Trong xu hướng phát triển chung của nền kinh tế, Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã có những thay đổi mạnh mẽ theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế. Từ một ngành nhỏ bé về quy mô, lạc hậu về kỹ thuật đã phát triển ngang tầm khu vực, có nhiều đóng góp đáng kể vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện với việc Nhà nước ban hành và công bố Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử; Chiến lược phát triển Bưu chính Viễn thông đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Bộ máy quản lý cũng được củng cố và hoạt động ngày càng hiệu quả với sự ra đời của Bộ Bưu chính, Viễn thông ở trung ương và các sở Bưu chính Viễn thông tại các tỉnh, thành phố. Môi trường kinh doanh cũng đã chuyển biến mạnh theo hướng cạnh tranh với sự xuất hiện của nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tham gia cung cấp dịch vụ BCVT trên thị trường. Tuy nhiên do điều kiện lịch sử, Bưu chính Viễn thông Việt Nam là một ngành độc quyền tự nhiên. Do tính chất độc quyền đó mà trong suốt một thời gian dài, quản lý Nhà nước về BCVT nói chung và cơ chế quản lý trong từng doanh nghiệp nói riêng còn mang tính bao cấp, chậm đổi mới, phần nào đã gây trở ngại cho sự phát triển ngành BCVT trong giai đoạn hội nhập hiện nay, nhất là khi Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Ngành BCVT Việt Nam đang đứng trước những thách thức khó khăn vì năng suất lao động thấp, chưa hình thành được những doanh nghiệp có tiềm lực mạnh, có khả năng đầu tư ra nước ngoài, thiếu kinh nghiệm, vốn và cả phương thức quản lý.
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT LUẬN VĂN
1
Trang 2BCVT: Bưu chính viễn thông
CNTT: Công nghệ thông tin
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng phát triển chung của nền kinh tế, Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã có những thay đổi mạnh mẽ theo hướng hội nhập kinh
tế quốc tế Từ một ngành nhỏ bé về quy mô, lạc hậu về kỹ thuật đã phát triển ngang tầm khu vực, có nhiều đóng góp đáng kể vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong lĩnh vực quản lý nhà nước hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện với việc Nhà nước ban hành và công bố Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử; Chiến lược phát triển Bưu chính Viễn thông đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Bộ máy quản lý cũng được củng cố và hoạt động ngày càng hiệu quả với sự ra đời của Bộ Bưu chính, Viễn thông ở trung ương và các sở Bưu chính Viễn thông tại các tỉnh, thành phố Môi trường kinh doanh cũng đã chuyển biến mạnh theo hướng cạnh tranh với sự xuất hiện của nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tham gia cung cấp dịch vụ BCVT trên thị trường Tuy nhiên do điều kiện lịch sử, Bưu chính Viễn thông Việt Nam là một ngành độc quyền tự nhiên Do tính chất độc quyền
đó mà trong suốt một thời gian dài, quản lý Nhà nước về BCVT nói chung
và cơ chế quản lý trong từng doanh nghiệp nói riêng còn mang tính bao cấp, chậm đổi mới, phần nào đã gây trở ngại cho sự phát triển ngành BCVT trong giai đoạn hội nhập hiện nay, nhất là khi Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Ngành BCVT Việt Nam đang đứng trước những thách thức khó khăn vì năng suất lao động thấp, chưa hình thành được những doanh nghiệp có tiềm lực mạnh, có khả năng đầu tư
ra nước ngoài, thiếu kinh nghiệm, vốn và cả phương thức quản lý
Đổi mới cơ chế quản lý nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp BCVT VN, xây dựng ngành BCVT thực sự vững mạnh, tạo đà cho phát triển kinh tế xã hội đất nước là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Với chủ trương phát triển doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông theo mô hình tập
Trang 4đoàn, Chính phủ đã phê duyệt quyết định thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng công ty BCVTVN (VNPT) Dự kiến trong năm 2007, Tập đoàn chính thức đi vào hoạt động.
Với lý do đó, tác giả chọn đề tài “Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông” với mục đích kết hợp giữa thực tiễn và lý luận để nghiên cứu nhằm hiểu rõ hơn các vấn đề về quản lý thuộc lĩnh vực công tác của bản thân
Đề án thành lập tập đoàn BCVT đã được phê duyệt, Tổng công ty BCVT Việt Nam đã đổi tên thành Tập đoàn BCVT Việt Nam; Tuy nhiên, về tổ chức hoạt động vẫn đang là mô hình cũ Tập đoàn đang tiếp tục sắp xếp, chuyển đổi và nghiên cứu để chính thức đi vào hoạt động theo cơ chế mới trong năm 2007
3 Mục đích, nhiệm vụ khoa học của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước, thực trạng cơ chế quản lý doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông ở Việt Nam, luận văn nêu lên định hướng và đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông trong quá trình đổi mới hiện nay Nhiệm vụ khoa học của luận văn:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về cơ chế quản lý doanh nghiệp nói chung;
- Đánh giá thực trạng cơ chế quản lý doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông, tập trung vào Tổng công ty Bưu chính Viễn thông (nay là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam);
- Nêu lên định hướng và các giải pháp thiết thực hoàn thiện cơ chế quản
lý doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông trong điều kiện chuyển đổi Tổng công
ty Bưu chính Viễn thông thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông
Trang 54 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Cơ chế quản lý doanh nghiệp và vấn đề đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp trong ngành Bưu chính Viễn thông trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài đi sâu nghiên cứu nội dung và giải pháp đổi mới cơ chế quản lý trong các doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông Việt Nam, trực tiếp là Tổng công ty bưu chính Viễn thông Việt Nam - doanh nghiệp chủ đạo trong ngành Bưu chính Viễn thông
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp trừu tượng hoá, kết hợp logic với lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê
6 Đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hoá lý luận về cơ chế quản lý doanh nghiệp
- Đánh giá sát thực cơ chế quản lý của các doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông
- Nêu lên được định hướng và các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý đối với DNNN nói chung, các doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông nói riêng
7 Kết cấu luận văn:
Luận văn được kết cấu gồm 3 phần : mở đầu, nội dung, kết luận
Nội dung gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận và thực tiễn về cơ chế quản lý doanh nghiệp Bưu
chính Viễn thông
Chương II: Thực trạng cơ chế quản lý doanh nghiệp Bưu chính Viễn
thông hiện nay ở Việt Nam
Chương III: Định hướng và các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý doanh
nghiệp Bưu chính Viễn thông trong thời gian tới
Trang 6Chương 1
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ
DOANH NGHIỆP BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
1.1 CƠ CHẾ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP VÀ NỘI DUNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm về cơ chế quản lý kinh tế và cơ chế quản lý doanh nghiệp
Theo giáo trình Quản lý kinh tế của Trường Đại học kinh tế quốc dân:
“Cơ chế quản lý kinh tế là phương thức điều hành nền kinh tế có kế hoạch, dựa trên cơ sở các đòi hỏi của các qui luật khách quan của sự phát triển xã hội, bao gồm tổng thể các phương pháp, các hình thức, các thủ thuật để thực hiện yêu cầu của các qui luật khách quan ấy”
Tài liệu “Tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện Đại hội IX của
Đảng” – Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đưa ra khái niệm: “Cơ chế quản lý
kinh tế là tổng thể các mối quan hệ ước chế và tác động qua lại lẫn nhau giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế, tạo thành động lực điều tiết, dẫn dắt nền kinh tế phát triển”.
Cơ chế kinh tế phát huy tác dụng trong vận hành thể chế kinh tế, nên còn được gọi là cơ chế vận hành kinh tế
Như vậy, khái niệm cơ chế kinh tế bao hàm ba nội dung: cơ chế kinh tế gồm các chế định điều hóa quá trình kinh tế; cơ chế kinh tế phát huy tác dụng qua sự tương tác giữa các yếu tố cấu thành; cơ chế kinh tế vận hành và phát huy tác dụng theo một phương thức nhất định, có quy luật
Cơ chế quản lý kinh tế là các quy tắc điều chỉnh các hành vi, hoạt động kinh tế của các cá nhân và tổ chức kinh tế; là hệ thống các biện pháp, hình thức, cách thức tổ chức, điều khiển nhằm duy trì các mối quan hệ kinh tế phát triển phù hợp với những quy luật kinh tế khách quan theo mục tiêu đã xác định trong những điều kiện kinh tế xã hội của từng giai đoạn phát triển
Trang 7Cơ chế quản lý kinh tế tác động sâu sắc đến hiệu quả phát triển của nền kinh tế quốc dân; do vậy, hiệu quả kinh tế xã hội là một trong những tiêu chuẩn quan trọng đánh giá tính đúng đắn của cơ chế quản lý kinh tế.
Cơ chế quản lý kinh tế có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau: trong hệ thống kinh tế vĩ mô tồn tại khái niệm cơ chế thị trường và cơ chế kế hoạch tập trung, cơ chế điều tiết vĩ mô; tầm vi mô tồn tại cơ chế tự điều tiết…Nghiên cứu cơ chế quản lý kinh tế là nghiên cứu trên góc độ của hệ thống cơ chế kinh tế và vai trò, vị trí của kế hoạch, của tài chính, của hạch toán kinh tế, của đòn bẩy và khuyến khích kinh tế vv Không nghiên cứu những nội dung của cơ chế đó riêng biệt, tách rời nhau mà trong mối quan hệ mật thiết, một thể thống nhất hữu cơ Cơ chế quản lý kinh tế chính là sự vận dụng các qui luật kinh tế Do đó, phải nhận thức và tuân thủ đúng các yêu cầu của quy luật khách quan có liên quan đến quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân, phân loại chính xác tầm quan trọng của mỗi qui luật, nắm vững mối tương tác giữa các qui luật để rút ra các giải pháp quản lý kinh tế thích hợp cho từng giai đoạn phát triển của đất nước Đó chính là việc phải biết vận dụng đúng các qui luật trong quản lý nền kinh tế quốc dân, hình thành nên cơ chế quản lý thích hợp
Từ việc phân tích khái niệm cơ chế quản lý kinh tế, và với quan điểm doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế thì cơ chế quản lý kinh tế đã bao hàm
cả cơ chế quản lý doanh nghiệp Như vậy, cơ chế quản lý doanh nghiệp là
tổng thể các nguyên tắc, các qui định của Nhà nước đối với doanh nghiệp; cùng với cơ cấu tổ chức và cách thức vận hành để doanh nghiệp phát triển với mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
Nói cách khác, cơ chế quản lý doanh nghiệp đề cập đến các qui tắc hướng dẫn hành vi của các doanh nghiệp, cũng như các hành động của chính phủ nhằm thúc đẩy và thực thi các qui tắc đó Cơ chế hay chế độ quản lý doanh nghiệp tạo cơ sở cho môi trường kinh doanh ổn định và hiệu quả
Cơ chế quản lý doanh nghiệp do những đặc điểm của doanh nghiệp đó
Trang 8và do tính chất của hệ thống quản lý doanh nghiệp của Nhà nước quyết định.Những đặc điểm của hệ thống quản lý doanh nghiệp có ảnh hưởng đến cơ chế quản lý doanh nghiệp là: nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, luật doanh nghiệp, bối cảnh chung của thế giới và mục tiêu của doanh nghiệp.
1.1.2 Nội dung cơ chế quản lý doanh nghiệp
1.1.2.1 Chiến lược và kế hoạch phát triển doanh nghiệp
Thực tế đã chứng minh nếu không xác định được một chiến lược phát triển đúng, nhà doanh nghiệp rất có thể tự mình lao vào những cạm bẫy không thể rút ra được, dẫn đến tình hình kinh doanh sa sút và thậm chí phá sản Doanh nghiệp có thể đặt mục tiêu và quyết định đầu tư vào một lĩnh vực mới với hy vọng phát triển, nhưng đó không đánh giá được hết đối thủ cạnh tranh, tiềm lực của mình mà có thể dẫn đến thua lỗ Nguyên nhân dẫn đến việc doanh nghiệp ngày càng sa sút có thể rất nhiều; có thể rõ ràng hoặc còn tiềm
ẩn Có thể do doanh nghiệp không có một bộ máy tổ chức hợp lý, quản lý nhân sự chưa hiệu quả, chi phí quản lý quá cao, hoặc cũng có thể do sản phẩm của doanh nghiệp không được đổi mới, thị phần ngày càng giảm, không sử dụng đúng các chiến lược về giá, marketing
Chiến lược có thể coi là tập hợp những quyết định và hành động hướng mục tiêu để các năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ hội và thách thức từ bên ngoài Vì vậy, trước hết, chiến lược liên quan tới các mục tiêu của doanh nghiệp Thứ đến, chiến lược doanh nghiệp bao gồm không chỉ những gì doanh nghiệp muốn thực hiện, mà còn là cách thức thực hiện những việc đó là một loạt các hành động và quyết định có liên quan chặt chẽ với nhau và lựa chọn phương pháp phối hợp những hành động và quyết định đó Chiến lược của doanh nghiệp phải khai thác được những điểm mạnh
cơ bản của mình (các nguồn lực và năng lực) và phải tính đến những cơ hội, thách thức của môi trường
Các chiến lược tồn tại ở vài cấp độ khác nhau - trải dài từ toàn bộ doanh
Trang 9nghiệp (hoặc một nhóm doanh nghiệp) cho tới từng cá nhân làm việc trong đó
Chiến lược doanh nghiệp – liên quan đến mục tiêu tổng thể và quy mô
của doanh nghiệp để đáp ứng được những kỳ vọng của người góp vốn Đây là một cấp độ quan trọng do nó chịu ảnh hưởng lớn từ các nhà đầu tư trong doanh nghiệp và đồng thời nó cũng hướng dẫn quá trình ra quyết định chiến l-ược trong toàn bộ doanh nghiệp
Chiến lược kinh doanh - liên quan nhiều hơn tới việc làm thế nào một
doanh nghiệp có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường cụ thể Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra được các cơ hội mới v.v
Chiến lược tác nghiệp - liên quan tới việc từng bộ phận trong doanh
nghiệp sẽ được tổ chức như thế nào để thực hiện được phương hướng chiến lược ở cấp độ công ty và từng bộ phận trong doanh nghiệp Bởi vậy, chiến lược tác nghiệp tập trung vào các vấn đề về nguồn lực, quá trình xử lý và con người
Quản trị chiến lược là gì? Đó là một loạt các bước mà doanh nghiệp phải thực hiện: Phân tích tình hình hiện tại; các quyết định nhằm đưa chiến lược vào thực thi đánh giá, điều chỉnh, thay đổi chiến lược khi cần thiết Nó bao gồm tất cả các chức năng cơ bản của quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo
và kiểm soát Như vậy, quy trình quản trị chiến lược bao gồm cả việc xây dựng chiến lược, thực hiện chiến lược và đánh giá chiến lược
Nói một cách tổng quát, quản trị chiến lược là một quá trình sắp xếp linh hoạt các chiến lược, tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh, nó bao gồm nhân lực, lãnh đạo, kỹ thuật và cả phương pháp xử lý
Một chiến lược cho tổ chức – dù chiến lược đó là cho toàn bộ hoạt động kinh doanh hay chỉ là hệ thống thông tin – cũng đều phải bao gồm:
- Một “tầm nhìn” chiến lược – một tầm nhìn dài hạn xem tổ chức mong
Trang 10muốn tự đặt mình vào trong mối quan hệ tới môi trường kinh doanh như thế nào – ví dụ, vai trò và chức năng của tổ chức, sản phẩm và dịch vụ mà tổ chức cung cấp, mối quan hệ giữa tổ chức với khách hàng và đối thủ cạnh tranh.
- Các công việc cần làm cho sự thay đổi - những khu vực thay đổi quan trọng mà tổ chức tham gia nhằm ứng phó với những khó khăn và cơ hội mà
nó phải đối mặt; những điều này sẽ là “chủ điểm” trong chiến lược trong đó
nó đưa ra một số chủ đề như cơ cấu và tổ chức, chức năng và hoạt động kinh doanh, cung cấp sản phẩm và dịch vụ, các vấn đề về quản lý và nhân viên; công nghệ hay các mối quan hệ bên ngoài; một chủ điểm được thực hiện trong khoảng thời gian dài hoặc trung hạn
- Các chính sách hướng dẫn quá trình ra quyết định và đưa ra một khuôn khổ chung cho các quyết định quản trị - những chính sách này sẽ ảnh hưởng tới những đặc điểm hành vi dẫn dắt tổ chức hướng tới một tương lai như mong muốn
Xem xét đánh giá lại chiến lược là một phần trong nhiệm vụ giám sát tình hình tổ chức Các nội dung cần xem xét:
- Tầm nhìn cho tổ chức vẫn còn có giá trị? Tầm nhìn về tương lai mong muốn cho doanh nghiệp có còn phù hợp, con đường mà hoạt động kinh doanh đang phát triển và những thay đổi đã diễn ra - hoặc dường như sẽ diễn ra - trong môi trường kinh doanh
- Các chủ điểm trong chiến lược có còn đúng không? Có cần phải thêm vào các chủ điểm khác trong “danh mục những công việc quan trọng cần làm”
do tình hình kinh doanh đã thay đổi, xuất hiện công nghệ mới và có áp lực từ môi trường bên ngoài hoặc thay đổi trong khả năng kinh doanh hay không?
Có chủ điểm chiến lược nào không còn phù hợp với“danh mục những công viêc quan trọng cần làm”?
- Tiến trình đang thực hiện đối với chủ điểm chiến lược, và có cần phải
Trang 11xác định lại thứ tự ưu tiên hoặc lập lại kế hoạch để đảm bảo rằng tỷ lệ thay đổi đáp ứng được những yêu cầu kinh doanh
Đồng thời, phải luôn đánh giá lại các cấp độ chiến lược hoặc kế hoạch sau:
- Tầm nhìn chiến lược
- Lộ trình đã được chọn để hướng tới tầm nhìn
- Các kế hoạch chi tiết để thực hiện
Trong nền kinh tế thị trường, bất cứ doanh nghiệp nào cũng theo đuổi các mục đích chủ yếu: sự tồn tại, phát triển, đa dạng hoá và hiệu quả kinh doanh Những mục đích này hình thành hệ thống mục tiêu toàn diện trong chiến lược hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm: cơ cấu sản phẩm, dịch vụ chủ yếu; doanh thu và tốc độ tăng trưởng hàng năm; hiệu quả
sử dụng vốn, công suất thiết bị; tổng lợi nhuận, nghĩa vụ Ngân sách, năng suất lao động và thu nhập bình quân; các chương trình, dự án đầu tư phát triển; hướng nghiên cứu sản xuất mới; hướng mở rộng thị trường, Các mục tiêu trên được hoạch định theo thời gian: dài hạn (10 đến 15 năm), trung hạn (5 năm) và ngắn hạn ( hàng năm)
1.1.2.2 Cơ chế tài chính
Cơ chế tài chính là những cách thức, phương thức và công cụ tài chính
mà qua đó, quá trình quản lý tài chính được thực hiện Trọng tâm của cơ chế tài chính là: vấn đề huy động, sử dụng vốn; cơ chế hạch toán kinh doanh; cơ chế phân phối lợi nhuận
(i) Cơ chế huy động vốn: Vốn là điều kiện tiên quyết cho mọi hạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cơ chế huy động vốn có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có hai con đường cơ bản để tạo vốn: thứ nhất là huy động vốn từ nội bộ nền kinh tế; thứ hai là huy động vốn từ nước ngoài thông qua các dự án đầu tư nước ngoài, liên doanh, liên kết, phát hành cổ phiếu, trái phiếu và vay vốn nước ngoài
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp huy động vốn thông qua thị
Trang 12Nguồn vốn vay gồm: Vay thông qua phát hành trái phiếu; Vay từ các tổ chức tín dụng; Nguồn vốn tín dụng thương mại; Thuê tài sản.
Các Tập đoàn kinh tế trên thế giới thực hiện điều hoà vốn trong nội bộ tập đoàn thông qua các trung gian tài chính Đây là một phương thức tạo vốn hữu hiệu, nhờ đó tập đoàn có thể phát huy được nội lực, giảm bớt sự phụ thuộc vào các nguồn tài chính bên ngoài Vai trò điều hoà vốn của các trung gian tài chính trong tập đoàn rất quan trọng, thể hiện:
- Các trung gian tài chính trong tập đoàn giúp tạo nguồn vốn, điều hoà vốn và khơi thông các luồng vốn giữa các thành viên trong tập đoàn một cách hiệu quả nhất với chi phí thấp
- Bên cạnh việc huy động vốn trong nội bộ tập đoàn, các trung gian tài chính có thể tìm kiếm, huy động các nguồn vốn từ bên ngoài nhằm đáp ứng nhanh chóng nhu cầu lớn về vốn kinh doanh của cả tập đoàn Các trung gian tài chính còn có tác dụng quản lý và điều tiết tập trung các nguồn vốn huy động cho tập đoàn để đảm bảo hiệu quả nguồn vốn huy động, giúp tập đoàn
có thể tham gia vào các thị trường vốn trong nước và quốc tế
(ii) Cơ chế quản lý và sử dụng vốn:
Cơ chế quản lý, sử dụng vốn trong doanh nghiệp chủ yếu là những qui định về quản lý, sử dụng vốn và tài sản, các qui định liên quan đến việc phân cấp đầu tư, mua sắm, thanh lý tài sản, của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì cơ chế quản lý và sử dụng vốn phải trên
cơ sở đánh giá các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng chứ không thực hiện
Trang 13quản lý theo kiểu hành chính, can thiệp quá sâu vào quyền quyết định của các đơn vị sử dụng vốn.
Vấn đề đang được quan tâm nhất hiện nay ở các doanh nghiệp nước ta là giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước
(iii) Cơ chế hạch toán, xác định kết quả:
Hiện nay ở các Tổng công ty của Việt Nam đang tồn tại các hình thức hạch toán: hạch toán tập trung, hạch toán phân tán, hạch toán vừa tập trung vừa phân tán
Bản chất của hình thức hạch toán tập trung là hạch toán phụ thuộc: doanh thu, chi phí của các đơn vị thành viên được tập trung về công ty mẹ, lợi nhuận và thu nhập của các đơn vị thành viên do công ty mẹ quyết định Hình thức hạch toán này tạo nên sự thụ động, ỷ lại của các đơn vị cấp dưới do không xác định chính xác kết quả SXKD của đơn vị mình mà hưởng theo sự điều tiết chung
Hình thức hạch toán độc lập (phân tán) cho phép mỗi đơn vị xác định đúng hiệu quả SXKD của đơn vị mình; do đó, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của từng đơn vị thành viên nhưng không tạo được mối liên kết chặt chẽ giữa các đơn vị thành viên và công ty mẹ
Cơ chế phân phối lợi nhuận và thu nhập trong doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng của cơ chế hạch toán Chính vì vậy, việc lựa chọn hình thức hạch toán phù hợp rất quan trọng trong các doanh nghiệp
Để giảm bớt những hạn chế trong mỗi hình thức, các Tổng công ty thường kết hợp giữa hai hình thức: vừa tập trung, vừa phân tán Tuỳ theo đặc điểm SXKD, các đơn vị lựa chọn hình thức hạch toán để vừa đảm bảo mục tiêu phát triển của cả doanh nghiệp, mà vẫn tạo sự chủ động cho các thành viên
1.1.2.3 Cơ chế quản lý nguồn nhân lực
Trang 14Nguồn nhân lực được coi là một trong rất ít các yếu tố có vai trò tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong kinh doanh Yêu cầu của quản trị nguồn nhân lực là làm thế nào để sử dụng nguồn lực lao động hiệu quả nhất nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
Quản trị nguồn nhân lực liên quan mật thiết tới việc thực hiện kế hoạch chiến lược phát triển doanh nghiệp
Ngày nay, các doanh nghiệp không chỉ đối mặt với sự cạnh tranh dữ dội trong việc giành giật nhân tài mà còn phải đối mặt với sự phức tạp khi hoạch định nguồn nhân lực cho doanh nghiệp
Khảo sát của Cedar Crestone (Mỹ) cho thấy những doanh nghiệp không ứng dụng các giải pháp về nhân lực chỉ đạt mức tăng doanh số 2% Giới phân tích cũng khẳng định rằng các công nghệ quản trị con người mang lại kết quả
Giai đoạn này tập trung vào việc: làm sao để phát huy được hết khả năng
và lòng trung thành của người lao động với doanh nghiệp Nó liên quan đến các vấn đề: bố trí việc làm phù hợp khả năng; thực hiện chế độ quản lý khoa học; chế độ đãi ngộ thích đáng
(iii) Công tác phát triển nguồn nhân lực
Trang 15Người lao động phải được cập nhật kiến thức thường xuyên thông qua đào tạo, đạo tạo lại dưới các hình thức Bên cạnh đó, phải chú trọng việc thu hút nhân tài từ bên ngoài để tăng cường năng lực cho doanh nghiệp mà không mất chi phí đào tạo.
1.1.2.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp không phải là cái gì bất biến Ngược lại, nó
là một hiện tượng phức tạp Về mặt này, vai trò và ảnh hưởng của người quản
lý rất quan trọng
Jay W.Lorsch, giáo sư về khoa học quan hệ nhân quần, là tiến sĩ về quản
lý công thương nghiệp của Trường Đại học Harvard, một nhân vật nổi tiếng của lý luận quản lý hiện đại thuộc trường phái lý luận quyền biến, cho rằng, trước hết phải phân biệt một cách chính xác “cơ cấu cơ bản” và "cơ chế vận hành" Khi nói đến cơ cấu cơ bản của một doanh nghiệp, người ta cần phải xét đến những vấn đề chủ yếu như sự phân công trong nội bộ tổ chức việc sắp xếp nhiệm vụ công tác cho các phòng, ban khác nhau, làm thế nào để thực hiện sự điều hòa, phối hợp cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện được mục tiêu tổng thể của doanh nghiệp
Đáp án của những vấn đề này là: các doanh nghiệp thường dùng hình thức biểu đồ để thể hiện cơ cấu tổ chức (như biểu đồ về hệ thống tổ chức) Mặc dù đến nay, rất nhiều giám đốc vẫn sử dụng một cách rộng rãi các loại biểu đồ, nhưng nếu chỉ có cơ cấu cơ bản thì không đủ mà cần phải thông qua
cơ chế vận hành để tăng cường cơ cấu cơ bản, đảm bảo thực hiện ý đồ của cơ cấu cơ bản Cơ chế vận hành là trình tự điều khiển, hệ thống thông tin, chế độ thưởng phạt cũng như các chế độ đã được quy phạm hóa
Việc xác lập và tăng cường cơ chế vận hành sẽ làm cho công nhân viên hiểu rõ rằng, cái mà doanh nghiệp yêu cầu và mong muốn ở họ là cái gì? Một
cơ chế vận hành tốt sẽ khích lệ công nhân viên đồng tâm hiệp lực, gắng sức thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Điều đó cũng có nghĩa là cơ chế vận
Trang 16hành đem lại nội dung và sức sống cho cơ cấu cơ bản của doanh nghiệp
Lý luận quản lý cổ điển về cơ cấu tổ chức:
Lorsch cho rằng, kinh nghiệm chủ yếu của các học giả nổi tiếng của lý luận cổ điển và những người theo họ là kinh nghiệm thực tế của các doanh nghiệp ở thời kỳ đầu của thế kỷ XX
Đối với những nhà lý luận quản lý cổ điển, việc điều hòa, phối hợp trong nội bộ doanh nghiệp không quan trọng Họ nhận định một cách đơn giản rằng, sau khi phân công trong nội bộ doanh nghiệp, những mục tiêu nhỏ của các tổ hợp lao động được tổng hợp lại sẽ trở thành mục tiêu lớn của doanh nghiệp Nếu cần điều phối thì hoàn toàn có thể dựa vào nhân viên quản lý kinh doanh
ở tầng lớp trên giải quyết Lý luận của họ là công nhân viên phải nghe theo sự chỉ huy của giám đốc Do đó, cơ cấu điều phối có hiệu quả duy nhất chỉ có thể
là tầng lớp giám đốc
Nhưng lý luận quản lý cổ điển còn có rất nhiều khiếm khuyết Trước hết,
nó rất khó khích lệ tính tích cực của doanh nghiệp Thứ hai, sự hạn chế của lý luận đó rất dễ biểu hiện ở những doanh nghiệp lớn vì ở đó, tầng nấc phân công rất phức tạp Thứ ba, trên thực tế, các giám đốc ngày càng nhận thức được rằng, nếu chỉ dựa vào sự lãnh đạo ở tầng cao của doanh nghiệp thì rất khó thực hiện được sự điều hòa, phối hợp trong tổ hợp lao động cơ sở và nó
sẽ không tự động hợp thành mục tiêu lớn của doanh nghiệp
Lý luận quản lý hiện đại về thiết kế cơ cấu tổ chức doanh nghiệp:
Trường phái quản lý hệ thống trong lý luận quản lý hiện đại cho rằng, thiết kế tổ chức là do nhiệm vụ sản xuất và tố chất (chất lượng) của công nhân viên của doanh nghiệp quyết định Về mặt này, nghiên cứu của một số học giả
Mỹ về quản lý đều thừa nhận tính hữu hiệu của lý luận này Họ cho rằng, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp là vấn đề quan trọng có liên quan đến thành công của doanh nghiệp
Họ đã trình bày những yếu tố chủ yếu cấu thành cơ cấu tổ chức của
Trang 17những doanh nghiệp thành công, nhưng lại chưa đề ra được một đường lối hữu hiệu, hoàn chỉnh để giải quyết vấn đề cơ cấu tổ chức doanh nghiệp một cách có hệ thống Trên cơ sở những nghiên cứu của mình, Lorsch đã tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu và viết ra cuốn "Thiết kế cơ cấu tổ chức”, hình thành một
hệ thống lý luận hoàn chỉnh về thiết kế cơ cấu tổ chức
Lý luận về thiết kế cơ cấu tổ chức của Lorsch:
Những suy nghĩ về thiết kế cơ cấu tổ chức do Lorsch đề ra bao hàm 2 khái niệm cơ bản: "Sự dị biệt" hoặc "sự khác biệt”, Sự "tổng hợp" hoặc "tổng thể hóa"
Sự dị biệt ở đây là trình độ nhận thức và tinh thần, tư tưởng của người quản
lý ở các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp và những sự khác nhau về cơ cấu tổ chức chính thức của các bộ phận đó Không như các học giả theo lý luận quản lý cổ điển, coi phân công là nhân tố duy nhất quyết định năng suất lao động
và hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp, Lorsch cho rằng, mỗi bộ phận sản xuất của doanh nghiệp đều là một đơn vị nhỏ của doanh nghiệp
Những thành viên của các bộ phận đó đều xuất phát từ nhiệm vụ sản xuất
và tố chất của nhân viên mà hình thành phương hướng phát triển và cơ cấu tổ chức của mình một cách hết sức tự nhiên Bởi vì, mỗi bộ phận khác nhau đều nằm trong môi trường khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp Giữa những bộ phận ấy có sự khác biệt một cách hết sức tự nhiên ở mức độ khác nhau
Một khái niệm cơ bản khác là sự "tổng hợp” Khái niệm này là để chỉ những sức ép, thách thức và đòi hỏi trong những hoàn cảnh nhất định, năng lực và trình độ hợp tác, điều hòa của các bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp Theo đó, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là sự phối hợp và điều hành giữa các bộ phận để thực hiện nhiệm vụ của doanh nghiệp Bao gồm các vấn
đề về quản lý con người, về thị trường, công nghệ và các chiến lược tác nghiệp khác nhằm đạt hiệu quả kinh doanh
1.1.3 Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng cơ chế quản lý doanh
Trang 18nghiệp BCVT
1.1.3.1 Đặc điểm doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông
Ngoài những đặc điểm chung giống như mọi ngành sản xuất khác, Bưu chính Viễn thông (còn gọi là Bưu điện) còn có những đặc điểm mang bản chất kinh tế riêng biệt của nó Có nhận thức đầy đủ các đặc điểm này thì mới giải quyết đúng đắn các vấn đề về quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và quản lý sử dụng vốn nói riêng
- Thứ nhất, xu hướng chuyên môn hoá là một tất yếu khách quan do đặc
điểm kỹ thuật công nghệ của Ngành và sự phát triển đa dạng của nền kinh tế thị trường Khoa học kỹ thuật càng phát triển thì xu hướng này càng được thể hiện rõ Hoạt động trong lĩnh vực chất lượng và thời gian truyền tin phụ thuộc rất nhiều vào máy móc thiết bị thông tin hiện đại Vì vậy, đầu tư vốn phải được tính toán hiệu quả và sử dụng đúng mục đích, không dàn trải
- Thứ hai, do tính chất của ngành Bưu điện phụ thuộc vào từng vùng
lãnh thổ, nên quá trình sản xuất và tiêu thụ cũng mang tính chất vùng Mỗi vùng phụ thuộc vào vị trí địa lý, trình độ phát triển kinh tế, xã hội , nhu cầu sử dụng thông tin khác nhau Đương nhiên tính chất vùng hình thành tương quan cung cầu về các dịch vụ thông tin rất khác nhau và sản phẩm sản xuất
ra đến đâu tiêu thụ ngay tới đó Khó có thể điều hoà sản phẩm ở nơi có chi phí thập, giá bán thấp đến nơi có giá bán cao, càng không thể lưu kho, lưu bãi
Do đó sản phẩm của Bưu điện không có xu hướng đầu cơ, không hình thành các " cơn sốt" như các sản phẩm khác Quan hệ cung cầu đối với sản phẩm có khả năng phản ánh đúng nhu cầu thực tế và khả năng cung ứng Đây là đặc điểm nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc xây dựng kế hoạch đầu tư từng vùng, lãnh thổ
- Thứ ba, xu hướng cạnh tranh trong kinh doanh Bưu chính Viễn thông:
+ Cạnh tranh giữa các chuyên ngành Bưu điện
Trang 19+ Cạnh tranh khách hàng trên cùng một thị trường+ Cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ.
Bưu chính - Viễn thông là một ngành nghề kinh tế thuộc kết cấu hạ tầng
có vai trò quan trọng trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
là mạch máu thông tin liên lạc của Đảng và Nhà nước Nhằm đảm bảo cho nhu cầu xã hội được đáp ứng chất lượng cao về mọi mặt, giá cả hợp lý, nơi có lãi cao bù nơi có lãi thấp, khu vực có thu nhập cao bù khu vực có thu nhập thấp Do vậy, Nhà nước trực tiếp tính toán và ban hành cước phí các dịch vụ
cơ bản
- Thứ tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn luôn phải dự trữ
năng lực cho những nhu cầu cần thiết sau đây:
+ Dự trữ để thay thế cho bộ phận mạng lưới hỏng hóc nhằm đảm bảo chất lượng phục vụ, đảm bảo sự liên tục của sản xuất
+ Dự trữ đoán trước sự phát triển nhu cầu xã hội để đảm bảo luôn đi trước 1 bước trong hệ thống kết cấu hạ tấng cơ sở kinh tế toàn xã hội Đặc điểm này chi phối đến kế hoạch huy động và sử dụng vốn có hiệu quả
Trong cơ cấu giá thành các sản phẩm của Bưu điện tỷ trọng chi phí cố định lớn, phần chi phí biến đổi không lớn, đặc biệt là các sản phẩm viễn thông Đặc điểm này cũng chi phối đến kế hoạch đầu tư vốn
- Thứ năm, sản xuất trên một địa bàn rộng lớn, trên mặt đất, trong mặt
đất, trên không trung, cáp quang dưới đáy đại dương Bưu điện là ngành có tốc độ hao mòn vô hình vào loại nhanh nhất Đặc biệt trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay chu kỳ đổi mới công nghệ chỉ từ 1 - 3 năm Đặc điểm này đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn lớn nhưng lại phải biết đầu tư, sử dụng, bởi vì độ mạo hiểm rủi ro cao
- Thứ sáu, do đặc thù của ngành, quá trình sản xuất gắn liền tiêu thụ, do
cung cấp dịch vụ trước, thu tiền sau, nên luôn có khoản ghi nợ phải thu khách hàng gọi là Bưu điện phí ghi nợ, đây là số tiền khách hàng phải trả do đã sử dụng các dịch vụ BC - VT theo giá cước Đặc điểm này buộc doanh nghiệp
Trang 20BCVT phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động và có các biện pháp thu cước một cách hiệu qủa để đảm bảo thường xuyên nhu cầu vốn kinh doanh trong kỳ.
Bưu điện là ngành dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân Ngành Bưu điện vừa kinh doanh vừa phục vụ Do đó, cơ chế quản lý doanh nghiệp BCVT vừa có đặc điểm của một doanh nghiệp kinh doanh, vừa
có đặc điểm của một đơn vị công ích, đồng thời, có tính chất đặc thù ngành trong phương thức quản lý doanh nghiệp Cụ thể là:
- Cơ chế quản lý doanh nghiệp BCVT mang đặc điểm của doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình Tổng công ty 91, đang dần chuyển sang
cơ chế quản lý của Tập đoàn kinh tế; Có các qui định mang tính đặc thù riêng của ngành
- Các chính sách về đầu tư, phát triển hạ tầng vừa có mục đích kinh doanh, vừa phục vụ theo định hướng phát triển BCVT của đất nước cho tất cả các vùng lãnh thổ, theo qui định chung của ngành
- Có xuất phát điểm thấp, là ngành độc quyền tự nhiên nên việc tổ chức điều hành còn gặp nhiều khó khăn, chậm đổi mới về phương thức bán hàng và phục vụ
- Có sự điều tiết, phân chia kết quả giữa các bên cùng tham gia khai thác dịch vụ do đặc điểm loại hình dịch vụ mang tính chất hai chiều đi - đến
1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông
Luật pháp kinh tế :
Với đặc điểm là ngành độc quyền tự nhiên, cho đến nay, dù đã xoá độc quyền nhưng ngành BCVT vẫn chỉ có sự xuất hiện của các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) Và do đó, cơ chế quản lý doanh nghiệp BCVT trong thời gian qua chịu tác động trực tiếp của Luật DNNN
Sau quá trình xây dựng, sửa đổi, Luật DNNN (năm 2003) đã có những
Trang 21bước tiến rõ rệt, giúp cho các DNNN có môi trường hoạt động thông thoáng hơn, thể hiện ở chỗ Luật đã qui định rõ mục tiêu hoạt động của công ty nhà nước là tập trung vào hoạt động kinh doanh, chuyển quản lý doanh nghiệp công ích sang quản lý hoạt động công ích, thực hiện cơ chế đấu thầu hoạt động công ích Luật DNNN sửa đổi cũng đã qui định rõ về tài sản, quyền về tài sản cho doanh nghiệp; tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp; Xoá bỏ các loại bao cấp, bao gồm khoanh nợ, dãn nợ, xoá nợ, bù lỗ, Bổ sung cơ chế tạo động lực mạnh mẽ hơn đối với doanh nghiệp Nhà nước và trách nhiệm cao hơn đối với cán bộ quản lý về đầu tư và kết quả kinh doanh, gắn trách nhiệm quản lý với kết quả kinh doanh.
HĐQT là cơ quan quản lý của doanh nghiệp, thực hiện chức năng đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp, trừ những thẩm quyền được phân cấp cho các cơ quan nhà nước
Luật cũng có các qui định về chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, tổ chức lại các tổng công ty, tạo các điều kiện để phát triển tổng công ty theo mô hình công ty mẹ – công ty con
Tuy nhiên, DNNN vẫn phải chịu ràng buộc hay chi phối bởi sự can thiệp mang tính chất hành chính, chủ quan và thiếu phối hợp của không ít cơ quan nhà nước Ví dụ, trong các vấn đề liên quan đến sự sống còn của DNNN thì
Bộ chuyên ngành quyết về chiến lược, Bộ Nội vụ quyết về nhân sự, Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết về dự án đầu tư, Bộ Tài chính cấp vốn
Năm 2005, Luật doanh nghiệp thống nhất được ban hành, Luật doanh nghiệp 2005 có mục đích kết hợp và tiến tới thay thế các quy định hiện hành
về thành lập, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp trong các luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp Nhà nước Luật DNTN tạo ra khung pháp lý áp dụng theo loại hình, đặc trưng của doanh nghiệp chứ không theo chủ thể sở hữu doanh nghiệp Cụ thể là Luật DNTN qui định về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của bốn loại hình
Trang 22doanh nghiệp cơ bản: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH và công ty cổ phần Bất cứ doanh nghiệp nào thuộc một trong bốn loại hình này đều được điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp thống nhất mà không phụ thuộc vào tính chất sở hữu của doanh nghiệp
Quyền kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng, tính tự chủ kinh doanh được nâng cao, việc quản trị cũng được cải thiện và ít phải phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước hơn
Tuy nhiên, sự khác biệt bất hợp lý giữa doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có thực sự được xóa bỏ hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), muốn hoạt động theo Luật doanh nghiệp thì phải chuyển đổi loại hình sang công ty TNHH hoặc công ty cổ phần Có quy định bắt buộc các DNNN phải chuyển sang hoạt động theo luật Doanh nghiệp hay không, thời gian phải chuyển đổi là bao lâu vẫn đang còn là một ẩn số Nếu vẫn còn các DNNN nằm ngoài sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp thì chưa thể có một sân chơi chung cho tất cả các thành phần kinh tế
Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là quyền của doanh nghiệp được tự chủ quyết định các vấn đề trong các hoạt động kinh doanh, đặc biệt là quyền đầu tư kinh doanh và quyền huy động vốn Mở rộng quyền
tự do kinh doanh của doanh nghiệp cũng có nghĩa là hạn chế sự can thiệp hành chính tùy ý của các cơ quan nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp.Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm chứ không chỉ bị giới hạn trong nội dung của giấy phép đầu tư như qui định trong Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành Đồng thời, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ được hưởng chế độ đăng ký kinh doanh giống như các doanh nghiệp tư nhân trong nước, nhờ đó việc thành lập doanh nghiệp trở nên đơn giản, nhanh và ít chi phí hơn so với chế
độ cấp phép đầu tư phức tạp, tuỳ tiện và tốn kém hiện nay Các doanh nghiệp
Trang 23nước ngoài sẽ không bị giới hạn ở một loại hình công ty TNHH như hiện nay
mà sẽ được tự do chọn các loại hình doanh nghiệp phù hợp, ví dụ công ty cổ phần với lợi thế về huy động vốn trên thị trường tài chính Những khống chế
về mức sở hữu (30%) đối với đầu tư nước ngoài về cơ bản sẽ được xóa bỏ Đối với một số ngành, nghề hạn chế kinh doanh áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ có quy định những điều kiện nhất định
mà nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng theo hướng công khai, minh bạch hơn Những thay đổi này chắc chắn sẽ góp phần tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư
Luật DNTN sẽ tạo một khung quản trị thống nhất và phù hợp với thông
lệ quốc tế để áp dụng cho các DNtrong nước (DNtư nhân, DNNN đã chuyển đổi và DNcó vốn đầu tư nước ngoài) Điều này góp phần nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp, tăng cường tính cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao khả năng thích ứng với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Khung pháp lý chung sẽ giúp giải quyết những tồn tại trong quản trị DNNN, ví dụ như quyền chủ sở hữu và quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý chưa được xác định đầy đủ và rõ ràng, vẫn còn chế độ "hành chính chủ quản",
cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm người quản lý chưa hợp lý, cơ chế giám sát điều hành kém hiệu quả v.v
Luật doanh nghiệp 2005 giành một chương mới về Công ty mẹ, công ty con và nhóm công ty - một hiện tượng rất phổ biến trên thế giới nhưng lại là
mô hình mới ở Việt Nam Những quy định này mở ra những cơ hội đầu tư mới cho các nhà đầu tư nước ngoài, tạo một hướng phát triển mới trong cải cách DNNN và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân mở rộng quy mô kinh doanh một cách hiệu quả mà vẫn kiểm soát được những rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động
Nhìn chung Luật doanh nghiệp đã đáp ứng được những yêu cầu đặt ra
Trang 24trong tư tưởng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đó là: i) mở rộng quyền tự
do kinh doanh để tất cả các doanh nghiệp được kinh doanh và đầu tư trong mọi lĩnh vực luật pháp không cấm cũng như được tự chủ và tự chịu trách nhiệm về doanh nghiệp của mình; ii) đổi mới chức năng quản lý hành chính nhà nước cho phù hợp với nền kinh tế thị trường và tăng cường tính minh bạch; iii) phù hợp với các nguyên tắc quốc tế và cam kết của Chính phủ Việt Nam trong các thoả thuận hội nhập
Tuy nhiên, để Luật doanh nghiệp có thể phát huy được hiệu lực và đi vào cuộc sống thì cần có sự thống nhất giữa nội dung của Luật này và các quy định hiện hành khác có liên quan (ví dụ luật DNNN, Luật đầu tư, một số luật chuyên ngành và các cam kết quốc tế); Đồng thời, phụ thuộc vào tiến độ chuyển đổi, sắp xếp lại các doanh nghiệp
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế mà thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực và các quan hệ kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân thông qua các qui luật của thị trường, trước hết là qui luật giá trị; đồng thời có sự bổ sung, kết hợp của các qui luật của CNXH như qui luật phát triển có kế hoạch, cân đối, công bằng giữa các vùng và thành phần kinh tế
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN trong giai đoạn đầu của CNXH Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam mới bước đầu hình thành và còn cần phải tiếp tục xây dựng, phát triển và hoàn thiện Nó không phải là kinh tế thị trường phát triển hay kinh tế thị trường tự nhiên phát triển, và cũng chưa phải là kinh tế thị truờng XHCN
Quá trình xây dựng và từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
Trang 25định hướng XHCN ở Việt Nam đã và đang được thực hiện trên các mặt:
Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về kinh tế, tạo khung pháp lý
cho kinh tế thị trường định hướng XHCN Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã ban hành mới, sửa đổi bổ sung nhiều Luật và văn bản dưới luật
về tổ chức và hoạt động của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Đó là pháp luật về doanh nghiệp nhà nước (luật DNNN năm 1995, 2003), về doanh nghiệp dân doanh (Luật Công ty năm 1990; Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990; luật doanh nghiệp năm 1990 ), về kinh tế tập thể (Luật Hợp tác xã năm 1995, 2003), về các đơn vị sự nghiệp có thu Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng, mặc dù đã có nhiều đổi mới và đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu của kinh tế thị trường mà Luật Doanh nghiệp là một ví dụ, nhưng hệ thống pháp luật của Việt Nam vẫn thiếu nhiều qui định quan trọng; còn nhiều nội dung chưa phù hợp với các nguyên tắc của WTO và chậm được cải tiến so với các nước trong khu vực Quy định của pháp luật còn thiếu cụ thể, rõ ràng và quá hay bị thay đổi, thiếu nhất quán nên khó dự đoán trước được Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạn thực thi pháp luật yếu kém; pháp luật không đi vào cuộc sống hoặc bị lợi dụng, vi phạm
Để hoàn thiện khung khổ pháp luật phù hợp và phục vụ cho phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, Việt Nam đang đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng pháp luật phù hợp không những với thực tế Việt Nam
mà còn cả với các cam kết hội nhập và các qui định của WTO Thực hiện tự
do hoá kinh tế, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng của các chủ thể kinh
tế, một mặt bằng pháp lý và các điều kiện kinh doanh chủ yếu trên thương trường cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là yêu cầu đang được đặt ra trong công tác xây dựng pháp luật về kinh tế ở Việt Nam
Thứ hai, thực hiện cải cách hành chính Trong những năm đổi mới vừa
Trang 26qua, công tác cải cách hành chính đã được chú trọng nhiều hơn, gắn kết và phục
vụ tốt hơn cho quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN
Thứ ba, đổi mới quản lý Nhà nước về kinh tế Đổi mới về chức năng kinh
tế của nhà nước và phương thức quản lý nhà nước về kinh tế Trong đó, đối với doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước chung đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vừa thực hiện chức năng của chủ sở hữu (hoặc đại diện chủ sở hữu) theo hướng ngày àng phải phân định rõ hơn giữa hai chức năng này Nhà nước có thể và cần biết sử dụng doanh nghiệp nhà nước như một công cụ quan trọng để định hướng XHCN cho nền kinh tế thị trường
Về phương thức quản lý kinh tế cơ bản được đổi mới theo hướng căn
cứ pháp luật, sử dụng tốt hơn các công cụ vĩ mô, các nguồn lực vật chất trong tay nhà nước, các DNNN để định hướng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN Tuy nhiên cũng phải chỉ ra rằng, hệ thống pháp luật kinh tế hiện nay chưa hoàn toàn đã là thị trường, lại càng chưa là thị trường định hướng XHCN Các công cụ chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, và các công cụ vĩ mô khác chưa thật sắc bén, hiệu quả và thị trường, đồng thời trong không ít trường hợp cũng chưa được sử dụng đúng mục đích và đúng cách Điều này được thể hiện ở không ít trường hợp có sự can thiệp trực tiếp quá sâu, thậm chí không phù hợp với qui định của pháp luật của một số cơ quan nhà nước vào các dự án, doanh nghiệp, nhất là DNNN; ở tình trạng đầu
tư của Nhà nước, DNNN còn lớn và kém hiệu quả Hiện nay, đổi mới quản
lý nhà nước đang được ưu tiên hàng đầu Một loạt những chính sách, biện pháp đã được đề ra và áp dụng nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng công tác qui hoạch, kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội
Thứ tư là hình thành, phát triển các loại thị trường chủ yếu, bao gồm thị trường hàng hoá, dịch vụ thông thường và các thị trường nhân tố sản xuất
Thị trường tự do ngày càng được mở rộng; thị trường độc quyền nhà nước
Trang 27hoặc độc quyền doanh nghiệp nhà nước, thị trường gia nhập có điều kiện ngày càng bị thu hẹp; cơ chế thị trường ngày càng được áp dụng phổ biến và triệt
để hơn Thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ cũng từng bước được hình thành và phát triển Tuy nhiên, thị trường phi chính qui vẫn chiếm tỷ lệ khá lớn, khung pháp lý cho việc hình thành thị trường chính qui còn mới mẻ, nhiều bất cập, hệ thống các tổ chức quản lý nhà nước và các chủ thể tham gia các thị trường này còn nhỏ bé, yếu kém, cần được tạo điều kiện để phát triển
Liên hệ ngành BCVTVN:
Với những đặc điểm trên, việc hình thành khung pháp lý, “sân chơi” cho các doanh nghiệp nói chung và ngành BCVT nói riêng chưa thể hoàn thiện, mà vẫn tồn tại những bất cập, rào cản, và đôi khi là sự thiệt thòi cho các doanh nghiệp trong quá trình tham gia vào thị trường Điều đó đòi hỏi sự đổi mới của môi trường thể chế kinh tế nói chung và cơ chế quản lý của doanh nghiệp nói riêng là điều tất yếu
Hội nhập kinh tế quốc tế
Ngành Bưu điện đã tham gia các thoả thuận: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á - ASEAN; Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu á Thái Bình Dương; Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
Đối với dịch vụ gia tăng giá trị: Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, với những dịch vụ đã được tiêu dùng và quảng bá trên toàn thế giới cũng như lãnh thổ Hoa Kỳ, các dịch vụ gia tăng giá trị sẽ xuất hiện không
bị giới hạn bởi con số nhỏ nhoi là một vài chục dịch vụ mà ngành BCVTVN đang cung cấp, nó sẽ xuất hiện với con số hàng trăm Hai năm sau khi Hiệp định có hiệu lực các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ được phép thành lập liên doanh với các đối tác được phép cung cấp dịch vụ Viễn thông tại Việt Nam Các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp dịch vụ Viễn thông trong thời gian qua
đã phải đối đầu và trong tương lai phải đối đầu với hai xu thế:
- Cạnh tranh giữa các công ty thuần nhất về vốn và quản lý trong nước
Trang 28- Cạnh tranh với các công ty có sở hữu nước ngoài
Lợi thế của các doanh nghiệp ra đời sau là được tự do lựa chọn và thừa hưởng những thành quả của những người đi trước, chính vì vậy mà các công
ty cung cấp dịch vụ viễn thông ra đời sau với bộ máy gọn nhẹ hơn, thị trường được phép lựa chọn, đồng thời lại được thừa hưởng những ưu đãi theo phương thức giá cả sẽ tạo ra sức cạnh tranh vô cùng lớn đối với những doanh nghiệp đã cung cấp dịch vụ trước đây
Đối với các dịch vụ Viễn thông cơ bản và thoại cơ bản: Với việc cải cách
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam các cơ hội kinh doanh ngày càng gia tăng, tạo ra các biến thể mới trong việc vận dụng các hình thức đầu tư nước ngoài Nổi bật trong đó là hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực Viễn thông Việc thành lập một cơ chế trung gian tồn tại giữa hai đối tác khi kinh doanh trên thị trường viễn thông Việt Nam trên cơ sở Hợp đồng hợp tác kinh doanh là đã có và đã thực hiện suôn sẻ Công việc tiếp theo của những nhà đầu tư nước ngoài là thuyết phục đối tác Việt Nam nhường một số quyền điều hành và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh chính từ các môi trường và cơ cấu trung gian nói trên Đây là công việc chuẩn bị rất tốt cho việc thiết lập và vận hành liên doanh trong chính lĩnh vực Viễn thông Vì vậy
để chiếm lĩnh thị trường và nắm quyền quản lý, không ít đối tác nước ngoài sẵn sàng từ bỏ một phần lợi nhuận thích hợp trong cơ chế ăn chia để đạt được mục đích lâu dài
Về vốn đầu tư và con người:
Tương tự như bất kỳ ngành dịch vụ hay sản xuất công nghiệp nào khác, các doanh nghiệp BCVT sẽ phải đối đầu với việc huy động vốn từ các thị trường trong nước và thị trường nước ngoài một khi chỉ duy trì các công cụ huy động vốn thông qua vay trực tiếp hay đầu tư trực tiếp từ các quan hệ truyền thống Về bản chất các nguồn vốn của các đối tác nước ngoài thông qua Hợp đồng hợp tác kinh doanh với ngành BCVT VN cũng chỉ là việc huy
Trang 29động từ các thị trường vốn nước ngoài, tuy nhiên điểm khác biệt là các đối tác gánh chịu rủi ro trực tiếp với nhà đầu tư hữu danh hoặc vô danh và cũng chính vì vậy các đối tác sẽ cố gắng hạn chế mức độ giải ngân lớn và gia tăng mức độ quay vòng vốn đầu tư, tận thu thông qua các công trình đầu tư Khi xuất hiện các nhà cung cấp dịch vụ mới, chắc chắn các đối tác sẽ yêu cầu gia tăng mức can thiệp vào các quá trình ra quyết định nếu không họ sẽ tận dụng các lợi thế về hiểu biết thị trường mà chuyển đổi sang các hình thức có lợi hơn cho họ Do vậy trong một giai đoạn nhất định việc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư cho việc phát triển cơ sở hạ tầng mạng lưới của doanh nghiệp BCVT
VN sẽ gặp những khó khăn và sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới các kế hoạch
đã được dự trù Bên cạnh việc cạnh tranh về thu hút nguồn vốn, doanh nghiệp BCVTVN sẽ phải chạy đua trong cuộc cạnh tranh về thu hút nguồn nhân lực
có kinh nghiệm, đã qua đào tạo, bởi lẽ với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường và các kênh phân phối dịch vụ không một nhà cung cấp dịch vụ mới xuất hiện nào không nghĩ đến việc giảm chi phí đào tạo thông qua thu hút nhân lực của đối thủ cạnh tranh
Về công nghệ:
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đã góp phần làm thay đổi phương thức kinh doanh của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông trên thế giới Trong khi các doanh nghiệp BCVT vẫn phải duy trì những công nghệ hiện đại đã có sẵn trên mạng lưới nhằm mục đích hoàn vốn đầu tư và phát triển ổn định thì cũng sẽ rất dễ dẫn tới rơi vào cuộc chạy đua công nghệ mới cần tránh không bị tụt hậu song lại không bị rơi vào bẫy chạy đua đầu tư công nghệ mới với các đối thủ có công nghệ mạnh như Hoa Kỳ
Về dịch vụ Bưu chính:
Mặc dù các dịch vụ bưu chính chưa tiến hành cam kết song trong tương lai khi mà các dịch vụ này thuộc diện điều chỉnh của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ thì các vấn đề xuất hiện cũng sẽ tương tự như với các
Trang 30dịch vụ Viễn thông Không thể nói là các dịch vụ bưu chính không bị ảnh hưởng bởi các cam kết về mở cửa thị trường viễn thông Dịch vụ bưu chính tronh những thập niên gần đây đã luôn tồn tại chịu ảnh hưởng qua lại của viễn thông, với sức ép ngày càng gia tăng Khi mà thị trường viễn thông có những biến động lớn sức ép này sẽ lại càng gia tăng cường độ và đòi hỏi các nhà cung cấp dịch vụ bưu chính tồn tại với qui luật này Các doanh nghiệp cung cấp bưu chính của Hoa Kỳ cũng là những doanh nghiệp hàng đầu trên thế giới, do vậy tương ứng với việc các định chế kinh doanh quốc tế khác như Tổ chức thương mại thế giới WTO đưa dịch vụ bưu chính vào đàm phán, các doanh nghiệp này sẽ tạo sức ép để Hoa Kỳ đưa loại hình dịch vụ này vào đàm phán với Việt Nam.
Khi các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông quốc tế vào Việt Nam, họ sẽ
đầu tư, hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước huy động thêm nguồn vốn, nâng cao công nghệ và tính chuyên nghiệp trong quản lý Và việc liên doanh với các doanh nghiệp quốc tế theo lộ trình đã được cam kết, kể cả về vốn cũng như việc điều hành kinh doanh trong lĩnh vực hạ tầng mạng cần phải được chú trọng.
Hiện nay, riêng về mạng thông tin di động thì Việt Nam đã có 05 mạng
thông tin di động (VinaPhone, MobiFone, Viettel Mobile, S-Fone, E-Mobile) đang hoạt động, sắp tới lại có thêm mạng di động của Hanoi Telecom ( 092 ); Việt Nam đang triển khai hai công nghệ di động tiên tiến của thế giới là GSM
và CDMA, trong đó ba mạng thông tin di động sử dụng công nghệ GSM và
ba mạng thông tin di động sử dụng công nghệ CDMA Vì vậy, việc đầu tư xây dựng thêm các mạng thông tin di động mới ở Việt Nam của các doanh nghiệp nước ngoài là không dễ dàng Tuy nhiên, các doanh nghiệp nước ngoài vẫn
có thể tham gia thị trường thông tin di động bằng việc đầu tư vào các mạng thông tin di động Việt Nam thông qua mua cổ phần Như vậy, các mạng thông tin di động của doanh nghiệp trong nước sẽ tranh thủ được nguồn vốn đầu tư,
Trang 31công nghệ, trình độ quản lý của nước ngoài Đây sẽ là cơ hội tốt cho cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài trên đường phát triển.
Thách thức lớn nhất khi Việt Nam gia nhập WTO là sức ép cạnh
tranh không chỉ về thị trường công nghệ, khách hàng mà cả về giá cước,
nguồn nhân lực Bởi vậy, các doanh nghiệp cần khẳng định vị thế của mình bằng việc tích luỹ vốn, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm khai thác, chất lượng dịch vụ tốt và xây dựng đội ngũ cán bộ mạnh Muốn vậy, các doanh nghiệp phải tự chuẩn hóa mạng lưới theo một chiến lược dài hạn,
có chiến lược cạnh tranh hợp lý, tăng cường đầu tư nghiên cứu công nghệ
để phát triển thêm dịch vụ mới, đồng thời có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhau để cùng phát triển trên cơ sở bình đẳng, bảo đảm nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp cũng như của toàn ngành Riêng đối với VNTP, để đáp ứng yêu cầu bức thiết là nâng cao sức cạnh tranh, Tập đoàn này sẽ tiếp tục cơ cấu lại tổ chức kinh doanh năng động, đào tạo phát triển nguồn nhân lực và phát huy các quan hệ hợp tác với các đối tác truyền thống, đồng thời với việc tăng cường xây dựng và phát triển các mối quan hệ mới trên cơ sở đôi bên cùng có lợi và coi đây là trọng tâm trong việc chuẩn bị các khả năng gia nhập WTO.
1.2 VAI TRÒ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP BCVT
1.2.1 Vai trò Bưu chính Viễn thông trong nền kinh tế
Ngành Bưu chính Viễn thông là một trong những ngành mũi nhọn của nền kinh tế có hàm lượng khoa học và công nghệ cao BCVT và CNTT trở thành không thể thiếu cho các quốc gia chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia, phù hợp xu thế phát triển của kinh tế tri thức trên phạm vi toàn cầu
Công ước của UPU (Tổ chức Liên minh Bưu chính Thế giới) nêu rõ:
“Trách nhiệm của UPU là phục vụ mọi công dân, không phân biệt người đó
Trang 32sống ở thành thị hay vùng nông thôn hẻo lánh, xa xôi, là trọng tâm của khái niệm “dịch vụ phổ cập” Hiện nay, Bưu chính gần như có mặt ở khắp mọi nơi, thậm chí ở cả những nơi xa xôi, hẻo lánh nhất của nhiều nước - và các dịch vụ bưu chính là phương tiện truy cập cốt yếu với thế giới bên ngoài Các điểm phục vụ luôn mở cửa cho tất cả mọi người, không có sự phân biệt đối
xử, làm cho bưu chính trở thành hiện tượng phổ cập cơ bản, là nguồn lực cho
sự hội nhập Ngày nay, bưu cục có ý nghĩa hơn trước rất nhiều, nó không chỉ
là nơi bạn đến để gửi và nhận bưu phẩm, bưu kiện mà còn là trung tâm của các dịch vụ điện tử và dịch vụ tài chính Thông qua việc sử dụng có hiệu quả các công nghệ mới, mạng lưới bưu chính thế giới đã đẩy lùi ranh giới vật lý giữa các nước Hơn bao giờ hết, các hoạt động của ngành Bưu chính đang giúp cho việc xây dựng nền kinh tế quốc gia, giảm đói nghèo trên toàn thế giới Một ví dụ điển hình nhất cho thấy sức mạnh của ngành Bưu chính mà người dân các nước đang hưởng lợi: Đó là mạng lưới tài chính bưu chính toàn cầu dựa trên công nghệ tiên tiến nhất do Liên minh Bưu chính Thế giới lập ra, các lao động di trú và hàng triệu người thân bất kỳ nơi đâu trên thế giới đang bắt đầu được hưởng lợi từ sự đa dạng hóa các loại hình dịch vụ bưu chính và làm cho hoạt động dịch vụ chuyển tiền được thực hiện đảm bảo
về thời gian với giá cước rất hợp lý Theo Liên hợp quốc, lao động nhập cư chiếm khoảng 3 % dân số trên thế giới Những lao động này thường phải rời
bỏ quê hương mình để đi kiếm sống, điều này giúp cho gia đình của họ ở quê hương có được một cuộc sống tốt hơn Theo các số liệu của Ngân hàng thế giới, lao động nhập cư đã chuyển tổng cộng 110 tỷ USD trong năm 2004, tăng 52 % so với năm 2001 Và với mỗi giao dịch chuyển tiền trung bình 200 USD, các khách hàng không chỉ đòi hỏi dịch vụ có chất lượng tin cậy mà còn phải có khả năng đáp ứng được mọi yêu cầu về chuyển tiền Hơn nữa, số lượng tiền được chuyển qua bưu chính là nguồn tài chính lớn thứ 2 cho việc đầu tư phát triển đất nước, chỉ đứng sau đầu tư trực tiếp.
Trang 33Ngày nay, toàn cầu hóa đang thúc đẩy quá trình trao đổi qua lại giữa
con người, giữa các xã hội, các nền kinh tế và giữa các quốc gia Kết quả của chiến lược tiếp thị có hiệu quả là nhiều công ty đang mở rộng hoạt động của mình vượt ra ngoài biên giới truyền thống để tăng cường bán các sản phẩm
và phát triển dịch vụ của họ khắp nơi trên thế giới Lĩnh vực bưu chính cũng
bị ảnh hưởng của xu hướng toàn cầu hóa và chứng tỏ thế mạnh của mình từ việc gửi bưu phẩm, bưu kiện đến việc thông tin liên lạc toàn cầu chỉ trong tích tắc Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, chính bưu chính viễn thông đã chứng tỏ sức mạnh của mình bằng các dịch vụ kể trên
Sự phát triển BCVT cũng giải quyết tốt vấn đề bức xúc đối với nhiều quốc gia, đó là việc làm ở Mỹ 30 năm gần đây trong lĩnh vực BCVT đã thu hút thêm 38 triệu việc làm Hơn nữa trong những năm 90, một chỗ làm việc mới trong ngành BCVT có khả năng tạo thêm 7 chỗ làm việc mới trong lĩnh vực khác Trong khi đó, một chỗ làm việc mới trong ngành công nghiệp sản xuất máy bay chỉ tạo thêm 3,8 chỗ làm mới cho các ngành có liên quan Đồng thời, việc xây dựng một cơ sở làm việc mới cho một số bộ phận như sản xuất phần mềm thường ở qui mô vừa và nhỏ là chủ yếu, nên khi xây dựng cơ sở làm việc mới cũng thuận lợi hơn so với các ngành, lĩnh vực khác
Nhờ sự phát triển của BCVT và CNTT, việc giới thiệu, tiếp nhận các ý kiến phản hồi về một chủ trương nào đó có thể được thực hiện một cách trực tiếp, thường xuyên trên mạng máy tính Các cơ quan nhà nước có thể xây dựng các cơ sở dữ liệu của riêng mình, giới thiệu chúng trên mạng máy tính Những người quan tâm sẽ tìm hiểu các chủ trương chính sách để thực hiện nghĩa vụ và bảo vệ quyền lợi của mình, hoặc có thể đống góp ý kiến trực tiếp
về các chủ trương chính sách ấy Tại Việt Nam, một số báo, tạp chí có đăng tải các định hướng lớn và các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cũng đã được đưa lên mạng Internet như báo Nhân dân điện tử, báo Lao động, website Đảng Cộng sản Việt Nam, tạp chí Xây dựng Đảng,
Trang 34Việc ứng dụng những thành tựu của BCVT và CNTT vào các lĩnh vực như giáo dục, y tế, quản lý Nhà nước đang phát triển mạnh và có hiệu quả hơn Mạng internet đã trở thành một thư viện khổng lồ, không giới hạn biên giới với đầy đủ các kiến thức thuộc mọi lĩnh vực đời sống, rất hữu ích cho công tác nghiên cứu, học tập và các ứng dụng khác, kể cả kinh doanh.
Có thể khái quát vai trò của BCVT đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước ở những điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, các dịch vụ BCVT là một trong các động lực quan trọng nhất
của sự phát triển kinh tế – xã hội
Thứ hai, sự phát triển của ngành BCVT sẽ tạo điều kiện để đi tắt đón
đầu, rút ngắn khoảng cách so với các nước phát triển khác
1.2.2 Sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Cũng như các doanh nghiệp thuộc các ngành kinh tế khác, doanh nghiệp Bưu chính viễn thông đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới:
Thứ nhất, xuất phát với vai trò to lớn của ngành BCVT-CNTT, Nhà nước
và doanh nghiệp đều phải cố gắng để nâng cao chất lượng phục vụ, tạo điều kiện
để mọi người dân thuộc các tầng lớp đều có thể tiếp cận được theo nhu cầu Để làm được điều đó, các doanh nghiệp BCVT phải không ngừng được đổi mới Với đặc điểm lực lượng sản xuất ngành BCVT luôn phát triển như vũ bão thì vấn đề đổi mới quan hệ sản xuất cho phù hợp là một qui luật khách quan
Thứ hai, sự khiếm khuyết của cơ chế quản lý cũ đang dần được thay thế
cùng với quá trình đối mới doanh nghiệp
Là doanh nghiệp ra đời sớm nhất cùng với quá trình hình thành và phát triển của ngành bưu chính viễn thông, với vai trò chủ đạo, VNPT đã và đang thực hiện
cơ cấu lại tổ chức, đổi mới cơ chế quản lý Hầu hết các đơn vị hạch toán độc lập
đã được cổ phần hoá, các đơn vị hạch toán phụ thuộc đang thực hiện phương án chia tách Bưu chính, Viễn thông để hoạt động theo mô hình mới
Trang 35Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, VNPT và các doanh nghiệp BCVT vẫn thực hiện cơ chế kế hoạch có điều tiết; vẫn tồn tại các đơn vị hạch toán phụ thuộc, chưa tách biệt được các hoạt động kinh doanh và công ích; Cơ chế quản lý vẫn còn mang tính chất của cơ chế mệnh lệnh hành chính.
Sự chi phối thông qua mệnh lệnh hành chính được hiểu như quyền của cấp trên đối với cấp dưới trực thuộc nhằm đạt được mục tiêu hay hoàn thành nhiệm vụ mà lẽ ra cấp trên phải chịu trách nhiệm nhưng được phân cấp bớt cho cấp dưới Nếu mệnh lệnh hành chính được thông qua nhiều cấp có thể dẫn đến trường hợp kết quả cuối cùng được chịu trách nhiệm bởi nhiều cấp nhiều người và hậu quả sẽ được cùng nhau lý giải bởi nhiều lý do
Quyết định hành chính thường có hiệu quả trong một đơn vị pháp nhân nhưng nó sẽ kém hiệu quả trong mối quan hệ nhiều đơn vị pháp nhân Mỗi đơn
vị pháp nhân khi muốn đạt mục tiêu, họ được và có quyền sử dụng các giải pháp được pháp luật chấp nhận và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình Nhờ vậy, họ có thể dễ dàng, nhanh chóng, chủ động đạt được và sẵn sàng chịu trách nhiệm về mục tiêu, kết quả, hiệu quả đạt được của mình Nhưng nếu như họ đồng thời lại phải chịu sự điều hành, can thiệp và bắt buộc phải tuân theo những giải pháp của một pháp nhân khác, đặc biệt là những giải pháp về nhân sự, công cụ, cơ cấu thì trong trường hợp những sự bắt buộc đó không phù hợp thực tế, mập mờ về lợi ích thì kết quả, hiệu quả cuối cùng sẽ không còn như mong muốn nhưng trách nhiệm cụ thể lại không thuộc về ai, không thuộc về một pháp nhân nào và thường được qui về tập thể Thực tế, đối với mệnh lệnh hành chính đang được áp dụng giữa các pháp nhân hiện nay thì chủ yếu vẫn là mệnh lệnh giữa pháp nhân cấp trên với pháp nhân cấp dưới, và theo đó thì sự phân chia trách nhiệm, quyền hạn thường không bình đẳng
Với sự phân tích trên thì trong hoạt động kinh doanh, mệnh lệnh hành chính chỉ nên tồn tại trong mối quan hệ chi phối nội bộ mà không nên tồn tại trong mối quan hệ giữa các pháp nhân, dù là cấp trên với cấp dưới Cấp trên chỉ có thể dùng những cơ chế, quy chế, qui định mang tính thống nhất, độc
Trang 36lập, hợp pháp và nếu cần thì có những giải pháp chiến lược và hỗ trợ, kiểm soát để các giải pháp chiến lược được sử dụng hiệu quả.
Thứ ba, đòi hỏi của nền kinh tế thị trường, không chỉ giới hạn trong lãnh
thổ mà là thị trường toàn cầu
Mặc dù đã được bước vào “sân chơi” chung của thế giới nhưng nền kinh
tế của Việt Nam vẫn chưa được công nhận là “kinh tế thị trường” Điều đó gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp của Việt Nam trong cuộc chạy đua để tồn tại và phát triển, nhất là các doanh nghiệp muốn tiếp tục vươn ra nước ngoài Môi trường thể chế sẽ tiếp tục thay đổi để phù hợp với cơ chế thị trường
và thông lệ quốc tế, mà sự thay đổi đó được bắt đầu từ các doanh nghiệp
Hiện nay những vấn đề mấu chốt đối với các DNNN tuy đã được nhận thức, chỉ rõ, song việc triển khai các biện pháp để gỡ bỏ những bất cập, rào cản thì chưa có bước đột phá như mong đợi Đó là có quá nhiều cơ quan cùng thực hiện một số quyền liên quan đến tài sản trong doanh nghiệp; người quản trị doanh nghiệp mặc dù không sở hữu tài sản doanh nghiệp nhưng lại tham gia vào quyết định và định đoạt tài sản; trách nhiệm trong việc bổ nhiệm nhân
sự, lập kế hoạch triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn mang nặng tính chất của một đơn vị hành chính hơn là “quyền” chủ động của doanh nghiệp theo đúng nghĩa Thực tế trên làm cho qui trình quản lý và ra quyết định của doanh nghiệp nhà nước thường phải qua nhiều thang, nấc Do đó, cơ quan phê duyệt và bản thân người quản trị doanh nghiệp có cơ hội để tư lợi cá nhân, nạn tham nhũng ngày càng trở nên trầm trọng và khó ngăn chặn Trong khi
đó, cơ quan nhà nước lại quá ôm đồm cả những công việc đáng ra phải thuộc
về giới quản trị doanh nghiệp Mặt khác, do trải qua nhiều nấc cùng bộ máy tổ chức cồng kềnh, việc phân định trách nhiệm cá nhân chưa rõ ràng đã dẫn đến chi phí quản lý DNNN cao, người quản trị không có lợi ích vật chất tương xứng và gắn liền với kết quả kinh doanh, dẫn đến việc doanh nghiệp có thể bỏ
lỡ những cơ hội kinh doanh tốt
Trang 37Đối với những công ty cổ phần hoá, việc quản trị doanh nghiệp cũng có những vấn đề cần nghiên cứu và đưa ra giải pháp khắc phục Đó là: có sự xung đột lợi ích giữa các cổ đông thiểu số và người quản trị doanh nghiệp trong điều kiện thông tin doanh nghiệp chưa được công khai, minh bạch; tiếp tục lãng phí vốn và tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp do chưa có quy định rõ ràng, cụ thể quyền lợi, trách nhiệm của người đại diện hoặc kiêm nhiệm quản lý cổ phần Nhà nước tại doanh nghiệp, thậm chí quyền và phương hướng xử lý việc bán bớt hay mua thêm cổ phần Nhà nước tại doanh nghiệp cũng không rõ ràng; doanh nghiệp cổ phần hoá từ một chủ (Nhà nước) sang quá nhiều chủ, hoặc ngược lại nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hoá chuyển dần thành doanh nghiệp tư nhân như việc một số nhà đầu tư mua lại cổ phần của các cổ đông thiểu số và trở thành chủ nhân thực sự của doanh nghiệp khi
số vốn mà họ nắm giữ trên 50%, biến cổ phần hoá thành tư nhân hoá Điều này là trái với mục tiêu của cổ phần hoá DNNN
Thứ tư, quá trình đổi mới doanh nghiệp ở Việt Nam đang tạo ra sự thay
đổi căn bản cả về cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của các doanh nghiệp Tổng công ty BCVT Việt Nam đã được Chính phủ phê duyệt chuyển đổi mô hình thành tập đoàn kinh tế mà một trong những nhiệm vụ cơ bản là tạo ra các cơ chế, chính sách nhằm tăng cường quyền hạn và trách nhiệm của các đơn vị thành viên, sự chủ động, sáng tạo của doanh nghiệp, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Khắc phục những nhược điểm tồn tại trong mô hình tổ chức trước, tạo cơ sở để đảm bảo cho tập đoàn
ổn định, phát triển bền vững, hội nhập thành công trong điều kiện cạnh tranh
và hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên cơ cấu quyền lực trong hệ thống Tổng công ty chưa cho phép Tập đoàn hoạt động hiệu quả như loại hình tổ chức gắn kết có khả năng cạnh tranh với các Tập đoàn quốc tế Vì vậy, đổi mới cơ chế quản lý trong tập đoàn VNPT nói riêng, doanh nghiệp BCVT nói chung đang là yêu cầu cấp thiết hiện nay
Trang 381.3 KINH NGHIỆM VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
Kinh nghiệm về đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp ở Trung Quốc :
Về mô hình tổ chức: Trọng điểm cải cách doanh nghiệp là mở rộng quyền tự chủ, khuyến khích kinh doanh nhiều hình thức sở hữu Cụ thể trong tài chính, đã chuyển từ chế dộ cấp phát sang chế độ vay ngân hàng làm cho đầu tư vào vốn lưu động trong các doanh nghiệp chuyển từ các khoản cấp phát tài chính trước kia thành các khoản vay ngân hàng
Thực hiện chế độ chuyển từ nộp lợi nhuận thành nộp thuế thu nhập và áp dụng chế độ khoán, đưa doanh nghiệp tới thị trường Chuyển từ nộp lợi nhuận thành nộp thuế thu nhập bước đầu đã làm rõ hơn quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, giảm sự can thiệp hành chính của Bộ chủ quản đối với hoạt động của doanh nghiệp, xác lập chính thức quan hệ phân phối thu nhập giữa Nhà nước và DNNN
Quan hệ công ty mẹ - công ty con là quan hệ chủ đạo trong liên kết tập đoàn Vì vậy, tập đoàn thường được tổ chức với một công ty mẹ và các công
ty con Tập đoàn ở Trung Quốc hiện nay có sự phân biệt tương đối rõ giữa các loại hình công ty con, bao gồm:
- Loại 1: Công ty con liên kết chặt do công ty mẹ đầu tư toàn bộ vốn điều lệ Trung Quốc quy định, tập đoàn chỉ được thành lập khi có tối thiểu 5 công ty con loại này
- Loại 2: Công ty con liên kết lỏng là các doanh nghiệp cổ phần, vốn góp chi phối của công ty mẹ Pháp luật Trung quốc không xác định rõ số lượng doanh nghiệp thành viên loại này là bao nhiêu
- Loại 3: Công ty con chịu sự điều phối của công ty mẹ Loại doanh nghiệp này không có vốn đầu tư hoặc không có cổ phần, vốn góp chi phối của
Trang 39công ty mẹ nhưng vẫn tham gia liên kết tập đoàn với những ràng buộc về thị trường, công nghệ, thương hiệu…
Các doanh nghiệp thành viên của tập đoàn đều phải có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập với công ty mẹ Mối liên kết được duy trì hoặc chấm dứt bằng cách công ty mẹ duy trì vốn đầu tư hoặc rút vốn ra khỏi công ty con
Về cơ cấu tổ chức nội bộ của tập đoàn doanh nghiệp Trung Quốc
Công ty mẹ:
Công ty mẹ trong liên kết tập đoàn, trước hết là một doanh nghiệp có các quyền và nghĩa vụ của một pháp nhân độc lập Công ty mẹ là đại diện của tập đoàn Đối với các tập đoàn sở hữu nhà nước hoặc Nhà nước chi phối, Nhà nước quản lý và giám sát tập đoàn thông qua quản lý và giám sát công ty mẹ,
mà không trực tiếp quản lý và giám sát các doanh nghiệp thành viên
Về hình thức pháp lý, công ty mẹ có thể là xí nghiệp quốc hữu, công ty hoàn toàn vốn nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty liên doanh
Về tổ chức quản lý, tùy loại hình doanh nghiệp mà có cơ cấu tổ chức quản lý cho phù hợp với quy định pháp luật tương ứng với mỗi hình thức, ví
dụ đối với DNNN được tổ chức quản lý theo mô hình có HĐQT, Tổng giám dốc hoặc chỉ có Tổng giám đốc; đối với công ty mẹ là công ty cổ phần thì có Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc
Về tổ chức hoạt động, công ty mẹ có thể trực tiếp hoặc không trực tiếp sản xuất kinh doanh Trường hợp không trực tiếp sản xuất kinh doanh, công
ty mẹ chỉ thực hiện đầu tư tài chính và điều hành tập đoàn thông qua hoạt động của các công ty con chủ chốt Công ty mẹ cũng có thể lập ra công ty tài chính (thường được xem như là công ty tài chính của tập đoàn) để thực hiện chức năng đầu tư tài chính hoặc điều phối các nguồn vốn trong tập đoàn
Trang 40Trong các tập đoàn doanh nghiệp có công ty mẹ là Doanh nghiệp ở Trung Quốc, công ty con không tổ chức dưới hình thức DNNN, thường được
tổ chức hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoàn toàn vốn nhà nước
- Đơn vị thành viên chịu sự chi phối của công ty mẹ
Đơn vị thành viên chịu sự chi phối của công ty mẹ là các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh có vốn cổ phần hoặc vốn góp chi phối của công ty mẹ Thông qua vốn đầu tư chi phối, công ty mẹ quyết định các vấn đề khác đối với công ty con Tuy nhiên, công ty mẹ chỉ quyết định những vấn đề đòi hỏi có biểu quyết của chủ sở hữu phần vốn hay
cổ phần chi phối và thông qua đại diện trực tiếp của mình ở các cơ quan quản
lý của doanh nghiệp đó (Đại hội cổ đông, HĐQT của công ty cổ phần, Đại hội thành viên cảu công ty trách nhiệm hữu hạn…) Các quyền này được quy dịnh trong Điều lệ cụ thể của từng doanh nghiệp
- Đơn vị thành viên chịu sự điều phối của công ty mẹ:
Các doanh nghiệp thành viên này không có cổ phần, vốn góp chi phối của công ty mẹ, thậm chí hoàn toàn không có vốn đầu tư của công ty mẹ song
tự nguyện chịu sự điều phối của công ty mẹ thông qua các hợp đồng liên kết
Cơ sở của vấn đề xuất phát từ lợi ích về thị trường, công nghệ, sản xuất kinh doanh, thương hiệu… khi tham gia tập đoàn