VD: trăng trắng, đo đỏ, tim tím…
- Từ láy toàn bộ có biến thể phụ âm cuối là những từ láy đôi hoàn toàngiữa các tiếng có sự khác biệt phụ âm cuối
VD: đèm đẹp, khang khác, tôn tốt
Trong trường hợp này, phụ âm cuối biến đổi theo một quy tắc nhất định: nếu
từ láy có phụ âm cuối ở hình vị cơ sở là âm tắc thì phụ âm cuối của hình vị láy sẽ là
âm vang mũi theo nguyên tắc cùng cặp
b) Từ láy bộ phận
Từ láy bộ phận là những từ láy trong đó có sự phối âm của từng bộ phận âmtiết theo những quy tắc nhất định Căn cứ vào sự phối hợp các bộ phận khác nhaucủa âm tiết, ta có thể chia từ láy bộ phận thành hai kiểu:
- Từ láy âm là những từ láy trong đó âm đầu được lặp lại, phần vần của hai
âm tiết khác nhau Dựa vào vị trí của hình vị cơ sở trong từ láy, người ta chia từ láy
âm thành hai kiểu: từ láy âm có hình vị cơ sở đứng trước (gọn gàng, vui vẻ, trắng
trẻo…), từ láy âm có hình vị cơ sở đứng sau (sung sướng, tấm tức, lấc láo…).
- Từ láy vần là những từ láy có phần vần giống nhau phụ âm đầu khác biệt.Trong láy vần, phụ âm đầu của hình vị láy thường đi đôi với phụ âm đầu của hình vịgốc tạo thành các cặp
VD: /l/ với /b/ (lềnh bềnh, lông bông, lùng bùng…)
/k/ với /r/ (củ rủ, cúm rúm, co ro…)
1.1.3.2 Từ láy ba
Từ láy ba là từ láy có ba âm tiết có sự hòa phối ngữ âm với nhau Quy tắcbiến đổi thanh điệu ở từ láy ba thường gặp: Từ láy ba có âm tiết thứ hai thườngmang thanh bằng; âm tiết thứ nhất và thứ ba đối lập nhau về B-T hoặc đối lập nhau
về âm vực cao – thấp
Trang 20VD: Từ tuốt tuồn tuột có âm tiết thứ hai tuồn mang thanh bằng (thanh huyền); âm tiết thứ nhất tuốt và thứ ba tuột đối lập nhau về âm vực cao (thanh sắc)
Dựa vào phương thức hình thành, từ láy tư có thể chia làm bốn dạng:
- Láy tư được tạo theo kiểu lặp lại hai lần ngữ láy đôi cơ sở Trong khi lặp, đổi vần yếu tố thứ hai thành “a” hoặc “à”
VD: lủng củng lủng cà lủng
củng lắt léo lắt la lắt léo
- Láy tư được cấu tạo theo kiểu lặp lại hai lần ngữ láy đôi cơ sở Trong khi lặp, biến đổi thanh điệu sao cho yếu tố đầu mang thanh điệu của
âm vực thấp Có hai khuôn thanh điệu chủ yếu: “??”, “\\” và “//”, “.”
VD: bồi hồi bổi hổi bồi hồi
loạng choạng loáng choáng loạng choạng
- Láy tư có nguyên tắc cấu tạo tách đôi ngữ láy cơ sở đồng thời ghép thêm vào mỗi âm tiết một yếu tố hiệp vần với nó
VD: xơ xác xơ rơ xác rác
thơ thẩn lơ thơ lẩn thẩn
- Láy tư có mô hình cấu tạo AABB
VD: trùng điệp trùng trùng điệp
điệp vội vàng vội vội vàng
vàng
Trang 211.1.4 Khả năng kết hợp của từ láy
Ngoài khả năng đứng độc lập để trở thành một thành phần của câu (chủ ngữ,
vị ngữ, trạng ngữ…), từ láy còn có khả năng kết hợp với danh từ, động từ và tính từ
để tạo nên các cụm từ (cụm danh từ, cụm động từ và cụm tính từ) có ý nghĩa đặc sắchơn so với từ trung tâm
+ Từ láy làm bổ ngữ cho động từ, tính từ:
Bổ ngữ được coi là thành tố phụ cho từ trung tâm, bổ ngữ đi kèm với động từ
và tính từ để bổ sung ý nghĩa cho động từ, tính từ
- Từ láy làm bổ ngữ cho động từ được đảo lên trước động từ thường tạo nên
sự nhấn mạnh và bổ sung ý nghĩa tình thái cho động từ Đây cũng được coi là mộtbiện pháp tu từ
VD: “Hồng đang thơ thẩn chơi một mình trong vườn” – Bài học quét nhà
(Nam Cao tuyển tập)
Cụm động từ thơ thẩn chơi có từ láy thơ thẩn đứng trước làm bổ ngữ bổ sung
ý nghĩa cho động từ chơi Thơ thẩn có thể hiểu là đang vẩn vơ, mơ màng về một điều gì đó Từ láy này được đặt trước động từ chơi nhằm nhấn mạnh vào cách thức,
tâm thế của hoạt động chứ không đơn thuần miêu tả trạng thái hoạt động “chơi”
(như khi sử dụng cụm từ chơi thơ thẩn) của nhân vật.
- Từ láy làm bổ ngữ và đứng sau động từ, tính từ để làm rõ mức độ, tínhchất, đặc trưng của từ trung tâm
VD: “Không hiểu anh ta chỉ có một bộ quần áo hay sao mà từ ngày đến nhà
bà đến giờ vẫn chưa thay Hèn chi mà rận lắm hơn giòi Chúng bò lỏm ngỏm ở trên
cổ, ở trên vai, ở dưới lưng” – Lang Rận (Nam Cao tuyển tập)
Cụm động từ bò lỏm ngỏm có từ láy lỏm ngỏm làm bổ ngữ bổ sung ý nghĩa cho động từ bò Lỏm ngỏm là từ láy gợi tả dáng bò nhô cao hẳn thân lên, không có
trật tự, không ra hàng lối Từ này lại được tác giả đặt sau động từ trung tâm để làm
rõ hơn cho người đọc về hoạt động bò của những con rận.
+ Từ láy làm định ngữ cho danh từ:
Trang 22Định ngữ là thành tố phụ đi kèm danh từ trung tâm Khi kết hợp với danh
từ, thành phần định ngữ bổ sung ý nghĩa cho danh từ Ngoài việc bổ sung ý nghĩa,
từ láy khi làm định ngữ còn thể hiện thái độ, tình cảm của người viết và góp phầnlàm cho câu văn, câu thơ nhịp nhàng cân đối
- Từ láy làm định ngữ cho danh từ được đảo lên trước từ trung tâm
VD: “Có cái miệng làm chức năng cái bẫy / Sau nụ cười là lởm chởm răng
cưa” – Đánh thức tiềm lực (Nguyễn Duy)
Lởm chởm là từ láy gợi hình dùng để diễn tả sự không đều đặn, có nhiều đầu nhọn, cứng, nhô ra hoặc đâm ra Khi được đảo lên trước danh từ răng cưa, tác giả nhằm nhấn mạnh vào sự giả dối, cái bẫy ngôn ngữ đã được nhắc tới ở câu thơ phía
trước
- Từ láy làm định ngữ cho danh từ đứng sau từ trung tâm
VD: “Trăng thì xanh mà nước thì lại đỏ / Sóng lăn tăn óng ánh gió mùa
thu” – Trăng sông Tiền (Nguyễn Duy)
Theo sau danh từ sóng là liên tiếp hai từ láy lăn tăn và óng ánh Nếu lăn tăn gợi về hoạt động nhỏ, đều và chen sát nhau của sóng thì óng ánh gợi về màu sắc lấp
lánh, nháy sáng liên tục Việc sử dụng từ láy theo sau danh từ có tác dụng trong việclàm rõ đặc điểm, tính chất, mức độ hoạt động…của từ trung tâm
1.1.5 Hiệu quả của việc sử dụng từ láy
Bàn về hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong giáo trình Từ vựng ngữ nghĩa
tiếng Việt tác giả Đỗ Hữu Châu từng viết: “Láy là một phương thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt Mỗi từ láy là một “nốt nhạc” về âm thanh, chứa đựng trong mình một “bức tranh” cụ thể của các giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác…kèm theo những ấn tượng về sự cảm thụ chủ quan, những cách đánh giá, những thái độ của người nói trước sự vật, hiện tượng, đủ sức thông qua các giác quan hướng ngoại và hướng nội của người nghe mà tác động mạnh mẽ đến họ Cho nên các từ láy là những công cụ tạo hình rất đắc lực của nghệ thuật văn học, nhất là của thơ ca”.
Trang 23Nhận định của tác giả Đỗ Hữu Châu nghiêng về việc khẳng định giá trị gợihình của từ láy Tuy nhiên, ngoài giá trị tạo hình, từ láy còn là lớp từ giàu màu sắcbiểu cảm trong tiếng Việt Điều này chúng ta có thể nhận ra qua việc xem xét từ láytrên nhiều phương diện khác nhau.
+ Phương diện từ vựng – ngữ nghĩa:
Từ láy tạo nên sự đột biến và sắc thái hóa Đây là hai tác dụng nói chung củaphương thức láy Trong đó, sắc thái hóa là tác dụng điển hình của phương thức láy
Từ láy gián tiếp thể hiện thái độ, sự bình giá của người nói đối với đối tượngđược nói đến
Hiệu quả ngữ nghĩa chung của từ láy là rất lớn, nó không chỉ diễn tả sự lặp đilặp lại, kéo dài, trải rộng của tính chất hoặc hoạt động, hay biểu thị các trạng tháiđộng của sự vật hiện tượng, mà còn có khả năng gợi các ấn tượng cụ thể có tínhchất đậm nét, đặc biệt là mang giá trị biểu thái phản ánh cách đánh giá, tình cảm, sựcảm thụ chủ quan của người nói đối với sự vật hiện tượng được nêu ra
+ Phương diện phong cách học:
Nói về hiệu quả sử dụng của từ láy, tác giả Đinh Trọng Lạc đã xét từ láy khi chúng thực hiện các chức năng khác nhau
- Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm đơn giản: không chỉ mô phỏng được âm
thanh, gọi tên sự vật hiện tượng mà còn “gợi tả cho được những sắc thái
khu biệt tinh tế của âm thanh tự nhiên” và “giá trị gợi tả, giá trị diễn cảm rất tốt”.
- Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu: nhằm biểu thị sự vật và thuộctính của sự vật hiện tượng
- Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về nghĩa: nhờ sự
hòa phối ngữ âm, loại này “không chỉ có giá trị hình thái mà còn có giá
trị tạo nghĩa tức giá trị biểu trưng hóa Đó chính là giá trị gợi tả và diễn cảm của từ”.
+ Phương diện ngữ pháp:
Trang 24Trong giáo trình Phong cách học tiếng Việt, tác giả Đinh Trọng Lạc căn cứ vào
chức năng ngữ pháp và vị trí của từ láy trong câu để khai thác hiệu quả:
- Dùng từ láy để tạo âm hưởng cân đối, nhịp nhàng cho câu văn
- Dùng từ láy thay thế động từ, tính từ ở vị ngữ của câu để gây ấn tượngmạnh
- Dùng từ láy ở vị trí đầu câu tạo nên ấn tượng càng mạnh
- Dùng từ láy vừa miêu tả hình dáng sự vật vừa thể hiện tâm trạng, từ đóthấy được khả năng diễn đạt kì diệu của từ láy
Có thể thấy rằng, từ láy mang màu sắc biểu cảm đậm nét mà các lớp từ tươngđương không có được Chính nhờ màu sắc biểu cảm sâu sắc, tinh tế của những từláy mà nhiều câu văn, câu thơ đã đi sâu vào tiềm thức của người đọc
+ Phương diện sử dụng:
Tác giả Hoàng Văn Hành trong Từ láy trong tiếng Việt chỉ rõ: “Xét từ góc độ
sử dụng (giá trị sử dụng) từ láy có mấy giá trị lớn: giá trị gợi tả, giá trị biểu cảm và giá trị phong cách” Theo tác giả:
- “Giá trị gợi tả của từ láy là khả năng làm cho người đọc, người nghe cảm
thụ và hình dung được một cách cụ thể, tinh tế và sống động màu sắc âm thanh, hình ảnh của sự vật mà từ biểu thị” Sức gợi tả của từ láy “còn gợi lên những hình tượng độc đáo”.
- Giá trị biểu cảm: “Theo cách hiểu lâu nay thì giá trị biểu cảm của từ láy
là khả năng diễn đạt thái độ đánh giá, tình cảm của người nói đối với sự vật hay thuộc tính do từ biểu thị”.
- Giá trị phong cách: Nói đến giá trị phong cách của từ láy là nói đến cáiphạm vi quen dùng hay sự thích ứng của từ trong một phong cách nào đó đã được
định hình như một đặc trưng, một màu sắc riêng của từ trong sử dụng và “Sở
trường của từ láy là làm chất liệu để xây dựng văn bản nghệ thuật, làm phương tiện cho tư duy nghệ thuật”.
Sự sản sinh từ láy vẫn không ngừng diễn ra đúng như tác giả Đinh Trọng Lạc
từng nhận định: “Không có một danh mục, một cuốn từ điển nào có thể ghi chép
Trang 25đầy đủ những từ láy đang sản sinh và được dùng trong lời nói hàng ngày Đó là cả một kho tàng phong phú vô tận mà mỗi từ có thể nói về một bức tranh nhỏ nhất về
sự vật và tâm trạng con người” Tác giả cũng đi đến kết luận: “Các từ ngữ khi đặt vào ngữ cảnh thích hợp sẽ đưa lại những sắc thái mới có hiệu quả tu từ rõ rệt” Vì
vậy, để thấy được hết hiệu quả của việc sử dụng từ láy, ta cần nghiên cứu nó gắnvới từng tác giả cụ thể, trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
Những ý kiến, nhận xét của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nêu trên là cơ sở lýluận để chúng tôi xem xét hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng từ láy trong thơNguyễn Duy
1.2 Tác giả Nguyễn Duy
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp
Nhà thơ Nguyễn Duy, sinh ngày 7.12.11948, tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ.Nguyễn Duy sinh ra tại làng Quảng Xá, xã Đông Vệ, TP Thanh Hóa Thuở nhỏ,Nguyên Duy sống và học ở nông thôn Lên cấp ba, ông học ở THPT Lam Sơn,TP.Thanh Hóa Năm 1965, Nguyễn Duy tham gia dân quân tự vệ, chiến đấu tạiHàm Rồng Năm 1966, ông nhập ngũ vào bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu ở cácchiến trường: Khe Sanh, Đường 9 – Nam Lào, mặt trận phía Nam và phía Bắc
(1979) Sau 1975, ông chuyển khỏi quân đội về làm Báo Văn nghệ giải phòng Từ
1977 đến nay, Nguyễn Duy là đại diện thường trú Báo Văn nghệ tại các tỉnh ở
TP.Hồ Chí Minh Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệthuật
Nguyễn Duy là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời
chống Mĩ Những năm cuối của cuộc chiến tranh, với chùm thơ đăng trên Báo Văn
nghệ (1972), Nguyễn Duy đã chiếm được lòng mến mộ của độc giả Nhà phê bình
Hoài Thanh chính là người có công phát hiện và giới thiệu Nguyễn Duy Ông khẳng
định ở thơ Nguyễn Duy có một vẻ đẹp “không gì so sánh được”, “quen thuộc mà
không nhàm chán”, “Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời cần cù, gian khổ, không tuổi, không tên”, chất thơ của
Nguyễn Duy chính là “cái hiền hậu, một cái gì rất Việt Nam” [6,383].
Trang 26Bên cạnh công việc viết văn làm thơ, Nguyễn Duy còn hăng hái tham gia vàocông cuộc bảo vệ và kiến thiết đất nước Chính những năm tháng chiến đấu đã choông cơ hội được đi, được trải nghiệm khắp mọi miền Tổ quốc Ông được ví như conngựa sung sức, đôi chân đi không biết mỏi: mặt trận biên giới phía Nam, phía Bắc;vừa ở Cà Mau lại thấy ở Tây Nguyên; từ công tình thủy điện Trị An cho đến giànkhoan dầu khí ngoài biển Đông…đâu đâu ông cũng có mặt Nguyễn Duy hăm hởlao vào cuộc sống để trải nghiệm, để lắng nghe, quan sát và suy nghiệm Ông cũng
đã sang các nước Xã hội chủ nghĩa, các nước Tây Âu và nước Mĩ Tất cả hành trình
ấy đều được ông ghi lại vào thơ ca Chính những cuộc chu du ở cái tuổi chín muồi
ấy đã giúp Nguyễn Duy có những cái nhìn sâu sắc, suy tư, đầy chiêm nghiệm vềcon người, đất nước và cuộc sống
Cuộc thi thơ Báo Văn nghệ 1972 – 1973 tiếp tục khẳng định tài năng của nhà
thơ bằng việc trao Giải nhất (cùng với Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Nhuận Cầm và
Lâm Thị Mỹ Dạ) cho chùm bốn bài của Nguyễn Duy (Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm,
Giọt nước mắt và nụ cười, Bầu trời vuông) Kể từ năm 1973 trở về sau, Nguyễn
Duy liên tục gây ấn tượng với bạn đọc qua các tác phẩm, tiêu biểu như: Cát trắng (thơ – 1973), Phóng sự 30 – 4 – 1975 (1981), Em Sóng (thơ – 1983), Ánh trăng (thơ – 1984), Nhìn ra bể rộng trời cao (bút kí – 1985), Khoảng cách (tiểu thuyết – 1985), Mẹ và em (thơ – 1985), Đãi cát tìm vàng (1987), Đường xa (thơ – 1989), Về
(thơ – 1994)…
Được chú ý và khẳng định ngay từ khi mới xuất hiện, trong suốt sự nghiệpvăn học của mình, Nguyễn Duy vẫn không ngừng sáng tạo để tự hoàn thiện và làmphong phú thêm thế giới nghệ thuật thơ mình Nguyễn Duy cũng từng thử sức trênnhiều lĩnh vực khác nhau (bút kí, phóng sự, tiểu thuyết), nhưng có lẽ thơ mới là sởtrường của ông
1.2.2 Phong cách nghệ thuật
Phong cách nghệ thuật chính là diện mạo thẩm mĩ độc đáo, riêng biệt củangười nghệ sĩ trong cách sáng tác, được tạo ra bởi sự thống nhất của các phươngtiện biểu hiện, phù hợp với cái nhìn riêng của người nghệ sĩ về cuộc sống Phong
Trang 27cách nghệ thuật được hình thành nhờ sự lặp đi lặp lại một số yếu tố thuộc phạm trùnội dung và hình thức một cách có thẩm mĩ, xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của tácgiả Đặc trưng nhất quán trong phong cách nghệ thuật là tính thống nhất, ổn định vàbền vững.
Trong hành trình sáng tạo gần bốn mươi năm được kết tinh trong các sáng tác,Nguyễn Duy đã thật sự khẳng định phong cách nghệ thuật của mình với những đặcđiểm nổi bật
- Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Duy: “Ta là dân – vậy thì ta tồn tại” (Nhìn từ xa tổ quốc) Quan điểm đó không chỉ thể hiện tư tưởng trọng dân, tình cảm
gắn bó với nhân dân lao động mà còn thể hiện hướng đi trong sáng tạo nghệ thuật:hòa mình vào nhân dân, cất lên tiếng nói của họ trong cuộc đời – đó chính là yếu tốquyết định sự tồn tại của đời thơ Với ông, hành trình đi tìm cái đẹp cũng là hành
trình “tìm ánh vàng trong muối mặn mồ hôi” (Đãi cát tìm vàng), và ông làm thơ để chưng cất cảm xúc “thương mến đến tận cùng chân thật/ những miền quê gương
mặt bạn bè” (Tuổi thơ) của mình thành “rượu của chúng sinh” (Bao cấp thơ).
Nguyễn Duy đã hiện thực hóa quan niệm nghệ thuật ấy của mình qua hành trìnhsáng tạo Đó là hành trình đầy ắp chất liệu đời thường, kiên trì bền bỉ vượt lên mọihoàn cảnh để làm thơ và vận động theo hướng trở về gần hơn với cuộc sống đời
thường, với quê hương, nhân dân và đất nước Quan niệm “Ta là dân – vậy thì ta
tồn tại” của Nguyễn Duy không chỉ được chuyển hóa nhuần nhuyễn trong hành
trình sáng tạo mà còn chi phối mạnh mẽ đến cách chọn đề tài, thể loại, ngôn ngữ vàgiọng điệu thơ ông
- Xuất hiện và trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước nênkhông khó nhận ra đề tài mà Nguyễn Duy lựa chọn và thể hiện chính là chiến tranh
và quê hương Cũng tập trung viết về chiến tranh và quê hương như những nhà thơkhác, nhưng ngòi bút của Nguyễn Duy không chú trọng thể hiện những vẻ đẹphoành tráng mang tính sử thi mà thường nghiêng về phản ánh những vẻ đẹp đơn sơ,bình dị, lắng sâu những mất mát hy sinh, da diết với cuộc sống vất vả và lam lũ của
Trang 28người nông dân Bước sang thời kì đổi mới, thơ Nguyễn Duy lại mạnh mẽ, táo bạo, tỉnh táo phơi bày những bất cập của xã hội đương thời.
- Thể loại sở trường của Nguyễn Duy là lục bát: “Có lẽ trong những cao thủ
lục bát đương thời, Nguyễn Duy là tay bút có ngón nghề lục bát thuộc hàng thượng thừa” (GS.Chu Văn Sơn) Nguyễn Duy sáng tác lục bát với hai khuynh hướng: vừa
trở về nguồn cội vừa cách tân để đưa lục bát về gần hơn nữa với cuộc sống đờithường Nguyễn Duy đã cải hóa sự hài hòa, mềm mại, óng ả vốn có của lục bát bằngcách sử dụng nhiều thanh trắc, tăng cường nhịp lẻ, phép trùng điệp ở mọi cấp độ,cập nhật ngôn ngữ mới mẻ và gia tăng chất thế sự, đời tư Vì vậy, lục bát NguyễnDuy vừa khuôn theo thi luật truyền thống vừa phá vỡ những thi luật ấy để tạo thànhmột thứ lục bát mang hơi thở, nhịp điệu của cuộc sống hiện đại Bên cạnh thể loạilục bát, Nguyễn Duy còn quen dùng thể thơ tự do trong sáng tác của mình Thể thơ
tự do không gò bó về cách gieo vần, số lượng câu chữ trong bài vì vậy mà nó phùhợp để diễn tả, phản ánh cuộc sống vốn nhiều biến động ở thời đại mà Nguyễn Duysinh sống
- Vượt qua những lối mòn ngôn ngữ, Nguyễn Duy đã sử dụng kết hợp nhiềuphương thức tái tạo từ: nhân hóa, ẩn dụ, trùng điệp, thơ hóa ngôn ngữ đời thường
Kiên trì “luyện thơ” từ “bụi chữ” (Rơi và nhặt), Nguyễn Duy đã giữ được ngôn
ngữ thơ ở ranh giới mong manh giữa các đối cực: mộc mạc và tinh tế, bỡn cợt vànghiêm túc, nhẹ nhàng và sâu cay…
- Thơ Nguyễn Duy có hai giọng điệu chính: Kể lể tâm tình và tếu táo, ngangtàng Nếu yếu tố tự sự trong mỗi bài thơ, những từ hô gọi có âm điệu tha thiết, sựxuất hiện trực tiếp của cái tôi trữ tình, sự kìm chế, dồn nén cảm xúc…đã tạo nêngiọng điệu kể lể tâm tình ấm áp điềm đạm, thì giọng thơ tếu táo ngang tàng đượchình thành từ sự táo bạo chạm đến những vấn đề bức thiết của hiện thực xã hội Haigiọng điệu này vừa song song tồn tại vừa đan xen với nhau Thực sâu trong giọngđiệu tếu táo ngang tàng là những tình cảm thiết tha, những suy tư trăn trở về thânphận con người, về cuộc sống bộn bề và những lo toan thường nhật
Trang 29Về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Nguyễn Duy, chúng tôi tìmhiểu những đóng góp của tác giả cho nền văn học nước nhà đương đại Đặc biệt,chúng tôi cũng quan tâm nghiên cứu những quan điểm của tác giả về nghệ thuật vànhững cách tân nghệ thuật mà đặc biệt trong việc sử dụng ngôn ngữ Điều này đãgóp phần tạo nên phong cách, cá tính sáng tạo độc đáo của nhà thơ.
Trang 30Chương 2.TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY
2.1 Kết quả khảo sát thống kê ngữ liệu
Tổng số từ láy trong tác phẩm Nguyễn Duy được khảo sát là 1204 từ
Bảng 2.1 Từ láy trong thơ Nguyễn Duy theo kiểu láy Các kiểu
Láy Láy đôi Láy ba Láy tư
Láysáu
Tổng số
2.2.1 Nhận xét kết quả thống kê theo từng tiểu loại từ láy
Từ kết quả thống kê trên, chúng tôi nhận thấy từ láy đôi xuất hiện nhiều nhất
và phổ biến nhất trong thơ Nguyễn Duy Trong tổng số 1204 phiếu thống kê từ láy,
từ láy đôi chiếm tới 1163 phiếu, tương đương với 96.6% Trong từ láy đôi thì từ láy
âm được sử dụng nhiều (777 phiếu, tương đương với 66.8%), sau đó đến từ láy vần(215 phiếu, tương ứng với 18.5%), láy hoàn toàn có số lượng ít nhất (171 phiếu,
Trang 31tương đương với 14.7%) Qua việc khảo sát, chúng tôi nhận thấy Nguyễn Duy đã sửdụng linh hoạt loại từ láy này khiến cho lời thơ không chỉ giàu sức gợi hình, gợicảm mà còn làm cho câu thơ trở nên nhịp nhàng, uyển chuyển.
Ngoài ra, chúng tôi đặc biệt chú ý thống kê số lượng những từ láy đôi được
sử dụng liên tiếp trong một dòng thơ (hai, ba, bốn từ láy trên một dòng thơ) Cụ thể,trong số 1163 từ láy đôi có 255 phiếu, tương ứng với 21.9%, được sử dụng liên tiếptrong một dòng thơ Cá biệt, một số dòng thơ hoàn toàn được cấu trúc bởi một loạt
các từ láy đôi: “xanh xanh đỏ đỏ bừng bừng” – Tôi và em và thánh thần (Nguyễn Duy (1994), Về, Nxb Hội nhà văn), “ễnh ềnh ệch hỏn hòn hon thùi lùi” – Boston,
“Mềm mại mánh mung mưu mẹo mập mờ” – Mirage, “Thật thà lúc lắc đong đưa thật thà” – Thật thà (Nguyễn Duy (1997), Bụi, Nxb Hội nhà văn)…
Từ láy ba, từ láy tư và láy sáu xuất hiện với tần số thấp lần lượt là 16 phiếu(1.3%), 24 phiếu (2%) và 1 phiếu (0.1%) Tuy số lượng từ láy ba, từ láy tư và láysáu được sử dụng ít hơn rất nhiều so với từ láy đôi nhưng trong từng bài thơ cụ thể,
nó lại mang đến những hiệu quả nhất định
Như vậy, mỗi kiểu từ láy lại có sự đóng góp khác nhau nhưng tất cả đã làmnên phong cách và thành công trong các thi phẩm của Nguyễn Duy
2.2.2 Nhận xét kết quả thống kê theo thể thơ
2.2.2.1 Thể thơ lục bát
Trong khi một số nhà thơ cùng thời say sưa đi tìm những hình thức biểu hiệnmới khiến cho các bài thơ không vần, thơ văn xuôi… thì Nguyễn Duy vẫn bền lòngchung thuỷ với thể lục bát bằng một niềm ưu ái đặc biệt Nguyễn Duy xuất hiện
trong làng thơ Việt Nam với hai bài thơ lục bát: Bầu trời vuông và Tre xanh trong
số ba bài thơ được giải thưởng của Báo Văn nghệ năm 1973 Vì vậy, ta không khó
để lí giải tại sao số lượng bài thơ lục bát lại vượt trội hơn so với các thể thơ còn lại.Trong số 247 bài thơ đã khảo sát, chúng tôi đã thống kê được 135 bài thơ lục bát đikèm với đó là 793 từ láy (tương ứng với 65.9%) Qua đó, chúng tôi nhận thấy từ láyđược sử dụng rộng rãi với tần số xuất hiện nhiều (trung bình 6 từ láy/bài thơ) Đặc
biệt, một số bài thơ có số lượng từ láy được sử dụng nhiều như: Xuồng đầy – 13 từ
Trang 32(Nguyễn Duy (1984), Ánh trăng, Nxb Tác phẩm mới), Em ơi gió – 15 từ (Nguyễn Duy (1994), Về, Nxb Hội nhà văn), Buổi sáng sau chiến tranh – 10 từ (Nguyễn Duy (1995), Cát trắng, Nxb Quân đội nhân dân)…
Bên cạnh những bài thơ có số lượng từ láy vượt trội, chúng tôi đã thống kêđược 7/135 bài thơ (tương ứng 5.2%) hoàn toàn không sử dụng từ láy, chẳng hạn:
San Jose, Washington, mùa phơi…
2.2.2.2 Thể thơ tự do
Mặc dù đứng vị trí sau lục bát, nhưng thơ tự do cũng là thể thơ mà NguyễnDuy tâm đắc Có lẽ nhà thơ cũng nhận thấy thể thơ lục bát có những hạn chế trongviệc biểu hiện cái quyết liệt và sôi nổi của hiện thực khách quan Cuộc sống với tất
cả sự phong phú và những sắc thái đa dạng nhất cũng gặp khó khăn khi đưa vào thơlục bát Trong khi đó, thể thơ tự do lại có đầy đủ khả năng biểu hiện Nó hoàn toànkhông bị gò bó bởi những quy tắc, luật lệ như các thể thơ cách luật truyền thống.Thể thơ tự do rất cởi mở, linh hoạt, luôn tạo điều kiện thuận lợi cho nhà thơ miêu tảsinh động thực tế khách quan cũng như biểu hiện những rung động, cảm nghĩ mộtcách chân thật nhất Đó là lý do để cho hồn thơ hiện đại mang trái tim nhiệt huyết,nặng nợ với đời - Nguyễn Duy, tìm đến với thơ tự do
Trong tổng số 247 bài thơ đã khảo sát, thơ tự do chiếm 103 bài đi cùng với
đó là 371 từ láy (tương đương 30.8%) Tìm hiểu mảng thơ này của Nguyễn Duy,
chúng tôi thấy có hiện tượng bên cạnh những bài thơ rất dài: Đánh thức tiềm lực,
Chiến hào, Tìm thân nhân, Nghe tắc kè kêu trong thành phố, Cô bé nhà bên…lại có
những bài thơ rất gọn gàng, cô đúc: Đà Lạt một lần trăng, Trăng sông Tiền, Sông
Thao, Đi ngang thành Nội… Hầu hết các bài thơ đều được chia thành những khổ
thơ rõ ràng, còn ở những bài thơ dài lại chia thành từng đoạn thơ theo mạch cảmxúc khác nhau Bên cạnh 17 bài thơ hoàn toàn không sử dụng từ láy, các bài thơ cònlại đều sử dụng với tần số tương đối cao Cá biệt, một số bài thơ sử dụng từ láy đậm
đặc: Đánh thức tiềm lực – 32 từ (Nguyễn Duy (1987), Mẹ và em, Nxb Thanh Hóa),
Nhìn từ xa…Tổ quốc – 31 từ (Nguyễn Duy (1989), Đường xa, Nxb Trẻ).
Trang 33Ấn tượng sâu sắc về thơ tự do của nguyễn Duy là giàu chất liệu hiện thực với
hệ thống chi tiết, sự kiện, hình ảnh của cuộc sống Trong đó, từ láy giữ một vai tròquan trọng trong việc cụ thể hóa, làm sinh động thêm hệ thống ấy Ngoài ra, việc sửdụng từ láy còn được xem như một biện pháp nghệ thuật độc đáo để Nguyễn Duythể hiện tâm tư, tình cảm, chiêm nghiệm của bản thân
2.2.2.3 Thể thơ ngũ ngôn
Thơ ngũ ngôn là một thể thơ truyền thống có từ xa xưa trong một số thể loạicủa thơ ca dân gian như vè, hát giặm, đồng dao hay thơ cổ phong (ngũ ngôn cổphong) và thơ Đường (ngũ ngôn Đường luật) Nhiều nhà thơ hiện đại đã sử dụngthể năm chữ để bộc lộ nội dung cảm xúc làm nên những thi phẩm nổi tiếng như
Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ, Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải…Mặc dù không chiếm ưu thế như các thể thơ lục bát, thơ
tự do…số lượng các bài thơ ngũ ngôn ít ỏi (có 9/247 bài, chiếm 3.6%), song cũngnhư bao nhà thơ hiện đại khác, Nguyễn Duy đã tìm thấy tiếng nói hoà hợp ở thể thơnày Trong 9 bài thơ ngũ ngôn, Nguyễn Duy đã sử dụng tổng số 40 từ láy (tươngứng với 3.3%)
Trên đây là kết quả thống kê các từ láy trong thơ Nguyễn Duy Qua đó,chúng tôi thấy tần số từ láy xuất hiện lớn Những từ láy này có tác dụng quan trọngtrong việc góp phần biểu đạt giá trị nghệ thuật, tư tưởng cũng như thể hiện phongcách nghệ thuật Nguyễn Duy
2.3 Hiệu quả nghệ thuật của từ láy trong thơ Nguyễn Duy
Từ láy là sản phẩm độc đáo của một phương thức cấu tạo từ quan trọng vàđặc sắc của tiếng Việt Với những đặc trưng ngữ nghĩa riêng như giá trị biểu trưng,sắc thái hoá, chuyên biệt hoá về nghĩa, từ láy trở thành một phương tiện ngôn ngữphục vụ đắc lực cho các sáng tác văn chương Đặc biệt đối với tác phẩm thơ trữtình, từ láy có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi những giá trị tu từ đặcsắc mà nó mang lại, đó là tính nhịp nhàng, cân đối, tính hình tượng, tính biểucảm…Nhờ sức biểu hiện của từ láy, những bức tranh về con người, sự vật, cảnhvật…được miêu tả trong thơ trở nên sinh động, cụ thể, gợi hình, gợi cảm Bên cạnh