Những ghi chép về người Khmer nói chung và người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng đã có từ rất lâu trong lịch sử. Chân Lạp phong thổ ký của Châu Đạt Quan, sứ thần nhà Nguyên đi sứ sang nước Chân Lạp (Campuchia ngày nay) vào thế kỷ XIII, đã viết về phong tục, tập quán của người Khmer chủ yếu ở vùng đất mà ngày nay là Campuchia. Về sau, có rất nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về người Khmer (cả Khmer ở Campuchia và Khmer Nam Bộ), chúng tôi tạm thời lấy thời điểm năm 1975 làm mốc nghiên cứu.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN VĂN HÓA HỌC
-LÂM QUANG VINH
TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI KHMER TRÀ VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học
TS VÕ CÔNG NGUYỆN
Trang 2TPHCM 2008
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DẪN NHẬP 6
1 Lý do chọn đề tài……… 6
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 7
- Những nghiên cứu trước năm 1975 7
- Những nghiên cứu sau 1975 8
- Những công trình của các học giả phương Tây 10
- Những công trình của Campuchia 11
- Các bản chép trên lá buông của người Khmer Trà Vinh 12
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ……… 12
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 13
7 Bố cục ………14
CHƯƠNG I 14
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 15
1.1 Tổng quan về Trà Vinh và người Khmer ở Trà Vinh ………16
1.1.1 Vị trí địa lý 16
1.1.2 Địa chất 17
1.1.3 Khí hậu 18
1.1.4 Dân tộc 19
Trang 41.2 Người Khmer ở Trà Vinh 19
1.2.1 Dân số 19
1.2.2 Về kinh tế, xã hội và văn hóa 21
1.3 Khái niệm về tín ngưỡng, tôn giáo và cách tiếp cận 23
1.3.1 Tín ngưỡng và tôn giáo 23
1.3.2 Tín ngưỡng và ma thuật 24
1.3.3 Tín ngưỡng với mê tín dị đoan 26
1.3.4 Tín ngưỡng dân gian 26
TIỂU KẾT 29
CHƯƠNG II: CÁC HÌNH THỨC TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN NGƯỜI KHMER Ở TRÀ VINH
2.1 Tín ngưỡng của cộng đồng ……….
2.1.1.Thờ Neak Tà - Gñk ta 31
2.1.2 Chol Chnam Thmay - cUl qñaM fµI - 35
2.1.3 Tín ngưỡng thờ mặt trăng – Ok Om Bok - GkGMbuk 38
2.1.4.Tín ngưỡng thờ hồn lúa và tục cúng sân lúa sau khi thu hoạch 47
2.2 Tín ngưỡng của dòng họ, gia đình và cá nhân ……….43
2.2.1 Arăk – Garkß -thần dòng họ 43
2.2.2 Sel Dolta - Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên -Esn dUn ta - 49
2.2.3 Tổ nghề 48
2.3 Tín ngưỡng phồn thực ………42
2.4 Triết lý âm dương……… 46
2.5 Nghi lễ vòng đời ……….50
2.5.1 Việc sinh nở 50
Trang 52.5.2 Tuổi thành niên 52
2.5.3 Cái chết 55
2.6 Các ma thuật ……… ……….56
2.6.2 1 Ma thuật để chữa bệnh 57
2.6.2 2 Bùa yêu 59
2.6.2 3 Ma thuật làm hại 59
- Trù ếm - eGm - 60
- Thư - GM eBI - 60
2.6.2.4 Ma thuật đối với người chết 61
- Cởi quần đánh ma 61
- Dùng đũa bếp đánh ma 62
2.6.2.5 Các ma thuật khác 62
- Trộm Ông Thần tài - Nhận nước Ông Thần tài - ma thuật kinh tế 62
- Quăng răng rụng lên nóc nhà - eá¼efµjeLIg elI dM bUlpÞ¼ .64
TIỂU KẾT : 64
CHƯƠNG III 65
MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO 65
TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI KHMER TRÀ VINH 65
3.1 Tín ngưỡng và lễ hội dân gian trong đời sống phum sóc của người Khmer Trà Vinh ……….67
3.3 Tín ngưỡng và lễ hội dân gian trong đời sống tôn giáo (Theravada) của người Khmer Trà Vinh ……… 75
Trang 63.4 Một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống văn
hóa tinh thần, tâm linh của người Khmer Trà Vinh ……….79 CHƯƠNG KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Người Khmer là một trong ba thành phần dân tộc cơ bản (Việt, Khmer,Hoa) hợp thành cơ cấu dân cư của tỉnh Trà Vinh Văn hóa người Khmer ởĐồng bằng sông Cửu Long nói chung và người Khmer ở tỉnh Trà Vinh nóiriêng được tích hợp trên nền tảng kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước là chính
và Phật giáo Theravada trở thành tôn giáo của toàn dân tác động, chi phối hầunhư toàn bộ mọi mặt trong đời sống cư dân Khmer, cả đối với đời sống vănhóa vật chất lẫn đời sống văn hóa tinh thần, tâm linh và các thiết chế chính trị-
xã hội cổ truyền của họ
Trước nay, có nhiều học giả đã nghiên cứu về người Khmer ở Đồngbằng sông Cửu Long và tín ngưỡng dân gian của họ Tuy nhiên, những côngtrình nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể về tín ngưỡng dân gian của người Khmer
ở từng địa phương trong vùng này thì chưa nhiều Vì vậy, tôi chọn đề tài Tín
ngưỡng dân gian của người Khmer Trà Vinh vì 2 lí do:
- Lí do thứ nhất xuất phát từ thực tiễn cuộc sống sau khi đất nước thốngnhất và tiến hành công cuộc đổi mới (1986) đến giờ, những phát triển về kinh
tế, xã hội đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống văn hóa của các dân tộc cùngcộng cư với nhau trên từng địa bàn cư trú nhất định mà người Khmer ở TràVinh cũng không ngoại lệ
- Lí do thứ hai xuất phát về mặt khoa học, đề tài này được coi là mộtchuyên khảo nghiên cứu chuyên sâu một lĩnh vực đời sống văn hóa tinh thần,tâm linh - tín ngưỡng dân gian- của người Khmer ở Trà Vinh nhằm cung cấpthêm những luận chứng, luận cứ cho khoa học
Trang 8Cung cấp luận cứ khoa học góp phần vào việc hoạch định chính sáchphát triển văn hóa tinh thần, tâm linh trong cộng đồng người Khmer ở TràVinh dưới góc nhìn văn hóa là mục tiêu, động lực của sự phát triển.
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những ghi chép về người Khmer nói chung và người Khmer ở Đồng
bằng sông Cửu Long nói riêng đã có từ rất lâu trong lịch sử Chân Lạp phong
thổ ký của Châu Đạt Quan, sứ thần nhà Nguyên đi sứ sang nước Chân Lạp
(Campuchia ngày nay) vào thế kỷ XIII, đã viết về phong tục, tập quán củangười Khmer chủ yếu ở vùng đất mà ngày nay là Campuchia
Về sau, có rất nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về ngườiKhmer (cả Khmer ở Campuchia và Khmer Nam Bộ), chúng tôi tạm thời lấythời điểm năm 1975 làm mốc nghiên cứu
- Trước năm 1975
Những nghiên cứu của các học giả ở miền Nam Việt Nam về ngườiKhmer ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và người Khmer ở Trà Vinhnói riêng trước năm 1975 có rất ít, tiêu biểu như:
- Tìm hiểu văn hóa và xã hội người Việt gốc Miên của nhà nghiên cứu Thạc Nhân in trong tạp chí Văn hóa Nguyệt san số 1, T8,1965 – Nha Văn hóa
- Tổng bộ Văn hóa xuất bản Bài viết gồm 22 trang viết về lịch sử, văn hóa,các ngày lễ tết trong năm của người Việt gốc Miên (người Khmer) là một tư
Trang 9liệu có thể nói là làm cơ sở cho việc nghiên cứu về người Khmer sau này.Nhưng trong bài viết này, nhà nghiên cứu Thạc Nhân đề cập đến tín ngưỡngdân gian của người Khmer vẫn còn sơ lược Nhưng dù sao, đây là một tư liệuquý cho thấy việc nghiên cứu về người Khmer ở Việt Nam đã được các nhànghiên cứu người Việt quan tâm.
- Người Việt gốc Miên của Lê Hương xuất bản tại Sài Gòn năm 1969
có thể nói là công trình đầu tiên trình bày khá đầy đủ và công phu về ngườiKhmer ở Việt Nam từ phong tục, tập quán, tín ngưỡng cho đến các nghề thủcông truyền thống như đan lát, làm đường thốt nốt… Trong đó, ông cũng có
đề cập đến người Khmer ở tỉnh Vĩnh Bình (tỉnh Trà Vinh hiện nay)
- Những nghiên cứu sau 1975
Sau năm 1975, việc nghiên cứu về người Khmer ở Việt Nam được chú
ý rất nhiều, có thể kể:
- Những vấn đề dân tộc học ở miền Nam Việt Nam (Tập II, Quyển I,
1978) của Ban Dân tộc, Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh làmột tập hợp nhiều chuyên khảo đề cập đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội và vănhóa truyền thống của người Khmer Trong công trình này có chuyên khảo
“Các loại hình tín ngưỡng Arăk, Neak Tà của người Khmer ở Đồng bằng
sông Cửu Long”.
- Trong Tạp chí Dân tộc học số 3, năm 1979, đã dành 8 trang ( từ trang
42- 50) để đăng bài viết về Tàn dư các tín ngưỡng Arak và Neak Tà ở người
Khmer Đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Xuân Nghĩa Tác giả cho rằng
tỉnh Trà Vinh là địa bàn còn bảo lưu miếu thờ Arak và Neak Tà nhiều nhấttrong vùng người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long Ở phần phụ lục, ôngcòn lập danh sách kèm địa chỉ cụ thể 4 ngôi miếu thờ Neak Tà tiêu biểu ởnhững nơi có đông người Khmer sinh sống như Trà Cú, Tiểu Cần Đây là tài
Trang 10liệu quan trọng làm cơ sở cho việc nghiên cứu, so sánh, đối chiếu các loại hìnhtín ngưỡng này trong quá khứ và hiện tại.
- Người Khmer Cửu Long (1987) do Viện Văn hoá phối hợp với Sở
Văn hóa và Thông tin tỉnh Cửu Long thực hiện là một chuyên khảo về ngườiKhmer ở tỉnh Trà Vinh và tỉnh Vĩnh Long hiện nay Đây là nguồn tài liệu cơbản để kế thừa trong nghiên cứu văn hóa truyền thống nói chung và tínngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Vinh nói riêng
- Vấn đề Dân tộc học ở Đồng bằng sông Cửu Long (1991) do Mạc
Đường làm chủ biên đã tiếp cận nghiên cứu người Khmer ở Đồng bằng sôngCửu Long về dân số, dân cư, kinh tế-xã hội, văn hóa vật chất, truyền thốngđấu tranh cách mạng…
- Văn hóa người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long (1993) do Viện Văn hóa xuất bản là công trình có giá trị trong việc nhận diện sự biến đổi văn
hóa của người Khmer sau gần 30 năm kể từ sau công trình nghiên cứu về
Người Việt gốc Miên (người Khmer) của Lê Hương.
- Nguyễn Khắc Cảnh với công trình Phum sóc người Khmer ở Đồng
bằng sông Cửu Long đã nghiên cứu phum sóc - tổ chức xã hội cổ truyền của
người Khmer, góp phần vào việc nhận diện đặc điểm cư trú của người Khmer
so với người Việt và người Hoa vùng này
Sơn Phước Hoan - Sơn Ngọc Sang (1999) với tuyển tập Chuyện kể
Khmer được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn làm truyện đọc chính thức trong
chương trình dạy song ngữ cho học sinh trong vùng đồng bào dân tộc cũng đã
hệ thống và cung cấp một số câu truyện hàm chứa tín ngưỡng dân gian Đây
là nguồn tài liệu cần thiết để tìm ra những điểm tương đồng, khác biệt củangười Khmer ở Trà Vinh so với người Khmer ở các địa phương khác trongvùng Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 11Tuyển tập Chuyện kể Khmer (1999) do Sơn Wang làm chủ biên cung cấp
thêm một số chuyện kể khá mới mẻ, chứa đựng những tư liệu mới trongnghiên cứu tín ngưỡng dân gian của người Khmer nói chung
Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long (1999) của Khoa Ngữ văn,
Trường Đại học Cần Thơ là tập hợp những câu chuyện kể dân gian của các
thành phần cư dân vùng này Trong đó, những câu chuyện dân gian của ngườiKhmer cũng góp thêm tư liệu để nghiên cứu tính ngưỡng dân gian của ngườiKhmer ở Trà Vinh
Văn học dân gian Sóc Trăng (2002) do Chu Xuân Diên làm chủ biên là
công trình tập hợp nhiều thể loại văn học dân gian của các dân tộc Việt,Khmer, Hoa ở tỉnh Sóc Trăng Các thể loại văn học dân gian của người Khmerchiếm tỷ lệ khá lớn Chúng biểu hiện và phản ánh về tín ngưỡng dân gian củacộng đồng này
Trong công trình Văn học dân gian Bạc Liêu (2005), tín ngưỡng dân gian
cũng được thể hiện tiềm tàng trong văn học dân gian của người Khmer ở tỉnhBạc Liêu Đây là tài liệu góp phần ít nhiều vào việc so sánh, đối chiếu với cáctín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Vinh, là vấn đề mà luận văn nàyquan tâm
- Những công trình của các học giả phương Tây
Các học giả người Pháp đã đi tiên phong trong việc nghiên cứu vềngười Khmer, nhưng chủ yếu là tập trung nghiên cứu người Khmer ởCampuchia Tuy nhiên, đó cũng là những nguồn tài liệu quý được kế thừatrong nghiên cứu so sánh, đối chiếu làm rõ những vấn đề liên quan đến nộidung nghiên cứu của luận văn
M.Percheron (1955), Contes et Légendes D’Indochine, Fernand Nathan,
Édituer – Paris là công trình tập hợp những câu chuyện kể, những huyền thoạicủa các tộc người ở Đông Dương (Thái Lan – Lào - Campuchia) như Khmer,
Trang 12Việt, Êđê (Rhadé), Chăm …Trong các câu chuyện của người Khmer phản ánhcác hình thức tín ngưỡng dân gian mà tín ngưỡng thờ Naga (trang 58 ) là điểnhình Dù M.Percheron không ghi rõ những câu chuyện trên là do ông sưu tập ởCampuchia hay ở miền Nam Việt Nam nhưng đây là những cứ liệu cần thiết
để tìm hiểu tín ngưỡng dân gian của người Khmer nói chung
Robert L Mole (1967), The Riligions of South vietnam in faith and
fact, Navpers, Department of the Navy là công trình nghiên cứu tỉ mỉ về tôn
giáo, tín ngưỡng của các tộc người ở miền Nam Việt Nam như Việt, Khmer,Chăm…, về đạo Lão, đạo Khổng, Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài,Hòa Hảo và tín ngưỡng thờ tổ tiên, vật tổ (animism)…Tuy nhiên, phần viết vềngười Khmer vẫn còn rất ít và tản mạn
- Những công trình của Campuchia
Phong tục tập quán Khmer của Nhin Phương và Mom Chhai
(jaNePOn nigm¨méq) 2007
lMGan TM enom Exµr buraN
(lum-an-thum-neam-Khmer-bô-ran) in tại nhà in số 72 chợ Ôrưxây,Phnômpênh, Campuchia là công trình giới thiệu khá đầy đủ, tỉ mỉ những lễhội, những nghi thức hành lễ trong đời sống văn hóa của người Khmer ởCampuchia từ Chol Chnam Thmay, Sel Dolta, Ok Om Bok đến đám cưới,đám tang, xây cất, lễ kiết giới, an vị phật, nhập hạ, kiết hạ…Nguồn tài liệu nàygóp phần vào việc so sánh, đối chiếu với phong tục, tập quán và tín ngưỡngdân gian của người Khmer ở Nam Bộ nói chung Và người Khmer ở Trà Vinhnói riêng
(Ma-ha-sang-kran), Nxb Trung tâm nghiên cứu Thiên văn và Phong tục Khmer,Phnompênh, Campuchia là quyển đại lịch coi ngày tháng, thời tiết, nhật thực,
Trang 13nguyệt thực, chế độ mưa, các hiện tượng lạ, các lễ hội trong năm của ngườiKhmer ở Campuchia Đây cũng là tài liệu cần thiết cho việc so sánh, đối chiếutrong nghiên cứu tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Vinh
- Các bản chép tay trên lá buông của người Khmer ở Trà Vinh
Những bản chép tay trên lá buông ở Chùa Ô Chát, xã Hiếu Tử, huyện
Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh có tên Nghi lễ dân gianRBhµCati
(pru-ma-chheat) là tài liệu viết về văn hóa, phong tục của người Khmer( không ghi rõ là của người Khmer ở Campuchia hay người Khmer ở TràVinh) từ các ngày xuống giống trồng lúa đến các lễ hội, nhật thực, nguyệtthực, các tri thức hay kinh nghiệm xem trăng, sao, mây…
Nhìn chung, những công trình, tài liệu được liệt kê trên đây đã cung cấpkhối lượng thông tin cần thiết, liên quan đến đề tài của luận văn và là nhữngnguồn tài liệu góp phần vào việc hình thành các giả thuyết, khung phân tích vànội dung nghiên cứu của luận văn về tín ngưỡng dân gian của người Khmer ởĐồng bằng sông Cửu Long: Trường hợp tỉnh Trà Vinh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các loại hình tín ngưỡng dân giancủa người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn lịch đại và đồngđại để tìm hiểu, so sánh, đối chiếu về nguồn gốc ra đời, quá trình phát triển vàbiến đổi các loại hình tín ngưỡng dân gian này từ sau công trình nghiên cứu
Người Việt gốc Miên của Lê Hương xuất bản tại Sài Gòn năm 1969 Phạm vi
hay không gian nghiên cứu của luận văn được giới hạn trên địa bàn tỉnh TràVinh hiện nay
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Việc nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở tỉnh TràVinh từ truyền thống đến hiện tại có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc,
Trang 14nhằm lần tìm, nhận diện đặc trưng văn hóa của người Khmer và tín ngưỡngdân gian của họ; cung cấp những thông tin, cứ liệu khoa học cần thiết để bảotồn và phát huy các loại hình tín ngưỡng dân gian, lễ hội truyền thống củangười Khmer ở Trà Vinh nói riêng và ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long nóichung, nhằm đáp ứng yêu cầu tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, hội nhập khu vực và quốc tế
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Luận văn sử dụng phương pháp thu thập tài liệu thành văn, tư liệu điền
dã, hệ thống, xử lý và phân tích các nguồn thông tin liên quan về tín ngưỡngdân gian của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và ở tỉnhTrà Vinh nói riêng
Luận văn áp dụng các phương pháp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu,phỏng vấn hồi cố, phân loại loại hình hóa và biểu tượng để phân loại các loạihình tín ngưỡng dân gian; tìm hiểu về nguồn gốc ra đời, quá trình phát triển vàbiến đổi của các loại hình tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Vinh
Luận văn áp dụng phương pháp so sánh, đối chiếu (lịch đại và đồng đại)
để tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt về tín ngưỡng dân gian của ngườiKhmer ở Trà Vinh với người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long và ngườiKhmer ở Campuchia
Luận văn áp dụng phương pháp phân tích chính sách và tác động đốivới việc bảo tồn và pháp huy các giá trị văn hóa tinh thần, tâm linh truyềnthống trong tín ngưỡng và lễ hội dân gian của người Khmer ở Trà Vinh hayrộng ra hơn là vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Ngoài kế thừa các tài liệu thư tịch liên quan, thì tư liệu điền dã được thuthập qua việc áp dụng phương pháp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, phỏngvấn hồi cố…trong cộng đồng người Khmer ở Trà Vinh của tác giả là nguồn tàiliệu cơ bản để hoàn thành luận văn này
Trang 157 Bố cục
Bố cục của luận văn ngoài các phần dẫn luận, kết luận, phụ lục và tàiliệu tham khảo, có 3 chương
Chương I giới thiệu khái quát về tỉnh Trà Vinh và người Khmer ở Trà
Vinh, về khái niệm và cơ sở lí thuyết trong nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng và
lễ hội dân gian
Chương II, tập trung nghiên cứu, phân loại, phân tích các loại hình tín
ngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Vinh trong mối quan hệ đối sánh quákhứ - hiện tại và sự biến đổi của chúng hiện nay; đồng thời liên hệ so sánh tínngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Vinh với tín ngưỡng dân gian củangười Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia
Chương III, tìm hiểu và lí giải làm rõ sắc thái văn hóa tinh thần, tâm
linh, đặc trưng tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Vinh; nêu ra một
số định hướng, giải pháp để bảo tồn và phát huy các loại hình tín ngưỡng dângian, phát triển văn hóa và du lịch gắn với các lễ hội truyền thống của ngườiKhmer ở Trà Vinh và vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 16CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Trang 171.1 Tổng quan về tỉnh Trà Vinh và người Khmer ở Trà Vinh 1.1.1 Vị trí địa lý
Tên tỉnh Trà Vinh theo tiếng Khmer là PRÉAH ROPÉANG
-tavij - tức Ao Phật Thời Nguyễn, địa bàn tỉnh Trà Vinh thuộc hạt Long
Hồ[Cao Tấn Hạp 1973:3] Thời Pháp thuộc, vào năm 1875, Trà Vinh thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long [Nguyễn Đình Đầu ( dịch) 1997:10], sau đó là
tỉnh Trà Vinh Đến năm 1957 được đổi tên là tỉnh Vĩnh Bình Năm 1975, TràVinh và Vĩnh Long được nhập lại hợp thành tỉnh Cửu Long Năm 1992, đượctách ra thành lập lại tỉnh Trà Vinh như hiện nay
Trà Vinh là tỉnh ở vùng đồng bằng ven biển, nằm giữa hạ lưu sôngTiền
và sông Hậu tiếp giáp biển Đông Diện tích tự nhiên của tỉnh có 2.369,37 km2
Vị trí địa lý giới hạn từ: 9o31’46’’ đến 10o04’5” vĩ độ Bắc và 105o57’16” đến
106o36’04” kinh độ Đông
Hình 1.1 Trà Vinh trong khu vực ĐBSCL
www.travinh.gov.vn
Trang 18Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, có chiều dài bờ biển là 65kmPhía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Sóc Trăng, có ranh giới là sông Hậudài 60km
Phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long, có ranh giới là những rạchnước và giồng đất, dài gần 60km
Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Bến Tre, có ranh giới là sông CổChiên( một nhánh của sông Tiền), dài gần 60km
Trung tâm tỉnh lị Trà Vinh nằm trên Quốc lộ 53, cách thành phố Hồ ChíMinh 202 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km Tổng diện tích tự nhiên củatỉnh chiếm 5,63 % diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long và 0,67% diệntích cả nước Tỉnh Trà Vinh có 7 huyện và 1 Thị xã, gồm các huyện CàngLong, Tiểu Cần, Cầu Kè, Châu Thành, Trà Cú, Cầu Ngang, Duyên Hải và Thị
xã Trà Vinh[Tỉnh Ủy:8]
1.1.2 Địa hình
Trà Vinh nằm giữa sông Tiền và sông Hậu có thể xem đây là vùng đất
con đẻ của dòng Mekong và biển Đông [Tỉnh Ủy:9]
Nhìn bao quát, vùng đất Trà Vinh là dải đồng bằng ven biển có độ caotrung bình từ 2-3m so với mặt nước biển
Nhìn chi tiết, dải đồng bằng ven biển này có nhiều chỗ gợn lên như lớpsóng bởi tác động của thủy triều lên vùng đất phù sa bồi tụ Từ lâu, cư dân địaphương gọi những chỗ gợn lên đó là “gò”, là “giồng” và đặt tên riêng cho từng
gò đất, giồng đất đó Hợp chất đất ở các giồng, gò là cát pha sét, một số nơi cóphù sa mùn Các giồng đất thường chạy dài theo hướng Đông Bắc- Tây Nam.Chúng có kích thước khác nhau về chiều rộng, chiều dài và độ cao: chiều rộngtrong khoảng từ 100-200m, chiều dài khoảng 400-2000m, độ cao từ 2-5m sovới mực nước biển Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Trà Vinh có hàng trăm giồngđất như thế, song mật độ phân bố và tuổi của các giồng đất có khác nhau Nói
Trang 19chung, càng gần biển các giồng đất càng thêm dày, thêm trẻ Ở huyện CàngLong, có giồng Lớn, giồng Mới, giồng Ất… Ở huyện Tiểu Cần có giồng Le,giồng Giữa, giồng Tân Trung… Ở huyện Cầu Kè có giồng: giồng Dừa, giồngLớn giồng Trà Ớt, giồng Rùm Sóc, giồng Bưng Lớn… Ở huyện Cầu Ngang
có giồng Thạch In, giồng Ông Thành, giồng Sư Cụm, giồng Ông Lúa, giồngLớn, giồng Dài… Ở huyện Trà Cú có giồng Ba Tục, giồng Ba Cụm, giồngCóc Lách, giồng Nhuệ Tứ, giồng Cây Da, giồng Mé Láng, giồng Cá Lóc,giồng Bến Tranh, giồng Cà Hom, giồng Bà Dam… Ở huyện Duyên Hải cógiồng: Sóc Ruộng, giồng Mé Láng, giồng Sơn Trầu, giồng Cây Sứa, giồng Mù
U, giồng Dừa, giồng Trôm, giồng Ổi, giồng Giếng, giồng Ớt… Tại khu vựcven biển còn có những đụn cát đang hình thành và thường thay đổi hình dáng
Về đại thể, có thể phân loại đất đai ờ Trà Vinh như sau:
- Gần 2500ha đất giồng
- Gần 23.000 ha đất cát ven giồng
- Hơn 50.000 ha đất mặn ven biển
- Số còn lại là đất phù sa ven sông rạch
Từ phân loại trên cho thấy đất đai ở Trà Vinh rất phong phú và đa dạng.Đây là nguồn tài nguyên lớn, là môi trường sinh trưởng cho nhiều giống loàisinh vật, đồng thời cũng là nơi ngụ cư của các tộc người theo đặc điểm cư trú
1 www.travinh.gov.vn
Trang 20trong những nhân tố tác động đến đời sống của các cư dân ở đây và ảnh hưởng rõrệt lên văn hóa của các tộc người cùng cộng cư ở vùng đất này
1.1.4 Dân tộc
Trà Vinh có dân số khoảng 1,1 triệu người (thống kê năm 2007) Đây làvùng đất đa tộc người, là nơi tụ cư lâu đời nhất của người Khmer, người Việt,người Hoa và một số ít người Chăm.Trong đó, người Khmer chiếm 1/3 dân sốtoàn tỉnh Trà Vinh, còn người Hoa có khoảng 15.000 người và người Chăm cókhoảng 100 người2
Trà Vinh là nơi hội tụ của nhiều tôn giáo các tôn giáo lớn của thế giới
và một số tôn giáo khai sinh ở Việt Nam (tôn giáo bản địa hay tôn giáo địaphưong) như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, đạo Cao Đài (phái TâyNinh và phái Bến Tre), đạo Hòa Hảo…
Ngoài ra, Trà Vinh cũng là nơi còn lưu giữ nhiều tín ngưỡng dân giannhư tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ cá Ông (ở thị trấn Mỹ Long, huyệnCầu Ngang), tín ngưỡng thờ Neak Tà, tín ngưỡng thờ hồn lúa
1.2 Người Khmer ở Trà Vinh
1.2.1 Dân số
Người Khmer ở Trà Vinh là một trong những tộc người đầu tiên đếnkhai phá vùng đất này Tuy nhiên, chưa có cứ liệu khoa học để xác định mộtcách chính xác là người Khmer đã định cư ở Trà Vinh từ lúc nào Các truyềnthuyết, truyện kể dân gian của họ nói về niên đại của các ngôi chùa Khmernhư Chùa Samrông Ek (642 Phật lịch) hay chùa Âng (990 Phật lịch) nhìnchung là rất mơ hồ và không đúng với những diễn biến của lịch sử ở vùng đấtNam Bộ nói chung và ở Trà Vinh nói riêng
2 www.travinh.gov.vn
Trang 21Người Khmer ở Trà Vinh là một bộ phận của người Khmer ở Đồng
bằng sông Cửu Long; thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer [Đặng Nghiêm
Vạn 1993:171] và có chung nguồn gốc với người Khmer ở Campuchia Theo
các nguồn sử liệu cho biết họ định cư ở Đồng bằng sông Cửu Long sớm nhất
là vào thế kỷ XIII.
Năm 1862, theo Monographie de la province de tra vinh (saigon,
impreie.l.merano,1903) thì dân số người Khmer ở Trà Vinh có 66.607
người[Robert.L.Mole 1967 :38].
Trong giai đoạn đầu của thời kỳ Pháp thuộc, người Khmer ở Nam Bộ cókhoảng 147.718 người Đến năm 1905 có 209.225 người và năm 1915 có242.157 người,
Năm 1928, người Khmer ở Trà Vinh có 77.842 người trong tổng số
235.986 người của toàn tỉnh[Địa dư tiểu học Trà Vinh 1930:18].
Khoảng 10 năm sau, vào năm 1937, dân số người Khmer ở Trà Vinh có
82.000 người so với 350.000 người Khmer ở Nam Kỳ lúc bấy giờ [Malleret
1946:20].
Theo thống kê dân số năm 1946 của Phủ Thống đốc Nam Kỳ, ngườiKhmer có khoảng 242.157 người, sống ở các tỉnh: Cần Thơ (17.906 người),Trà Vinh (66.314 người), Châu Đốc (28.312 người), Long Xuyên (1.770người), Sóc trăng (43.597 người), Bạc Liêu (15.326 người), Rạch Giá (41.586người), Hà Tiên (4.494 người), Thủ Dầu Một (12.689 người), Biên Hòa (841người), Tân An (336 người), Gò Công (200 người) và Tây Ninh (835 người)
[Đoàn Văn Nô 1995:9].
Đến năm 1965, sau hơn một thế kỷ (tính từ năm 1862) thì dân số củangười Khmer đã tăng lên gấp 4 lần Theo báo cáo của một số tỉnh trong vùngNam Bộ lúc bấy giờ thì người Khmer có khoảng 567.115 người, trong đó tỉnh
237.330 người ở Vĩnh Bình (Trà Vinh hiện nay ), 156.951 người, Châu Đốc
Trang 2262.593 người ở Ba Xuyên (Sóc Trăng hiện nay) và Bạc Liêu, 31.337 người ởChương Thiện (Hậu Giang hiện nay), 7.134 người ở Phong Dinh (TP CầnThơ hiện nay), 4.500 người ở Vĩnh Long, 3058 người ở An Xuyên (Cà Mauhiện nay), 4.315 người ở Tây Ninh, 4.731 người ở Bình Long (Bình Phước
hiện nay) và 1.166 người ở Sài Gòn[Lê Hương 1969:30].
Theo tổng điều tra dân số năm 1979 thì người Khmer ở Hậu Giang (nay
là TP Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang) có 290.000 người, ở Cửu
Long (nay là tỉnh Trà Vinh và tỉnh Vĩnh Long) có 270.000 người, ở Kiên
Giang có 120.000 người, ở An Giang có 90.000 người., ở Minh Hải (nay làtỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu) có 30.000 người Ngoài ra ở Tây Ninh cókhoảng 10.000 người và ở các tỉnh Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu và Thành
phố Hồ Chí Minh, mỗi nơi có khoảng vài ngàn nữa[Viện Văn hóa 1983:21].
Vào thời điểm năm 1999, tỉnh Trà Vinh có tỷ lệ người Khmer so vớidân số chung cao nhất (290.932/966.949 người chiếm 30,08% dân số toàntỉnh) sau đó là Sóc Trăng (338.629 người /1.172.404 người chiếm 28,85% củatoàn tình), và các tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu, An Giang, Vĩnh Long, Cần thơ
(TP Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang), Cà Mau[Đinh Lê Thư 2005:14]
Theo số liệu thống kê năm 20043 thì người Khmer ở Việt Nam khoảngtrên 1,1 triệu người và cư trú tập trung cao ở Sóc trăng, Trà Vinh, An Giang,Kiên Giang… Riêng ở Trà Vinh hiện nay có khoảng 323.800 người Khmer4
1.2.2 Về kinh tế, xã hội và văn hóa
Đại đa số người Khmer ở Trà Vinh là cư dân nông nghiệp nên trongđời sống kinh tế, cây lúa và những cây hoa màu như bắp, khoai, dưa, đậu cácloại…là những cây mang lại nguồn thu nhập quan trọng của gia đình Ngoài
ra, họ còn chăn nuôi (trâu bò, heo, gà vịt), nuôi trồng thủy sản (cá, tôm) và sảnxuất thủ công nghiệp (đan đát…) Hoạt động nông nghiệp truyền thống của
3 Theo Uỷ ban dân số tỉnh Trà Vinh
4 http://www.vtv.vn/VN/TrangChu/TinTuc/CKX/2007/4/14/95596/
Trang 23người Khmer ở Trà Vinh đã in đậm dấu ấn trong tín ngưỡng và lễ hội dân giancủa cộng đồng.
Ở Trà Vinh có một bộ phận người Khmer cư trú ven biển (Ngũ Lạc,Long Toàn, Long Vĩnh của huyện Duyên Hải, Định An của Trà Cú) và làmnghề đánh bắt cá, tôm vùng cửa sông, ven biển Nhưng số này không nhiều vàcũng không đủ để tạo nên sự khác biệt đáng kể so với số đông cư trú trên đấtgiồng và làm nông nghiệp bằng ruộng, rẫy.Tuy nhiên, ở họ cũng đã định hìnhmột số loại hình tín ngưỡng dân gian gắn với sông biển
Về mặt xã hội, tổ chức xã hội cổ truyền của người Khmer ở Trà Vinh làphum sóc tương tợ như xóm làng của người Việt Trước nay, họ cư trú chủyếu trên những giồng đất cao, ở đó khoảng 5-10 gia đình hợp thành mộtphum, nhiều phum hợp thành một sóc Phum sóc này ít nhiều có quan hệ với
nhau về mặt thân tộc và huyết thống[Nguyễn Thanh Luân 2004:3] Tôn ti thứ
bậc xưng hô ở người Khmer thường không theo vai vế như người Việt, ngườiHoa Trong họ hàng, thân tộc đời thứ nhất hễ ai thấy mặt trời trước xem như làngười lớn hơn, không kể con chú/con bác, con dì, con cô/con cậu
Người Khmer ở Trà Vinh chịu ảnh hưởng sâu nặng văn hóa Ấn Độ mà
Phật giáo Theravada là điển hình[Nguyễn Hiến Lê (dịch)1971:387] Sở dĩ
người Khmer chọn đạo Phật là vì “Đạo Phật phủ nhận chế độ đẳng cấp, đả pháđộc quyền và thói lệ nghi thức, giảng dạy tình yêu thương và từ bi rộng
mở”[Phan Thu Hiền 1998:146] Chùa là trung tâm tôn giáo, văn hóa, giáo
dục cho cả cộng đồng
Người Khmer ở Trà Vinh vừa cư trú tập trung trong từng phum sóc, vừa
cư trú xen kẽ với người Việt và người Hoa trên từng địa bàn dân cư Giữa họ
đã hình thành những mối quan hệ gắn bó với nhau từ lâu đời trong hôn nhân,gia đình, trong tiếp xúc, trao đổi, giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo nên bảnsắc văn hóa có tính tiêu biểu, đặc thù ở vùng cư dân hỗn hợp đa tộc người(Khmer, Việt, Hoa)
Trang 241.3 Khái niệm về tín ngưỡng, tôn giáo và cách tiếp cận
1.3.1 Tín ngưỡng và tôn giáo
Theo Đào Duy Anh thì tín ngưỡng (Belief) đó là “lòng ngưỡng mộ, mêtín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa”, còn tôn giáo (Religion) là “mộtthứ tổ chức lấy thần đạo làm trung tâm mà lập nên giới ước để khiến người ta
tín ngưỡng”[Trần Quốc Vượng 1998:91].
Theo Trần Quốc Vượng thì “Trong đời sống ngôn ngữ, xã hội, cả haithuật ngữ tôn giáo, tín ngưỡng đều tồn tại Sự phân biệt giữa hai thuật ngữ chủyếu ở mức độ niềm tin và cơ cấu tổ chức của hai hiện tượng xã hội Nói đếntín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng hóa một nhân vật được gởi gắm vàoniềm tin tưởng của con người Quá trình ấy, có thể là quá trình huyền thoạihóa, lịch sử hóa nhân vật phụng thờ Mặt khác, giữa các tín ngưỡng đều có
những đan xen và trong từng tín ngưỡng đều có nhiều lớp văn hóa lắng đọng”[
Trần Quốc Vượng 1998:92].
Theo Ngô Đức Thịnh trong công trình Tín ngưỡng và văn hóa tín
ngưỡng ở Việt Nam do nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 2001 thì
“Hiện tại, đang có rất nhiều ý kiến khác nhau khi sử dụng khái niệm “tôngiáo” và “tín ngưỡng”.Theo quan điểm truyền thống, người ta có ý thức phânbiệt tôn giáo và tín ngưỡng, thường coi tín ngưỡng ở trình độ thấp hơn so vớitôn giáo Loại quan điểm thứ hai là đồng nhất giữa tín ngưỡng và tôn giáo vàđều gọi chung là tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa
phương, tôn giáo thế giới”[Ngô Đức Thịnh 2001:17] Ông cho rằng tín
ngưỡng với tư cách như một hình thức thể hiện niềm tin vào cái thiêng liêngcủa con người, của một cộng đồng người nào đó, ở một trình độ phát triển xãhội cụ thể
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin
mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá
Trang 25nhân và cộng đồng Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì không mang tính dân tộc Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì
hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo5
Trong luận văn này, chúng tôi dựa vào bản phân loại tín ngưỡng của
Ngô Đức Thịnh trong công trình Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt
Nam làm cơ sở cho nghiên cứu tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở tỉnh
Trà Vinh
1.3.2 Tín ngưỡng và ma thuật
Về thuật ngữ ma thuật (Magic), Từ điển Bách khoa Việt Nam coi mathuật là: “Hình thái tôn giáo nguyên thủy theo đó người ta tin rằng một sốngười có thể làm ra những phép lạ bằng những sức mạnh thần bí của mình(làm mưa, làm nắng, làm phúc, gây họa) Ra đời vào thời kì thị tộc, ma thuật
có nhiều dạng từ thấp đến cao, tác động gián tiếp hay trực tiếp đến đối tượng,bắt chước, khởi động, xua đuổi hay tẩy sạch… Thường được gọi dưới cácthuật ngữ: yểm bùa, chài, ếm, thư… Ma thuật nhằm nhiều mục đích: cầu may,chữa bệnh, làm hại, tình yêu, nghề nghiệp, chiến tranh… Ở ma thuật, đã xuấthiện những quan hệ giữa con người và các lực lượng siêu nhiên, nhưng chưathấy có ý niệm thần thánh Người ta tin vào sức mạnh thần bí của một conngười thực” 6
6
http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?
param=15E9aWQ9MTc2ODcmZ3JvdXBpZD0ma2luZD1zdGFydCZrZXl3b3JkPW0=&page=1
Trang 26Nhà văn hóa học nổi tiếng người Mỹ Bronislaw Malinowski khi viết về
vấn đề này trong tác phẩm Magic, science and Religion and other Essays (Ma
thuật, Khoa học và tôn giáo và những tiểu luận khác ) đã nhận định “Không cómột nhóm người nào, cho dù nguyên thủy đến đâu mà không có tôn giáo và
ma thuật”[Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 2006:147-213] và “Ma thuật là
một từ dường như gợi ra một thế giới đầy những khả năng bí hiểm và bất ngờ.thậm chí đối với những người không có lòng ham muốn mạnh mẽ đối vớinhững điều huyễn hoặc, đối với con đường tắt vào một “ sự thật huyền bí”…Một phần bởi vì ma thuật có vẻ như khuyấy động trong con người những sứcmạnh tâm lý ẩn dấu, những hy vọng rơi rớt trong sự kỳ diệu, những niềm tin
âm ỉ vào những khả năng bí ẩn của con người Để làm chứng cho điều này làsức mạnh mà các từ ma thuật, bùa chú, phép thuật, bỏ bùa mê có trong thơ ca,nơi những giá trị nội tâm của từ ngữ, các sức mạnh tinh thần tồn tại lâu nhất
và được thể hiện rõ ràng nhất” [Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 2006
học”[Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 2006:149] thì tín ngưỡng chỉ là niềm
tin một cách võ đoán vào các hành động đó mà thôi
1.3.3 Tín ngưỡng và mê tín dị đoan
Mê tín dị đoan là một thuật ngữ có nguồn gốc từ Công giáo Đây là từ
mà các giáo sĩ và giáo dân dùng để chỉ những niềm tin dân gian ngoài niềm tinvào một đấng cứu thế duy nhất là Chúa Như vậy, ngoại diên của thuật ngữ mêtín dị đoan rất rộng và trải dài trên nhiều lĩnh vực của đời sống văn hóa xã hội
Trang 27nhưng điểm trung nhất là những niềm tin ngoài chính thống và thường mangmột ý nghĩa tiêu cực.
Như vậy, nội hàm của tín ngưỡng và mê tín dị đoan có những điểmtrùng lắp lên nhau, và trong nhiều trường hợp chúng tiến sát lại rất gần nhaunhưng không bao giờ đồng nhất với nhau Tín ngưỡng thì thường rộng vàmang ý nghĩa tích cực hơn là mê tín dị đoan Tín ngưỡng thì thường tồn tạiqua lăng kính xã hội trong khi đó mê tín dị đoan thường bảo thủ và tồn tạitrong một nhóm nhỏ những người chậm tiến
1.3.4 Tín ngưỡng dân gian
Ở những phần trên cho thấy có sự phân biệt các thuật ngữ tín ngưỡng
và tôn giáo, giữa tín ngưỡng và mê tín dị đoan Trong những sự phân biệt đó,
có sự phân biệt khá rạch ròi theo tiêu chí giữa tín ngưỡng và tôn giáo, cũng có
sự phân biệt để nhận diện giữa tín ngưỡng và mê tín dị đoan
Tuy nhiên, nếu như ở các nước Phương Tây, sự phân biệt giữa tínngưỡng- tôn giáo (belief – religion) khá rõ ràng, thì ở Việt Nam, điều này luôn
là vấn đề còn nhiều tranh luận, bởi mức độ đan xen và hòa nhập lẫn nhau giữahai thành tố này là rất phức tạp Ở Việt Nam, ngoài thuật ngữ tín ngưỡng, còn
sử dụng thuật ngữ tín ngưỡng dân gian
Luận án Tiến sĩ Tín ngưỡng dân gian của người Chăm Ninh Thuận và
Bình Thuận của Vương Hoàng Trù quan niệm “Tín ngưỡng dân gian Chăm là
những tín ngưỡng bản địa không thuộc các tôn giáo du nhập vào Champa và
người Chăm trong những thời kỳ lịch sử sau này”[Hội Dân tộc học, 2006:227]
Bài viết Phật giáo làm cách nào để thích ứng với yêu cầu tín ngưỡng
dân gian? của Thích Thánh Nghiêm đăng trong Tạp chí nghiên cứu Phật học – số 6 (62) – 2002 đã viết về tín ngưỡng dân gian như sau: “Tín ngưỡng dân
Trang 28gian là hành vi tôn giáo có liên quan đến phong tục dân tộc, cũng là hiệntượng tôn giáo mang hình thái nguyên thuỷ Từ khi có văn hoá nhân loại đến nay, tín ngưỡng dân gian đã tồn tại một cách phổ biến trong các dân tộc Đây
là vì nhân loại cần phải giải toả phiền não trong tâm, sự tranh chấp ở gia đình
và ngoài xã hội, áp lực của hoàn cảnh tự nhiên Trong một thời gian ngắn, họkhông có cách gì dùng thể năng, trí năng của con người để giải quyết nhữngvấn đề trên, nên chỉ có cách cầu thần minh chỉ dẫn, giúp đỡ, cứu tế, bảo hộ
Họ lợi dụng phương thức xin thẻ, bói toán, giáng sinh, cầu hồn, lên cơ, cúng
tế, hứa nguyện(17), để mong liên lạc cảm thông được với quỷ thần Hành vinày, theo nhất thần giáo là mê tín dị đoan và tà thuật”
[ Thích Thánh Nghiêm 2002: 62]
Theo bài viết tín ngưỡng dân gian của Patrick B Mullen được giới thiệu trong Công trình Folklore Một số thuật ngữ đương đại do Ngô Đức
Thịnh và Frank Proschan đồng chủ biên thì “Tín ngưỡng dân gian tồn tại như
là một tri thức dân gian và được đưa vào thực tiễn như là cách ứng xử mang
tính phong tục [Ngô Đức Thịnh 2005:273-286]
Từ điển Tôn giáo của Mai Thanh Hải, dựa vào định nghĩa của Đại
Bách khoa Toàn thư Anh cho rằng tín ngưỡng là ‘‘một trạng thái tâm lý trong
hoàn cảnh một mệnh đề nào đó không đủ nhận thức lý trí để đảm bảo nó làchân thực mà vẫn tiếp thụ hoặc đồng ý nó ’’ Các tín ngưỡng dần dần đượchình thành từ thấp đến cao: bái vật giáo,tô tem giáo,vật linh giáo, đa thần giáo,rồi hoàn chỉnh đến các tôn giáo thờ cúng thiên về thiên tính, với trọn vẹn bayếu tố: giáo lý, cơ cấu nhân sự và nghi lễ phụng tự Ngoài những người thànhtâm,còn hình thành những người bám vào tín ngưỡng-tôn giáo để sống, thậmchí dựa vào đấy để tìm kiếm danh lợi và vị thế, có những kẻ đầu cơ đẩy conngười tín ngưỡng vào khổ nghèo, đau đớn, tăm tối Vì vậy, bên cạnh tín
7 (1) Hứa nguyện là người ta có điều gì cầu nguyện với thần linh, hứa khi mãn nguyện sẽ đền ơn
Trang 29ngưỡng và tôn giáo, luôn luôn có nguy cơ mê tín dị đoan, ‘‘buôn thần, bán
thánh’’ và lợi dụng tôn giáo vào các mục tiêu chính trị-xã hội [ Mai Thanh Hải 2002 : 634-635].
Luận văn này vận dung khái niệm tín ngưỡng của Đại rừ điển Bách
khoa Anh để nghiên cứu tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Đồng bằng
sông Cửu Long: trườing hợp tỉnh Trà Vinh
1.3.5 Cách tiếp cận
Qua khảo sát thực tế trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, luận văn tập trungnghiên cứu các loại hình tín ngưỡng dân gian mà trong đời sống tinh thần, tâmlinh, người Khmer nào cũng tin tưởng và thực hành, đặc biệt đối với các hìnhthức tín ngưỡng dân gian được người Khmer thực hành rộng rãi trong đờisống đương đại của họ
Luận văn tìm hiểu tín ngưỡng dân gian của người Khmer theo hướngtiếp cận chuyên ngành và liên ngành dước góc nhìn văn hóa học kết hợp vớidân tộc học/nhân học tôn giáo là chính và nghiên cứu trường hợp - ngườiKhmer ở Trà Vinh để nhận diện về nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển
và biến đổi các loại hình tín ngưỡng dân gian; về đặc trưng tộc người và giá trịvăn hóa tinh thần, tâm linh thể hiện trong tín ngưỡng dân gian của họ
Trang 30Tiểu kết
Trà Vinh là một tỉnh ven biển có đông người Khmer ở Đồng bằng sôngCửu Long Đời sống kinh tế của cộng đồng người Khmer ở đây chủ yếu là làmnông nghiệp, thủ công nghiệp, nuôi trồng thủy sản và đánh bắt ven bờ
Địa bàn tỉnh Trà Vinh là nơi cộng cư lâu đời của người Khmer, ngườiViệt và người Hoa Mối quan hệ tiếp xúc, giao lưu giữa các tộc người ở đâyđược thể hiện trong hoạt động kinh tế, sinh hoạt xã hội và đời sống văn hóavật thể, phi vật thể, nhất là trong tín ngưỡng và lễ hội dân gian
Luận văn này vận dụng các khái niệm về tín ngưỡng và tôn giáo, tínngưỡng và ma thuật, tín ngưỡng và mê tín dị đoan để tiếp cận nghiên cứu tínngưỡng dân gian của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long: Trường hợptỉnh Trà Vinh
Trang 31CHƯƠNG II CÁC HÌNH THỨC TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
CỦA NGƯỜI KHMER Ở TRÀ VINH
Trang 32Về người Khmer và đời sống văn hóa tinh thần, tâm linh của họ đã
được nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam quan tâm với những công trình của Thạc Nhân[49, Lê Hương[38},[39], Nguyễn Tấn Đắc[22],[23],[24], Mạc Đường, Ngô Văn Doanh[18], Phan An[1], Nguyễn Xuân Nghĩa[50…
Tuy nhiên, sau gần 40 năm qua, kể từ khi xuất bản công trình Người
Việt gốc Miên của Lê Hương, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có
hệ thống và chuyên sâu về tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Đồng bằngsông Cửu Long nói chung và tại tỉnh Trà Vinh nói riêng Trên thực tế qua thuthập thông tin, xử lý tư liệu điền dã, luận văn này xếp các loại tín ngưỡng dân
gian của người Khmer ở Trà Vinh thành hai nhóm chính, đó là tín ngưỡng của cộng đồng và tín ngưỡng của dòng họ, gia đình và cá nhân Việc sắp
xếp, phân loại các loại hình tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Vinhthành hai nhóm chính trên đây nhìn chung là có ý nghĩa tương đối Bởi lẽ, cácloại hình tín ngưỡng dân gian sùng bái tự nhiên và sùng bái con người có tínhcộng đồng, dòng họ, gia đình và cá nhân của người Khmer ở Trà Vinh nóiriêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung luôn hoà quyện vào nhau
và khó có thể phân biệt được một cách thật rõ ràng, rành mạch
2.1 Tín ngưỡng của cộng đồng
2.1.1 Neak Tà - Gñk ta
Người Khmer ở Campuchia cũng có tục thờ Neak Tà (còn gọi là Nak
Tà) trong các phum của họ và xem đó là thần bản thổ[Cao Xuân Phổ 1983:140] Họ còn có cả một câu chuyện dân gian giải thích về nguồn gốc của Neak Tà [Trung tâm nghiên Cứu Văn hóa Khmer 2001:63-68] Còn đối với
người Khmer ở Trà Vinh thì sao?
Trang 33Trên đường đi vào các phum sóc của người Khmer ở Trà Vinh, chúng ta
gặp nhiều Sala 8 và miếu thờ Neak Tà Neak Tà thường được thờ tượng trưngbằng vài hòn đá to và nhiều hòn đá nhỏ hình bầu dục nhẵn bóng tự nhiên VậyNeak Tà là gì? Đã có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này
Moura (1883) cho rằng Neak Tà là những vị thần các cánh đồng haykhu vực mà người ta cầu xin khi có công việc và Neak Tà có nguồn gốc Bà LaMôn giáo Ông đặt các vị thần này trong vũ trụ quan của tôn giáo đó “NhữngNeak Tà có từ khi các xứ sở được thành lập và chính Preak In (Indra) đã giaocho họ công việc trông coi các xứ sở này”
Adhémar Lecclère (cuối thế kỷ XIX) cho Neak Tà “là hồn của những
người đã chết từ lâu”.
Monod (1931) lại cho Neak Tà “là các vị thần đồng áng hay thần ở trong
rừng mà người ta phải cầu xin khi có công việc liên quan đến khu vực này”.
Quan niệm cho rằng Neak Tà có nguồn gốc Bà La Môn giáo cũng đượcL.Malleret (1946) tán thành Ông lấy vị thần Neang Khmau (Bà Đen) trong tínngưỡng của người Khmer làm minh chứng
8 Một ngôi nhà sàn hoặc nhà nền đất, làm ở ngả ba đường nơi đông người qua lại để họ vào nghỉ ngơi lúc lao động và tránh mưa nắng Nơi đây cũng có miếu thờ Ông Tà (Neak Tà) trong đó bàn thờ Ông Tà tượng trưng bằng mấy cục đá.
Hình 2.1 Bàn thờ Neak Tà ở Ấp Phố Giữa - An Quảng Hữu - Trà Cú - Trà Vinh
Ảnh chụp ngày 28 tháng 6 năm 2005
Trang 34Éveline Porée Maspéro khác những ý kiến trên và dẫn chứng có trườnghợp Neak Tà là một con vật.
Theo Phan An thì có thể tục thờ Neak Tà ở người Khmer là tàn dư củatín ngưỡng thờ đá có ở Nam Á
Những quan niệm trên về Neak Tà của các học giả trong và ngoài nuớctuy có nhiều chỗ khác nhau, nhưng đều có chung một quan niệm Neak Tà là
thần bảo hộ [Viện Văn hóa 1987:64-65].
Người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở
Campuchia đều cho rằng Neak Tà là thần bảo hộ phum sóc[Nguyễn Bặc 1987:171] - giống như thành hoàng ở các làng của người Việt Neak Tà có
đẳng cấp khác nhau mà chúng ta dễ dàng nhận thấy ở giá trị của các lễ vậtđược cúng tế Người Khmer tổ chức cúng Neak Tà Méchas Srok (Ông Tà chủxóm) bằng đầu heo, còn cúng Neak Tà xóm rạch bằng gà, vịt Neak Tà nàocũng có miếu thờ ở trung tâm phạm vi ảnh hưởng
Về tên gọi Neak Tà hay Nat Tà (người Việt gọi là Ông Tà) thì Neak hayNat là con người nói chung và Tà là người đàn ông đứng tuổi Có nhiều dạngNeak Tà được thể hiện bằng tên động vật, thực vật, địa vực (bến đò…) hay tênnhân vật lịch sử, nhân vật trong truyện cổ tích, huyền thoại, có khi là tên của
vị thần thuộc Bà La Môn giáo…
Hình 2.2 Tượng Neak Tà Om Ko Chây là một Ông Lão tại khóm 8,
P9 TX Trà Vinh
Ảnh chụp ngày 29 tháng 11 năm
2006
Trang 35Ở Trà Vinh, cũng có nhiều dạng Neak Tà như Neak Tà Xam rông (câyTrôm), Neak Tà Dom Chey (cây Đa), Neak Tà bến đò, Neak Tà giếng vẹo,Neak Tà bến Bình An Ngoài ra, còn có một số Neak Tà ở ngã ba, ngã tư sôngnhư Neak Tà Ok và Neak Tà Rumpotmia và Neak Tà Wat ở các khuôn viênchùa (Neak Tà ở chùa Ông Mek (P1, Tx Trà Vinh), Neak Tà chùa Chim (P7,
Tx Trà Vinh), Neak Tà chùa Phướng (P7, Tx Trà Vinh), Neak Tà chùa XoàiXiêm ( Ngãi Xuyên, Trà Cú, Trà Vinh), Neak Tà chùa Bãi Xào Dơi (ThanhSơn, Trà Cú, Trà Vinh)…
Dù có tên hay không có tên thì trong tâm thức dân gian của ngườiKhmer, Neak Tà đều là thần được dân chúng suy tôn qua giá trị thực tiễn trongcuộc sống và được lập miếu thờ
Miếu thờ Neak Tà có nhiều loại Loại miếu thờ đơn giản được làm bằngtre, lợp lá dừa nước trầm, nhà sàn hoặc nhà đất, thường làm dưới gốc câytrong khuôn viên một phum nhỏ hay dựng ở một góc ruộng Loại miếu lớnhơn, thường được xây bằng gạch ở hướng đông bắc trong khuôn viên chùa,hay một điểm nào khác trong phum sóc Loại miếu này dành cho Neak Tà Wat(Neak Tà chùa) và Neak Tà Méchas Srok (Neak Tà chủ xóm)
Hàng năm, người Khmer trong mỗi phum sóc cúng Neak Tà một lầnvào trước mùa mưa, khoảng tháng 4 Âm lịch Những nơi ở Trà Vinh tổ chứcNeak Tà là xã Lương Hòa cũ (nay là Phường 8, thị xã Trà Vinh vào ngày 14
Hình 2.3 Miếu thờ Neak Tà trong khuôn viên chùa Chim, P7, TX Trà Vinh
Ảnh chụp ngày 15 tháng 02 năm 2005
Trang 36tháng 4 Âm lịch), ở miếu Neak Tà tại Khóm 8, Phường 9, thị xã Trà Vinh (gầnchùa Phướng) vào ngày 16 tháng 4 Âm lịch, ở miếu Neak Tà tại ấp Phố Giữa,
xã An Quảng Hữu, huyện Trà Cú vào ngày 17 tháng 4 Âm lịch… Ngoài ra,khi có điều gì bất thường thì người Khmer đến miếu Neak Tà cúng kính vàcầu xin
Neak Tà đối với người Khmer không chỉ là thần bảo hộ mà còn là thầnban phúc, giáng họa, thần xét xử, thần chữa bệnh Trước kia, khi có xíchmích, khiếu kiện, nghi kị lẫn nhau họ đến miếu Neak Tà để giải quyết bằngcách thề thốt trước sự chứng dám của Ông Người bị bệnh thường đến đâykhấn và hứa trả lễ khi lành bệnh Ai mất mát đồ đạc gì cũng khấn Neak Tànhờ tìm và chỉ giúp Lời khấn về đại thề như sau:
- Phần khấn: Vái Neak Tà… cho tôi… (điều mà người Khmer mong
ước),
- Phần hứa trả lễ : nếu được như lời khấn, tôi sẽ cúng… (vật phẩm) Lễ
vật là nải chuối hoặc con gà, con vịt hoặc đầu heo… tùy thuộc vào mức độquan trong của sự việc cầu xin và lời khấn
Ở Trà Vinh ngoài hình tượng thờ Neak Tà là những hòn đá theo kiểuthờ truyền thống (Hình 2.1) giống như nhiều nơi khác (Sóc Trăng, KiênGiang…) ở Đồng bằng sông Cửu Long thì riêng tại Phường 8, Phường 9, thị
xã Trà Vinh, ấp Quy Nông A, Quy Nông B, xã Hòa Lợi, huyện Châu Thành(cặp quốc lộ 53, hướng Trà Vinh về Cầu Ngang), Neak Tà được đắp tượng vàthể hiện là một ông già tay cầm gậy (Hình 2.2) hoặc cầm chày, cối giã thuốc…
2.1.2 Chol Chnam Thmay - cUl qñaM fµI
-Người Khmer cũng như các dân tộc khác ở khu vực Đông Nam Á là cưdân nông nghiệp nên có nhiều lễ hội cộng đồng liên quan đến sản xuất nôngnghiệp Quan sát các nghi lễ nông nghiệp của người Khmer ở Trà Vinh thìnhìn chung các vị thần, các lực lượng siêu nhiên không có hình thù cụ thể, vì
Trang 37thế không có thánh tượng Chỉ khi nào tế lễ người ta mới lập bàn thờ Bàn thờ
được lập cũng rất đơn giản bằng một số loại vật liệu như tre, chuối…
Cũng giống như người Việt, người Khmer tôn thờ những vị thần đầyquyền năng, có phép màu nhiệm luôn gắn chặt với nông nghiệp trồng lúa nước
là chính Những vị thần này bất cứ lúc nào cũng có thể ban phước hoặc giáng
họa Nếu ở người Việt có hệ thống bốn thần thường được gọi là tứ pháp (mây
-mưa-sấm-chớp)[Trần Ngọc Thêm 2001:452] thì ở người Khmer chỉ có một
vị thần có nguồn gốc Ấn là Indra là có đủ sức mạnh tổng hợp vừa là thần sét,
vừa là thần mưa [Roy.C.Craven 2005 ( Huỳnh Ngọc Trảng dịch:7] Bởi lẽ
các hiện tượng khí hậu, thời tiết như mưa nắng, lụt lội, hạn hán… có ảnhhưởng trực tiếp, tác động đến mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp
Nếu như người Việt và người Hoa cùng cộng cư với người Khmer ở TràVinh ăn tết năm mới theo lịch Kiến Dần, thì người Khmer dù chịu ảnh hưởngsâu đậm văn hóa Ấn Độ, lại ăn tết vào thời điểm giao mùa giữa mùa khô và
mùa mưa, goi là Chol Chnam Thmay Trong văn học dân gian của họ có cả
một sự tích để giải thích cho hình thức tín ngưỡng này
Hình 2.4 Người Khmer Trà Vinh quét dọn các tháp thờ tổ tiên trong tết năm mới
Ảnh chụp ngày 17 tháng 4 năm 2007 tại cánh đồng trước khu di tích
Ao Bà Om, P8, Tx Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh
Trang 38Ở Sự tích Chol Chnam Thmay, số lượng truyện kể thu thập được rất
nhiều và phạm vi phân bố của nó vượt ngoài địa bàn cư trú của người Khmer
từ Nam Lào đến Nam Thái Lan, đó là câu truyện kể xoay quanh nhân vật
Thâm - mờ - bal trong Sự tích Chol Chnam Thmay hay Sự tích lễ chào năm
mới Câu chuyện này có lẽ ra đời vào lúc Bà La Môn giáo dần dần mất đi vị
thế thống trị về tâm linh trong xã hội người Khmer, nhường chỗ cho Phật giáoTheravada với chi tiết vị thần tối cao của Bà La Môn giáo lại thua trí một cậu
bé 7 tuổi Ở Việt Nam có Sự tích Chol Chnam Thmay của Lê Hương trong
Người Việt Gốc Miên (1969), của Cao Tấn Hạp trong Địa phương chí tỉnh Vĩnh Bình (1973), của Huỳnh Ngọc Trảng (1983, 1987, 1993) trong Truyện cổ Khmer Nam Bộ, và bản kể trong Văn học dân gian Sóc Trăng[ 16:34-36] …
Trước đây, trong lễ Chôl Chnam Thmay - cUl qñaM fµI , người Khmer còn tổ chức những trò chơi dân gian như ném còn (chôlchung), dấu khăn (leak kon xeng), rồng rắn (chôk chêy), hát đối đáp và biểu
diễn văn nghệ[Viện Văn hóa 1987:72] Ngoài mục đích giải trí, đây không
chỉ là dịp để các thanh niên nam nữ giao lưu tìm bạn đời mà còn là nơi để giáodục, lưu truyền bản sắc văn hóa dân tộc cho thế hệ trẻ Còn hiện nay, các trò
Hình 2.5: Thần 4 mặt Ka-binh Ma-ha Pờ-rum Trên một cổng chùa Ông Mẹt, P1, TX Trà Vinh
Ảnh chụp ngày 11 tháng 6 năm 2006
Trang 39chơi và các hình thức hát đối đáp dần dần mai một dần trong đời sống văn hóacủa họ mà thay vào đó là các trò chơi mang tính phổ biến như nhảy bao bố, bịtmắt đánh chum hay kéo co9… Giải thích sự thay đổi này, có người cho rằngmột phần do sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục chính thống, một phần dogiao lưu kinh tế - văn hóa với người Hoa và người Việt ở địa phương.
2.1.3 Sel Dolta - Esn dUn ta
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Sel Dolta - Esn dUn ta
, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên xuất pháp từ lễ xá tội vong nhân của Phật giáo
Theo Lê Hương thì “Lễ Đôn ta còn gọi là Phchum Ben là lễ xá tội vongnhân của Phật giáo theo ngành Tiểu thừa, cùng một ý nghĩa với lễ Vu lan củangành Đại thừa Toàn thể người Việt gốc Miên thừa hành Phật pháp theongành Tiểu thừa nên thiết lễ Đôn ta đúng như tập quán nghìn xưa, khác hẳnvới người Việt về mọi phương diện Ngày lễ chánh thức được ấn định vào
ngày 30 tháng 8 theo Phật lịch”[Lê Hương 1969:57] Ông còn dẫn cả một câu
chuyện của Phật giáo đã được dân gian hóa để giải thích cho nguồn gốc của lễnày
Trong công trình Văn hóa người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long
cũng có cùng nhận định như vậy nên không đưa Lễ Sel Dolta vào phần tín
ngưỡng mà ở phần lễ hội[Viện Văn hóa 1993:81-83].
Người Khmer Trà Vinh hiện nay cũng tin đây là nghi lễ Phật giáo vàcũng có cả một truyện kể dân gian tương tự như truyển kể đã được đăng tải
trong tác phẩm Người Việt gốc Miên của Lê Hương.
Quan sát lễ hội, người ta thấy vai trò chính của các vị sư trong hầu hếtcác nghi thức tiến hành lễ; từ tụng kinh cầu siêu, cầu an đến cúng dường.Trong thời gian diễn ra lễ, người Khmer tin rằng “nếu thân nhân của họ đã quá
9 Tài liệu điền dã thực tế tại Lễ OK Om Bok Trà Vinh 2006 tổ chức tại Ao Bà Om ( Ao Vuông), phường 8, TXTV.
Trang 40vãng và đã đầu thai vào nơi không tốt tất phải đến chùa nghe các vị sư tụngkinh Nhờ pháp lực của kinh kệ và phước đức có được từ sự cúng dường cho
nhà chùa mà thân nhân của họ được siêu thoát và hưởng lộc ở kiếp sau”[Trần Văn Bổn 1999 :53-58]
Rõ ràng, nhìn diện mạo bên ngoài thì có người cho là nghi lễ của Phậtgiáo, nhưng “đây là một lễ lớn của người Khmer, có tính chất dân gian khácvới lễ Pho Chum Bon mang tính chất Phật giáo mà ta gọi là “lễ đặt cơm vắt”với mục đích giống nhau là nhớ ơn ông bà, cầu phước cho linh hồn người đã
chết Lễ Đôn ta tổ chức vào ba ngày từ ngày 29/8 đến 01/9 Âm lịch”[Viện Văn hóa 1987:97]
Việc tin có linh hồn, có thế giới bên kia và người chết có tác động đếnngười sống là niềm tin cổ xưa và có trước tôn giáo Riêng đối với ngườiKhmer do sống trong không khí Phật giáo với giáo lý và thực hành giống như
niềm tin truyền thống (lễ đặt cơm vắt là điển hình) nên nó đã tích hợp và biến
niềm tin truyền thống thành một sản phẩm của tôn giáo câu chuyện của Phậtgiáo giải thích sự tích tín ngưỡng này là để củng cố niềm tin tôn giáo mà thôi
Người Khmer ở Campuchia xem lễ Sel Dolta là một trong những lễ lớn
nhất trong năm[Nguyễn Bặc 1987 :172], nhưng theo người Khmer ở Trà Vinh
và các địa phương khác trong vùng Nam Bộ thì lễ này không hoàn toàn nhưvậy
Hình2.10 Người Khmer cầu nguyện cho tổ tiên trong lễ Sel Dolta 2007
Ảnh chụp ngày 10 tháng 10 năm 2007