1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ: Lễ nghi nông nghiệp trong đời sống văn hóa người Chăm

213 378 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 213
Dung lượng 19,6 MB
File đính kèm LEÃ NGHI.rar (19 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngöôøi Chaêm laø moät trong 54 daân toäc cuûa ñaïi gia ñình caùc daân toäc Vieät Nam, coù moät neàn vaên hoùa ñoäc ñaùo vaø ñaëc saéc. Töø haøng chuïc theá kyû qua, daân toäc Chaêm ñaõ saùng taïo neân söï phong phuù vaø nhöõng giaù trò beàn vöõng cho neàn vaên hoùa cuûa hoï, vaø coù nhieàu giaù trò vaên hoùa lôùn coù taàm côõ quoác teá vaø khu vöïc Ñoâng Nam AÙ. Trong ñoù, khoâng theå khoâng keå ñeán nhöõng di tích vaät chaát vaø nhöõng giaù trò di saûn vaên hoùa tinh thaàn coøn baûo löu ñaõ toâ ñieåm cho neàn vaên hoùa cuûa ngöôøi Chaêm theâm phong phuù vaø ña daïng. Trong di saûn vaên hoùa Chaêm hieän nay, leã nghi cuûa ngöôøi Chaêm laø moät di saûn vaên hoùa phi vaät theå ñoà soä phaûn aùnh nhieàu khía caïnh vaên hoùa, phong tuïc taäp quaùn, tín ngöôõng, toân giaùo, ngheä thuaät vaø caû heä thoáng nghi thöùc noâng nghieäp lieân quan ñeán sinh hoaït ñôøi soáng kinh teá xaõ hoäi. Trong ñoù, leã nghi noâng nghieäp laø moät boä phaän caáu thaønh vaên hoùa Chaêm vaø coù moái quan heä gaén boù vôùi caùc lónh vöïc vaên hoùa, kinh teá xaõ hoäi khaùc. Leã nghi noâng nghieäp coøn laø moät trong nhöõng leã nghi ra ñôøi sôùm, ñaäm chaát baûn ñòa laø nhu caàu caàn thieát veà taâm linh phuïc vuï cho ñôøi soáng vaø saûn xuaát cuûa cö daân noâng nghieäp, mang ñaäm daáu aán cuûa vaên minh noâng nghieäp luùa nöôùc.

Trang 1

Lời nói đầu

D ân tộc Chăm là một trong những dân tộc bản địa có nguồn gốc lâu đời ở Việt Nam và

VĂN

-Nguyễn Xuân Lý

LỄ NGHI

CỦA NGƯỜI CHĂM

Chuyên ngành Văn hóa học

Mã số 60 31 70 Luận văn thạc sĩ

Người hướng dẫn khoa

học Tiến sĩ : Thành Phần

Thành phố Hồ Chí Minh

2005

Trang 2

Đông Nam Á Gần hai thiên niên kỹ qua, họ đã sáng tạo ra một nền văn hóa độc đáo và đặc sắc, đãø để lại đến ngày nay cho văn hóa Việt Nam số lượng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đồ sộ Những di sản văn hóa đó có giá trị cao, phản ánh sự sáng tạo và sức sống diệu kỳ của văn hóa Chăm hàng ngàn năm qua.

Thời gian đã và đang từng bước đẩy lùi vào quá khứ giới hạn của những hiểu biết về giá trị tinh thần của chúng ta về một nền văn minh và văn hóa đã từng tỏa sáng liên tục nhiều thế kỷ qua Do vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu văn hóa Chăm nói chung, lễ hội, lễ nghi nông nghiệp nói riêng trở thành cấp thiết trong cả nhận thức, lý luận và thực tiển của cuộc sống hiện nay.

Xuất phát từ công việc chuyên môn và sự yêu thích nền văn hóa Chăm, chúng tôi được tiếp xúc, tìm hiểu và nghiên cứu nhiều lĩnh vực của văn hóa Chăm Nhiều đề tài nghiên cứu được hoàn tất, cả văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần Việc nghiên cứu và thí nghiệm sản xuất thành công gạch Chăm là một thí dụ của công việc nghiên cứu, góp phần úng dụng vào việc trùng tu di tích kiến trúc Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận Trên lĩnh vực nghiên cứu văn hóa phi vật thể, chúng tôi cũng hoàn tất các đề tài nghiên cứu khoa học, như Lễ hội Ramưwan; Các loại hình đám cưới của người Chăm; Quy trình sản xuất gốm truyền thống của người Chăm; 5 hồ sơ khoa học về di tích kiến trúc nghệ thuật Chăm được Nhà nước xếp hạng Quốc gia Nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Chăm đang được tiếp tục.

Trang 3

Trên cơ sở những kết quả đã được nghiên cứu, đề tài luận văn cũng được chọn lựa trong văn hóa truyền thống Chăm là lĩnh vực Lễ nghi nông nghiệp Lĩnh vực nghiên cứu không phải là mới nhưng chưa có một công trình chuyên sâu nào đề cập chi tiết, và chuyên sâu Hơn nữa đây là đề tài mới được vận dụng lý thuyết Văn hóa học để nghiên cứu một cách toàn diện, vì trên thực tế Lễ nghi nông nghiệp Chăm là một hiện tượng văn hóa dân gian phức hợp, phong phú về cách thể hiện, đa dạng về nội dung và lan tỏa trong phạm vi không gian rộng lớn, thời gian dài Lễ nghi nông nghiệp là một bộ phận, yếu tố chính nằm trong văn hóa truyền thống, trong đó nội dung chứa đựng các giá trị văn hóa,

nhu cầu về tâm linh, tín ngưỡng và còn là một sinh

hoạt tín ngưỡng – văn hóa của cộng đồng

Trong di sản văn hóa Chăm hiện nay, Lễ nghi nông nghiệp được xác định là một hệ thống di sản văn hóa đồ sộ phản ánh nhiều khía cạnh văn hóa, nghệ thuật, phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo Những yếu tố văn hóa đặc sắc đó chứa đựng trong từng Lễ nghi, khiến cho nó không còn đơn thuần là Lễ nghi phục vụ nông nghiệp nữa, mà nó đã trở thành lễ nghi chung của văn hóa cộng đồng.

Mục tiêu của luận văn, chúng tôi không có tham vọng gì lớn hơn ngoài việc cung cấp thêm tư liệu và so sánh, đối chiếu tư liệu đã có, với tư liệu thực tế của từng khu vực người Chăm sinh sống, nhằm làm rõ hơn giá trị của Lễ nghi nông nghiệp trong văn hóa truyền thống và cả hiện nay.

Do trình độ và khả năng của chúng tôi còn hạn chế, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở mức góp

Trang 4

nhặt, thu thập tư liệu thực tế để so sánh đối chiếu và viết theo suy nghĩ của mình, nên thiếu sót của luận văn là điều khó tránh khỏi Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của giáo viên hướng dẫn khoa học, của các Thầy giáo, Cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn.

Nguyễn Xuân Lý

Mục lục LỜI NÓI ĐẦU 1

DẪN NHẬP 5

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 6

2.1.ĐỐI TƯỢNG 6

2.2.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 7

3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU CHỦ YẾU 9

4.1.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

4.2.NGUỒN TÀI LIỆU CHỦ YẾU 10

5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 11

6. BỐ CỤC 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ MÔI SINH VÀ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CHĂM 1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên 13

1.2 Phân bố dân cư và dân số 18

1.3 Nguồn gốc tộc người 22

Trang 5

1.4 Văn hóa truyền thống của người Chăm 23

1.4.1.Văn hóa vật chất 23

1.4.2.Văn hóa tinh thần 25

1.4.3.Văn hóa xã hội của người Chăm 25

CHƯƠNG 2 LỄ NGHI NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI CHĂM 2.1 Khái niệm về lễ nghi, nông nghiệp và lễ nghi nông nghiệp 25

2.1.1.Khái niệm về lễ nghi 25

2.1.2.Khái niệm về nông nghiệp 25

2.1.3.Khái niệm về lễ nghi nông nghiệp 25

2.2 Phân loại lễ nghi nông nghiệp 25

2.2.1.Một số khái niệm về phương pháp phân loại 25

2.2.2.Tiêu chí phân loại lễ nghi nông nghiệp 25

2.3 Lễ nghi nông nghiệp của người Chăm 25

2.3.1.Lễ nghi nông nghiệp thực hiện theo thời gian 25

2.3.2.Lễ nghi nông nghiệp theo thời vụ 25

CHƯƠNG 3 VAI TRÒ CỦA LỄ NGHI NÔNG NGHIỆP TRONG VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CHĂM 3.1 Lễ nghi nông nghiệp trong sinh hoạt kinh tế của người Chăm 25

3.2 Lễ nghi nông nghiệp trong sinh hoạt văn hóa của người Chăm 25

3.2.1.Lễ nghi nông nghiệp trong sinh hoạt văn hóa vật chất 25

3.2.2.Lễ nghi nông nghiệp trong sinh hoạt văn hóa tinh thần 25

3.2.3.Lễ nghi nông nghiệp trong sinh hoạt văn hóa xã hội25 3.2.3.1.Lễ nghi nông nghiệp ảnh hưởng đến tính cách người Chăm 25

3.2.3.2.Vai trò của lễ nghi nông nghiệp trong việc cố kết tính cộng

đồng của người Chăm 25

3.2.3.3.Lễ nghi nông nghiệp tác động và ảnh hưởng đến tín ngưỡng dân gian 25

Trang 6

3.2.3.4.Lễ nghi nông nghiệp cách thức ứng xử

với môi trường xã hội 25

3.3 Tác động của chính sách Nhà nước đối với lễ nghi nông nghiệp của người Chăm 25

3.4 So sánh lễ nghi nông nghiệp của người Chăm với một số lễ nghi nông nghiệp các dân tộc khác 25

KẾT LUẬN 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

PHỤ LỤC 25

Phụ lục 1 25

Phụ lục 2 25

Phụ lục 3 163

Phụ lục 4 167

Phụ lục 5 169

Dẫn nhập

1 Lý do chọn đề tài

Người Chăm là một trong 54 dân tộc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, có một nền văn hóa độc đáo và đặc sắc Từ hàng chục thế kỷ qua, dân tộc Chăm đã sáng tạo nên sự phong phú và những giá trị bền vững cho nền văn hóa của họ, và có nhiều giá trị văn hóa lớn có tầm cỡ quốc tế và khu vực Đông Nam Á Trong đó, không thể không kể đến những di tích vật chất và những giá trị di sản văn hóa tinh thần còn bảo lưu đã tô điểm cho nền văn hóa của người Chăm thêm phong phú và đa dạng

Trong di sản văn hóa Chăm hiện nay, lễ nghi của người Chăm là một di sản văn hóa phi vật thể đồ sộ phản ánh nhiều khía cạnh văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật và cả hệ thống nghi thức nông nghiệp liên quan đến sinh hoạt đời sống kinh tế - xã hội Trong đó,

Trang 7

lễ nghi nông nghiệp là một bộ phận cấu thành văn hóaChăm và có mối quan hệ gắn bó với các lĩnh vực vănhóa, kinh tế xã hội khác Lễ nghi nông nghiệp còn là mộttrong những lễ nghi ra đời sớm, đậm chất bản địa là nhucầu cần thiết về tâm linh phục vụ cho đời sống và sảnxuất của cư dân nông nghiệp, mang đậm dấu ấn của vănminh nông nghiệp lúa nước.

Lễ nghi nông nghiệp trong văn hóa truyền thống Chămkhông chỉ là sự phản ánh sinh hoạt văn hóa của cộngđồng, mà nó còn lưu giữ những sắc thái văn hóa nôngnghiệp qua quá trình lâu dài của lịch sử dân tộc Chăm.Nhưng cùng với thời gian, chiến tranh đã làm mất mát, hủyhoại nhiều lễ nghi trong truyền thống văn hóa nông nghiệp.Theo đó, một số lễ nghi quan trọng đã mất dần hoặc đã bị

lu mờ các giá trị văn hóa dân gian nguyên thủy

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước hiện nay cùng với nhiều vùng nông thôn trong cảnước, các palei và lễ nghi của người Chăm cũng đang trongquá trình biến đổi, nhiều lớp văn hóa cũ, mới hội nhậpđan xen, chuyển hóa lẫn nhau Một số lễ nghi đang phai dầnvà có xu hướng mất đi; song hành với nó là một số thếhệ trẻ đang quay lưng với truyền thống dân tộc, xa lạ với lễhội và các lễ nghi văn hóa dân gian khác của tổ tiên

Việc tìm hiểu và nghiên cứu về lễ nghi nông nghiệptrong văn hóa truyền thống Chăm là việc làm cần thiết,giúp chúng ta hiểu biết hơn về phong tục tập quán, tínngưỡng và cách thức ứng xử của cư dân nông nghiệpChăm với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội –nhân văn cũng như môi trường tâm linh trong văn hóa nôngnghiệp Do đó, tôi chọn lĩnh vực nghiên cứu lễ nghi nôngnghiệp trong văn hóa truyền thống Chăm làm đề tài luậnvăn Thạc sĩ

Mục đích nghiên cứu của đề tài này nhằm làm rõ vaitrò, giá trị của lễ nghi nông nghiệp trong tiến trình phát

Trang 8

triển văn hóa, những yếu tố nguyên gốc còn được bảo lưuvà những biến đổi qua thời gian cũng như qua quá trình giaolưu văn hóa với các tộc người, các nền văn hóa trong lịchsử Đồng thời làm rõ hơn nhu cầu về tâm linh trong nhậnthức, quan niệm của người Chăm đối với lễ nghi nôngnghiệp và xem xét các mối quan hệ, sự chi phối của lễ nghinông nghiệp đến tôn giáo, tìm hiểu vai trò và sự chi phốicủa tôn giáo đến lễ nghi nông nghiệp, sự ảnh hưởng củanó đến tính cách, đến tính cộng đồng, cách thức ứng xửcủa người Chăm đối với môi trường tâm linh, môi trường tựnhiên và môi trường xã hội.

Việc tìm hiểu lễ nghi nông nghiệp trong văn hóa truyềnthống của người Chăm ở Nam Trung Bộ mà chủ yếu là ởNinh Thuận – Bình Thuận sẽ góp phần cho việc nghiên cứuvà hiểu biết thêm về hệ thống lễ hội, lễ nghi của ngườiChăm góp phần dự báo xu thế vận động, phát triển củangười Chăm về mọi mặt để có cơ sở hoạch định các chínhsách xã hội, văn hóa và tín ngưỡng ở địa bàn người Chăm

cư trú, góp phần định hướng chung cho việc bảo tồn di sảnvăn hóa Chăm trên địa bàn các tỉnh Nam Trung bộ

2 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lễ nghi nôngnghiệp và những ảnh hưởng, tác động của nó đến các lĩnhvực trong đời sống xã hội của cộng đồng người Chăm xưacũng như nay và những ảnh hưởng tác động ngược lại

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trongkhông gian khu vực Nam Trung bộ Để nội dung nghiên cứukhông bị đứt quãng do những biến động lớn trong lịch sửvà để có những dẫn chứng, tư liệu điển hình, phạm vinghiên cứu chính của luận văn giới hạn ở địa bàn hai tỉnhNinh Thuận và Bình Thuận là hai tỉnh có người Chăm sinhsống đông đảo nhất Việt Nam và còn bảo lưu gần nhưnguyên vẹn những đặc trưng của nền văn hóa truyền thống

Trang 9

Ở các tỉnh, khu vực khác có cộng đồng người Chăm sinhsống sẽ không được trình bày trong đề tài này Tuy nhiên,sẽ được dùng tư liệu để liên hệ, dẫn chứng về nội dungcủa đề tài như là một bộ phận nối tiếp, biến đổi của vănhóa Chăm.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.

- Tìm hiểu nguồn gốc, sự ra đời của lễ nghi nôngnghiệp, chức năng và giá trị của từng lễ nghi ảnh hưởngđến quá trình nhận thức và phong tục tập quán, tín ngưỡngtôn giáo của người Chăm trong văn hóa truyền thống củahọ

- Tìm hiểu và nghiên cứu về nhu cầu của lễ nghi nôngnghiệp với người Chăm trong đời sống văn hóa tinh thầncủa họ ở trong quá khứ, cả hiện tại và xu thế vận độngtrong tương lai Xác định sự tác động của lễ nghi nông nghiệpđến đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, đếntính cách và cách thức ứng xử của người Chăm với môitrường tự nhiên và môi trường xã hội, đồng thời nghiên cứuvề sự ảnh hưởng của nó đến tôn giáo cũng như sự tác độngtrở lại của các tôn giáo đến lễ nghi nông nghiệp

Việc nghiên cứu còn đề cập đến cội nguồn của vănminh nông nghiệp lúa nước So sánh lễ nghi nông nghiệpcủa người Chăm với các dân tộc ở Việt Nam và một vàidân tộc ở Đông Nam Á để thấy được nét đặc trưng vănhóa của từng dân tộc gắn với phong tục tập quán

- Góp phần bảo lưu các yếu tố nguyên gốc trong lễnghi nông nghiệp của người Chăm khi đã và đang có sự đanxen trộn lẫn với loại hình lễ nghi khác

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Các công trình nghiên cứu liên quan về lễ nghi củangười Chăm nói chung, lễ nghi nông nghiệp trong văn hóatruyền thống Chăm nói riêng, cho đến nay vẫn chưa cónhiều Hầu hết chỉ là một phần nhỏ trong những tác phẩmchung hoặc chỉ đề cập đến như là một phần để dẫn chứng

Trang 10

hoặc dùng chuyển tiếp vấn đề trong một tác phẩm, mộtcông trình nghiên cứu về kiến trúc, về lịch sử văn hóa, ditích… Một số sách và các tác phẩm sau đây đã có đề cậpđến như: Thư tịch cổ Trung Quốc có Hán Thư, Lương Thư, CựuĐường Thư, Thủy Kinh Chú… và của Việt Nam như Phủ BiênTạp Lục, Đại Nam Nhất Thống chí, Lịch Sử Việt Nam Từ nửacuối thế kỷ XIX nhiều học giả người Pháp chuyên nghiêncứu về sử học, di tích kiến trúc, khảo cổ học, tôn giáo,phong tục tập quán… cũng đã được công bố kết quả từquá trình khảo sát và nghiên cứu của các tác giả, nhưCabaton.A, Maspero.G, Parmentier.H, Aymonier.E, Finot.L …và saunày là của Stern.P, Boisselier.J.

Về phía các nhà nghiên cứu người Việt Nam từ đầu thếkỷ XX đã có nhiều công trình nghiên cứu như cuốn ChiêmThành lược khảo của Vương Khả Lâm (1936), dân tộc Chămlược sử của Dohamide và Dorohiem (Sài Gòn, 1965), Mẫu hệChăm của Nguyễn Khắc Ngữ (1967), Người Chăm ở ThuậnHải (1989) của nhiều tác giả, Văn hóa Chăm (1991) của PhanXuân Biên, Phan An và Phan Văn Dốp, Lễ hội người Chămcủa Sakaya, Lễ hội nông nghiệp Việt Nam (2002) của Lê VănKỳ, Hệ thống thủy lợi Chăm ở Bình Thuận và Ninh Thuận(2002) của Trương Hiến Mai và Sử Văn Ngọc, Lễ hội Rija Nâga(1998) của Ngô Văn Doanh, Từ Tây Nguyên đến Đồng Nai(1984) của Phan Lạc Tuyên, luận án tiến sĩ về tín ngưỡng dângian Chăm của Vương Hoàng Trù

Nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến tôn giáo – tínngưỡng Chăm được đăng rải rác trên các tạp chí Xã hộihọc, Khảo cổ học, Dân tộc học, Văn hóa dân gian, ĐôngNam Á, Xưa và Nay của các nhà nghiên cứu: Ngô VănDoanh, Bố Xuân Hổ, Lê Đình Phụng, Thành Phần, Phan XuânBiên, Phan Văn Dốp, Nguyễn Xuân Lý, SaKaYa, Phan QuốcAnh… Một số báo cáo nghiên cứu khoa học, các bài thamluận, những dự án nghiên cứu về văn hóa phi vật thể đềcập đến tín ngưỡng - tôn giáo, lịch sử, xã hội của các nhà

Trang 11

khoa học trong và ngoài nước như: Thành Phần, Một vài suy

nghĩ về thực trạng tín ngưỡng - tôn giáo của người Chăm hiện nay, Báo cáo nghiên cứu khoa học tại hội nghị khoa học

về tôn giáo tín ngưỡng của người Chăm, ở tỉnh Ninh Thuận,

2001 Thành Phần, Thử so sánh tín ngưỡng và mối quan hệ

thân tộc giữa dân tộc Chăm và các dân tộc Mã Lai-Đa Đảo ở Việt Nam, Bài báo cáo nghiên cứu khoa học tại Đại

học Toyo, Nhật Bản, 2001 Thành Phần, Kút – một loại hình tínngưỡng của tộc người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam,bài báo cáo nghiên cứu khoa học ở Đại học Singapore, 2004

Các sách và báo cáo khoa học, tham luận nghiên cứutrên đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc hệthống hóa, trong nghiên cứu về lễ hội, lễ nghi nói chung vàlễ nghi nông nghiệp Chăm nói riêng Nhưng chưa có mộtcông trình nghiên cứu nào chuyên sâu vào lĩnh vực lễ nghinông nghiệp và vai trò, nhu cầu, sự ảnh hưởng của nó đếnvăn hóa Chăm xưa cũng như hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu chủ yếu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng các phươngpháp phối hợp nghiên cứu, như phương pháp phân tích, tổnghợp, đối chiếu tài liệu lịch sử, văn hóa; phương pháp điềndã dân tộc học, phương pháp hệ thống, phương pháp sosánh Các phương pháp trên đây là phương tiện để nhậnthức đối tượng nghiên cứu, xem xét nội dung của đề tàimột cách có hệ thống và mối liên hệ giữa các bộ phậntrong hệ thống, là cách thức để đạt đến mục tiêu thông quacác hoạt động được sắp đặt theo những phương thức nhấtđịnh

Luận văn sử dụng một số phương pháp trong nghiêncứu khoa học xã hội là phương pháp lịch sử và phương pháplogic để xem xét toàn bộ quá trình vận động, phát triển vànhững ảnh hưởng qua lại giữa lễ nghi nông nghiệp đến phong

Trang 12

tục tập quán, tôn giáo - tín ngưỡng, tính cách ở người Chămcũng như ảnh hưởng xã hội của nó Phương pháp lịch sử làphương pháp diễn lại tiến trình phát triển của các hiện tượngvà các sự kiện với mọi tính chất cụ thể, hiện thực, sinhđộng và đa dạng của lễ nghi nông nghiệp Còn phương pháplogic nhằm nghiên cứu quá trình phát triển lịch sử, nghiêncứu các hiện tượng lịch sử trong hình thức tổng quát đểvạch ra bản chất quy luật, khuynh hướng chung trong sự hìnhthành và phát triển

Đây là luận văn chuyên ngành Văn hóa học, nên cósự hỗ trợ về tài liệu nghiên cứu của nhiều ngành khoa học,một sự kết hợp liên ngành với cách thức nghiên cứu riêngvà có cả cách nghiên cứu phối hợp để đạt được mục tiêucủa đề tài, như khảo cổ học, tôn giáo học, xã hội học, dântộc học, lịch sử, văn hóa nghệ thuật… để có thể khai thácnhiều lượng thông tin hơn với độ tin cậy cao hơn Các phươngpháp chuyên ngành sau đây được sử dụng trong luận văn:phương pháp điều tra, phương pháp quan sát và tham dự,phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp so sánh – đốichiếu (đồng đại và lịch đại) phương pháp phân loại thốngkê… Ngoài ra, để cụ thể hoá các vấn đề cần nghiên cứu,chúng tôi còn sử dụng kỹ thuật chụp ảnh để ghi lại cáchình ảnh chứa thông tin cần thiết minh họa sinh động thêmcho luận văn Trong các phương pháp trên, phương pháp quansát và tham dự trong điền dã dân tộc học là phương phápchính để thu thập tài liệu trên địa bàn nghiên cứu của luậnvăn, vì nó cho phép tiếp cận trực tiếp với đối tượng nghiêncứu để nắm bắt được các nguồn tư liệu gốc đa dạng, thuthập các thông tin về chủ đề nghiên cứu để bổ sung chocác tài liệu văn bản đã có

Mỗi phương pháp đều có những mặt mạnh, mặt yếuvà những hạn chế nhất định Vì vậy, để phát huy mặt mạnh,hạn chế các mặt yếu, cần thiết phải kết hợp sử dụngnhiều phương pháp phù hợp với nội dung nghiên cứu và có

Trang 13

tính chất bổ sung cho nhau, kiểm chứng lẫn nhau, hạn chế cácmặt yếu của từng phương pháp cá biệt, nâng cao hơn độ tincậy của các dữ liệu Việc lựa chọn và sử dụng đúng phươngpháp trong nghiên cứu sẽ giúp cho công việc nghiên cứu thuđược hiệu quả cao, giúp cho việc tiếp cận với lễ nghi nôngnghiệp của người Chăm một cách hệ thống, từ đó nhậnbiết được sự tồn tại và tác động của lễ nghi nông nghiệpđến các lĩnh vực khác trong đời sống văn hóa tinh thần củacộng đồng người Chăm qua cách nhìn từ Văn hóa học.

4.2 Nguồn tài liệu chủ yếu.

Nguồn tài liệu chủ yếu được sử dụng cho đề tài gồm :

- Tài liệu tham khảo chủ yếu từ các tác phẩm, cáccông trình nghiên cứu về văn hóa Chăm, văn hóa miềnTrung

- Các tác phẩm địa chí, lịch sử, văn hóa, nôngnghiệp… viết về miền Trung, Nam Trung bộ và những lĩnh vựcliên quan đến văn hóa Chăm

- Các bài nghiên cứu liên quan đến văn hóa Chăm vàmiền Trung trong các tạp chí: lịch sử, khảo cổ học, dân tộchọc, xưa và nay, văn hóa nghệ thuật…

- Sách lý luận về văn hóa, văn hóa Đông Nam Á,văn hóa Trung Hoa, văn hóa Ấn Độ và những tác phẩm vềcác nước trong khu vực

- Những tài liệu về tôn giáo tín ngưỡng, ẩm thực, kiếntrúc nghệ thuật, điêu khắc, trang phục, tập tục Quan trọngnhất là nguồn tài liệu thu thập qua thực tế trong quan sátvà điền giả dân tộc học, phỏng vấn những cá nhân, tậpthể các vị chức sắc tôn giáo, những người chuyên thựchiện lễ nghi nông nghiệp

5 Ýnghĩa khoa học và thực tiễn

Luận văn cố gắng thể hiện rõ những luận điểm, cáchnhìn nhận đánh giá, nhận thức mới về lễ nghi nông nghiệptrong truyền thống văn hóa của người Chăm, trên cơ sở

Trang 14

những lý thuyết về văn hóa và văn hóa học với nhữngđóng góp về khoa học và thực tiễn như sau:

- Góp phần hệ thống hóa và phân loại để nhận dạnglễ nghi nông nghiệp và vai trò của nó trong nền văn hóatruyền thống và đời sống văn hóa – xã hội hiện nay Bổsung thêm tri thức và một số nhận thức mới vào phần lýluận về văn hóa Chăm trên phương diện văn hóa, nghệthuật và tín ngưỡng dân gian

- Làm rõ hơn hệ quả giao lưu văn hoá giữa văn hóatruyền thống Chăm với các nền văn hóa từ bên ngoàithâm nhập vào xã hội người Chăm thông qua lễ nghi nôngnghiệp, tập tục

- Góp phần làm rõ thêm đặc tính của lễ nghi nôngnghiệp trong nền văn hóa truyền thống Chăm vừa mang bảnsắc tộc người, vừa mang tính cộng đồng chung của các nướctrong khu vực

- Đề cập về vai trò của lễ nghi nông nghiệp đối vớiquá trình tồn tại và phát triển tộc người của người Chăm.Tìm hiểu hiện trạng lễ nghi nông nghiệp và những ảnhhưởng của nó trong đời sống xã hội của người Chăm

truyền thống của người Chăm.

Nội dung của chương 1 nêu khái quát điều kiện địa lýmôi sinh, địa hình cảnh quan khí hậu, sông ngòi và nhữngyếu tố tự nhiên – xã hội khác mang đặc trưng của vùng địa

- văn hóa nơi người Chăm sinh sống Tìm hiểu, nghiên cứusâu hơn ở vùng văn hóa Nam Trung Bộ và tiểu vùng vănhóa Ninh Thuận, Bình Thuận, nơi được coi là tập trung đôngdân cư nhất của người Chăm hiện nay và ở đó còn lưu giữđược những đặc trưng văn hóa nguyên gốc Phần trọng tâm

Trang 15

của chương 1 nói đến văn hóa truyền thống của ngườiChăm trong quá khứ và mối liên hệ với hiện tại bằng hệthống lễ hội đặc sắc, trong đó lễ nghi nông nghiệp đóng vaitrò quan trọng và xuyên suốt quá trình phát triển của dântộc Chăm.

Chương 2: Lễ nghi nông nghiệp của người Chăm

Trong chương này, khái niệm về lễ nghi, nông nghiệp,và lễ nghi nông nghiệp được đưa ra và phân tích kỹ lưỡngphục vụ cho quá trình nghiên cứu Một vài khái niệm vềphương pháp phân loại được nêu ra, các tiêu chí phân loại, vàmiêu thuật một số lễ nghi nông nghiệp chủ yếu trong cácloại hình để phần nào chúng ta thấy được vai trò, vị trí củanó trong văn hóa truyền thống, biểu hiện rõ trên các lĩnhvực tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng và các phương diện kháctrong đời sống văn hóa xã hội của cộng đồng người Chăm

Chương 3: Vai trò của Lễ nghi nông nghiệp trong văn hóa

truyền thống của người Chăm

Để làm rõ nội dung chương này, luận văn nêu bật vaitrò của nông nghiệp và lễ nghi nông nghiệp trong văn hóatruyền thống của người Chăm Sự ảnh hưởng của lễ nghinông nghiệp về môi trường tự nhiên trong văn hóa truyềnthống và ảnh hưởng của văn hóa truyền thống đến lễ nghinông nghiệp Lễ nghi nông nghiệp thực chất là một yếu tốquan trọng cấu thành văn hóa truyền thống, nên có sự ảnhhưởng và tác động của nó đến nhiều lĩnh vực văn hóa xãhội, thể hiện rõ trong cách ứng xử với môi trường tự nhiênvà môi trường xã hội, trong việc cố kết tính cộng đồng, trongphong tục tập quán và tín ngưỡng, tôn giáo và tính cách củangười Chăm

Nội dung chương 3 còn tìm hiểu về sự tác động của cácchính sách Nhà nước đối với lễ nghi nông nghiệp của ngườiChăm Dẫn chứng và so sánh lễ nghi nông nghiệp của người

Trang 16

Chăm với lễ nghi nông nghiệp các dân tộc khác ở Việt Namđể thấy nét đặc trưng cơ bản

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ MÔI

SINH VÀ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CHĂM

1 Điều kiện địa lý tự nhiên

Trong bức tranh văn hóa đa sắc của đất nước Việt namcó một mảng màu khá lớn, rất đặc sắc và nổi tiếng trongkhu vực Đông Nam Á – đó là mảng màu văn hóa của ngườiChăm Tiến trình phát triển lịch sử dân tộc Chăm, là tiếntrình phát triển của một nềàn văn hoá rực rỡ liên tục trongnhiều thế kỷ, sánh vai với các vương quốc trong khu vựccùng thời Nền văn hóa ấy đã tỏa sáng và để lại nhiều disản văn hóa lớn trên mọi phương diện Trong đó nghệ thuậtkiến trúc điêu khắc và lễ hội dân gian là hai mảng đề tàilớn, có nhiều giá trị còn lưu truyền bền vững đến ngày

Trang 17

nay Hiện nay, văn hóa của người Chăm đã, đang và sẽđóng góp xứng đáng tạo nên sự phong phú và những giátrị độc đáo cho nền văn hoá Việt Nam thống nhất trong sự

đa dạng

Lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của dân tộcChăm từ rất sớm, có cội nguồn từ nền văn hóa SaHuỳnh, nhưng “nhà nước của vương quốc Chămpa được chínhthức thành lập vào năm 192 sau công nguyên Địa bàn cưtrú từ phía Nam đèo Ngang trở vào đến phía Nam tỉnh BìnhThuận ngày nay Nhìn chung địa bàn cư trú của vương quốcChămpa cổ vừa trùng khít địa bàn các tỉnh miền Trung từQuảng Bình đến Bình Thuận của Việt Nam ngày nay”[ 20, tr 6]

Nền tảng của văn hóa Chăm là nền tảng văn hóanội sinh, có tính chất bản địa, có nguồn gốc từ thời tiềnsử, sơ sử và nằm trong cơ tầng văn hóa chung của khu vựclịch sử văn hóa Đông Nam Á, tương đồng các giai đoạn pháttriển văn hóa với các nước trong khu vực

Xét về mặt kiến tạo địa lý, vùng đất của vương quốcChămpa xưa có thể được chia ra làm bốn khu vực chính tươngđương với bốn đồng bằng lớn: Khu vực đồng bằng Bình TrịThiên; Khu vực đồng bằng Quảng Nam – Quảng Ngãi – BìnhĐịnh; Khu vực đồng bằng Phú Yên – Khánh Hòa và khu vựcđồng bằng Ninh Thuận – Bình Thuận Mỗi khu vực địa lý trênđều có những sắc thái đặc thù khó lẫn lại có nét vừarất chung và cũng vừa rất riêng cả về kiến tạo địa hình,địa lý lẫn khí hậu

Nhìn một cách tổng quát thì vùng đất của vương quốcChămpa xưa phía Tây là dãy Trường Sơn bao, chắn từ đầuđến cuối Phía Đông là biển Đông bao bọc, xen kẽ là nhữngdãy núi chắn ngang, đảo, cửa sông, hồ, đầm, phá

Khu đồng bằng cuối cùng của miền Trung và cũng làvùng đất cực Nam của vương quốc cổ Chămpa (miềnPanduranga) là vùng đồng bằng khô hạn Ninh Thuận – BìnhThuận, một vùng đất khá đặc biệt của đất nước Việt Nam

Trang 18

Trọng tâm nghiên cứu của luận văn được giới hạn bởiphạm vi khu vực này nên những vấn đề liên quan đến địa lý,khí hậu, núi non, sông biển sẽ được đề cập nhiều hơn, kỹhơn nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu nghiên cứu về nhữngảnh hưởng, tác động của điều kiện tự nhiên đến nôngnghiệp và Lễ nghi nông nghiệp của người Chăm.

Suốt dải đất hẹp Ninh Thuận – Bình Thuận, từ NamKhánh Hòa trở đi, do kiến tạo của địa chất, núi cứ tiến dần

ra sát biển Các núi từ trên cao nguyên Lâm Viên vươn xaxuống đồng bằng tạo thành khối Núi Chùa cao 1040m ở BắcPhan Rang, còn ở phía Nam, cao nguyên Di Linh lại nhô ra theohướng Tây – Đông thành khối, núi Đèo Cả (cao 529m) vàkhối núi Đá Bạc (cao 644m) bọc lấy khoảng đồng bằng PhanRang khá rộng lớn Hiện nay ở đồng bằng Phan Rang, diệntích canh tác chỉ rộng chừng 200km vuông và chủ yếu nằmtrong lưu vực dòng sông Cái (là sông Kinh Dinh khi chảy quathị xã Phan Rang) Trong khi đó, diện tích mặt bằng bỏ hoangchưa canh tác được vì thiếu nước còn lớn hơn nhiều so vớivùng đất đang được canh tác Thế nhưng, dấu tích của nhữngdòng kênh đào từ lâu đời mà người Chăm là chủ nhânđã bị phủ lấp, những công trình dẫn thủy đã bị hư hạichứng tỏ xưa kia con người ở đây đã khắc phục những khókhăn do điều kiện tự nhiên đưa lại không được thuận lợi đểphát triển nông nghiệp trên một diện tích rộng hơn và sâuhơn vào phía núi

Dù có những thay đổi ít nhiều cả về cảnh quan địa lýlẫn khí hậu từ vùng này sang vùng khác, dải đồng bằnghẹp, khô hạn của Ninh Thuận – Bình Thuận vẫn có những nétchung, thống nhất của một khu vực địa lý

Đặc điểm nổi bật đầu tiên về kiến tạo địa hình vàcảnh quan địa lý của miền đất này là sự gắn bó mật thiếtvới hai yếu tố núi và biển: dãy Trường Sơn ở phía Tây vàbiển Đông ở phía Đông Ngay dải đất đồng bằng, nơi cư trúchủ yếu của người Chăm xưa cũng được tạo nên bởi sự hòa

Trang 19

trộn của phù sa trên núi tuôn về và cát của biển tích tụlại Hơn nữa, các đồng bằng lại không lớn và kế tiếp nhauchạy dài từ Bắc xuống Nam giữa một bên là núi và mộtbên là biển Ở nhiều nơi, ngay trên đồng bằng cũng rảirác lô nhô đồi và núi Còn dãy Trường Sơn thì có lúc chạy

ra tới sát biển (điển hình như mũi Cà Ná đoạn phân ranhgiữa Ninh Thuận – Bình Thuận) làm cho các đồng bằng bị thuhẹp lại hoặc phân tách các đồng bằng ra với nhau Cả mộtvùng biển dài không chỉ tác động đến khí hậu mà cònảnh hưởng lớn tới việc hình thành ra nhiều dạng địa hình nhưcác cồn cát duyên hải, các bãi phù sa biển, vụng và hồ

Đặc điểm lớn thứ hai của vùng đồng bằng Ninh Thuận –Bình Thuận là địa hình thiên nhiên của các dòng sông ngắn.Hơn nữa, do tính chất địa hình núi và biển gần như nằm sátnhau, các con sông ở đây đều ngắn, đều chủ yếu chảy theohướng Tây – Đông từ núi xuống biển vào mỗi con sôngđều là một hệ thống riêng rẽ

Những yếu tố thiên nhiên và vị thế địa – văn hóa củavùng đất này tạo cho nó có những đặc điểm văn hóariêng Khác với miền Bắc là hệ thống đê điều dày đặc,miền Nam là hệ thống kênh rạch chằng chịt và những cánhđồng tít tắp tận chân trời, một khung cảnh thiên nhiênkhoáng đạt, còn ở miền Trung và Ninh Thuận – Bình Thuận từ

xa xưa, trong lối ứng xử với thiên nhiên, người Chăm đãbiết đào hồ, đắp đập để chứa nước nên hệ thống hồ đậpnhiều và lớn ở đây là đặc trưng về thủy lợi

Do nằm chạy dài theo hướng Bắc – Nam và các đồngbằng lại luôn bị phân ra với nhau bởi những dãy núi vắtngang, nên khí hậu của vùng duyên hải miền Trung cũngmang một sắc thái riêng càng về phía Nam mưa rét cànggiảm dần Sự lùi dần của mưa và rét cũng là đặc trưngnổi bật của thiên nhiên miền Trung và cực Nam Trung Bộ.Các khối khí lạnh đã bị suy yếu đi nhiều sau khi vượt qua đèoNgang và hầu như đã thay đổi hẳn khi qua đèo Hải Vân

Trang 20

Phần khí lạnh khi vào khu vực Nam Trung bộ chỉ còn ảnhhưởng ít do bị chi phối của những dãy núi cao, khí hậu nóng.Càng vào Nam nhiệt độ càng tăng và lượng mưa càng giảm,độ ẩm càng giảm.

Đặc điểm quan trọng nhất của khí hậu Nam Trung Bộ làtình trạng khô hạn cao: lượng mưa trung bình hàng năm chỉ

1300 – 1400mm ở Khánh Hòa và giảm xuống 1000mm ở NinhThuận và Bình Thuận Trung tâm khô hạn nhất trong vùng vàtrong toàn quốc là Phan Rang (lượng mưa trung bình hàng nămkhông quá 700 mm) Lượng mưa không chỉ đã thấp mà thờikỳ có mưa lại chỉ có 4 tháng ở phía Bắc (từ tháng 9 đếntháng 12) và 3 tháng ở phía Nam (từ tháng 9 đến tháng 11).Khu vực Nam Trung Bộ là vùng có độ ẩm thấp (gần 80%),mưa ít, nắng nhiều (nhiều nhất so với toàn quốc: 2300 – 2400giờ hàng năm) [ 64, tr 24 ]

Mặc dù nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa như nhiềunơi ở miền Trung và Nam Việt Nam, vùng Chăm Nam Trung Bộlại là vùng khô hạn nhất so với cả nước Nhiệt độ bìnhquân ở đây khá cao, khoảng 27 độ hàng năm, còn lượngmưa đạt từ 700 – 800 mm/năm, lượng mưa được phân bố vàomùa mưa với tỷ lệ 75 – 85% Số ngày mưa trong năm rấtthấp, như ở Phan Rang là một nơi có đông người Chăm sinhsống, chỉ có 51 ngày mưa bình quân hàng năm, những cơnmưa chợt đến và chợt đi như mưa rào chứ không lâu và lượngmưa trong từng cơn mưa cũng rất ít

Điều kiện vị trí địa lý và thiên nhiên tuy khắc nghiệt,nhưng có nhiều điều kiện thuận lợi đã là những cơ sở đểbiến dải đất duyên hải miền Trung nước ta thành một trongnhững nơi xuất hiện một nền văn hóa khảo cổ lớn và mộtquốc gia cổ đại phát triển vào loại sớm nhất ở khu vựcĐông Nam Á Đó là nền văn hóa đồng sắt Sa Huỳnh nổitiếng mà chủ nhân của nó rất có thể là người Chăm tiềnthân của vương quốc Chămpa sau này Chính cư dân Sa Huỳnhđã sử dụng và khai thác những yếu tố thiên nhiên ở miền

Trang 21

Trung để sinh sống và tạo lập nên những bản sắc văn hóacủa mình, là cơ sở cho người Sa Huỳnh và người Chăm pháttriển nông nghiệp Chính những điều kiện địa lý thiên nhiênrất đặc trưng trên đã tạo ra tính thống nhất trong đa dạngcủa văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chămpa sau đó.

Chính đặc điểm địa hình ở khu vực Nam Trung Bộ phầnlớn là đồi trọc, nhiều dãy núi kế tiếp nhau đã tạo nên cảmột thảm thực vật gần thống nhất suốt dải đất miềnTrung: thảm rừng phi lao, rừng thưa lá trên cát và đồi trọcven biển, trảng cỏ thứ sinh, rừng kín thứ sinh và các kiểucây bụi lá cứng, rừng tre nứa ở đồng bằng và rừng kínthường xanh, hay rừng kín nửa rụng lá ở vùng núi

“Thực vật Nam Trung Bộ trước kia và hiện nay còn kháphong phú về thành phần loài Qua nghiên cứu đã thống kêđược 59 bộ, 125 họ và 600 loài thực vật (chưa kể đến nấm,rêu và địa y )” [ 89, tr 14]

Dọc miền núi ở Nam Trung Bộ hiện nay vẫn còn nhiềukhu rừng có nhiều loại gỗ quý như thông hai lá, trắc, trầm,gụ, giẻ, muồng, sao, cẩm, giáng hương, gỏ, cà chí, căm xe…Trong số đó có các loài quý hiếm có tên trong sách đỏViệt Nam và thế giới như: Trắc bông, cẩm lai, gụ, lim, táu,mun, kơnia, hoàng đàn, pơmu

Cũng do đặc điểm về địa hình và khí hậu ở Nam TrungBộ, nên ở đây đã trồng được nhiều loài cây có giá trị kinhtế cao như thuốc lá, nho và bông

Tuy địa hình và khí hậu có phần khắc nghiệt hơn nhữngnơi khác, nhưng cũng nhờ đó mà hệ động vật ở Nam Trungbộ khá phong phú về chủng loại, số loài Cho đến nay có

230 loài động vật, phân ra như sau:

 Thú: 57 loài thuộc 23 họ, 10 bộ

 Chim: 133 loài thuộc 40 họ, 17 bộ

 Bò sát: 28 loài thuộc 40 họ, 2 bộ

 Ếch nhái: 12 loài thuộc 4 họ, 1 bộ

Trang 22

Trong số động vật nói trên, có 47 loài quý hiếm và 44loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam Các loài động vật chủyếu như voi, cọp, trâu rừng, bò rừng, vượn, nai, hươu, gấu…không những đầy đủ số loài như trên mà một số thú lớnnhư voi, cọp, bò rừng lại nhiều hơn những nơi khác Trước đâyđã có câu “cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận “ để chỉ sốlượng cọp ở đây Cho đến tận ngày nay, ở rừng Nam TrungBộ vẫn còn nhiều loại động vật quý hiếm.

Như vậy, nếu nhìn một cách tổng quan, chúng ta thấytoàn bộ địa bàn vương quốc Chămpa cổ xưa và miền Trungnước ta hiện nay không thuận lợi cho con người sinh sống vàlàm ăn Một dải đất có thể nói là nhỏ hẹp, mà lại có cảđồi núi, đồng bằng và biển cả Cả ba yếu tố trên lại gầnnhư ba dải dọc chạy song song trên dải đất này theo hướng từBắc tới Nam Cộng vào đó, khí hậu nhiệt đới, gió mùa vớiđặc trưng là nóng ẩm, nắng nhiều đã làm cho vùng đất cựcNam Trung Bộ có điều kiện thiên nhiên đặc biệt, nhất là ởvùng Ninh Thuận và Bình Thuận

2 Phân bố dân cư và dân số

Người Chăm ở Việt Nam tập trung định cư sinh sống ởvùng duyên hải Nam Trung Bộ từ vĩ tuyến 10040 vĩ tuyến

12000 Bắc Một bộ phận cư dân Chăm sinh sống ở An Giang,Tây Ninh, Bình Phước, Thành Phố Hồ Chí Minh

Theo kết quả cuộc tổng điều tra dân số ngày01.04.1999, người Chăm tại Việt Nam có số dân 132.873người, bao gồm ba nhánh lớn tính theo địa bàn cư trú làngười Chăm Hroi ở Bình Định – Phú Yên: 20.687, người Chăm

ở Ninh – Bình Thuận: 86.493, người Chăm ở Nam bộ 23.285; sốcòn lại cư trú rải rác thuộc các tỉnh trên toàn quốc là2.408 người Sau 10 năm (1989 – 1999), tốc độ gia tăng dân số

ở người Chăm là 34,25% (nghĩa là tăng 33.902 người so vớimức dân số 98.971 người qua kết quả tổng điều tra dân sốngày 01.04.1989)

Trang 23

Do mục đích và giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ đềcập sâu đến bộ phận người Chăm sống ở hai tỉnh NinhThuận – Bình Thuận, địa bàn cư trú tập trung nhất của ngườiChăm về mọi mặt, nơi có thể coi là được kế thừa văn hóatruyền thống từ các thế hệ trước để truyền lưu và pháttriển đến ngày hôm nay

Vào cuối thế kỷ XVII do nhiều biến động của lịch sử,

người Chăm di cư từ các vùng đất bên ngoài vào và tụ cưnhiều nơi ở khu vực phía Nam, đông nhất là ở Ninh Thuận - BìnhThuận “Hiện nay, ở hai tỉnh cực Nam Trung Bộ này có 86.493người, trong đó, Ninh Thuận có: 57.137 người, Bình Thuận có:29.356 người (thống kê 1999) [79, tr 37] So với người Chămsinh sống ở các địa phương khác, người Chăm ở Ninh Thuận -Bình Thuận bảo lưu được nhiều tập tục truyền thống, biểuhiện mạnh nhất ở cộng đồng người Chăm Ahiér (ngườiChăm ảnh hưởng Bàlamôn giáo), kế đến là cộng đồngngười Chăm Awal (người Chăm ảnh hưởng Hồi giáo, còn gọilà Chăm Bàni) Lý do quan trọng phải kể đến vì đa phầnngười Chăm ở đây là cư dân bản địa, các tôn giáo tácđộng mạnh và dai dẳng nhất cũng như hệ thống lễ nghi nôngnghiệp hình thành, phát triển và bảo lưu được nhiều yếu tố

nguyên gốc đến ngày nay đều ở khu vực địa lý này.

Địa bàn và hình thái cư trú của người Chăm ở NamTrung Bộ khá đa dạng nhưng phổ biến là hình thái tụ cư thànhtừng khu vực gọi là Palei, như là bản của ngưởi K’ho, Raglai haynhư làng của người Việt Nét nổi bật nhận thấy ở ngườiChăm ở Ninh Thuận - Bình Thuận là hình thức sống tụ cưthành từng palei (làng) theo từng tôn giáo Thông thường,người Chăm Ahiér cư trú riêng thành từng làng như: Mỹnghiệp, Bàu Trúc, Hậu Sanh, Chất Thường, Hữu Đức… (NinhThuận), Thôn Ba Ma Lâm, Lạc Trị, Thanh Hiếu, Bình Đức, TịnhMỹ, Lâm Giang… (Bình Thuận) Còn các tín đồ Bàni thườngchung sống với nhau trong một palay như: Bình Minh, Bình Thắng,Minh Mỵ, Hậu Quách, Châu Hanh, Cảnh Diễn… Khu vực cư trú

Trang 24

của người Chăm dễ dàng nhận thấy, đó là cứ mỗi paleiquần tụ khoảng từ 60 đến 80 hộ gia đình người Chăm, hiệnnay con số đó đã liên tục được thay đổi theo hướng tăng dầnlên Có những làng như ở huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuậncó đến hơn 120 hộ gia đình “Cá biệt ở Ninh Thuận một sốpalei Chăm có số hộ lên đến 300 – 400 hộ gia đình, tập hợpbởi nhiều tộc họ sinh sống với nhau” [ 62, tr 25].

Sản xuất nông nghiệp là hoạt động chính từ xưa đếnnay của người Chăm ở Ninh Thuận – Bình Thuận, ngoài ra họcòn lưu giữ được một số làng nghề như làm gốm ở BàuTrúc (Ninh Thuận) Bình Đức (Bình Thuận) và dệt ở làng MỹNghiệp, Phan Hòa, Phan Thanh Nghề đi biển và đánh cá nổitiếng xưa kia nay đã không còn bởi nhiều lý do của lịch sửđể lại, nhường chỗ cho ngư dân người Việt với ngư trườngrộng lớn và nhiều loại thủy sản có giá trị

Người Chăm trước đây có trình độ dân trí tương đối caotrong học vấn, trong kỹ thuật nông nghịêp, hiện nay khôngngừng được nâng cao, đã có nhiều bác sĩ, kỹ sư, giáo viênvà nhiều Tiến sĩ, đại biểu Quốc hội… Hầu hết các paleiChăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận đều có trường phổ thông cơsở, có hệ thống trường, trạm… Ngôn ngữ Chăm đã đượcđưa vào giảng dạy trong trường phổ thông, đã có một sốsách giáo khoa viết bằng tiếng Chăm do Ban Biên soạn sáchchữ Chăm soạn thảo Đại đa số người Chăm đều nói thạotiếng Việt, số đông viết được chữ Việt là chữ phổ thôngđược dùng rộng rãi hơn nửa thế kỷ nay

Người Chăm ở Ninh Thuận - Bình Thuận có một đờisống tinh thần phong phú với nhiều hình thức tín ngưỡng dângian và lễ nghi tôn giáo Các vị chức sắc đứng đầu cáctôn giáo như Po Dhia, Po Gru có một vai trò và vị trí quan trọngtrong việc điều hành các hoạt động tôn giáo, kể cả mộtsố hoạt động xã hội ở người Chăm theo từng cộng đồngtôn giáo

Trang 25

Ở huyện Bắc Bình (Bình Thuận) còn có một nhómngười Chăm, gọi là Kinh Cựu (còn được gọi là Yuôn – Chăm,tức là Việt – Chăm) Người Kinh Cựu là kết quả của sự hợphuyết giữa người Việt và người Chăm xưa kia Người Kinh Cựu

cư trú tại bốn thôn Xuân Quang, Xuân Hội (hiện nay là tiểukhu Xuân Quang, Xuân Hội thuộc thị trấn Chợ Lầu của huyệnBắc Bình), Tuần giáo và Tuần Mục (hiện thuộc xã HồngThái của huyện Bắc Bình) Tuy vẫn bảo lưu được một số yếutố văn hóa Chăm, song các sinh hoạt xã hội của người KinhCựu lại rất gần gũi với người Việt Hiện nay, người Kinh Cựuvề cơ bản là người Việt và trên thực tế khó nhận ra đâulà người Kinh Cựu đâu là người Việt trong cùng một thôn hayngoài xã hội

Là cư dân của nền văn minh nông nghiệp lúa nước,các palei Chăm thường tìm nơi tụ cư trên một khu đất cao, gầnvới đồng ruộng, sông, suối để tiện cho việc ở và đi lại làmăn Một số palei Chăm lại nằm dọc quốc lộ, hoặc gần quốclộ như ở Phan Rí, thị trấn Tháp Chàm

Khoảng từ những năm bốn mươi của thế kỷ XX, cácpalei Chăm sống độc lập hoàn toàn với người Việt, kể cảviệc tách độc lập với các palei theo các tôn giáo khácnhau Không loại trừ hiện tượng sống xen kẽ giữa ngườiChăm với người Việt Rải rác ở các làng Chăm có dăm banhà của người Việt Thậm chí có một khu riêng của ngườiViệt trong làng Chăm như ở làng Hữu Đức (Ninh Phước) Trongcác khu vực Chăm ở thành phố, người Chăm sống xen kẽvới các gia đình người Việt lao động và với bà con ngườiHoa Sự xen lẫn cư trú giữa người Chăm, người Việt, trênmột bình diện rộng hơn, đó là sự xen lẫn giữa các paleiChăm, với các làng xóm Việt trong các xã, các huyện ởBình Thuận cũng như vùng Ninh Thuận Chính sự cư trú xen kẽnày dẫn đến sự giao lưu văn hoá cũng như quan hệ tộcngười trên nhiều mặt

Trang 26

Nghề nông của người Chăm nổi tiếng từ xưa nên đã

được Thuỷ kinh chú nhắc đến “người Tượng Lâm biết cày

đến nay hơn 600 năm Phép đốt rẫy để cày cũng như ngườiHoa Nơi gọi là bạch điền thì trồng lúa trắng, tháng 7 làm thìtháng 10 chín; nơi gọi là Xích Điền thì trồng lúa đỏ, tháng 12làm tháng 4 chín Như thế gọi là lúa chín 2 mùa (lúa mùa và

lúa chiêm)” [ø 39, tr 37] Ghi chép trên đây của Thuỷ kinh chú

như xác nhận đất Tượng Lâm, là nguồn gốc của người Chămcó một nền nông nghiệp đã phát triển, mỗi năm cày cấylàm 2 vụ

Trong lịch sử người Chăm có một nền nông nghiệpphát triển khá sớm Từ lâu đời họ đã biết đắp đập khaimương để trồng lúa nước mà đến nay vẫn còn dấu vết cáccông trình thủy lợi trên dải đất miền Trung như: đập Do Linh(Quảng Trị), đập Nha Trinh và đập Marén (Ninh Thuận) Họcòn có kỹ thuật canh tác ruộng nước khá cao Tuỳ theo loạiruộng như ruộng gò (hamu tanu), ruộng cát (hamu cwah), ruộngsâu (hamu dhong) mà họ có kỹ thuật canh tác và sử dụngcác loại giống lúa khác nhau Người Chăm làm ruộng đãbiết sử dụng các loại giống ngắn ngày, cho năng suất caonhư loại giống lúa chiêm, lúa mùa (padai bidién, padai halim,padai ia ok, padai kupraok…) Do đó không phải ngẫu nhiên màngười Trung Quốc và người Việt từ xa xưa của lịch sử đã dunhập giống lúa của người Chăm mà họ thường gọi là “lúaChiêm” [ 62, tr 28] Và cũng “không phải ngẫu nhiên màcác thư tịch cổ của Trung Quốc thế kỷ VI nói rằng, ngườiChăm biết làm ruộng hai mùa lúa, trồng dâu chăn tằmmột năm tám lứa tơ, trồng bông dệt vải ” [ 20, tr 33 ]

Cho đến nay, dù cho khoa học kỹ thuật ngày càng pháttriển, có thể lai tạo ra nhiều giống lúa mới, nhưng giống lúaChiêm vẫn được nông dân các tỉnh Trung Trung Bộ và BắcTrung Bộ ưa trồng vì gạo dẻo, thơm và tính chất chịu hạn,không kén đất của nó Lịch sử phát triển của vương quốcChămpa về kinh tế truyền thống bao gồm cả nghề nông,

Trang 27

nghề đi biển và khai thác rừng Ba hình thái kinh tế đó đã

góp phần làm cho đời sống kinh tế Chăm phát triển phồnthịnh Hiện nay, mặc dù nghề đi biển đã không còn nữa,nhưng còn in dấu ấn đậm nét trong nhiều lễ hội Chăm nhưlễ Rija cúng Po Riyak (thần sóng biển), Po Tang Ahaok (thầnchèo thuyền) Trong lễ hội Rija Praong (lễ hội múa lớn) họcòn có tục hát bài vãi chài diễn tả lại cảnh kéo lưới,đánh cá trên biển Theo thời gian, một số ngành kinh tếtruyền thống đã bị mất đi, đa số người Chăm ngày nay sốngbằng nghề nông, và một số ít làm nghề chăn nuôi và khaithác rừng

3 Nguồn gốc tộc người

Trên dải đất Miền Trung cách ngày nay trên 3000 nămđã xuất hiện một nền văn hóa lâu đời, nối tiếp nhau vàcó một trình độ phát triển cao vào cuối thời kì đồ đá mới,đồ đồng và đầu thời kì đồ sắt Các di tích khảo cổ học liêntục được các nhà khảo cổ phát hiện từ Quảng Bình đếnBình Thuận Chúng được phân bố đều khắp trên các địabàn, nhưng chủ yếu là ở trên các đồi cát ven sông, venbiển Nơi phát hiện đầu tiên và cũng là nơi tập trung nhiềunhất là vùng Sa Huỳnh Quảng Ngải, tận cùng về phía Namcủa nền văn hóa này là tỉnh Bình Thuận Nơi đây trongnhững thập niên tám mươi trở lại đây đã liên tục phát hiệnnhiều di chỉ khảo cổ học mang đặc trưng của nền văn hóa

Sa Huỳnh Đó là di chỉ khảo cổ học Động Bà Hòe, Xa Ra,Hồng Sơn, Gò Sành… Trong đó do vị trí và tầm quan trọngcủa di tích, Nhà nước đã xếp hạng Động Bà Hòe là di tíchQuốc gia

Căn cứ vào những đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh, sosánh với các đặc trưng của văn hóa Chăm, đặc biệt làtrong nhiều di tích những lớp văn hóa gần đây nhất lại códấu tích của văn hóa Chăm nối tiếp Các nhà khoa học chorằng người Chăm chính là chủ nhân của nền văn hóa Sa

Trang 28

Huỳnh, họ đã kế thừa và phát triển lên một hệ thống giátrị mới hàng ngàn năm qua.

Các tài liệu khảo cổ học và lịch sử đã chứng minhrằng: “Vào thời đại kim khí mặc dù chưa hình thành ra Nhànước, nhưng cư dân Sa huỳnh nói riêng và những ngườiIndonêdiên ở khu vực Đông Nam Á nói chung đã có mộtnền văn hóa phát triển, thậm chí là cả một nền văn minhriêng, mà các nhà khoa học thường gọi là nền văn minh NamÁ” [ 64, tr 33] Do sống trong một môi trường địa lý – khí hậuthuận lợi, nên những cư dân Đông Nam Á ngay từ thời đạiđá mới và thời đại kim khí, đã có những mối giao tiếp rộnglớn với thế giới bên ngoài Các tài liệu khảo cổ học vàdân tộc học đã chứng tỏ, người Đông Nam Á tiền sử đãđem những ảnh hưởng văn hóa của mình tới tận Ấn Độ vàMadagasca về phía Tây, tới tận Đài Loan, Nhật Bản về phíaBắc và ra tận các đảo xa ngoài Thái Bình Dương

Xét về mặt chủng tộc thì người Chăm thuộc nhómngữ hệ Nam đảo, là một bộ phận của nhóm loại hìnhInđônésien cùng một số dân tộc khác ở Tây Nguyên.tiếng nói của họ rất gần với các dân tộc Raglai, Churu,Êđê Họ có chử viết riêng dựa trên chử Phạn (Sanskrit) ẤnĐộ mà ngày nay chúng ta còn thấy được trên các bia kí Vàđến nay đã biến thành chử Chăm thông dụng mà ngườiChăm gọi là akhar thrah, người Chăm còn sử dụng nhữngngôn ngữ đơn tố có khả năng phát sinh phong phú bằngtiền tố, hậu tố và trung tố…

4. Văn hóa truyền thống của người Chăm

Suốt tiến trình phát triển của dân tộc Chăm, liên tục

bị những ảnh hưởng của các nền văn hóa từ bên ngoàivào ngày càng nhiều cộng với giá trị chung về văn hóabản địa đã hình thành trong nền văn hóa cổ Sa Huỳnh trướcđó rất lâu, đã thúc đẩy văn hóa của người Chăm bướcđầu đi vào quỹ đạo của một nền văn minh hải dương Nền

Trang 29

văn minh hải dương Nam Á ấy của người Chăm có nhữngđặc trưng như sau:

4.1. Văn hóa vật chất

Người Chăm là cư dân nông nghiệp của nền văn minhlúa nước, trước công nguyên họ đã là chủ nhân của việctrồng lúa nước với những giống lúa nổi tiếng, là việcthuần dưỡng trâu, bò, sử dụng công cụ bằng kim loại, cácnghề thủ công truyền thống, là sự thành thạo trong nghềđóng tàu biển và đi biển…

Một trong những giá trị lớn, nổi bật nhất về văn hóavật chất mà của người Chăm là những di tích vật chất nhưđền tháp, thành quách, các tác phẩm điêu khắc đá, cáctấm bia đá cổ, đền thờ…

Trong mỗi palei chia thành nhiều khu vực cư trú của cácdòng tộc, giữa các dòng tộc được giới hạn bằng một bờtường Giữa các hộ gia đình cũng được ngăn cách bằnghàng rào có cửa thông với lối đi… Các palei đều có mộtđền thờ thần (thang Po yang) và ở đầu làng có nhà làng(thang palei) Cách palei không xa thường có một nghĩa địa.Trong các palei có một Hội đồng phong tục (Hội đồng giàlàng) chăm lo cúng tế và cùng với chính quyền tham gia giảiquyết những bất đồng giữa các thành viên trong làng liênquan đến phong tục, tập quán Mỗi palei ngoài luật pháp củaNhà nước ra còn có luật tục riêng gọi là Adat, luật tục nàygiải quyết được nhiều vấn đề phức tạp trong cộng đồng mànhiều khi pháp luật của Nhà nước chưa giải quyết được

Về kiến trúc nhà ở thì kiểu nhà cổ truyền là phạm vi

cư trú với hình thức đại gia đình mẫu hệ với nhiều nhà trongmột khuôn viên quan hệ với nhau khá chặt chẻ Trong khuônviên một gia đình bao gồm các ngôi nhà sau: Thang mâyau(nhà tục) là ngôi nhà được xây dựng đầu tiên trong khuônviên Trong nhà có một gian ở phía đông dùng làm kho thóc,về phía tây là nơi làm lễ trải chiếu khi tổ chức đám cưới,

Trang 30

và cũng là nơi ở đầu tiên của vợ chồng cô con gái đầu.Ngôi nhà thứ hai là Thang mưyâu được xây dựng sát ngayvới thang ye: Khi một người con khác trong gia đình lấy chồng,thì vợ chồng ngừơi chị sẽ nhường lại thang ye cho vợ chồngngừơi em và chuyển sang ở thang mâyau Thang mâyau đượcdựng song song với thang mâyau và mở cửa về phía nam.Giữa hai mái nhà chung có một máng nuớc dẫn về phíatây Giữa thang mâyau và thang ye có cửa lớn thông nhau.Thang tuei (nhà khách): dành riêng cho việc tiếp khách củatoàn gia đình và làm nơi nghỉ ngơi cho khách trong thời gianglưu trú Thang tuey cũng còn là nơi nghỉ ngơi của cha mẹ giàkhi các con đã trưởng thành Thang gan (nhà ngang): là nơinghỉ ngơi, ngủ của cha mẹ, và các con chưa lập gia đình Thanggan cửa mở về hướng tây, nối với đầu hồi thang ye đòndông thang gan vuông góc với thang tây, thang mâyau, thang

ye chạy theo hướng Bắc – Nam Thang gin (nhà bếp): Thang gincách quãng và riêng biệt với thang ye và thang tuei… Cửathang gin quay về hướng đông và được che khuất bởi thanggan Như vậy thang gin nằm về hướng tây của khuôn viên.Thang gin là nơi nấu nước, thức ăn của gia đình

Ngoại trừ thang gin nằm biệt lập, còn các thang ye, thangmâyau, thang gan… được nối liền nhau bằng một số cửa vàhệ thống máng nước giữa các mái tiếp xúc nhau Trongquan niệm của người chăm, các máng nước phải hội tụ đểlấy nước chảy về tâm điểm của khuôn viên Đó cũng làđiểm “hỏa” của ngôi nhà Nước chảy vào điểm hỏa sẽhóa giải bớt nhiệt năng, có như vậy gia đình mới yên ấm,đằm thắm tránh được hỏa hoạn, xung khắc Đó là một trongnhững nguyên tắc quan trọng trong việc thiết kế hệ thốngnhà ở truyền thống của người Chăm Tuy nhiên loại nhà

Trang 31

trên ngày nay ít người còn xây dựng và vắng bóng dần đểnhường chỗ cho các hình thức nhà xây theo kiểu hiện đại doảnh hưởng của người Việt Nhưng cũng tùy theo từng paleiđể kiểu nhà với hình thức đại gia đình mẫu hệ với nhiềunhà trong một khuôn viên kể trên tồn tại với tư cách ưuthế Đặc điểm nhà ở truyền thống của người Chăm phảnảnh sự thích nghi với môi trườøng tự nhiên của cư dân nôngnghiệp trồng lúa Nhà ở truyền thống xưa là nhà sàn Vàomùa mưa, khí hậu ẩm ướt và để tránh lụt, ngoài kiểu nhàsàn truyền thống, người Chăm làm nhà đất có nền cao đểtránh nắng, nóng, đón được nhiều gió… nhưng điều quantrọng hơn cả là phải theo hướng có lợi nhất về mặt tinhthần Người Chăm quan niệm hướng Đông là hướng củathánh thần, hướng Bắc là hướng của ma quỷ, còn hướngNam và hướng Tây là hướng của con người Vì thế, các cửatháp Chăm đều quay về phía Đông, còn hướng chính củanhà ở thường quay về phía Tây hoặc phía Nam Ảnh hưởngcủa môi trường tự nhiên đối với nhà ở truyền thống củangười Chăm còn thấy rõ qua tính chất những vật liệu đượcsử dụng: gỗ, tre, mây… là những vật liệu sẵn có nhất trongtự nhiên.

Về văn hóa ẩm thực: xuất phát từ cư dân sản xuấtnông nghiệp và là thành viên của nền văn minh lúa nước,

do đó lương thực chủ yếu của người Chăm cũng như một sốnước Đông Nam Á khác là nguồn thực vật, thực phẩm từnguồn động vật hạn chế Tuy chăn nuôi đã có từ lâu đờitrong xã hội người Chăm nhưng không phải là một ngànhsản xuất quan trọng Nghề chăn nuôi của người Chăm ítphát triển, còn vì cư dân Chăm còn có nghề đánh bắt cálà nghề quan trọng thứ hai sau nông nghiệp Vì vậy trong cơ

Trang 32

cấu bữa ăn của người Chăm, có ba thành phần chính làcơm, rau và cá Trong ba thành phần đó, gạo đứng ở vị tríđầu tiên Cho đến ngày nay, khi người Chăm không còn đibiển nữa, nhưng bữa cơm của họ cũng luôn đảm bảo bathành phần đó Là một cư dân nông nghiệp trồng lúa,nguồn lương thực thực phẩm quan trọng của người Chăm làlúa gạo và các nông sản khác Ngoài ra sinh sống trên mộtvùng có núi rừng, sông suối, người Chăm còn có các hoạtđộng kinh tế như đánh bắt cá, săn bắt, nên nguồn thựcphẩm của người Chăm có thêm nhiều loại động vật khác.

Người Chăm có nhiều giống lúa khác nhau còn tồn tạiđến ngày nay, như giống lúa dài ngày có tên xưa là Pai MânChim, Padai Pidién mà người Việt gọi là lúa Chiêm, đây làloại lúa có khả năng chịu hạn cao, hạt gạo dẻo Ngoài cácloại lúa tẻ, người Chăm còn trồng nhiều loại lúa nếp, vì gạonếp dùng nhiều trong các lễ nghi, lễ hội Lễ hội diễn ragần như quanh năm, do đó nhu cầu gạo nếp để nấu xôi, làmbánh tét hay xay giã thành bột để dùng làm các loại bánhkhác phục vụ trong lễ, tết như bánh gan tay, bánh tét, bánhgừng… là rất lớn Những món ăn được chế biến như vậyđáp ứng nhu cầu đa dạng về dinh dưỡng và lễ nghi phong tục.Bên cạnh cây lúa, từ xa xưa người Chăm đã biết trồngthêm các loại hoa màu, củ, cây trong các loại đất khôngthể trồng lúa và đất rẫy Các loại củ như khoai, mì, môn,ngô Nguồn chất bột do các loại cây, trái, củ cung cấpthêm dinh dưỡng cho những người lấy nông nghiệp làm chính

Cùng với thịt các loại thịt gia súc, gia cầm, thức ăncủa người Chăm Nam Trung bộ còn có các loại thịt rừng, nhưthịt con đỏ (mang, mển), thỏ rừng, cheo, heo rừng Cá biểncũng là thức ăn phổ biến ở vùng người Chăm sinh sống,

Trang 33

tất nhiên là mua từ những ngư dân người Việt Ngoài cáccách chế biến cá biển thông thường như kho, nướng, ngườiChăm còn nấu một loại canh chua cá biển với dứa, cà chua,

me, giá đậu… Canh chua cá đuối, cá ngừ, cá thu là nhữngmón ăn không thiếu được trong các buổi tiệc vui, đãi đằngkhách khứa và đương nhiên thức ăn từ cá còn là lễ vậtbắt buộc không thể thiếu trong một số lễ nghi nông nghiệp

Từ lâu đời sống ven bờ biển miền Nam Trung Bộ, ngườiChăm đã biết đến kỹ thuật chế biến các loại mắm vànước mắm từ cá biển Kỹ thuật chế biến mắm dựa vào sựphương pháp thủy phân chất đạm từ cá bằng các men và visinh Người Chăm có loại nước mắm, mắm ruốc, mắm cámòi, mắm tôm Ngoài cá biển một vài vùng Chăm cònbiết làm mắm cá đồng, mắm được dùng làm nước chấm,hoặc thêm các loại gia vị chanh, ớt, tiêu, tỏi… như là mộtmón ăn với cơm Những món ăn chế biến đơn giản nhưng lạiđược nhiều người ưa thích cho đến ngày nay, đó cũng lànhững món ăn đặc sản mang hương vị quê hương

Cách ứng xử này cũng được thể hiện trong việc giảiquyết mối quan hệ giữa môi trường và sức khỏe con người.Trong văn hóa ẩm thực của mình, người Chăm rất quan tâmtới mối quan hệ ấy nên đã phát hiện nhiều chức năngquan trọng của nhiều thức ăn, như chức năng hài hòa âmdương của thức ăn, chức năng cân bằng âm dương trong cơthể và cân bằng âm dương giữa cơ thể với môi trường tựnhiên Nhiều thứ thức ăn đã được chế biến để vừa là thực

phẩm bổ dưỡng, vừa là món thuốc trị bệnh rất tốt

Trong văn hóa ẩm thực truyền thống của người Chăm,tục ăn trầu và hút thuốc lá có từ lâu đời Cho đến ngàynay, họ vẫn sử dụng trầu cau và hút thuốc lá phổ biến,

Trang 34

nhất là những người lớn tuổi Trong các cuộc lễ nghi, hộihè trầu cau vẫn là vật cúng tế thần linh, tổ tiên nhấtthiết phải có, có thể thiếu thứ gì chứ trầu cau và thuốc lákhông thể thiếu Nó còn được coi là lễ vật để giao tiếp vớithần linh trước lúc vào cuộc lễ Tục ăn trầu từ lâu đã trởthành một nét đặc sắc trong văn hóa giao tiếp truyềnthống của người Chăm Trong nhiều di chỉ khảo cổ học trongnhững năm gần đây ở Bình Thuận, hàng loạt làng mạc cổxưa của người Chăm xưa được phát hiện với hàng trăm hiệnvật quý Trong đó có nhiều loại bình vôi được chế tác bằngđất nung còn chứa đầy vôi được chôn riêng từng hố vớinhiều loại hình và trang trí nghệ thuật phong phú.

Truyền thống văn hóa ẩm thực của người Chăm đãbộc lộ khá rõ lối ứng xử thích nghi với môi trường tự nhiênvà phù hợp với trình độ của nền văn minh lúa nước trongnền kinh tế tiểu nông, tự cung tự cấp Lối ứng xử này cònthể hiện ra cách ăn uống theo mùa Đây là kinh nghiệmcủa nhiều thế hệ truyền lại, bởi ăn theo mùa là lúc sảnvật ngon nhất, nhiều nhất, ăn theo mùa còn có nghĩa làcách ăn phù hợp với khí hậu thời tiết của vùng địa lý cưtrú

Về trang phục: trang phục của người Chăm khác hẳntrang phục của người Việt, người Hoa và một số tộc ngườitrong vùng Trang phục sữ dụng hàng ngày đàn ông Chămthường mặc là một loại xà rông (hoặc quần váy mà ngườiChăm gọi là baik khan) Đó là một tấm vải khổ rộngkhoảng trên dưới 1 mét, chiều dài gấp 1, 5 lần vòng bụng.Sau khi mặc dùng một thắt lưng dệt bằng chỉ màu quấnbuộc lại và thả chùng mối xuống phía trước Đàn ông

Trang 35

Chăm thích mặc váy bằng các loại vải có kẻ sọc hoặc ôvuông màu đậm nét to

Mặc bên trên xà rông là áo likei và ao tah Áo lakay

và áo tah đều có cổ áo, tay áo, cúc Áo likei là loại áo dàiche gần mắt cá chân người mặc Phía trước có đường xẻvà đính khuy, vạt trước có 2 túi áo Ống tay áo rộng, dàigần quá cổ tay Cổ áo hình tròn, xẻ tà ở bên sườn dàikhoảng gang tay

Đối với đàn ông Chăm Bàni giữ chức vị gọi là Po Acar,trong khi hành lễ hoặc tiếp khách, phải mặc loại áo Po Acar.Đó là một kiểu áo rộng, gần như áo thụng, thoạt trông như

ao tah màu trắng dài chùng quá mắt cá chân Khác với aotah, áo Po Acar không xẻ tà và thân áo được ghép bởi 4miếng vải Áo của tu sĩ Bàni có viền hoa văn ở phía trướcngực và sau lưng Đó là những đường thêu chỉ màu đỏ hìnhvòm mái nhọn gợi nhớ đường nét của các vòm thánh

đường Hồi giáo Áo của Po Acar còn được gọi là ao plưt,

nghĩa là áo có viền

Trang phục phụ nữ Chăm vùng cực Nam Trung Bộ hiệnnay, phổ biến mặc váy mà người Chăm gọi là khăn, và áoao

Váy khăn phụ nữ gọi là “váy mở”, là loại váy quấnbằng một tấm vải mà hai mép vải không khâu dính lại, và

“váy kín” là loại váy, hai mép vải được khâu lại thành hìnhống tròn Khi mặc, cạp váy được xếp nếp và lận vào bêntrong giữ chặt eo hông Phụ nữ Chăm không có giải thắtlưng để cố định váy.Váy phụ nữ Chăm dài buông chùng

quá gót chân Váy một màu gọi là ban, còn váy có hoa

văn gọi là ban kaoh, hoặc pha thêm sợi kim tuyến khi dệt cáchoa văn băn talay mưh Áo phụ nữ Chăm là loại áo dài

Trang 36

không xẻ vạt, mặc chui đầu gọi là ao loak Vải áo phụ nữđược nhuộm những màu tươi và sáng như màu chàm, xanhlục, hồng Áo mặc của phụ nữ trong sinh hoạt hàng ngàythường gọi là ao koh, ao mặc trong ngày lễ gọi là ao sah, áodành riêng cho bà bóng khi hành lễ gọi là ao chăm.

Về kiến trúc: Trước khi ảnh hưởng của Ấn Độ tới, ởChămpa chưa có truyền thống xây dựng đền tháp mang tínhbiểu tượng sâu sắc bằng vật liệu bền, chưa quen với việcthể hiện các hình tượng lên mặt đá một cách gợi cảm nhưcủa Ấn Độ, nên khi những ảnh hưởng từ Ấn Độ tràn tới,người dân Chămpa đã tiếp nhận triệt để các mô hình kiếntrúc và nghệ thuật điêu khắc của người Ấn Thế nhưng,ngay từ những thế kỷ đầu của nửa sau thiên niên kỷ thứnhất sau công nguyên, kiến trúc đền tháp và điêu khắcChămpa đã bộc lộ những sắc thái riêng của mình Tuy vẫnmô phỏng các mô hình đền thờ Ấn Độ, với chất liệu gạchvà kỹ thuật xây dựng gạch kỳ diệu, người Chăm xưa đã tạo

ra những ngôi tháp có đặc trưng riêng không lẫn vào đâuđược Cũng như ở Ấn Độ, những đền tháp lớn của Chămpalà hình ảnh biểu tượng cho núi thần Mêru, nơi cư ngụ củacác vị thần linh Trên các tháp Chăm, những hình chạm khắcchủ yếu được thể hiện trên các đài thờ đặt trong lòngtháp, quanh chân tháp, trên các trán cửa và ở các diềmmái, chứ mặt ngoài của kiến trúc chỉ được trang trí vừaphải bằng các họa tiết hoa lá, hình học… mà lại phần lớnđược chạm khắc trực tiếp lên ngay mặt tường Vì vậy, vẻ đẹpcủa các tháp Chăm là vẻ đẹp của kiến trúc, ấn tượng củacác tháp Chăm là ấn tượng trang nghiêm, thành kính Kiếntrúc và điêu khắc trên đền tháp, đền thờ qua hàng thếkỷ với nhiều loại phong cách nghệ thuật trong lịch sử củavương quốc Chămpa

Gắn liền với kiến trúc là điêu khắc, ngay từ nhữngthế kỷ đầu công nguyên, nghệ thuật điêu khắc của Ấn

Trang 37

Độ đã du nhập vào Chămpa và được người Chămpa tiếpnhận Cũng như ở Ấn Độ, nghệ thuật điêu khắc Chămpachủ yếu là nghệ thuật tôn giáo và phục vụ cho việc thờphụng các thần linh Thế nhưng, ở Chămpa, do tôn giáo vàvương quyền có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, nên nghệthuật điêu khắc Chămpa có thêm một chức năng mới: tậptrung thể hiện các biểu tượng và hình ảnh các vị thần Vìthế, khác với Ấn Độ, điêu khắc Chămpa ít mang tính minhhọa hay diễn kể mà tập trung vào thể hiện những biểutượng, những hình tượng thờ phụng Vì không chú trọng vàoviệc tạo ra những minh họa mang tính diễn kể liên hoàn, điêukhắc Chăm ít kịch tính, ít mạnh mẽ mà cô đọng vào việc lộttả các hình tượng và hình ảnh Để đạt được mục đích đó, cácnhà điêu khắc Chămpa đã thiên về loại hình phù điêu nổicao Mỗi hình tượng, mỗi nhân vật đều hiện ra trong điêukhắc Chămpa vừa như một tượng thờ, vừa như là cả mộtkhung cảnh đầy tính biểu tượng của hình tượng và nhân vật.Tính cô đọng và tính biểu tượng cao là một trong những sắcthái tiêu biểu của nền điêu khắc cổ Chămpa Đặc trưngnày xuyên suốt lịch sử nghệ thuật điêu khắc Chămpa, chođến mãi sau này, khi Nhà nước của vương quốc Chămpa tanrã nhưng nghệ thuật điêu khắc với tính biểu tượng của nóvẫn còn trong các đền thờ vua chúa ở huyện Bắc Bình tỉnhBình Thuận ngày nay nơi được coi là cố đô cuối cùng củavương quốc Chămpa.

Văn hóa vật chất với những giá trị của nó qua từngthời kỳ đều có những biến đổi phù hợp với điều kiện vàhoàn cảnh lịch sử thực tế Đó là sự thay đổi hợp logic củalịch sử và văn hóa Việc thay đổi hợp quy luật và logic đượcbiểu hiện cụ thể và bền vững qua các di tích kiến trúcChăm của từng thời kỳ Di tích kiến trúc thường mang dấuấn của thời đại sản sinh ra nó, thậm chí di tích kiến trúc cònmang tư tưởng của thời đại Trong trường hợp di tích kiến trúc

Trang 38

của người Chăm, bản thân các di tích tự phản ánh dấu ấncủa thời đại, đặc biệt là của tôn giáo và tín ngưỡng.

Các loại hình di tích kiến trúc và điêu khắc của ngườiChăm còn lại đến ngày nay đã trở thành di tích, là sảnphẩm văn hóa cổ quý hiếm chứng minh rất rõ về quátrình phát sinh, phát triển của văn hóa Chăm qua sự ảnhhưởng của các tôn giáo Những di tích ấy, ngày nay đang làvật chứng để chứng minh nguồn gốc của văn hóa Chămvà sự phong phú đa dạng của nó trong văn hóa Việt Nam

4.2 Văn hóa tinh thần

Hơn hai thiên niên kỹ kế thừa các giá trị của văn hóa

Sa Huỳnh để hình thành và phát triển nền văn hóa Chămvới nhiều nét đặc trưng riêng biệt và độc đáo Ngoài cácloại hình di tích vật chất còn in dấu trên địa bàn cư trú xưa,trong văn hóa của mình, người Chăm còn có các loại hình disản văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú và đa đạng.Đó là ngôn ngữ, chữ viết, tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội, cáclàn điệu dân ca, múa dân gian, múa cung đình, âm nhạc …

- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ Chăm là ngôn ngữ Nam đảo.Tiếng Chăm cùng với các ngôn ngữ của các dân tộcthuộc ngữ hệ Nam đảo ở Việt Nam tạo thành một nhánhngôn ngữ chung

- Chữ viết: Riêng về phương diện chữ viết, trong quátrình lịch sử của mình, người Chăm đã dùng một số kiểuchữ, như chữ Phạn (Sanskrit), Akhar rik, Akhar tapuk, Akhar jok…Các kiểu chữ nói trên đều có nguồn gốc từ những loạivăn tự cổ ở miền Nam Ấn Độ, Ảrập Trong những kiểu chữtrên, thông dụng nhất là Akhar thrah Akhar thrah được giớithiệu một cách có hệ thống và dùng trong từ điển Chăm –Pháp của Aymonier E và Cabaton A Chữ Phạn được dùng chủyếu từ thế kỷ II đến thế kỹ VIII thường dùng để viết vàkhắc trên bia, ca tụng công đức của các vị vua, các vănbản về tôn giáo, viết trên lá buông, trên giấy Chữ Ảrậpngười Chăm sữ dụng sao chép kinh Coran, trong lễ nghi Hồi

Trang 39

giáo, ngoài ra còn dùng làm ký âm tiếng nói (chủ yếu làngười Chăm Nam Bộ) Ngoài các kiểu chữ nói trên, cộngđồng người Chăm ở Việt Nam còn sử dụng chữ viết La tinhđể phiên âm hoặc phiên chữ Do đó, cho đến nay chưa cómột sự thống nhất nào về hệ thống phiên âm hay phiênchữ Để thống nhất cách phiên âm theo hệ thống La tinh,trong luận văn có đưa ra một hệ thống phiên chữ theo E.F.E.O(Eùcole Francaise d’Extrême Orient - Trường Viễn Đông Bác CổPháp) hiện nay đang sữ dụng phổ biến ở trên thế giới (Xemphụ lục 4).

- Về tín ngưỡng: Tín ngưỡng dân gian Chăm chính là tínngưỡng nguyên thủy Chăm trước khi chịu ành hưởng củacác tôn giáo Vì vậy, việc tìm hiểu về tín ngưỡng nguyênthuỷ Chăm rất đáng được lưu ý vì nó cho biết những giá trịnguyên gốc của tín ngưỡng Chăm khi chưa có những tácđộng của tôn giáo Tín ngưỡng dân gian của người Chămbắt nguồn từ tín ngưỡng nguyên thuỷ Chăm, trải qua quátrính vận động, giao lưu văn hóa, chịu ảnh hưởng của tôngiáo, tín ngưỡng dân gian Chăm đã có những biến đổi theotừng cộng đồng tôn giáo Vì vậy, cần thiết phải nêu ra cácdạng thức của tín ngưỡng nguyên thủy trước khi có sự hiệndiện của các tôn giáo trong xã hội để thấy được sự biếnchuyển của tín ngưỡng dân gian Chăm cũng như những ảnhhưởng của tôn giáo đối với tín ngưỡng trong quá trình pháttriển

Xuất phát từ khu vực nhiệt đới gió mùa, tín ngưỡngnguyên thủy của người Chăm mang những dấu ấn đặc trưngcủa nền sản xuất nông nghiệp lúa nước như: tôn thờ thầnlinh và ma quỷ, thờ bà Chúa Xứ, thờ vật tổ, thờ cúng tổtiên, thờ đá, thờ cây, thờ đảo, lên đồng, đâm trâu, mathuật bao gồm các loại hình như sau:

Trang 40

Tục thờ cúng tổ tiên: là một hình thái tín ngưỡngnguyên thuỷ được bảo lưu đến ngày nay ở nhiều dân tộctrên thế giới, trong đó có người Chăm Tục thờ cúng tổtiên của người Chăm ngày nay do ảnh hưởng của tôn giáonên đã có sự khác biệt theo từng nhóm dân tộc theo từngtôn giáo riêng Đó là tục thờ cúng tổ tiên ông bà vào dịpKaté và Cambur, tục lập Kut và Ciét Atau ở người ChămAhiér; là tục dãy mả (nao ghur), tục đọc kinh cầu nguyện choông bà, cúng ông bà (ngak mukei) vào dịp Ramâwan hàngnăm ở người Chăm Awal.

Tín ngưỡng đa thần là nét phổ biến của xã hội loàingười thuở ban sơ Ơû người chăm, tín ngưỡng đa thần thểhiện qua sự tôn thờ nhiều thần linh như: Po Yang Amâ (ThầnCha), Po Inâ Nâgar (Thần Mẹ xứ sở), Po Yang Cek (Thần Núi),

Po Yang Tathik (Thần biển), Po Riyak (Thần Sóng Biển), Po Bhum(Thần Ruộng), Po Yang Sri (Thần Lúa)… vẫn còn lưu truyềnđến ngày nay trong cộng đồng người Chăm Bàlamôn Cácloài thủy tộc như cá sấu, rắn nước cũng được thờ mà biếndạng của nó về sau là con Inâgarai (một loại rồng giun) vàcon vật tưởng tượng này đã in dấu trong nghệ thuật kiếntrúc, điêu khắc ở dân tộc Chăm

Tục thờ đá, thờ cây – hình thức tín ngưỡng sơ khai có ởnhiều dân tộc Người Chăm quan niệm có thần linh ngự trịtrong các tảng đá lạ và thờ các tảng đá này với tên gọilà Yang Tục thờ đá để lại các tàn tích qua các Linga bằngđá, các trụ đá kut (Patau kut) trong khuôn viên kut (nghĩa điạtheo dòng họ bên mẹ của người Chăm Ahiér), qua hình thứchai viên đá chặn ở hai đầu huyệt mộ của người Chăm Awal.Tục thờ thường gắn liền với các tôtem, với tín ngưỡng đa

Ngày đăng: 06/05/2018, 02:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w