Luận văn thạc sỹ nói về sự phát triển của các tôn giáo chính ở địa bàn huyện chơn thành, tỉnh bình phước trong giai đoạn từ năm 1975 đến nay, những ảnh hưởng tác động của tôn giáo đến đời sống văn hóa tinh thần trên tất cả các lĩnh vực trên địa bàn, làm cơ sở tư liệu cho đời sống tôn giáo trên một không gian cấp huyện
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN HỮU TRUNG
ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO CỦA NHÂN DÂN
HUYỆN CHƠN THÀNH,TỈNH BÌNH PHƯỚC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Thạc sỹ của mình, em xin gửi lời cảm ơnchân thành đến Ban Giám hiệu, Khoa Lịch sử và các giảng viên trường Đạihọc Vinh đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức hết sức quý báu cho emtrong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn thạc sĩ
Với lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy
PGS.TS Nguyễn Quang Hồng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ
Nhân dịp này tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến sở Giáo dục Đào tạotỉnh Bình Phước, Ban Giám đốc Trung tâm GDTX huyện Chơn Thành vàcác thầy cô giáo trong trường đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quátrình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn đến Ban Tuyên giáo tỉnh Bình Phước, Vănphòng Hội Đồng nhân dân tỉnh, Sở Nội vụ tỉnh Bình Phước, UBND huyệnChơn Thành, Huyện Ủy Chơn Thành, các phòng ban chuyên môn đã giúp đỡtôi trong quá trình thu thập nguồn tư liệu nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Trang 3A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội ở Việt Nam và theo xuhướng chung của thế giới, vấn đề về tôn giáo cũng có những bước phát triểnmới phù hợp với tình hình mới hiện nay Ở Việt Nam, sự tồn tại và phát triểncủa tôn giáo gắn với những thời kì lịch sử khác nhau, tuy nhiên vấn đề tự dotín ngưỡng tôn giáo vẫn luôn là chính sách nhất quán của Đảng và nhà nướcViệt Nam trong suốt thời gian từ sau ngày 2 tháng 9 năm 1945
Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ xâm lược,
kẻ thù luôn lợi dụng vấn đề tôn giáo tín ngưỡng để lôi kéo, kích động nhằmchống phá cách mạng Ngay cả khi đất nước giành lại độc lập thống nhất saunăm 1975 thì các thế lực thù địch vẫn luôn lợi dụng vấn đề tôn giáo đểchống phá cách mạng Việt Nam Do đó việc quản lí nhà nước về tôn giáohết sức quan trọng nhằm vừa đảm bảo tự do tín ngưỡng tôn giáo của một bộphận nhân dân vừa đảm bảo được an ninh quốc gia dân tộc
Tuy nhiên, ở Việt Nam nhìn một cách tổng thể, đời sống tôn giáo củamột bộ phận nhân dân vẫn diễn ra một cách sôi động và nó hòa quyện với tínngưỡng truyền thống của dân tộc làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinhthần cho một bộ phận nhân dân
Chơn Thành là tên gọi của đất làng đất tổng thời xưa, hiện nay là mộthuyện đang trong quá trình phát triển mạnh của tỉnh Bình Phước Từ năm
1975 đến nay, trải qua nhiều lần chia tách, thay đổi địa giới hành chính, đếnnăm 2003 Chơn Thành trở về với tên gọi của địa giới hành chính huyện Trảiqua những bước thăng trầm, những biến động của đất nước đời sống vật chất
Trang 4và tinh thần của người nhân dân trong huyện từng bước được nâng lên rõ rệtđặc biệt là từ sau ngày tái lập huyện năm 2003 đến nay.
Kể từ sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nướcnhân dân Chơn Thành cùng với cả nước bắt tay vào khắc phục hậu quả chiếntranh và xây dựng quê hương giàu đẹp Cùng với sự nỗ lực của chính quyềnđịa phương và toàn thể nhân dân trong huyện, đời sống người dân khôngngừng đựơc nâng cao
Là huyện có nhiều dân tộc, nhiều thành phần dân cư đến tụ cư và làm
ăn sinh sống qua nhiều thế hệ khác khau do vậy đời sống văn hóa của nhândân huyện Chơn Thành hết sức phong phú và đa dạng Trong đó đời sốngtôn giáo của nhân dân huyện sau ngày giải phóng đến nay đã có những bướcphát triển mới thể hiện rõ đường lối chính sách tự do tín ngưỡng tôn giáocủa Đảng và nhà nước Việt Nam từ khi đất nước giải phóng, thống nhất lãnhthổ đến nay
Nghiên cứu về lịch sử đời sống tôn giáo huyện Chơn Thành từ saungày giải phóng đến nay giúp chúng ta có cái nhìn toàn cảnh về thực tiễnmột mảng đời sống tinh thần đang có xu hướng phát triển phong phú và đadạng hơn ở Chơn Thành đồng thời rút ra được những bài học, để từ đó giúp
cơ quan quản lí nhà nước về tôn giáo có những chính sách phù hợp hơntrong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo
Là một lĩnh vực tương đối mới mẻ, trải qua một chặng đường lịch sử
từ năm 1975 đến 2015 với nhiều lần thay đổi địa giới hành chính cũng nhưcác chính sách về tôn giáo, đời sống tôn giáo của nhân dân huyện ChơnThành bên cạnh những điểm chung vẫn có những đặc điểm riêng biệt, đặcthù phù hợp với tình hình thực tế của địa phương Chính vì vậy tôi quyếtđịnh chọn đề tài: “ Đời sống tôn giáo của nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh
Trang 5Bình Phước từ năm 1975 đến 2015” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mìnhvới hi vọng có một cái nhìn tổng quát, đa chiều về đời sống tôn giáo củanhân dân huyện Chơn Thành trong 40 năm sau giải phóng, thấy được nhữngảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân từ đóphục dựng lại đời sống tôn giáo sinh động trong một bộ phận nhân dânhuyện Chơn Thành Qua đó tác giả muốn có thêm một vài đánh giá, nhận xét
để thấy được những ưu nhược điểm giúp cơ quan quản lí nhà nước về tôngiáo có cái nhìn khách quan, khoa học hơn trong việc hoạch định các chínhsách về tự do tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu vấn đề đời sống tôn giáo tại huyện Chơn Thành - mộthuyện mới được tái lập địa giới hành chính hơn 10 năm nay là một phạm vinghiên cứu hết sức mới mẻ, đặc biệt thời gian nghiên cứu của tác giả từ năm
1975 đến năm 2015 khi mà địa giới hành chính trong một thời kì dài cùngnằm trong địa giới hành chính của huyện Bình Long cũ Do đó việc nghiêncứu lịch sử đời sống tôn giáo của nhân dân huyện Chơn Thành từ năm 1975đến 2015 hầu như chưa được ai nghiên cứu Trong một số bài viết chúng ta
có thể bắt gặp những nghiên cứu về đời sống tôn giáo, tín ngưỡng ở ViệtNam hay trên địa bàn tỉnh Bình Phước và miền Đông Nam bộ trong đó có
thể kể đến một số công trình chuyên luận, chuyên khảo như Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, 2012) của
Đặng Nghiêm Vạn đã mổ xẻ, làm rõ đặc điểm và vai trò của tôn giáo ViệtNam trong đời sống hiện nay, đặc biệt là đời sống văn hóa khi đất nước đangbước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hộinhập quốc tế toàn cầu Trong đó tác giả nhấn mạnh quá trình đổi mới vàhoàn thiện chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam từ sau cách mạng Tháng
Trang 6Tám (1945) đến Đại hội lần thứ XI của Đảng (tháng 1- 2011).trong cuốn
sách Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với đời sống con người Việt Nam hiện nay của Nguyễn Tài Thư (Nxb Chính trị quốc gia, 1997) đã
trình bày một cách có hệ thống về giáo lý, giáo luật, hệ tư tưởng tôn giáo,các giá trị đạo đức văn hóa tốt đẹp của tôn giáo phù hợp với đạo đức xã hội
Từ đó cho thấy vai trò và ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống xã hội
Bàn về tôn giáo và chính sách tôn giáo cần phải kể đến công trình Tôn giáo
và chính sách tôn giáo ở Việt Nam của Ban Tôn giáo Chính phủ (Nxb Tôn
giáo, 2006) Đây là tác phẩm trình bày khá toàn diện về đặc điểm tình hìnhđời sống tín ngưỡng, các tôn giáo ở Việt Nam và những chủ trương, chínhsách của Đảng, Nhà nước đối với tín ngưỡng, tôn giáo Công trình này cũng
có những đánh giá về hoạt động tôn giáo, mối quan hệ quốc tế của các tổchức tôn giáo; kết quả việc thực hiện chính sách và pháp luật Nhà nước ViệtNam đối với tín ngưỡng, tôn giáo Tuy nhiên, cuốn sách mới chỉ dừng lại ởgóc độ quản lý Nhà nước về tôn giáo, chưa tiếp cận đến các góc độ khác củacông tác tôn giáo như công tác vận động quần chúng, các hoạt động đấutranh chống lợi dụng tôn giáo Cũng nói về tôn giáo và chính sách tôn giáo
cần phải kể đến công trình Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam của
Ban Tôn giáo Chính phủ (Nxb Tôn giáo, 2006) Đây là tác phẩm trình bàykhá toàn diện về đặc điểm tình hình đời sống tín ngưỡng, các tôn giáo ở ViệtNam và những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với tín
ngưỡng, tôn giáo Đề tài Sự phát triển đạo Tin lành trong đồng bào dân tộc S’tiêng ở Sông Bé - thực trạng và giải pháp của Công an tỉnh Sông Bé Đây
là Đề tài cấp tỉnh do phòng PA 38 – Công an tỉnh làm chủ nhiệm, công trình
đã làm rõ quá trình du nhập đạo Tin Lành vào tỉnh Bình Phước (tỉnh Sông
Bé cũ) Đối với vấn đề tôn giáo ở Bình Phước, ngoài một số chuyên luận,chuyên khảo đề cập đến, cho đến nay đã có 2 luận văn thạc sĩ nghiên cứu về
Trang 7vấn đề này Một là, Luận văn Triết học Ảnh hưởng của đạo Tin lành trong đời sống đồng bào dân tộc S’Tiêng ở Bình Phước của Đoàn Văn Thanh, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2009) Công trình này tập trungnghiên cứu về những ảnh hưởng của đạo Tin lành trên các lĩnh vực đời sốngcủa đồng bào dân tộc S’Tiêng, từ đó tác giả luận văn đưa ra nhóm giải pháp
để phát huy những mặt tích cực và khắc phục hạn chế, tiêu cực của đạo Tin
Lành đối với đời sống xã hội Hai là, Luận văn Thạc sĩ Triết học Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước của Trần Thương Huyền, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh (2009) tập trung nghiên cứu lĩnh vực quản lý Nhà nước về tôn giáo.Luận văn đã làm rõ quá trình, tổ chức thực hiện và kết quả đạt được củacông tác quản lý Nhà nước về tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số
tỉnh Bình Phước Trong cuốn Dư Địa chí tỉnh Bình Phước – tập II cũng đã
khái quát được các giai đoạn phát triển của các tôn giáo chủ yếu ở BìnhPhước
Như vậy, các công trình này mới chỉ nghiên cứu ở một vài khía cạnhriêng lẻ liên quan đến tôn giáo và công tác tôn giáo trên phạm vi toàn tỉnh,đặc biệt các công trình chú trọng nhiều đến việc tìm hiểu chủ trương chínhsách của Đảng và tác động của nó đối với vấn đề tồn giáo Có thể thấy mặc
dù đã có nhiều công trình nghiên cứu hoặc đề cập đến vấn đề tôn giáo trênđịa bàn tỉnh Bình Phước nhưng chưa có một công trình nào tìm hiểu sâu vềđời sống các tôn giáo của nhân dân ở huyện Chơn Thành từ năm 1975 đến
2015 Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những thành quả khoa học của các côngtrình khoa học trên tác giả sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện
và hệ thống về đời sống tôn giáo của nhân dân huyện Chơn Thành từ sau
Trang 8ngày đất nước được hòa bình thống nhất 30 tháng 4 năm 1975 đến năm2015.
3 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Qua đề tài này, tác giả muốn làm rõ những tác động, ảnh hưởng đếnđời sống tôn giáo của nhân dân huyện Chơn Thành, quá trình ra đời và pháttriển của các tôn giáo, cũng như sự phát triển phong phú, đa dạng vừa có nétchung vừa có nét đặc thù của tôn giáo trên địa bàn Chơn Thành, qua đó thấyđược những đóng góp của nó đối với đời sống vật chất và tin thần của một
bộ phận nhân dân
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Qua cái nhìn tổng thể, khách quan, đa chiều về thực trạng đời sốngtôn giáo tín ngưỡng của nhân dân huyện Chơn Thành từ năm 1975 đến nay,tác giả mong muốn thấy được những đóng góp của tôn giáo trong lĩnh vựcđáp ứng một phần nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo của một bộ phận nhân dântrong huyện và rút ra những nhận xét nhằm đánh giá một cách khách quan
về tình hình phát triển của tôn giáo trong giai đoạn này Qua đó cơ quan nhànước có thẩm quyền có thể đưa ra giải pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt côngtác quản lí nhà nước về tôn giáo như luật pháp Việt Nam quy định
3.3 Phạm vi nghiên cứu
3.3.1 Không gian nghiên cứu
Do địa giới hành chính của huyện Chơn Thành có nhiều lần chia tách,sát nhập nên trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu trong phạm
vi địa giới hành chính của huyện Chơn Thành vào năm 2015
Trang 93.3.2 Thời gian nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu đời sống tôn giáo huyện Chơn Thành trongkhoảng thời gian 40 năm từ năm 1975 đến năm 2015
4.Nguồn tài liệu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên những nguồn tài liệu sau đây:Nguồn tài liệu gốc: là các báo cáo về tình hình tôn giáo tín ngưỡngcủa UBND huyện Chơn Thành, UBND huyện Bình Long được lưu trữ tạicác cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở huyện Chơn Thành và tỉnh BìnhPhước qua các năm
Sử liệu địa phương: các tác phẩm lịch sử đảng bộ huyện Chơn Thành
và huyện Bình Long, lịch sử đảng bộ tỉnh Bình Phước, lịch sử Bình Phước,
Dư địa chí Bình Phước …
Các văn kiện đại hội Đảng toàn quốc, văn kiện Đaii hội Đảng bộ tỉnhBình Phước và văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Chơn Thành và huyện BìnhLong qua các thời kì
Các tác phẩm thông sử và chuyên khảo đề cập đến đời sống tôn giáo ở
huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước như Lịch sử Bình Phước, Dư địa chí tỉnh Bình Phước
Các tác phẩm lí luận nghiên cứu về tôn giáo trên thế giới cũng như ởViệt Nam: Về các giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam của TrườngChinh
Các chủ trương, chính sách, chỉ thị, pháp lệnh của nhà nước Việt Nam
về vấn đề tôn giáo
Trang 10Ngoài ra tác giả còn tiếp cận nguồn học liệu để nghiên cứu khi đikhảo sát thực tế tại các chùa chiền, nhà thờ và gặp gỡ các chức sắc, tăng ni,nhân dân để thu thập tài liệu Tìm hiểu các thư tịch cổ ở địa phương đượclưu giữ trong chùa chiền, nhà thờ …
5 Phương pháp nghiên cứu
Với đối tượng và phạm vi được xác định như trên, để giải quyếtnhững vấn đề do đề tài luận văn đặt ra, về mặt phương pháp luận chúng tôidựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng và đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch
sử cùng với những lý luận của nhà nước và quan điểm của Đảng về tôn giáo
Từ đó xử lý những nguồn tài liệu và tiếp cận với quan điểm của các nhànghiên cứu văn hóa, tôn giáo
Đây là một đề tài lịch sử nên phương pháp lịch sử và phương pháplogic được đặc biệt coi trọng Luận văn dựa trên cơ sở những tài liệu lịch sử,những sự kiện lịch sử có thật để phân tích, xử lý, hệ thống hoá, khái quát hoávấn đề
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như: phươngpháp đối chiếu so sánh phương pháp thống kê, phương pháp điền dã, khảosát thực tế và giám định các nguồn tư liệu một cách khách quan, chính xácnhất… nhằm hỗ trợ cho hai phương pháp chủ yếu trên
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này tác giả đặt nó trong mối quan
hệ giữa huyện Chơn Thành với tỉnh Bình Phước cũng như với tổng thể tìnhhình tôn giáo ở Việt Nam để rút ra được cái nhìn tổng thể toàn diện vềnhững nét đặc trưng của tôn giáo huyện Chơn thành trong cái chung của tỉnhBình Phước và của Việt Nam
6 Đóng góp của luận văn
Trang 11Trên cơ sở những tài liệu tiếp cận được, luận văn cố gắng khôi phụclại một cách chân thực quá trình vận động của một lĩnh vực đời sống vănhóa tinh thần của nhân dân huyện Chơn Thành trong một giai đoạn 40 nămsau ngày đất nước được giải phóng và thống nhất đó là lĩnh vực tôn giáo.
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện vềđời sống tôn giáo của nhân dân huyện Chơn Thành từ đó thấy được néttương đồng trong tín ngưỡng tôn giáo ở Chơn Thành với các địa phươngkhác cũng như nét đặc trưng về sự đa dạng trong đời sống tôn giáo ở ChơnThành
Thông qua công trình này tác giả muốn góp một phần công sức nhỏ bétrong việc nhìn nhận một cách khách quan về những đóng góp cũng như hạnchế vấn đề ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống nhân dân trong 40 nămsau ngày đất nước giải phóng ở huyện Chơn Thành, thấy được sự tác độngqua lại giữa tôn giáo và tín ngưỡng truyền thống của văn hóa dân tộc để từ
đó các nhà quản quản lí Tôn giáo có được một cái nhìn khách quan hơn về
sự tồn tại và phát triển của tôn giáo nhằm đưa ra những kiến nghị giải pháptrong công tác quản lí nhà nước về tôn giáo phù hợp với pháp luật Việt Nam
về vấn đề tự do tín ngưỡng tôn giáo mà Đảng và Nhà nước đã quy định Đềtài: đời sống tôn giáo của nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước từnăm 1975 đến năm 2015 được chia làm ba chương với kết cấu nội dung nhưsau:
Chương 1 PHẬT GIÁO
1.1Các yếu tố tác động đến quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Trang 121.1.1.2 Khí hậu, thổ nhưỡng
1.1.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và dân cư
1.1.2.1 Kinh Tế
1.1.2.2 Văn hóa, xã hội, dân cư
1.1.3 Chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước Việt Nam
về Phật giáo
1.2 Sơ lược các giai đoạn phát triển của phật giáo
1.2.1 Trước năm 1954
1.2.2 Từ năm 1954 đến năm 1975
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến 2015
1.3 Phật giáo huyện Chơn Thành từ năm 1975 đến 2015
1.3.1 Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống của nhân dân
1.3.1.1 Đời sống vật chất
1.3.1.1.1 Kiến trúc điêu khắc
1.3.1.1.2 Sinh hoạt hàng ngày
1.3.1.1.3 Các hoạt động xã hội từ thiện
Trang 13Chương 2 CÔNG GIÁO
2.1 Những điều kiện ảnh hưởng đến sự phát triển Công giáo ở Chơn Thành2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử
2.1.2 Điều kiện kinh tế - Xã hội
2.1.3 Chính sách của Đảng và Pháp luật của nhà nước Việt Nam
2.2 Sơ lược các giai đoạn phát triển của Công giáo
2.2.1 Giai đoạn trước năm 1954
2.2.2 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975
2.2.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến 2015
2.3 Ảnh hưởng của Công giáo đến đời sống của nhân dân huyện ChơnThành
3.1 Đạo Tin lành
3.1.1 Sự phát triển của đạo tin lành từ năm 1975 đến 2015
Trang 143.1.1.1 Nguyên nhân
3.1.1.1.1 Chủ trương, đường lối chính sách Đảng và Nhà nước Việt Nam
3.1.1.1.2 Tôn chỉ, mục đích của đạo Tin Lành
3.1.1.1.3 Điều kiện về kinh tế, xã hội
3.1.1.2 Sự phát triển của đạo Tin lành từ năm 1975 đến năm 2015
3.1.2 Ảnh hưởng của đạo Tin lành đến đời sống
3.2 Đạo Cao đài
3.2.1 Sơ lược về đạo Cao đài
3.2.1 Quá trình xuất hiện và phát triển của đạo Cao đài ở Chơn Thành
Trang 15Chương 1 PHẬT GIÁO 1.1Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống Phật giáo
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Cũng như một số vùng đất khác của miền Đông Nam bộ, Chơn Thành
là một vùng đất mới được sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam từ dưới thời cácvua chúa nhà Nguyễn “Đây là đất làng, đất tổng từ thế kỉ XIX, trải qua cácthời kì lịch sử, địa giới hành chính Chơn Thành được thay đổi, chia tách,nhập nhiều lần”[7-7] Mãi tới năm 2003 Chính phủ ban hành nghị định số17/2003/NĐ-CP ngày 20 tháng 2 năm 2003 thì huyện Chơn Thành mới đượcthành lập được tách ra từ huyện Bình Long và trở thành một trong 8 huyệnthị của tỉnh Bình Phước lúc bấy giờ
Hiện nay, địa giới hành chính huyện Chơn Thành nằm ở phía tây củatỉnh Bình Phước, phía bắc giáp với huyện Hớn Quản, phái nam giáp vớihuyện Bàu Bàng và huyện Phú Giáo của tỉnh Bình Dương, phía đông giápgiáp huyện Đồng Phú và thị xã Đồng Xoài, phía tây giáp huyện Dầu Tiếngcủa tỉnh Bình Dương “ Chơn Thành án ngữ phía Nam Tây Nguyên và ĐôngBắc Sài Gòn, nơi có hai quốc lộ 13 và 14, những đường giao thông quantrọng của vùng kinh tế trọng điểm phía nam chạy qua và giao nhau ở trungtâm thị trấn của huyện Hai quốc lộ này chạy gần như qua tất cả các xã tronghuyện, đồng thời là những huyết mạch nối liền các tỉnh biên giới miền ĐôngNam Bộ, Tây Nguyên và Thành phố Hồ Chí Minh”[7,tr15] Chính vị trí địa
lí quan trọng như vậy nên vùng đất Chơn Thành cũng được khai phá từ khásớm Tương truyền trong một lần tình cờ chạy loạn, Nguyễn Ánh đã đượcnhân dân ở đây che chở, đùm bọc do đó sau khi lên ngôi trở thành vua đầu
Trang 16triều Nguyễn, nhớ lại công ơn của nhân dân ở đây ông đã ban cho vùng đấtnày tên là Chân Thành và lâu ngày người dân địa phương đọc trệch thànhChơn Thành Tên gọi Chơn Thành bắt đầu từ đó
Là cửa ngõ giao thông hết sức quan trọng của tỉnh Bình Phước, nơigiao nhau của hai quốc lộ 14 lên hướng các tỉnh Tây Nguyên và quốc lộ 13theo hướng từ trung tâm Thành Phố Hồ Chí Minh, do đó việc giao lưu vàtiếp xúc văn hóa trong đó có việc truyền bá Phật Giáo tương đối sớm tại khuvực này Sự truyền bá của các tôn giáo diễn ra trong bối cảnh lịch sử khácnhau chủ yếu do hoàn cảnh lịch sử trong các thời kì tác động lớn đến các đợt
di dân về tụ cư tại đây
Vị trí địa lí hết sức quan trọng nên huyện Chơn Thành trong hai cuộckháng chiến chống Pháp và chống Mĩ đều là nơi tranh chấp quyết liệt giữa ta
và địch Là nơi tạm chiến của địch đồng thời lại là khu hậu phương tronglòng địch của ta Do đó trong khoảng thời gian này, quân và dân ChơnThành đã tạo nên được những thắng lợi hào hùng góp phần vào thắng lợichung của lịch sử dân tộc
Trong công cuộc xây dựng đất nước, Chơn Thành đang là nơi có tốc
độ phát triển kinh tế cao, tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 14,3%[48] Quátrình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, nhiều khu công nghiệp và dự án trọngđiểm đã ra đời như khu công nghiệp Minh Hưng, Khu công nghiệp ChơnThành 1 và khu công nghiệp Chơn Thành 2, dự án Khu liên hợp côngnghiệp và đô thị Becamex - Bình Phước… Điều này không chỉ thúc đẩy sựphát triển kinh tế xã hội mà còn góp phần làm thay đổi cơ cấu dân cư tronghuyện vì nó thu hút nguồn lực lao động từ các vùng miền khác đến đây thamgia lao động sản xuất để phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1.2 Khí hậu, thổ nhưỡng
Trang 17Chơn Thành nằm ở vùng trung du của tỉnh Bình Phước, nằm trongvùng nhiệt đới gió mùa đặc trưng của miền Đông Nam Bộ với hai mùa mưa
và mùa khô rõ rệt Điều kiện khí hậu ở đây thích hợp cho việc sản xuất nôngnghiệp của cư dân bản địa từ xa xưa Mùa mưa ở đây diễn ra từ tháng 5 đếntháng 10 và mùa khô lại bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, sự thayđổi về nhiệt độ cũng như về phân bố lượng nước cũng tác động không nhỏđến cốt cách của người dân Chơn Thành qua các thời kì lịch sử
Hiện nay, “diện tích tự nhiên của huyện là 389,83 km2 Là huyệntrung du, địa hình Chơn Thành thoai thoải, độ cao trung bình từ 50 đến 55m.Vùng đất đỏ bazan ở phía Đông Bắc, vùng tiếp giáp với địa hình đồi núilượn sóng của huyện Hớn Quản có độ cao 70m Còn lại là vùng đất xámphát triển trên phù sa cổ có địa hình thấp, độ cao so với mực nước biểnkhoảng 50m, thấp nhất là 45m Đất xám chiếm hơn 87% diện tích, đất đỏ10%, đất dốc tụ và đất sông suối ao hồ chiếm phần còn lại”[41] Do vậyChơn Thành là vùng đất thích hợp nhất cho việc phát triển các cây côngnghiệp lâu năm như cao su, tiêu, điều …Nhìn chung, khí hậu ở Chơn Thànhtương đối ổn định, mát mẻ, trong lành
1.1.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và dân cư
1.1.2.1 Kinh Tế
Suốt một thời kì dài, người dân nơi đây vẫn canh tác nông nghiệp làchủ yếu Đầu thế kỉ XIX người dân bản địa ở đây chủ yếu là người đồng bàodân tộc Stiêng và người Khơ me đã định cư sinh sống, nghề lúa nước trongnương rẫy vẫn phát triển khá mạnh, bên cạnh đó cư dân ở đây còn săn bắt,chăn nuôi để phát triển kinh tế Trong thời kì thực dân Pháp xâm lược, nhậnthấy khí hậu, đất đai phù hợp với trồng cây lâu năm, thực dân Pháp đã đầu tư
Trang 18để trồng cây cao su và thành lập các đồn điền ở tỉnh Bình Phước trong đó cóChơn Thành
Sau năm 1975 khi đất nước được giải phóng và thống nhất, nhân dânChơn Thành cùng với cả nước bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, khắcphục hậu quả của chiến tranh gây ra Trong 10 năm đầu tình kinh tế - xã hộitrong huyện cũng như trong cả nước lâm vào khủng hoảng do đó đời sốngcủa nhân dân Chơn Thành cũng gặp không ít khó khăn
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) với đường lối đổimới của Đảng, nhân dân Chơn Thành đã và đang nỗ lực phấn đấu xây dựnghuyện Chơn Thành giàu mạnh, văn minh Hiện nay, Chơn Thành là mộttrong những huyện có tốc độ đô thị hóa cao nhất tỉnh Bình Phước, nhiều khucông nghiệp đã hình thành, nhiều vùng quy hoạch để phát triển kinh tế đãđược xác định, cơ cấu ngành kinh tế ngày càng đa dạng Sự phát triển năngđộng của huyện Chơn Thành đã thu hút nhiều nguồn đầu tư trong và ngoàinước
Sự thay đổi đời sống kinh tế cũng gắn với những bước thăng trầmtrong đời sống dân cư của một bộ phận theo các tôn giáo trong huyện Đặcbiệt khi mà những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường làm cho khoảngcách giảu nghèo, bất bình đẳng trong xã hội có xu hướng gia tăng, khi màmột bộ phận dân cư vẫn chưa tìm được cuộc sống như mong muốn… họthường tìm đến với niềm tin tôn giáo như một quy luật tất yếu khách quan,khi đã hình thành niềm tin tôn giáo, cùng với sự phát triển kinh tế thì sự hoạtđộng của tôn giáo cũng ngày càng có quy cũ và có chiều hướng phát triểnhòa cùng với văn hóa dân tộc “Công cuộc đổi mới đã đem lại những thayđổi lớn lao, làm cho xã hội chúng ta có một vị trí khác hẳn trong lịch sử dântộc Những thay đổi đó bỗng cho chúng ta quyền lực và sự hiểu biết không
Trang 19ngờ tới Tuy nhiên không phải là không có những bất an của cuộc đời Conngười vẫn phải đối diện với những thách thức mới: Không thành đạt trên conđường kinh doanh, sự nghiệp Không hạnh phúc trong đời sống gia đình, vấn
đề sống, chết, bệnh tật, v.v Và thế là họ lại tìm đến cửa chùa Triết lí nhàChùa như một thức ăn tinh thần, an ủi họ, tiếp thêm sức mạnh tâm linh đểtrở về đời sống thực, vượt qua những khó khăn trong cuộc đời”[11-38]
1.1.2.2 Văn hóa, xã hội, dân cư
Phải nói rằng đời sống văn hóa của nhân dân huyện Chơn Thành hếtsức phong phú và đa dạng Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khácnhau tuy nhiên nguyên nhân chính là do các đợt di dân lớn gắn với nhữngbiến cố trong lịch sử dân tộc Người dân khắp mọi nơi tụ cư về đây mangtheo những nét văn hóa bản địa của họ đến vùng đất mới để làm ăn sinhsống
Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX trên vùng đất Chơn Thành đã cónhững lớp cư dân đến đây tụ cư sinh sống, cư dân ở đây gồm có người Việt,người Hoa đến đây khai phá vùng đất mới và cư dân bản địa gồm ngườiXtiêng, Khơ me Họ sống và đùm bọc lẫn nhau, giúp nhau trong khó khănhoạn nạn Họ luôn biết ơn, kính trọng những người có công khai phá hayngười hiền tài, có nghĩa dũng, tạo dựng xóm làng, bởi thế từ rất sớm ở đây
đã có đền Hưng Long để thờ Thần Hoàng và những người có công với làngvới nước Mỗi bộ phận dân cư đến đây đều có sự đóng góp không nhỏ vàođời sống văn hóa địa phương, họ mang theo những nét tín ngưỡng, tôn giáocũng như văn hóa truyền thống của mình đến đây đã làm cho đời sống vănhóa ở Chơn Thành thêm đa dạng và phong phú
Mặt khác trên mảnh đất Chơn Thành từ lâu đã hình thành nên cộngđộng người Khơme và người Xtiêng đến đây khai phá, làm ăn sinh sống khá
Trang 20sớm Những lớp cư dân bản địa này đã hình thành nên một nét văn hóatruyền thống đặc sắc của dân tộc mình qua năm tháng Họ sống tập trungtrong các ấp, sóc, đời sống kinh tế của người Khơme và Xtiêng chủ yếu sảnxuất nông nghiệp, phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên, do vậy cuộc sốngcòn gặp nhiều khó khăn Điều này tạo điều kiện cho các tôn giáo dễ dàngxâm nhập vào khu vực dân cư này để truyền bá giáo lí trong đó có PhậtGiáo.
Khi thực dân Pháp hoàn thành xâm lược Việt Nam, chúng tiến hànhcướp đoạt ruộng đất và thành lập các đồn điền, trong đó ở Chơn Thành chủyếu là đồn điền cao su Khu vực Chơn Thành khi đó có đồn điền Xa Trạch,đến năm 1908 công ty cao su Đất Đỏ ra ra đời gồm nhiều đồn điền và diệntích đất trên địa bàn huyện Chơn Thành Song song với quá trình cướp đoạtruộng đất xây dựng các đồn điền, thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn để tuyển
mộ, lừa bịp nhân dân lao động các tỉnh miền bắc và miền trung vào làmcông nhân trong các đồn điền của chúng Và dĩ nhiên trong những lớp người
di cư đó vẫn có những người theo đạo Phật
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ sau năm 1954, do sự lừa bịp của
Mĩ và chính quyền tay sai, nhiều đồng bào theo các tôn giáo khác nhau đãkéo nhau vào miền Nam và được chính quyền đưa đến Chơn Thành để lậpnghiệp
Sau ngày đất nước được giải phóng 30 tháng 4 năm 1975, nhiều cán
bộ, Đảng viên, bộ đội đã tự nguyện ở lại vùng đất Chơn Thành làm ăn, sinhsống Mặt khác cư dân nhiều tỉnh thành trong cả nước đã tự nguyện đến đâyxây dựng vùng kinh tế mới xây dựng vùng đất Chơn Thành ngày càng giàuđẹp “Sau giải phóng, dân số trong huyện tăng nhanh Ngoài số dân hồihương còn có nhân viên, binh lính chế độ cũ tan rã tại chỗ với số lượng lên
Trang 21tới 12.000 người Từ cuối năm 1975, hàng ngàn người từ Thành phố Hồ ChíMinh và các tỉnh khác đến Chơn Thành lập nghiệp, xây dựng kinh tế mới vàmột số Việt kiều từ Campuchia quay trở về nước sinh sống”[8,tr804]
Đặc biệt cùng với tốc độ đô thị hóa hiện nay, Nhiều khu công nghiệpmọc lên trên địa bàn huyện, cùng với đó là lực lượng lao động từ các tỉnh đổ
về đây làm ăn sinh sống số lượng dân cư trong những năm gần đây tăng lênnhanh chóng phản ánh quá trình phát triển và hội nhập của huyện ChơnThành đồng thời cũng dần định hình nên những bản sắc văn hóa trong đờisống tinh thần của nhân dân huyện Chơn Thành so với các khu vực khác
Mỗi đợt dân cư đến tụ cư, cộng với những nét bản sắc văn hóa, tínngưỡng tôn giáo đã hình thành từ trước càng làm cho đời sống tôn giáo ởChơn Thành thêm tính đa dạng, phong phú hơn trong thời kì mới
Ở đây, mỗi cộng đồng dân cư hầu như đã không tách rời nhau nữa màngày càng cố kết chặt chẽ với nhau trên phạm vi không gian sinh sống củahuyện Chơn Thành, Bên cạnh đó những vùng tập trung đông dân cư các dântộc ít người ngày xưa còn sống theo những tập quán với những nét văn hóacòn mang yếu tố bản địa tương đối cao tuy nhiên, hiện nay với tốc độ đô thịhóa, tốc độ phát triên của công nghệ thông tin cũng như sự tiếp xúc với một
số tồn giáo bên ngoài đã làm mai một dần các yếu tố văn hóa bản địa Dovậy, chính quyền địa phương đang kêu gọi phục dựng lại những nét văn hóatruyền thống của đồng bào dân tộc trên địa bản huyện mà ở đây chủ yếu làngười Stiêng và người Khơme
Về thành phần dân cư theo thống kê của huyện Chơn Thành năm 2012thì dân số toàn huyện có khoảng 68,818 người.[ 43]Cộng đồng dân cư trênđịa bàn huyện Chơn Thành gồm 12 dân tộc anh em như: Kinh, XTiêng,Khơme, Tàmun, Châu Ro, Hoa… trong đó các dân tộc thiểu số chiếm
Trang 22khoảng hơn 9,8% dân số Thành phần dân tộc nhiều nhất và định cư lâu đờinhất là người Stiêng và người Khơ – me.
1.1.3 Chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước Việt Nam về Phật giáo
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 do đất nước đang trong quá trình táithiết sau chiến tranh, nhiều công việc ngổn ngang trong việc xây dựng chínhquyền cách mạng Do những yếu tố lịch sử để lại, vấn đề tôn giáo ở huyệnChơn Thành sau ngày giải phóng còn hoạt động khá hạn chế, sự nghi kị giữachính quyền cách mạng và những bộ phận tôn giáo bị đế quốc tay sai trướcnăm 1975 mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo nhằm chống lại cách mạng Chính vìvậy hoạt động của các tôn giáo trên địa bàn sau ngày giải phóng bị kiểm soátchặt chẽ từ chính quyền cách mạng nhằm đảm bảo tình hình an ninh trật tự
xã hội trong tình hình mới
Suốt chặng đường dài lịch sử kể từ ngày Đảng Cộng Sản Việt Nam rađời, Đảng ta luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân,coi đó là nhu cầu tinh thần chính đáng của họ Thực hiện nhất quán chínhsách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, hoặc không theotôn giáo của nhân dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật.Giúp đỡ các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật Điều nàyđược thể hiện khá rõ trong tất cả các văn kiện của các lần Đại Hội của Đảng
từ ngày thành lập đến Đại hội Đảng lần thứ XII tháng 1 năm 2016
Tuy nhiên, nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề tôn giáo, mỗi thời kìlịch sử, Đảng và nhà nước đã có những chủ trương chính sách nhằm đảmbảo cho các hoạt động tôn giáo diễn ra như một nhu cầu sinh hoạt tinh thầncủa nhân dân trong đời sống văn hóa
Trang 23Năm 1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã đề rađường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước Sau Đại hội, Ban Bí thưban hành Chỉ thị 09-CT/TW, hướng dẫn triển khai đồng bộ các mặt công tác,giúp các tôn giáo ở miền Nam xây dựng lại tổ chức, chấn chỉnh hoạt động,vận động tín đồ tuân thủ pháp luật, chuẩn bị cho việc thống nhất các tổ chứctôn giáo trong cả nước Từ đấy các tổ chức tôn giáo chung trong phạm vi cảnước ra đời như: Hội đồng Giám mục Công giáo (ra đời năm 1980), Giáohội Phật giáo (năm 1981), Uỷ Ban Đoàn kết Công giáo (năm 1983) Trongthời gian này, các Giáo hội Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Hoà Hảo ở miềnNam đã được Đảng và Nhà nước vận động cùng nhau đoàn kết xây dựng đấtnước sống “tốt đời đẹp đạo”
Phát huy hiệu lực của Nhà nước thống nhất, năm 1977, Hội đồngChính phủ ban hành Nghị quyết 297-CP về một số chính sách đối với tôngiáo Từ đây các tôn giáo hai miền Nam Bắc đều được quản lý thống nhấttheo một văn bản pháp lý chung cho cả nước Nghị quyết 297 (nay gọi làNghị định) là khung pháp lý duy nhất để điều chỉnh các hoạt động tôn giáotrong suốt 14 năm liên tục (1977 - 1991) Năm nguyên tắc trong Nghị quyết
đã trở thành 5 nguyên tắc cơ bản trong chính sách tôn giáo thời kỳ này
Thông tri 139 ngày 30 tháng 9 năm 1981 của Ban Chấp hành Trungương Đảng nêu rõ: “Để phù hợp với tình hình đất nước thống nhất, đáp ứngnguyện vọng của quần chúng Phật tử, tăng ni nhiều hệ phái và để tập hợpcác lực lượng Phật giáo, nhất là ở Miền Nam, trong một tổ chức duy nhấthoạt động yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội theo đường lối của Đảng”[3]
Năm 1986, Đại hội VI mở đầu sự nghiệp đổi mới đất nước Đại hộicũng gợi ra cách tiếp cận mới về công tác tôn giáo: “Trong việc phát huyyếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của
Trang 24mọi hoạt động, cần có kế hoạch chủ động xây dựng cơ cấu giai cấp cho xãhội mới, cụ thể hoá và thực hiện đúng chính sách dân tộc và chính sách tự do
tín ngưỡng”[44]
Ngoài ra nhà nước còn tạo mọi điều kiện để Giáo Hội phật giáo ViệtNam xây dựng bộ máy hành chính đạo khắp các địa phương, ở Chơn Thànhgiáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Chơn Thành cũng đã được thành lập trên
cơ sở tách ra từ giáo hội phật giáo huyện Bình Long cũ Cứ 5 năm một lầnGiáo hội phật giáo Việt Nam huyện Chơn Thành đều tổ chức Đại hội đểtổng kết công tác của Giáo hội và đề ra phương hướng cho nhiệm kì tiếptheo đồng thời cũng bầu ra Ban trị sự để trong coi công tác Phật giáo tronghuyện
Bên cạch có các chủ trương chính sách để đảm bảo quyền tự do tínngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng Đảng và Nhà nước còn giúp đỡ Phậtgiáo xây dựng các cơ sở đào tạo Tăng tài và các cơ sở thờ tự Nếu như trướcnăm 1981 cả nước chỉ có một trường Tu học Phât pháp Trung ương thì đếnnay Phật giáo đã có hệ thống cơ sở đào tạo từ Trung ương đến cơ sở ở hầuhết các địa phương trong cả nước Ngoài ra nhà nước còn tạo điều kiện nhưcấp đất, cấp giấy phép xây dựng, huy động các nguồn kinh phí để xây dựngcác cơ sở thờ tự của Phật giáo do đó hệ thống chùa chiền trong cả nước tăngnhanh về số lượng nhằm phục vụ nhu cầu tâm linh của nhân dân trong cácdịp lễ hội Điều này không chỉ thể hiện nhu cầu ngày càng cao về tâm linhcủa nhân dân mà còn thể hiện chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước
đã có sự thông thoáng hơn
Trong thời kì đổi mới, nhất là từ năm 1990 đến năm 2015, đứng trướctình hình thế giới có nhiều thay đổi, tình hình kinh tế, xã hội trong nước đặt
ra yêu cầu nhiệm vụ mới cần giải quyết Đảng và nhà nước thấy cần thiết
Trang 25phải có sự đổi mới nhận thức về tôn giáo và chính sách tôn giáo Ngày 16tháng 10 năm 1990 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 24-NQ/BCT về tăngcường công tác tôn giáo trong tình hình mới; tiếp đó Chỉ thị số 37-CT/BCTngày 02 tháng 7 năm 1998 của Bộ Chính Trị về công tác tôn giáo trong tìnhhình mới, rồi đến Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo của Ủy Ban thường vụQuốc hội ngày 18 tháng 6 năm 2004; Nghị định số 22/NĐ-CP của chính phủngày 01 tháng 3 năm 2005 quy định chi tiết về thực hiện Pháp lệnh Tínngưỡng, tôn giáo,… Các văn bản này đã thể hiện được đường lối của Đảng
về Tôn giáo và đặc biệt mới đây nhất trong Hiến Pháp năm 2013 đã khẳngđịnh: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theomột tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật Nhà nước tôn
trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Không ai được xâm phạm
tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạmpháp luật.[4-18]
Đại hội IX của Đảng (2001) khẳng định lại những tư tưởng chủ đạo,
cơ bản, có nguyên tắc về quan điểm của Đảng đối với lĩnh vực tín ngưỡng,tôn giáo Ban chấp hành Trung ương (khoá IX) đã dành hội nghị chuyên đề(Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương) về tăng cường sự lãnhđạo của Đảng trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo Đó là cơ sở để xây dựngcác văn bản pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam
Ở Bình Phước trên cơ sở những chủ trương chính sách của Đảng vềtín ngưỡng, tôn giáo UBND tỉnh Bình Phước cũng đã ra quyết định51/2013/QĐ-UBND ngày 28 tháng 11 năm 2013 quy định rõ phân cấp quản
lí nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo trên địa bàn tỉnh.Theo đó các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo được nhà nước tôn trọng và bảo
hộ trên cơ sở pháp luật Việt Nam
Trang 26Nhận thấy tầm quan trọng của công tác tôn giáo, trong những năm gầnđây chưa bao giờ chúng ta thấy một số lượng lớn các văn bản về tín ngưỡngtôn giáo được ra đời như trong thời gian này “chỉ trong vòng hơn 10 năm,hàng trăm văn bản đã được nhà nước Việt Nam ban hành có nội dung điềuchỉnh lĩnh vực tôn giáo,… Nếu trước đây văn bản pháp luật tôn giáo đượcban hành dưới hình thức sắc lệnh, nghị quyết, sắc luật thì giai đoạn nàynhiều bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị định quyết định được ban hành”[ 6, tr35]
Như vậy Đảng và Nhà nước ta luôn : “Xem tôn giáo trong đó có PhậtGiáo là bộ phận của văn hóa dân tộc, văn hóa Phật giáo góp phần làm phongphú văn hóa dân tộc Đảng và Nhà nước nhìn nhận tôn giáo nói chung, phậtgiáo nói riêng trong mối quan hệ với đạo đức Trên phương diện đạo đức,Phật giáo hướng dẫn con người tới tình yêu thương đồng loại, bao dung,nhân ái, bảo vệ môi trường Phật giáo răn dạy tín đồ không trộm cắp, sốngtrung thực Tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng là nhu cầu của một bộphận nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp, gần gũi với đạo đứccủa xã hội mới, tôn giáo sẽ còn tồn tại lâu dài trong sự nghiệp xây dựng Chủnghĩa xã hội”[5, tr 26]
Những nhận thức lý luận về tôn giáo và đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, của tỉnh Bình Phước cũng nhưhuyện Chơn Thành về tôn giáo là cơ sở để các tôn giáo trong đó có Phật giáo
ở huyện Chơn Thành đi vào hoạt động ổn định đáp ứng nhu cầu sinh hoạttâm linh của người dân
1.2 Sơ lược các giai đoạn phát triển của phật giáo
1.2.1 Trước năm 1954
Trang 27Có thể nói trong các tôn giáo có mặt ở Việt Nam hiện nay thì Phậtgiáo là tôn giáo đầu tiên có mặt trên đất nước ta Trải qua biết bao thăngtrầm, biến cố của lịch sử Phật giáo vẫn luôn đồng hành cùng với dân tộc.Trong suốt chặng đường dài đó, Phật giáo có những đóng góp không nhỏtrong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam về bảo vệ tổ quốc cũng như xâydựng đất nước.
Ở Chơn Thành, sự ra đời của Phật giáo có lẽ bắt đầu từ ngôi chùa đầutiên được xây dựng tại thôn 3, xã Tân Khai, huyện Hớn Quản, đây là khuvực mới được tách ra từ huyện Chơn Thành và giáp ranh với huyện ChơnThành, theo Dư địa chí tỉnh Bình Phước, ngôi chùa này được xây dựng vàonăm 1887 tuy nhiên trong cuộc kháng chiến chống Pháp do chùa nuôi dấucán bộ cách mạng nên bị thực dân Pháp phá hủy Điều đó chứng tỏ rằng cuốithế kỉ XIX khu vực Chơn Thành đã có những tín đồ phật giáo đầu tiên sinhsống
Do tác động của công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp,nhiều đồn điền cao su cũng được thành lập trên địa bàn tỉnh Bình Phước ỞChơn Thành, công ty cao su Đất Đỏ cũng được thành lập, nhiều diện tích đấtcanh tác của nhân dân bị thực dân Pháp cướp bóc và xây dựng những đồnđiền cao su Tiếp đó Pháp sử dụng một lực lượng mộ phu đưa lao động từmiền Bắc, miền Trung vào miền Nam làm công nhân cao su trong đó có một
bộ phận được tuyển mộ vào các cánh rừng cao su trên địa bàn huyện ChơnThành Trong số những người di cư vào đây có nhiều người là tín đồ Phậtgiáo mang theo niềm tin tôn giáo của mình vào vùng đất mới Tuy nhiên donhiều nguyên nhân khác nhau, có lẽ các tìn đồ phật giáo lúc này thờ phật tạigia đình của mình bởi trên mảnh đất Chơn Thành lúc này chưa có nhữngngôi chùa của phật giáo
Trang 28Song song với quá trình du nhập Phật giáo của người kinh, thì khoảngnhững năm 20 của thế kỉ XX “hòa thượng Tốch Cháp từ Prây Chét(Cămpuchia) sang xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh để tìm hiểu và truyềngiảng đạo lí cho cộng đồng người Khơ me”.[10-408] Ở Chơn Thành một bộphận dân cư Khơ me tại xã Nha Bích thời gian này cũng bắt đầu được truyềngiảng Phật giáo Nam tông tuy nhiên họ chưa có cơ sở thờ tự mà chủ yếu lậpbàn thờ Phật tại gia đình.
1.2.2 Từ năm 1954 đến năm 1975
Sau năm 1954 “ được bổ sung một số lượng khá lớn tín đồ, khoảng
6000 – 7000 Phật tử và một số tăng ni từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung
di cư vào, Phật giáo Bình Phước phát triển mạnh mẽ trên nhiều phươngdiện”[10-410] sự tăng lên về số lượng các tín đồ phật giáo đã thúc đẩy cho
sự ra đời các ngôi chùa đầu tiên trên địa bàn huyện Theo tác giả khảo sát tạicác ngôi chùa ở huyện Chơn Thành thì chùa Hưng Long được thành lập sớmnhất vào năm 1962 ở thị trấn Chơn Thành hiện nay, tên gọi của chùa lấytheo tên của ngôi làng Hưng Long Trong thời kì đế quốc Mĩ thực hiện chiếnlược “Chiến tranh đặc biệt” ở Việt Nam, chúng đã tổ chức dồn dân lập các
“ấp chiến lược” Nhân dân Chơn Thành cũng bị dồn vào các “ấp chiếnlược” Để phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của mình, nhân dân trong các “ấpchiến lược” cũng thành lập nên những ngôi chùa mới, trong đó có chùaTrung An được thành lập năm 1967
Trong suốt thời kì kháng chiến chống Mĩ chính sách “bài xích Phậtgiáo” của chính quyền Ngô Đình Diệm đã làm bùng lên phong trào đấutranh của các tín đồ phật giáo chống Mĩ – Ngụy, “Hội chùa” là tổ chức yêunước của Phật giáo được hình thành và chùa chiền trở thành nơi cung cấp
Trang 29lương thực, che dấu, đùm bọc cho cán bộ cách mạng của ta hoạt động trongvùng địch.
Sau năm 1972 khi huyện Lộc Ninh được giải phóng, dòng người ViệtNam từ Cămpuchia đổ về địa phận tỉnh Bình Phước trong đó có huyện ChơnThành, nhiều tín đồ phật giáo cũng di cư về và xây dựng chùa Bồ Đề vàonăm 1974 ở khu vực xã Nha Bích huyện Chơn Thành hiện nay
Như vậy đến năm 1975 ở huyện Chơn Thành đã hình thành nên 3 cơ
sở thờ tự với số lượng tín đồ khoảng hơn 1000 người Tuy nhiên do điềukiện chiến tranh, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn nên sinhhoạt tôn giáo của Phật giáo gặp nhiều khó khăn Các cơ sở thờ tự xây dựngcòn tương đối sơ sài
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến 2015
Ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30 tháng 4 năm 1975nhằm đưa Phật giáo hoạt động đi vào nề nếp ngày 2 tháng 2 năm 1976 Banliên lạc Phật giáo tỉnh Sông Bé được thành lập do Hòa thượng Thích ThiệnTràng làm trưởng ban Sau Đại hội Thống nhất
Phật giáo toàn quốc năm 1981, Đại hội Đại
biểu thống nhất Phật giáo tỉnh Sông Bé được
tổ chức và đã bầu ra được Ban trị sự phật giáo
tỉnh Sông Bé gồm 15 người do hòa thượng
Thích Trí Tấn làm trưởng ban Tiếp đó Ban
đại diện Phật giáo ở các huyện cũng được ra đời, Chơn Thành lúc bấy giờthuộc địa phận của huyện Bình Long Năm 1992 Ban đại diện Phật giáohuyện Bình Long được thành lập với 8 cơ sở tự viện Bắt đầu thời gian này,
để đáp ứng nhu cầu hướng dẫn phật pháp của phật tử các chùa, một số tăng
ni được phật tử thỉnh về trụ trì ở các chùa trên địa bàn tỉnh Bình Phước,
Trang 30trong đó huyện Chơn Thành có thượng tọa Thích Tĩnh Cường về trụ trì ởchùa Hưng Long
Theo thống kê của Mặt Trận tổ quốc Việt Nam huyện Chơn Thành thì
từ năm 1975 đến năm 2015 trên địa bàn huyện đã xây dựng 17 chùa, tịnh xátrên địa bàn[22] Các cơ sở thờ tự có quy mô khác nhau, nhiều ngôi chùa đãđược phật tử đóng góp để đầu tư xây dựng khang trang, bề thế so với giaiđoạn trước Trong giai đoàn này có thể thấy Phật giáo là một trong nhữngtôn giáo phát triển mạnh về cả số lượng, quy mô cũng như về tổ chức
1.3 Phật giáo huyện Chơn Thành từ năm 1975 đến 2015
1.3.1 Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống của nhân dân huyện Chơn Thành
1.3.1.1 Đời sống vật chất
1.3.1.1.1 Kiến trúc điêu khắc
Chùa ở Chơn Thành với nhiều nét đặc trưng của các dân tộc trên địabàn, đã góp phần làm phong phú thêm cho nghệ thuật kiến trúc vừa mangnhững đặc điểm chung của phong cách kiến trúc chùa của người Kinh, vừamang phong cách kiến trúc độc đáo của người dân tộc thiểu số địa phương
Ở các cơ sở thờ tự Phật giáo có những công trình điêu khắc, trang trí ,kiếntrúc, các đồ thờ, khám thờ ở vùng này còn lưu giữ trong nó cả nghệ thuậtcủa nghề chạm khắc gỗ Các đồ án hoa văn trang trí thường thấy là Tứ linh(long, lân, quy, phụng)
Ngoài đề tài Tứ linh, phổ biến là các đề tài cảnh vật cặp đôi truyềnthống: trúc - tước, tùng - lộc, cúc - trĩ, dương - mã, liên - áp Ngoài các đề tàitrên còn có các đề tài: Bát tiên quá hải, Thập bát La Hán…
Trang 31Tùy thuộc vào thời gian xây dựng và mục đích xây dựng, các chùa ởhuyện Chơn Thành có quy mô, bề thế khác nhau Một số ngôi chùa mới xâydựng hoặc đang trùng tu sửa chữa có qui mô lớn với không gian rộng Tuynhiên dù lớn hay nhỏ thì cấu trúc chùa tương đối giống nhau nó bao gồm:cổng tam quan, tiền điện, hậu điện, nhà tổ Cổng tam quan được xây dựng bềthế đề tên chùa và được trang trí theo phong cách phật giáo thông thường cócác câu đối hay câu kinh phật và những tình tiết chạm khắc liên quan đếnđiển tích phật giáo như bánh xe luân hồi Chính điện, tiền đường, nhà tổ lànơi đặt tượng thờ, khám thờ và cũng là nơi tiến hành các nghi lễ tôn giáo.Giữa tam quan và chính điện là khoảng giếng trời thường đặt tượng thờ Phật
bà Quan Âm, Di Lặc, Địa Tạng Vương Bồ Tát Phía sau hoặc hai bên chínhđiện là tăng xá - nơi nghỉ ngơi của tăng ni, phòng khách - nơi tiếp phật tử Ngoài những nơi thờ phụng, các cơ sở thờ tự còn có khoảnh đất trong khuônviên để tăng ni tăng gia sản xuất tự túc kinh tế hoặc trồng các loại cây xanh.Nổi lên về nghệ thuật kiến trúc chùa chiền ở Chơn Thành phải kể đến tịnh xáNgọc Chơn Đây là cơ sở thờ tự và tu niệm của Phật giáo phái Khất sĩ mớiđược xây dựng nên và đầu tư một cách khang trang với một ngôi chánh điệnhai lầu cao vút giữa không gian xanh tươi của cây cối ngay gần Ngã tư ChơnThành, nơi tập trung đông dân cư, ngôi chùa mọc lên tạo nên một vẻ đẹp uynghi trong lòng phố xá Hai bên hành lang là hai hàng cột đá cao vút, trêncác bức tường và trần nhà đều chạm khắc tinh xảo những bức tranh thể hiệnnhững khung cảnh trong kinh Phật, ở giữa là bệ thờ làm bằng khối đánguyên khối được khắc họa hình đài sen và trên đó là tượng Phật Thích Cayên vị Đây vừa là nơi thực hiện các lớp giảng đạo của tăng ni, phật tử vừa
là nơi thờ tự Đức Phật Phía sau chánh điện là thờ các vị cao tăng của Phậtgiáo theo phái hệ Khất sĩ và những vong linh của người chết được nhân dângửi lên chùa Phía bên phải được xây dựng một dãy nhà hai lầu khang trang
Trang 32kiên cố dành cho các tăng ni, phật tử đến học đạo tu hành các lớp ở lại nghỉngơi Phía bên trái là một căn nhà hình trụ hai lầu mang dáng vẻ hiện đại, lầudưới là nơi tiếp khách, tầng trên là nơi để trụ trì làm việc và nghỉ ngơi Phíatrước chùa được trang trí bởi không gian cây xanh, pho Tượng Phật nằm vàtượng Phật ngồi được trang trí một cách trang nghiêm trong khuôn viên củachùa
Một số ngôi chùa lâu năm như chùa Hưng Long, chùa Bồ Đề cũngđang trong quá trình xây dựng lại với kiến trúc kết hợp giữa truyền thống vàhiện đại và quy mô bề thế hơn rất nhiều sơ với chùa cũ Nếu các ngôi chùa
cũ được xây dựng bằng tường gạch, kết cấu trong nhà là gỗ thì nay đượcthay thế bằng các vật liệu như cột đá, trần được đổ bê tông và lợp ngói
Bên cạnh chùa phái hệ Bắc tông thì ở huyện Chơn Thành cũng cóngôi chùa thuộc phái hệ Nam tông của người Khơ me Nam bộ, đó là chùa
Bồ Đề ở xã Nha Bích, Ngôi chùa được xây dựng ở đây khá sớm nhằm phục
vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cho bộ phận dân cư người dân tộc Khơ metrên địa bàn Hiện nay chùa đang được trùng tu sửa chữa lại trang hoànghơn, cổng cùa đã được hoàn thành mô phỏng như ngọn núi Meru, kiến trúcngôi chùa cũ được xây dựng theo phong cách của người Khơme Nam bộ vàhiện nay đã xuống cấp, do đó chùa Bồ Đề đang được trung tu sửa chữa mộtcách qui mô và bề thế với hai quần thể kiến trúc khang trang nhằm phục vụnhu cầu tín ngưỡng của người Khơme trên địa bàn huyện
Kiến trúc, điêu khắc phật giáo cũng ảnh hưởng đến kiến trúc xây dựngnhà ở và cách bài trí của một bộ phận nhân dân trong vùng Nhiều hộ giađình xây dựng nhà theo lối kiến trúc chùa chiền với kết cấu cổng tam quan ởphía trước mặt đường, có đặt tượng quan âm bồ tát ở tiền sảnh phía trướcnhà hoặc trước sân thượng của nhà
Trang 331.3.1.1.2 Sinh hoạt hàng ngày
Ảnh hưởng của phật giáo còn được thể hiện qua từng bữa ăn của nhândân trong huyện Khi mà vấn đề ngộ độc thực phẩm đang đe dọa tính mạngcon người hàng ngày thì nhà phật khuyên con người ta ăn chay để sốngthanh tịnh Trong văn hóa ẩm thực Chơn Thành đã xuất hiện những món ănchay có nguồn gốc tự nhiên tốt cho sức khỏe con người, đặc biệt nhiều quáncơm chay mọc lên để phục vụ nhu cầu ăn uống của người dân Những quáncơm chay không chỉ là nơi du khách thập phương thưởng thức nhiều món ăncủa đất Chơn Thành mà các quán cơm chay còn là những nơi để các chùa,các mạnh thường quân đặt các phần cơm để làm từ thiện,
Một nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của người dân Chơn Thành
đó là khi tổ chức những bữa tiệc của gia đình thì luôn luôn có một mâm cỗchay được đặt trịnh trọng phía trên để cho những người theo đạo Phật hoặcnhững người ăn chay trường thưởng thức
Hiện nay theo khảo sát của tác giả các quán cơm chay thường thu hútđược khách nhiều hơn không chỉ do các món chay ngày càng đa dạng phongphú mà còn do con người đang ngày một hướng về với tự nhiên, dựa vào tựnhiên để sinh sống hòa hợp, để tìm về một sự an toàn cho bản thân
Trong các ngày lễ của nhà phật, các tăng ni, phật tử đều đổ về chùathỉnh lễ, họ đều khoác lên mình chiếc áo nâu của nhà phật, ngày xưa chiếc
áo nâu được nhuộm bằng củ nâu Trong cách ăn mặc của Phật giáo Bắc tông
và phật giáo Nam tông có sự khác nhau tương đối rõ rệt Phật giáo Bắc tôngngày xưa mặc loại vải thô màu nâu, hiện nay đã dùng loại vải tốt, mịn hơn
và được nhuộm bằng thuốc nhuộm Ở trong nhà, mặc áo cánh ngắn nâu,quần nâu, nam cũng như nữ (gần đây sư nam mặc cả sơ-mi nâu) Ra đường,
đi học hoặc khi có việc chùa, mặc áo dài tương đối rộng, không căng ngực,
Trang 34cổ tròn đứng, mềm, cài khuy kín cổ, khuy tết bằng vải nâu Lúc làm lễ các
sư bậc thấp mặc áo tràng vạt nâu, tay rộng, cổ chéo có nẹp rộng khoảng 5
cm Các sư bậc cao mặc áo tràng vạt màu vàng (loại sắc) Bên ngoài cònkhoác một tấm vải gọi là áo cà sa màu nâu hoặc màu vàng (loại sắc) tùy theocấp bậc Ngoài ra còn loại áo cà sa nhiều màu để dùng khi chạy đàn Còntrang phục của phái Nam tông không may thành quần, áo như phái Bắc tông
mà chỉ dùng vải vàng hoặc nâu quấn, vắt trên người với các kiểu khác nhau.Điều đáng nói là trang phục trong Phật giáo Chơn Thành đã được dân tộchóa cao độ, đặc biệt là ở những chùa phái Bắc tông Áo cánh cài khuy giữa,
áo dài cài khuy cạnh, quần ống rộng của sư nam, sư nữ đều xuất phát từ mẫu
áo quần của dân tộc Kiểu chít khăn của sư nữ cũng là một sáng tạo củaViệt Nam Màu nâu gần với màu của đất của bùn lầy gắn với nền nôngnghiệp lúa nước của ông cha
Trong cách đi lại các tăng ni, phật tử cũng có sự khác biệt giữa pháiBắc tông và Nam tông Nếu như Phật giáo Bắc tông đã sử dụng phương tiện
là những đôi dép để đi lại và dùng phương tiện là xe máy, ô tô để di chuyểnthì phật giáo phái Nam tông vẫn theo sự khổ hạnh của nhà phật, ra đườngkhi đi khất thực, họ thường đi bộ bằng đôi chân trần trên những nẻo đườngtấp nập Trên những trục đường chính của Chơn Thành ta dễ dàng bắt gặpcảnh các nhà sư theo phái hệ Nam tông đi khất thực hàng ngày
1.3.1.1.3 Các hoạt động xã hội, từ thiện
Trong thời kì từ năm 1975 đến năm 1986 chính quyền cách mạng vừamới thành lập, đất nước đang gặp muôn vàn khó khăn, do đó hoạt động củaPhật giáo trên lĩnh vực kinh tế cũng gặp khó khăn, các tăng ni, gia đình phật
tử vừa phải tự lực mưu sinh, vừa lao động, vừa tích góp để làm việc từ bicứu trợ
Trang 35Sau năm 1986 đất nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới, kinh tế đất nước
đã có những bước phát triển đáng kể, đặc biệt cùng với công cuộc đổi mới,
cơ chế thị trường cũng dần hình thành và tạo ra trong xã hội những mặt tíchcực lẫn tiêu cực Phật giáo thời kì này ở Chơn Thành một mặt quyên góp đểxây dựng các cơ sở chùa chiền một cách khang trang bề thế, mặt khác Phậtgiáo đã có những việc làm đóng góp thiết thực để cứu độ chúng sinh đó là
bố thí “Bố thí trong Phật giáo Nam Tông cũng như trong Phật giáo Bắc tôngđều là đem tài vật và ân huệ ban phát, đem lại sự an lạc cho người khác, hầutích lũy phúc đức cho mình ở kiếp này và kiếp sau Trong giáo pháp củaĐức Phật, bố thí là pháp đứng đầu Pháp bố thí dạy mọi người trong cuộcsống phải biết nương tựa và giúp đỡ lẫn nhau, người giàu giúp đỡ ngườinghèo, người trí nâng kiến thức cho người vô trí, v.v Người biết kiềm chế
sự ham muốn, không lấy của không cho, nhận những gì được cho mà khônglấy cắp, hướng tâm đến những điều tốt đẹp có trong đời thì sự an nhiên tự tại
sẽ lớn mạnh Đó là nền tảng căn bản của bố thí trong Phật giáo”[2, 77] chính
vì lẽ đó, nhiều ngôi chùa đã tổ chức bố thí bằng cách phát cơm từ thiện miễnphí cho những đối tượng khó khăn như phát cơm chay ở bệnh viện, học sinh,giáo viên ở các trường học khó khăn Các chùa, tịnh thất đã xây dựng bếpcơm tình thương để nấu ăn miễn phí cho các bệnh nhân nghèo, người cóhoàn cảnh khó khăn Riêng Chùa Trung An (thị trấn Chơn Thành) kể từ năm
2002 đến nay, hàng ngày cung cấp miễn phí 50 – 100 suất cơm cho thânnhân và bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa huyện Chơn Thành[45]; các tăng,
ni phật tử trong tỉnh cũng thường xuyên phối hợp với tổ chức Phật Giáo ởThành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương vận động các nhà hảo tâm,mạnh thường quân các nơi ủng hộ tiền, gạo, mắm, muối, bột ngọt, mì tôm,dầu ăn, để tặng cho những hộ nghèo trên địa bàn huyện vào các dịp lễ tết
Ở chùa Viên Minh còn tổ chức ăn chay miễn phí hàng tháng vào các ngày
Trang 36rằm hay mồng 1 âm lịch Một số chùa còn tổ chức vận động quyên góp mờinhứng bác sĩ giỏi từ thành Thành phố Hố Chí Minh về khám chữa bệnh vàcấp phát thuốc miễn phí cho nhân dân Ngoài ra một số nhà sư giỏi về cácbài thuốc dân gian cũng thực hiện châm cứu, chữa trị những bệnh thôngthường như trật khớp, rắn cắn, bong gân, đau mỏi xương khớp cho nhân dântrong vùng
Ngoài ra có một ngôi chùa ở Chơn Thành còn quyên góp, hiến đất xâydựng nên ngôi trường từ thiện trông trẻ miễn phí cho những gia đình có hoàncảnh khó khăn trong huyện đó là trường mầm non Hoa Sen ở chùa TịnhQuang.Trường Mầm non tình thương Hoa Sen hoạt động từ tháng 8-2013,
có diện tích hơn 1.000m2với kinh phí xây dựng 2,7 tỷ đồng Trường đượcxây dựng thoáng mát với 5 phòng học, bếp ăn, sân chơi Trang thiết bị giảngdạy, đồ chơi trong nhà, ngoài sân cho trẻ vui chơi, giải trí đều khá đầy đủ
Từ năm 2013 đến năm 2015 trường đón 178 học sinh thuộc nhóm từ 3 đến 5tuổi, chia thành 5 lớp, trong đó 2 lớp mầm, 1 lớp chồi và 2 lớp lá Phần lớncác bé học ở đây là con em hộ nghèo, công nhân lao động có hoàn cảnh khókhăn trên địa bàn thị trấn Chơn Thành và các xã lân cận Gửi con tại đây,phụ huynh không phải đóng khoản tiền nào Các bé còn được cấp đồngphục, đồ dùng học tập, bảo hiểm, tiền ăn Tất cả do thầy chùa Thích HuệMinh vận động từ các mạnh thường quân và phật tử tài trợ Ngoài ra chùaTịnh Quang còn hiến đất chùa để cho nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khănkhông có đất sinh sống ở về đây xây dựng nhà để ở
Một nét nhân văn trong hoạt động của Phật giáo ở huyện Chơn Thành
đó là việc Đại đức Thích Hạnh Tuệ thành lập nên Mái ấm nuôi dạy cô nhiMinh Trần (gọi tắt là Mái Ấm Minh Trần) toạ lạc tại ấp 6, xã Minh Longhuyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, đây là nơi nuôi dưỡng, dạy dỗ các
Trang 37cháu mồ côi và phụng dưỡng người già neo đơn Đây thực sự là ngôi nhàthân thương và đầm ấm của những mảnh đời bất hạnh, không nhà cửa,không nơi nương tựa Ở đây mọi người sống vui vẻ, yêu thương chăm sóclẫn nhau theo tinh thần từ bi hỷ xả của đức Phật Sau nhiều lần thầy ThíchHạnh Tuệ cùng với quý phật tử ở thành phố Hồ Chí Minh đi làm
từ thiện ở Minh Long, Nha Bích, Phú Riềng, Phước Long…, tận mắt nhìnthấy ở vùng này cuộc sống bà con còn quá cơ cực, nhiều cháu cô nhi, khôngngười nuôi dưỡng, không được học hành; người già neo đơn không nơinương tựa, không được chăm sóc, do đó đã quyết định vận động thành lậpMái Ấm Minh Trần, Nơi đây đã góp phần không nhỏ trong việc phúc lợi xãhội theo tinh thần từ bi hỷ xả của nhà Phật Mái Ấm Minh Trần lúc nào cũnghoan hỷ đón nhận những cháu Cô nhi và người Già yếu, neo đơn, khôngngười chăm sóc Mồng 1 âm lịch hàng tháng, các Phật tử ở thànhphố Hồ Chí Minh, tổ chức về Mái Ấm Minh Trần, nấu hàng ngàn phần ăn,gồm bún huế chay và cơm chay cho người nghèo, công nhân các khu côngnghiệp và bệnh nhân tại địa phương
Do địa bàn Chơn Thành nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, việclưu trữ số liệu cũng như việc báo cáo thống kê thời kì trước năm 2003 hầunhư bị thất lạc, trong khi đó các cơ sở thờ tự của nhà Phật lại ít chú ý đếnviệc lưu trữ tài liệu Trong những năm gần đây, nhờ công tác quản lí nhànước về tôn giáo ngày càng đi vào quy cũ nên các nguốn tài liệu mới đượcthống kê một cách khá chính xác và đầy đủ Theo những số liệu thống kêđược của giáo hội phật giáo Việt Nam huyện Chơn Thành “từ năm 2013 đếnnăm 2015 các cơ sở tự viện trên địa bàn đã làm từ thiện với tổng trị giá hơn5,5 tỷ đồng”[49]
Trang 38Ở Chơn Thành, việc các chùa gửi người đến trường học văn hóa tạicác trường phổ thông đã diễn ra từ nhiều năm nay, Nhiều giáo viên cũngđăng kí vào dạy các lớp từ thiện trong các Mái ấm tình thương hay trườngnuôi dạy trẻ của chùa tổ chức Điều đó cho thấy đời sống của Phật giáo ngàycàng hòa nhập vào cuộc sống xã hội.
Hiện nay, số tăng ni, phật tử ở trong huyện được đi học tập Phật pháp
ở các trường Trung cấp hay các học viện Phật giáo tại Thành phố Hồ ChíMinh ngày càng đông đảo Nhiều vị cao tăng tài đức, có uy tín trong xã hội
đã được các tăng ni, phật tử thỉnh về trụ trì tại các cơ sở thờ tự ở ChơnThành Không chỉ học về phật pháp nhiều tăng ni còn được cử đi đào tạo cáckhóa khám chữa bệnh về đông y, hay đào tạo nghề để tham gia vào quá trìnhlao động xã hội
1.3.1.2 Đời sống tin thần
1.3.1.2.1 Lễ hội
Cũng giống như các tôn giáo khác khi ra đời, tồn tại và phát triển đều
có những đóng góp nhất định đến đời sống tinh thần và ăn sâu vào tiềm thứctâm linh của của nhân dân, đặc biệt Phật giáo khi vào Việt Nam nói chung
và khu vực huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước nói riêng đều mang dángdấp tương đồng với văn hóa truyền thống dân tộc
Lễ hội tôn giáo “cũng có tác dụng thỏa mãn nhu cầu tâm linh của conngười, nghi lễ giống như nhu cầu văn hóa cần được chăm sóc cần được tôntrọng Khi con người thực hiện xong một nghi lễ tâm hồn tư tưởng họthường thư thái, có người đạt đến trạng thái an lạc hoan hỉ”[13-21] do vậyảnh hưởng của Phật giáo thể hiện trong nhu cầu sinh hoạt trong một số lễ hộicủa nhân dân trong huyện Những ngày rằm hay ngày mồng một âm lịch,
Trang 39nhiều người dân đến chùa để đọc kinh cầu nguyện như một thói quen củamình Trong những dịp lễ lớn của Phật giáo, ngoài các tăng ni, phật tử thìđông đảo nhân dân trong huyện từ người già đến trẻ em vào chùa vừa đi lễchùa vừa nghe các sư thầy giảng dạy kinh phật, qua đó hướng mọi ngườilàm việc thiện giúp đời, điều này góp phần tích cực trong việc ổn định tìnhhình trật tự xã hội.
Những ngày lễ hội lớn như Lễ Vu lan báo hiếu, Đại lễ Phật Đản, vàđặc biệt là tết Nguyên Đán đã thu hút đông đảo nhân dân đến lễ chùa và đãtrở thành nét văn hóa độc đáo trong văn hóa của nhân dân Chơn Thành.Trong dịp lễ Vu Lan vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, tất cả các chùa đều có sựchuẩn bị công phu, tổ chức rất bài bản, không chỉ có tăng ni, phật tử màđông đảo các tầng lớp nhân dân cũng tham gia một cách nhiệt thành, mọingười đến chùa đều cầu mong cho cha mẹ, người thân của mình được sốngkhỏe mạnh Đến chùa dịp lễ Vu lan không chỉ được nghe tiếng kinh kệ gõ
mõ của tăng ni mà các nhà chùa còn tổ chức văn nghệ, hát những ca khúcthể hiện lòng ơn kính Phật, biết ơn ông bà cha mẹ, những bậc sinh thành,được nghe những lời khuyên giảng của những vị cao tăng giúp mỗi người có
ý thức sống tốt hơn Ngoài ra do phần lớn các gia đình ở đây đều có nguồngốc ở nhiều miền quê khác nhau nên người dân Chơn Thành đến chùa cầuphật cũng là một hình thức để nhớ về nguồn cội, biết ơn những người đãkhuất bởi họ tin rằng trong tháng 7, trời đất sẽ mở ra cho người âm lên trêntrần gian nhận những lễ vật cúng tiến đó của con cháu họ
Đại lễ Phật đản là lễ hội lớn của những người theo Phật giáo nhằmtưởng nhớ đến ngày sinh của đức Phật, lễ Phật Đản được tổ chức vào ngày
15 tháng 4 âm lịch Các chùa đều được trang hoàng tươm tất Các nghi lễ tôngiáo được cử hành một cách trang trọng và dĩ nhiên ngoài phật tử thì nhiều
Trang 40người dân cũng đến tham dự ngày lễ này Ngoài phần lễ các nhà chùa đều tổchức nấu cơm chay mời đông đảo nhân dân cùng ăn như một hình thức lễhội.
Đặc biệt trong dịp tết Nguyên Đán có lẽ là dịp mà người dân ChơnThành tìm đến với Phật giáo nhiều nhất Thành thông lệ sau mỗi đêm giaothừa, người dân ở đây lên chùa hái lộc, cầu may cho một năm mới tốt lành.Vào dịp tết Nguyên Đán chùa là nơi nhộn nhịp nhất, điều này cũng dễ lí giải,nếu như ở Miền Bắc và miền Trung, sáng đầu năm đi đến nhà thờ tổ để cúngbái, thăm viếng ông bà, cha mẹ thì ở đây do hoàn cảnh nơi xa quê hương xứ
sở do đó mọi người đến chùa ngoài việc hái lộc đầu xuân còn muốn thôngqua Đức Phật để nhớ về quê hương xứ sở, nhớ về ông bà tổ tiên
Trong dịp tết Nguyên Đán, các nhà chùa đều kết hợp với chính quyềnđịa phương tổ chức nghi lễ cầu cho “Quốc thái dân an” Đây cũng là dịp đểchính quyền với Phật giáo có sự giao lưu, phối hợp trong chương trình hoạtđộng của mình Sau nghi lễ cầu Quốc thái dân an thường là tục phóng sinhcủa nhà chùa Vào ngày thương binh liệt sĩ 27/7 hàng năm, giáo hội Phậtgiáo huyện Chơn Thành cũng tổ chức lễ cầu siêu cho các anh hùng Liệt sĩ đã
hi sinh vì tổ quốc
Bên cạnh đời sống tín ngưỡng Phật giáo của người Kinh thì văn hóatruyền thống của người Khmer ở Chơn Thành có những nét đặc trưng củangười Khmer vùng cao, có sự tiếp biến, giao thoa với văn hóa của các cộngđồng cư dân khác trong vùng “Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong đờisống tinh thần của họ Nhiều lễ hội liên quan đến đạo Phật với quy mô lớn,rất đặc sắc, được tổ chức hằng năm như lễ dâng y Katrina, lễ Sen dolta, lễđức Phật đản sanh…”[8tr814] Ngoài ra, còn có các lễ hội như: lễ mừng lúamới; lễ cúng trừ tà ma (còn gọi là lễ Bà bóng), lễ Phá bàu; có nghi lễ xuất