1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cái tôi trữ tình trong thơ nguyễn bảo chân và nguyễn phan quế mai

99 454 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Bảo Chân với tập thơ đầu tay Dòng sông cháy đã nhận được giải thưởng văn học của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, còn Nguyễn Phan Quế Mai lại gây ấ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ H ỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BẢO CHÂN VÀ

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BẢO CHÂN VÀ

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Văn Lân

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 12

4 Các phương pháp nghiên cứu 13

5 Đóng góp của luận văn 13

6 Cấu trúc luận văn 14

PHẦN NỘI DUNG 15

CHƯƠNG 1: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO THƠ CỦA NGUYỄN BẢO CHÂN, NGUYỄN PHAN QUẾ MAI 15

1.1 Khái niệm cái tôi và cái tôi trữ tình 15

1.1.1 Cái tôi 15

1.1.2 Cái tôi trữ tình 16

1.2 Sự biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ 17

1.3 Hành trình sáng tạo thơ của Nguyễn Bảo Chân, Nguyễn Phan Quế Mai 20

1.3.1 Nguyễn Bảo Chân 20

1.3.2 Nguyễn Phan Quế Mai 22

CHƯƠNG 2: CÁC SẮC THÁI THẨM MỸ CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BẢO CHÂN VÀ NGUYỄN PHAN QUẾ MAI 27

2.1 Các sắc thái thẩm mỹ trong thơ Nguyễn Bảo Chân 27

2.1.1 Cái tôi trữ tình mang nỗi buồn, cô đơn 27

2.1.2 Cái tôi trữ tình với khao khát bình dị 35

Trang 4

2.2 Các sắc thái thẩm mỹ trong thơ Nguyễn Phan Quế Mai 41

2.2.1 Cái tôi khát khao yêu và được yêu 41

2.2.2 Cái tôi nặng lòng với đất, với người 50

2.2.3 Cái tôi trữ tình triết lý về cuộc đời, về chiến tranh 63

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BẢO CHÂN VÀ NGUYỄN PHAN QUẾ MAI 70

3.1 Biểu tượng 68

3.1.1 Những chiếc gai và giấc mơ trong thơ Nguyễn Bảo Chân 68

3.1.2 Gió và Ngôi sao hình quang gánh trong thơ Nguyễn Phan Quế Mai 72

3.2 Thể thơ 73

3.3 Ngôn ngữ 78

3.4 Giọng điệu 80

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Những năm gần đây, trên thi đàn thơ ca Việt Nam xuất hiện hàng loạt các cây viết trẻ như Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Vĩnh Tiến, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Bảo Chân, Thanh Xuân, Dạ Thảo Phương, Trương Quế Chi, Nguyễn Phan Quế Mai,… Họ là những người

đã và đang có những đóng góp tích cực vào diện mạo thơ Việt Nam nói chung Trong số họ, có không ít người đã gặt hái được trái ngọt trên cánh đồng thơ, minh chứng là những giải thưởng văn học của giới chuyên môn và

cả sự đón nhận nồng nhiệt từ công chúng yêu thơ Dù là theo phương diện nào

đi chăng nữa thì đó cũng là những thành công mà người làm thơ luôn hướng đến Nguyễn Bảo Chân và Nguyễn Phan Quế Mai chính là hai trong số các nhà thơ trẻ hiện nay đã đạt được thành công nhất định như vậy

Nguyễn Bảo Chân với tập thơ đầu tay Dòng sông cháy đã nhận được

giải thưởng văn học của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, còn Nguyễn Phan Quế Mai lại gây ấn tượng với cú đúp giải thưởng thơ vào năm 2010: Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội cho tập thơ thứ 2

của chị mang tên Cởi gió và giải nhất cuộc thi “Thơ viết về Hà Nội” do Đài

phát thanh và Truyền hình Hà Nội phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Bên cạnh đó, các sáng tác của Bảo Chân và Quế Mai đã được công chúng đón nhận với việc tái bản lại những tập thơ đã xuất bản

Mặc dù tuổi đời và tuổi nghề còn rất trẻ, nhưng Nguyễn Bảo Chân và Nguyễn Phan Quế Mai là hai đại diện của thơ trẻ đương đại hôm nay luôn nỗ lực hết mình vì sự phát triển của thơ Việt Nam Họ đại diện cho thế hệ người trẻ thành thạo ngoại ngữ, khao khát đi và khám phá nhiều miền đất mới (vượt

ra ngoài lãnh thổ Việt Nam), luôn mong muốn đưa thơ Việt Nam vươn tầm thế giới Bằng chứng là họ tham gia nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo thơ quốc tế,

Trang 6

sáng tác thơ bằng cả Tiếng Việt và tiếng Anh, thậm chí dịch thơ của các tác giả trong nước ra tiếng nước ngoài Thơ họ vừa giữ được vẻ đẹp truyền thống,

sự trong sáng của Tiếng Việt lại vừa hiện đại, có thể hội nhập cùng thế giới

Họ đã mang đến vườn thơ một cái tôi trữ tình riêng của chính mình

Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống cái tôi trữ tình trong thơ của hai tác giả trẻ này Chính

vì thế mà tôi lựa chọn đề tài “Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bảo Chân và

Nguyễn Phan Quế Mai” làm đối tượng nghiên cứu Qua việc nghiên cứu cái

tôi trữ tình trong thơ của hai tác giả nữ trên, chúng tôi muốn khai thác các sắc thái thẩm mĩ cũng như các phương thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bảo Chân và Nguyễn Phan Quế Mai Hy vọng đề tài sẽ góp phần nhận diện rõ thơ và phong cách thơ của hai tác giả trẻ, đồng thời giúp độc giả

có thể tiếp cận gần hơn với các sáng tác của hai nữ nhà thơ trẻ này

2.1 Những nghiên cứu, bài viết về Nguyễn Bảo Chân

Nguyễn Bảo Chân là một nhà thơ trẻ với số lượng tập thơ còn hạn chế

(3 tập thơ) Mặc dù chị có sáng tác đầu tay từ năm 1994 với tập thơ Dòng

sông cháy Tuy nhiên, những bài viết, công trình nghiên cứu về thơ của chị

chưa nhiều, tập trung chủ yếu là bài viết trên báo điện tử như Nhân dân, Công

an nhân dân, Tạp chí Sông Hương,

Trang 7

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý khi đọc thơ của Nguyễn Bảo Chân đã nhận

xét rằng: “Thơ Nguyễn Bảo Chân phản chiếu cái tôi đầy nữ tính với nỗi buồn,

sự cô đơn, những khát khao rất bình dị của người phụ nữ” [71]

Với nhà văn, dịch giả Trịnh Y Thư, ông dành cho Nguyễn Bảo Chân sự

đánh giá cao với “phẩm chất của một nhà thơ đích thực”: “Thơ Nguyễn Bảo

Chân có thể nhẹ băng như tuyết và nỗi buồn trong ngôn từ của chị trào dâng không kìm nén Dẫu không thể gọi thơ chị là những thử nghiệm, những bài thơ ấy hiện đại trong tri thức mà những cảm xúc được biểu đạt với cách riêng

tư nhất có thể Không giấu giếm điều gì, cái tôi nội tâm được kiểm nghiệm với một ý thức tự thân mạnh mẽ Kết quả là từ tâm hồn, thơ cất tiếng nói Và đó

là phẩm chất của một nhà thơ đích thực [10]

Trên Tạp chí Sông Hương, số 146, tháng 4/2001 khi trích đăng một số bài thơ của Nguyễn Bảo Chân có nhận xét Nguyễn Bảo Chân “là một cây bút

trẻ luôn có ý thức làm mới thơ” Chính sự táo bạo, đòi hỏi cao trong lao động

nghệ thuật của Nguyễn Bảo Chân nhận được sự đồng hưởng “Nguyễn Bảo

Chân đã chọn cho mình một cách đi riêng trên con đường thơ ca Với ngôn ngữ thơ hiện đại, với hình tượng thơ kỳ lạ - qua cảm xúc tinh tế của một tâm hồn nhạy cảm, Nguyễn Bảo Chân đã mang đến cho bạn đọc những bài thơ hay” [72]

Báo Nhân dân từng trích đăng một số sáng tác của Nguyễn Bảo Chân

đã có lời tựa sâu sắc về nghệ thuật thơ Nguyễn Bảo Chân: “Thơ chị nhiều

cung bậc Đã đi từ kinh điển đến sự thay đổi táo bạo bắt nhịp với những trào lưu thơ hiện đại trên thế giới, Nguyễn Bảo Chân có nhiều bài thơ với nhiều câu thơ hàm súc, giàu tính liên tưởng giữa quá khứ với thực tại, giữa sự cụ thể của vật thể với tính biểu tượng của sự thể hay vật thể, mà vẫn chứa đựng chiều kích sâu lắng của một tâm hồn đa cảm lại sâu sắc lý tính, trí tuệ Đặc biệt, dù ở chủ đề và hình thức thi pháp ra sao thì giọng thơ vẫn trong vắt, óng

Trang 8

ánh tính thiện và Việt tính vẫn không mất đi ở mỗi tầng nấc trong thơ của chị” [62]

Xin được dẫn một vài bài viết, bài nghiên cứu của các nhà phê bình, nhà thơ về thơ Nguyễn Bảo Chân:

- Những chiếc gai mơ mộng – Huế - Dấu vết (Tạp chí Sông Hương, số 146,

tháng 4/2001)

- Đọc “Những chiếc gai trong mơ” (Nguyễn Hữu Quý)

- Nhà thơ Nguyễn Bảo Chân: Học cách bình thản (Báo An Ninh Thế Giới

Cuối Tháng, 2011)

- Nhà thơ Nguyễn Bảo Chân: “Khi chiều nương khu vườn vắng lá”

(phongdiep.net)

- Steven J.Fowler phỏng vấn Nguyễn Bảo Chân trên Poetry Parnassus (2012)

- Người đưa thơ Việt ra thế giới (Ngô Thị Kim Cúc, Báo Thanh Niên Online,

tháng 1.2014)

- Thơ Nguyễn Bảo Chân (Báo Nhân dân, tháng 3, 2013)

-

2.2 Những nghiên cứu, bài viết về Nguyễn Phan Quế Mai

Giống như Nguyễn Bảo Chân, Nguyễn Phan Quế Mai là một hiện tượng thơ trẻ với số lượng tập thơ không nhiều Năm 2008, Nguyễn Phan Quế

Mai xuất hiện với tập thơ đầu tay Trái Cấm, nhưng phải đến cú đúp giải thưởng thơ năm 2010 cho tập thơ Cởi gió, độc giả mới biết đến chị nhiều hơn

Chính vì thế, những người nghiên cứu về thơ chị chưa nhiều Những bài viết

về chị chủ yếu là các bài phỏng vấn, bài viết trên các trang báo mà báo điện tử

chiếm phần nhiều, phù hợp với xu thế công nghệ hóa hiện nay như Tiền

phong, Văn nghệ, Tuổi trẻ, Tuổi trẻ cuối tuần, Báo điện tử Tổ quốc, Báo Quân đội nhân dân,

Trang 9

Mỗi tác giả, mỗi nhà phê bình khi đọc về thơ của Quế Mai lại có những cảm nhận riêng

Nhà thơ Vũ Quần Phương khi nhận xét về thơ Quế Mai tại cuộc thi

“Thơ về Hà Nội” đánh giá cao đổi mới về câu thơ theo trào lưu của các nhà

thơ trẻ gần đây: “Thơ cổ điển hàm súc bằng điển cố Thơ lãng mạn hàm súc

bằng biểu tượng Nguyễn Phan Quế Mai hàm súc bằng thủ pháp bớt chữ, chuyển đổi ngữ pháp Câu thơ mang dáng mới nhưng tình thơ lại sâu đậm Đây là một dấu hiệu chứng tỏ có thể đi lâu với thơ” [52, tr.78]

Nhà thơ Bằng Việt – Chủ tịch Hội đồng Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam

khi đọc thơ Nguyễn Phan Quế Mai cũng đánh giá cao thơ chị: “Nguyễn Phan

Quế Mai là nhà thơ có tư duy thơ sắc sảo, có cảm xúc thơ tươi tắn và hồn nhiên, cộng với ý thức thường xuyên trau dồi khả năng hiểu biết và đời sống

xã hội qua quá trình công tác (cả ở trong nước và nước ngoài) nên tạo được cho mình một bản sắc thơ đầy cá tính và có nhiều cách tân trong cách thể hiện, trong sự ôm trùm các khía cạnh phong phú của hiện thực đời sống xã hội và con người”.[52, tr.82]

Trên khía cạnh là một nhà thơ nữ, Nguyễn Phan Quế Mai nhận được ghi nhận tích cực với những đóng góp cho thơ nữ trẻ

Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn nhận xét: "Nguyễn Phan Quế Mai, một

nhà thơ nữ đằm thắm và tinh tế, điều mà khá lâu rồi mới gặp trong thơ nữ trẻ Chị đã khiến người đọc đồng cảm và xúc động trước những tình cảm sâu lắng, xa xót dành cho những phận người lam lũ, đã khiến người đọc rưng rưng trước tình yêu đất nước sâu nặng mà thiết tha của môt người con đã từng xa xứ Chúng ta hy vọng Quế Mai sẽ đi xa hơn trên con đường thi ca mà chị đã cảm nhận bằng cả tâm hồn".[52, tr.100]

Nhà nghiên cứu phê bình văn học, tiến sĩ Chu Văn Sơn thì cho

rằng:“Thơ Quế Mai thể hiện một nữ tính mãnh liệt mà trong lành, một tấm

Trang 10

lòng nồng hậu với cuộc sống và tình yêu Trong thi đàn hiện nay, giọng thơ như thế này có phải đang ngày một ít đi?”[24]

Trên phương diện nghệ thuật, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo cho

rằng:“Thơ Nguyễn Phan Quế Mai đầy ắp hình ảnh, màu sắc và liên tưởng bất

ngờ Nhiều bài thơ viết ra như được khơi gợi từ cảm xúc âm nhạc và nhịp thơ tràn đầy nhạc điệu”.[78]

Còn với nhà thơ Lê Minh Quốc, ông đánh giá cao thơ Nguyễn Phan

Quế Mai ở con người từng trải làm thơ: “Có những câu thơ viết từ sự trải

nghiệm, lý trí Có những câu thơ viết từ chắt lọc của cảm xúc đã từ lâu ngây ngất trong tâm hồn Nồng nàn và da diết Chân thực và quay quắt Đó là phẩm chất của thơ Nguyễn Phan Quế Mai Đọc thật chậm, ta sẽ nghe một

tiếng gọi thầm đến nao lòng…” [68]

Không chỉ nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình trong nước, thơ Nguyễn Phan Quế Mai còn được Giáo sư Bruce Weigl - Nguyên Chủ tịch Hội đồng Thẩm định Thơ của Giải thưởng Sách Quốc gia Mỹ cũng có nhận

xét khi đọc thơ chị: “Thơ của Nguyễn Phan Quế Mai là những áng thơ chỉ

cho chúng ta biết cách sống hết mình với cuộc sống này, chỉ cho chúng ta cách tái xác nhận thứ thơ ca thẳng thắn và nhạy bén để biến những giờ thời khắc tăm tối nhất thành những bài học vĩnh cửu sâu sắc về sự phức tạp của lịch sử, thời gian và tình yêu”.[53, tr.14]

Thơ của Nguyễn Phan Quế Mai không hàn lâm khoa học, mà được sự đón nhận nhiệt tình từ công chúng yêu thơ Chính độc giả là người phát hiện

ra những điều mới mẻ trong thơ chị: “Giữa thế kỷ 21 này, kỳ lạ, vẫn còn có người phụ nữ làm thơ không chút nào thực dụng Những câu thơ mảnh mai, mềm mượt và quá đỗi dịu dàng Đọc thơ chị thấy những nốt nhạc vang lên, thấy một bức tranh với cách phối màu tươi sáng, thấy cuộc sống sao mà đáng

Trang 11

yêu đến thế trong cả những nỗi đau! Thấy mùa vàng, thấy nắng mới, thấy

những yêu thương khẽ gõ cửa tâm hồn”

Như vậy, có thể thấy, các nhà phê bình, nhà thơ, độc giả đánh giá thơ Quế Mai là một giọng thơ nữ trẻ mới mẻ, nữ tính vừa mang vẻ đẹp truyền thống vừa hiện đại

Xin được dẫn một vài bài viết, bài nghiên cứu của các nhà phê bình, nhà thơ về thơ của tác giả Nguyễn Phan Quế Mai:

- Cú đúp giải thưởng có trở thành một hiện tượng thơ trẻ? (Hiền Nguyễn, Báo điện tử Tổ quốc ngày 16/10/2010)

- Lắng nghe Nguyễn Phan Quế Mai (Phạm Xuân Nguyên, Báo Tuổi Trẻ Cuối tuần ngày 25/9/2010)

- Cởi gió (Trần Anh Thái, Báo Quân đội Nhân dân ngày 16/7/2010)

- Nguyễn Phan Quế Mai – cảm nghiệm đời sống hiện đại trong hứng khởi bay

(Dương Kiều Minh, Tạp chí Văn nghệ Thủ đô số 6/2010)

- Cởi gió, lẳng lặng những thang âm bất tận xanh (Lê Vũ, Báo Văn Nghệ, số

16, ngày 17/4/2010)

- Nguyễn Phan Quế Mai từ Trái cấm đến Cởi gió (Trần Thiện Khanh, Báo Tiền phong cuối tuần ngày 30/4/2010)

- Nguyễn Phan Quế Mai “Cởi gió ra và bay lên trên ý nghĩa” (Hoàng Hải

Anh, Tuần VietnamNet ngày 18/3/2010)

- Những ngôi sao hình quang gánh của Nguyễn Phan Quế Mai (Nghiêm

Huyền Vũ, Báo Văn Nghệ số đặc biệt nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long

Trang 12

- Nguyễn Phan Quế Mai đi và đến (Nguyễn Trọng Tạo)

- Nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai: “Với tôi, thơ là tiếng nói thẳm sâu nhất của tâm hồn” (Đỗ Bích Thúy, Tạp chí Văn nghệ Quân Đội điện tử, 2012)

- Nguyễn Phan Quế Mai và những bài thơ về chiến tranh (Văn nghệ số

16/2013)

- ………

3 Đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bảo Chân và cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Phan Quế Mai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung đi sâu tìm hiểu các sắc thái thẩm mỹ và các phương diện nghệ thuật biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bảo Chân và Nguyễn Phan Quế Mai Qua đó thấy được sự thống nhất và vận động của cái tôi trữ tình trong thơ hai tác giả này

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu là thơ của hai tác giả: Nguyễn Bảo Chân và Nguyễn Phan Quế Mai được in trong tác tập thơ:

- Tập thơ Dòng sông cháy (Nguyễn Bảo Chân, Nhà xuất bản Hội Nhà văn,

1994) – giải thưởng Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam

- Tập thơ Chân trần qua vệt rét (Nguyễn Bảo Chân, Nhà xuất bản Thanh

Niên, 1999)

- Tập thơ Những chiếc gai trong mơ – Thorns in dreams (Nguyễn Bảo

Chân, Nhà xuất bản Thế Giới, 2010)

- Tập thơ Trái Cấm (Nguyễn Phan Quế Mai, Nhà xuất bản Văn Nghệ, 2008)

Trang 13

- Tập thơ Cởi gió (Nguyễn Phan Quế Mai, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 2010)

– giải thưởng Thơ Hội Nhà văn Hà Nội 2010

- Tập thơ Những ngôi sao hình quang gánh– Stars in the Shape of Carrying Poles (Nguyễn Phan Quế Mai, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 2011)

- Cùng một số sáng tác của các nhà thơ nữ khác

4 Các phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thống kê phân loại

Phương pháp thống kê phân loại nhằm tập hợp các ý kiến đánh giá của các tác giả khác về thơ của Nguyễn Bảo Chân và Nguyễn Phan Quế Mai, đồng thời thống kê số lượng các tác phẩm đã xuất bản của hai nhà thơ và phân loại để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu

4.2 Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp so sánh đối chiếu nhằm so sánh thơ của Nguyễn Bảo Chân và Nguyễn Phan Quế Mai với thơ của một số nhà thơ nữ cùng thời, đồng thời so sánh chính thơ của hai tác giả này để thấy được sự giống và khác nhau của cái tôi trữ tình trong thơ Từ đó tìm ra những nét khu biệt độc đáo,

sự cách tân trong thơ của hai tác giả này

4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Dựa vào các sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Bảo Chân và Nguyễn Phan Quế Mai, bên cạnh những tập thơ khác, chúng tôi đi vào phân tích để làm nổi bật cái tôi trữ tình trong thơ, đồng thời qua đó tổng hợp lại để có cái nhìn khái quát về đặc điểm cơ bản nhất của thơ hai tác giả này

5 Đóng góp của luận văn

Với luận văn này, chúng tôi tập trung đi sâu nghiên cứu các sắc thái thẩm mĩ và nghệ thuật biểu hiện của các tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Phan Quế Mai và Nguyễn Bảo Chân Hy vọng rằng, kết quả nghiên cứu này sẽ ít nhiều góp phần nhận diện rõ hơn về diện mạo thơ của hai tác giả nữ trong cái

Trang 14

nhìn tổng thể và toàn diện, đồng thời gợi mở hướng tiếp cận nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ của của các tác giả khác Mong rằng, luận văn sẽ giúp ích cho việc học tập và giảng dạy văn học đương đại trong nhà trường

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài Phần Mở đầu và Phần Kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cái tôi trữ tình trong thơ và hành trình sáng tạo thơ của Nguyễn

Bảo Chân, Nguyễn Phan Quế Mai

Chương 2: Các sắc thái thẩm mỹ của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bảo

Chân và Nguyễn Phan Quế Mai

Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bảo Chân

và Nguyễn Phan Quế Mai

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO THƠ CỦA NGUYỄN BẢO CHÂN,

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI

1.1 Khái niệm cái tôi và cái tôi trữ tình

1.1.1 Cái tôi

Khái niệm cái tôi có nội hàm rộng, có nhiều cách hiểu khác nhau Ngay

từ thời cổ đại, sự xuất hiện của khái niệm cái tôi hay bản ngã đã đánh dấu sự nhận thức đầu tiên của con người về bản thể tồn tại của mình, con người khác với tự nhiên, về một cá thể độc lập khác với người khác

Trong các tôn giáo như Cơ đốc giáo, Phật giáo, Nho giáo về cơ bản không thừa nhận cái tôi cá nhân, hoặc giả có thừa nhận nhưng cuối cùng cũng quy về những quan niệm siêu hình, duy tâm, thần bí, xóa bỏ cái tôi

Trong các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học như Phân tâm học của Sigmund Freud; Thuyết hiện sinh của Husserl, Sartre; Thuyết phát triển trí tuệ của J.Piagic cho rằng cái tôi thuộc về cấu trúc nhân cách, hay công trình lý luận về nhân cách của nhà tâm lý học mác xit A.N.Leonchiep, A.G.Covaliop cũng coi cái tôi là yếu tố cơ bản nhất, quan trọng nhất cấu thành ý thức, nhân cách

Theo quan điểm của triết học Mác, giá trị con người cá nhân từ bản thân với tư cách là chủ thể và khách thể của các mối quan hệ xã hội Mỗi cá nhân có ý nghĩa như một bộ mặt xã hội của con người, thông qua xã hội, cá nhân tìm thấy mình trong đó Tự do của mỗi cá nhân chính là tự do của tất cả mọi người Vì thế, Mác khẳng định: “Cái tôi là trung tâm tinh thần của con

Trang 16

người, của cá tính con người có quan hệ tích cực đối với thế giới và với chính bản thân mình”

Trên cơ sở các tư tưởng triết học, tâm lý học, quan điểm của triết học Mác, có thể hiểu về cái tôi như sau: Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, là trung tâm làm nên cấu trúc nhân cách Cái tôi vừa mang bản chất xã hội, lịch sử vừa mang bản chất cá nhân riêng biệt, độc đáo Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội nên cái tôi vừa là chủ thể vừa là khách thể của hoạt động nhận thức Cái tôi tự ý thức, tự điều chỉnh, tái tạo thế giới và tái tạo chính mình để hướng tới cái hoàn thiện

Như vậy, từ cách hiểu về cái tôi như trên ta có thể định hình một cách

đơn giản nhất về cái tôi trong thơ Trong thơ, cái tôi là cái cá nhân tuyệt đối

được định hình một cách cụ thể, là cá tính sáng tạo, góc khuất riêng của nhà thơ, con người với những suy nghĩ mang dấu ấn cá nhân riêng biệt Cái tôi

trong thơ tồn tại trong xã hội và chịu sự tác động từ xã hội

Trong khi đó, Lê Lưu Oanh cho rằng: “Cái tôi trữ tình là thế giới chủ quan, thế giới tinh thần của người được thể hiện trong tác phẩm trữ tình bằng các phương tiện của thơ trữ tình Cái tôi trữ tình là nội dung, đối tượng cũng như bản chất của tác phẩm trữ tình”.[64, tr.18,19]

Bản chất cái tôi trữ tình là một khái niệm tổng hòa nhiều yếu tố hội tụ theo quy luật nghệ thuật, bao gồm ba phương diện: bản chất chủ quan cá nhân

Trang 17

(mối quan hệ giữa tác giả và cái tôi trữ tình trong tác phẩm), bản chất xã hội của cái tôi trữ tình (mối quan hệ giữa cái tôi trữ tình và cái ta cộng đồng), bản chất thẩm mỹ của cái tôi trữ tình (trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản)

Cái tôi trữ tình không chỉ là cái tôi của nhà thơ mà còn là cái tôi được khách thể hóa, được thăng hoa bằng nghệ thuật Cái tôi trữ tình chính là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản trữ tình

1.2 Sự biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ

Cái tôi trữ tình có một vị trí, vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thơ Mỗi thời đại, mối liên hệ giữa khách thể và chủ thế trong thơ luôn được quan tâm

Trong thơ có hai loại cái tôi nhà thơ và cái tôi trữ tình Cái tôi trữ tình không hoàn toàn đồng nhất và trùng khít với cái tôi nhà thơ mà thể hiện đời sống tinh thần, tư duy sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ Cái tôi mang tính chủ quan, cá nhân, xã hội, thể hiện phong cách riêng của nhà thơ Chẳng vậy mà thi sĩ Hàn Mặc Tử từng viết “Người thơ phong vận như thơ ấy”, hay như nhà

nghiên cứu Hà Minh Đức có viết: “Có nhiều cuộc đời thi sĩ gắn liền với đời

thơ như hình với bóng Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác Những sự kiện, hành động và tâm tình trong cuộc đời riêng cũng in lại đậm nét trong thơ”.[26,tr.62] Chính nhờ

cái tôi trữ tình tạo nên sự khác biệt trong phong cách thơ

Không đồng nhất cái tôi trữ tình với cái tôi nhà thơ những cũng không thể tách bạch hai mối quan hệ này Cái tôi nhà thơ là mạch nguồn để cho cái tôi trữ tình phát triển theo nhiều dạng thức khác nhau Cũng với thời gian, lịch

sử, cái tôi trữ tình có thể thay đổi nhưng mạch nguồn bên trong cái tôi nhà thơ vẫn còn, biến hóa phong phú

Như trong các sáng tác dân gian, cái tôi trữ tình được biểu hiện rõ nhất trong thể loại ca dao – dân ca Cái tôi được biểu hiện qua tiếng nói của tập

Trang 18

thể, cộng đồng Khi mà nhân vật trữ tình trong văn học dân gian là những người lao động nghèo khổ, những người quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời lại được xuất hiện trong hông gian lao động bến nước, sân đình cái tôi lại là cái tôi phi cá thể hóa bởi hình thức của văn học dân gian là diễn xướng và truyền miệng Không gian, thời gian mang tính ước lệ Do đó, diện mạo của cái tôi trữ tình trong văn học dân gian là cái tôi chung

Trong văn học cổ điển thì ý thức cá nhân đã xuất hiện nhưng lại tồn tại trong các quy luật, khuôn mẫu gọi là tính quy phạm Cái tôi trữ tình lúc này mang tính triết học, vũ trụ rộng lớn Mọi sự biểu hiện của tình cảm đều là gián tiếp, kín đáo thông qua ước lệ tượng trưng Do quan niệm về cá nhân và ý thức về bản ngã chưa mạnh mẽ nên cái tôi trữ tình còn ẩn khuất sau những nhân vật trữ tình khác

Trong thơ lãng mạn, cái tôi trữ tình đã giành lấy vị trí trung tâm Bản chất của thơ lãng mạn là tiếng nói cá nhân Thơ lãng mạn thoát khỏi tính quy phạm của thơ cổ điển

Cái tôi trữ tình đã vượt lên trên mọi hoàn cảnh bằng những tưởng tượng khác thường, bằng mộng ảo, hoài niệm, tôn giáo, lịch sử với mục đích khẳng định sự tự do Ở đây, cái tôi luôn mong muốn được giãi bày, đối thoại trực tiếp với tác giả

Trong thơ cách mạng, cái tôi trữ tình là cái tôi mới, cái tôi cộng đồng, bởi văn học lúc này đặt vấn đề dân tộc lên trên hết, các nhà thơ từ bỏ cái tôi

cá nhân để cái riêng tư hòa cùng cái chung dân tộc Cái tôi hòa với cái ta cộng đồng để khi giao tiếp thường xưng là ta, chúng ta

Qua đó để thấy rằng sự biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ là đa dạng, muôn hình muôn vẻ Có 3 dạng thức bộc lộ của cái tôi trữ tình trong luận văn nghiên cứu Cái tôi trữ tình thơ trẻ đương đại (qua Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Văn Cầm Hải), tác giả Phan Trắc Thúc Định có thống kê:

Trang 19

“Thứ nhất, dạng trực tiếp của một tình cảm riêng tư, một câu chuyện, một

cảnh ngộ, một sự việc gắn với cuộc đời riêng của người viết Trong những trường hợp ấy, cái tôi trữ tình rất gần hoặc cũng chính là cái tôi tác giả và nhà thơ thường sử dụng một cách bộc lộ trực tiếp qua chữ “tôi” Thường thì cái tôi trong thơ bộc lộ trực tiếp trong trường hợp viết về chính bản thân mình và

trong những mối quan hệ riêng tư Thứ hai, cảnh ngộ, sự việc trong thơ không

phải là cảnh ngộ riêng của tác giả Nhà thơ nói lên cảm nghĩ về những sự kiện

mà mình có dịp trải qua hoặc chứng kiến như một kỉ niệm, một quan sát Cái

tôi trữ tình ở đây là nhân vật trữ tình chủ yếu sáng tác Thứ ba, những bài thơ

trữ tình viết về nhân vật nào đó, những nhân vật này có khi là những điển hình có thực ngoài đời Đó là những nhân vật trữ tình của nhà thơ (cái tôi trữ tình là một loại nhân vật ít xác nhận cụ thể) Trong những trường hợp trên, tuy cái tôi của nhà thơ không bộc lộ trực tiếp nhưng qua sáng tác vẫn nổi lên cái tôi trữ tình Ở trường hợp thứ hai và thứ ba, cái tôi trữ tình là cái tôi của tác giả được nghệ thuật hóa thành nhân vật trữ tình trong thơ” [20,tr.11]

Nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành trong cuốn “Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam” cũng cho rằng: “Thơ trữ tình là những“bản tốc kí nội tâm”, nghĩa là sự tuôn trào hình ảnh và từ ngữ trong một trạng thái cảm xúc mạnh mẽ của người sáng tạo Chính vì vậy, về bản chất, mọi nhân vật trữ tình trong thơ chỉ là những biểu hiện đa dạng của cái tôi trữ tình” [80,tr.166]

Hay “Cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện cái chủ thể đến mức như là nhân vật chủ yếu số một trong mọi bài thơ Tuy nhiên, do sự chi phối của quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định” [80, tr.56.57]

Trang 20

Vũ Tuấn Anh nhận định: “Cái tôi trữ tình là một sự tổng hòa nhiều yếu

tố, là sự hội tụ, thăng hoa theo quy luật nghệ thuật cả ba phương diện cá nhân – xã hội – thẩm mĩ trong hình thức thể loại trữ tình” [3,tr.33]

Như vậy, có thể thấy, cái tôi trữ tình biểu hiện trong thơ ở ba bình diện lớn: bình diện mang tính độc đáo riêng biệt, bình diện tư tưởng xã hội và bình

diện sáng tạo nghệ thuật

1.3 Hành trình sáng tạo thơ của Nguyễn Bảo Chân, Nguyễn Phan Quế Mai

1.3.1 Nguyễn Bảo Chân

Nguyễn Bảo Chân sinh ngày 23-11-1969, quê Thanh Hóa, sinh sống và làm việc tại Hà Nội trong một gia đình trí thức Nguyễn Bảo Chân đã sớm thừa hưởng sự thông minh hóm hỉnh của cha và sự tinh tường của mẹ Cha chị là nhà văn Nguyễn Anh Biên, còn mẹ là NSƯT Ngọc Hiền công tác tại Đoàn kịch Hải Phòng Cuộc sống gia đình không êm ấm, vì nhiều lý do, bố

mẹ chị đã chia tay khi Bảo Chân lên 2 tuổi Chị sống với mẹ, rồi về ở với bà ngoại Khi bà ngoại mất, chị trở về sống với cha

Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Sân khấu điện ảnh, năm 22 tuổi, Nguyễn Bảo Chân chọn sống tự lập một mình trong một ngôi nhà cạnh sông Hồng Căn nhà nằm vị trí khá thấp, cứ mưa xuống là nước vào tận chân giường Đêm đêm, những giấc mộng cứ dập dềnh trên sóng Sau một thời gian, Nguyễn Bảo Chân bán căn nhà ven sông và mua căn hộ trên tầng cao nhất của khu tập thể gần phố Nguyễn Thái Học Căn nhà nhỏ đầy ắp kỷ vật quá khứ với những bức ảnh đen trắng từ thời bà ngoại, bố mẹ được xếp cẩn thận trên giá sách, những cuốn sách cũ xếp gọn gàng Ngôi nhà nhỏ xinh là nơi chứng kiến những niềm vui, nỗi buồn, tiếng cười và cả giọt nước mắt của chị sau những mất mát của tình yêu, cuộc sống Ngôi nhà từng xuất hiện trong sáng tác của chị

Trang 21

Cho đến khi ngoài 40 tuổi, trong lần xuất hiện trên Báo Công an nhân

dân (Bài viết vào tháng 3-2011), Nguyễn Bảo Chân vẫn là người đàn bà cô

đơn, sống một mình và không tránh khỏi những câu hỏi từ bạn bè, người thân, người quen và ngay cả với chính bản thân mình Nhưng dường như những tác động ngoại cảnh không quá quan trọng, bởi Nguyễn Bảo Chân lựa chọn một cuộc sống cho mình, hạnh phúc vì sự lựa chọn của mình

Những va vấp của cuộc đời đã tạo nên một người đàn bà cứng cỏi, đầy bản lĩnh nhưng ẩn sâu bên trong là một tâm hồn đàn bà nhạy cảm và đa cảm Nguyễn Bảo Chân tìm đến thơ, nương bóng mình vào những vần thơ như một điều tất yếu Thơ chị như những khối ru-bic được chồng lên nhau về cuộc sống mà chị từng trải qua Đó là những suy cảm về cha, về mẹ, về những đổ

vỡ trong cuộc sống hôn nhân của họ tạo nên một cô bé Bảo Chân tự lập, tự đứng trên đôi chân để bước đi với cuộc đời Đó là những tình cảm khi viết về

bà ngoại, về hoài niệm tuổi thơ sống bên bà, để giờ đây khi cuộc sống bất ổn, chị lại nương tựa vào bóng hình bà như một chốn nương thân dù bà đã đi xa Nguyễn Bảo Chân đã yêu và đang yêu, đã chứng kiến và cũng đã trải qua những chia ly, mất mát trong tình yêu Chính những ký ức đó đã để lại trong

đời và trong thơ những dấu vết như Nguyễn Bảo Chân từng tâm sự: “Tôi luôn

lắng nghe thế giới bên ngoài, lắng nghe mọi người, lắng nghe chính bản thân mình Tôi thoắt băng qua cuộc sống ồn ào náo động này Nhưng cũng có những khoảnh khắc mọi âm thanh hỗn tạp bỗng trở nên câm nín, đó là lúc Thơ cất lời.” [10,tr.8], tạo nên “vốn liếng” trong thơ và cho chính cuộc đời:

“Tôi chưa bao giờ nuối tiếc hay oán trách bất cứ ai, bất cứ điều gì trong quá khứ Tôi quan niệm, cuộc đời mỗi người là một hành trình của số phận, ta phải đi từ nơi xuất phát đến những cái đích nào đó Tôi đã không thể chọn cho mình một số phận dễ dàng hơn, nên tôi lấy tất cả những vấp ngã, những

Trang 22

đau đớn, những thất bại cũng như những hạnh phúc, niềm vui, sự may mắn

mà tôi có được làm vốn liếng của riêng mình” [42]

Nguyễn Bảo Chân hiện là Biên tập viên Đài Truyền hình Việt Nam, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2002

1.3.2 Nguyễn Phan Quế Mai

Bình Nguyên Trang, trên Báo Sức khỏe và Đời sống đã từng viết rằng:

“Nguyễn Phan Quế Mai có lẽ là một trong những câu chuyện ngạc nhiên và

ấn tượng nhất trong đời sống văn học Việt Nam 2010 Việc làm thơ đối với Nguyễn Phan Quế Mai là một thứ bản năng” [89]

Quả thực đúng như vậy, Nguyễn Phan Quế Mai từng thú thực rằng “tôi chưa từng được học qua trường lớp viết văn nào, chưa từng tiếp cận lý luận về thi ca Chỉ đơn giản là một ngày nào đó tôi có nhu cầu cầm bút và viết thôi”

Nguyễn Phan Quế Mai tên thật là Nguyễn Thị Quế, sinh ngày

12-8-1973 tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Năm lên 6 tuổi chị theo gia đình vào sinh sống tại Bạc Liêu Chị tốt nghiệp Khoa quản trị kinh doanh, Chuyên ngành truyền thông của Trường Đại học Monash (Melbourne – Úc) theo chương trình học bổng của chính phủ Australia Sau đó, Nguyễn Phan Quế Mai theo học Thạc sĩ ngành viết văn theo học bổng của Trường đại học Lancaster (Anh)

Nguyễn Phan Quế Mai từng chia sẻ về tuổi thơ lam lũ cùng nỗ lực

vươn lên trong học tập của mình trong bài phỏng vấn trên báo Sức khỏe và

Đời sống như sau:

“Tôi sinh ra ở Ninh Bình, bố mẹ làm giáo viên nhưng nghèo lắm Năm

1979, cha mẹ đưa anh chị em chúng tôi đi khai hoang Nơi chúng tôi đến là mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc, đó là Bạc Liêu Tôi bị chúng bạn kỳ thị và lúc nào cũng đầy mặc cảm vì cuộc sống nghèo khó, chồng chất nợ nần của cha mẹ Tôi thường phải dậy từ 4h sáng hằng ngày để đi kéo tép Trên vai tôi

Trang 23

lúc nào cũng có hàng chục cái vó Tôi đi vào những bãi tha ma, nơi có những cái ao, cái đầm nước mà ít người dám đến, kéo vó đến 6h sáng thì mang ra chợ bán Rồi tôi về nhà ăn cơm nguội, rồi lại đi ra đồng cắt rau muống và đi

bỏ mối ngoài chợ Số tiền ít ỏi kiếm được tôi đỡ đần cha mẹ trang trải cuộc sống Có những mùa hạn hán, đồng ruộng nứt nẻ, cha con tôi phải nhọc nhằn

đi gánh nước về tưới lúa Đứa trẻ là tôi khi đó luôn luôn có cảm giác về một cuộc sống không lối thoát Tôi chỉ dám mơ ước sau này mình sẽ trở thành một

cô giáo dạy cấp 2, thậm chí là một người nông dân cầm cày đi sau con trâu Tôi có nghĩ đến học ngoại ngữ là một lối thoát cho mình, để bay ra khỏi sự nghèo khó, nhưng khốn nỗi cha mẹ lại không có tiền cho tôi đi học Rồi tôi biết có một ông thầy chuyên dạy ngoại ngữ cho trẻ em nghèo tên là Trương Văn Ánh Tôi tìm đến lớp của thầy thì thấy trong lớp học có cả trẻ lang thang, bụi đời Thầy cho tôi vào lớp Rồi thầy dạy tiếng Anh cho chúng tôi bằng cách mang cây đàn ghi-ta gỗ ra và thầy hát những bài hát tiếng Anh đơn giản Thầy rất nghèo, nhưng thầy không bao giờ lấy tiền của học trò Phát hiện ra tôi có năng khiếu học ngoại ngữ, thầy đến nhà nói với bố mẹ tôi cho tôi đi học Bố mẹ tôi lúc đầu thậm chí còn tỏ ra nghi ngờ lòng tốt của thầy, nhưng sau đó thì đồng ý cho tôi đến lớp học Thầy có tật ở chân, đi lại khó khăn Cả đời mình, thầy chưa đi đâu quá xa Thầy dạy ngoại ngữ cho chúng tôi với một niềm gửi gắm: “Các em hãy là đôi cánh của thầy”.” [89]

Rồi Quế Mai đỗ cùng lúc hai trường đại học, cô sinh viên nghèo lại tiếp tục bươn chải trên đất Sài Gòn, lo kiếm tiền đi học Một năm học, Quế Mai giành được học bổng phát triển của Chính phủ Australia và bắt đầu những ngày xa xứ

Nguyễn Phan Quế Mai theo học ngành quản trị kinh doanh chuyên ngành truyền thông tại trường Đại học Monash, Australia Trong suốt các năm học, chị đều được nhận giải thưởng sinh viên xuất sắc, và sau ba năm

Trang 24

học, Quế Mai vượt lên hàng trăm sinh viên bản xứ và sinh viên quốc tế trở thành thủ khoa tốt nghiệp Tốt nghiệp đại học, chị được tập đoàn bảo hiểm quốc tế lớn nhất của Australia nhận vào làm việc Sau đó, chị vẫn quyết định trở về Việt Nam

Quế Mai tiếp tục phát huy khả năng chuyên môn và là một trong những giám đốc kinh doanh trẻ tuổi, năng động nhất của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ những năm 1998 – 2001 tại Việt Nam Chị tham gia xây dựng Luật bảo hiểm Việt Nam và là một trong những người biên soạn và dịch từ điển bảo hiểm Việt – Anh đầu tiên của Việt Nam

Tình yêu với người chồng ngoại quốc một lần nữa đưa chị rời xa tổ quốc Chồng chị làm công tác ngoại giao tại Liên minh Châu Âu, sau khi hết nhiệm kì tại Việt Nam nhận nhiệm kì mới tại Bangladesh Bốn năm sống ở Bangladesh, Quế Mai vẫn phát huy được khả năng chuyên môn của mình và

là một trong những cán bộ chủ chốt của Trung tâm thông tin, trường Quốc tế

Mỹ tại Dhaka (AISD) Chị đã cùng đồng nghiệp tham gia các dự án xã hội, triển khai những chương trình xóa mù chữ ở Bangladesh, một đất nước có tỉ

lệ người mù chữ lên đến gần 50 phần trăm

Năm 2006, Quế Mai trở về Việt Nam phụ trách truyền thông cho khu vực châu Á của tổ chức Phát triển Hà Lan Công việc bận rộn, những chuyến công tác nước ngoài liên miên, rồi việc cân bằng giữa cuộc sống gia đình và công việc thực sự là một thách thức lớn Chính vào lúc này, chị đã tìm đến

với thơ ca “thực sự làm thơ khi trở về Hà Nội năm 2006” Bút danh Nguyễn

Phan Quế Mai cũng bắt đầu được ra đời, được ghép lại từ tên của chị, tên chồng và tên con gái

Ngoài ba mươi tuổi, Quế Mai đến với thơ nhưng những gì mà chị viết

ra sớm nhận được sự đồng cảm của bạn đọc Quế Mai từng tâm sự về sự nghiệp thơ của mình: “Tôi là người mắc nợ những mối tình rất đẹp và phải trả

Trang 25

nợ bằng những bài thơ” [89], Tập thơ đầu tay Trái cấm với bìa sách là ảnh

nude của NSNA Thái Phiên gây chú ý mạnh với công chúng Năm tháng sau, tác phẩm được đặt hàng tái bản bởi Fahasa như một “hiện tượng lạ” đối với các ấn phẩm thơ Trong ngày thơ Việt Nam tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Nguyễn Phan Quế Mai xuất hiện với màn trình diễn thơ trẻ Đây cũng là lần

ra mắt chính thức của chị với làng thơ, đánh dấu bước đường thi ca của người con xa xứ đã trở về đất mẹ

Tiếp sau đó là sự ra đời của các tập thơ Cởi gió và tập thơ song ngữ Những ngôi sao hình quang gánh Chị cũng là người tích cực trong các hoạt

động quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài Tại các hội nghị, các sự kiện văn học có yếu tố nước ngoài, Quế Mai sẵn sàng sắm vai phiên dịch Bên cạnh đó chị cũng tích cực góp phần chuyển ngữ thơ Việt sang tiếng Anh Trong thời gian ở Việt Nam, Quế Mai đã làm cầu nối và tham gia chuyển ngữ các tác phẩm của một số nhà thơ trong nước như Nguyễn Trọng Tạo, Trần Quang Quý Chị còn chuyển ngữ tác phẩm thơ của nhà thơ Bruce Weigl đến với độc giả Việt Nam (Nhà thơ Bruce Weigl là một cựu chiến binh từng có mặt trong cuộc chiến tranh VN Ông là người đã dám nói ra sự thật của cuộc chiến bằng những bài thơ Nỗi đau, tình người, sự sẻ chia, khát vọng hàn gắn

là những gì Bruce muốn gửi gắm qua thi ca Ông hiện đang chống chọi với căn bệnh ung thư vì ảnh hưởng chất độc da cam tại chiến trường Việt Nam)

Chị đã được nhận bằng khen của Hội Nhà văn Việt Nam vì những đóng góp của mình trong việc đưa văn học Việt Nam ra thế giới tại Hội nghị quảng

bá văn học Việt Nam ra thế giới đầu năm 2010 Cũng trong năm 2010, tập thơ

Những ngôi sao hình quang gánh của chị cũng đã được in song ngữ, việc

chuyển ngữ được thực hiện bởi giáo sư Bruce Weigl (Ohio, Mỹ)

Bên cạnh làm thơ, Nguyễn Phan Quế Mai là một trong những người sáng lập và là trưởng nhóm của nhóm tình nguyện Chắp cánh ước mơ – hoạt

Trang 26

động chính giúp đỡ trẻ em mắc bệnh ung thư tại Bệnh viện Nhi Trung Ương

và Bệnh viên K Hà Nội

Mặc dù là một giọng thơ nữ mới xuất hiện trong những năm trở lại đây nhưng thơ Nguyễn Phan Quế Mai sớm nhận được sự yêu mến của độc giả, sự đánh giá cao của giới chuyên môn với các giải thưởng văn học mà chị nhận được Đặc biệt, thời gian gần đây, trong tình hình diễn biến căng thẳng tại

biển Đông, tác phẩm thơ Tổ quốc gọi tên mình của Nguyễn Phan Quế Mai

được nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn phổ nhạc tạo nên một tiếng nói yêu nước, đoàn kết rộng khắp trong hơn 90 triệu trái tim Việt Nam Tác phẩm nhanh chóng được đông đảo nghệ sĩ, sinh viên, học sinh đón nhận và thể hiện tình yêu tổ quốc bằng lời ca tiếng hát Tên tuổi Nguyễn Phan Quế Mai cũng theo đó được đông đảo công chúng biết đến như một người con xa quê hương nhưng luôn hướng trái tim, tình yêu dành cho đất mẹ Việt Nam

Sinh ra ở miền Bắc, lớn lên ở miền Nam, học tập tại nước ngoài, ở Nguyễn Phan Quế Mai có nhiều điểm đặc biệt Đó là phẩm chất thâm trầm, kín đáo, chịu thương chịu khó của người miền Bắc cùng nét tính cách phóng khoáng, sống hết mình với cuộc sống của người miền Nam Có lẽ chính điều này đã góp phần tạo nên giọng điệu thơ Nguyễn Phan Quế Mai vừa nồng hậu, dịu dàng lại vừa trầm lắng, suy tư

Trang 27

CHƯƠNG 2: CÁC SẮC THÁI THẨM MỸ CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BẢO CHÂN VÀ

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI

2.1 Các sắc thái thẩm mỹ trong thơ Nguyễn Bảo Chân

2.1.1 Cái tôi trữ tình mang nỗi buồn, cô đơn

Tình yêu là đề tài muôn thuở trong thơ ca, nhạc họa và cuộc sống Tình yêu là một thứ tình cảm thiêng liêng và cao quý nhất mà tạo hóa đã ban cho con người Không gì có thể diễn tả được cảm xúc của tình yêu với đủ mọi cung bậc, trạng thái khác nhau, khi buồn vui, giận hờn, ghen tuông, lúc mỉm cười, sung sướng ngập tràn Có lẽ, tình yêu – thứ tình cảm riêng tư và cao quý này thật khó để định nghĩa và lý giải Và người đời suốt bao đời nay vẫn

đi tìm kiếm nó, thổn thức vì nó trong một trạng thái khao khát yêu và được yêu

Đi qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, tình yêu luôn là đề tài được nhắc đến nhiều, nhưng là tình yêu cá nhân hòa cùng tình yêu lớn dành cho tổ quốc Cái tôi cá nhân hòa cùng cái Ta chung của dân tộc, tình yêu lứa đôi trong tình yêu đồng chí, đồng bào, trong tình yêu đất nước Mọi cảm xúc

cá nhân bì kìm chế, để cho tình yêu thiêng liêng với Tổ quốc được cất cao

Chiến tranh kết thúc, mọi cảm xúc cá nhân được tự do bộc lộ Người ta tìm đến thơ để chia sẻ về các cung bậc của tình yêu Nếu trong chiến tranh, tình yêu gắn liền với cái tôi công dân, tập thể, thì giờ đây, tình yêu là tình yêu

cá nhân, mỗi cá nhân sẽ có những cảm nhận, bộc lộ và cảm xúc riêng về tình yêu Người ta khát khao kiếm tìm tình yêu cho mình trong một thế giới rộng lớn và cởi mở, khao khát được dâng hiến và hưởng thụ trong vị ngọt của tình yêu: “Em trở về đúng nghĩa trái tim em/ Là máu thịt, đời thường ai chẳng có/ Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa/ Nhưng biết yêu anh cả khi chết

Trang 28

đi rồi” (Tự hát – Xuân Quỳnh) Hay khi nữ sĩ Đoàn Thị Lam Luyến không

ngần ngại bộc lộ lòng mình với bạn tình: “Cứ mong anh đến nhà/ Dù một lần

ít ỏi/ Chẳng cần nghe anh nói/ Chỉ nhìn nhau nhìn nhau ”(Mong anh – Đoàn

Thị Lam Luyến) Đoàn Thị Lam Luyến đã yêu bằng cả trái tim, linh hồn chị hoàn toàn trao cho người mình yêu:

Ta trao cả cho anh Một tình yêu cháy bỏng

Ta gửi cho anh Một con tim dạt dào

(Gửi tình yêu – Đoàn Thị Lam Luyến)

Những người đàn bà như Xuân Quỳnh, Đoàn Thị Lam Luyến, hay Nguyễn Bảo Chân với trái tim đa cảm đa tình; yếu mềm nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ, họ khao khát yêu và được yêu, khi yêu sẵn sàng hiến dâng mọi thứ mình có và thể hiện tình yêu theo cách riêng của mình Bản tính nữ cho phép họ làm được điều đó Và tình yêu với họ cũng là sự trải nghiệm của mọi cung bậc cảm xúc

Nguyễn Bảo Chân có một tuổi thơ không may mắn khi cha mẹ sớm bỏ nhau từ lúc cô bé Chân còn nhỏ Chân về ở cùng bà ngoại trong ngôi nhà ven sông Hồng Ngay từ nhỏ, Chân đã phải chứng kiến những vết nứt tình cảm của hai người thân yêu nhất cha và mẹ Tình yêu đưa họ đến với nhau nhưng cũng chính sự đổ vỡ trong tình yêu đã đẩy họ rời xa nhau Có lẽ vì thế khi lớn lên, người con gái tên Chân này càng trở nên kĩ tính hơn trong tình yêu Và người đàn bà Nguyễn Bảo Chân khi trưởng thành hơn càng thấu hiểu hơn về mọi cung bậc của tình yêu Sự thấu hiểu bằng chính những gì mình chứng kiến khi còn nhỏ và bằng chính những trải nghiệm của bản thân Vậy nên đọc thơ chị, chúng ta luôn thấy những vần thơ mang nỗi buồn, nỗi cô đơn về thân

Trang 29

phận người đàn bà hay gặp trắc trở trong tinh yêu, đau đáu đi tìm kiếm tình yêu dù cho đó là những mối tình không trọn vẹn Nhưng ở đời, có ai may mắn tìm được cho mình một tình yêu hoàn mỹ, có chăng chỉ là những cảm xúc của tình yêu: buồn vui, sung sướng hay khổ đau, bất hạnh Nguyễn Bảo Chân hiểu hơn ai hết những cung bậc cảm xúc đó, vì thế trong thơ chị niềm vui thì

ít mà nỗi buồn thì nhiều, chan chứa cả nỗi cô đơn trong tình yêu Nỗi buồn, nỗi cô đơn của một người đàn bà đã và đang trải qua tình yêu

Ở thì hiện tại, Nguyễn Bảo Chân thường tìm về ký ức tuổi thơ trong trẻo, dịu dàng, tìm về với ký ức tình yêu đã qua Có lẽ khi người ta sống ở hiện tại, khi mọi điều không như mong muốn, người ta lại hồi tưởng và muốn quay trở về quá khứ để sống với kí ức tươi đẹp ngày xưa Ký ức giống như những điểm tựa để khi trên dòng đời vất ngã hay mệt mỏi sẽ giúp ta gượng dậy và mạnh mẽ bước tiếp Ai trong đời cũng có những ký ức, đó có thể là những ký ức vui và cũng có thể là cả những ký ức buồn Với Nguyễn Bảo Chân, ký ức tuổi thơ có thể không êm đềm nhưng vẫn là những ký ức của ngày bé hồn nhiên, không vướng bận điều gì

Nguyễn Bảo Chân cứ im lặng cho dòng ký ức vượt thời gian bật dậy:

Tuổi thơ em

Có khúc hát cồn cào dòng sông

Có nước triều dâng rạn vỡ Ánh trăng hun hút con đường xanh rạng rỡ Ngân sao vương hoa pháo giữa trời

(Ký ức)

Ký ức tuổi thơ của Nguyễn Bảo Chân gắn liền với ngôi nhà nhỏ ven sông Hồng, với dòng sông có “nước triều dâng”, có con đường hàng ngày đi qua Cái thuở hồn nhiên đó, cô bé ngắm nhìn mọi thứ xung quanh, khám phá thế giới quanh mình: “Em tung tăng trên cỏ nhặt sương rơi/ Gặp một chú dế mèn/ Chú dế mèn trong vỏ diêm của em/ Hát mãi bài ca màu đất/ Bài ca còn

Trang 30

ai nhớ nữa? Qua bao nhiêu nắng mưa/ Vẫn ngơ ngác con đường xanh thiếu

nữ” (Ký ức) Con đường không còn là vật vô tri vô giác nữa mà mang trạng

thái “ngơ ngác” Con đường xanh hay người phụ nữ ở độ tuổi đẹp nhất, trong sáng nhất của đời người Những ký ức tuổi thơ cứ như ùa về khiến nhà thơ sống lại quãng đời đẹp nhất của mình Tuy nhiên trong cái hồn nhiên, đẹp đẽ của tuổi thơ đó vẫn luôn là nỗi cô đơn một mình

Tôi đi qua tuổi thơ một mình Gặp những trời thu bày hàng lá đỏ Chiếc lá muộn mằn gõ cửa

Tặng tôi món đồ chơi cuối cùng

(Một mình)

Sống một mình trong ngôi nhà, không có bóng dáng ai bên cạnh, trong nỗi cô đơn một mình, Nguyễn Bảo Chân tìm về những ký ức xưa để an ủi lòng mình Nhưng khi ở một mình, nỗi cô đơn càng bủa vây hơn Nguyễn Bảo Chân nhắc nhiều đến trạng thái cô đơn một mình của bản thân Đó là khi đón sinh nhật một mình: “Hoa tự mua/ Sinh nhật úa trên bàn/ Tôi đã qua thời thiếu

nữ một mình” (Một mình), là khi trong căn nhà không có bóng hình ai chờ

đợi:

Ta lại về nơi không ai chờ đợi chỉ nỗi buồn tựa cửa thờ ơ Hoa giấy rơi thảng thốt trước nhà những mảnh trời vừa nguội

Giữa những cánh hoa

Trang 31

những tàn tro

ta nhặt nỗi cô đơn còn ấm lửa

(Cô đơn)

Nguyễn Bảo Chân cứ để cho nỗi buồn miên man trôi đi như thời gian

cứ chầm chậm lướt qua Hai chứ “buồn”, “cô đơn” được nhắc đến khá thường xuyên trong thơ Nguyễn Bảo Chân Chính bản thân nhà thơ cũng tự nhận ra cảnh ngộ của mình, nhận ra nỗi cô đơn của mình Không tìm cách trốn chạy, nhà thơ chọn cách đối diện với nỗi buồn, nỗi cô đơn “ta lại về nơi chỉ nỗi buồn”, “ta nhặt nỗi cô đơn còn ấm lửa” Trong nỗi cô đơn đó vẫn còn hy vọng, vẫn còn hơi ấm

Viết về nỗi buồn, Nguyễn Bảo Chân viết nhiều về giọt nước mắt, về hình ảnh cô gái đang khóc Không biết bao nhiều lần từ “khóc”, “nước mắt” lăn dài trên khóe mắt người con gái, trào dâng trong từng câu thơ Giọt nước mắt của niềm vui thì hiếm mà của nỗi buồn bủa vây thì nhiều Khóc khi vắng anh, khóc khi tình yêu dang dở, khóc khi cô đơn một mình, khóc khi ở gần bên anh

Vẻ ngoài tỏ ra mạnh mẽ, cứng rắn khiến nhà thơ giấu giọt nước mắt lặng lẽ vào trong để cho nước mắt tuôn trào trên trang giấy Dù có tỏ ra cứng rắn đến đâu, những khi một mình người ta càng cảm thấy cô đơn và buồn hơn “Khóc” chính là cách tốt nhất để giải tỏa những uẩn ức, cảm xúc trào dâng trong lòng, khóc cho lòng nhẹ nhàng đi Đây là thiên tính và đặc quyền

mà tạo hóa ban cho người phụ nữ Với trái tim nhạy cảm, tâm hồn yếu đuối,

họ có thể khóc bất cứ lúc nào:

Anh đừng hỏi tại sao em khóc Tại sao trời mưa

Tại sao nắng Tại sao lại gió

Trang 32

(Giản đơn)

Khóc đôi khi không cần lí do, vậy nên đừng hỏi tại sao em khóc Hãy

cứ để mọi thứ tự nhiên Vạn vật đều có thể cất tiếng khóc “con còng còng

nó khóc”, “biển khóc òa”, “nước mắt thuyền”, “nắng khóc” Anh hãy nhìn vạn vật, nhìn xung quanh để cảm nhận lí do tại sao em khóc Mọi điều đôi khi thật giản đơn Những giọt nước mắt trong thơ Nguyễn Bảo Chân khác với những gì chúng ta từng đọc Nó giản đơn, giản đơn thôi nhưng là hình ảnh gợi cảm Nước mắt của thuyền, nước mắt của nắng hóa thành âm thầm xưa cũ

“Thơ nhẹ mà sâu và tính tế bởi đó là cảm xúc thật, tình yêu thật, thương xót thật, luyến tiếc thật” [71]

Nguyễn Bảo Chân nhắc nhiều đến trạng thái đang khóc, đó là cô bé

ngày xưa “Em khóc/ Đến giờ nước mắt đã khô” (Ký ức), là người phụ nữ đối

diện với thực tại “Mùa thu đánh rơi nước mắt xuống chiều/ Tôi nhận ra mình

biết khóc/ Khổ đau và hạnh phúc/ Vội vã khô giòn” (Một mình) Nước mắt

của những chặng đường mà cô gái đã trải qua, buồn nhiều hơn vui, cô đơn, chia ly nhiều hơn đoàn vui, trọn vẹn Nước mắt của cô gái ngồi đan áo cho người mình yêu:

Sau cơn bão cuối mùa Gió mệt nhoài vương cành cây đổ

Em vụng về gỡ gió

Se tình yêu cặm cụi một mình

Sợi heo may vàng úa bên đường

Em ngẩn ngơ gỡ mùa thu trong cỏ Đan áo cho anh

(Đan áo)

Tấm áo được đan bằng “sợi heo may vàng úa” bằng cử chỉ “se tình yêu” Mùa thu là mùa của tình yêu nhưng cũng là lúc xa anh Các từ “vụng

Trang 33

về, cặm cụi, ngẩn ngơ” diễn tả hình ảnh người con gái Cái lúc ngồi đan áo cho người mình yêu cũng chính là lúc cô đơn trống trải nhất “Se tình yêu cặm cụi một mình” Không buồn sao được, không tủi thân sao, không xót xa cho cuộc đời mình sao đây khi vẫn một mình lẻ loi giữa dòng đời Đọc thơ Nguyễn Bảo Chân, người đọc nhận ra nhà thơ không hề phóng đại, đắp điếm cho nỗi buồn, nỗi cô đơn của mình, không hề than thở, trách cứ bất kì ai Có

lẽ bản lĩnh của một người phụ nữ dám đối mặt và chấp nhận thực tại ở đây Nguyễn Bảo Chân không gào thét, rên rỉ để lên gân nỗi buồn, cứ để cho nỗi buồn trôi đi, lặng thầm đối diện với nó Sinh nhật không có ai tặng hoa, Chân

tự mua hoa cho mình Những bông hoa như sự chấp nhận và đối diện với thực tại cô đơn Biết là buồn, biết là cô đơn đó nhưng vẫn tự an ủi mình

Nhìn bức tượng người đàn bà trong bảo tàng Jaffa, Nguyễn Bảo Chân càng đồng cảm hơn về cuộc đời người phụ nữ Người đàn bà đó đã “ngưng khóc”, “thôi cười”:

Người đàn bà trong bảo tàng Jaffa sáu ngàn năm ngưng khóc

sáu ngàn năm cúi mặt mặc thiên hạ chiêm ngưỡng nỗi đau đã khô héo của nàng giống cách họ vẫn chiêm ngưỡng những chiếc bình những đồng tiền và những cây đèn cổ

Người đàn bà trong bảo tàng Jaffa sáu ngàn năm thôi cười

nhưng mảnh kính che pháp đài nàng ở vẫn khẽ run lên

vì những hơi thở tò mò

(Người đàn bà trong bảo tàng Jaffa)

“Sự lãng quên”, “thói bạc bẽo” của người đời đến rồi đi, có ai thấu hiểu cho nỗi buồn, nỗi cô đơn mà người đàn bà này đã từng trải qua

Trang 34

Khao khát đi tìm lại những kí ức ngày xưa trong những con đường, góc phố quen thuộc, nhưng càng tìm càng nhận ra nỗi cô đơn của mình:

Em đi hết con đê

Trong im lặng, nhà thơ thoảng thốt nhận ra rằng:

Có những điều không thể nói với anh

Em lặng lẽ như con tằm rút mình làm tơ óng

Em trải tình yêu dưới mặt trời

Em dệt tình yêu thành ánh nắng

Anh là cơn mưa nôn nóng

Để ướt hết tơ vàng em hong

(Im lặng)

Bảo Chân giữ những điều cho riêng mình không nói, lặng thầm dâng hiến cho anh tất cả tình yêu “em trải tình yêu”, “em dệt tình yêu”, nhưng rồi trong khoảng không im lặng đó, nhà thơ chợt nhận ra sự thật có phần chua

Trang 35

xót: “Anh chẳng thể nhận ra em/ Ký ức anh chồng chất bao gương mặt đàn bà/ Không ai giống em/ Chỉ một cánh hoa/ Lẳng lặng thơm từ bấy đến giờ”

(Tĩnh lặng) Chấp nhận cho đi tình yêu và cũng chấp nhận cả thực tại không

được đáp lại Một nỗi buồn miên man theo từng con chữ ngự trị trong tâm hồn nhà thơ

2.1.2 Cái tôi trữ tình với khao khát bình dị

Là một người phụ nữ, Nguyễn Bảo Chân mang trong mình khao khát bình dị của người phụ nữ Đó là khao khát yêu và được yêu, khao khát được ở bên những người thân yêu.Trong thơ Nguyễn Bảo Chân, nhà thơ nói nhiều đến những giấc mơ Nhưng những giấc mơ lại thường chênh vênh mong manh Giấc mơ chỉ là ảo ảnh thoáng qua, không phải là sự thật, nhưng nhờ chính giấc mơ chính là mơ ước của con người, khao khát mà đời thực chưa

có Khao khát của một người đàn bà mang trong mình nỗi buồn, cô đơn là lại một khao khát bình dị cuộc sống

Dù Nguyễn Bảo Chân có tâm niệm “vỡ tan/ để lại bắt đầu” thì thực tại vẫn vô cùng nghiệt ngã, vô cùng phức tạp, vẫn là trở ngại cho những mong muốn, khát khao khó thành hiện thực Khoảng cách giữa khát vọng, ước mơ với thực tại cuộc sống lại ở rất xa nhau:

Trên chiếc dây dăng ướt đẫm giấc mơ tôi Tung tỏa bay lên, không thể nào kìm giữ Chạm tới bình minh

Lại ngã vào cơn ngái ngủ

Ở dưới kia

(Những giấc mơ trên dây)

Đang từ giấc mơ, nhà thơ bị kéo về thực tại “ngã vào cơn ngái ngủ ở dưới kia” Ở dưới kia có gì mà bảo là khoảng cách xa với với giấc mơ? Dưới kia là bức tranh tả thực về cuộc sống:

Trang 36

Ở dưới kia, những nóc nhà vẫn ngủ vùi Giữa sương mai

Những ô cửa âm u Cất giấu những cuộc đời

Ở dưới kia, những ngả đường nhàu nhĩ dấu chân người Kiệt sức những bon chen

Dối lừa, phản trắc Đang mê mệt giấc nồng

Ở dưới kia, Tình yêu bị bỏ quên Trong bóng tối cỗi cằn

Thèm một ánh ngày

Để tươi xanh

(Những giấc mơ trên dây)

Hiện thực cuộc sống không như mơ, đó là biết bao bon chen thường nhật, biết bao thói đời giả đối, lừa lọc, phản trắc nhau, biết bao cuộc đời khác nhau, và là nơi Tình Yêu bị bỏ quên Một người phụ nữ với giấc mơ tình yêu lại phải sống trong thực tại tình yêu bị bỏ quên thì còn gì chua xót, đau đớn hơn Cái giấc mơ bình dị về tình yêu, yêu và được yêu cũng không được đền đáp Nhưng từ chính hiện thực, bị kịch cuộc sống đó, ước mơ của nhà thơ chưa bao giờ lịm tắt Nó vẫn được nhen nhóm từ trong chính nỗi cô đơn:

Ta về nhen lại những ước mơ ngùn ngụt cùng hoa giấy nở Giữa những cánh hoa

những tàn tro

ta nhặt nỗi cô đơn còn ấm lửa

(Cô đơn)

Trang 37

Cuộc sống, tình yêu lắm khi chỉ là ảo giác Biết là thế mà vẫn níu kéo nó, hy vọng nó cho ta một bờ bãi bình yêu, một ngọn lửa ấm áp: “ngày mai ta là hai

người lạ/ mà em vẫn níu vào anh tìm ảo giác một bến bờ” (Chiều nay) Với

một tâm hồn mơ mộng, Nguyễn Bảo Chân đi tìm giấc mơ cho riêng mình, nhưng trong giấc mộng đẹp đó có cả những chiếc gai – nỗi đau Những chiếc gai mơ mộng là dấu vết đậm nhất, sâu nhất của cuộc sống được lưu giữ trong Nguyễn Bảo Chân:

Em vẽ bông hồng vàng

Bông hoa tươi rói vừa bước ra khỏi khu vườn mười sáu tuổi

Cùng những chiếc gai mơ mộng

Những chiếc gai đâu tự biết

Chúng có thể làm ai đó nhói đau

(Những chiếc gai mơ mộng)

Bài thơ mang tình thần bừng tỉnh, thoát vượt: “Bông hồng vàng sáng giấc mơ em/ Bừng đêm của chị/ Những chiếc gai bướng bỉnh/ Cào xước khung tranh chật hẹp/ Thoát khỏi giới hạn sợ sệt/ Để bênh vực nỗi buồn” Hình ảnh ẩn dụ, kín đáo mà sâu sắc Những chiếc gai “bướng bỉnh”, nhỏ bé trong giấc mơ của nhà thơ chỉ mong ước một điều giản gị “bênh vực nỗi buồn” Tuy chỉ là mơ những rất đáng trân trọng

Nhà thơ nhớ về bữa tiệc sinh nhật ở Minala:

Bữa tối hai người quán Ý lâng lâng men giai điệu Baroque nếm hương Địa Trung Hải trên vịnh Manila

tê mê vị chát

ly rượu cùng nhau nhấp ánh mắt sánh ướt

(Sinh nhật ở Manila)

Trang 38

Dù có mải mê đuổi theo thì thời gian như bóng câu qua cửa không bao giờ chờ đợi ai cả, đặc biệt là tuổi thanh xuân của người phụ nữ Tuổi càng nhiều người ta càng có mong ước tìm một bến đỗ, tìm một bờ vai có thể nương tựa Giấc mơ về cuộc sống gia đình càng hiện lên rõ hơn bao giờ “Bao nhiêu ngọn nến thắp đêm nay/ không dám đếm/ sao vẫn hồi hộp thế/ khi mở

quà sinh nhật/ mở ra một giấc mơ/ thấy sao Hôm sáng trên ngón áp út” (Sinh

nhật ở Manila) Trong giấc mơ của Nguyễn Bảo Chân còn có giấc mơ về

những người thân yêu, về năm tháng gắn bó bên bà, bên mẹ, bên cha, về niềm vui bên trẻ nhỏ

Sống với bà suốt những năm tháng tuổi thơ, Nguyễn Bảo Chân dành cho bà những tình cảm kính yêu vô bờ Nhà thơ tả bà trong cái nắng nhà bà:

bóng bà ngoại bên hàng rào hoa móng rồng ướp hương trưa hè

tóc trần mắt ướt

ru thầm

Bà làm bạn làm bà làm mẹ cái nắng Cái nắng xinh xinh

cái nắng bé bỏng

mơ mộng trời cao biết đâu có ngày bão giông biết đâu có ngày mưa gió bà ngoại bay về trời

(Cái nắng nhà bà ngoại)

Dường như ở đây, cái nắng nhà bà được ví với chính hình ảnh cô bé Chân ngày nào Ở bên bà, bà vừa làm bạn, làm bà, làm mẹ, bà nâng đỡ “sợ cái

Trang 39

nắng ngã, sợ cái nắng đau” Đứa cháu gái bé nhỏ đâu có biết đến một ngày bà rời xa mãi mãi Nhà thơ nhớ về bà, nhớ về những kỉ niệm nhà bà, mong muốn được tìm về bên kí ức tuổi thơ có bà bên cạnh Những dấu vết ngày xưa nay chỉ còn lại trong hình nắng Và ngay cả khi viết về mẹ - người đã sinh ra nhà thơ cũng chỉ còn lại trong dấu vết của kí ức ngày xưa Nhà thơ nhớ về lời mẹ dặn:

Chỉ mong ngày lớn khôn con biết bằng lòng với vầng mặt trời

mẹ đã thắp cho con sau cơn mưa ngày trước Bàn tay bé bỏng này sẽ biết nấu cơm

sẽ đan áo ấm cho người đàn ông con yêu

(Lời mẹ dặn)

Trong cuộc sống tình cảm không như ý muốn, nhà thơ tìm về lời mẹ dặn để làm điểm tựa, làm lí do để bước tới Mẹ đã dặn con phải mạnh mẽ, đừng “đánh rơi ánh mắt đắm đuối của mình xuống sông sâu”, đừng sợ đau mà không dám bước tiếp “nếu con đã chạy chân trần trên cát thì đừng sợ lấm/ hãy

để cát an ủi bàn chân con”, đừng đánh đổi tình cảm của mình để chạy theo những thứ vật chất phù phiếm “đừng ngoái lại tiếc ngôi sao xa lấp lánh như hạt kim cương của chiếc nhẫn đính hôn” Nguyễn Bảo Chân nhớ về lời dặn của mẹ, để nếu có gặp phải trên đường đời cũng chỉ như một giấc mơ mà thôi

“Khi con tỉnh giấc/ nắng sẽ lau khô nước mắt trên má con/ Con biết tha thứ/

cho người đàn ông nào làm con đau khổ” (Lời mẹ dặn) Con người ta khi sống

không chỉ biết đón nhận mà còn cần phải biết tha thứ Bởi không ai là hoàn hảo cả, ai cũng có thể mắc sai lầm Trong tình yêu, hãy biết tha thứ cho người

Trang 40

làm mình đau khổ Vẫn biết rằng điều này thật khó nhưng chỉ có tha thứ mới

có thể tìm lại hạnh phúc cho mình

Không chỉ nhớ về mẹ, nhà thơ còn nhớ về cha Cuộc hôn nhân giữa cha

mẹ tan vỡ hằn lên ký ức tuổi thơ nhà thơ Từ nỗi đau quá khứ để nhà thơ tìm thấy sự mạnh mẽ hơn trong cuộc sống:

Con cầm mảnh vỡ của cha bằng bàn tay nhỏ bé này

đó, nhà thơ quay về với thế giới trẻ thơ, nói với các bé bằng ngôn ngữ của chúng, và có lẽ bởi vậy mà bọn trẻ rất thích chơi với Bảo Chân Nguyễn Bảo Chân đã dành tặng cho bé Nấm một bài thơ nhân ngày sinh nhật:

Có lẽ bác sẽ bắt đầu bài thơ từ Nấm

Má đỏ bồ quân Mắt đen lấp láy Tóc mềm mây nõn Tươi khóc giòn cười

Ngày đăng: 11/11/2016, 11:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Mai Anh (2010), Thơ trẻ Việt Nam đương đại qua ba tác giả Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư và Ly Hoàng Ly, Luận văn thạc sĩ văn học, ĐHKHXH&NV – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ trẻ Việt Nam đương đại qua ba tác giả Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư và Ly Hoàng Ly
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Anh
Nhà XB: ĐHKHXH&NV – Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
2. Hoàng Hải Anh (2010), Nguyễn Phan Quế Mai “Cởi gió ra và bay lên trên ý nghĩa”, Báo VietnamNet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phan Quế Mai “Cởi gió ra và bay lên trên ý nghĩa”, "Báo
Tác giả: Hoàng Hải Anh
Năm: 2010
3. Vũ TuấnAnh (1997), Nửa thế kỷ thơ ca Việt Nam 1945 -1995, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ ca Việt Nam 1945 -1995
Tác giả: Vũ TuấnAnh
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1997
4. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975 – 2000, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975 – 2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2003
5. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy suy nghĩ về hiện đại hóa thơ, Báo Văn nghệ, số 6. Nguyễn Phan Cảnh (2000), Ngôn ngữ thơ, tái bản lần I, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2000
11. Nguyễn Việt Chiến (2007), Thơ Việt Nam – tìm tòi và cách tân, NXB Hội Nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam – tìm tòi và cách tân
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn Việt Nam
Năm: 2007
12. Nguyễn Đình Chính (2005), Nói về thơ Việt Nam hiện đại, Phụ bản Thơ, báoVăn nghệ, số 19+20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói về thơ Việt Nam hiện đại", Phụ bản Thơ, báo"Văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Đình Chính
Năm: 2005
13. Nguyễn Dương Côn (2003), Đặc trưng cơ bản của thơ sau 1975, Phụ bản Thơ, báo Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng cơ bản của thơ sau 1975", Phụ bản Thơ, báo
Tác giả: Nguyễn Dương Côn
Năm: 2003
14. Nguyễn Thị Kim Cúc (2014), Người đưa thơ Việt ra thế giới, Báo Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đưa thơ Việt ra thế giới", Báo
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Cúc
Năm: 2014
15. Võ Tấn Cường (2004), Thơ tự do và con đường tất yếu của thi ca, Talawas Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ tự do và con đường tất yếu của thi ca
Tác giả: Võ Tấn Cường
Nhà XB: Talawas
Năm: 2004
16. Lâm Thị Mỹ Dạ (2003), Sự nổi loạn cá tính là thái độ khước từ,(HồThế Hà phỏngvấn), BáoVăn nghệ, phụ bản Thơ, số4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nổi loạn cá tính là thái độ khước từ
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dạ
Nhà XB: Báo Văn nghệ
Năm: 2003
17. Henry Deluy (2002), Nhà thơ –người sáng tạo ngôn ngữ, Hoàng Hưng phỏng vấn, Báo Lao động cuối tuần, số 203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ –người sáng tạo ngôn ngữ
Tác giả: Henry Deluy
Nhà XB: Báo Lao động cuối tuần
Năm: 2002
18. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình), luận án tiến sĩ khoa học ngữ văn, ĐH Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình)
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: ĐH Sư phạm Hà Nội
Năm: 1999
19. Đoàn Dự, Nhà thơ Nguyễn Bảo Chân: “Khi chiều nương khu vườn vắng lá, http://phongdiep.net (23/4/2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi chiều nương khu vườn vắng lá
Tác giả: Đoàn Dự, Nhà thơ Nguyễn Bảo Chân
Năm: 2014
20. Phan Trắc Thúc Định (2012), Cái tôi trữ tình trong thơ trẻ đương đại (qua Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Văn Cầm Hải), Luận văn thạc sĩ văn học, ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái tôi trữ tình trong thơ trẻ đương đại (qua Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Văn Cầm Hải)
Tác giả: Phan Trắc Thúc Định
Nhà XB: ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
21. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Thơ ca Việt Nam sau 1975–từ một góc nhìn… Phụ bản Thơ, báo Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam sau 1975–từ một góc nhìn…
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Phụ bản Thơ
Năm: 2003
22. Nguyễn Đăng Điệp (2002),Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
23. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Những ngả đường sáng tạo của thơ ca, www.talawas.org (1/4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ngả đường sáng tạo của thơ ca
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: www.talawas.org
Năm: 2003
24. Phong Điệp (2009), Nguyễn Phan Quế Mai – Tìm một lối đi riêng, http://thotre.com (10/9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phan Quế Mai – Tìm một lối đi riêng
Tác giả: Phong Điệp
Năm: 2009
25. LýĐợi (2003),Tâm tính thơ trẻ Việt Nam những năm đầu thế kỉ 2? Phụ bản Thơ, báo Văn nghệ, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm tính thơ trẻ Việt Nam những năm đầu thế kỉ 2
Tác giả: Lý Đợi
Nhà XB: báo Văn nghệ
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w