Tây Nam Bộ là vùng đất mới với sự hội tụ các tộc người mang những nét văn hóa truyền thống đặc sắc, hội tụ nhiều yếu tố bản địa và khu vực. Trong đó, mỗi vùng môi sinh đều có hoàn cảnh lịch sử, đặc trưng và bản sắc văn hóa riêng, có phong cách độc đáo trong tư tưởng, tình cảm, nếp nghĩ, lối sống, phong tục, tín ngưỡng….Vùng tứ giác Long Xuyên cũng là nơi sinh tụ của các cư dân Việt, Khmer, Hoa, Chăm và một ít các tộc người khác. Quá trình cộng cư và giao lưu văn hóa của các tộc người đã hình thành nên diện mạo văn hóa vùng tứ giác Long Xuyên khá đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, do đặc điểm lịch sử, điều kiện thiên nhiên không thuận lợi cho việc canh tác, định cư nên đa phần vùng đất trũng ở tứ giác Long Xuyên vẫn còn hoang hóa cho đến những năm 80 của cuối thế kỷ XX. Sau chính sách đổi mới từ năm 1986, vùng đồng bằng trũng tứ giác Long Xuyên được đẩy mạnh khai khẩn thành một trong những vựa lúa quan trọng của vùng Tây Nam Bộ và là một vùng dân cư phát triển về kinh tế, xã hội. Vùng đất này đã tạo nên những mảng màu văn hóa mới trong không gian văn hóa Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng.
Trang 1TRẦN TRỌNG LỄ
ĐỜI SỐNG CƯ DÂN
VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨCHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.70
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TIẾN SĨ LÝ TÙNG HIẾU
TP HỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2011
Trang 2- TS Lý Tùng Hiếu đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn chúngtôi tận tình trong quá trình viết và hoàn tất luận văn này
- Quý thầy cô trong và ngoài khoa Văn hóa học, trường Đại học Khoa học xãhội và Nhân văn đã cung cấp cho chúng tôi những kiến thức bổ ích trong suốt quátrình học chương trình học và hoàn tất chương trình thạc sĩ
- Gia đình nội, ngoại đã động viên, khích lệ và tạo điều kiện cho chúng tôitrong suốt quá trình học tập và hoàn tất luận văn này
- Các anh chị, bạn bè học viên cao học cùng khóa đã hỗ trợ và giúp đỡchúng tôi trong suốt quá trình học tập
Có thể nói, chúng tôi cũng đã bỏ ra không ít thời gian, công sức và cả tâmhuyết của mình khi thực hiện đề tài này Tuy nhiên, việc thiếu sót trong quá trìnhthực hiện luận văn là điều không thể tránh khỏi, rất mong được sự góp ý chân tìnhcủa quý Thầy Cô, bạn bè để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn./.
Trang 31/ Đơn vị hành chính ở vùng đồng bằng trung tâm tứ giác Long Xuyên đượcước lượng và đánh dấu (*) trong phần lục 1
2/ Dân số (chia theo tộc người và tôn giáo) trong vùng đồng bằng trung tâm tứgiác Long Xuyên chỉ có tính minh họa như trong phần lục 3 và phụ lục 4
3/ Ngoại trừ 2 hình (hình 3 và hình 37) được sưu tầm từ TS Lý Tùng Hiếu, tất
cả hình ảnh còn lại đều do tác giả chụp từ thực tế, cho nên những hình ảnh đó sẽkhông dẫn nguồn
4/ Trong luận văn có đính kèm “Sơ đồ định vị vùng tứ giác Long Xuyên do họa
sĩ Di Linh thực hiện trên cơ sở vẽ lại từ bản đồ du lịch đồng bằng sông Cửu Long5/ Phần Phụ lục hình ảnh minh họa được chia ra làm 7 nhóm:
- Nhóm 1: Từ hình 35 và hình 36: Hình ảnh về không gian văn hóa
- Nhóm 2: Từ hình 37 đến hình 44: Hình ảnh về văn hóa mưu sinh
- Nhóm 3: Từ hình 45 và hình 46: Món ăn và món bánh của người Việt
- Nhóm 4: Từ hình 47 đến hình 48: Phương tiện trong văn hóa giao thông
- Nhóm 5: Từ hình 49 đến hình 50: Mối quan hệ láng giềng trong văn hóa tổchức cộng đồng của người Việt
- Nhóm 6: Hình 51: Tín ngưỡng thờ thần tự nhiên của người Việt
- Nhóm 7: Hình 52: Không gian kiến trúc chùa
Trang 4MỘT SỐ QUY ƯỚC ……….3
MỤC LỤC ……….4
DẪN NHẬP ……… 7
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ……….7
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ ……….7
3 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ………9
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU ………11
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ……….13
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN ……… 14
CHƯƠNG I MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA VÀ CHỦ THỂ VĂN HÓA VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN ……… 16
1 MINH ĐỊNH THUẬT NGỮ ……… 16
2 MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN ……… 19
2.1 Không gian văn hóa ……… 19
2.2 Giao lưu và tiếp biến văn hóa ……… 25
3 CHỦ THỂ VĂN HÓA VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN ……… 39
4 TIỂU KẾT ……… 41
CHƯƠNG II VĂN HÓA VẬT THỂ CỦA CƯ DÂN VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN ……… 44
1 VĂN HÓA MƯU SINH ……… 44
1.1 Nghề trồng lúa và hoa màu ……… 44
1.2 Nghề trồng tràm ………49
1.3 Nghề khai thác thuốc dân tộc ………50
1.4 Nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm ……… 50
1.5 Nghề đánh bắt thuỷ sản ……….52
1.6 Nghề nuôi cá ……….54
1.7 Các nghề thủ công ………55
1.8 Các nghề buôn bán ………57
Trang 51.9 Các nghề dịch vụ ……… 58
2 VĂN HÓA ẨM THỰC ………58
2.1 Quan niệm và phong cách ẩm thực ……… 58
2.2 Ẩm thực thường nhật ………62
2.3 Ẩm thực lễ tết ………65
3 VĂN HÓA TRANG PHỤC ……….66
3.1 Trang phục thường nhật ………67
3.2 Trang phục lễ tết ……… 69
3.3 Trang sức ……… 70
4 VĂN HÓA CƯ TRÚ ………71
4.1 Loại hình cư trú ………71
4.2 Tổ chức mặt bằng cư trú ……… 74
4.3 Các vật dụng gia đình ………76
5 VĂN HÓA GIAO THÔNG ……….77
5.1 Loại hình giao thông ……….77
5.2 Phương tiện giao thông ……….80
5.3 Vai trò văn hóa của giao thông ……….83
6 TIỂU KẾT ………86
CHƯƠNG III VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA CƯ DÂN VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN ……… 88
1 VĂN HÓA TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG ………88
1.1 Chế độ gia đình ……….88
1.2 Hình thức gia đình ……….89
1.3 Hình thức quần cư ……… 91
2 VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG ……….94
2.1 Tín ngưỡng thờ cúng các thần tự nhiên và thần nông nghiệp ……… 94
2.2 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thờ cúng nhân thần ……… 100
2.3 Các tôn giáo hiện đại ……… 105
3 VĂN HÓA PHONG TỤC ……… 114
Trang 63.1 Phong tục sinh sản ……… 115
3.2 Phong tục hôn nhân ……….116
3.3 Phong tục tang ma ……… 119
4 VĂN HÓA LỄ HỘI ……… 122
4.1 Lễ hội nông nghiệp ……….122
4.2 Lễ hội danh nhân ………123
4.3 Lễ hội tôn giáo ………125
5 VĂN HÓA NGHỆ THUẬT ……… 126
5.1 Văn học dân gian ………126
5.2 Nghệ thuật diễn xướng ………132
5.3 Nghệ thuật tạo hình ……….139
6 TIỂU KẾT ……… 142
KẾT LUẬN ……… 145
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 148
PHỤ LỤC ……… 162
Trang 71 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tây Nam Bộ là vùng đất mới với sự hội tụ các tộc người mang những nétvăn hóa truyền thống đặc sắc, hội tụ nhiều yếu tố bản địa và khu vực Trong đó, mỗivùng môi sinh đều có hoàn cảnh lịch sử, đặc trưng và bản sắc văn hóa riêng, cóphong cách độc đáo trong tư tưởng, tình cảm, nếp nghĩ, lối sống, phong tục, tínngưỡng….Vùng tứ giác Long Xuyên cũng là nơi sinh tụ của các cư dân Việt,Khmer, Hoa, Chăm và một ít các tộc người khác Quá trình cộng cư và giao lưu vănhóa của các tộc người đã hình thành nên diện mạo văn hóa vùng tứ giác LongXuyên khá đa dạng và phong phú Tuy nhiên, do đặc điểm lịch sử, điều kiện thiênnhiên không thuận lợi cho việc canh tác, định cư nên đa phần vùng đất trũng ở tứgiác Long Xuyên vẫn còn hoang hóa cho đến những năm 80 của cuối thế kỷ XX.Sau chính sách đổi mới từ năm 1986, vùng đồng bằng trũng tứ giác Long Xuyênđược đẩy mạnh khai khẩn thành một trong những vựa lúa quan trọng của vùng TâyNam Bộ và là một vùng dân cư phát triển về kinh tế, xã hội Vùng đất này đã tạonên những mảng màu văn hóa mới trong không gian văn hóa Nam Bộ nói chung vàTây Nam Bộ nói riêng
Đó chính là những lý do thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài “Đời sống cư dânvùng tứ giác Long Xuyên từ góc nhìn văn hóa học” làm đề tài cho luận văn thạc sĩvăn hóa học
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Nghiên cứu thực hiện đề tài đời sống cư dân vùng tứ giác Long Xuyên từ gócnhìn văn hóa học, chúng tôi có điều kiện thuận lợi là tư liệu lịch sử về quá trình khaiphá vùng đất Nam Bộ nói chung và địa bàn tứ giác Long Xuyên khá phong phú
Trang 8Vào đầu thế kỷ XIX, Trịnh Hoài Đức đã biên soạn bộ Gia Định Thành thông chí, ghi chép về thay đổi hành chính, núi sông, sản vật…của vùng đất Nam Bộ đương
thời, trong đó có tứ giác Long Xuyên Đây là một tư liệu quý giá cho luận văn
Lịch sử khẩn hoang miền Nam của Sơn Nam [1994] cung cấp nhiều tư liệu
lịch sử, trong đó có những tư liệu về cuộc khẩn hoang lập làng, xác lập vùng biêngiới thuộc tứ giác Long Xuyên vào thế kỷ XVIII – XIX
Các công trình địa phương chí phản ánh các phương diện tự nhiên, lịch sử,
kinh tế, văn hóa của vùng đất tứ giác Long Xuyên như Địa phương chí tỉnh Long Xuyên [1956], Địa phương chí tỉnh Châu Đốc [1956, 1968], Địa phương chí tỉnh
Hà Tiên [Trần Thêm Trung, 1957], Địa phương chí tỉnh An Giang [1959, 1961,
1963, 1967, 1973], Địa phương chí thị xã Rạch Giá [1973]
Quyển Những trang về An Giang của Trần Thanh Phương [1984] đã đề cập
đến thiên nhiên, con người, kinh tế, văn hóa của vùng đất An Giang trong các thế kỷ
XVIII – XX Tác phẩm Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ do Huỳnh Lứa chủ biên
[1987] đã khái quát quá trình di chuyển dân cư, khai hoang lập đồn điền, tổ chứcsản xuất nông nghiệp, những biến đổi về mặt xã hội của vùng đất Nam Bộ trong quá
trình khai phá Sách Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn
Công Bình – Lê Xuân Diệm – Mạc Đường [1990] giới thiệu tổng quan về tình hình
cư trú của các dân tộc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tác phẩm Vấn đề dân tộc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long của Mạc Đường
[1991] đề cập khá chi tiết về sinh hoạt kinh tế của các dân tộc Việt, Khmer, Chăm,Hoa sinh sống ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung, vùng đất tứ giác Long
Xuyên nói riêng Quyển sách Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ của Thạch
Phương – Hồ Lê – Huỳnh Lứa – Nguyễn Quang Vinh [1992] góp phần lý giải về
đặc điểm, tính cách, tâm lý…của người Việt Nam Bộ Cuốn sách Thoại Ngọc Hầu
và những cuộc khai phá miền Hậu Giang của Nguyễn Văn Hầu [1999] cho một cái
nhìn về người Việt trong buổi đầu ở vùng đất tứ giác Long Xuyên
Trang 9Công trình Vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long - hiện trạng và giải pháp do Đào Công Tiến chủ biên [2001] đề cập đến điều kiện tự nhiên, đời sống văn hóa cư dân vùng tứ giác Long Xuyên Địa chí An Giang [2003, 2007] là công
trình khoa học nghiên cứu về vùng đất An Giang do Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giangchủ trì đã đề cập về các phần địa lý tự nhiên, về nhân văn, về dân cư, về lịch sử…
của tỉnh An Giang và trong đó có các địa phương thuộc tứ giác Long Xuyên Tìm hiểu đất Hậu Giang và lịch sử An Giang [2005] của Sơn Nam đã cung cấp thêm tư
liệu lịch sử, văn hóa xã hội của vùng đất và đời sống cư dân vùng tứ giác Long
Xuyên Sách Nghiên cứu Hà Tiên [2008] của Trương Minh Đạt đã góp phần làm rõ
về công cuộc mở rộng và khẩn hoang vùng đất tứ giác Long Xuyên Văn hóa Việt Nam giàu bản sắc [2010] của Nguyễn Đắc Hưng đề cập đến vùng văn hóa Nam Bộ,
góp phần nghiên cứu tứ giác Long Xuyên
Dưới góc độ tôn giáo, Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ - Việt Nam từ thế kỷ XVII đến năm 1975 của Trần Hồng Liên [2000], Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của người Việt ở Nam Bộ từ năm 1867 - 1975 của Đinh Văn Hạnh, Luận án Tiến sĩ Cộng đồng người Việt Công giáo ở đồng bằng sông Cửu Long của Trần Hữu
Hợp [2006] đều tìm hiểu đời sống tôn giáo của cộng đồng người Việt Nam Bộ, cóliên quan đến tứ giác Long Xuyên
Tuy nhiên, những tư liệu liên quan đến các phương diện đời sống cư dân tứgiác Long Xuyên thời kỳ đương đại, đặc biệt trong vài thập niên trở lại đây, vẫnchưa được dồi dào Để bổ khuyết mảng tư liệu này, chúng tôi dựa vào nguồn tư liệuthu thập được từ những chuyến đi thực tế và từ những kiến thức cá nhân với tư cách
là một cư dân của vùng tứ giác Long Xuyên
3 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ hiện trạng tư liệu nêu trên, chúng tôi xác định mục đích nghiên cứu của đềtài “Đời sống cư dân vùng tứ giác Long Xuyên từ góc nhìn văn hóa học” như sau:
Trang 10- Ứng dụng các lý thuyết nghiên cứu văn hóa học để khảo sát và mô tả mộtcách toàn vẹn đời sống các nhóm cư dân ở vùng tứ giác Long Xuyên trong thời kỳđương đại.
- Bước đầu phác thảo bức tranh toàn cảnh về văn hóa các cư dân, từ đó tìm ranhững đặc trưng cơ bản trong đời sống văn hóa của cư dân vùng tứ giác LongXuyên hôm nay
- Góp phần làm sáng tỏ cách thức ứng xử, giao lưu văn hóa giữa các nhóm
cư dân ở các lĩnh vực trong sự phát triển hội nhập của toàn vùng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu được xác định như trên, đối tượng nghiên cứu củaluận văn sẽ là đời sống cư dân vùng tứ giác Long Xuyên trên các phương diện vănhóa vật thể, văn hóa phi vật thể
Các cư dân ở vùng này là các tộc người Việt, người Khmer, người Hoa,người Chăm đã có sự giao lưu, tiếp biến văn hóa với nhau trong quá trình cộng cưnhưng vẫn giữ bản sắc văn hóa riêng của mình Trong đó, đối tượng nghiên cứutrọng tâm của luận văn là đời sống của cộng đồng người Việt, tộc người chiếm đa sốtuyệt đối và là chủ thể đại diện cho tứ giác Long Xuyên
Ngoài ra, ở những chỗ cần thiết, chúng tôi cũng tìm hiểu và trình bày nhữngthông tin liên quan đến các cộng đồng cư dân cư trú ở một số vùng lân cận nhưĐồng Tháp Mười, vùng Phù sa, vùng Giồng duyên hải, nhằm so sánh làm rõ nét đặctrưng trong đời sống cư dân vùng tứ giác Long Xuyên
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là vùng đồng bằng
trung tâm của tứ giác Long Xuyên - là một địa danh mới hình thành gần đây để chỉmột vùng đất hình tứ giác (vì 4 góc là thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc,thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên) với các cạnh là đường biên giới Việt Nam -C
am puchia, vịnh Thái Lan, kinh Cái Sắn, sông Hậu và có diện tích tự nhiên khoảng
Trang 11490.000 ha Tứ giác Long Xuyên bao gồm các đơn vị hành chánh là thành phố LongXuyên, thị xã Châu Đốc, huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, Tịnh Biên, TriTôn (tỉnh An Giang), thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên, huyện Giang Thành, KiênLương, Hòn Đất, một phần huyên Tân Hiệp, Châu Thành (tỉnh Kiên Giang).
Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên và văn hóa của địa bàn rộng lớn này có sự khácbiệt rõ rệt giữa khu vực đồng bằng trung tâm với các khu vực đô thị và dân cư ởngoại biên Các đô thị ở ngoại biên như thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc,thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên, đều hình thành rất sớm và tài liệu nghiên cứurất dồi dào Còn khu vực đồng bằng trung tâm chỉ được khai phá khá mạnh mẽtrong vài thập niên trở lại đây, tài liệu khảo tả còn thưa thớt Do đó, chúng tôi chọnkhu vực đồng bằng trung tâm này làm trọng tâm nghiên cứu
Về mặt hành chính, vùng đồng bằng trung tâm tứ giác Long Xuyên tươngứng với địa bàn các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, Tân Hiệp, Hòn Đất,một phần các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn, Kiên Lương, Giang Thành Đây là địa bàn
có đặc trưng địa – văn hóa tiêu biểu nhất của vùng tứ giác Long Xuyên, là văn minhlúa nước của cư dân trên vùng đất mới
Phạm vi thời gian: Chúng tôi nghiên cứu đời sống cư dân vùng đồng bằng
trung tâm tứ giác Long Xuyên chủ yếu trong thời kỳ đương đại, từ năm 1975 đếnnay Đây là mốc thời gian xảy ra nhiều biến cố lịch sử, chính trị, thiên tai, các chínhsách khuyến khích công cuộc khẩn hoang …đã làm ảnh hưởng đến đời sống cư dân
về các mặt văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp khảo sát điền dã: Vốn là cư dân vùng tứ giác Long Xuyên,
chúng tôi cũng có những kinh nghiệm, hiểu biết nhất định về đời sống của cư dâncủa vùng đất quê hương Tuy nhiên, để thực hiện đề tài này, dưới sự hướng dẫn của
Trang 12Tiến sĩ Lý Tùng Hiếu, trong quá trình học tập và làm luận văn từ năm 2008 đến nay,chúng tôi đã tổ chức một số chuyến đi thực tế, tìm hiểu về đời sống cư dân ở vùng
tứ giác Long Xuyên: Chuyến thực tế thứ nhất diễn ra từ ngày 23 – 26/11/2010 doKhoa Văn hóa học Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn TPHCM tổ chức,trên địa bàn Long Xuyên, Châu Đốc, Tịnh Biên, Tri Tôn, Thoại Sơn thuộc tỉnh AnGiang Chuyến thứ hai kéo dài từ ngày 02 – 04/09/2011 do chúng tôi tự thực hiện trênđịa bàn Thoại Sơn (An Giang), Hòn Đất (Kiên Giang) Bên cạnh đó là một số chuyến
đi ngắn
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tư liệu: được vận dụng để xử lý các
nguồn tài liệu thư tịch và tài liệu thu thập được qua các đợt khảo sát thực địa để làm
rõ đặc trưng đời sống văn hóa của cư dân
- Phương pháp phân tích hệ thống - cấu trúc: được vận dụng để khảo sát đối
tượng nghiên cứu là đời sống cư dân vùng tứ giác Long Xuyên như một hệ thốngbao gồm các yếu chủ thể, văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể… hợp thành mộtchỉnh thể có quan hệ tương tác với môi trường văn hóa (không gian văn hóa và giaolưu tiếp biến văn hóa)
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: đem lại một cái nhìn lịch đại để bổ sung
cho cái nhìn thiên về đồng đại của phương pháp phân tích hệ thống cấu trúc, nhằmxem xét quá trình biến đổi đời sống văn hóa cộng đồng cư dân Phương pháp nghiêncứu lịch sử giúp đem lại những hiểu biết sâu sắc về lịch sử hình thành, địa bàn phân
bố của cộng đồng cư dân và thấy rõ những cơ chế hình thành, phát triển đời sốngvăn hóa cư dân theo các giai đoạn lịch sử khác nhau
- Phương pháp liên ngành: giúp liên kết sự đa dạng của những hiện tượng
văn hóa vốn được các ngành khoa học khác nhau nghiên cứu một cách biệt lập, tổnghợp kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau nhằm giải thích mộtcách toàn diện bản chất của văn hóa, nghiên cứu có hiệu quả các biểu hiện đa dạng,
đa chiều kích của văn hóa Phương pháp này giúp cho việc tích hợp kiến thức từ các
Trang 13ngành khoa học khác nhau để xử lý một cách toàn diện và đồng bộ các hiện tượngthuộc về đời sống văn hóa của cư dân
- Phương pháp so sánh: giúp nhận diện sự khác biệt và tương đồng trong đời
sống văn hóa cư dân địa bàn vùng đồng bằng trung tâm tứ giác Long Xuyên so vớicác địa bàn khác ở Nam Bộ, Trung Bộ…
4.2 Nguồn tư liệu
- Tư liệu chuyên khảo về Tây Nam Bộ nói chung và tứ giác Long Xuyên nóiriêng trên các bình diện khoa học, trong đó các công trình về văn hóa và văn hóahọc (được liệt kê trong mục tài liệu tham khảo) sẽ được chú trọng tham khảo, phântích đối chiếu, tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu liên quan đến văn hóa cưdân vùng tứ giác Long Xuyên
- Tư liệu từ các chuyến thực tế cũng là những tư liệu quan trọng cho việcthực hiện luận văn này Các chuyến đi thực tế nêu trên đem lại cho chúng tôi rấtnhiều kiến thức, tư liệu về cuộc sống hàng ngày của cư dân vùng đồng bằng trungtâm vùng tứ giác Long Xuyên Chúng tôi đã được tham dự các nghi lễ vòng đời, lễcúng đình Thoại Ngọc Hầu ở thị trấn Núi Sập Chúng tôi cũng đã trực tiếp tiếpxúc, phỏng vấn các cư dân trong vùng về một số lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội
Để có cái nhìn so sánh đời sống cư dân vùng tứ giác Long Xuyên với các vùng khác
ở vùng văn hóa Tây Nam Bộ, chúng tôi còn thực hiện chuyến khảo sát vùng venbiển từ Hà Tiên đến Rạch Giá, ở Phú Tân, Chợ Mới, Sa Đéc, Bến Tre, Đại Ngãi(vùng Phù Sa), Tháp Mười, Tân Thạnh, Bến Lức (vùng Đồng Tháp Mười), CầnThơ, Hậu Giang, Miệt Thứ (vùng Nam sông Hậu) Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụngcác nguồn tư liệu bổ trợ thu thập được từ các bài viết đã công bố trên sách báo,internet
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
5.1 Ý nghĩa khoa học
Trang 14- Bước đầu phác thảo bức tranh toàn cảnh có tính cập nhật về đời sống của
cư dân ở vùng đồng bằng trung tâm tứ giác Long Xuyên, từ đó xác định những đặctrưng cơ bản trong đời sống văn hóa của cư dân vùng tứ giác Long Xuyên hôm nay
- Vận dụng một cách đồng bộ các phương pháp nghiên cứu cần thiết đối với
đề tài, qua đó thể nghiệm một cách tiếp cận toàn diện của văn hóa học để khảo sát
và mô tả đời sống các nhóm cư dân ở vùng đồng bằng trung tâm tứ giác LongXuyên trong thời kỳ đương đại
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên bình diện thực tiễn, luận văn nghiên cứu đời sống cư dân dưới góc nhìnvăn hóa học để góp phần làm rõ những thành tựu và chỉ ra những bất ổn, bất cậptrong đời sống cư dân và làm cơ sở bổ sung phát triển chính sách văn hóa, kinh tế,
xã hội của vùng đồng bằng trung tâm tứ giác Long Xuyên
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Cấu trúc của luận văn tương ứng với các cách tiếp cận và phương phápnghiên cứu được chọn Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụlục, nội dung chính của luận văn cấu trúc thành 3 chương như sau:
- Chương I Môi trường văn hoá và chủ thể văn hoá vùng tứ giác Long Xuyên Chương này giới thiệu khái quát về môi trường văn hoá và chủ thể văn hoá
của vùng đồng bằng trung tâm tứ giác Long Xuyên, và được chia thành 3 mục: môitrường văn hoá (không gian văn hoá, giao lưu tiếp biến văn hoá); chủ thể văn hoá(các tộc người, các chủ thể văn hoá chính); tiểu kết
- Chương II Văn hoá vật thể vùng tứ giác Long Xuyên Chương này trình
bày 5 hoạt động văn hoá vật thể chính yếu của cư dân đồng bằng trung tâm tứ giácLong Xuyên: văn hoá mưu sinh; văn hoá ẩm thực; văn hoá trang phục; văn hoá cưtrú; văn hoá giao thông Mục tiểu kết chương đúc kết những đặc trưng chung trongcác hoạt động văn hoá vật thể của cư dân
Trang 15- Chương III Văn hoá phi vật thể vùng tứ giác Long Xuyên Chương này
trình bày 5 hoạt động văn hoá phi vật thể chính yếu của cư dân đồng bằng trung tâm
tứ giác Long Xuyên: văn hoá tổ chức cộng đồng; văn hoá tín ngưỡng; văn hoáphong tục; văn hoá lễ hội; văn hoá nghệ thuật Mục tiểu kết chương đúc kết nhữngđặc trưng chung trong các hoạt động văn hoá phi vật thể của cư dân
Phần phụ lục bao gồm:
- Phụ lục 1: Đơn vị hành chính vùng tứ giác Long Xuyên năm 2011
- Phụ lục 2: Các núi trong vùng tứ giác Long Xuyên
- Phụ lục 3: Dân số chia theo tộc người ở tỉnh An Giang và Kiên Giang
- Phụ lục 4: Dân số chia theo tôn giáo ở tỉnh An Giang và Kiên Giang
- Phụ lục 5: Hình ảnh về đời sống cư dân vùng tứ giác Long Xuyên
Trang 161 MINH ĐỊNH THUẬT NGỮ
1.1 Hệ thống văn hóa
Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng cách tiếp cận theo quan điểm hệthống - cấu trúc, phối hợp với cách tiếp cận theo quan điểm địa văn hoá, được thể
hiện trong giáo trình Các vùng văn hóa và văn hóa các tộc người Việt Nam, do Lý
Tùng Hiếu biên soạn và giảng dạy tại Khoa Văn hóa học Trường Đại học khoa học
xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh Theo cách tiếp cận từ quan điểm hệthống - cấu trúc, chúng tôi xem văn hoá vùng đồng bằng trung tâm tứ giác LongXuyên là một hệ thống bao gồm ba yếu tố có quan hệ hữu cơ là chủ thể văn hoá,hoạt động văn hoá và đặc trưng văn hoá
(1) Chủ thể văn hoá bao gồm các tộc người, các tập thể xã hội cư trú trong
vùng mà các hoạt động văn hoá, truyền thống văn hoá của họ góp phần làm nên cácđặc trưng văn hoá của vùng Vì vậy, trong hệ thống, chủ thể văn hoá đóng vai trò làyếu tố trung tâm, chi phối các hoạt động văn hoá và đặc trưng văn hoá
(2) Hoạt động văn hoá bao gồm các lĩnh vực hoạt động thực tiễn khác nhau,
giúp cho các chủ thể văn hoá sinh tồn và phát triển Số lượng các hoạt động văn hoánhiều hay ít tuỳ theo các nhà nghiên cứu, nhưng có thể quy vào hai nhóm: văn hoávật thể (tangible) và văn hoá phi vật thể (intangible)
Theo tổ chức UNESCO, các hoạt động văn hóa được chia thành hai nhóm:
- Văn hóa vật thể (tangible), hay hữu hình, là kết quả của hoạt động sáng tạo
biến đổi tự nhiên quanh mình thành những sản phẩm văn hóa tự thân tồn tại dướidạng vật chất cụ thể, có thể tiếp xúc được bằng giác quan, bao gồm đồ vật, nhà cửa,đình chùa, đền miếu, lăng mộ, v.v…
Trang 17- Văn hóa phi vật thể (intangible), hay vô hình, là những sản phẩm văn hóa
tự thân không có tính vật thể, không thể tiếp xúc được bằng giác quan, bao gồmngôn ngữ, huyền thoại, văn chương truyền khẩu, nghệ thuật trình diễn, âm nhạc,nghi thức, phong tục, kinh nghiệm y dược cổ truyền, bí quyết nấu ăn, bí quyết nghềthủ công truyền thống, v.v…
(3) Đặc trưng văn hoá bao gồm những biểu hiện văn hoá có tính đặc trưng
của vùng, là kết quả của hoạt động văn hoá và phụ thuộc vào truyền thống văn hoácủa chủ thể văn hoá Đặc trưng văn hoá là căn cứ giúp chúng ta có thể nhận diện,phân biệt một vùng, một tiểu vùng văn hoá với những vùng, những tiểu vùng vănhoá khác
1.2 Môi trường văn hoá
Cũng theo cách tiếp cận nêu trên, hệ thống văn hoá (chủ thể văn hoá, hoạtđộng văn hoá và đặc trưng văn hoá) tồn tại trong một môi trường văn hoá Môi
trường văn hoá được cấu thành từ hai nhân tố: không gian văn hoá và giao lưu tiếp biến văn hoá Vì vậy, nội dung và xu hướng biến đổi của hệ thống văn hoá không
chỉ phụ thuộc vào nội dung và sự biến đổi của các yếu tố bên trong hệ thống mà cảcác nhân tố bên ngoài, hợp thành môi trường văn hoá
Cách tiếp cận từ quan điểm hệ thống – cấu trúc trên đây rất tương hợp vớicách tiếp cận của quan điểm địa văn hóa đối với sự hình thành và biến đổi văn hóa
tộc người và văn hóa vùng, được thể hiện trong bài giảng môn học Địa văn hóa và các vùng văn hóa Việt Nam, do Đinh Thị Dung biên soạn và giảng dạy cho các khóa
cao học của Khoa Văn hóa học Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn thànhphố Hồ Chí Minh
Theo cách tiếp cận từ quan điểm địa văn hoá, chúng tôi xem sự hình thành vàbiến đổi của văn hoá vùng đồng bằng trung tâm tứ giác Long Xuyên là kết quả hợp
thành của hai nhân tố then chốt: điều kiện địa lý tự nhiên và điều kiện giao lưu văn hoá Ngày nay, do cả hai nhân tố ấy đều đang biến đổi ngày một nhanh hơn, mạnh
Trang 18hơn, nên văn hoá vùng đồng bằng trung tâm tứ giác Long Xuyên cũng đang biếnđổi nhanh, cả về số lượng và chất lượng.
1.3 Văn hóa tộc người
Văn hóa tộc người là một trong những khái niệm cơ bản của dân tộc học.Theo Ngô Đức Thịnh: “Nó là tổng thể các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạtvăn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục vànghi lễ…khiến người ta phân biệt tộc người này với tộc người khác, văn hóa tộcngười là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tộc người” [Dẫn theo Lý Tùng Hiếu,2011: 21] Nói cách khác, văn hóa tộc người là những giá trị văn hóa vật chất vàtinh thần đã trở thành những biểu tượng sâu sắc in đậm trong tình cảm, tư tưởng củatộc người đó, và có tính chất đặc trưng, khu biệt tộc người đó với những tộc người khác
1.4 Văn hóa vùng
Nhận thức về vùng văn hóa và phân vùng văn hóa liên quan trực tiếp tới việcnêu các đặc trưng văn hóa vùng, định ra các tiêu chí phân vùng, xác định các cấpbậc phân vùng và ranh giới của vùng Theo Ngô Đức Thịnh, vùng văn hóa là mộtvùng lãnh thổ có những nét tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinhsống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tươngđồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnhhưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thểhiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phânbiệt với vùng văn hóa khác [Ngô Đức Thịnh, 2004: 64]
Theo Lý Tùng Hiếu, vùng văn hóa là một không gian văn hóa được tạo thànhbởi chủ thể là các tộc người cùng tồn tại trong một không gian lãnh thổ rộng lớn vàcùng sở hữu một tập hợp hoặc một hệ thống các đặc trưng văn hóa, hình thành donhững tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên của vùng, do quan hệ nguồn gốc lịch sử,quan hệ giao lưu văn hóa của các nhóm cư dân trong vùng Những đặc trưng văn hóa
ấy được thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của các nhóm
cư dân, có thể phân biệt được với các vùng văn hóa khác [Lý Tùng Hiếu, 2011: 19]
Trang 192 MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN
2.1 Không gian văn hóa
2.1.1 Phạm vi
Hình 1 Sơ đồ vùng tứ giác Long Xuyên
Vẽ lại theo bản đồ du lịch đồng bằng sông Cửu Long
Địa bàn khảo sát của luận văn là vùng đồng bằng trung tâm, có điều kiện địa
lý tự nhiên tiêu biểu của tứ giác Long Xuyên Địa bàn này có hình dáng gần vuông,cạnh đông bắc tiếp giáp vùng giồng ven sông Hậu (bao gồm thị xã Châu Đốc, thànhphố Long Xuyên) Cạnh đông nam tiếp giáp vùng dân cư ven kinh Cái Sắn Cạnhtây nam tiếp giáp vùng dân cư ven vịnh Thái Lan (bao gồm thành phố Rạch Giá, thị
Trang 20xã Hà Tiên, vùng ven biển Hòn Đất và Kiên Lương) Cạnh tây bắc tiếp giáp vùngdân cư ven sông Giang Thành và kinh Vĩnh Tế (bao gồm phần giáp biên giới củahuyện Giang Thành, phần đồi núi Tịnh Biên và Tri Tôn).
Về mặt hành chính, vùng đồng bằng trung tâm tứ giác Long Xuyên thuộc về
09 huyện là Giang Thành, Kiên Lương, Hòn Đất, Tân Hiệp (Kiên Giang), ChâuPhú, Châu Thành, Thoại Sơn, Tịnh Biên, Tri Tôn (An Giang)
Theo phạm vi về không gian, vùng đồng bằng trung tâm tứ giác Long XuyênTrong đó, các đơn vị hành chính cơ sở gồm 05 thị trấn, 72 xã như sau:
2.1.2 Địa hình
Địa hình vùngđồng bằng trung tâm
tứ giác Long Xuyên có
xu thế thấp dần theohướng đông bắc đếntây nam (thấp dần từsông Hậu về phía biểnTây với cao độ từ 2m– 0,25m chiếm đa số)
và thấp dần từ bắcxuống nam (từ vùngven biên giới xuốngkinh Cái Sắn với cao độ từ 5m – 0,4m) Xét tổng quát về địa hình, vùng trung tâm tứgiác Long Xuyên có địa hình chung là đồng bằng phù sa, vài đồi núi sót lại sau quá
trình kiến tạo Về địa chất, đây là một đồng bằng phù sa mới có nguồn gốc trầm tích1
1 Cách nay 4.000 năm, biển lùi dần Đồng thời, các tiến trình hoạt động của sông ngòi đãtạo tiền đề cho việc hình thành các trầm tích hỗn hợp giữa sông - biển Sau đó, vùng Nam
Bộ tiến dần về phía Nam và xuất hiện những vùng đầm lầy với trầm tích sông – đầm lầy,trầm tích sông (còn gọi là trầm tích phù sa mới hoặc hiện đại), trầm tích đồng lụt (đồngphù sa) [Nhiều tác giả, 2003:103]
Hình 2: Đồng bằng và đồi núi ở Thoại Sơn
(ảnh chụp ngày 4/9/2011 tại cánh đồng Óc Eo, Thoại Sơn)
Trang 21lâu dài do phù sa sông Cửu Long tạo nên và có cao độ địa hình dạng hơi nghiêng từ
bờ sông Hậu và từ bờ biển Tây vào rồi thấp dần tới nội đồng tạo nên một vùng đồngbằng trung tâm thấp (cao độ từ 0,3 – 1m, trong đó độ cao dưới 1,0m chiếm khoảng60%) như dạng lòng chảo2 Ngoài ra, đồng bằng còn được chia cắt bởi hệ thống kinhđào, đê bao, các tuyến giao thông đường bộ và các khu dân cư tập trung
2.1.3 Khí hậu
Khí hậu vùng đồng bằng trung tâm tứ giác Long Xuyên mang tính chất nhiệtđới gió mùa nóng ẩm với hai mùa gió là gió mùa tây nam và đông nam (từ tháng 5 –tháng 11) và gió mùa đông bắc(từ tháng 12 – tháng 4) Khí hậu phân hóa rõ rệt theohai mùa gió, tạo nên khí hậu hai mùa: mùa khô và mùa mưa Mặt khác, do có vị tríđịa lý nằm trong khoảng từ 10 - 110 vĩ độ Bắc nên nằm gần với xích đạo, mỗi nămmặt trời qua thiên đỉnh hai lần, thời gian mặt trời chiếu sáng dài Vì vậy, các quátrình diễn biến của nhiệt độ, lượng mưa đều giống với khí hậu xích đạo Tuy nhiên,vùng đồng bằng trung tâm nằm tiếp giáp với biển nên khí hậu còn mang tính chấthải dương
Về nhiệt độ, vùng đồng bằng trung tâm tứ giác Long Xuyên có vĩ độ địa lý
thấp nên nhận được nhiều năng lượng nhiệt của mặt trời trong suốt năm Nhiệt độbình quân là 26 – 27 oC, biên độ không quá 3 – 4oC Tuy nhiên, càng đi về hướng nộiđịa thì số giờ nắng, nhiệt độ, lượng mưa, số tháng mưa, độ ẩm càng chênh lệch nhau
2.1.4 Thủy văn
Vùng đồng bằng trung tâm tứ giác Long Xuyên tiếp giáp với nguồn nướcmặn của vịnh Thái Lan và nhận nguồn nước ngọt từ sông Hậu qua hệ thống kinhrạch chằng chịt Do đó, chế độ thủy văn bị tác động đầy đủ các quá trình như thủytriều, mưa tại chỗ, chế độ nước, lũ lụt
2 Từ Châu Đốc về Long Xuyên hình thành trũng ở giữa như vùng Tri Tôn (có vùng BảyNúi cao cục bộ) Vùng bắc Bảy Núi xuôi theo biên giới huyện Tịnh Biên, Châu Đốc, ChâuPhú xuống theo kênh Mỹ Thái là vùng lòng chảo hở, lũ ngập sâu, khó tiêu thoát [VươngĐình Phước – Phan Khánh, 2006: 49]
Trang 22 Về sông, kinh, rạch
Sông Hậu: Sông Hậu được bổ sung một lượng nước đáng kể từ phía dưới
sông Vàm Nao (lớn gấp 2 - 3 lần lưu lượng nước qua Châu Đốc trong mùa lũ và gấp
3 - 4 lần trong mùa cạn) Do tương quan giữa lưu lượng nước qua sông Châu Đốc
và sông Vàm Nao nên đoạn sông giữa Long Xuyên – Châu Đốc trở thành khu dồnnước trong mùa lũ, tích triều trong mùa cạn Vào mùa mưa, do mực nước bình quânphía sông Hậu cao hơn mực nước bình quân tại vịnh Thái Lan nên dòng chảy có xuhướng từ sông Hậu ra vịnh Thái Lan theo các kinh trục
Sông Giang Thành bắt nguồn từ cao nguyên Sài Mạt ở Campuchia Sông
chảy qua địa phận thị xã Hà Tiên, dài 20km, đổ nước ngọt vào Đông Hồ, có cửathông ra biển Sông có nhiều nhánh như rạch Cái Đôi, Trà Phô, Cái Tắt ở tả ngạn vàcác rạch Cát, Miếu, Thị Vạn, Cua và Mương Đào ở hữu ngạn
Rạch Long Xuyên bắt đầu khởi nguồn từ thành phố Long Xuyên chảy theo
hướng đông bắc – tây nam, với độ uốn khúc quanh co giống như một dải lụa longlanh chảy suốt trên chặng đường dài gần 18km, giữa thảm lúa rộng mênh mông của
tứ giác Long Xuyên, rồi nối với kinh Thoại Hà tại ấp Đông Phú xã Vĩnh Trạchhuyện Thoại Sơn, đi qua núi Sập, kéo thẳng ra biển Tây, nối với sông Kiên củaRạch Giá tỉnh Kiên Giang Rạch Long Xuyên được nối với kinh Rạch Giá – LongXuyên nên nhân dân ở đây còn gọi chung là kinh Rạch Giá – Long Xuyên, có độrộng bình quân 100m và sâu 8m
Về kinh đào 3 : hệ thống kinh trục (văn bản hành chính gọi là “kênh cấp I,
kênh tạo nguồn”), các kinh nhánh ở vùng đồng bằng trung tâm tứ giác Long Xuyênnối với sông Hậu, tiêu nước ra biển Tây đã được đào, nạo vét từ trước năm 1945,như kinh Rạch Giá - Long Xuyên (kênh Thoại Hà), Tri Tôn, Ba Thê, Cái Sắn, MặcCần Dưng, kinh Cần Thảo Giai đoạn 1976 – 2010, các kinh tạo nguồn tiếp tục
được đào thêm như kinh Mười Châu Phú, kinh núi Chóc - Năng Gù, kinh Mỹ Thái,
3 Ở vùng tứ giác Long Xuyên, người dân gọi là kinh đào bằng thủ công để phân biệt vớinhững kinh đào bằng máy xáng múc (kinh xáng)
Trang 23kinh 7 xã, Thần Nông, kinh Tròn – Đòn Dông, T2, Ba Thê mới… để khai hoangvùng đồng bằng trung tâm phèn, phát triển thủy lợi gắn với giao thông và phân bốdân cư, tiêu thoát nước cho nội đồng ra vịnh Thái Lan, cung cấp nước trong mùacạn Nhìn chung, các kinh trục đều thẳng, ngắn, thẳng góc với thế nước sông Hậu
và triều biển Tây nên có thủy lực tốt Ngoài ra, vùng đồng bằng trũng thấp còn cómột hệ thống kinh cấp II, cấp III được nối vào hệ thống kinh trục Bên cạnh đó,mạng lưới các con rạch, xẻo, mươngcũng rất nhiều
Về thủy triều: vùng đồng bằng trung tâm ở tứ giác Long Xuyên chịu ảnh
hưởng của thủy triều biển Tây, chế độ nước sông Hậu, nước lũ lụt Chế độ thủy triềubiển Tây mang tính chất nhật triều không đều và truyền vào vùng tứ giác LongXuyên qua các kinh trục, kinh Thủy triều phía biển Tây ảnh hưởng sâu vào nộiđồng tứ giác Long Xuyên khoảng từ 15 km – 25km, biên độ triều giảm 2cm/km.Vào mùa khô (thông thường từ tháng 2), khi có gió chướng4 hoạt động dài ngày thìthủy triều biển Tây mạnh hơn thủy văn sông Hậu nên nước mặn (độ mặn 4‰) xâmnhập sâu vào nội đồng qua các cửa kinh nguồn Hiện nay, nhiều công trình kiểmsoát nước mặn bằng hệ thống cống ngăn mặn Trên biển Đông và vịnh Thái Lan,các dòng biển (hải lưu) đều đổi hướng chuyển động theo mùa Trong vịnh RạchGiá, các dòng biển cũng được nhận thấy là có một sự đổi hướng theo mùa Tuydòng biển mùa đông vẫn chiếm ưu thế về cường độ và có thời gian tác động dàihơn Các dòng biển chuyển động theo chiều kim đồng hồ (từ tháng 5 – tháng 9) vàtheo hướng ngược lại (từ tháng 10 – tháng 1)
Về lũ lụt: nước lũ từ sông Hậu tràn qua 26 cầu cống (trên quốc lộ 91 đoạn
Châu Đốc – Vàm Cống) đi vào nội đồng tứ giác Long Xuyên Đồng thời, nước lũcũng thoát ra theo ba hướng là nước lũ tiêu ra biển Tây qua 31 cầu cống trên lộRạch Giá – Hà Tiên; nước lũ theo các kinh rạch ra sông Hậu; nước lũ tiêu vào vùngTây sông Hậu qua 50 cầu cống trên lộ Cái Sắn Qua các giai đoạn lịch sử, các cư
4 Gió chướng, còn gọi là gió đông là gió thổi từ đông sang tây diễn ra vào cuối tháng 12 –đầu tháng 1 có khí hậu khô ráo, thường bốc lên từng cơn gió lốc cuốn theo cát bụi (contrốt) và báo hiệu là Tết đến
Trang 24dân ở vùng đồng bằng trung tâm giác Long Xuyên đã tích lũy được nhiều kinhnghiệm trong việc ứng phó với lũ lụt và xâm nhập mặn qua việc làm nhà sàn, đàokinh, làm đường, đắp đê, xây cầu cống, dần dần hình thành mô hình giao thông kếthợp thủy lợi Vùng tứ giác Long Xuyên có nhiều lợi thế hơn Đồng Tháp Mười vì cóhai nguồn nước ngọt bao quanh là sông Hậu, kinh Vĩnh Tế, rút ngắn cự ly lấy nướcrất nhiều so với hơn Đồng Tháp Mười.
2.1.5 Thổ nhưỡng
Sự phát triển của đất có liên quan chặt chẽ với nguồn gốc địa chất trầm tíchkhác nhau và còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố ngoại cảnh như chế độ ngập lụt,khô hạn, độ bao phủ của thảm thực vật và hoạt động cải tạo của con người Vì thế,đất đai ở vùng đồng bằng trũng thấp cũng bao gồm nhiều loại như đất phèn, đất thanbùn, đất phù sa, đất xám
Về nhóm đất phèn: đất
chứa nhiều gốc sunphat (SO42-),
hàm lượng pyrit cao, có độ pH
rất thấp và có nguồn gốc từ các
trầm tích đầm lầy – biển trong
quá trình biển tiến thời kỳ
Holocene giữa (cách đây 6.000
Về nhóm đất phù sa: có đặc tính chung là chứa nhiều hữu cơ, độ pH thấp, ít
bị bào mòn, xâm thực và luôn được bồi đắp hàng năm với những mức độ, điều kiệntrầm tích khác nhau Đất phù sa được bồi tụ từ sông Hậu
Hình 3: Đất và nước phèn ở Tri Tôn (ảnh chụp năm 2009 tại Trà Sư) Ảnh:Lý Tùng Hiếu
Trang 25Về nhóm đất đồi núi: là nhóm đất được hình thành từ quá trình phong hóa,
xâm thực của các đồi núi đá gồm đất sườn tich tại chỗ chủ yếu phân bố tại ThoạiSơn (ở Ba Thê), Hòn Đất
2.1.6 Sinh thái
Về thực vật: sự định cư của con người và các tác động thúc đẩy phát triển
kinh tế, xã hội đã làm cho điều kiện tự nhiên biến đổi sâu sắc nên các kiểu thảmthực vật nguyên thủy (đồng cỏ ẩm, rừng ven sông) đã được thay thế bởi các kiểusinh cảnh tự nhiên dạng thứ sinh, thoái hóa và các kiểu sinh cảnh nhân tác thể hiệnqua các kiểu sử dụng đất khác nhau (thổ cư, vườn cây, rừng trồng, ruộng, rẫy…).Thảm thực vật ở vùng đồng bằng trũng thấp thể hiện qua các hệ sinh thái rừng tràm,thảm thực vật canh tác (lúa cao sản, các cây hoa màu ngắn ngày, cây ăn trái) Ngoài
ra, thảm thực vật ven sông rạch, thực vật nổi cũng khá phong phú và đa dạng
Về động vật: các loài động vật thủy sinh sống ở dưới nước chủ yếu là các loài
tôm; các nhóm cá (cá sông, cá đồng và cá biển) và các chủng loài khác (rắn, ếch,cóc, nhái,…) Hơn nữa, các động vật nuôi cũng phát triển nhằm phục vụ nhu cầucủa cư dân là bò, trâu, heo, gà, các loại cá, tôm, ếch, lươn, cá sấu, rắn, ba ba…
2.2 Giao lưu và tiếp biến văn hóa
2.2.1 Giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa các tộc người Việt Khmer Hoa Chăm
-Qua các thư tịch, tài liệu khảo cổ học, đến trước đầu công nguyên thì cả vùng
tứ giác Long Xuyên vẫn còn là vùng đầm lầy hoang vắng Tiếp sau đó, theo nhữngghi chép trong thư tịch cổ Trung Hoa, ở phía nam của Lâm Ấp (Champa), đã xuấthiện một quốc gia có tên gọi là Phù Nam5 Cư dân Phù Nam cổ là chủ nhân của nềnvăn hóa Óc Eo (từ thế kỷ II – thế kỷ VII) và địa bàn cư trú là những vùng đất cao,những giồng cát có nước ngọt ven biển như vùng núi An Giang, vùng phù sa cổ bắc
5 Phù Nam là tên gọi một vùng đất theo cách phát âm Founan của người Trung Hoa Từngữ Founan lại xuất phát từ ngôn ngữ Khmer cổ là Phnâm, Pnom và đều có nghĩa là núiđồi, vùng đất cao [Mạc Đường (chủ biên), 1991: 24]
Trang 26Long An, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hà Tiên [Mạc Đường, 1981] Có thể thấy rằng từthời cổ đại, vùng tứ giác Long Xuyên đã từng là không gian tồn tại một thời kỳthịnh vượng phát triển rực rỡ của nền văn hóa Óc Eo Óc Eo là một hải cảng củavương quốc Phù Nam Óc Eo là một trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế lúcbấy giờ [Huỳnh Lứa, 1987: 35] Các di tích (cảng thị Óc Eo), những đường nước
cổ6 thuộc văn hóa Óc Eo tìm thấy ở vùng tứ giác Long Xuyên chứng minh có sựgiao lưu giữa văn hóa Óc Eo, văn hóa Đồng Nai, văn hóa Sa Huỳnh (mộ chum hoặc
mộ vò) cũng như có quan hệ với các nền văn hóa khác qua các di vật như huychương, đồng tiền La Mã; đồ trang sức, tượng
Vào khoảng thế kỷ VI, đế chế Phù Nam bắt đầu suy yếu và bị người ChânLạp tấn công tiêu diệt Về cơ bản, văn hóa Phù Nam là một nền văn hóa có tính chấtvừa bản địa vừa có sự hội tụ của văn hóa truyền thống Đồng Nai bản địa, văn hóa
Ấn Độ ngoại lai và yếu tố văn hóa “tộc núi” Chân Lạp cổ từ cuối thế kỷ VII-VIII.Vài thế kỷ tiếp theo, do mực nước biển dâng cao trở lại làm cả vùng đồng bằngsông Cửu Long bị ngập (từ 0,8 m – 1m) dưới mực nước biển, chiến tranh giữa ChânLạp và Java nên các cư dân lần lượt bỏ đi, khiến vùng Thủy Chân Lạp bị bỏ hoang(thế kỷ VIII – XIII) [Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường, 1990: 112-113] và vùng tứ giác Long Xuyên cũng trở thành đầm lầy, hoang hóa, không có dấuvết con người cư trú
Về người Khmer, đến cuối thế kỷ XV – đầu thế kỷ XVI, người Khmer với
phần đông là nông dân nghèo, còn có tầng lớp quan lại, hoàng tộc, sư sãi, trí thứcKhmer vẫn là tộc người duy nhất lập thành các điểm dân cư sinh sống tập trung, chủyếu ở Tri Tôn, Tịnh Biên, Hà Tiên Người Khmer đã dựa vào tín ngưỡng Phật giáo
6 Vào những năm 1931-1936, nhà du thám hàng không P.Paris đã lần lượt ghi nhận trênkhông ảnh những đường nước cổ (khoảng gần 30 đường nước cổ) khởi phát từ PhnomAngkor và Phnom Angkor Borei chảy về Châu Đốc qua Núi Sam, rồi từ Tri Tôn trải về BaThê theo dòng chảy Mặc Cần Dưng cổ Từ Ba Thê có nhiều nhánh hoặc chảy ra Rạch Giá,hoặc sang phía đông đến Đá Nổi, tiếp giáp vùng trũng Hậu Giang; còn nhiều nhánh đổ từphía bắc, tây bắc đổ về… Trong đó, khu cư dân nằm tại vị trí giao hội của nhiều đườngnước cổ, đó là khu di tích Óc Eo- Ba Thê, di tích Đá Nổi (Tân Hiệp – Kiên Giang) vàPhum Quao (Tịnh Biên, An Giang)
Trang 27và mạng lưới chùa chiền để phát triển văn hóa Phật giáo Theravada Ngôi chùa làtrường học chữ Khmer, là trung tâm truyền bá nếp sống, văn hóa Phật giáo, nơi hội
tụ mọi sinh hoạt của nông dân Khmer Do đó, nền văn hóa Phật giáo, chữ Khmer và
tầng lớp sư sãi đã trở thành linh hồn, nền tảng của xã hội người Khmer Người
Khmer ở tứ giác Long Xuyên có cùng một chủng tộc, nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ,tôn giáo, gần gũi về đặc trưng văn hóa tộc người với người Khmer ở Campuchia.Người Khmer ở tứ giác Long Xuyên có độ dày thời gian ít hơn, những ứng xử, sắcthái tương đối khác hơn so với người Khmer vùng ven biển Trà Vinh, Sóc Trăng,Bạc Liêu, Cà Mau
Hình 4: Cộng đồng người Việt
(ảnh chụp tháng 01/2009 trên đỉnh Núi Sập)
Hình 5: Chùa Tây An – điểm giao thoa văn hóa của các tộc người (ảnh chụp tháng 10/2008 ở Châu Đốc)
Về người Việt, dựa theo một số sử liệu như Gia Định Thành thông chí và Đại
Nam nhất thống chí, vào cuối thế kỷ XVII, khi Mạc Cửu chiêu mộ cư dân khai phá
vùng đất ven biển Hà Tiên - Rạch Giá thì những lưu dân người Việt đã đến khai khẩnđất hoang, gieo trồng cùng với cư dân Khmer tại chỗ và sinh tụ với người Hoa tạo
Trang 28dựng làng xóm Ngoài ra, lưu dân người Việt cũng ở rải rác vài nơi ven sông Hậu
“Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, đã thấy có người Việt ở vùng Bình Mỹ(Châu Phú), vùng Châu Đốc và vùng cù lao Cây Sao (cù lao Ông Chưởng ngày nay)”[Nhiều tác giả, 2003: 201] Năm 1757, sau khi Nặc Tôn hiến đất Tầm Phong Long7,chúa Nguyễn Phúc Khoát cho thành lập đạo Châu Đốc nối liền với trấn Hà Tiên Cácchính sách khẩn hoang xung quanh các đồn, bảo cũng tạo điều kiện cho các thôn ấp,những cụm dân cư đầu tiên hình thành một cách thưa thớt: “Từ biên giới Việt Miênxuống Long Xuyên chỉ có mấy khu vực cao ráo như khu chợ Châu Đốc, Mỹ Đức, CáiDầu và các làng Bình Thạnh Tây (đối diện Bình Thạnh Đông bây giờ, Châu Phú),Bình Đức, Mỹ Phước (Long Xuyên)…có dân đến ở, mùa nước nổi khai thác cá, làmlúa mùa, cuộc sống còn nghèo” [Nhiều tác giả, 2003: 201] Có thể thấy rằng vùng đấtnằm giữa hữu ngạn Hậu Giang và vịnh Xiêm La đến cuối thế kỷ XVIII thì “vùngThất Sơn chưa thám hiểm được, lại còn cánh đồng bát ngát (Rạch Giá, Cần Thơ) vàvùng nước ngập quá sâu, không thích hợp với lối cày cấy đương thời (đồng Châu
Đốc, Láng Linh, Tháp Mười)” [Sơn Nam, 1994: 40].
Trong giai đoạn 1802 – 1867, các đời vua triều đình nhà Nguyễn đã chủ
trương đẩy mạnh khuyến khích khai hoang, lập đồn điền, lập ấp ở vùng đất phíanam qua các chỉ dụ (năm 1802, 1803,1807, 1850) bằng các hình thức mộ dân lậpđồn điền, sử dụng binh lính, kể cả tù phạm (những tù nhân chịu án đi đày, sung làmquân) khai khẩn ở những khu vực trú quân với các thủ tục dễ dãi như cho tự chọnđất, cấp cho phương tiện khai hoang, cho vay thóc giống…nhằm giải quyết các khókhăn về kinh tế - xã hội Qua các chính sách vận động của triều Nguyễn (trong đó
có lý do là dân số sinh đẻ tự nhiên tăng lên), nhiều di dân người Việt từ miền Trung,
từ một số tỉnh Nam Bộ xưa tiếp tục đi khẩn hoang ruộng đất, lập làng và chinh phụcnhiều vùng hoang địa, vùng biên cương ở tứ giác Long Xuyên Do đó, địa bàn cưtrú của người Việt ngày càng được mở rộng đến giữa thế kỷ XIX: “Suốt hữu ngạnsông Hậu, từ biên giới xuống phía nam, xóm làng, phố chợ mọc rải rác từ ChâuĐốc, Long Xuyên, khu vực Tịnh Biên – Thất Sơn – kinh Vĩnh Tế qua duyên hải Hà
7 Nay là Châu Đốc – Long Xuyên – Cần Thơ
Trang 29Tiên, từ kinh Thoại Hà – vùng Rạch Giá đã có người đến lập nghiệp” [Sơn Nam,2005b: 75]
Về phía Hà Tiên, người Việt đã cùng sinh sống với các tộc người khác:
“Năm sau (1811) vua cho Trương Phước Giáo và Bùi Đức Mân đến Hà Tiên để tuchỉnh thành phố, chiêu dụ lưu dân: người Trung Hoa, người Cao Miên, người Chà(gọi là chà Châu Giang), đều có dành khu vực cư trú riêng, khá phân minh Tuynhiên, thương cảng Hà Tiên không sao hưng thịnh được như trước” [Sơn Nam,1994: 67] Đồng thời, ở miền biên cảnh “Châu Đốc là trọng trấn cõi Nam” nên cácvua quan nhà Nguyễn đã tập trung dân binh và điều động binh lính để xây thànhChâu Đốc (1815), bố trí hàng loạt đồn bảo kéo dài đến trấn Hà Tiên, việc tổ chứcđào kinh Thoại Hà (năm 1818), kinh Vĩnh Tế (năm 1819 - 1824) Triều đình khônkhéo thực hiện chính sách chiêu mộ dân, những người buôn bán đến lập làng, mởchợ, xây dựng miếu thần, chùa Phật ở ven bờ kinh, sông rạch và các vùng như LongXuyên, Rạch Giá trở nên trù phú do nhờ lúa gạo
Hơn nữa, triều đình còn khuyến khích dân cư tiến vào khẩn ruộng vùng NúiSam, khai phá vùng Tịnh Biên, khai hoang vùng đất mới Vĩnh Tế, lập đồn điền ởvùng biên giới Hà Tiên bằng cách miễn thuế đinh, thuế điền “Nhiều người thử làmruộng trên phần đất phía nam kinh Vĩnh Tế, bờ kinh đắp cao, dễ cất nhà Một số lưudân đến mấy vùng đất cao ở chân đồi, chân núi phía Thất Sơn mà canh tác Rải ráctrên bờ kinh, quân sĩ xây nhiều đồn bảo nhỏ, giữ an ninh, lại còn đường lộ đắp từ bờkinh chạy vòng quanh, liền lạc nhau (gọi là xa lộ) [Sơn Nam, 1994: 73] Do vậy,nhiều làng, thôn xã người Việt được lập thành vùng dân cư: “Năm 1854, NguyễnTri Phương báo cáo đã thành lập được 21 cơ đồn điền Hai năm sau, tỉnh An Giang
và Hà Tiên đã chiêu mộ được 1.646 dân đinh, lập 159 thôn ấp” [Nhiều tác giả,2003: 206, 233, 237] Song song đó, công cuộc khẩn hoang do nhân dân tự tiến
hành gồm những tín đồ Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, tín đồ đạo Tứ Ân Hiếu
Nghĩa đã đến những vùng xa xôi như Thất Sơn, đầm lầy Láng Linh, Cái Dầu, BaChúc, vùng biên giới để khẩn hoang, mở đất, lập làng Đa số tín đồ theo đạo lànhững người Việt sống ở các tỉnh chung quanh như Định Tường, Vĩnh Long, An
Trang 30Giang, Hà Tiên… Cùng lúc đó, sau khi các cuộc khởi nghĩa nông dân bị đàn áp thìnhiều người Việt vẫn tiếp tục tìm đến sinh sống trong vùng tứ giác Long Xuyên
Trong giai đoạn thuộc Pháp, khi tứ giác Long Xuyên được coi là một vùngkhai thác mới, vào đầu thế kỷ XX thì các chính sách sử dụng lao động tại chỗ, kíchthích di dân trong vùng, bố trí lại nông thôn và đưa người Việt từ miền Bắc, miềnTrung vào khai khẩn những vùng đất còn hoang hóa ở Long Xuyên, ven biển Tây từRạch Giá đến Hà Tiên, cùng với việc nạo vét đào những kinh rạch dẫn tháo nước,kết nối giao thông “Trong vùng các con kênh Rạch Giá – Hà Tiên và kênh Hà Tiên– Tri Tôn đã khẩn hoang được 60.000 hécta Số diện tích lúa nổi khai thác tại tỉnhChâu Đốc vào năm 1921 là 134.000 hécta, năm 1943 là 35.000 hécta” [Huỳnh Lứa,1987: 190, 194] Lúc này, người Việt chủ yếu định cư thưa thớt dọc theo những bờkinh xáng mới đào và vùng đất trũng vẫn chưa được chú trọng khai phá
Trong bối cảnh lịch sử Nam Bộ từ 1945 – 1954, phần lớn người Việt vùngđồng bằng trung tâm tứ giác Long Xuyên sinh sống ở vùng nông thôn rất khó khăn
và thiếu đất sản xuất “Do chính sách vơ vét của quân Pháp – Nhật, nền kinh tếNam Bộ lúc ấy vốn đã nghèo nàn, lạc hậu càng cạn kiệt Đời sống của lao độngthành thị và nông dân nghèo ở nông thôn cực kỳ điêu đứng, cơm không đủ ăn, quần
áo rách rưới, bệnh dịch tả, sốt rét, trái rạ…hoành hành, không có thuốc trị nên nhiềungười chết, số người mù chữ chiếm hơn 95%” [Nhiều tác giả, 2011: 50] Trong cuộckháng chiến ở Nam Bộ, người Việt vùng tứ giác Long Xuyên thường phải cư trú ởthành thị, vùng tập trung dân cư, vì thực dân Pháp đều dùng đối sách bao vây vàthực hiện chiến dịch bình định nông thôn “giết sạch, đốt sạch, phá sạch” tại vùngtranh chấp và vùng căn cứ kháng Một bộ phận người Việt tản cư về “căn cứ khángchiến Long Châu Hà rộng 1.300 km2 nằm cặp ven biển từ Hà Tiên đến Tri Tôn dân
cư thưa thớt, có địa thế Thất Sơn hiểm trở”, vì “vùng địch tạm chiếm, nhân dân tiếnhành tiêu thổ kháng chiến, thực hiện vườn không, nhà trống” và “đồng bào vùnggiải phóng, mặc dù gặp nhiều khó khăn, sẵn sàng nhường cơm xẻ áo, cưu mang,đùm bọc đồng bào tản cư đến” [Nhiều tác giả, 2011: 58, 74]
Trang 31Sau khi Hiệp định Genève được ký kết vào năm 1954, nhiều đợt di cư củangười Việt từ Bắc vào Nam, từ Sài Gòn vào vùng đất tứ giác Long Xuyên được bốtrí định cư vào những khu dinh điền, khu trù mật “những khu tập trung dân trá hình”
và khuyến khích khẩn hoang Đồng thời, bố trí lại dân cư địa phương Phần lớnngười Việt vẫn tập trung ở các khu vực thành thị và tụ điểm dân cư lớn dọc theosông Hậu từ Châu Đốc xuống Long Xuyên, dọc theo kinh Cái Sắn, kinh Rạch Giá –
Hà Tiên và vùng Bảy Núi Một bộ phận người Việt sống rải rác ở nông thôn dọctheo các bờ kinh trong nội đồng, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới Hầu hết cư dânlại bị tước đoạt quyền lợi ruộng đất “lá bùa hộ mạng” để cải thiện đời sống “Tronghai năm 1955-1956, Diệm ban hành liên tiếp các đạo dụ số 2 (6-1-1955), số 7 (5-2-1955) và số 57 (22-10-1956) thực hiện chính sách cải cách điền địa, khôi phục lạigiai cấp địa chủ, tạo điều kiện cho địa chủ lấy lại ruộng đất của nông dân do cáchmạng chia cấp cho họ trong kháng chiến, bắt nông dân lập khế ước, trở lại cuộc đời
tá điền cho địa chủ” [Nhiều tác giả, 2011: 95] Từ sau 1960, cư dân vùng đồng bằngtrung tâm tứ giác Long Xuyên cũng tản cư ra các vùng ven hoặc vào đô thị Các cưdân cũng bị tác động, chi phối bởi các chính sách khác nhau như cải cách điền địa
với luật Người cày có ruộng (3-1970) “tạo điều kiện kinh doanh tư bản chủ nghĩa ở
nông thôn” [Nhiều tác giả, 2011: 147] Sau ngày thống nhất đất nước, người Việtcũng như các tộc người khác tiếp tục trải qua nhiều khó khăn về nhiều mặt và xâydựng phát triển vùng tứ giác Long Xuyên
Về người Hoa, một bộ phận người Hoa từ nam Trung Quốc không chịu phục
tùng triều đình Mãn Thanh đã trốn di cư lần hồi vào đồng bằng sông Cửu Long năm
1680 Trên đất Chân Lạp, Mạc Cửu đã chiêu mộ lưu dân đến khai phá đất MangKhảm và lập ra 7 xã thôn (Hà Tiên, Hương Úc, Trũng Kè, Cần Một, Giá Khê, CàMau, Phú Quốc) dọc ven vịnh Thái Lan Từ năm 1705, quân Xiêm thường xuyênsang xâm lấn, cướp phá Hà Tiên nên Mạc Cửu đem toàn bộ đất Hà Tiên xin sátnhập vào đất chúa Nguyễn vào năm 1708 Mạc Cửu tiếp tục cai quản Hà Tiên vàmột đợt di dân đông người Hoa từ vùng đất Triều Châu đến vùng đất Hà Tiên vào
năm 1715 Từ nửa sau thế kỷ XVIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX, nhiều đợt di cư của
Trang 32người Hoa với văn hóa Trung Hoa (hiện đại) từ nam Trung Quốc vẫn tiếp tục diễn
ra Các chúa Nguyễn và vua triều Nguyễn đã có những chính sách mềm dẻo, biệnpháp quản lý dân cư tạo điều kiện cho người Hoa đến định cư khai khẩn và hội nhậpvào cộng đồng các tộc người Các nhóm người Hoa ở tứ giác Long Xuyên là nhữngngười Hoa có gốc từ Triều Châu, Quảng Đông, một ít Phúc Kiến, Hẹ, Hải Nam.Hầu hết người Hoa đều biết và sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp hàng ngày NgườiHoa sống thành từng cụm hoặc xen kẽ với người Việt, người Khmer nhưng vẫn cònlưu giữ các yếu tố văn hóa truyền thống được biểu hiện ở nhiều dạng thức sinh hoạttrong đời sống văn hóa như các cơ sở chùa chiền, miếu mạo, từ đường với hệ thống
lễ nghi trong tín ngưỡng dân gian, tôn giáo, lễ nghi sinh hoạt cộng đồng
Về người Chăm, giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, do chính quyền ở
Campuchia lúc bấy giờ ngược đãi, một số người Chăm từ Campuchia chuyển sanglánh nạn ở vùng biên giới của ngước ta trở về định cư sinh sống ở Châu Đốc Lúcnày, triều Nguyễn thực hiện chính sách “phên dậu” như “tận dân di binh”, “di manđôn man” để che chở cho các đồn ải biên phòng nên đã cho các đợt chuyển cư củangười Chăm về định cư ở vùng đất cù lao để bảo vệ vùng Châu Đốc [Mạc Đường,1991: 51, 64] Đến 1966, người Chăm định cư ở vùng đất Châu Đốc Hồi giáo trởthành tôn giáo chi phối sâu sắc đời sống tinh thần, vật chất của người Chăm KinhCoran là tất cả, là lẽ sống, là đạo đức của con người, là cách ứng xử và pháp luậtquản lý palay
Hình 6: Cộng đồng người Khmer
(ảnh chụp ngày 16/03/2008 ở Tri Tôn)
Hình 7: Cộng đồng người Chăm (ảnh ngày 17/03/2008 ở Châu Đốc)
Trang 33Quá trình cộng cư cùng khai phá đất đai của các tộc người ở tứ giác LongXuyên đã diễn ra từ rất lâu Trải qua các giai đoạn lịch sử từ đầu thế kỷ XVIII chođến cuối thế kỷ XX, các nhà cầm quyền đã thực hiện nhiều chính sách về kinh tế,văn hóa, chính trị có tầm cỡ chiến lược đã ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ dântộc giữa người Việt, người Khmer, người Hoa, người Chăm trong tính đặc thù vănhóa và tâm lý xã hội của mỗi tộc người Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước đến nay,Nhà nước Việt Nam đã đề ra các chủ trương, chính sách văn hóa có những bướcchuyển biến đáng kể, củng cố sự đoàn kết giữa các tộc người như việc hồi phục vàphát triển trở lại ở tất cả các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội [Mạc Đường, 1991:
62, 63]
Xét về mặt lịch đại, điều kiện lịch sử, không gian văn hóa thì vùng tứ giácLong Xuyên, đặc biệt là vùng đất dọc biên giới Hà Tiên – Châu Đốc luôn bị biếnđộng liên tục, chiến tranh liên miên, chịu nhiều cuộc tấn công của quân Xiêm, quânChân Lạp, bọn cướp biển; các cuộc tranh chấp giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh trênđất Nam Bộ (1776 – 1788); nhiều cuộc nổi dậy ở vùng kinh Vĩnh Tế (năm 1841); sựxâm lấn tàn phá của quân Xiêm ở Cao Miên ở vùng dọc biên giới kinh Vĩnh Tế,Bảy Núi vào các năm 1833, 1842; nạn hạn hán lũ lụt; vùng căn cứ địa của lực lượngkháng chiến (1948-1975); chiến tranh biên giới (1977 – 1978) đã ảnh hưởng rất lớnđến đời sống cư dân làm cho vùng đồi núi, biên giới trở nên tiêu điều hoang tàn dodịch bệnh, ruộng đất bị bỏ hoang, nạn đói xảy ra
Tuy vậy, các tộc người Việt, Khmer, Hoa, Chăm là một tổng thể của quátrình hòa hợp với nhau trên nền tảng có chung một số phận lịch sử, chính trị đã đấutranh với thiên nhiên, kẻ thù chung và xây dựng vùng đất mới tứ giác Long Xuyênthêm phong phú đa dạng về văn hóa, kinh tế, xã hội Trong quá trình tiếp xúc giữacác tộc người, hiện tượng giao tiếp văn hóa đã diễn ra giữa các tộc người Việt –Khmer – Hoa – Chăm Quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa xảy ra hiện tượng đồnghóa (assimilation) theo định hướng của nhà cầm quyền và sự đồng hóa tự nhiên, tựnguyện trong dân chúng (còn gọi là dân gian) Trong quá trình giao tiếp văn hóagiữa các tộc người sẽ tạo nên những yếu tố đồng nhất, sự giao tiếp văn hóa bình
Trang 34thường8 và sự “giao tiếp văn hóa đôi (Double acculturation)”9 Sự giao tiếp văn hóacủa các cộng đồng cư dân ở từ giác Long Xuyên từ trước đến nay là kết quả từ lịch
sử quá trình cộng cư, giao lưu văn hóa của các tộc người trong môi trường thiênnhiên, hoàn cảnh kinh tế - xã hội thể hiện trên các loại hình văn hóa vật thể và phivật thể
Về văn hóa mưu sinh, người Việt đã sử dụng một số vật dụng truyền thống
của người Khmer như cái “cà ràng” (loại bếp lò), “chnăng” (nồi gốm) để kho cá,nấu cơm; “cà om” (bình đựng nước), chiếc nọc cấy lúa Người Việt đã cải tiến chiếc
“phảng”, chiếc “nóp”, chiếc “cà ràng” của người Khmer thành những dụng cụ quenthuộc và thích dụng hơn cho người làm nông Người Việt và người Khmer đều cónhững hình thái kinh tế nông nghiệp lúa nước trên một địa bàn địa lý tự nhiên nên
đã cùng chia nhau những kinh nghiệm, kỹ thuật canh tác (việc chọn giống, làm đất,gieo mạ, cày, bừa, cấy lúa…)
Về văn hóa ẩm thực, người Việt đã cải tiến, điều chỉnh một số món ăn cổ
truyền của người Khmer cho hợp khẩu vị như “canh chua”, “bún Bạc Liêu”; cácmón ăn của người Chăm Hồi giáo như cà ri dê, cà ri gà Người Việt tiếp nhận ởngười Hoa những món ăn như những món bằng “lẩu”, mì xào, hủ tiếu xào, cơmdương châu, gà vịt tiềm thuốc Bắc, vịt quay, bánh bao, bánh bía, mắm bằm thịt trộntrứng vịt, bánh ú… Người Chăm Hồi giáo cũng rất thích mùi vị mắm prahoc, cácloại mắm chao, mắm chua và dùng nhiều loại bánh như bánh hột gà (nùm kel), bánh
bò nướng (nùm parăng) của người Khmer
Về văn hóa trang phục, người Việt dùng áo bà ba có xuất xứ từ chiếc áo lá
và áo xá xẩu may bằng vải buồm đen của người Hoa lao động (kiểu áo lửng, xẻ
8 Nếu một tộc người chỉ ảnh hưởng, vay mượn đơn phương những yếu tố văn hóa của tộcngười khác mà mình tiếp xúc hoặc cả hai tộc người cùng ảnh hưởng văn hóa lẫn nhau mộtcách ngẫu nhiên, tình cờ, vô ý thức thì đó chỉ là sự giao tiếp bình thường [Phan Thị YếnTuyết, 1993: 296]
9 Nếu hai tộc người giao tiếp văn hóa lẫn nhau theo hai chiều, có qua có lại, chứ khôngphải đơn phương ảnh hưởng từ một phía nào thì có thể xem đó là sự giao tiếp văn hóa đôi[Dẫn theo Phan Thị Yến Tuyết, 1993: 296]
Trang 35giữa, cài nút thắt hoặc bộ bà ba phỏng theo kiểu y phục của người “Bà Ba” (là mộtnhóm người Hoa sống trên đảo Pinang, Malaysia nay) Người Khmer cũng dùng
mặc kiểu y phục bà ba của người Việt trong sinh hoạt hàng ngày Chiếc nón lá của người Việt cũng phổ biến của người Hoa, Khmer, Chăm Chiếc khăn rằn vốn là của
người Khmer được người Việt, người Hoa, người Chăm dùng thông dụng
Về văn hóa cư trú, nhà sàn hay nhà đất của các tộc người đều thực hiện theo
kiểu cột giữa hoặc đâm trính với bộ vì (tế bào cơ bản của bộ sườn nhà) đủ các yếu
tố là cột, kèo và xà Họ đều sử dụng lá dừa nước, tole để lợp mái, làm vách nhà.
Về văn hóa tổ chức cộng đồng, trước đây, người Khmer ở tứ giác Long
Xuyên không có họ tên một cách rõ ràng, thường dùng tên của người cha làm họcho người con và cứ thế duy trì việc đặt tên này qua nhiều thế hệ Kể từ khi triềuđình nhà Nguyễn thiết lập sự kiểm soát vùng đất này, nhằm tiện cho việc thống kê,vua Gia Long đặt cho người Khmer theo 5 họ: Kim, Lâm, Thạch, Sơn, Danh.Những họ trên đã được người Khmer lưu truyền đến ngày nay và sau này ngườiKhmer còn có thêm họ Châu10
Về văn hóa tín ngưỡng, người Việt cũng đã thu nhận những giá trị văn hóa
độc đáo của người Hoa và thờ tự các vị thần ở một số cơ sở tín ngưỡng, gia đình.Đồng thời, người Hoa đã đón nhận nhiều vị thần của người Việt và đưa vào điện thờtại các cơ sở tín ngưỡng Ngoài sự tiếp nhận các nhân thần, người Hoa còn du nhậpvào miếu thờ những vị thần trong tín ngưỡng dân gian của người Việt như thờ TảBan, Hữu Ban, Tiền Vãng, Hậu Vãng, Bà Chúa Xứ,… Ngoài ra, người Khmer(trước đây, việc thờ cúng ông bà của người Khmer chủ yếu tập trung tại các chùa)cũng lập bàn thờ tổ tiên, ông bà; bàn thờ bàn thờ ông Địa ở trong nhà như ngườiViệt, người Hoa Người Khmer cũng tổ chức cúng giỗ hàng năm gọi là Sen Khuop(cúng quay trở lại) là do tiếp thu ảnh hưởng của người Việt Tục thờ Quan Công củangười Hoa được người Khmer gọi là Thao Kông hoặc Neakta Chén Hơn nữa, quátrình giao lưu hội nhập văn hóa giữa người Việt, Khmer, Hoa còn thể hiện trong
10 Xem thêm Lê Hương, Người Việt gốc Miên Trí Đăng xuất bản Năm 1969
Trang 36việc tiếp biến Phật giáo Người Việt vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo,Phật giáo, Lão giáo với tâm thức riêng của mình; khi vào sinh sống ở tứ giác LongXuyên, họ tiếp xúc với người Khmer theo Phật giáo và người Hoa theo tín ngưỡngdân gian đa thần
Về văn hóa phong tục, người Việt có tập tục chôn cất nhưng một bộ phận người
Việt và người Hoa cũng thực hiện việc hỏa táng và gởi tro ở trong tháp của chùa (là tậptục của người Khmer) Quan hệ hôn nhân giữa các tộc người đã tạo nhiều nhóm ngườilai Việt – Khmer, Việt – Hoa , Việt – Chăm, Hoa – Khmer, Hoa – Chăm, v.v
Về văn hóa lễ hội, sự dung hợp văn hóa biểu hiện rõ trong những ngày lễ
trọng như lễ hội Bà Chúa Xứ Các tộc người đến chiêm bái với lòng thành kính Cáctộc người Việt, Hoa, Khmer, Chăm đều có tục đón Tết Nguyên Đán
Về nghệ thuật ngôn từ, tiếng Việt dần trở thành tiếng phổ thông của các dân tộc
Khmer, Hoa, Chăm Hiện tượng song ngữ hay đa ngữ là hiện tượng bình thường ởnhững vùng cộng cư Việt – Khmer, Việt – Chăm, Việt – Khmer – Hoa Trong tiếng nóicác dân tộc ít người, ngày càng chen nhiều từ tiếng Việt Ngược lại, tiếng Việt Nam Bộcũng phong phú với sự đóng góp của tiếng các dân tộc Khmer, Hoa, Chăm
Về văn hóa nghệ thuật, trong văn học dân gian (tục ngữ, câu đố, ca dao, đồng
dao) của các tộc người Việt, Khmer, Hoa, Chăm đều vay mượn những nội dung củanhau, một sự giao thoa, đồng cảm tư duy sâu sắc Truyện cổ tích, ngụ ngôn, chuyệncười của người Việt, Khmer được lưu truyền rộng rãi trong đồng bào Chăm TruyệnThạch Sanh – Lý Thông và truyện Chao Sanh – Chao Thông của người Khmer;chuyện Tấm Cám của người Việt và chuyện Niêng Môrơnăc Mêđa của ngườiKhmer đều có cùng một nội dung Những nhân vật Đơn Hùng Tín, Tiết Nhơn Quý,Phàn Lê Huê trong các tuồng Tàu, truyện Tàu cũng là những nhân vật quen thuộctrong các tuồng cải lương, nói thơ của người Việt Trong sân khấu Dù Kê (ngườiKhmer gọi là Lokhon Bassac) có sự pha trộn giữa sân khấu dân gian, ca vũ nhạcdân gian Khmer với sân khấu cải lương và làn điệu vọng cổ của người Việt Nam
Bộ Các bài hát Tiều, hát Quảng…của người Hoa được đưa vào kịch hát Dùkê của
Trang 37người Khmer Trong nghệ thuật trang trí, chạm khắc ở chùa mới xây hoặc trùng tuthì mô típ Rắn (Pos) trang trí ở cột, bệ thờ…biến thành Rồng (Neak)
Sự giao lưu văn hóa thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa những tộc người có trình
độ kinh tế tương đương và tương đồng nhau với các yếu tố văn hóa Việt – Hoa –Khmer – Chăm Nhìn chung, sự giao tiếp văn hóa giữa các tộc người ở tứ giác LongXuyên diễn ra khá dễ dàng nhanh chóng trên cơ sở tự nguyện, ít xảy ra sự va chạmđược biểu hiện qua quá trình cư trú xen kẽ với nhau khá lâu đời mang tính chất
“thoáng, mở” và khai phá một vùng đất hoang hóa [Phan Thị Yến Tuyết, 1993: 300]
2.2.2 Giao lưu tiếp biến với văn hóa Đông Nam Á
Giao lưu tiếp biến với văn hóa Đông Nam Á ở vùng tứ giác Long Xuyên để lại
một vài dấu ấn rõ nét nhất là về kiến trúc chùa chiền, hình thức thờ tự trong đạo Phật
Về kiến trúc: ngôi chùa Tây An, tổ đình giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương lạimang đường nét kiến trúc đặc biệt với môtíp “vòm củ hành” mang dáng dấp củavăn hóa Ả Rập và Hồi giáo
Về hình thức thờ tự và kiến trúc tháp đền: chịu ảnh hưởng của nhiều quốc giaĐông Nam Á theo Phật giáo Nam Tông như xây tháp dạng tưởng niệm, đặt thờ XáLợi (Bồ Đề Đạo Tràng ở thị xã Châu Đốc) hoặc tạc những tháp nhỏ để làm nơi lưugiữ tro cốt của các nhà sư sáng lập một số chùa
Sự kết hợp giữa Thiền Tông và Tịnh Độ Tông được thể hiện rõ nét hơn tronggiáo lý và thực hành nghi lễ của các đạo giáo có nguồn gốc từ Phật giáo (sự giaolưu trên phương diện hành lễ, tôn phái giữa văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc đã tạonên một trong những yếu tố căn bản cấu thành Phật giáo Việt Nam) như Bửu Sơn
Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Phật giáo Hòa Hảo…
2.2.3 Giao lưu và tiếp biến với văn hóa phương Tây
Cư dân vùng tứ giác Long Xuyên đã có quá trình tiếp xúc văn hóa với cácnước phương Tây từ rất sớm, trước hết là thông qua việc giao thương ở Hà Tiên,Rạch Giá Ngoài ra, văn hóa Ki tô giáo được biểu hiện qua việc cất nhà thờ ở Hà
Trang 38Tiên (năm 1745) và giáo dân theo đạo Thiên Chúa11 vào sinh sống ở Hòn Đất, ởNăng Gù (1845) Sự giao lưu, tiếp biến với văn hóa phương Tây chỉ thật sự mạnh từnửa sau thế kỷ XIX, khi người Pháp thiết lập được quyền cai trị ở Tây Nam Bộ
* Giao lưu với văn hóa Pháp: Từ nửa sau thế kỷ XIX, ảnh hưởng của văn
hóa Pháp tăng mạnh mẽ lên xã hội các tộc người Lúc đầu, chữ quốc ngữ nhanhchóng trở thành công cụ truyền giảng của các giáo sĩ [Nguyễn Chí Bền, 2010: 94].Sau đó, theo một sắc lệnh của Thống Đốc Nam Kỳ, chữ Hán và chữ quốc ngữ bịloại khỏi giao dịch hành chính của chính quyền từ năm 1882 và thay vào đó là việc
sử dụng tiếng Pháp, chữ Pháp Đồng thời, mạng lưới trường lớp thuộc địa ở Nam
Kỳ được hình thành, học sinh được học chữ quốc ngữ nhưng càng lên lớp trên thìchữ Pháp, tiếng Pháp phải học nhiều hơn
Về văn hóa vật thể: hàng tiêu dùng của Pháp từ các mặt hàng xa xỉ như rượu,
mỹ phẩm, thuốc lá…đến hàng tiêu dùng thông thường như gạch ngói, tô, chảo,
đinh, hộp quẹt, đèn cầy, trái cây khô đều được du nhập từ nước Pháp Trong văn hóa
ẩm thực, nếp ăn uống của người Việt cũng thay đổi nhiều, nhất là ở các đô thị nhưthói quen ăn bánh Tây, uống sữa bò, uống bia, vang đỏ, ăn phô mai, bơ, sa lát trộn,bít tết… Trong văn hóa giao thông, người Việt cũng dần thay đổi bằng nhữngphương tiện mới như xe đạp, môtô, ô tô… Người Pháp đã xây dựng vài đô thị, đắp
lộ, xây cầu để giao thông từ nơi này đến nới khác được thuận tiện
Về văn hóa phi vật thể: văn hóa Pháp ảnh hưởng trong văn học, văn hóa nghệ
thuật rất rõ nét Tầng lớp trí thức thức Tây học dần hình thành trong xã hội vàphong trào thơ mới (1932 – 1945) đã xuất hiện trong thơ Việt Nam… Trong đó, nổibật hai nhà thơ lớn là thi sĩ Đông Hồ và nữ sĩ Mộng Tuyết ở Hà Tiên
* Giao lưu với văn hóa Mỹ: Thời kỳ là thời kỳ mà diện mạo kinh tế xã hội,
văn hóa thay đổi sâu sắc do tiếp thu văn hóa phương Tây, nhất là về kinh tế, khoa
học kỹ thuật Về văn hóa vật thể: văn hóa Mỹ biểu hiện dưới dạng những tiện nghi
11 Chỉ dụ cấm đạo ban hành ngày 24/4/1750 của chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765).Chỉ dụ này là phản ứng của chúa Nguyễn trước sắc lệnh cấm giáo dân người Việt thờ tổtiên của Giáo hoàng Benoit XIV ký ngày 16/11/1744) [Nhiều tác giả, 2004: 92]
Trang 39vật chất như chiếc đèn dầu huê kỳ, vải, đường, xà bông, giấy hút thuốc; những
thành tựu của nền sản xuất công nghiệp với khoa học kỹ thuật hiện đại được tiếp thuứng dụng vào nền sản xuất nông nghiệp như máy móc, phân hóa học, thuốc trừ sâu,máy móc nông nghiệp, máy đuôi tôm “Kohler” Về văn hóa trang phục, “lối sốngphong cách Mỹ” xuất hiện ngày càng nhiều và trở nên quen thuộc đối với ngườiViệt, đặc biệt là tầng lớp thanh niên như xu hướng mua sắm tràn lan, sính đồ hiệu,
đồ ngoại… Về văn hóa phi vật thể: văn hóa Mỹ (1954 – 1975) ảnh hưởng tác động
mạnh đến văn hóa vùng đô thị, song song với dòng văn học cách mạng Năm 1995,quan hệ giao lưu hợp tác văn hóa Việt – Mỹ đã có nhiều chuyển biến: văn học Mỹ(văn xuôi và thơ ca Mỹ) có một vị trí đáng kể trong chương trình giảng dạy ởtrường trung học, đại học
3 CHỦ THỂ VĂN HÓA VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN
Cư dân sinh sống trong vùng tứ giác Long Xuyên là người Việt và các tộcngười Khmer, Hoa, Chăm Tuy vậy, người Việt vẫn là chủ thể văn hóa chính, trựctiếp tạo nên các đặc trưng văn hóa của toàn vùng đồng bằng trung tâm tứ giác LongXuyên Các tộc người khác cũng là chủ thể trong những địa bàn nhỏ hẹp của họ, và
có những tác động gián tiếp và những đóng góp cho đặc trưng văn hóa vùng
3.1 Người Việt
Cư dân người Việt đã đến định cư ở vùng đồng bằng trung tâm tứ giác LongXuyên rất sớm, nhất là sau công cuộc đào kinh Thoại Hà Trong các giai đoạn chiếntranh Việt Nam, người Việt sống rải rác ở vùng nông thôn và tập trung đông trongcác thị trấn, các đô thị ở ngoại biên tứ giác Long Xuyên Đồng thời, nhiều đồng bàongười Việt từ Campuchia đã di cư về sinh sống ở Hà Tiên, Kiên Lương, Hòn Đấttrong thời kỳ chiến tranh biên giới Tây Nam Sự phân bố dân cư thưa thớt và đời sống
cư dân thiếu thốn cả phương diện vật chất lẫn tinh thần Tình hình khai khẩn đấthoang không đáng kể Do dịch bệnh, đồng trũng thấp, ngập lụt nhiều tháng trongnăm, nhiễm phèn, thiếu thốn công cụ, lực lượng lao động nên đa phần vùng đồngbằng trung tâm tứ giác Long Xuyên vẫn còn bị bỏ hoang mãi cho đến năm 1988
Trang 40Đơn vị hành chính Tổng số
Đồng bằng sông Cửu Long 17.191.470 8.534.511 8.656.959
Đồng bằng trung tâm tứ giác
ra và tương đối nhanh (xem Bảng 1).