Xuất phát từ lí do trên với kinh nghiệm của bản thân tôi qua nhiều năm công tác và bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp tôi viết ra đề tài “Phương pháp rèn luyện kỹ năng lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất trong môn địa lý THCS” làm vấn đề nghiên cứu với mục đích giúp học sinh rèn luyện một cách có hiệu quả kỹ năng nhậ dạng biểu đồ địa lí. Đây cũng là một kinh nghiệm mà tôi đã ấp ủ rất lâu chính vì vậy trong qúa trình thử nghiệm để áp dụng vào quá trình giảng dạy tôi luôn lưu giữ lại kết quả thử nghiệm qua thời gian. Kinh nghiệm nay đã dược tôi áp dụng qua nhiều năm giảng dạy, khi nhận thấy sự khả quan thực sự trong sáng kiến kinh nghiệm, tôi mạnh dạn viết lên sáng kiến kinh nghiệm này. Do vậy để hoàn thiện được đề tài nay tôi đã phải mất rất nhiều thời gian và công sức nhưng không phải vì thế mà không có thiếu sót mà trái lại có thể có nhiều thiếu sót nên:Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng chí.2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI: Đưa ra những phương pháp tối ưu nhất nhằm hình thành cho học sinh kỹ năng lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất cơ bản trong chương trình địa lý, giúp các em có kỹ năng trong làm các bài kiểm tra, các bài thi tạo tiền đề cho việc thi các trường chuyên nghiệp sau này. Khắc phục được những mâu thuẫn, những khó khăn khi học sinh và giáo viên tiếp cận với những bài tập về biểu đồ. Thông qua sáng kiến này tạo ra sự say mê hứng thú, yêu thích của các em đối với bộ môn địa lý.
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Để giảng dạy địa lý theo phương pháp dạy học tích cực thì việc rèn luyện kỹnăng biểu đồ cho học sinh là một việc rất quan trọng, đặc biệt đối với học sinh lớp 9 vìbiểu đồ có chứa dựng nhiều nội dung kiến thức mà kênh chữ không biểu hiện hết Rènluyện kỹ năng biểu đồ địa lý cho học sinh giúp các em hiểu và nắm bắt kiến thức mộtcách có hiệu quả hơn, chủ động hơn, nhớ kiến thức lâu hơn Bên cạnh đó, còn rèn chohọc sinh khả năng tư duy lôgic, kỹ năng so sánh các đối tượng địa lý và rèn cho họcsinh tính tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác trong việc học địa lý từ đó giúp các em yêu thích bộmôn hơn, say mê nghiên cứu khoa học địa lý
Việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ địa lý cho học sinh còn có khả năng bồi dưỡngcho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiêncứu cho học sinh giúp cho bộ môn địa lý bớt khô cứng, đồng thời giúp người thầy cóđiều kiện để phối hợp nhiều phương pháp dạy học và các hình thức dạy học đa dạng,hiệu quả hơn, nâng cao khả năng tư duy và khả năng độc lập sáng tạo của học sinh Dựavào biểu đồ người thầy có thể nêu ra những vấn đề cho học sinh suy nghĩ, nhận thức,phát triển tư duy địa lý và khai thác những nét đặc trưng quan trọng của địa lý
Khi rèn kỹ năng biểu đồ cho học tốt thì những con số, những cột, đường, miền không còn khố cứng mà trở nên sống động giúp các em có thể phán đoán, suy xét sựphát triển hoặc không phát triển của một ngành, một lĩnh vực kinh tế hoặc nên kinh tếcủa một quốc gia
Với vai trò quan trọng của biểu đồ nên kỹ năng này thường xuyên được đề cậptrong các đề thi kiểm tra từ kiểm tra 15 phút, đến kiểm tra 45 phút, học kỳ, đề thi họcsinh giỏi các cấp, và ngay cả trong các đề thi vào các trường chuyên nghiệp có môn địa
lý với số điểm trong các bài kiểm tra này chiếm tới 20-30% tổng số điểm Để hoàn thiệnđược một bài tập biểu đồ học sinh phải trải qua 4 bước:
Lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất
Trang 2“Phương pháp rèn luyện kỹ năng lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất trong môn địa lý THCS” làm vấn đề nghiên cứu với mục đích giúp học sinh rèn luyện một cách có hiệu
quả kỹ năng nhậ dạng biểu đồ địa lí Đây cũng là một kinh nghiệm mà tôi đã ấp ủ rấtlâu chính vì vậy trong qúa trình thử nghiệm để áp dụng vào quá trình giảng dạy tôiluôn lưu giữ lại kết quả thử nghiệm qua thời gian Kinh nghiệm nay đã dược tôi áp dụngqua nhiều năm giảng dạy, khi nhận thấy sự khả quan thực sự trong sáng kiến kinhnghiệm, tôi mạnh dạn viết lên sáng kiến kinh nghiệm này Do vậy để hoàn thiện được
đề tài nay tôi đã phải mất rất nhiều thời gian và công sức nhưng không phải vì thế màkhông có thiếu sót mà trái lại có thể có nhiều thiếu sót nên:
Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng chí
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
- Đưa ra những phương pháp tối ưu nhất nhằm hình thành cho học sinh kỹ năng lựachọn biểu đồ thích hợp nhất cơ bản trong chương trình địa lý, giúp các em có kỹ năngtrong làm các bài kiểm tra, các bài thi tạo tiền đề cho việc thi các trường chuyên nghiệpsau này Khắc phục được những mâu thuẫn, những khó khăn khi học sinh và giáo viêntiếp cận với những bài tập về biểu đồ
- Thông qua sáng kiến này tạo ra sự say mê hứng thú, yêu thích của các em đối với bộmôn địa lý
Trang 3- Trao đổi kinh nghiệm giữa các đồng nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả của công tácgiảng dạy.
3- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Học sinh khối lớp 9 trường THCS Nguyễn Du – Thị Xã Buôn Hồ - Tỉnh Đăk lăk
4- GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Áp dụng năm học: 2016-2017
5- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp sau:
1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
2 Phương pháp quan sát
3 Phương pháp điều tra, khảo sát, trò chuyện với các giáo viên
4 Phương pháp tổng hợp tài liệu
5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
PHẦN II: NỘI DUNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN :
của Trung ương
Nghị quyết TW 4 khoá VII đã chỉ rõ phải “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học Kết hợp học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội Áp dụng những phương pháp giáo
Trang 4dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”.
Nghị quyết TW2 khoá VIII tiếp tục khẳng định phải “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn của xã hội các môn học trong nhà trườngnói chung và môn địa lí lớp 9 nói riêng không ngừng cải tiến chương trình, cải tiếnphương pháp dạy học nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Trong đó"phương pháp rènluyện kỹ năng biểu đồ " đóng vai trò quan trọng, nó có nhiệm vụ củng cố, rèn luyện kĩnăng địa lí cho học sinh một cách thuần thục và chắc chắn hơn
Các loại biểu đồ rất phong phú, đa dạng Người ta chia biểu đồ thành 2 nhóm với
7 loại biểu đồ và khoảng 20 dạng khác nhau tùy theo cách thể hiện
Theo cấu trúc chương trình, hầu như sau mỗi bài học ở chương trình địa lí lớp 9đều có một bài tập hoặc một bài thực hành vẽ biểu đồ Đây là thuận lợi rất lớn giúp giáoviên thực hiện tốt các phương pháp rèn luyện kĩ năng địa lí cho học sinh trong quá trìnhdạy học Từ đó, học sinh nhận thức tri thức một cách khách quan đồng thời thấy rõnhững thuận lợi và khó khăn về các vấn đề địa lí ở nước ta
Những số liệu, khi được thể hiện thành biểu đồ, bao giờ cũng có tính trực quanlàm cho học sinh tiếp thu tri thức được dễ dàng, tạo nên hứng thú học tập Trong dạyhọc địa lí , việc yêu cầu học sinh hoàn thành một bài biểu đồ là một nội dung không thể
Trang 5thiếu được khi làm các bài tập và bài thực hành song có nắm được các bước hoàn thiệnmột bài biểu đồ thì các em mới hoàn thành được một bài biểu bồ.
Hiện nay, việc thực hiện chương trình và sách giáo khoa mới cũng như việc cảitiến, đổi mới phương pháp dạy học ở các môn học nói chung và ở môn địa lí nói riêngđang được triển khai có hiệu quả Tuy nhiên, ở các trường trung học cơ sở trong thànhphố chưa có tài liệu nào quy định thống nhất về tiêu chuẩn, quy tắc thể hiện biểu đồ,trong khi đó một số tài liệu tham khảo môn địa lí lại chưa thể hiện sự nhất quán trongviệc lựa chọn, vẽ và nhận dạng các loại biểu đồ, điều đó gây lúng túng cho giáo viêntrong việc soạn giảng cũng như thực hiện các giờ thực hành về nội dung biểu đồ trênlớp, không gây được hứng thú học tập cho học sinh, làm cho giờ học trở nên nặng nề,nhàm chán
2- THỰC TRẠNG:
Trong việc quá trình thực hiện sáng kiến tôi gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
a Thuận lợi - Khó khăn:
- Hầu hết giáo viên biết vận dụng sáng tạo, khoa học các kĩ năng rèn luyện cho học sinhtheo phương pháp dạy học tích cực, do đó đã phát huy được tính tư duy độc lập cho họcsinh, giúp học sinh nắm chắc nội dung của bài học và rèn luyện tốt kĩ năng cho các em
- Học sinh nhìn chung các em có ý thức cao trong học tập, khả năng tiếp thu bài tốt
- Nhà trường, các cấp có sự quan tâm cao đến chất lượng học tập của học sinh nên luônluôn có sự đầu tư trang thiết bị đồ dùng học tập phục vụ cho quá trình giảng dạy
* Khó khăn:
Trang 6- Vẫn còn nhiều em học sinh xem môn địa lí là môn phụ, do đó ít chú ý đến việc học tập
bộ môn này
- Việc rèn luyện kĩ năng này chỉ chiếm một thời lượng rất ít trong 1 tiết dạy do đó đòihỏi học sinh phải nghiên cứu trước các yêu cầu mà bài tập hoặc bài thực hành mà giáoviên đã giao cho, nhưng nhiều em chưa thực sự tập trung và quan tâm đến yêu cầu màgiáo viên đã giao nên đây cũng là khó khăn lớn đối với giáo viên khi thực hiện dạy mộtbài thực hành biểu đồ hoặc một bài tập biểu đồ, do đó:
* Học sinh không xác định được yêu cầu của đề bài
* Học sinh không xác định được kiểu biểu đồ sẽ vẽ là gì và việc xử lí bảng số liệu (nếucó)
* Học sinh chưa hoàn thành được biểu đồ thích hợp và đúng với yêu cầu đề bài
* Kỹ năng biểu đồ của học sinh còn lúng túng
- Đây là một kỹ năng rất khó nhưng không có một tài liệu nào trong chương trìnhhướng dẫn học sinh cách nhận dạng biểu đồ cần vẽ dưa trên bảng số liệu do vậy nếugiáo viên không có tâm trong các bài giảng trên lớp, không uốn nắn rèn luyện kỹ năngnhận dạng biểu đồ cho các em thì học sinh khó có thể hoàn thiện được các bước đặcbiệt là đối với học sinh trung bình và yếu
- Kỹ năng biểu đồ là một kỹ năng đòi hỏi sự nhạy bén, quá trình tư duy cao song trongthực tế tỉ lệ học sinh có được khả năng này thấp Do vậy rất khó trong quá trình hìnhthành kỹ năng nhận dạng biểu đồ cho các em
- Thời lượng dành cho các bài thực hành quá ít trong khi đó kỹ năng biểu đồ lại chiếmmột vị trí quan trọng trong các bài kiểm tra, các kỳ thi học sinh giỏi các cấp
Từ những thực trạng trên nên trước khi vận dụng sáng kiến để kiểm chứng điềunày trong năm học 2014-2015 tôi phát ra các là phiếu nhằm thăm dò về khả nặng nhậndạng biểu đồ cần vẽ của các em trong các bài tập biểu đồ môn địa lý Tôi đưa ra các bàitập khác nhau nhằm thăm dò khả nặng nhận dạng biểu đồ thích hợp nhất cho 100 học
sinh ( Ở các lớp 9 khác nhau tôi dạy) và kết quả thu được như sau:
Trước khi áp dụng các phương pháp
Trang 7Tổng số HS Nhận dạng được biểu đồ cần vẽ Không nhận dạng được biểu đồ cần vẽ
3 NỘI DUNG VÀ CÁCH THỨC THỰC HIỆN CỦA GIẢI PHÁP:
a Mục tiêu của giải pháp:
Các biện pháp đưa ra nhằm mục tiêu:
- Mục tiêu chủ đạo của sáng kiến: Phương pháp rèn luyện kỹ năng lựa chọn biểu đồ
thích hợp nhất trong môn địa Lý THCS nhằm đưa ra các phương pháp tối ưu giúp các
em dể dàng nhận dạng được các biểu đồ cần vẽ trước các bảng số liệu đã cho của cácbài tập biểu đồ, giảm bớt được áp lực nặng nề từ việc học đối với các em Tạo nên tinhthần thoải mái cho các em mỗi khi tới lớp ( Mỗi ngày tới trường là một ngày vui) Giúpcác em nắm bắt kiến thức một cách tự nhiên, chủ động và sáng tạo trong việc tìm kiếm,lĩnh hội kiến thức Qua đó nâng cao được chất lượng dạy học
- Ít nhiều làm thay đổi cách suy nghĩ của phụ huynh, học sinh đối với môn địa lý: Làmôn học phụ, không quan trọng, khô khan, khó hiểu
- Giúp giáo viên thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực, làm việc một cáchchủ động, sáng tạo Với những tác động tích cực từ phía học sinh tạo nên động lực, lòngnhiệt huyết, niềm đam mê nghề nghiệp đối với giáo viên Đây là yêu tố rất quan trọngđối với chất lượng dạy học hiện nay
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp:
* Nội dung của giải pháp, biện pháp:
*NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP:
Từ thực trạng nêu trên, với mục đích nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạyhọc, tạo hứng thú cho học sinh trong việc học tập bộ môn địa lí, thực hiện chuẩn kiếnthức kĩ năng theo hướng dẫn của Bộ GD & ĐT và đặc biệt hình thành cho các em kỹnăng nhận dạng biểu đồ cần vẽ Qua kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi nhận thấyrằng để hoàn thiện được một bài Biểu Đồ cần rèn luyện cho các em các kỹ năng sau:
* Kỹ năng lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất.
* Kỹ năng tính toán, xử lý số liệu.
Trang 8* Kỹ năng vẽ biểu đồ.
* Kỹ năng nhận xét biểu đồ.
Trong các kỹ năng trên thì kỹ năng khó nhất đối với các em là kỹ năng lựa chọnbiểu đồ thích hợp nhất, chính vì vậy trong khuôn khổ sáng kiến này tôi sẽ đi sâu về vấn
đề này để tìm ra các phương pháp giúp các em nhận dạng được dạng biểu đồ cần vẽ
Vậy để học sinh biết được cần vẽ biểu đồ gì trước bảng số liệu đã cho, trước hếttôi giới thiệu tới các em các loại biểu đồ cơ bản
Bước 1: Giới thiệu hệ thống các loại biểu đồ:
Biểu đồ địa lý rất đa dạng, ta thường gặp trong các tài liệu sách báo trình bày vềcác lĩnh vực kinh tế hay trong các phòng triển lãm Cách thể hiện biểu đồ có thể khácnhau, ví dụ trong các phòng triển lãm, người ta thường cách điệu hóa chúng dưới dạngkhông gian ba chiều, nhưng vẫn thể hiện được tính chất khách quan về mặt khoa học.Đối với khoa học địa lí, chúng ta cũng gặp khá đầy đủ các dạng biểu đồ khác nhau tronglĩnh vực địa lí tự nhiên (biểu đồ về khí hậu, khí tượng, thuỷ văn…) hay trong địa lý kinh
tế - xã hội (biểu đồ về dân cư – dân tộc, tình hình phát triển kinh tế của các ngành, cácvùng…), cách thể hiện cũng đa dạng tùy thuộc vào yêu cầu của bài viết, hay một côngtrình nghiên cứu khoa học cụ thể
Để có thể dễ dàng phân biết được các loại biểu đồ, ta có thể tạm xếp biểu đồ thành 2 nhóm với 7 loại biểu đồ và khoảng 20 dạng khác nhau tùy theo cách thể hiện
● Nhóm 1 Hệ thống các biểu đồ thể hiện qui mô và động thái phát triển, có các dạng
biểu đồ sau:
- Biểu đồ đường biểu diễn:
▪ Các dạng biểu đồ chủ yếu: Biểu đồ một đường biểu diễn; Biểu đồ nhiều đường biểudiễn (có cùng một đại lượng); Biểu đồ có nhiều đường biểu diễn (có 2 đại lượng khácnhau); Biểu đồ chỉ số phát triển
Trang 9Ví dụ đây là dạng biểu đồ có nhiều đường biểu diễn.
- Biểu đồ hình cột:
▪ Các dạng biểu đồ chủ yếu: Biểu đồ một dãy cột đơn; Biểu đồ có 2, 3, cột gộp nhóm(cùng một đại lượng); Biểu đồ có 2, 3, cột gộp nhóm (nhưng có hai hay nhiều đạilượng khác nhau); Biểu đồ nhiều đối tượng trong một thời điểm; Biểu đồ thanh ngang;Tháp dân số (dạng đặc biệt)
Ví dụ: Đây là biểu đồ một dãy cột đơn
Ví dụ: Đây là biểu đồ thanh ngang
Trang 10- Biểu đồ kết hợp cột và đường
▪ Các dạng biểu đồ chủ yếu: Biểu đồ cột và đường (có 2 đại lượng khác nhau); Biểu đồcột và đường có 3 đại lượng (nhưng phải có 2 đại lượng phải cùng chung một đơn vịtính)
Ví dụ: Đây là biểu đồ kết hợp cột và đường có 3 đại lượng
● Nhóm 2 Hệ thống các biểu đồ cơ cấu, có các dạng biểu đồ sau:
Trang 11▪ Các dạng biểu đồ chủ yếu: Biểu đồ một hình tròn; hoặc biểu đồ 2, 3 hình tròn (kíchthước bằng nhau); biểu đồ 2, 3 hình tròn (kích thước khác nhau); Biểu đồ cặp 2 nửahình tròn; Biểu đồ hình vành khăn.
Trang 12Nông thôn
Biểu đồ thể hiện cơ cấu dân số thành thị và nông thôn ở Thành phố Hồ Chí Minh
từ năm 1995-2002
Trang 13Sau khi giới thiệu cho học sinh biết các dạng biểu đồ cơ bản, tôi chuyển qua bướcthứ 2 đó là hướng dẫn các em phương pháp lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất.
Bước 2: Phương pháp lựa chọn được biểu đồ thích hợp nhất:
Để lựa chọn được biểu đồ thích hợp nhất giáo viên hướng dẫn học sinh cần dựa vào các căn cứ như sau:
1 Căn cứ vào lời dẫn (đặt vấn đề):
Trong câu hỏi thường có 3 dạng sau:
* Dạng lời dẫn có chỉ định: Trong trường hợp này câu hỏi bài tập thực hành đã yêu
cầu vẽ loại biểu đồ cụ thể Ví dụ: “Từ bảng số liệu, hãy vẽ biểu đồ hình tròn thể hiện
cơ cấu sử dụng … năm ” Như vậy, ta có thể xác định ngay được biểu đồ cần thể hiện
Ví dụ: Cơ cấu kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2002 (%)
Trang 14* Dạng lời dẫn kín: Trong trường hợp này cần phải căn cứ vào thành phần 2 và
thành phần 3 để lựa chọn loại biểu đồ thích hợp Ví dụ: Hãy vẽ biểu đồ thích hợp và nêunhận xét
* Dạng lời dẫn mở: Trong trường hợp này cần bám vào một số từ gợi mở của các
biểu đồ để chúng ta có phương pháp nhận dạng biểu đồ thích hợp ví dụ:
Ví dụ cụ thể : Cho bảng số liệu về năng suất lúa của Đồng bằng sông Hồng, Đồng
bằng sông Cửu Long và cả nước (Đơn vị: tạ/ha)
Trang 15Bò ( 1.000 con ) 3.116,9 3.638,9 4.127,9 4.062,9Lợn (1.000 con ) 12.260,5 16.306,4 20.193,3 23.169,5
Vẽ biểu đồ thích hợp thể hện tốc độ tăng trưởng đàn gia súc, gia cầm qua các năm
( lấy năm 1990 là 100% )
c Biểu đồ hình tròn:
Dấu hiệu nhận dạng loại biểu này là khi đề ra có cụm từ : Cơ cấu, qui mô.
Ví dụ: Biểu đồ cơ cấu tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế Việt Nam
Cho bảng số liệu dưới đây: Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế năm 2002
Nông, lâm, ngư nghiệp 38,7 40,5 7,2 25,8 25,8 23,0
Công nghiệp, xây dựng 22,7 23,8 8,8 2,1 32,5 38,5