Qua đó, hiểu thêm nét độc đáo về nghệ thuật thể hiện trong thơ viết bằng chữ Hán của Cao Bá Quát; thấy rõ mối quan hệ giữa nghệ thuật và đờisống hiện thực đã ảnh hưởng, chi phối tư duy t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÂM THỊ BẮC
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ TRỮ TÌNH TRONG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÂM THỊ BẮC
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ TRỮ TÌNH TRONG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT
Ngành: Văn Học Việt Nam
Mã ngành: 8 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Thị Thanh Nga
THÁI NGUYÊN - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực chưa từng được công bốtrong một công trình khoa học nào khác
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2021
Tác giả luận văn
Lâm Thị Bắc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn khoa học
TS Ngô Thị Thanh Nga đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong
mọi mặt để tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn,Phòng đào tạo Sau đại học trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, cùng toàn thểcác thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy chuyên ngành Văn học Việt Nam K27(2019 - 2021)
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường THPT Tú Đoạn, huyệnLộc Bình, tỉnh Lạng Sơn cùng toàn thể các đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, thầy cô và bè bạn đã luôn
hỗ trợ, hợp tác, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập,nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2021
Tác giả luận văn Lâm Thị Bắc
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC .iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Đóng góp mới của đề tài 7
8 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8
1.1 Những vấn đề lí luận 8
1.1.1 Khái niệm tự sự 8
1.1.2 Khái niệm trữ tình 10
1.2 Những vấn đề thực tiễn 14
1.2.1 Về tiểu sử Cao Bá Quát 14
1.2.2 Quan niệm thơ văn của Cao Bá Quát 21
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2: NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT 30
2.1 Phương thức tự sự trực tiếp và chân thực 30
2.2 Phương thức tự sự thiên về miêu tả, biểu hiện tâm lí 39
2.3 Nhịp kể và phương thức kể chuyện linh hoạt 46
2.4 Ngôn ngữ kể mộc mạc, giản dị 53
Trang 6Tiểu kết chương 2 59
Chương 3: NGHỆ THUẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT 60
3.1 Phương thức phản ánh thế giới chủ quan của tác giả 60
3.1.1 Biểu hiện trực tiếp 60
3.1.2 Biểu hiện gián tiếp 64
3.2 Ngôn ngữ trữ tình 66
3.2.1 Ngôn ngữ thơ hàm súc, cô đọng 66
3.2.2 Ngôn ngữ giàu tính nhạc 73
3.2.3 Ngôn ngữ giàu tính họa 77
3.3 Giọng điệu trữ tình 81
2.2.1 Giọng điệu kiêu hãnh, tự hào 83
2.2.2 Giọng điệu khuyên bảo, dặn dò 84
2.2.3 Giọng điệu oán trách, bi phẫn 87
3.4 Sự kết hợp giữa nghệ thuật tự sự và trữ tình trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát 88
Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt Nam trong giai đoạn giữa thế
kỉ XIX Nghiên cứu về cuộc đời và thơ ca của ông là rất cần thiết và hấp dẫnvới nhiều thế hệ
Cao Bá Quát đã để lại một di sản quý giá về thơ ca, đặc biệt là thơ chữHán Việc tìm hiểu thơ văn của ông không phải là điều đơn giản bởi vì chủ yếu
đó là các tác phẩm được viết bằng chữ Hán, để hiểu hết về ngôn ngữ, về cáchdiễn đạt cho thấu đáo không phải là dễ dàng
chọn đề tài “Nghệ thuật tự sự và trữ tình trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát” để
nghiên cứu
Trang 82 Mục đích nghiên cứu
Đề tài luận văn nhằm hướng tới những mục đích sau:
2.1 Góp phần tìm hiểu một cách có hệ thống, sâu sắc và cụ thể hơn về
giá trị thơ chữ Hán của Cao Bá Quát, đặc biệt là về mặt nghệ thuật qua việc
đi sâu vào vấn đề “Nghệ thuật tự sự và trữ tình trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát” Qua đó, hiểu thêm nét độc đáo về nghệ thuật thể hiện trong thơ viết
bằng chữ Hán của Cao Bá Quát; thấy rõ mối quan hệ giữa nghệ thuật và đờisống hiện thực đã ảnh hưởng, chi phối tư duy thơ ca của tác giả, giúp ta nhận
ra thái độ chính trị, tư tưởng, tình cảm của nhà thơ đối với bản thân và nhândân, tấm lòng nhân đạo sâu sắc, khẳng định vị trí của ông trong nền văn họcnước nhà
2.2 Nghiên cứu đề tài “Nghệ thuật tự sự và trữ tình trong thơ chữ Hán
Cao Bá Quát” giúp cho người viết có thêm một lượng kiến thức về Cao Bá
Quát để giảng dạy ở trường THPT, đặc biệt là công tác ôn thi học sinh giỏiđược tốt hơn Hơn nữa, đây cũng là một tác gia đang được chú ý để nghiên cứusâu hơn Việc tìm hiểu vấn đề này nhằm kế thừa và phát triển những nghiêncứu trước đây, và sẽ góp phần đem đến nhiều hiểu biết về thơ văn Cao Bá Quátnói chung và thơ văn chữ Hán của ông nói riêng
3 Lịch sử vấn đề
Cao Bá Quát là một nhà thơ lớn và xuất sắc dưới chế độ phong kiến thờinhà Nguyễn Ông là một người có tài năng xuất chúng, có nhân cách lớn củamột nhà nho, sống gần gũi nhân dân lao động nên có tư tưởng tiến bộ, thươngdân, yêu nước, căm giận bộ máy cai trị nhà Nguyễn tham nhũng, hà khắc, thẳngtay đàn áp, bóc lột dân chúng Xét về góc độ thơ ca thì, Cao Bá Quát là một nhàthơ lớn và đáng kính trọng, đáng học hỏi Chỉ tiếc là thơ của ông phần lớn đượcviết bằng chữ Hán, nên việc phổ biến có khó khăn, hạn chế nhưng khi đi sâuvào nghiên cứu thì người ta sẽ học được rất nhiều từ quan điểm nghệ thuật vàphong cách thơ đặc sắc của Cao Bá Quát
Trang 9Năm 1853, Cao Bá Quát đã trở thành một trong những người lãnh đạocủa cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương, chết giữa trận tiền Quốc Oai năm 1855 Vua
Tự Đức đã ra lệnh thu hồi và tiêu hủy những tác phẩm văn chương của ông.Tuy nhiên, Cao Bá Quát được dân chúng kính ngưỡng về nhân cách, tài hoa,khí phách và tinh thần yêu nước thương dân nên đã cất giấu được khá nhiều tácphẩm của nhà thơ Tác phẩm của Cao Bá Quát còn được lưu truyền đến nay là
1353 bài thơ, 21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối
Từ trước Cách mạng tháng Tám, cuộc đời và thơ văn Cao Bá Quát đãđược nhiều người quan tâm nghiên cứu khá sớm nhưng đó chủ yếu là nhữngbài kể hoặc tả lại về cuộc đời của Cao Bá Quát, những bài thống kê về các sángtác của ông, hoặc thảng có một vài bài bình luận đánh giá về một vài bài thơcủa Cao Bá Quát Phải đến sau khi thống nhất đất nước 1975 vấn đề về Cao BáQuát mới được nghiên cứu đầy đủ và sâu rộng hơn Trong luận văn này chúngtôi xin điểm qua một vài công trình nổi bật như sau:
Năm 1978, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp in bộ sách
Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX ) gồm 2 tập của nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc (Cuốn này đến năm 1999 được in gộp với bộ Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX [Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp xuất bản 1971] thành cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX) Với công trình này thì thơ văn Cao Bá Quát mới được nghiên cứu ở một
mức độ sâu hơn, gần như khái quát được hết nội dung tư tưởng của thơ vănChu Thần Cao Bá Quát [22, 518-543] Tuy nhiên đây chỉ mới dừng lại ở mộtgóc độ giáo trình, chưa phải là một công trình chuyên khảo, chuyên sâu về mộtlĩnh vực có mức độ cụ thể hơn
Đến năm 1987, Nhà xuất bản Văn học cho in công trình tiểu luận Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập II của Xuân Diệu trong đó có bài viết về Cao Bá
Quát (bài viết được in trong Tác phẩm mới, H, số 11 - 1971) Trong bài tiểuluận này, nhà thơ Xuân Diệu đã có những phát hiện hay và tâm huyết đối với
Trang 10thơ chữ Hán của Cao Bá Quát khi ông cho thơ Cao Bá Quát là “chí khí và tâmhuyết” [11] Tuy nhiên bài viết mới chỉ dừng lại ở bình luận và chưa đưa rađược các đề mục cũng như chưa thể khái quát hết được nội dung tư tưởng củathơ văn Cao Bá Quát.
Đến năm 2003, nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi trong Tạp chí Văn học
số 8 đã có bài viết “Tiếp cận nghệ thuật đối với hai chủ đề độc đáo trong thơ Cao Bá Quát" Trong bài viết này, tác giả đã đi sâu tìm hiểu hai chủ đề: chủ đề
trữ tình bi phẫn và chủ đề về cái nhìn tỉnh táo, nhạy cảm đối với tấn bi kịch lớpngười “dưới đáy” trong số rất nhiều chủ đề trong thơ Cao Bá Quát.[6]
Thời gian gần đây, vấn đề về thơ chữ Hán Cao Bá Quát nhận được quan
tâm nhiều hơn, trong công trình nghiên cứu Cao Bá Quát- Lương tâm và khí phách qua thơ chữ Hán, Đinh Thị Thái Hà đã đi sâu vào tìm hiểu nội dung thơ
chữ Hán của Cao Bá Quát (con người, thời đại, lương tâm và khí phách) Qua
đó tác giả khẳng định những giá trị trong sáng tác chữ Hán của Chu Thần [14]
Khi đi sâu vào tìm hiểu về “Tính tự sự” trong thơ chữ Hán của Cao Bá
Quát, chúng tôi nhận thấy có một số công trình sau:
Vấn đề “Tính tự sự trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát” đã xuất hiện rải rác
ở một số công trình nghiên cứu Đó là những lời giới thiệu, hay là một số tiểuluận trên các tạp chí văn học hoặc là các công trình văn học sử
Trong cuốn Thơ văn Cao Bá Quát, Vũ Khiêu đã phần nào đề cập đến
“tính tự sự” trong thơ chữ Hán của Cao Bá Quát với những “hoàn cảnh riêng”
in bóng trong tác phẩm Đồng thời ông cũng chỉ ra đối tượng mà nhà thơ hướngtới để kể, tả khá nhiều trong tập thơ Họ là người dân nghèo khổ, các nhân vậtlịch sử… và đôi khi là chính bản thân người nghệ sĩ Tác giả có những nhận xét
về biểu hiện tính tự sự trong thơ ca chữ Hán Cao Bá Quát [16]
Cuốn Cao Bá Quát về tác gia và tác phẩm (Nhiều tác giả, Nxb Giáo
dục,
2006) [31] là công trình nghiên cứu tập hợp được khá nhiều bài viết về Cao Bá
Quát Ở đó vấn đề “Tính tự sự trong Thơ chữ Hán Cao Bá Quát” cũng rất được
các tác giả quan tâm Tiêu biểu là một số ý kiến sau đây:
Trang 11Trương Chính qua bài viết “Cao Bá Quát - những khoảng đời và thơ”
nhận định rằng: “Trong thơ Cao Bá Quát ngoài chuyện mây, gió, trăng, sao tacòn thấy có chuyện về cảnh sống đời hiện thực Đó là những bài phỏng theonhạc phủ cổ, tức là những bài làm theo tinh thần phong nhã ông nói trong bài
tựa viết cho Thương sơn thi tập Toàn là thơ kể khổ, chủ yếu là khổ của nhân
dân: đói kém, thuế má, lính tráng, phu phen…” (tr.278)
Trong khóa luận của Nguyễn Thị Uyên về “Tính tự sự trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát” đã bàn đôi chút về nội dung tự sự trong thơ Chu Thần Ở bài
viết này, tác giả đã tìm hiểu về một số nội dung được Cao Bá Quát kể, tả lạitrong thơ như: tự thuật về bản thân, tự sự về con người, về thế giới cảnh vật
Trong bài viết “Tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát” tác giả Canh Chương (2011) đã khai thác về nội dung trữ tình được thể
hiện trong thơ Chu Thần như: cái tôi trữ tình đằm thắm và tiến bộ, đó là tìnhyêu quê hương đất nước, là tình cảm đối với gia đình, bạn bè, xóm làng, tìnhthương yêu con người nghèo khổ, bất hạnh, đó còn là cái tôi trữ tình đậm bảnlĩnh và phong cách nhà thơ
Ngoài ra, còn những bài viết khác như: “Cao Bá Quát trên văn đàn thế kỷ XIX” của Nguyễn Đổng Chi; “Đọc thơ Cao Bá Quát” của Xuân Diệu; “Cao Bá Quát và những suy tưởng trong thơ” của Nguyễn Hữu Sơn; “Nội dung tư tưởng
và đặc sắc văn chương Cao Bá Quát” của Phạm Thế Ngũ;… cũng đề cập đến một số khía cạnh thuộc “Tính tự sự trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát” [46].
Từ những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy các vấn đề về
tự sự và trữ tình trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát đã được đề cập đến ở những
góc độ khác nhau, hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp Tuy nhiên, những công trìnhnghiên cứu đó chưa đặt thành vấn đề riêng biệt, chưa khảo sát toàn diện, hệthống còn mang tính tản mạn, đặc biệt là các công trình trên chủ yếu đi tìmhiểu, nghiên cứu riêng biệt về tính tự sự hoặc trữ tình, còn sự kết hợp giữa haiyếu tố này trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát thì chưa có công trình nào đề cập,nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, đặc biệt là nghệ thuật tự sự và trữ tình
Trang 12là những điểm nghệ thuật khá tiêu biểu trong thơ chữ Hán của Cao Bá Quát thìchưa nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn học Vì thế chúng tôi
lựa chọn "Nghệ thuật tự sự và trữ tình trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát" làm đề
tài nghiên cứu của luận văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tiếp thu những thành tựu có trước, luận văn tập trung nghiên cứu nhữngvấn đề sau:
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghệ thuật tự sự và trữ tình (trong thơ chữ Hán của Cao Bá Quát)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thơ chữ Hán của Cao Bá Quát trong cuốn Thơ văn chữ Hán Cao Bá Quát của Vũ Khiêu giới thiệu, nhóm dịch giả (1984) [15] và cuốn Tuyển tập thơ chữ Hán Cao Bá Quát của dịch giả Trần Văn Nhĩ (2011) [28].
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu về những vấn đề lí luận: Khái niệm tự sự, khái niệm trữ tình
- Tìm hiểu những vấn đề thực tiễn: Tiểu sử và quan niệm thơ văn của
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này chủ yếu được thực hiện qua các phương pháp nghiên cứu vănhọc sử, phân tích tác phẩm và so sánh
Phương pháp nghiên cứu văn học sử được chúng tôi sử dụng trong việctìm hiểu về lịch sử, thời đại Cao Bá Quát
Trang 13Phương pháp phân tích tác phẩm văn học được chúng tôi sử dụng để phântích các phương diện nghệ thuật tự sự và trữ tình được thể hiện trong thơ chữ HánCao Bá Quát Qua đó thấy được nội dung tư tưởng mà tác giả gửi gắm.
Phương pháp so sánh được chúng tôi sử dụng trong việc so sánh thơ chữHán Cao Bá Quát với các tác phẩm cùng thời đại, đặt nó vào trong hệ thốngvăn học trung đại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, để thấy tính độc đáo của Cao
Bá Quát về nghệ thuật tự sự và trữ tình
7 Đóng góp mới của đề tài
Về mặt lý luận: Luận văn này góp phần khẳng định giá trị nghệ thuật và
nội dung nhân đạo sâu sắc của thơ ca chữ Hán Cao Bá Quát qua nghiên cứu,tìm hiểu về nghệ thuật tự sự và trữ tình
Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần vào việc giảng dạy, học tập các
chuyên đề, chủ đề dạy học hay học tập theo dự án về tác giả, các tác phẩm củaCao Bá Quát trong nhà trường phổ thông và tác phẩm thuộc thể loại trữ tình nóichung
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, phần Nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài CHƯƠNG
2: Nghệ thuật tự sự trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát CHƯƠNG 3:
Nghệ thuật trữ tình trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Những vấn đề lí luận
1.1.1 Khái niệm tự sự
Theo Trần Đình Sử: “Tự sự là loại tác phẩm văn học tái hiện trực tiếphiện thực khách quan như có một cái gì tách biệt ở bên ngoài đối với tác giảthành một câu chuyện có diễn biến của sự việc, của hoàn cảnh có sự phát triểncủa tâm trạng, tính cách, hành động của con người Đó là thể loại văn học phảnánh hiện thực đời sống một cách khách quan bằng cách kể lại sự việc, sự kiện,miêu tả tính cách nhân vật… có đầu có cuối thông qua cốt truyện tương đốihoàn chỉnh và được kể lại bằng một người kể nào đó.” [35, 250]
Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học phân biệt rằng: “Tự sự là
phương thức tái hiện đời sống bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình vàkịch, được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học” [29, 385]
Bên cạnh đó, Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Tự sự là thể loại văn học
trong đó nhà văn phản ánh thế giới bên ngoài bằng cách kể lại sự việc, miêu tảtính cách thông qua một cốt truyện tương đối hoàn chỉnh” [32, 1332]
Vậy, dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm tự sự nhưng cóthể được hiểu theo ý chung là: Tự sự là phương thức nhà văn tái hiện đời sốngbằng cách kể lại các sự việc, con người, hiện tượng xã hội…
Trên đây là cách hiểu về khái niệm tự sự trong văn xuôi, còn tự sự trongcác tác phẩm văn học thuộc thể loại khác có đôi phần khác biệt Trong thơ ca,đặc biệt là thơ trữ tình, "tự sự" được hiểu là chất "kể chuyện", là tính có "cốttruyện" của tác phẩm Tính "tự sự" trong thơ trữ tình là kiểu thơ "kể chuyện" vớimột hệ thống đầy đủ các yếu tố như: Sự kiện, nhân vật, thời gian, không gian
Tác phẩm trữ tình có tính tự sự không chỉ thiên về tả cảnh, tả tình, gợicảm xúc mà còn diễn tả trong đó là các câu chuyện có thể là ngọn nguồn củacảm xúc đó
Trang 15Nghiên cứu về tính tự sự trong tác phẩm trữ tình là đi vào tìm hiểuphương thức tái hiện đời sống của nhà văn qua sáng tác trữ tình, tức là tìm hiểuxem tác giả đã kể chuyện gì, kể về việc gì đó là những yếu tố thuộc vềphương diện nội dung để qua đó thấy được ý nghĩa tư tưởng của bài thơ Cònnghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong tác phẩm trữ tình là tìm hiểu về phươngdiện nghệ thuật, tức là tìm hiểu xem tác giả đã kể chuyện, kể về việc đó như thếnào ? Đó có thể là phương thức tự sự trực tiếp hay gián tiếp của nhân vật trữtình, của tác giả, có thể là phương thức tự sự thiên về miêu tả hành động haytâm lí, giọng điệu vui tươi hay bi phẫn, ngôn ngữ kể chuyện trang trọng haymộc mạc, giản dị tất cả những yếu tố trên chính là nghệ thuật tự sự được nhàvăn sử dụng để góp phần biểu hiện nội dung tư tưởng trong sáng tác của mình.
Trong khuôn khổ giới hạn của luận văn này, chúng tôi tìm hiểu về tính tự
sự trong tác phẩm trữ tình, được coi là một nghệ thật góp phần mang lại giá trịcho những sáng tác trữ tình của các nhà thơ trung đại nói chung và Cao BáQuát nói riêng
Đọc hai câu thơ mở đầu trong bài "Tự tình" (Bài II) của Hồ Xuân
Hương, người đọc có thể thấy tính tự sự được thể hiện rất rõ nét:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non ”
Câu thơ đầu đã mở ra một khung cảnh về khuya thanh vắng Có thể nhận
ra thời điểm ấy qua các từ “đêm khuya”, “văng vẳng” Đặc biệt, bước đi của thời
gian trở nên gấp gáp hơn khi trong không gian xuất hiện âm thanh thúc giục
của tiếng “trống canh dồn” Tính tự sự ở đây được thấy qua thời gian, không
gian trong câu thơ Ý thơ như kể lại câu chuyện của một người trong đêmkhuya thanh vắng, lắng nghe tiếng trống canh dồn dập, giục giã trong nỗi trốngtrải, cô đơn Chính trong hoàn cảnh ấy, nhân vật cay đắng, chua xót nhận ra sự
hẩm hiu của duyên phận Từ “trơ” như một từ khóa tô đậm phong thái của nhân vật khi nghĩ về “cái hồng nhan” nhiều truân chuyên Từ “trơ” còn thể hiện cá
tính, sự mạnh mẽ của nhân vật trữ tình trước những thách thức của cuộc đời
Trang 16Vì vậy, tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong tác phẩm trữ tình cũng góp phầnhiểu rõ hơn ý nghĩa tư tưởng nhà văn gửi gắm trong đứa con tinh thần của họ.Tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong các tác phẩm trữ tình cũng là con đường giúp
ta hiểu sâu sắc hơn chân dung cuộc sống qua hình thức diễn đạt trữ tình, tưtưởng của tác phẩm và tâm tư, tình cảm mà các tác giả gửi gắm
1.1.2 Khái niệm trữ tình
Theo Lại Nguyên Ân: Trữ tình là ''Một trong ba loại văn học (bên cạnh
tự sự và kịch), ở đây cái được đề lên hàng đầu là chủ thể phát ngôn và thái độcủa nó đối với cái được mô tả" [ 3, 346]
Trữ tình là phương thức phản ánh bằng cách bộc lộ trực tiếp hoặc giántiếp tình cảm, ý thức của tác giả thông qua cái tôi trữ tình, mang đậm dấu ấn cánhân của chủ thể
Trên một trang báo nghiên cứu về các vấn đề lí luận văn học, tác giả cónhận định rằng: "Thơ trữ tình dùng để chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình,trong đó nhà thơ bộc lộ một cách trực tiếp những cảm xúc riêng tư, cá thể vềđời sống, thể hiện tư tưởng về con người, cuộc đời và thời đại nói chung Nộidung của thơ trữ tình là biểu hiện tư tưởng, tình cảm làm sống dậy cái thế giớichủ thể của hiện thực khách quan, giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy tưtâm trạng, nỗi niềm" [43]
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, nhóm tác giả biên soạn đã cho
rằng: "Phương thức trữ tình cũng tái hiện các hiện tượng của đời sống, như trựctiếp miêu tả phong cảnh thiên nhiên hoặc thuật lại ít nhiều sự kiện tương đối liêntục nhưng sự tái hiện này không mang mục đích tự thân, mà tạo điều kiện đểchủ thể bộc lộ những cảm xúc, chiêm nghiệm, suy tưởng của mình " [29, 373]
Từ những quan niệm trên có thể hiểu rằng: Trữ tình là bày tỏ cảm xúc,nói lên tư tưởng, tình cảm của tác giả Trữ tình không chỉ nhằm mục đích miêu
tả cảnh vật, sự việc, nhân vật mà thông qua cảnh vật, sự việc để bộc lộ tìnhcảm, cảm xúc của tác giả Qua đó nhà thơ bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc,chiêm nghiệm của mình
Trang 17Nghiên cứu về nghệ thuật trữ tình trong thơ là đi vào tìm hiểu về nhữngphương thức được tác giả sử dụng để bộc lộ cảm xúc, những suy tưởng, chiêmnghiệm trước cuộc sống và con người Hay nói cách khác đó là tìm hiểu vềcách thức bộc lộ tâm trạng, cảm xúc trong tác phẩm trữ tình.
Nghệ thuật trữ tình trong thơ thường được thể hiện ở các phương diện:Phương thức phản ánh thế giới chủ quan của tác giả, ngôn ngữ và giọng điệutrữ tình
Về phương thức phản ánh thế giới chủ quan của tác giả, thơ trữ tình chủyếu được nói đến như một bản tự thuật tâm trạng cả chủ thể và khách thể mà ở
đó chủ thể và khách thể hòa vào nhau, có khi là một Ở đó, nhà thơ biểu hiệntrực tiếp thế giới chủ quan của mình, bộc lộ cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ đốivới con người, cuộc đời và thế giới thiên nhiên, như Trạng Trình Nguyễn BỉnhKhiêm đã tự bạch về cuộc sống thôn quê thanh dã, nhàn tản, tự tại của mình
qua những câu thơ trong bài Nhàn
"Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn, dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao "
(Nguyễn Bỉnh Khiêm - Nhàn)
Nhưng trong tác phẩm trữ tình không phải lúc nào tác giả cũng chính lànhân vật trữ tình và trực tiếp bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ của mình Cónhiều khi nhà thơ lại thông qua tâm trạng, suy tư, nhận thức của nhân vật kháchoặc của thế giới khách quan mà bộc lộ quan điểm, suy nghĩ, đánh giá củamình Đó là lúc "Nhà thơ lại có thể hóa thân trong một nhân vật khác, tạo thànhnhân vật trữ tình nhập vai" [ 24, 360] Trong các bài thơ trữ tình nhập vai, nhàthơ hóa thân vào nhân vật khác để nói lên cảm xúc, tâm trạng của nhân vật
đó Vì vậy nhân vật trong vai trò này có mối quan tâm riêng, có cảnh ngộ vàđời sống riêng Nhưng dù nhập vai vào nhân vật khác điều cốt lõi cũng là tácgiả muốn bộc lộ cảm xúc, tình cảm của bản thân đối với con người và cuộc
Trang 18sống Ví dụ trong bài thơ Nhớ rừng Thế Lữ đã hóa thân vào hình ảnh một con
hổ bị giam cầm trong vườn bách thú để nói lên cái ngột ngạt, tù túng, căm hờntrong cảnh bị giam hãm, tù đày:
"Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ, Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm, Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi "
(Nhớ rừng)
Trong tác phẩm trữ tình thì phương thức bộc lộ trực tiếp tâm trạng,cảm xúc của tác giả và cách tác giả miêu tả thế giới khách quan rồi qua đóthể hiện quan điểm, suy nghĩ của mình cũng có mối quan hệ mật thiết vớinhau Những cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng rất riêng biệt của người nghệ sĩ
có thể là biểu hiện cho tâm trạng, suy nghĩ của cả một lớp người, một nhómngười hay cả một thế hệ
Về ngôn ngữ thơ trữ tình: Theo nhóm tác giả Phương Lựu, Trần Đình
Sử, Nguyễn Xuân Nam, trong cuốn Lí luận văn học thì ngôn ngữ trong thơ
trữ tình có hai đặc điểm: Ngôn ngữ thơ bão hòa cảm xúc và ngôn ngữ thơ giàunhạc tính [24, 365 - 370]
Về ngôn ngữ thơ bão hòa cảm xúc, các tác giả trên cho rằng ngôn ngữthơ không bao giờ là ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh của tác phẩm tự sự Lờithơ thường là lời đánh giá, trực tiếp thể hiện một quan hệ của chủ thể đối vớicuộc đời Hay đó là lời phán xét bộc trực trước các hiện tượng trong cuộc sống.Lời thơ thường là lời đánh giá kể cả khi miêu tả
Thơ trữ tình là lời của chủ thể và trong lời thơ bản thân nó đã là hànhđộng của ý chí, niềm tin và ước vọng
Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay, Vượn hót chim kêu suốt cả ngày.
Trang 19Khách đến thì mời ngô nếp nướng, Săn về thường chén thịt rừng quay.
Non xanh, nước biếc tha hồ dạo, Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say
Kháng chiến thành công ta trở lại, Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.
(Hồ Chí Minh- Cảnh rừng Việt Bắc)
Vậy nên, sự lựa chọn từ ngữ, các biện pháp tu từ đều nhằm mục đíchlàm nổi bật nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự phê phán hay đồng cảm Đểhiểu được tâm hồn của tác giả, người đọc cần thấy được từ ngữ mang sức nặng
tình cảm trong mỗi câu thơ, cái mà người ta thường gọi là "thi nhãn" Ở bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc những từ ngữ hay, suốt, mời, chén, tha hồ là sự lựa chọn
tinh tế của Bác nhằm bộc lộ niềm vui, niềm say mê và tự hào khi nói về cuộcsống ở Việt Bắc Những hình ảnh, âm thanh hiện lên rất chân thực, rất gần gũinhưng chứa đựng niềm vui, niềm phấn khởi của nhà thơ Qua những từ ngữ thơnhư vậy mà tâm trạng, cảm xúc trong thơ có thể được diễn đạt bằng những lốinói cô đọng nhưng người đọc vẫn có thể hiểu chính xác ý nghĩa của nó
Thơ ca thể hiện những nhận thức, suy tư của người nghệ sĩ về cuộc sống
và con người một cách gián tiếp Để đạt được hiệu quả nghệ thuật như vậy,người nghệ sĩ cần đi vào khai thác khả năng biểu hiện của ngôn ngữ Đó là kếtquả của cả một quá trình tìm kiếm và tổ chức sắp xếp một cách có chọn lọc vềngôn ngữ sao cho từ một hình thức biểu đạt có thể có nhiều nội dung biểu đạt.Đây là kết quả của quá trình chuyển nghĩa tạo nên tính đa nghĩa trong thơ Đóchính là tính cô đọng, hàm súc của ngôn ngữ trong thơ trữ tình, một đặc trưngtiêu biểu nhất của thể loại văn học này
Còn về ngôn ngữ thơ giàu tính nhạc: Là những cảm xúc, suy tưởng,chiêm nghiệm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ màbằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy Nhịp điệu là một trong những đặc
Trang 20trưng cơ bản của tác phẩm trữ tình Âm thanh, nhịp điệu bổ sung ý nghĩa cho từngữ, gợi ra những ý nghĩa mà từ ngữ nhiều khi không nói hết được Tính nhạctrong thơ được tạo ra bởi khuôn nhịp, nhịp điệu, vần và được thể hiện ở ba mặt:
sự cân đối, sự trùng điệp và sự trầm bổng
Về ngôn ngữ thơ giàu tính họa: Là khả năng của ngôn ngữ có thể tái hiệnlại những hiện tượng của cuộc sống một cách cụ thể, sinh động Mà ở đó bứctranh cuộc sống được xây dựng bằng những từ ngữ gợi hình, gợi cảm, gợithanh Ngôn ngữ có tính hình tượng có khả năng gây ấn tượng mạnh mẽ, tácđộng sâu xa vào trí tưởng tượng và cảm nghĩ của người đọc
Về giọng điệu, thơ trữ tình bộc lộ cảm xúc đa dạng, phong phú của nhàthơ trước cuộc sống, con người và thời đại
Như vậy, tìm hiểu về nghệ thuật trữ tình trong thơ tức là nghiên cứu vềphương thức phản ánh thế giới chủ quan của tác giả, ngôn ngữ và giọng điệutrữ tình, qua đó thấy rõ được phương thức mà nhà thơ sử dụng để bộc lộ cảmxúc, suy nghĩ của mình qua tác phẩm trữ tình để hiểu hơn về đời sống tâm hồncủa tác giả
1.2 Những vấn đề thực tiễn
1.2.1 Về tiểu sử Cao Bá Quát
Nửa đầu thế kỷ XIX nền văn học dân tộc ta đã xuất hiện khá nhiều nhàthơ đặc sắc, xuất chúng như Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Tùng ThiệnVương, Tuy Lý Vương, nhưng tiêu biểu nhất phải kể đến đó là Cao Bá Quát
Thơ văn của ông được đánh giá cùng với Tiền Hán, Thịnh Đường (Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán/Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường) Đức độ của ông
được người đời yêu mến và cũng không khỏi xót thương
Cao Bá Quát (1809 - 1855) tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường và MẫnHiên Ông cùng người anh song sinh là Cao Bá Đạt sinh trưởng trong gia đình
có truyền thống nho học tại làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (Naythuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội) Làng Phú Thị quê ông là một ngôi
Trang 21làng nhỏ nhắn, xinh xắn cách Hà Nội khoảng chừng 20 cây số Đó là ngôi làng
có truyền thống văn hóa lâu đời, là niềm tự hào của người dân nơi đây vớitruyền thống từ lâu đã được lưu truyền: hiếu học Không chỉ vậy, làng Phú Thịcòn có nền kinh tế phát triển vào bậc khá trên mảnh đất Kinh Bắc trù phú Cao
Bá Quát xuất thân trong gia đình họ Cao từng có nhiều người đỗ đạt, làm quan
và nổi tiếng học hay biết rộng, như Cao Bái Hiên, Cao Cửu Chiếu, Cao DươngTrạc, Cao Huy Diệu Ông đồ Giảng, thân sinh của Cao Bá Quát cũng là mộtnhà nho danh tiếng, một vị Tú tài hay chữ, mặc dù ông không tham gia thi cử
để ra làm quan nhưng lại được quan địa phương đề cử là Hiền lương, một chứcdanh mà nhiều người mong ước Điều này đã cho thấy sự tin yêu, kính trọngcủa quan lại và nhân dân đối với ông Tuy ông không dấn thân vào chốn quantrường nhưng lại muốn các con học hành thành đạt, ra làm quan và sẽ trở thànhnhững bậc hiền thần nên đã đặt tên hai con song sinh là Bá Đạt và Bá Quát làhai bậc hiền thần của nhà Chu ở Trung Quốc vốn cũng là anh em sinh đôi Ông
đã đặt sự kỳ vọng lớn của mình vào hai người con trai này.Vì vậy Cao Bá Quát
có hiệu là Chu Thần (Bề tôi nhà Chu)
Từ thuở thiếu thời, Cao Bá Quát đã nổi tiếng là thần đồng Có giai thoại
kể rằng lúc mới lên mười tuổi, Cao Bá Quát đã làm được đủ các thể văn và tỏ
ra xuất sắc
Người làng Phú Thị vẫn còn lưu truyền một câu chuyện trong dân gian
kể về cậu bé Bá Quát Chuyện kể rằng ở địa phương có viên lý trưởng nổi tiếng
là một kẻ tham lam, thường hay bớt xén quỹ công Nhân việc làng cho đắp đôivoi ở trước cửa đình, cậu bé Cao Bá Quát đã viết mấy câu thơ lên lưng voi:
Khen ai rõ khéo đắp đôi voi
Đủ cả đầu đuôi, đủ cả vòi Còn một cái kia sao chẳng thấy Hay là thày Lý bớt đi rồi?
Lại có câu chuyện rằng khi vua Minh Mạng ra tuần du Bắc Hà Khi ấyNgài có ra ngoạn cảnh Hồ Tây Đang chơi ở gần đó, Cao Bá Quát đã nhảy
Trang 22xuống hồ tắm mà không chịu lánh xa theo lệnh của binh lính Quân lính bắt cậu
và giải đến trước vua Cậu bé Quát khai mình là học trò nhà quê ra Hà Nội, vừalúc nóng nực nên xuống hồ tắm Vừa lúc nhìn thấy con cá lớn đuổi bắt đàn cá
bé dưới nước, vua Minh Mạng bèn ra một vế đối, hẹn nếu cậu bé đối được sẽtha đánh đòn Câu đối của Vua là:
Nước trong leo lẻo, cá đớp cá
Cậu bé Quát ứng khẩu đối lại rất nhanh:
Trời nắng chang chang, người trói người [26]
Chẳng rõ những giai thoại đó có bao nhiêu phần là thực, bao nhiêu phần
là hư cấu, chỉ biết rằng qua những câu chuyện này nhân dân đã giành tình cảmyêu mến và khâm phục đối với Cao Bá Quát, một con người tài năng xuấtchúng của dân tộc trong những năm nửa đầu thế kỉ XIX
Giống như các nho sĩ từ thời xưa, cha con Cao Bá Quát cùng hoài vọng
về một chế độ phong kiến cực thịnh mà ở đó vua là minh quân, tôi là tôi trung,đất nước thanh bình thịnh trị, nhân dân được sống trong cảnh thái bình, no ấm
Vì vậy Cao Bá Quát hăm hở bước vào con đường khoa cử, con đường mà theoông lúc bấy giờ sẽ thỏa mãn mọi ước mơ cháy bỏng, được dâng hiến tài năng
và tâm sức của mình Nhưng thực ra đó lại là con đường khoa cử nhọc nhằn,nhàm chán, dai dẳng với thực tế phũ phàng mà cả cuộc đời của ông về sau đãchứng minh Mang theo những hoài vọng lớn lao, cao cả năm 1821, khi mới 14tuổi, ông đi thi Hương lần đầu nhưng ngay từ lần khởi này ông đã nếm mùi củathất bại Nhưng không hề nản chí, cậu thiếu niên Cao Bá Quát coi thất bại ấychỉ là thử thách Ông tiếp tục những tháng ngày đèn sách không mệt mỏi dẫubiết rằng con đường phía trước còn dài, còn nhiều gian khó
Cao Bá Quát ngày càng trưởng thành về nhận thức Trong đám bạn họccùng từ thời niên thiếu ông là người vượt trội và xuất sắc hơn cả, nhận được lờikhen, sự cảm phục của nhiều người Với trí thông minh sẵn có và một tâm hồnnhạy bén cậu bé Bá Quát luôn quan sát, theo dõi, suy nghĩ đến những người,những việc diễn ra xung quanh mình Điều đó đã khiến cho cậu có được những
Trang 23ảnh hưởng từ quê hương, dòng tộc và gia đình, nhất là những ảnh hưởng củanhững ông thầy đồ dạy cậu như: Cao Huy Diệu, Phạm Dưỡng Am và đặc biệt
là Nguyễn Văn Siêu, hay những biến động của kinh thành Thăng Long Tất
cả đã hình thành nên ở Cao Bá Quát một con người nhà nho theo như truyềnthống, được trang bị đầy đủ những kiểu mẫu xử thế lập thân của chính nhânquân tử, cùng những qui phạm, khuôn khổ của lối văn chương trường ốc Đồngthời trong cậu vừa có một con người rất cá tính, đó là con người của cuộc sốnghiện thực đầy tính năng động, khát khao hiểu biết và khám phá, đánh giá mọiviệc trong sự tồn tại khách quan của nó Đây là cơ sở để hình thành ở Cao BáQuát một cái nhìn thực tế, một phẩm chất cao thượng và một tâm hồn tràn đầycảm hứng lý tưởng cao đẹp đối với cuộc đời và con người
Gần 10 năm sau (1831) ông lại tiếp tục thi Hương tại trường thi Hà Nội,lần này ông đậu Á nguyên (thứ nhì) nhưng sau đó lại bị truất xuống dưới cuốibảng không rõ vì lí do gì Theo nhiều tài liệu còn truyền lại, lí do ông bị đánhtụt hạng là vì bị bọn quan lại triều đình ghen ghét nên tìm cách hãm hại Hoặccũng có khả năng do bản tính phóng khoáng không thích bị trói buộc nên ông
đã vi phạm vào những quy định, khuôn khổ của kì thi Dù sao qua đó cũng chothấy đây là một xã hội bảo thủ, bất công, không coi trọng năng lực thực sự củacon người Cách thi cử không chú trọng đến tài năng mà chỉ quan tâm đến cácquy định Đối với một người có năng lực thực sự như Cao Bá Quát lúc bấy giờthì đó là sự bất công, là thiệt thòi cho đất nước bởi người có thực tài khôngđược ra phục vụ cho đất nước, cho nhân dân
Có thể nói, con đường khoa cử của Cao Bá Quát rất lận đận Từ đầu năm
1832 đến năm 1838, đã hai ba lần ông vào kinh đô Huế dự thi Hội nhưng đềuthi hỏng Có lần, vì quá phẫn chí, ông viết vào quyển thi đủ cả bốn loại chữ:chân, thảo, triện, lệ Có lẽ bởi ông không chịu tuân theo khuôn sáo của lối văntrường ốc, mặt khác, ông thường bị bọn quan trường ganh ghét, tìm cách đánhhỏng Lớn lên với những năm tháng rùi mài kinh sử với bao khát vọng cao đẹpcủa một con người muốn đem tài năng cống hiến cho đất nước, muốn trở thành
Trang 24bề tôi trung của một vị vua anh minh và triều đình công bằng, vững chắc Cao
Bá Quát đã quyết dấn thân vào con đường khoa cử như bao học trò thời bấy giờnhưng giờ đây, sau nhiều lần lều chõng đi thi và nhiều lần phải nếm trải cảmgiác thất bại ông mới hiểu được phần nào con đường chông gai mà mình phảitrải qua Đó không phải là con đường chinh phục học vấn bởi điều đó ông đã cósẵn, mà đó chính là những mảng đen tối trong chế độ thi cử của triều đình nhàNguyễn, đó là những mặt trái của danh lợi mà ông cho là tầm thường Nói về
sự hiểu biết của Chu Thần, có giai thoại kể lại rằng Cao Bá Quát thường nói:
“Chữ trong thiên hạ nhất vào 4 bồ; Mình Quát chiếm 2 bồ Anh của Quát là BáĐạt và bạn của Quát là Văn Siêu chung nhau 1 bồ Bồ còn lại chia cho khắp kẻsĩ” [26] Đó là lời tự nhận của kẻ sĩ tự tin với năng lực của mình !
Đọc bài thơ "Sa hành đoản ca" (Bài ca ngắn đi trên bãi cát) được ông
làm trong những năm tháng này ta sẽ cảm nhận rõ hơn về những khó nhọc vàmệt mỏi của ông trên con đường thi cử cũng như đường đời
"Trường sa phục trường sa Nhất bộ nhất hồi khước Nhật nhập hành dị vĩ Khách tử lệ giao lạc
Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu Tỉnh giả thường thiểu túy giả đồng Trường sa trường sa nại cừ hà Thản lộ mang mang úy lộ đa "
(Bãi cát dài, lại bãi cát dài,
Đi một bước như lùi một bước
Mặt trời đã lặn mà vẫn còn đi
Khách (trên đường) nước mắt lã chã rơi
Trang 25Hễ quán rượu ở đầu gió có rượu ngon,Thì người tỉnh thường ít mà người say vô số ! Bãi cát dài, bãi cát dài, biết tính sao đây ?Bước đường bằng phẳng thì mờ mịt, bước đường ghê sợ thì nhiều )
Trong suốt mười năm trời (1831 - 1841) Cao Bá Quát đã phải sống cuộc
sống khó khăn, nghèo khổ trong cảnh "Cơm phiếu mẫu hẩm xì", "Túi thanh bạch ngược xuôi miền khách địa" Có khi ông mở trường dạy học, cũng có lúc
ông sống những năm tháng nhàn phóng
Đầu năm 1841, sau khi Thiệu Trị lên ngôi, có lẽ vì muốn ghì cương "conngựa bất kham" nhà họ Cao nên triều đình nhà Nguyễn đã cho triệu Cao BáQuát vào kinh đô Huế làm Hành tẩu bộ Lễ Tháng 8 năm đó ông được cử làm
Sơ khảo trường thi Thừa Thiên Khi chấm bài thi của các sĩ tử, ông thấy một sốbài văn khá hay, sâu sắc nhưng tiếc thay những bài này lại có chỗ bị phạm húy,phạm vào quy định thi cử Vì vậy, ông bèn bàn với người bạn thân của mình làPhan Nhạ tìm cách cứu học trò có tài, bằng cách lấy muội đèn hòa với nướclàm mực sửa chữa những sai sót đó Không may, việc bị phát giác, hai ngườiđều bị bắt giam và bị xử tội, từ tội trảm quyết xuống tội trảm giam hậu (tộiđáng bị chết chém nhưng cho hoãn thi hành, giam lại để chờ lệnh vua) Thờigian bị bắt giam, tra khảo, phải chịu nhiều trận đòn oan nghiệt này là nhữngngày tháng buồn bực đau khổ, uất ức, căm thù nhất của ông Một số bài thơ củaCao Bá Quát làm trong thời kì này cho thấy ông nhiều lần bị tra khảo rất tànkhốc, nhiều lần phải hứng chịu nhục hình, roi vọt
Năm hết mới thoát khỏi nạn roi vọt Mới tin là tấm thân nhỏ nhoi còn được sống thừa (Chính nguyệt nhị thập nhất nhật di tống Thừa Thiên ngục tỏa cấm-
Ngày 21 tháng Giêng, bị giải sang giam ở ngục Thừa Thiên)
Nhưng trái với lẽ thường, khi ở tù con người ta sẽ mất hết tinh thần, trởnên chán nản, bi quan, Cao Bá Quát không như vậy Với ông những ngày tháng
Trang 26trong tù dù bị tra khảo, đánh đập dã man ông lại tràn trề một sức sống mãnhliệt Sau gần hai năm bị tra tấn, giam cầm, triều đình nhà Nguyễn hạ lệnh tạmtha cho Cao Bá Quát Tháng 12 năm Quý Mão (Tháng 01 năm 1844 dương
lịch) ông được phái đi "dương trình hiệu lực" ở Indonexia Thực chất đây chính
là một hình thức "lấy công chuộc tội" của triều đình nhà Nguyễn dành cho ông.
Cao Bá Quát đã phải đi theo phục dịch cho một sứ bộ do Đào Trí Phú dẫn đầu
để mua bán và trao đổi hàng hóa Có thể nói, với tư tưởng tự do, phóng khoáng
và khao khát đổi mới, chuyến đi lần này thực sự đã có ảnh hưởng tích cực đếncái nhìn xã hội của ông Như một lần được kiểm chứng và khẳng định quanniệm của ông đối với triều đình phong kiến đã trở nên trì trệ, lạc hậu và bảo thủlúc bấy giờ Sau hơn sáu tháng xuất dương, Cao Bá Quát cùng đoàn công vụ trở
về nước, ông được phục chức ở bộ Lễ Thời gian này ông tỏ thái độ chán nản
và bất hòa với bộ máy thống trị của triều đình Huế Cũng vì không ưa cái tínhngang tàng, không chịu vào luồn ra cúi của ông nên triều đình đã đẩy ông ra đấtBắc, giao cho giữ một chức quan nhỏ tại Quốc Oai thuộc tỉnh Sơn Tây (sau là
Hà Tây và bây giờ là Hà Nội) thời đó còn rất hoang vu, heo hút Việc làm nàycủa nhà Nguyễn cho thấy rõ thái độ thù địch của triều đình với những ngườinhư Cao Bá Quát Lại một lần nữa ông được trở về sống gần gũi với nhân dân,thấy được cảnh đời cùng cực của họ dưới chế độ thực dân phong kiến và hơn aihết, ông hiểu được khao khát thay đổi chế độ, thay đổi thời đại của những conngười bần cùng ấy
Năm 1853 vào chính vụ hè thu, thiên tai liên tiếp xảy ra ở Bắc Hà, cộngthêm nạn châu chấu phá sạch mùa màng khiến cho nhân dân rơi vào cảnh mấtmùa, thiếu ăn Nạn đói hoành hành ở nhiều nơi, cuộc sống của nhân dân vôcùng cực khổ Trong khi đó, triều đình lại bỏ mặc người dân, bọn quan lại rasức vơ vét, bóc lột, sách nhiễu dân lành Thời gian này ở các vùng TuyênQuang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, xảy ra nhiều cuộc nổi dậy củanhân dân chống lại triều đình Với tình yêu dân và khao khát cống hiến sức lực
Trang 27để xây dựng một đất nước thái bình, thịnh trị cùng với thái độ bất hòa sâu sắc,phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ đương thời, Cao Bá Quát đã bí mậtliên lạc và gia nhập với một tổ chức khởi nghĩa nông dân do một người tự xưng
là con cháu nhà Lê là Lê Duy Cự cầm đầu, lấy danh nghĩa là phù Lê để kêu gọi
sự tham gia, ủng hộ của người dân Ông gia nhập tổ chức và nhanh chóng được
cử làm Quốc sư
Năm 1854, Cao Bá Quát xin thôi giữ chức Giáo thụ ở Quốc Oai để trở vềBắc Ninh Ông lấy cớ là về quê để chăm sóc mẹ già đau ốm nhưng thực ra thờigian này ông giành hết tâm sức cho việc chuẩn bị khởi nghĩa Khi các điều kiệnđang dần được hoàn thiện, thời cơ chưa chín muồi thì sự việc bị bại lộ Triềuđình nhà Nguyễn hay tin Cao Bá Quát cùng Lê Duy Cự chuẩn bị khởi nghĩa đãráo riết lùng bắt Chúng huy động thêm nhiều lực lượng để tăng cường phòng
bị và trấn áp Trước tình thế nguy cấp nghĩa quân quyết định khởi nghĩa sớmhơn dự kiến ban đầu
Nổ ra sau một thời gian ngắn (từ tháng 11 năm 1845 đến đầu năm 1855)cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương do Cao Bá Quát lãnh đạo đã thất bại dưới sự đàn ápgắt gao và dã man của triều đình nhà Nguyễn Cả gia đình họ Cao đều phải chịu
án chu di Nhà nguyễn muốn tiêu diệt tận gốc rễ mầm mống của sự nổi loạn vànhằm uy hiếp tinh thần của nhân dân đang ngày càng căm ghét triều đình đếntận xương tận tủy Mặc dù phong trào khởi nghĩa thất bại nhưng Cao Bá Quát
và những người đồng chí của ông đã nêu cao tấm gương cao đẹp và tinh thầnquả cảm, dám đứng lên đấu tranh để chống lại triều đình nhà Nguyễn thối nát.Cao Bá Quát cùng những vị lãnh tụ khác của cuộc khởi nghĩa sống mãi tronglòng quần chúng nhân dân bị áp bức như những bậc anh hùng của thời đại
1.2.2 Quan niệm thơ văn của Cao Bá Quát
Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: "Là sự miêu tả hữu hạn của thế giới
vô hạn là cuộc đời, hình tượng văn học phải được mở đầu và kết thúc ở đâu đó,con người và cảnh vật phải được nhìn ở giác độ nào đó Để tái hiện cuộc sốngcon người, tác giả phải hiểu cách họ giao tiếp với nhau, với thế giới và với bản
Trang 28thân, cách họ sống, hành động và suy nghĩ, điều họ quan tâm và không quantâm trong cuộc đời Tổng hợp tất cả mọi điều đó tạo thành cái mô hình nghệthuật về thế giới và con người bao quát mà tác giả xuất phát để khắc họa hìnhtượng của những con người và số phận cụ thể, tổ chức quan hệ của các nhânvật, giải quyết xung đột, xây dựng kết cấu tác phẩm Quan niệm nghệ thuật thểhiện cái giới hạn tối đa trong cách hiểu thế giới và con người của một hệ thốngnghệ thuật, thể hiện khả năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó"[29, 273- 274]
Các nhà nghiên cứu cũng đã nhận định rằng: "Quan niệm nghệ thuật làhình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm tronghình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phongcách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tưduy nghệ thuật." [29, 275]
Đọc thơ của Cao Bá Quát, dù là thơ tự sự hay thơ trữ tình người đọcdường như đều nhận thấy sự mộc mạc, giản dị, tự nhiên và tiếng nói chân thànhcủa trái tim ông Không phải ngẫu nhiên mà có sự thống nhất, hài hòa giữa conngười ông và thơ ca của ông, giữa nội dung thơ và nghệ thuật thơ Tuy ChuThần được coi là thần đồng thơ ca từ khi còn là một đứa trẻ và có khả năngxuất khẩu thành thơ nhưng nhìn chung thơ ông cũng được chỉ đạo bởi một quanniệm cụ thể Quan niệm đó được thể hiện trong một số bài ông bàn về thơ với
bạn bè (Luận thi thi, Đồng Nguyễn Chuyết Hiên, Phạm Thúc Minh luận thi, đắc tâm tự ) và chính ông nói đến trực tiếp trong 12 bài thơ bàn về thơ của ông (Hí tác thi luận, thập nhị thủ) Ngoài ra, quan điểm về thơ văn của Cao Bá Quát
còn được thể hiện dưới nhiều dạng khác, như khi ông nhận xét về một tác phẩmvăn học của người khác, có khi là lời gửi gắm trong chính tác phẩm do ôngsáng tác, hoặc là những suy nghĩ nhân cảm thụ những giá trị văn học của quákhứ hoặc đương thời Trong điều kiện hạn chế của luận văn này, trên cơ sở kếthừa ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi xin nhấn mạnh đếnnhững quan niệm tạo nên sự cách tân trong thơ chữ Hán của ông
Trang 29Trong bài tựa đề cuối tập thơ "Thương Sơn công thi tập hậu tự", Cao Bá
Quát đã nêu rõ quan điểm của mình: "Bàn về thơ tuy có phải chú trọng về quycách, nhưng làm thơ thì phải gốc ở tính tình Nếu việc nào cũng bắt chước cũ,câu nào cũng học theo người, đầu thôn tạm biệt đã hát câu "chén rượu DươngQuan", xóm cạnh qua chơi đã ngâm lời "Tiếng gà điếm cỏ" Nắn nót những lờibiên tái, lòe người là tuyệt chiêu Gia Châu, chải chuốt các thể trong cung, tựphụ là văn nòi Thiếu Bá Có thể nghìn bài chứa đầy bể khổ, trăm vần đã cạnruột khô, ham được khoe nhiều, không quan hệ gì tới tinh linh cả Ví như họcviết, nếu cứ theo lề lối không biết biến hóa, thì tuy có hệt được cái mặt ngoàicủa lối chữ Lan Đình cũng chẳng ai thèm kể vào đâu Tô Đông Pha bàn về cáchviết có nói "Không học là hơn" "Ai hiểu được ý ấy, thì có thể cùng nói chuyện
về việc làm thơ được" [ 20, 252]
Như vậy, chúng ta có thể thấy được quan niệm về thơ văn của Cao BáQuát được biểu hiện qua ba nội dung như sau:
Thứ nhất là, theo họ Cao, dù không coi nhẹ hình thức, tức là "quy cách"nhưng ông đặc biệt chú ý đến nội dung - tính tình - và coi đây là gốc, là yếu tố
quan trọng nhất của thơ Thuyết "tính linh" chính là tư tưởng ảnh hưởng đến sự
cách tân thơ chữ Hán Cao Bá Quát Đó không phải là quan niệm được nhắc đến
nhiều trong thơ ông mà ta chỉ bắt gặp từ này 2 lần (trong hai bài thơ Phục thứ tiền vận tự di kiêm trình Phạm Phủ Doãn và bài Thương Sơn thi tập hậu tự),
nhưng phần lớn các phát biểu trực tiếp về quan niệm văn chương và thực tếsáng tác của Chu Thần là đều xoay quanh tư tưởng này
"Tính linh" trong quan niệm của Cao Bá Quát được hiểu là "tính tình" ("gốc ở tính tình") nhưng cũng có thể nói là "thần tình", "linh cơ" hay sự "biến hoá" Dễ nhận thấy là sự ảnh hưởng thuyết "tính linh" của Cao Bá Quát là trong thơ văn ông luôn luôn đề cao chữ "tình" Ông đã nêu quan điểm của mình rất rõ
ràng: "Bàn về thơ, tuy có phải trọng về quy cách, nhưng làm thơ thì phải gốc ở
tính tình "(Tựa Thương Sơn công thi tập) Với ông đây là điều cốt lõi Ông đã
thể
Trang 30hiện quan niệm đó trong Thiên cư thuyết: "Đã đành rằng ồn hay tĩnh là tuỳ từng
nơi, khổ hay vui là tuỳ từng cảnh, song trông thấy vật mà cảm đến việc, rồi lặng
lẽ mà ngậm ngùi cho cái đã qua, âu cũng bởi chữ tình xui nên như thế!" [36].Với tư tưởng này ông đã xem xét, bình phẩm và sáng tạo văn chương Theo ông,thơ hay phải xuất phát từ tấm lòng chân thật, từ cảm xúc tự nhiên, dồi dào củatác giả chứ không phải là những lời lẽ được chải chuốt, gọt rũa như một người
thợ Trong những sáng tác bằng chữ Hán của ông, chữ "tình" được biểu hiện với
rất nhiều thi phẩm Đó là tình cảm lưu luyến bịn rịn của thầy đồ và học trò trongbuổi chia tay khi ông đi thi, là tình cảm xót thương với một người ăn xin khốnkhổ, tình thương yêu và đau đớn khi nhận được tin người chị qua đời hay tìnhnghĩa vợ chồng sâu nặng khi nghĩ về người vợ tảo tần hôm sớm
Hạt sen ôm tấm lòng đắng ngắt chỉ một mình mình biết, Hoa dương liễu yếu ớt, vì ai mà cứ tất tả bay ?
Muốn thử khơi cả trăm hộc nước dòng sông Tô,
Để rửa cho người đời sạch hết bụng dơ dáy
(Chơi ở nhà cũ, đêm nghe gẩy đàn tranh)
Bài thơ là tình cảm xót thương của nhà thơ đối với hạng người đàn bà bịcoi là xấu số nhất trong xã hội xưa: người kĩ nữ Tác giả đã đồng cảm với cuộcđời khốn khổ, tội nghiệp của họ Không chỉ có vậy, ông còn mơ ước có một sứcmạnh huyền diệu đến để giải thoát cho những cuộc đời khổ nhục ấy
Có thể nói, với quan niệm đề cao chữ "tình", thơ ca Cao Bá Quát nói
chung và thơ chữ Hán của ông nói riêng đã thể hiện được rõ nét con người ông,một người phi thường nhưng cũng rất bình thường với những tình cảm yêu -ghét rạch ròi Đây là một phần làm nên sức sống bền bỉ của những sáng tác Cao
Bá Quát trong nhân dân, nó thách thức mọi nỗ lực hủy hoại của nhà Nguyễn màvẫn sống mãi trong lòng những người yêu mến, trân trọng ông
Trang 31Thứ hai là: Về quan niệm thơ văn của Cao Bá Quát đó là ông luôn đề cao
cá tính, thiên tư hay cái tôi (bản ngã) trong sáng tác văn học Cái tôi chính làbản ngã của mỗi con người Trong văn học cái tôi tạo nên cá tính riêng, nét độcđáo và mới lạ trong sáng tác của các nhà văn, cái tôi thể hiện phong cách riêng
của mỗi tác giả Văn học trung đại chịu sự chi phối của những quan niệm “văn
dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí”, những đề tài cao cả trang trọng, nên cái tôi gần như không được thể hiện mà chỉ có hai chữ “phi ngã” chi phối toàn bộ sáng tác văn chương Xã hội phong kiến với quan niệm “khắc kỉ phục lễ”, coi trọng
cộng đồng, tập thể hơn cá nhân Cái tôi cá nhân luôn bị che khuất bởi cái chungcủa cộng đồng Đây cũng là quan điểm phổ biến của tư tưởng phương Đông từxưa Chính vì quan niệm này nên nhiều nhà thơ dù có những suy nghĩ và khátvọng riêng nhưng cũng không dám bộc lộ thẳng thắn mà phải lấy danh nghĩacủa tập thể, cộng đồng
Tuy nhiên Cao Bá Quát lại đi ngược với quan niệm chung của xã hội lúcbấy giờ, ông không những nói đến cái tôi mà còn đề cao cái tôi riêng tư trong
thơ mình Ông quan niệm rằng văn chương là phải do tự mình làm ra (Văn tất
kỷ xuất) và không đồng tình với lối văn chương thiếu cá tính sáng tạo, mô
phỏng, bắt chước cổ nhân một cách máy móc Điều này được ông nhắc đến khá
nhiều lần Ông đã thẳng thắn nêu lên quan điểm của mình trong bài Đề sát viện Bùi công Yên Đài anh ngữ khúc hậu (Đề sau khúc Yên Đài Anh Ngữ của ông
Trang 32Ta bắt gặp một lần nữa quan niệm về văn chương của họ Cao Theo ông,
cần coi trọng tính cá nhân, cá tính sáng tạo của người sáng tác, trong bài Văn tất kỷ xuất - (Văn phải từ mình mà ra) ông viết:
"Há có đôi bàn tay khéo chạm trổ,
Mà lại đi làm bài văn bằng cách chắp vá văn của người khác? Chọn lời phải thật lòng từ chính mình
Văn từ viết ra ắt hơn hẳn người khác Đánh cắp câu văn đồng nghĩa với cặn bã Câu thơ hay mới mẻ vốn từ kinh sách điển tịch mà ra Khí văn thông thoáng ào ạt tựa giấy cỏ rậm
Lời văn viết ra tinh diệu như muốn vút tầng không Lam bản hoàn toàn không để ý đến
Kẻ có tài văn xuất chúng ai thèm theo lối của anh Buông lời chân thật có thể trở thành một nhà trong thiên hạ
Vì thế ngọn bút cũng có sức mạnh quét được nghìn quân Cái tự mình tìm được không giống cái mà mọi người cùng được Điều người khác đã nói mình cũng dễ dãi nhại theo
Thì chỉ đáng dùng làm đồ tế khí nơi tông miếu mà thôi".
Nhưng điều đặc biệt là ở chỗ ông vẫn thừa nhận tri thức, học vấn hay sự
kế thừa Ông đã từng mong có được một phần chất thơ của thi thánh đờiĐường, Đỗ Phủ Chỉ là ông phê phán sự bắt chước một cách máy móc, dậpkhuôn, không có sáng tạo Cao Bá Quát muốn người làm thơ khi tiếp thu phảigiữ được hồn cốt, thần tình một cách linh hoạt nghệ thuật của cổ nhân
Như vậy, khi phát biểu về quan niệm nghệ thuật, Cao Bá Quát thể hiệnrất rõ ràng bản lĩnh và chính kiến của mình Ông không đi theo phong trào
"phản Tống quy Đường" hay "thi tất Thịnh Đường" như nhiều nho sĩ lúc ấy, mà
ông nêu lên quan điểm của cá nhân mình Ông cho rằng trong sáng tác thơ văncần tiếp thu tinh hoa của người xưa Theo ông những điều hay, độc đáo và giátrị của người xưa thì ta đều nên học hỏi, không phải chỉ riêng học ở Tống,
Trang 33Đường Đây là quan niệm rất tiến bộ của họ Chu, là cách học mở mà ngày naychúng ta vẫn thường nói đến.
Thứ ba, đó là trong thơ, đặc biệt là thơ chữ Hán Cao Bá Quát thườnghướng tới hai đặc điểm cơ bản là sự tự nhiên và phóng khoáng Ông phê phán
sự cầu kì trong thơ và rất coi trọng sự chân tình, mộc mạc Ông cho rằng muốn
có thơ hay, mẫu mực thì sáng tác phải mộc mạc, bình dị không nên chú trọng
quá nhiều vào âm điệu rườm rà: "Áo lòe loẹt không làm cho dáng người mạnh mẽ/ Âm điệu rườm rà làm mất thể thơ đại nhã" Ông cho rằng quá coi trọng âm
điệu thì sẽ mất đi cái hay, cái đặc sắc của thể thơ đại nhã, một thể thơ trongKinh Thi, một thành tựu rực rỡ của văn học dân gian của Trung Quốc cổ đại
Vì vậy ông quan tâm đến cảm hứng thơ ca nhiều hơn Cảm hứng đưa đến chothi nhân năng lực sáng tác và có thể xuất khẩu thành thơ Theo Cao Bá Quát,chính sự tự nhiên ấy đã đem đến cho thơ một huyết mạch rất tự nhiên và phóngkhoáng, không bị gò bó, gượng ép Ông thường yêu thích những vần thơ hàosảng, sống động, cá tính và phóng khoáng Vì thơ của Nguyễn Văn Siêu phóngkhoáng, nhẹ nhàng và rất sáng tạo nên ông yêu thích Cao Bá Quát đã ngợi canhững vần thơ ấy:
"Thơ ông Phương Đình rất hào sảng, Vui tươi nhẹ nhàng lại trầm lắng rõ ràng
Dù trong khuôn khổ pháp độ Cũng không vay mượn (ý thơ) và ràng buộc trong sự đẽo gọt (Giống như) mười vòng vây mà dùng nhiều quân sĩ công kích Phong độ sang trọng cùng với sắc thái nhuần thấm
Nguồn cảm hứng đúng lúc Cảnh vật trong thơ của ông lớn lao, phơi phới xen kẽ nhau"
(Phục họa Phương Đình phân vận, dư đắc động, xuân, chước tam vận, kỳ tam)
Nhưng theo họ Cao, để có được những vần thơ tự nhiên, phóng khoángđòi hỏi người nghệ sĩ phải có vốn văn hóa sâu rộng, phải được đi nhiều nơi, đọc
Trang 34nhiều sách vở để có được một vốn kiến thức phong phú bởi thiếu hiểu biết thìkhông sáng tạo văn chương được Ông còn quan niệm, để có được những dòngvăn hay đặc sắc đòi hỏi người cầm bút còn phải có sự sáng tạo thần tình và một
tâm hồn thanh cao, trong sáng: "Mắt rồng tùy ở người vẽ giỏi/ có giữ lòng yên với đạo mới đàn hay" (Đồng Nguyễn Chiết Hiên, Phạm Thúc Minh luận thi, đắc tâm tự, kỳ nhất) Điều đó chúng ta đã được kiểm chứng qua những sáng tác
đặc sắc của Chu Thần
Như vậy, Cao Bá Quát có quan niệm thơ văn rất sắc sảo, nhất quán vàtiến bộ Quan niệm đó được thể hiện khá toàn diện trong các sáng tác của ông
Từ quan niệm về người nghệ sĩ cho đến khí cốt của tác phẩm, ông đề cao cái
"tình" trong thơ ca, coi trọng cá tính của người sáng tác và đề cao sự tự nhiên,
phóng khoáng trong thơ Từ quan niệm thơ văn cho thấy Cao Bá Quát có khíphách ngang tàng, phóng túng, một bản lĩnh hơn người, một tài thơ lỗi lạc, tạonên một phong cách thơ lớn
Trang 35Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu một số vấn đề chung có tính chất
cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu những vấn đề chính ở chương 2 và chương
3 của đề tài luận văn như: khái niệm tự sự, trữ tình, nghệ thuật tự sự, nghệ thuậttrữ tình cũng như một số vấn đề khái quát về tác giả Cao Bá Quát và thơ văncủa ông Chúng tôi nhận thấy, thơ văn Cao Bá Quát đã chứa đựng những hạtngọc lấp lánh trong trái tim ông Đặc sắc nhất về mặt nghệ thuật trong sáng táccủa ông chính là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức, giữa tự sự và trữtình Trong thơ chữ Hán của Chu Thần lại có nhiều nét mới mẻ, giản dị mà sâusắc mang một phong cách rất riêng, phong cách của một người nghệ sĩ tài năng,phóng khoáng và một nhân cách cũng như tư tưởng lớn
Với một quan niệm về văn học rất rõ ràng, tiến bộ và số lượng tác phẩm
đồ sộ (1353 bài thơ, 21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối)Cao Bá Quát đã để lại cho thế hệ sau một kho tàng quý giá về thơ ca Thơ văncủa ông đã phản ánh sâu sắc những cảm xúc, suy nghĩ và khát vọng cao đẹptrong tâm hồn tác giả và được thể hiện bằng một ngòi bút có giá trị nghệ thuậtđặc sắc
Trang 36Chương 2 NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT
Trong sáng tác văn chương, đối với các tác phẩm trữ tình thì “tính tự sự”
được hiểu là: Tính có cốt truyện (dù là cốt truyện đơn giản) và tính kể, tả Khinói tính có cốt truyện là xét về phương diện nội dung còn tính kể, tả thì lạithuộc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học Luận văn của chúng tôitìm hiểu về nghệ thuật tự sự trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát vừa bao hàm yếu
tố thuộc về nội dung được tự sự vừa tìm hiểu về nghệ thuật tự sự những nộidung đó Như vậy, thơ ca thuộc sáng tác trữ tình nên tính tự sự trong sáng tácthơ ca được hiểu là tính kể và tả là chính, cũng có thể tác phẩm trữ tình nào đó
có “cốt truyện”.
Phương thức tự sự được hiểu là cách mà tác giả dùng để kể, tả lại sựviệc, nhân vật trong thơ trữ tình Nhằm mục đích vừa tái hiện lại một phầnnào đó của sự việc, nhân vật vừa bộc lộ tâm trạng, cảm xúc Đó có thể là tự
sự trực tiếp hay gián tiếp, có thể là tưởng tượng, hư cấu hay chân thực
2.1 Phương thức tự sự trực tiếp và chân thực
Văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại nói riêng, luôn tồn tại
và phát triển dưới sự ảnh hưởng của một chế độ xã hội nhất định Văn họctrung đại tồn tại và phát triển khi đất nước ta có nhiều biến cố lịch sử trọng đại.Tiến trình văn học trên thế giới và Việt Nam đã cho thấy nền văn học của mộtđất nước luôn bám sát lịch sử dân tộc, phản ánh những sự kiện liên quan đếnvận mệnh đất nước và văn học không tách rời mà luôn gắn bó với số phận conngười Nền văn học trung đại ở nước ta cũng không ra khỏi cái quy luật ấy Đặcbiệt vào giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX trước khi thực dân Phápxâm lược nước ta, xã hội phong kiến đã trở nên khủng hoảng trầm trọng Lúcnày chiến tranh phong kiến diễn ra liên miên Văn học, tấm gương phản chiếuhiện thực với những hiện tượng của đời sống đã được các tác giả ghi lại khásinh động và cụ thể trong các tác phẩm của mình Ở giai đoạn này, chất lãng
Trang 37mạn bay bổng trong thơ ca không còn như trước mà đã giảm, ngòi bút nghệ sĩhướng về hiện thực đang diễn ra Các tác giả đã ghi lại những sự thật đau lòng,
những điều “sở kiến, sở văn” Sáng tác văn học thời đại này đã tái hiện bức
tranh về con người, cảnh vật và cả không khí thời đại Không chỉ trong nhữngtác phẩm văn xuôi mà ở các sáng tác thơ ca trữ tình tính tự sự cũng được thểhiện rất rõ nét Tiêu biểu là những sáng tác của các cây bút như: Bùi Huy Bích(1744 - 1818); Cao Bá Quát (1809 - 1855); Nguyễn Du (1765 - 1820); NguyễnCông Trứ (1788 - 1858),…
Nguyễn Du, một trong số những cây bút tiêu biểu của văn học trung đạiViệt Nam, trong nhiều sáng tác của mình đã phản ánh hiện thực đời sống củanhân dân trong xã hội cũ Đọc thơ Nguyễn Du, nhiều lần chúng ta bắt gặp tìnhcảnh khốn cùng của người dân lao động, của những người dưới đáy xã hội Bài
Thái Bình mại ca giả (Người hát rong ở thành Thái Bình) là một minh chứng
cụ thể Trong bài thơ này Nguyễn Du kể về hai bố con ông lão mù hát rong:
“Thái Bình có người mù áo vải, Con dắt tay ra bãi bến sông
Bấy giờ chập tối không đèn.
Hơn chục người ngồi quanh im lặng, Gió hiu hiu nước phẳng trăng soi
Vẫn còn quay lại cân quyền cảm ơn.”
(Vũ Tam Tập (dịch)Tác giả dõi theo, vừa kể lại câu chuyện xảy ra vừa tả tỉ mỉ từng chi tiếtrất cụ thể của một người nhìn bằng con mắt và cảm nhận bằng trái tim dù lời
Trang 38kể, tả lă rất khâch quan Từ lúc ông giă xuất hiện đến lúc được đứa con nhỏ dắtxuống thuyền; cảnh ông lần mò tìm chỗ ngồi đăn; rồi cảnh ông ngồi văo xóthuyền; cảnh ông giă hât với dâng vẻ thật tội nghiệp, tay ông nắn dđy đăn vẵng cất tiếng hât Đm thanh cất lín khiến tất cả mọi người trong thuyền đềulặng im, người ta bị thu hút bởi tiếng đăn rất hay, rất truyền cảm ấy Ông giă
vừa đăn vừa hât từ lúc mới “chập tối” cho đến tận khi “trăng soi” tay mỏi nhừ
vă miệng sùi bọt Nhưng cũng chỉ được người ta quăng cho năm, sâu đồng tiền!Thật lă bỉo bọt lăm sao! Vậy mă lúc con dắt đi, ông vẫn còn quay lại tạ ơn rấtchu đâo, tận tình
Ngòi bút Nguyễn Du giău tính tự sự, qua lời “kể” vă “tả” của nhă thơgiúp chúng ta hiểu thím về tình cảm xót thương của thi nhđn đối với những conngười khốn khổ Ông đê quan sât, miíu tả lại thế giới nhđn tình một câch chitiết, tỉ mỉ bằng con mắt tinh tế vă trâi tim thấu hiểu, cảm thông Nghệ thuậtđược bắt nguồn từ chính câi tăi vă câi tđm của người nghệ sĩ Những băi thơ
như: Trở binh hănh (Băi hănh về việc binh đao lăm nghẽn đường), Sở kiến hănh (Những điều trông thấy)… đều mang đặc điểm tự sự rõ nĩt.
Cùng với dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX,thơ ca Cao Bâ Quât có câi nhìn trực tiếp vă chđn thực về cuộc đời vă con ngườitrong thời đại của mình Qua nghiín cứu, tìm hiểu về cuộc đời của Cao Bâ Quâtchúng ta thấy ông đê trải qua nhiều biến cố, thăng trầm trong suốt 46 năm.Những sự việc, biến cố trong cuộc đời ông được kể lại hoặc ghi chĩp lại quamột số giai thoại vă qua chính những sâng tâc của ông Những vần thơ củaThânh Quât đê kể lại một câch trực tiếp vă chđn thực những việc ông đê nhìnthấy, nghe thấy vă đê ghi lại những cảm xúc rất thật của con người ông
Trước tiín phải kể đến lă băi phú nổi tiếng được coi lă chắc chắn của
Cao Bâ Quât - Tăi tử đa cùng phú Mặc dù đđy lă băi thơ được viết bằng chữ
Nôm nhưng trong luận văn nghiín cứu về thơ chữ Hân của Cao Bâ Quât năy,chúng tôi xin được đưa văo tìm hiểu vì đđy lă một tư liệu quý, phục vụ hữu ích
Trang 39cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về thơ chữ Hán của ông Thể loại Phú là để phô
bày, Cao Bá Quát đang phô bày và tả rất chân thực cuộc sống của mình
Ông sống trong một túp lều nho nhỏ với tấm chăn "lướp tướp" Đó là cảnh sống những ngày "thê lương" với "chiếc đèn cỏn con", "chiếu lôi thôi".
Nhà thơ đã không ngần ngại mà miêu tả chân thực cảnh cuộc sống khó khăn,đói khổ của mình Đó cũng là cảnh cuộc sống thiếu thốn, cực khổ chung củanhân dân ta lúc bấy giờ
“Lều nho nhỏ kéo tấm chăn lướp tướp Ngày thê lương nặng dội hạt mưa sa Đèn cỏn con, gon chiếc chiếu lôi thôi Đêm tịch mịch soi chung vầng trăng tỏ”
(Tài tử đa cùng phú )
Ở bài thơ "Phó nam cung xuất giao môn biệt chư đệ tử" (Đi thi
Hội, ra đến cổng làng từ biệt các học trò), ngòi bút của Cao Bá Quát đã kể lạicảnh chia tay đầy chân thực và cảm xúc
"Du du từ cố quốc Man man hướng trường lộ Xuất giao thiên vi lương Hành sắc đái sơ vũ "
(Lòng buồn rười rượi từ biệt quê nhà
Đi trên con đường dài thăm thẳm
Ra khỏi làng trời hơi lạnhTrên đường đi, mưa sa lất phất )
Bài thơ mở đầu bằng cách kể lại khung cảnh buổi tác giả ra đi Người đithi mang nặng nỗi buồn, lòng lưu luyến, bịn rịn khi rời quê mẹ Đó là một ngày
Trang 40trời se lạnh, mưa rơi lất phất Nhà thơ đã kể lại khung cảnh ra đi, coi đó là cái
cớ để bộc lộ tâm trạng trong sự việc ấy Trong khung cảnh ấy còn là hình ảnhcủa những cậu học trò đưa tiễn thầy:
"Đệ tử tống ngã hành Tương tùy bất nhẫn trú "
(Các học trò tiễn ta đi
Cứ theo mãi, không nỡ dừng chân)
Đó là cảnh những cậu học trò bịn rịn chia tay thầy Người ở lại như bướcmãi theo người ra đi không muốn dừng, không muốn rời xa còn người đi thìkhông nỡ cất bước Câu thơ chỉ kể lại sự việc nhưng ẩn giấu sau đó là tình cảmnhớ thương, gắn bó và tấm lòng yêu mến con trẻ của nhà thơ Nghệ thuật tự sựtrong bài thơ đã kể lại chuyện chia tay đầy chân thực của thầy trò họ Cao Lờithơ mộc mạc, giản dị khiến cho người đọc như thấy được khung cảnh đang diễn
ra ngay trước mắt và cảm xúc dâng trào trong tấm lòng của con người trongbuổi chia ly
Bài "Đắc gia thư, thị nhật tác" (Viết hôm tiếp được thư nhà) kể lại cụ
thể, chân thực hoàn cảnh và tâm trạng của nhà thơ khi hay tin dữ của gia đình
"Hạ duy đãn thùy mặc Khách tự cố hương lai Kiến ngã phục thán tức Đạo quân hữu hận sự
A tỷ dĩ quyên quắc "
(Buông màn chỉ cúi đầu im lặng, Chợt có khách từ quê nhà đến
Trông thấy ta chỉ những than thở,Báo tin rằng: "Ông có sự buồn:
Bà chị đã qua đời rồi!
)