Tây Nam Bộ là vùng đồng bằng sông nước, đồng thời còn là xứ sở của những khu rừng ngập mặn.. Rừng ngập mặn Tây Nam Bộ phân bố ven biên giới Việt Nam – Campuchia (An Giang, Kiên Giang), ven biển Đông và biển Tây (Vịnh Thái Lan). Vùng đất Tây Nam Bộ mang đậm dấu ấn của lịch sử khai phá, mở cõi, đầy tính cách phóng khoáng của người dân phương Nam. Nơi đây ẩn chứa những nét văn hóa rất riêng, rất độc đáo ở từng tiểu vùng sinh thái của vùng đồng bằng sông nước, vùng núi rừng ven biên giới và vùng rừng ngập mặn ven biển, trong đó có vùng đất Miệt thứ – U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang.
Trang 1Người hướng dẫn khoa học:
TIẾN SĨ VÕ CÔNG NGUYỆN
TP Hồ Chí Minh Năm 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian theo học chương trình Cao học tại Trường Đại học Khoa học
xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, được quý Thầy Cô nhiệt tình cung cấp
kiến thức chuyên ngành Văn hóa học, tôi đã chọn đề tài Đời sống cư dân Miệt thứ – U Minh Thượng từ góc nhìn văn hóa học để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Với
tôi, đây là một đề tài hoàn toàn mới lạ, rất ít tư liệu và khoảng cách không gian cũng
là một vấn đề đáng ngại, nhưng Tiến sĩ Võ Công Nguyện – với tư cách người hướngdẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi hoàn thànhmột cách tương đối đề tài nghiên cứu mà mình đã chọn
Tôi xin kính gửi đến quý Thầy Cô khoa Văn hóa học và các Thầy Cô thỉnhgiảng lời cám ơn chân thành, đặc biệt là Tiến sĩ Võ Công Nguyện đã dành thời gian
và tâm trí giúp đỡ tôi có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình trongnhững năm vừa qua
Do không được sinh trưởng ở vùng sông nước, nên những am hiểu của tôi vềđất nước và con người Miệt thứ - U Minh Thượng còn nhiều hạn chế, tuy nhiên, tôicũng đã bỏ ra không ít thời gian, công sức và cả tâm huyết của mình khi thực hiện
đề tài này Có thể nói, việc thiếu sót trong quá trình thực hiện luận văn là điềukhông thể tránh khỏi, rất mong được sự góp ý chân tình của quý Thầy Cô, bạn bè đểluận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn./.
Trang 3MỤC LỤC 3
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1.1 Tổng quan về tự nhiên và xã hội ở Miệt thứ - U Minh Thượng 10
1.1.1 Một số khái niệm 10
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 13
1.1.3 Điều kiện kinh tế – xã hội 19
1.2 Miệt thứ - U Minh Thượng nhìn từ hệ tọa độ văn hóa 20
1.2.1 Chủ thể văn hóa 20
1.2.2 Thời gian văn hóa 24
1.2.3 Không gian văn hóa 26
CHƯƠNG 2 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA CƯ DÂN MIỆT THỨ - U MINH THƯỢNG 36
2.1 Hoạt động kinh tế 36
2.1.5 Nghề lấy lông chim 43
2.1.6 Nghề đi biển 44
2.2 Văn hóa ăn 46
2.2.1 Quan niệm và phong cách ăn uống 47
2.2.2 Chế biến thức ăn 50
2.3 Văn hóa mặc 55
2.3.1 Trang phục trong lao động sản xuất và sinh hoạt thường ngày 55
2.3.2 Trang phục trong ngày lễ, tết, đám cưới 56
2.3.3 Trang phục trong lễ tang 58
2.3.4 Trang sức 59
2.4 Văn hóa ở 60
2.4.1 Quan niệm về nhà ở 60
2.4.2 Nguyên tắc cất nhà của cư dân Miệt thứ - U Minh Thượng 61
2.4.3 Vật liệu cất nhà 62
2.4.4 Các kiểu nhà ở 63
2.5 Văn hóa đi lại 66
2.5.1 Hệ thống giao thông 66
2.5.2 Phương tiện giao thông 68
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 71
CHƯƠNG 3 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN 73
CỦA CƯ DÂN MIỆT THỨ - U MINH THƯỢNG 73
3.1 Tổ chức xã hội 73
3.2 Phong tục tập quán 74
3.2.1 Nếp sống gia đình 74
3.2.2 Nếp sống trong quan hệ xã hội 77
3.3 Tín ngưỡng, tôn giáo 81
3.3.1 Tín ngưỡng 81
3.3.2 Tôn giáo 86
3.4 Văn học dân gian 89
Trang 43.4.1 Tục ngữ 90
3.4.2 Câu đố 91
3.4.3 Truyện kể 93
3.4.4 Vè 94
3.4.5 Ca dao 99
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 104
PHẦN KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 113
4
Trang 51 Lý do chọn đề tài
Tây Nam Bộ là vùng đồng bằng sông nước, đồng thời còn là xứ sở của nhữngkhu rừng ngập mặn Rừng ngập mặn Tây Nam Bộ phân bố ven biên giới Việt Nam– Campuchia (An Giang, Kiên Giang), ven biển Đông và biển Tây (Vịnh Thái Lan).Vùng đất Tây Nam Bộ mang đậm dấu ấn của lịch sử khai phá, mở cõi, đầy tính cáchphóng khoáng của người dân phương Nam Nơi đây ẩn chứa những nét văn hóa rấtriêng, rất độc đáo ở từng tiểu vùng sinh thái của vùng đồng bằng sông nước, vùngnúi rừng ven biên giới và vùng rừng ngập mặn ven biển, trong đó có vùng đất Miệtthứ – U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang
Miệt thứ – U Minh Thượng là một phần của vùng U Minh (bao gồm U MinhThượng thuộc tỉnh Kiên Giang và U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà Mau), đã thu hút cáclớp cư dân người Việt, người Khơ-me, người Hoa… đến đây tụ cư, lập nghiệp, khaithác tài nguyên thiên nhiên của đất đai, rừng cây và sông biển Văn hóa cư dân Miệtthứ – U Minh Thượng vừa biểu hiện cái chung của văn hóa sông nước Tây Nam Bộ;vừa biểu hiện cái riêng, đặc thù của văn hóa vùng rừng ngập mặn; cho nên cần có
sự tìm hiểu, nghiên cứu sâu về vấn đề này
Vì thế, tôi chọn đề tài “Đời sống cư dân Miệt thứ – U Minh Thượng từ góc nhìn văn hóa học” để tìm hiểu một tiểu vùng văn hóa – sinh thái của vùng Tây
Nam Bộ Xem vùng đất này đã ảnh hưởng gì đến đời sống cư dân nơi đây
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: cư dân Miệt thứ – U Minh Thượng và đời sống vănhóa của họ dưới góc nhìn văn hóa học
- Phạm vi nghiên cứu:
Trang 6+ Về không gian: Miệt thứ – U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang, có liên
hệ so sánh với U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà Mau và rộng ra hơn là vùng ven biển TâyNam Bộ
+ Về thời gian: được giới hạn trong nghiên cứu đời sống cư dân Miệt thứ – UMinh Thượng chủ yếu từ năm 1975 đến nay, có liên hệ đến các thời kỳ lịch sử trướcđây (thời triều Nguyễn, thời Pháp thuộc, trước năm 1975)
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, phân tích đời sống cư dân Miệt thứ – U Minh Thượng về đời sốngvăn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần Trên cơ sở đó, nhận diện đặc điểmvăn hóa cư dân của một tiểu vùng (Miệt thứ – U Minh Thượng) trong vùng TâyNam Bộ
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về vùng đất và con người tỉnh Kiên Giang nói chung và U Minh nói riêng,trong đó có Miệt Thứ – U Minh Thượng, đã có khá nhiều công trình, đề tài, bài viết
đề cập đến như:
- Monographie de la provinced Rạch Giá
- Địa phương chí tỉnh Kiên Giang
- Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức đã ghi chép khá công phu và tỉ
mỉ núi sông, khí hậu, hành chính, thành trì, cũng như về phong tục tập quán, tínhcách và sinh hoạt của cư dân vùng đất Gia Định xưa, trong đó có vùng đất U MinhThượng của tỉnh Kiên Giang Đây là nguồn tài liệu lịch sử sớm rất cần thiết để phục
vụ công tác nghiên cứu đề tài này
- Các giai thoại Nam Kỳ Lục tỉnh của Hứa Hoành tìm hiểu địa lý, các di tích,
văn hóa, lịch sử cùng cảnh đẹp thiên nhiên của miền Nam Dù tài liệu chỉ là truyềnkhẩu, mức độ tin cậy có thể còn hạn chế, nhưng cũng đã cung cấp thông tin về đất,người và văn hóa Nam Bộ
6
Trang 7- Lịch sử khẩn hoang miền Nam của Sơn Nam đã phần nào tái hiện lại hành
trình khai hoang mở cõi của con người ở vùng đất Nam Bộ Đồng thời cuộc sống cưdân trên vùng đất này cũng được thể hiện rất rõ trong công trình này
- Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam đề cập những câu chuyện về vùng đất đặc
thù ở bán đảo Cà Mau, những sinh hoạt một thời của các lớp người di dân nơi đây.Tác phẩm mô tả khá tỉ mỉ cuộc sống của cư dân vùng U Minh
- Đất Gia Định xưa của Sơn Nam giúp chúng ta hiểu biết về những vùng đất
mới và những tư liệu viết về vùng đất Gia Định xưa
- Gia Định xưa của Huỳnh Minh gồm 8 chương, trình bày rất cụ thể về những
vấn đề có liên quan đến việc hình thành và phát triển cũng như phong tục tập quáncủa cư dân Nam Bộ Đây cũng là một công trình quan trọng để kế thừa, tìm hiểu đờisống cư dân Miệt thứ – U Minh Thượng
- Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng đồng bằng sông Cửu Long
của Phan Thị Yến Tuyết tìm hiểu về văn hóa vật chất của cư dân ở đồng bằng sôngCửu Long, trong đó có liên quan đến đời sống ăn, mặc, ở của cư dân Miệt thứ – UMinh Thượng
Ngoài ra, còn có một số phim giới thiệu về vùng đất Tây Nam Bộ nói chung và
U Minh Thượng nói riêng, chẳng hạn như phim nhựa “Người giữ rừng U Minh” của
đạo diễn Đào Trọng Khánh nói về cuộc sống nguyên sơ của cư dân vùng này Tất cảđều mang đậm nét văn hóa vùng đất rừng ven biển Sau đó, ông lại tiếp tục cho ra
đời phim tài liệu “Giọt nước mắt của rừng U Minh” Những thước phim không chỉ
phản ánh sức tàn phá của ngọn lửa đối với rừng mà còn là thước phim cô đọng vềcuộc sống xứ rừng U Minh, thể hiện thần thái của con người Nam Bộ Hay bộ phim
Mùa len trâu được phóng tác theo truyện của nhà văn Sơn Nam cũng thể hiện rõ
cuộc sống của vùng sông nước Phim đưa ta trở lại thời kỳ lịch sử trước đây, nơi cómùa nước nổi, có cây tràm, cây đước, có người với con trâu và nhiều phong tục tậpquán rất lạ kỳ
Trang 85 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trên cơ sở tìm hiểu một cách có hệ thống và chuyên sâu về đời sống văn hóavật chất và văn hóa tinh thần của cư dân Miệt thứ – U Minh Thượng, luận văn gópphần nhận diện đặc điểm văn hóa cư dân của một vùng đất – Miệt thứ – U MinhThượng, để hiểu rõ thêm về văn hóa sông nước, văn hóa rừng, văn hóa biển vùngTây Nam Bộ
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho nghiên cứu,giảng dạy, học tập, tìm hiểu về Miệt thứ - U Minh Thượng
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Nghiên cứu đời sống cư dân Miệt thứ – U Minh Thượng từ góc nhìn văn hóahọc với cách tiếp cận nghiên cứu liên ngành như: địa lý, lịch sử, dân tộc học/nhânhọc, xã hội học…
Để tìm hiểu về nguồn gốc, lịch sử hình thành và phát triển của một vùng đất,cũng như sự ứng xử và thích nghi của cư dân với môi trường tự nhiên, môi trường
xã hội ở Miệt thứ – U Minh Thượng, với cách nhìn lịch đại và đồng đại, luận vănnày nghiên cứu tọa độ văn hóa theo chủ thể, không gian và thời gian
Luận văn còn vận dụng lý thuyết vùng văn hóa, sinh thái học văn hóa (JulianSteward) để nghiên cứu cư dân Miệt thứ – U Minh Thượng với tính cách là một tiểuvùng văn hóa – sinh thái trong vùng Tây Nam Bộ
Luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể (hay công cụ nghiêncứu) như phương pháp tổng hợp, phân tích các nguồn tài liệu liên quan, quan sát –tham dự, phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố, so sánh vùng, tiểu vùng… để tìm hiểucuộc sống cư dân Miệt thứ – U Minh Thượng
Nguồn tài liệu: Ngoài sưu tầm, hệ thống, tổng hợp các nguồn tài liệu thư tịchliên quan đến đề tài nghiên cứu, thì các nguồn tư liệu, thông tin thu thập được quanghiên cứu điền dã, khảo sát thực địa ở vùng Miệt thứ – U Minh Thượng và một sốđịa phương lân cận là nguồn tài liệu chủ yếu để hoàn thành luận văn này
8
Trang 97 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm có 3 chương:
Chương một: “Những vấn đề chung” Nội dung trình bày điều kiện tự nhiên,
điều kiện kinh tế – xã hội, những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến đời sống cư dân Miệtthứ - U Minh Thượng
Chương hai: “Đời sống văn hóa vật chất của cư dân Miệt thứ – U Minh Thượng” Chương này trình bày những nội dung có liên quan đến văn hóa tận dụng
và đối phó với môi trường tự nhiên của cư dân Miệt thứ – U Minh Thượng như: ăn,mặc, ở, đi lại
Chương ba: “Đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Miệt thứ – U Minh Thượng” Chủ yếu trình bày các dạng thức văn hóa liên quan đến phong tục tập
quán, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật của cư dân Miệt thứ – U MinhThượng
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Tổng quan về tự nhiên và xã hội ở Miệt thứ - U Minh Thượng
1.1.1 Một số khái niệm
• Miệt thứ
- Miệt được hiểu là “vùng, miền không lớn lắm” [Hoàng Phê 2005:632] Theo
phương ngữ của người dân Tây Nam Bộ, miệt còn là từ dùng để chỉ vùng hẻo lánh
và có khoảng cách xa so với khu vực phố chợ, thị trấn1 Thí dụ, ông A hỏi ông B nhà
ở đâu (?) Nếu nhà ông B ở vùng quê hẻo lánh và xa so với vị trí hai người đang tiếp
xúc nhau, thì ông B sẽ trả lời: - “Nhà tôi ở miệt trong kia” Từ miệt ở đây được hiểu
là xa.
- Thứ theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, là “tập hợp những sự
vật giống nhau về một hay những mặt nhất định nào đó, phân biệt với những tậphợp khác trong cùng loại”
Khi triều Nguyễn thiết lập các đơn vị hành chánh trên khu vực châu thổ đồngbằng sông Cửu Long, trong dân gian đã có những tên gọi để chỉ một địa điểm nào
đó nhằm xác định vị trí nơi ở giữa người sống ở nơi này với người sống ở nơi khác
Từ Thập Câu xuất hiện để chỉ vùng ven biển U Minh “Ở phía tây nam đạo LongXuyên, từ câu (ngòi) thứ nhất đến câu thứ 10 bày đặt cân nhau” [Trịnh Hoài Đức1972:116, tập Thượng] Thập Câu là mười cái ngòi hay là mười dòng nước chảy từtrong rừng ra và được giải thích đây là nơi hang ổ của chim muông Còn người dânkhi khai thác vùng đất này, các con rạch chưa có tên cụ thể thì người ta dùng kháiniệm “Thứ” để xác định địa điểm từ Thứ Nhứt đến Thứ Mười Một, đồng thời cũng
từ đặc điểm của cửa các con rạch đó là một cái xẻo hay rạch mà người ta đặt tên nhưXẻo Dinh, Xẻo Lùn, Xẻo Bướm hay rạch Thuồng Luồng, Rọ Ghe, Chà Tre, …
1 Theo cách hiểu của người địa phương NV
Trang 11Mặc dù chưa phân định cụ thể địa giới của Miệt thứ, nhưng qua sinh hoạt dân gian cũng có thể hiểu ngay rằng từ Miệt thứ dùng để chỉ định vị trí, nơi chốn, địa
điểm ở nơi nào đó có khoảng cách xa khi có người hỏi đến
Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài này, căn cứ vào các khái niệm trên,
chúng ta có thể hiểu Miệt thứ là danh từ dùng để chỉ một vùng đất được phân chia
do các con kênh đào theo một thứ tự nhất định Những vùng đất nhỏ này có điềukiện tự nhiên và xã hội giống nhau do cùng nằm trên một địa bàn nhưng có nhữngđiều khác nhau cơ bản về số lượng dân cư và được mang tên theo số thứ tự của conkinh Thí dụ: người ở Miệt Thứ Ba có nghĩa là sống ở vùng đất theo con kênh đào
thứ ba trong số mười một kênh đào cặp theo dòng sông Trẹm Trong Đại Nam nhất
thống chí có ghi: “… Từ con rạch thứ nhất tới rạch thứ 10 xếp đặt thành hàng đều
nhau, nước từ ruộng chằm chảy thông ra biển, sinh ra rất nhiều cá tôm”
Như vậy, “Miệt thứ là tên chung chỉvùng đất thuộc địa bàn các huyện An Biên,
An Minh, Vĩnh Thuận và U Minh Thượng
thuộc tỉnh Kiên Giang (Hình 1) nằm cặp
sông Cái Lớn, chạy ra vịnh Rạch Giá rồiquặt trái xuống tới huyện U Minh (CàMau) Toàn bộ miệt thứ trải dài trên 30km
kể từ sông Cái Lớn tới trung tâm huyện AnMinh, rộng chừng 15km tính từ bờ biển
vào đất liền”
[http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-xoi.html] Theo một số tài liệu cho biết,sau khi Pháp đào xong con kinh xáng Xẻo
cuoi-tuan/408329/Miet-thu-khong-xa-Rô (1932), người ta tiếp tục đào các conkinh cắt ngang kinh Xẻo Rô để thuận tiệnviệc giao thông và đặt tên kinh ngang theocác số đếm trên tuyến lộ 63 Người dân gọi
Hình 1: Bản đồ Miệt thứ Ảnh Internet
Trang 12phổ biến bằng các tên: Cầu Xẻo Xu, cầu Bàu Môn, cầu Thứ Hai, cầu Thứ Ba (tại thịtrấn Thứ Ba An Biên), cầu Xẻo Kè, cầu Thứ Tư…, cầu Thứ Sáu, cầu Thứ Bảy (ngã
ba An Biên – Vĩnh Thuận và An Minh)… và cuối cùng là cầu Thứ Mười Một (tại thịtrấn Thứ Mười Một thuộc huyện An Minh)
Qua phà Tắc Cậu, theo kinh xáng Xẻo Rô sẽ lần lượt đi qua các làng quêchằng chịt kinh rạch ven U Minh Gọi theo dân dã đó là vùng Miệt thứ tức ThậpCâu, Lâm Sác xưa Đây là vùng đất rộng, trước chủ yếu là rừng, sau này cư dânMiệt thứ đã khai thác trồng lúa, trồng màu phục vụ cho sinh hoạt của con người “Thập Câu là mười con rạch - thực tế nhiều hơn - được đặt tên theo “thứ”(rạch Thứ Hai, rạch Thứ Ba…cho đến Thứ Mười Một) Ngoài rạch còn có “xẻo”,nhỏ hơn rạch, như xẻo Vẹc, xẻo Ngát, xẻo Rô, xẻo Lá, xẻo Dừa, xẻo Bần… Nhữngđịa danh có thêm từ “ rưỡi” (rạch Chín Rưỡi…) nằm chen giữa là những kênh rạch
hình thành do xáng múc sau này”
[http://vietbao.vn/Doi-song-Gia-dinh/Ai-ve-Miet-thu-U-Minh/45174486/111/]
Như vậy, có thể xác định Miệt thứ là vùng dọc bờ biển ra đến Kênh Xẻo Rô(bắt đầu từ phà Xẻo Rô, Vàm Xẻo Rô) của huyện An Biên chạy thẳng vào sôngTrẹm (ngã ba Cán Gáo – Sông Trẹm) có độ dài 47km Miệt thứ - U Minh Thượng
có hình bầu dục (đường trục là tuyến dọc theo kênh Xẻo Rô); từ bờ kinh Xẻo Rô đingang ra là hướng tây (tức là hướng biển) vùng này lại chia làm 3 khu vực: MiệtThứ Biển, Miệt Trong và Miệt Bờ Xáng (đặc thù cư dân vùng này sống bằng nghềđánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản)
Miệt thứ còn gắn liền với rừng U Minh, nơi được nhà văn Sơn Nam mô tả trongLịch sử khẩn hoang miền Nam thì “U Minh là tên khu vực có từ xa xưa đã được hiểu
là vùng đen tối, mù mịt U Minh là mờ, u ám, thí dụ như cõi u minh chốn địa ngục ”
•U Minh Thượng
U Minh Thượng là danh từ riêng dùng để chỉ vùng đất được phân chia từ cánhrừng U Minh thuộc hai tỉnh Kiên Giang và Cà Mau U Minh Thượng bao gồm bốnhuyện: Vĩnh Thuận, U Minh Thượng, An Biên và An Minh
12
Trang 13U Minh được phân chia bởi con sông Trẹm để thành hai vùng: U MinhThượng và U Minh Hạ Vùng U Minh Thượng giới hạn từ tả ngạn sông Trẹm đếnhữu ngạn sông Cái Lớn thuộc tỉnh Kiên Giang U Minh Thượng có diện tích rừng11.934 héc-ta trong đó rừng phòng hộ là 6.270 héc-ta, rừng sản xuất 5.664 héc-ta
•Miệt thứ - U Minh Thượng
“Người Nam Bộ gọi các vùng rừng ngập nước là miệt thứ để phân biệt vớimiệt vườn Miệt thứ là xứ cá, miệt vườn là xứ cây ăn trái Miệt thứ - U MinhThượng là vùng rừng tràm sình lầy có gần hai mươi kênh rạch lớn chảy song song
ra Vịnh Thái Lan Giữa các kênh rạch lớn là hàng trăm kênh rạch nhỏ chằng chịtđầy tôm cá Khi triều rút, lòng kênh rạch nông và hẹp lại, cá đớp bọt như nồi cơmđang sôi” [http://www.vacne.org.vn/default.aspx?newsid=3756]
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu: “Miệt thứ - U Minh Thượng thuộc tỉnh
Kiên Giang là vùng rừng ngập mặn với hàng chục kinh rạch chạy song song ra Vịnh Thái Lan mà người dân sống nơi này chủ yếu dựa vào nguồn lợi từ thiên nhiên ban tặng”.
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Miệt thứ - U Minh Thượng là một phần đất của tỉnh Kiên Giang (Hình 2).
Theo các tư liệu khảo cổ học cùng với kết quả của những công trình sưu tầm và khảocứu, Kiên Giang là một vùng đất có lịch sử địa chất tối cổ, có một phần được hìnhthành cách đây hàng trăm triệu năm, một phần nữa chỉ mới được hình thành cách đâykhoảng 2000 năm Đất ở Kiên Giang chia thành hai loại là đất địa thành là đất dượchình thành so nền đá tại chỗ và đất thủy thành do phù sa lắng đọng tạo nên
Theo sự điều tra phân loại đất của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn,đất ở Kiên Giang có thể phân thành 8 nhóm chính, trong đó nhóm đất phèn phân bổchủ yếu ở Hà Tiên, Hòn Đất, An Biên, An Minh, Miệt thứ - U Minh Thượng, VĩnhThuận và rải rác ở các huyện khác “Diện tích đất phèn lên đến khoảng 223.000 héc
ta, chiếm gần 40% diện tích tự nhiên của tỉnh Tùy độ sâu, xuất hiện tầng phèn
Trang 14(za-ro-xít), tầng sinh phèn (pi-rit) mà phân ra các loại đất phèn tiềm tàng, đất phèn ít để
có hướng cải tạo, sử dụng thích hợp cho cây trồng Ngoài ra, nhóm đất mặn chiếmdiện tích khoảng 20.300 héc ta, phân bổ ở ven huyện An Biên (tiểu vùng Miệt thứbiển của U Minh Thượng), Vĩnh Thuận, Gò Quao và một ít ở các huyện ChâuThành, Hòn Đất, Hà Tiên và Rạch Giá Các khu vực này gần biển hoặc sông, kinhlớn nên mùa khô bị nước biển xâm nhập, làm cho đất bị nhiễm mặn
Nhìn chung, loại đất thủy thành thích hợp sản xuất nông lâm nghiệp Riêng
“nhóm đất phèn trồng lúa đạt năng suất thấp, nhưng trồng khóm, tràm và mía có kết
quả tốt” [Cục thống kê tỉnh Kiên Giang, 2008: 28, 29, 30].
Tỉnh Kiên Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình Nhiệt độ trung
bình năm khoảng từ 27 độ C đến 27,5 độ C và tổng nhiệt độ lên đến 9.700 – 10.000
độ C Biên độ năm của nhiệt độ ngày lên đến 7-10độ C và nhiệt độ tối đa trung bình
30-31độ C Nhiệt độ tối đa tuyệt đối cựcđại đạt tới 38 độ C Với nền nhiệt độ caonhư nêu trên, khí hậu vùng Kiên Giangmang đầy đủ tính nhiệt đới của nó
Nhìn chung, tuy Kiên Giang khônghình thành mùa nhiệt, tuy có ảnh hưởng ítnhiều của gió mùa Đông Bắc nhưng ngay
cả tháng 12 và tháng Giêng, nhiệt độtrung bình cũng trên 25độ C
Hình 2 Bản đồ hành chánh tỉnh Kiên Giang
Ảnh: Mỹ Duyên
Kiên Giang là nơi mưa nhiều ở Nam Bộ Lượng mưa trung bình hàng năm ởcác nơi 1.000 – 2.100mm (trong đất liền), 2.400 – 2.900mm tại các khu vực đảo.Mùa khô, lượng mưa thu được không quá 10mm (trong đất liền) và 30mm ở khuvực đảo Phú Quốc Mùa mưa ở Kiên Giang cũng là mùa lũ lụt; mùa khô lại chính là
14
Trang 15mùa khô hạn bởi ở Kiên Giang trung bình có tới 2.400 giờ nắng trong năm; ngaytrong các tháng mùa mưa, số giờ nắng cũng rất nhiều.
Tính biến động của khí hậu ở Kiên Giang có sự khác biệt nhau nên thời tiếthàng năm thường có sự dao động về trị số của của tất cả các đặc trưng yếu tố khíhậu Thời kỳ gió mùa mùa đông là thời kỳ nắng nóng khô hạn tuy mức độ khô hạnkhông phải năm nào cũng như nhau Trong thời kỳ gió mùa mùa hạ, sự hoạt độngthất thường của giông, bão, thường xuyên gây ra những biến động phức tạp Ngaytrong mùa mưa tình trạng ít mưa, hạn hán nghiêm trọng thường xảy ra, xen kẻ vớitình trạng mưa lớn kéo dài, gây nên úng ngập
Chế độ lũ của các sông, kinh, rạch ở Kiên Giang chịu sự chi phối trực tiếpcủa lũ từ sông Cửu Long; ngoài ra, còn bị ảnh hưởng bởi mưa tại chỗ và thủy triềutác động Mùa lũ ở Kiên Giang xảy ra chậm hơn mùa mưa khoảng 3 tháng, kéo dàitrong 5 tháng (tức từ tháng 7 đến tháng 11 âm lịch) Thời gian xuất hiện đỉnh lũ ởKiên Giang thường xảy ra vào thượng tuần đến trung tuần tháng 10 âm lịch Thờigian ngập lụt kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11 (khoảng 2 hay 3 tháng) Mùa cạn ởKiên Giang bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 5 hoặc tháng 6
Chế độ hải văn có nhiều kiểu thủy triều khác nhau: nhật triều, nhật triềukhông đều, bán nhật triều không đều, và bán nhật triều, trong đó tính chất nhật triềukhông đều và nhật triều là chủ yếu
•Hệ thống sông ngòi
- Sông Cái Lớn: Đây là con sông lớn nhất của tỉnh, bắt nguồn từ xã Long
Bình, huyện Long Mỹ (Hậu Giang), chạy ngoằn ngoèo trên phần đất Kiên Giangkhoảng 35km rồi đổ nước ra vịnh Rạch Giá Sông sâu trung bình 15m, rộng 200m,nhưng ở gần nguồn thì hẹp (khoảng 80m), càng ra gần vàm sông rộng dần từ 500mđến 800m, có nơi hơn 1km
Tả ngạn sông Cái Lớn có nhiều phụ lưu như các rạch Cái Nhào, Cái Nhum,Nước Trong, Ngan Dừa, Hốc Hỏa, Xẻo Cạn, v.v… Đáng kể là kinh xáng Xẻo Rô nối
Trang 16liền sông Cái Lớn với sông Trẹm của huyện Thới Bình (Cà Mau) Con kinh này cùngvới hệ thống kinh đào và nhiều rạch nhỏ thoát nước cho vùng U Minh Thượng Hữungạn sông Cái Lớn cũng có nhiều rạch nhỏ và kinh đào ăn thông qua sông Cái Bénhư các rạch Nước Đục, Cái Su, Cái Bần Lớn, Cái Bần Bé, Tắt Cậu, v.v…
Sông Cái Bé: Là con sông lớn thứ hai của tỉnh, nằm cặp phía bắc và có đoạn
gần như song song với sông Cái Lớn trên phần đất Kiên Giang Sông này bắt nguồn
từ xã Hòa Hưng (Hậu Giang) có chiều dài trên 70km, thuộc phạm vi tỉnh KiênGiang khoảng 50km Sông rộng trung bình 200m, có đoạn đến 400m, độ sâu cạnhơn sông Cái Lớn một ít Tả ngạn có những rạch thông thương với sông Cái Lớn,hữu ngạn có những rạch như Thát Lát, Cái Chanh, Đường Xuồng, Tổng Quản…
Các kinh Chưn Bầu, Thốt Nốt, Ô Môn mang nước ngọt từ sông Hậu đổ vềsông Cái Bé, rồi sông này lại đưa nước vào những cánh đồng của huyện GiồngRiềng, một phần huyện Gò Quao, mang lại sự trù phú cho một vùng đất rộng hàngngàn héc-ta
Sông Giang Thành: Sông nhỏ bắt nguồn từ cao nguyên Sài Mạt ở
Campuchia Sông chảy qua địa phận huyện Hà Tiên, dài 20km, đổ nước ngọt vàoĐông Hồ, có cửa thông ra biển Sông có nhiều nhánh Tả ngạn có các rạch Cái Đôi,Trà Phố, Cái Tắt Hữu ngạn có các rạch Cát, Miễu, Thị Vạn, Của và Mương Đào
Ngoài ba con sông kể trên còn hàng trăm con rạch chi chít và rất nhiều xẻomương Lại phải kể đến hệ thống kinh đào do nhân dân lao động phải đổ mồ hôi,thậm chí có khi phải đổ máu để ngày nay có được một mạng lưới thủy lợi có khảnăng chống úng, chống hạn góp phần điều hòa khí hậu và cải thiện điều kiện giaolưu giữa các vùng hẻo lánh hoặc từ nông thôn xa xôi với thành thị Đặc biệt, trong
đó có các con kinh Cán Gáo còn gọi là kênh Xẻo Rô khởi công đào trong năm 1928,
có chiều dài 47km, nối sông Cái Lớn với sông Trẹm Hai bên bờ có rất nhiều conrạch tự nhiên chảy ra biển hoặc thông vào rừng U Minh mang tên rạch Thứ Nhấtđến rạch thứ Mười Một
16
Trang 17Trong điều kiện tự nhiên, “Miệt thứ - U Minh Thượng có đặc điểm riêng biệt
để tạo nên sự phong phú, đa dạng địa hình tự nhiên như: sông, rạch, lung, đìa, bưng,rọc, bàu, láng, đầm, suối, xép, vàm, doi, vịnh, mũi, gành, đồng, trảng, rọ, bãi, giồng,
gò, …”[Cục thống kê tỉnh Kiên Giang, 2008: 23, 27] Khi con người đến cư trú, lầnlượt họ đã cải tạo vùng đất này để phục vụ cho đời sống và sinh hoạt của các thànhphần cư dân
Kiên Giang có nhiều thuận lợi về điều kiện khí hậu, thủy văn như ít thiên tai,không rét, không có bão đổ bộ trực tiếp Ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào nên rấtthuận lợi cho nhiều loại cây trồng và gia súc sinh trưởng, phát triển quanh năm.Chính vì thế hệ sinh thái ở nơi này rất đa dạng Điển hình, động vật ở U MinhThượng rất phong phú Chim rừng U Minh rất nhiều chủng loại, từ những loài chimlớn hằng chục kí lô như lông ô, già đãy, bồ nông, chàng bè, giang sen, đến nhữngloài chim trung bình từ vài ba kí lô trở xuống như cò quắm, diệc mốc, cúm núm,trích cồ… và rất nhiều loài chim chóc nhỏ Các loài chim rừng sinh trưởng rấtnhanh, hầu hết chúng sinh đẻ vào đầu mùa mưa khi có cỏ non lên rậm rạp cho đếngiữa mùa mưa
Cá đồng Miệt thứ – U Minh Thượng tuy không đa dạng về chủng loại, songtrữ lượng của chúng rất đáng kể Người dân gọi cá đồng là “cá đen” để phân biệtvới các loại “cá trắng” cũng là cá nước ngọt nhưng chúng sống ở sông rạch, ít khilên đồng ruộng Cá đồng bao gồm các loại: cá lóc, cá trê vàng, cá rô, cá sặt bướm,
cá dầy, cá bông, cá lăng, cá thác lác, cá gấm, cá chốt, cá trèn… Trong số này cá lóc,
cá trê là hai chủng loại trội nhất về số lượng cũng như trọng lượng Theo tổ chứcLương nông Quốc tế (FAO) đánh giá, trọng lượng cá lóc và cá trê chiếm 80% trongtổng số lượng cá đồng Trong Gia Định thành thông chí ghi nhận xứ này có “nước
từ ao chằm ở ruộng chảy thông ra biển, có sinh nhiều cá, trạnh, ba ba” [Trịnh HoàiĐức, tâp Thượng 1972:116] Đây là nguồn thủy sản rất lớn của thiên nhiên ở Miệtthứ - U Minh Thượng ưu đãi người dân Nhìn chung, các giống cá đồng ở Miệt thứ– U Minh Thượng cùng một đặc điểm về khả năng sinh tồn, chúng xác định đượctập tính khá đặc biệt so với các loài cá khác Ngoài khả năng tự vệ và phát triển nòi
Trang 18giống; cá lóc, cá trê, cá rô còn có khả năng đề kháng rất mạnh đối với nghịch cảnh.Nhờ vào khả năng này mà người ta có thể vận chuyển chúng đi xa bằng các phươngtiện thông thường như chở bằng ghe rỗi2 hoặc chở bằng thùng sắt.
Ngoài ra, mật ong là một loài đặc sản nổi tiếng ở U Minh với hai loại ong:ong dọi và ong gác kèo Đến mùa bông tràm, các đàn ong bay về lấy mật trên ngọncây, cư dân Miệt thứ - U Minh nhân đó gác kèo để ong về làm tổ trong khu vựcmình canh tác Ong làm tổ tự nhiên được gọi là ong dọi (thường có tổ không to doong làm tổ trên những cành cây nhỏ); ong làm tổ trên các cây kèo do người dân xếpđặt có chủ ý gọi là ong gác kèo (tổ ong này thường to có khi diện tích cả tổ ong lớngần bằng chiếc đệm bàng) Theo tài liệu của người Pháp, năm 1873, nhà cầm quyềntỉnh Rạch Giá thu thuế mật ong và sáp ong khoảng 25.000 phơ-răng, tương đương
số thuế thân thu được trong tỉnh
Khoảng một thế kỷ trước, rừng U Minh có nhiều cọp và sấu Hiện nay, ở đây
có nhiều heo rừng, có bầy hàng trăm con, kế đến là nai Trăn và kỳ đà rất nhiều, cócon nặng hàng trăm kí Trúc (tê tê), khỉ, chồn, rắn rất phong phú, đa dạng về chủngloại Lươn, ếch cũng là những loài chiếm số lượng lớn ở rừng U Minh Chuột đồngđược coi là nguồn thực phẩm giàu chất đạm nhưng đồng thời cũng là một trongnhững mối lo của người dân bởi đặc tính phá hoại mùa màng, cây trái của chúng
Mảng thực vật ở Miệt thứ - U Minh Thượng có phần hạn chế do nguồn nướcngập mặn và chỉ thích hợp cho một số loại cây trồng công nghiệp, cây ăn trái thì cóphần ít ỏi so với những vùng đất khác ở Tây Nam Bộ Thực vật hoang dã và đượctrồng trọt ở Miệt thứ - U Minh Thượng có rất nhiều loài Các giống cây chịu đượcnước phèn và ngập mặn như tràm, vẹt, đước, sú, bần… trở thành rừng phòng hộdưới bàn tay chăm sóc của người dân Miệt thứ Đây cũng là nguồn lợi kinh tế khaithác tự nhiên của cư dân vùng U Minh Thượng Rau xanh ở đây cũng đã góp phầntạo thành những món ăn đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của cư dân địa phương
2 Ghe rỗi là loại ghe có nhiều ngăn chứa nước ngọt để rộng cá
18
Trang 191.1.3 Điều kiện kinh tế – xã hội
Từ đầu thế kỷ 19, nhà Nguyễn đã thi hành một chính sách “đóng cửa” vớibên ngoài; vì thế nền kinh tế Việt Nam ngày càng bị sa sút, đình đốn Hoạt động thủcông nghiệp lâm vào bế tắc do việc trưng tập những thợ giỏi vào làm trong các côngxưởng của nhà nước, cùng những luật lệ cấm đoán khác Thương nghiệp cũngkhông phát triển như trước đây Mặc dù nền kinh tế hàng hóa của nước ta trong nửađầu thế kỷ 19 đã có bước phát triển mới nhưng những chính sách cấm đoán của nhàNguyễn đã làm cản trở rất nhiều đối với ngành nội thương, còn ngành ngoại thươngthì gần như tê liệt Nhìn chung trên cả nước, nông nghiệp bị sa sút trầm trọng, sứcsản xuất của nông nghiệp rất yếu kém
Trong những năm dưới các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, có hàngchục vụ đói kém lớn ở nhiều tỉnh trong nước Đặc biệt thời Tự Đức, mất mùa, đóikém xảy ra liên tục Tình trạng đó cũng xảy ra cả ở một vài địa phương của Nam
Bộ, những nơi mà điều kiện sản xuất nông nghiệp không được thuận lợi Năm 1841,
Hà Tiên bị thiếu gạo, giá gạo tăng hơn gấp ba lần Đời sống của nông dân vô cùngđiêu đứng Vấn đề ruộng đất đặt ra rất gay gắt cả ở Nam Bộ, một vùng đất mới khaiphá Báo cáo của tổng trấn Gia Định gửi về triều đình năm Minh Mạng thứ 21 (1840)cho biết là trong trấn không có ruộng công
Nền kinh tế sa sút cộng với chế độ sưu thuế nặng nề khiến người dân cànglâm vào cảnh khốn cùng đã đẩy một bộ phận cư dân về đây khai hoang mở đất biếtbao gian lao, nguy hiểm; nhưng với tinh thần kiên trì, lao động cần cù họ đã biếnrừng hoang thành ruộng rẫy, xóm làng Nhân dân quần tụ về Miệt thứ - U MinhThượng ngày càng nhiều, khai thác cá đồng, cá biển, mật ong, sáp và thú rừng Hoạtđộng nông nghiệp lúc đầu chủ yếu là trồng lúa nước, khoanh từng khoảnh làmruộng giống lúa sớm để tránh nước mặn Do đất mới mở, hàm lượng phù sa màu mỡnên lúa tốt, thu hoạch cao; dân các nơi về đây lập nghiệp càng đông, nhất là sốngười ở Rạch Giá, Rạch Sỏi Khi có kinh xáng Xẻo Rô (1932), chính quyền Pháp
Trang 20cho lập đồn kiểm lâm để giữ rừng Người Hoa (gốc Tiều Châu) tụ hợp và chiêu dụngười Khơ-me cùng về đây sinh sống nên dân cư ngày càng trở nên đông đúc
Sau 1975, sản xuất nông nghiệp ngày càng có điều kiện phát triển do dân tụ
cư ổn định cuộc sống không còn tản lạc vì chiến tranh Ngành khai thác thủy hải sảnđược nhà nước quan tâm và hỗ trợ cung ứng xăng dầu, ngư cụ… phục vụ khai thácđánh bắt nhất Lâm trường ở U Minh Thượng đã có thiết lập hệ thống bảo vệ phòngchống cháy và tăng cường trồng rừng phòng hộ Tuy nhiên, đời sống người dân ởMiệt thứ - U Minh Thượng, nhất là nông dân còn gặp nhiều khó khăn trong bốicảnh kinh tế - xã hội thời bao cấp và thiên tai gây thất mùa, dịch bệnh sốt xuất huyếtgây thiệt hại về người và của
Từ 1986 đến nay, đời sống cư dân Miệt thứ – U Minh Thượng được đổi thay,sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt có nhiều thuận lợi Người dân Miệt thứ đã áp dụngcác biện pháp canh tác trong nuôi thủy sản kết hợp trồng cây nông nghiệp, cây côngnghiệp ngắn ngày để góp phần tăng thêm thu nhập cho gia đình Gần đây, với với sựbùng nổ của thông tin, họ đã biết lai giống vật nuôi và cây trồng để tăng năng suấtđem lại nguồn lợi đáng kể cho gia đình và xã hội
1.2 Miệt thứ - U Minh Thượng nhìn từ hệ tọa độ văn hóa
1.2.1 Chủ thể văn hóa
Miệt thứ - U Minh Thượng là một trong những vùng đất hoang vu hiểm trởnhất so với Tây Nam Bộ Khoảng cuối thế kỷ 17, lưu dân người Việt, tiếp theo đó làngười Hoa và người Khơ-me với nhiều lý do chính trị, kinh tế cũng vượt biển, vượtbiên giới cùng đến vùng đất này tụ cư, lập nghiệp
Trên bình diện chung của toàn vùng Nam Bộ, năm 1698, Chúa Nguyễn PhúcChu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai Tại đây,ông tiến hành “chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long (naythăng làm phủ) dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làmhuyện Tân Bình (nay thăng làm phủ), dựng dinh Phiên Trấn (tức dinh Gia Địnhngày nay), mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục và các cơ đội thuyền
20
Trang 21thủy bộ tinh binh và thuộc binh Mở rộng đất đai được nghìn dặm, được hơn 4 vạn
hộ, bèn chiêu mộ những người dân xiêu dạt từ Bố Chính trở về Nam cho đến ở chođông Thiết lập xã thôn, phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định
lệ thuế tô dụng, làm sổ đinh điền Lại lấy người Thanh đến buôn bán ở Trấn Biênlập làm xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn lập làm xã Minh Hương Từ đó người Thanh ở
buôn bán đều thành dân hộ” [Nguyễn Thị Hoa Xinh 2008:394].
Theo sử sách cũ ghi chép, cùng thời gian Trần Thượng Xuyên mở đất lậpphố ở Biên Hòa, Dương Ngạn Địch lập làng ở Mỹ Tho, Mạc Cửu là người xã LôiQuách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) cũng vìviệc bất mãn nhà Thanh chạy sang phương Nam chiêu tập dân xiêu dạt đến các nơiPhú Quốc, Cần Bột, Giá Khê, Lũng Kỳ, Hương Úc, Cà Mau (thuộc tỉnh Hà Tiên) lậpthành 7 xã thôn Mạc Cửu đã biến toàn bộ vùng đất Hà Tiên – Long Xuyên – BạcLiêu – Cà Mau (được gọi chung là Hà Tiên) thành khu vực cát cứ của dòng họ mình
Trước tình hình phát triển hết sức nhanh chóng của đất Gia Định dưới quyềnquản lý của chính quyền Đàng Trong, Mạc Cửu ngày càng nhận thấy không thểkhông dựa vào Chúa Nguyễn nếu muốn tiếp tục củng cố và mở rộng thế lực trênvùng đất này, nên đã đem toàn bộ vùng đất đang cai quản về với Chúa Nguyễn.Sách Đại Nam thực lục chép sự kiện xảy ra vào năm 1708: “Đến đây Cửu ủy chongười bộ thuộc là Trương Cầu và Lý Xã dâng thư xin là Hà Tiên trưởng Chúa nhậncho, trao cho chức Tổng binh Cửu xây dựng dinh ngũ, đóng ở Phương Thành, nhân dânngày càng đến đông” Tháng 4 - 1711, Tổng binh trấn Hà Tiên Mạc Cửu đã đến cửakhuyết để tạ ơn và được Chúa Nguyễn Phúc Chu hậu thưởng
Trước làn sóng di cư vào Nam tìm đất sinh sống của đông đảo nông dân cógốc gác từ xứ Thuận – Quảng, Chúa Nguyễn cho người đứng ra tổ chức các cuộc di
cư, lập thành các xã, thôn của người Việt Chúa Nguyễn tạo mọi điều kiện thuận lợicho những địa chủ giàu có ở Thuận – Quảng đem tôi tớ và chiêu mộ nông dân vàođây khai hoang lập ấp Trên vùng đất Nam Bộ, Chúa Nguyễn đã có chính sáchkhuyến khích đặc biệt đối với việc khai phá đất hoang, cho phép người dân biến
Trang 22ruộng đất khai hoang trở thành sở hữu tư nhân Chính sách này được thực thi lâu dài
và nhất quán như một phương thức khai hoang chủ yếu ở Nam Bộ nói chung Lựclượng khai hoang chủ yếu ở phần đất phía Tây sông Hậu, trong đó có Miệt thứ - U MinhThượng là lưu dân người Việt, cùng với người Khơ-me, người Hoa và người Chăm Người Việt sớm đã trở thành cư dân đa số ở Miệt thứ - U Minh Thương từ thời
kỳ đầu khẩn hoang, lập nghiệp Họ vốn là những người nông dân nghèo khồ, cùngcực bị áp bức, bị tù đày, buộc phải rời bỏ quê hương, bản xứ, tìm đến vùng đất mới
để dung thân, thay tên đổi họ để che giấu tung tích và định cư ở Miệt thứ - U MinhThượng, kẻ sớm người muộn, theo từng nhóm năm ba gia đình Về sau, bà con, bạn
bè thân thuộc lần lượt hội tụ với nhau thành từng xóm, thường là lấy tên người đến
ở đầu tiên để đặt tên cho xóm như: xóm Hào Dần, xóm Ba Luân ở Rạch Cóc, xómQuản Cửu ở Xẻo Dinh, xóm ông Tám Bến Tre, xóm Bà Liễu … Buổi đầu, họ sốngchủ yếu dựa vào các nguồn lợi của thiên nhiên như: bắt cá, ăn ong, bắt chim, rắn,rùa bằng những dụng cụ, phương tiện đánh bắt rất thô sơ, đơn giản như câu hoặcđâm cá bằng chỉa, xà búp…rồi đem ra chợ bán bằng xuồng ba lá Người Hoa, gồmnhững người không thuần phục nhà Thanh, ly hương thành từng đoàn vượt biển đếnvùng đất này và coi đây như một quê hương thứ hai của mình Cùng với người Việt,
họ khai phá rừng làm rẫy trồng hoa màu ở vùng Cái Nước, Lô Hai, Lô Ba…, mởmang nhiều nghề để sinh sống đặc biệt họ chú trọng thương mại và rất sành nghề đibiển Người Khơ-me có gốc gác từ Phước Long, Thủy Liễu (Gò Quao), MinhLương (Châu Thành) chuyển cư tới đây làm tá điền theo sự điều động của địa chủ
có đất đai ở Miệt thứ - U Minh Thượng Thực chất, lực lượng này cũng là tầng lớpnông dân nghèo khổ bị áp bức bóc lột Ngoài ra, còn có một số người Chăm cũngphiêu tán đến xứ này làm ăn sinh sống
Nhìn chung, các thành phần cư dân ở Miệt thứ - U Minh Thượng đều lànhững người “tứ xứ” cùng chung hoàn cảnh “tha phương cầu thực” nên dễ thôngcảm, chia sẻ lẫn nhau trong công việc làm ăn và trong cuộc sống đời thường Họxây dựng mối quan hệ đoàn kết, bình đẳng trong sinh hoạt cộng đồng để nương tựavào nhau U Minh lúc bấy giờ là một vùng rừng già âm u, mù mịt ở ven sông Cái
22
Trang 23Lớn, từng nhóm người lần tìm vào rừng từ các con rạch nhỏ, tìm nơi làm chòi trại
để nương náu, khai thác rừng hoang để sinh sống
Những con người có cuộc đời từng trải ấy, tuyệt đại bộ phận là nông dân nghèo
bị ách áp bức, phân biệt đối xử của các thế lực phong kiến đương thời nên trong họsớm hình thành một ý thức chung là “đoàn kết, đấu tranh để sinh tồn” Dù mỗi cộngđồng cư dân có ngôn ngữ của mình nhưng qua thời gian cùng cộng cư trên một vùngđất này, tiếng Việt mặc nhiên trở thành ngôn ngữ phổ thông được sử dụng chungtrong giao tiếp, sinh hoạt, trao đổi, làm ăn của các thành phần cư dân ở đây
Trải qua quá trình tụ cư ở Miệt thứ - U Minh Thượng cách nay vài ba thế kỷ,mặc dù có khác nhau về nguồn gốc cư dân, ngôn ngữ và văn hóa, nhưng người dânnơi đây luôn gắn bó, nương tựa nhau theo tình làng nghĩa xóm để vượt qua nhữngkhó khăn, thách thức trong ứng xử, thích nghi với điều kiện tự nhiên và môi trườngsinh thái – nhân văn của vùng đất này để phát triển kinh tế hộ gia đình, bảo đảm đờisống sinh hoạt, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng.Tình cảm đó được thể hiện bằng những câu tâm sự:
“Chạy nghèo tôi đã chạy cùng phương
Trông cậy vào đâu cũng hết đường Kêu cứu vào đâu kêu cứu nữa Bọn nghèo – chỉ có bọn nghèo thương!” 3
Sau những lúc lao động cực nhọc, họ cũng giải trí bằng các hình thức vănhóa, văn nghệ dân gian như: ca hát, nói thơ, hò đối đáp, đặt các bài vè… để độngviên nhau và thư giãn sau những giờ lao động vất vả, gian lao Nội dung văn nghệvẫn duy trì được bản sắc văn hóa dân gian từ ngàn xưa truyền lại và phát triển Thời
ấy có ông Phan Văn Kiên (Sáu Kiên), ông Tư Đờn lập gánh hát bộ ở ấp Xẻo Cạn,tập hợp nam nữ thanh niên dạy đờn ca phục vụ bà con hàng xóm lúc gia đình có hỉ
sự Tại nhà ông Sáu Kiên, luôn có sân khấu để tập dượt biểu diễn Ấp Hốc Hỏacũng có gánh hát bội Huỳnh Kim của ông bà Bầu Ba để giúp dân giải trí lành mạnh
3 Thơ khuyết danh
Trang 24Các vở tuồng hát bội có nội dung điển tích của Trung Hoa và Việt Nam nhằm nhắcnhở, giáo dục con người đạo lý xử thế, sống có nhân nghĩa.
1.2.2 Thời gian văn hóa
Khoảng đầu thế kỷ 17, vai trò Chúa Nguyễn ngày càng được khẳng định, mởrộng và củng cố trên vùng đất Nam Bộ Gia Định Thành thông chí có ghi: Vào nămniên hiệu Khang Hy thứ 19 (1680) đời Đại Thanh, nhà Minh mất, ông Cửu khôngphục chính sách nhà Thanh, để tóc dài chạy qua phương nam ở tại phủ Nam Vangnước Cao Miên, ông chiêu mộ dân phiêu lưu ở Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột,Vũng Thơm, Rạch Giá, Cà Mau lập làm 7 xã thôn Mạc Cửu bèn sai người thuộc
hạ là Trương Cầu, Lý xá đệ biểu văn trần tình đến kinh đô Phú Xuân xin làm quantrưởng xứ ấy
Mùa thu tháng 8 năm Mậu Tý (1708) đời vua Hiếu Tông Hiếu Minh Hoàng
đế (Nguyễn Phúc Chu) sắc cho Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên phong tướcCửu Ngọc Hầu; Cửu lập dinh trại đồn trú ở đất Phương Thành, nhơn dân càng ngàyqui tụ càng đông đảo” [Trịnh Hoài Đức, tập Trung 1972:79-80]
Vùng đất Hà Tiên được sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong là sự kiện đánh dấubước phát triển quan trọng trong quá trình mở rộng chủ quyền của Chúa Nguyễntrên vùng đất Nam Bộ Đến đầu thế kỷ 18, chủ quyền Việt Nam đã mở rộng đến tận
Hà Tiên và mũi Cà Mau, bao gồm cả các hải đảo ngoài biển Đông và Vịnh TháiLan Sau khi Mạc Cửu mất, Chúa Nguyễn tiếp tục phong cho con của Mạc Cửu làMạc Thiên Tứ làm Đô đốc trấn Hà Tiên và ban đặc ân miễn thuế, sai xuất dươngtìm mua các của quý báu để nộp Lại sai đúc tiền để tiện việc trao đổi Thiên Tứchia đặt nha thuộc, kén bổ quân ngũ, đắp thành lũy, mở phố chợ, khách buôn cácnước đến họp đông Ông cho vời những người có tài văn học, mở Chiêu Anh các,ngày ngày cùng nhau giảng bàn và xướng họa
Mạc Thiên Tứ không chỉ ra sức xây dựng và phát triển Hà Tiên trở thành mộttrung tâm kinh tế phồn thịnh, mà còn nêu cao ý thức bảo vệ chủ quyền với tư cách
là người được giao trách nhiệm bảo vệ vùng biên giới cực Nam đất nước Sách Đại
24
Trang 25Nam thực lục cho biết vào năm 1739, “Nặc bồn nước Chân Lạp lấn Hà Tiên….Thiên Tứ đem hết quân bản bộ ra đánh, đuổi tới Sài Mạt, ngày đêm đánh hăng,lương thực không tiếp kịp Vợ là Nguyễn Thị đốc suất vợ lính vận lương đến nuôiquân, quân không bị thiếu ăn, hăng hái cố đánh phá được quân Bồn Tin thắng trậnbáo lên, Chúa cả khen ngợi, đặc biệt cho Thiên Tứ chức Đô đốc tướng quân, bancho áo bào đỏ và mũ đai, phong Nguyễn Thị làm phu nhân Do đó Chân Lạp khôngdám nhòm ngó Hà Tiên nữa”.
Năm 1744, Chúa Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi vương, tổ chức bộ máy hànhchính thống nhất, chia toàn bộ đất Đàng Trong thành 12 dinh và 1 trấn phụ thuộc.Các dinh đều đặt trấn thủ, cai bạ và ký lục để cai trị Đứng đầu trấn là chức đô đốc.Riêng vùng đất Nam Bộ lúc ấy gồm 3 dinh là dinh Trấn Biên, dinh Phiên Trấn,dinh Long Hồ và trấn Hà Tiên
Vùng đất Hà Tiên sau khi nhập vào lãnh thổ Đàng Trong, ngày một hưngthịnh Cũng theo Gia Định thành thông chí, vào năm 1756, Chúa Nguyễn đã chấpnhận việc lấy đất ở hai phủ Tầm Bồn và Lôi Lạp phái người đến xem xét hình thế,sau đó tiến hành đặt lũy đóng quân, phân chia ruộng đất cho quân lính và dân tiếnhành khẩn hoang, vạch rõ địa giới, cho đặt lệ vào châu Định Viễn để thu nạp lấytoàn khu Sang năm 1757, Chúa Nguyễn lại tiếp tục cho lệ năm phủ vào Quản Hạt
Hà Tiên Lúc bấy giờ, Mạc Thiên Tứ xin được đặt Giá Khê làm Đạo Kiên Giang, CàMau làm Đạo Long Xuyên Được sự thuận tình của Chúa Nguyễn, ông sắp đặt quanlại, chiêu tập dân cư, lập thôn ấp làm địa giới Hà Tiên ngày càng thêm rộng lớn
Như vậy, đến năm 1757, những phần đất còn lại ở miền Tây Nam Bộ mà trênthực tế đã thuộc quyền cai quản của Chúa Nguyễn từ trước đó, chính thức thuộc chủquyền của Việt Nam Sau này, dưới thời Nhà Nguyễn (1802 – 1945), tuy có một sốđịa điểm cụ thể vẫn còn được tiếp tục điều chỉnh, nhưng trên căn bản khu vực biêngiới Tây Nam Việt Nam đã được hoạch định từ năm 1757
Thuở sơ khai đất đai canh tác chưa rộng, dân cư chưa đông, bối cảnh thiênnhiên vô cùng khắc nghiệt; nhưng suốt bao đời người dân ở Miệt thứ - U Minh
Trang 26Thượng đã đổ mồ hôi và máu, cùng hứng chịu bao thử thách ở cái xứ mà ngườiphương xa mới tới luôn thắc thỏm lo sợ, bởi:
Chèo ghe sợ sấu cắn chân Xuống sông sợ đĩa, lên rừng cọp tha.
Bảo vệ dân chúng khẩn hoang và xác lập chủ quyền là hai quá trình được cácChúa Nguyễn tiến hành song song đồng thời, trong đó xác lập chủ quyền là để bảo
vệ tính hợp pháp của công cuộc khẩn hoang và thành quả của công cuộc khẩn hoangchính là cơ sở để xác lập chủ quyền một cách thật sự Chỉ sau hơn một thế kỷ, tính
từ đầu thế kỷ 17 cho đến giữa thế kỷ 18, toàn bộ khu vực Nam Bộ trong đó có vùngMiệt thứ - U Minh Thượng đã hoàn toàn thuộc quyền cai quản của Chúa Nguyễn vànhanh chóng trở thành vùng phát triển kinh tế – xã hội năng động Đây là thành quảlao động cần cù và sáng tạo của tất cả các cộng đồng dân cư trong guồng máy pháttriển chung của đất nước, trong đó vai trò của các lớp di dân người Việt, người Khơ-
me và người Hoa rất nổi bật, đặc biệt là người Việt
Càng về sau này, cộng đồng người Việt, Hoa, Khơ-me càng kết chặt vàonhau trong quá trình lao động sản xuất ở vùng đất mới, mối quan hệ ngày càng đượccải thiện; đồng thời sự giao thoa văn hóa giữa các tộc người cũng diễn ra một cáchthầm lặng và để lại dấu ấn trong bản sắc văn hóa tộc người càng thêm rõ nét
1.2.3 Không gian văn hóa
Trong các thế kỷ 17 - 18, vùng đất Nam Bộ hình thành ba khu vực khẩnhoang lớn: khu vực dọc theo trục Mô Xoài – Bà Rịa – Trấn Biên (Biên Hòa) – Phiên
An (Bến Nghé), khu vực Mỹ Tho – Long Hồ và khu vực Hà Tiên
Khu vực Hà Tiên bắt đầu được khai thác vào cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18.Nhiều tư liệu lịch sử cho biết vào cuối thế kỷ 17, Mạc Cửu xuất thân là chủ thuyềnbuôn từng tới lui vùng Phi-lip-pin, In-đô-nê-xi-a; khi thấy nhà Mãn Thanh chiếmTrung Hoa, ông vì bất mãn đã bỏ quê cha đất tổ đến vùng Hà Tiên mở cảng buônbán, tổ chức sòng bạc thu hoa chi Từ đó, chốn này trở thành nơi thu hút những taygiang hồ, bọn cướp biển bị xua đuổi từ Mã Lai, từ Nam Trung Hoa đến vịnh Thái
26
Trang 27Lan, những thương nhân các nước qua lại trên biển Đông, những lưu dân xiêu dạtngười Việt, người Mã Lai, người Trung Hoa.
Nhờ số tiền thu được do buôn bán và mở sòng bạc, Mạc Cửu đã chiêu mộthêm dân các nơi khác đến khai phá vùng này, lập thành bảy làng rải rác từ Kom-pông-xom đến mũi Cà Mau đặt tên là Hương Úc (tức Vũng Thơm), Kom-pông-xom, Trũng Kè (còn gọi là Lũng Kỳ hay Luống Cày), Cần Bột (còn gọi là Cần Mộthay Kam-pốt), Giá Khê (tức Rạch Giá), Phú Quốc và Hà Tiên
Tuy lập thành bảy làng, nhưng mức độ khai phá ở đây còn rất hạn chế Bảylàng này nằm rời rạc, lẻ loi trên vòng cung bờ biển vịnh Xiêm La, gói gọn vàonhững nơi cao ráo Việc khẩn hoang làm ruộng chỉ phát triển ở vùng gần chợ RạchGiá (vùng Giồng Riềng, Cây Quao – nay là Gò Quao) và ở vùng Cà Mau trênnhững giồng nhỏ bé ở bờ sông Cái Lớn, Cái Bé, Gành Hào, Ông Đốc Phía đông HàTiên là một vùng phèn nặng khó khai thác nông nghiệp, dân cư thưa thớt Ngaychung quanh chợ Hà Tiên, đất cũng quá xấu, hiệu quả khai thác rất thấp, mãi tới đờiGia Long dân còn phải dời chỗ ở vì khó làm ruộng được
Chính vì đất đai quá xấu, khó khai thác nên Mạc Cửu không đặt thuế điền,cốt là để khuyến khích nông dân khai phá Lối kinh doanh của Mạc Cửu và con củaông là Mạc Thiên Tứ chủ yếu là mua hàng trong nội địa Chân Lạp bán ra nướcngoài thu huê lợi lớn Dù sao từ những năm 30 của thế kỷ 18 – thời Mạc Thiên Tứ –diện tích khai phá ở vùng Rạch Giá – Cà Mau đã được lưu dân mở rộng thêm Trên
cơ sở đó, Mạc Thiên Tứ lại xin chúa Nguyễn lập đạo Kiên Giang ở Rạch Giá và đạoLong Xuyên ở Cà Mau, chiêu tập dân đến ở, lập thành thôn ấp Trong giai đoạnchiến tranh Nguyễn Ánh – Tây Sơn, vùng mương liếp giữa Rạch Giá và Cà Mautiếp tục được khai phá
Bên cạnh việc khai phá trên khu đất hẹp ven biển, trong thời kỳ này các hảiđảo Phú Quốc, Thổ Châu cũng đã được khai hoang vỡ đất phục vụ cho canh tácnông nghiệp Bước đầu, người dân trồng trọt các loại cây ăn trái và các loại nông
Trang 28sản như lúa, dứa, bí, đậu… bên cạnh nguồn sống chính là đánh bắt cá ở sông rạch
và trên biển cả
Nhìn chung, việc khai phá khu vực Hà Tiên – Cà Mau được bắt đầu cũng khásớm (từ cuối thế kỷ 17), song vì điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, lực lượng laođộng lại quá ít, nên kết quả còn rất hạn chế Thêm vào đó các lần xâm lược củaphong kiến Xiêm La, những trận đánh nhau giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn đã gâynên nhiều tàn phá, đồng thời làm chậm tốc độ khai phá vùng này Đến cuối thế kỷ
18 chỉ mới có một số khu vực nhỏ cao ráo ở ven biển và một số giồng nhỏ ven cáccon sông ở bán đảo Cà Mau là được khai phá Còn cả một vùng nội địa rộng lớngiữa vịnh Xiêm La và sông Hậu trong đó có cả vùng Miệt thứ – U Minh Thượngcủa tỉnh Kiên Giang vẫn còn hoang dã
Trong Gia Định Thành thông chí có chép: “Trấn này4 phía nam giáp trấnVĩnh Thanh, phía tây giáp nước Tiêm La, phía tây nam ngó ra biển, phía đông trôngxuống thành Gia Định, phía bắc giáp nước Cao Miên, đảo Đại Tiểu Kim Dự làmviên ngọc châu trấn phía trước hải đảo, núi Ngũ hổ làm khẩu ấn kẹp ở phía sau, phíađông có núi Tô Châu đứng sừng sững, làm hùng quan bảo vệ dòng sông cho đượcthấm nhuần, phía tây có dãy núi Lộc Trĩ làm thạch trụ đón ngăn các lớp sóng cồn
Vả lại Hà Tiên phía tả có Bình Sơn triều về, phía hữu có quần đảo hộ vệ, án gầnkhông đứng ngay hàng thẳng lối, hình như răng chó vậy, hoặc giống như đai ngọc,cánh cung, hoặc như khay vuông, đờn sắt, nằm ngang, cúi xuống mà có từng dãybao quanh Lại có đảo Phú Quốc triều ở ngoài xa, hình cao tốt đẹp, nay lại có sôngVĩnh Tế mới đào, ghe thuyền trong sông và ngoài biển đến tụ hội làm cho đường
thủy lục giao thông tiện lợi, thật là một nơi có hình thắng vậy” [Trịnh Hoài Đức, tập
Trung, 1972:106 -107]
Vào nửa đầu thế kỷ 19, khi quan hệ khu vực có nhiều biến động, nhà Nguyễn
đã thi hành các chính sách cương quyết để bảo vệ biên giới Tây Nam, cho xây dựng
hệ thống thành và bảo trấn giữ dọc theo biên giới để bảo vệ lãnh thổ Lực lượng
4 Tức trấn Hà Tiên
28
Trang 29quân đội được củng cố và tăng cường từ trung ương đến địa phương, trách nhiệm vànghĩa vụ bảo vệ chủ quyền của lực lượng quân đội được quy định chặt chẽ trong Bộluật Gia Long (Nhâm Thân – 1812) Năm 1820, theo Gia Định thành thông chí,
“huyện Kiên Giang thuộc trấn Hà Tiên vừa mới đặt, gồm 2 tổng và 11 xã, thôn;trong đó có tổng Thanh Giang”5 [Trịnh Hoài Đức, tập Trung 1972:110-111]
Từ năm 1832, dưới thời vua Minh Mạng, Nam Bộ lại được chia thành 6 tỉnh(Lục tỉnh) trực thuộc trung ương trong đó có tỉnh Hà Tiên Tỉnh Hà Tiên bao gồm
ba huyện và một phủ Để quản lý chặt chẽ lãnh thổ, triều Nguyễn đã lập địa bạ trêntoàn Lục tỉnh Nam Kỳ (1836); thiết lập, củng cố tổ chức hành chính, hoàn chỉnh bộmáy quản lý xã hội từ thôn (xã) đến tổng, huyện, phủ, tỉnh Bên cạnh bộ máy tổchức hành chính, các ngôi chùa Phật theo phái Tiểu thừa của người Khơ-me, cácthiết chế văn hóa, tín ngưỡng dân gian của người Việt như đình thờ Thành Hoàng,
am miếu của Đạo giáo và chùa Phật theo trường phái Đại thừa được hình thành vàvận hành Các thiết chế, cơ sở văn hóa và tín ngưỡng dân gian này vừa có tác dụngtrấn tĩnh nhân tâm, ổn định xã hội, vừa góp phần vào việc thực thi chủ quyền củaViệt Nam trên vùng đất mới khai phá
Cùng với các biện pháp về chính trị, quân sự, nhà Nguyễn đã có những chínhsách khuyến khích phát triển kinh tế và xã hội Công cuộc dinh điền, xây dựng đồnđiền vừa tạo cơ sở kinh tế – xã hội cho quốc gia, vừa củng cố quốc phòng Việc đàokênh, đắp đường, phát triển giao thông thủy bộ cho đào kênh Thoại Hà (1817), kênhVĩnh Tế (1819 – 1824), kênh Vĩnh An (1843 – 1844), vừa tạo nên những hào lũynhân tạo kết hợp với những hào lũy tự nhiên để bảo vệ lãnh thổ Nam Bộ
Năm 1900, chính quyền Pháp chia Nam Kỳ thành 20 tỉnh, Rạch Giá trởthành một tỉnh gồm bốn quận: Châu Thành, Giồng Riềng, Long Mỹ, Phước Long.Vùng An Biên lúc bấy giờ thuộc quận Phước Long với tên là tổng Thanh Biên Sau
5 Tổng Thanh Giang có Vĩnh Thuận thôn và Đông An xã Hai địa danh này sau nhiều lầnđổi tên và phân chia hành chánh trở thành các huyện Vĩnh Thuận, An Minh, An Biên và UMinh Thượng; đây là địa bàn Miệt thứ - U Minh Thượng của tỉnh Kiên Giang mà đề tàiđang nghiên cứu
Trang 30đó tỉnh Rạch Giá tách thêm ra quận Gò Quao thì tổng Thanh Biên (trong đó cóĐông Yên) thuộc quận Gò Quao.
Cuối năm 1951, các huyện của tỉnh Rạch Giá nhập về các tỉnh Cần Thơ, BạcLiêu,… (không còn tỉnh Rạch Giá) Tháng 10 năm 1954, tỉnh Rạch Giá được lập lại,huyện An Biên lại trở về tỉnh Rạch Giá Đông Yên thuộc huyện An Biên từ cuốinăm 1951 đến nay
Đến cuối năm 1963, huyện An Biên được cắt ra thành bốn xã: Vĩnh Hòa,Vĩnh Bình, Vĩnh Thuận, Vĩnh Phong thành lập huyện Vĩnh Thuận Sau giải phóng,Quyết định số 70/HĐBT ngày 13/1/1986 chia An Biên thành hai huyện: An Biên và
An Minh Hiện nay, Miệt thứ - U Minh Thượng có diện tích khoảng 181.829 héc-tathuộc bốn huyện U Minh Thượng, An Biên, An Minh và Vĩnh Thuận, với ba mươimốt xã phường và ba thị trấn Dân số ước lượng 441.947 người gồm các tộc ngườiViệt, Hoa, Khơ-me và một số ít người Chăm; trong đó người Việt là tộc người đa số
ở vùng này
Vào năm 1888, tổng Thanh Giang (vùng An Biên ngày nay) có mười támlàng trong đó có Đông Yên, Tây Yên Hai làng này có tầm quan trọng đối với sựphát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của vùng Miệt thứ - U Minh Thượng:
- Làng Tây Yên ở phía nam vàm sông Cái Lớn, tây bắc giáp biển Rạch Giá
trong vịnh Thái Lan, tây nam giáp xã Đông Thái, đông nam giáp Đông Yên, đôngbắc giáp sông Cái Lớn Nằm cặp vàm sông ra biển, ở mũi doi ra gọi là Mũi Rảnh –nơi có hai sông Cái Lớn, Cái Bé cùng đổ ra biển Từ năm 1736, dân đến vùng này ởrải rác phía nam sông Cái Lớn từ Ngã Ba Tàu ra Mũi Rảnh cặp mé biển dài xuốngKim Quy ở từng xóm theo những con rạch lớn đi vào rừng Đến năm 1836, làngTây Yên có ranh giới từ Thứ Nhất cặp mé biển đến Thứ Tư và chạy thọc vào rừngđến Gò Tây Sơn Hình thể Tây Yên gần như hình vuông: từ vàm Xẻo Rô dài ra MũiRảnh 12.000m; từ Mũi Rảnh cặp đến Thứ Tư giáp xã Đông Thái 11.000m; từ mébiển cắt vào kinh xáng đoạn Thứ Tư bờ xáng 12.000m và từ đó ra Xẻo Rô dài10.000m Diện tích chung 12.000 héc ta Trước năm 1900, Tây Yên thuộc tổng
30
Trang 31Thanh Giang, từ năm 1900 thuộc tổng Thanh Biên và đến năm 1936 thuộc quận AnBiên (nay là huyện An Biên) Hiện nay Tây Yên cũ gồm ba xã: Tây Yên, Tây Yên
A, Nam Yên
Tây Yên nằm cặp vàm sông Cái Lớn và sông Cái Lớn đi vào đất liền lại chianhiều nhánh đi qua Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu… nên đường thủy lưu thông rấtthuận lợi trong kháng chiến cũng như trong thời hòa bình xây dựng Từ Tây Yênnhìn ra hướng tây là các đảo Hòn Tre, Lại Sơn Nhìn lên hướng bắc là Hòn Đất,Hòn Sóc, Hòn Me và xa hơn là dãy núi Hòn Chông Ngang vàm sông Cái Lớn làRạch Sỏi và xéo lên hướng bắc là thị xã Rạch Giá Do vị trí ấy nên Tây Yên là cửangõ của vùng U Minh Thượng, U Minh Hạ chạy dài xuống mũi Cà Mau và là tiềnđồn quan trọng cả về chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội
- Làng Đông Yên: Sự hình thành làng Đông Yên gắn liền với sự hình thành
vùng đất U Minh Thượng và huyện An Biên Ngày xưa, làng Đông Yên có địa giới
từ vàm sông Cái Lớn (Mũi Rảnh) cặp phía nam sông dài đến Xẻo Ranh giáp làngVĩnh Hòa gần 30 cây số, có nhiều rạch nhỏ như: Xẻo Kè, Xẻo Cạn, Xẻo Lùng, XẻoĐìa, Hốc Hỏa, Cái Nước… đến Xẻo Nu, Mương Chùa, Kinh Dài… Số dân lưu cư
về đây ngày càng đông, dần dần hình thành xóm làng cách đây hằng ba thế kỷ Từkhi có kinh xáng Xẻo Rô – Cán Gáo (khởi công đào từ năm 1926 đến 1932 mớihoàn thành) dân cư tụ họp ngày càng đông đúc hơn
Trang 32Năm 1900, Pháp chia Nam kỳ thành 20 tỉnh6, Rạch Giá trở thành một tỉnhgồm 4 quận: Châu Thành, Giồng Riềng, Long Mỹ, Phước Long Vùng An Biên lúcbấy giờ thuộc quận Phước Long với tên là tổng Thanh Biên Sau đó tỉnh Rạch Giátách thêm ra quận Gò Quao thì tổng Thanh Biên (trong đó có Đông Yên) thuộc quận
Gò Quao Năm 1996, Đông Yên có diện tích khoảng 23.400 héc ta, dân số là 8.414
hộ, với 44.627 khẩu
Ở vùng Miệt Thứ - U Minh Thượng, người làng Đông Yên, Tây Yên cùngvới các làng Đông Thái, Đông Hòa, Đông Hưng chịu bao nỗi vất vả, gian truân củakiếp nghèo Rừng U Minh hoang vu mù mịt với thú dữ, rắn độc, muỗi mòng, đĩavắt Muỗi rất nhiều nhưng lại không có mùng, người nông dân nghèo ngày ấy đãphải đốt lửa, hun khói xua muỗi, hoặc phải dùng nóp mới ngủ được
Rừng U Minh có nhiều sản vật quý như: ong mật, ong ruồi, cá, lươn, rắn,rùa, trăn, trúc, có sân chim… hình thành một số người chuyên nghề gác kèo ong lấymật, lấy sáp; có nghề dùng chó đi săn heo rừng; nghề vào rừng bắt chim, lấy trứngđem về bán; đặc biệt là đào đìa bắt cá để bán Trong dân gian có câu:
U Minh, Rạch Giá, thị quá sơn trường, Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.
hay lời than vãn:
U Minh khốn khổ quá chừng Xuống sông sấu bắt, lên rừng cọp tha.
6Thời Pháp thuộc, Nam Bộ được chia ra thành 20 tỉnh, có thể tóm gọn bằng 4 câu thơ sau:
32
Trang 33để mô tả vùng đất hoang vu tuy ít có thiên tai nhưng hoang sơ và đầy khắc nghiệt
đối với con người trong buổi đầu đi mở đất ở chốn sơn cùng thủy tận
Trang 34TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Miệt thứ - U Minh Thượng là một vùng đất thuộc tỉnh Kiên Giang, bao gồmbốn huyện: Vĩnh Thuận, U Minh Thượng, An Biên và An Minh; có diện tích tựnhiên 181.829 héc-ta Theo kết quả điều tra ngày 01/04/2009, dân số Miệt thứ - UMinh Thượng là 418.011 người Mật độ dân số trung bình 234 người/km2
Miệt thứ - U Minh Thượng vốn là khu vực rừng tràm, vùng sình lầy có gầnhai mươi kênh rạch lớn chảy song song ra Vịnh Thái Lan Giữa các kênh rạch lớn làhàng trăm kênh rạch nhỏ chằng chịt đầy tôm cá Khi triều rút, lòng kênh rạch nông
và hẹp lại, cá đớp bọt như nồi cơm đang sôi
Tuy nhiên, địa bàn Miệt Thứ - U Minh Thượng chủ yếu nằm trong địa phậnhai huyện An Biên và An Minh với hơn mười xã bao bọc xung quanh tuyến kinhXẻo Rô Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi mở rộng không gian
ra cả bốn huyện (đã kể ở trên) để làm rõ nét văn hóa vật chất và tinh thần của cưdân Miệt thứ; bởi bốn huyện U Minh Thượng, Vĩnh Thuận, An Minh và An Biên cónguồn gốc xuất phát từ hai làng Đông Yên và Tây Yên trước đây
Vùng đất này được khai phá có muộn hơn so với nhiều nơi khác ở tỉnh KiênGiang Những người dân đầu tiên đến đây là những người “tứ xứ” không sống nổidưới ách áp bức bóc lột khắc nghiệt của các thể chế chính trị đương thời, phải từ bỏ
xứ sở đi tìm cuộc sống mới Dù thiên nhiên vùng này có nhiều nguồn lợi cho dânnghèo khai thác để sống, nhưng nơi đây cũng lắm khắc nghiệt làm cho con ngườiđối mặt với nhiều khó khăn, nguy hiểm Vì vậy họ phải chung sức, hiệp lực trongviệc khắc phục thiên nhiên hoang dã và chống lại sự tấn công của thú dữ như rắnđộc, cọp, heo rừng… để sinh tồn
Động thực vật ở Miệt thứ - U Minh Thượng rất phong phú Đây cũng là nguồnthủy sản rất lớn của thiên nhiên dành tặng cho cư dân sinh sống ở vùng Miệt thứ - UMinh Thượng, đặc biệt là các loại cá đồng Người dân Miệt thứ - U Minh Thượng
Trang 35với khí chất ngoan cường, mạnh mẽ, chịu đựng gian khó, đã dày công khai thác cácnguồn tài nguyên, khai khẩn đất đai còn nhiều hoang hóa, nhiễm mặn thành vùngđất trù phú, đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống của mình
Tựu trung lại, Miệt thứ - U Minh Thượng là nơi hội tụ của những con ngườiViệt, Hoa, Khơ-me Trải qua bao thăng trầm trong cuộc sống nên tính cách của cư
dân Miệt thứ - U Minh Thượng là “ăn thua đủ” với kẻ thù, ngang tàng ngạo nghễ
với gian khổ khó khăn, rộng rãi vị tha với kẻ biết phục thiện, hiếu khách, đùm bọccưu mang với người mới đến và chết sống có nhau với bạn bè đồng chí
Trang 36CHƯƠNG 2 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT
CỦA CƯ DÂN MIỆT THỨ - U MINH THƯỢNG
2.1 Hoạt động kinh tế
U Minh là một vùng đất được con người khai thác tương đối muộn, đồngthời do điều kiện thiên nhiên đặc thù là vùng rừng tràm ngập nước nên ngành nghềtruyền thống nơi đây tương đối ít, nhưng rất đặc trưng gắn với việc khai thác thiênnhiên phục vụ cho cuộc sống con người Có thể kể một số nghề truyền thống như:làm ruộng, nuôi cá, bắt cá, chế tác các công cụ đánh bắt thủy sản, bắt thú rừng, bắtrắn, ăn ong…
2.1.1 Làm ruộng
Làm ruộng là một nghề truyền thống bởi nơi nào trên đất nước ta mà chẳng cónghề nông; nhưng nếu vùng núi có trồng lúa rẩy, làm ruộng bậc thang thì tại vùngđất U Minh có cách làm ruộng tương đối đặc biệt
Vào buổi ban đầu khai thác vùng U Minh, người ta vẫn phải tìm cách tạo ranguồn lương thực bảo đảm cho đời sống hàng ngày Những người đi tiên phongphải phá rừng bằng cách đốn tràm, đốn cây rừng tạo ra một khoảng đất trống, đốt rễ,
lá cây, bụi rậm trên vùng đất vừa phát hoang để sạ lúa Ruộng sạ ra đời từ đó Dođất U Minh đã trầm tích lượng lá ủ rất nhiều nên khi đốt lá cây rồi sạ lúa xuống thì
cây lúa phát triển tốt cho năng suất rất cao; do đó làm ruộng ở vùng này là “Làm
chơi ăn thiệt” Về sau đất khai hoang đã bắt đầu thuần thục, sạ lúa “không chắc ăn”
bằng lúa cấy nên người ta gieo mạ, làm đất và nhổ mạ cấy như các nơi khác Nhưng
do đất ở đây còn gốc cây, đồng thời đất mùn khá mềm nên người ta không cày bừa,trục trong khâu làm đất mà chỉ cần phát cỏ, dọn đám ruộng cho sạch rồi nhổ mạ cấy.Phát cỏ dọn đất là một khâu rất quan trọng, dụng cụ để phát cỏ là một cây
phảng và cây cù nèo (Hình 3) Sau khi chém một lát phảng, dùng cù nèo kéo cỏ đã
phát qua một bên rồi tiếp tục phát tiếp Những người giỏi, một ngày có thể phát đến
ba công đất tầm cắt (mỗi công đất tầm cắt bằng 1.440 mét vuông) Muốn phát được
Trang 37như thế, ngoài thể lực ra còn phải có cây phảng thật tốt, thật vừa ý, sao cho khi phát,lưỡi phảng đi ngọt, không cắm xuống đất, cũng không bị chạt lên trên, đồng thời ngườiphát cũng phải tập luyện thế đứng phát, bộ đi, phải biết mài phảng để phảng lâu lụt…
Do đất có phân hữu cơ nhiều,
cây lúa phát triển rất mạnh, bụi lúa
rất to nên người ta cấy rất thưa, mỗi
tầm đất 3m chỉ cấy bảy hoặc tám
bụi Mạ phải để cho khá già, cao lớn
Khi nhổ người ta bó mạ lại thành
từng bó rất lớn, người mạnh khỏe
cũng chỉ có thể gánh bốn bó mạ Khi
cấy cần phải có cây nọc Nọc cấy ở
U Minh lớn hơn nọc cấy nơi khác
Có câu ca dao: Tay cầm nọc cấy ngẩn ngơ, Tay sang nắm mạ đợi chờ chi em.
Ruộng cấy ở Miệt thứ - U Minh Thượng phải tuân theo lịch thời vụ như sau:Khoảng tháng 5 gieo mạ; cấy xong trước khi gió bấc thổi Vì khi bấc xuống, nướclạnh, cây lúa không còn nở bụi được mà chuẩn bị làm đồng, trổ bông Có câu ca
dao: Quốc tu oa, có ma ra ruộng; Đám đế trổ rồi cấy ruộng làm chi.
Ngày xưa người ta hay làm các giống lúa như: trắng tép, ba bụi, một bụi, chimrơi… Các loại lúa này gạo ăn rất ngon Ngày nay, do nông nghiệp phát triển, nôngdân vùng Miệt thứ - U Minh Thượng cũng làm lúa ngắn ngày như các nơi khác,không còn làm ruộng cấy lúa mùa như trước đây
Nông dân Miệt thứ - U Minh Thượng là làm ruộng lúa nước Họ phải chọn khuvực đất đai thích hợp, không thể ở đơn độc và làm ruộng giữa rừng một mình Chonên họ tập hợp lại thành xóm, thành làng quây quần bên nhau để vần đổi công nhaulúc vào thời vụ, liên kết với nhau chống giữ thú cầm đến khuấy phá mùa màng.Ngày xưa, làm ruộng mỗi năm chỉ một vụ, thu hoạch với mức rất thấp; thời bấy giờ,sức lao động của con người có giới hạn so với cánh rừng mênh mông; công cụ lao
Hình 3: Dùng phảng phát cỏ Ảnh: Sưu tầm
Trang 38động thô sơ, chỉ số ít người với tay dao, tay phảng Việc gieo giống trồng tỉa chủyếu để thêm lúa, bắp, khoai, củ … hầu bổ sung cho các loại thức ăn sẵn có từ sông,rạch, rừng, biển mà thôi.
2.1.2 Nuôi cá
Tận dụng tối đa yếu tố thiên thời, địa lợi để phát triển các mô hình sản xuất,
khai thác nguồn lợi thiên nhiên để tăng thu nhập là một trong những đặc điểm củangười dân Miệt thứ - U Minh Thượng
Rừng tràm ngập nước, với lá rừng mục nát tạo môi trường thuận lợi chophiêu sinh vật, rong rêu nảy nở; các loại ký sinh trong nước dồi dào là nguồn thức
ăn lý tưởng cho các loài cá Nước rừng U Minh có màu đỏ đậm, vào mùa mưa nướcngập dâng lên nhận chìm toàn bộ ruộng đồng, rừng bụi Mùa nước kéo dài suốt sáutháng, mặc tình cho các loại cá đồng tăng trưởng Mùa nắng cá đồng rút xuống cáclung bàu thiên nhiên Lợi dụng đặc tính phong thổ, con người đào thêm những khẩuđìa trên các địa thế thuận lợi đón cá rút về ẩn trú Cá đồng của rừng U Minh vào lúcmật độ cao nhất, mỗi lần có tiếng sấm bất thần, cá quẩy lên tạo thành tiếng vang cả
một khu vực, có những đìa, cá dồn xuống ục như cơm sôi.
Trong quá trình vỡ đất làm ruộng, do Miệt thứ - U Minh Thượng là vùng đấtthường xuyên ngập nước nên cá đồng sinh sôi rất nhiều Khi cấy lúa xong, cá vào ởtrong ruộng lúa Từ đó người dân Miệt thứ - U Minh Thượng có ý thức bao bờ giữ
cá trong ruộng mình, đến khi cắt lúa xong thì thu hoạch cá, chủ yếu là cá sặt rằn vànhiều lọi cá khác bằng nhiều cách được sáng tạo ra trong quá trình sinh sống ở vùng
đất này như chạy cù, đặt lú (Hình 4), chỉa, v.v…Đặc biệt, người ta còn đào đìa để
giữ cá
Người ta đào đất bao bờ một thửa đất gọi là vuông, mỗi vuông rộng khoảng
năm đến mười ngàn mét vuông, trong đó đã có sẵn trứng cá sặt rằn Trên vuông này,người ta làm ruộng bình thường theo kiểu phát cấy chứ không cày bừa Cấy lúaxong không dùng phân bón, thuốc sâu vì sợ cá chết Khi lúa bắt đầu trổ bông thì cá
đã khá lớn, cá ăn lúa và các loại sinh vật khác trong nước ruộng, người ta không cần
38
Trang 39phải cung cấp thêm thức ăn cho cá mà cá cũng rất mau lớn Mặc khác, trong vuông
có nhiều loại cá, tôm; những loài này cũng cạnh tranh sinh tồn, loài này làm thức ăncho loài kia
Khi thu hoạch lúa xong, nước trong vuông đã rút cạn xuống các mươngchung quanh vuông Người ta bắt đầu thu hoạch cá Có nhiều loại cá trong vuông,nhưng chủ yếu là cá sặt rằn Các loài khác như cá lóc, cá trê, cá rô, cá sặt bướmđược bán ngay cho các bạn hàng; riêng cá sặt rằn thì chế biến khó ngon khi cònsống nên người ta chỉ làm khô là chủ yếu
Lên vuông nuôi cá là một hoạt động kinh tế truyền thống phổ biến ở vùngMiệt thứ - U Minh Thượng, nhất là vùng gần biển thuộc các huyện An Biên, AnMinh Hiện nay hoạt động này vẫn còn, nhưng đã bị thu hẹp lại do phong trào nuôitôm và làm lúa thần nông (các loại lúa ngắn ngày) Mặc dù vậy, khô cá sặt rằn vẫn
là đặc sản của vùng đất Miệt thứ - U Minh Thượng
2.1.3 Khai thác cá bằng đìa7
Người ta bắt cá bằng rất nhiều cách, nhưng bắt tập trung và cho sản lượngcao nhất vẫn là khai thác tại đìa
Rừng U Minh ngập nướcmênh mông vào mùa mưa, các loại
cá sống tự do khắp cả rừng Khi nướcrút đi vào mùa khô, cá theo các dòngnước xuống những chỗ trũng Nắmbắt được đặc điểm này, người dânMiệt thứ - U Minh Thượng làmnhững con đường dẫn nước rút
7 Đìa là một cái ao to do con người đào, có diện tích đến vài trăm mét vuông, với độ sâu từ
2 đến 3m nằm ở giữa rừng hoặc giữa cánh đồng hoang
Hình 5: Lú – dụng cụ bắt cá của cư dân
Miệt thứ Ảnh: Mỹ Duyên
Trang 40xuống, đồng thời cũng là đường cho cá đi đến “khẩu đìa” hay “miệng đìa” tươngđối lớn trong rừng đã đào sẵn
Vào mùa khô, cá trên rừng hút xuống đìa nhiều vô kể Khi nước trên đấtrừng đã khô cũng chính là mùa “tát đìa”, “chụp đìa” Đi làm đìa trở thành một sinhhoạt rất nhộn nhịp Người chủ đìa phải chuẩn bị khá chu đáo các phương tiện để táthoặc chụp đìa, dụng cụ đựng cá, huy động nhân lực tương đối đông để bắt cá và vậnchuyển cá từ trong rừng ra mé kinh, rạch
•Tát đìa (Hình 6)
Dụng cụ để tát đìa là những chiếc gàu dây dùng cho hai người Người ta cầmbốn sợi dây buộc vào miệng gàu tát như gàu giai ở miền Bắc Vào đến miệng đìa,người ta khơi một, hai dòng chảy để nước tát dễ dàng đi nơi khác Với hai miệng gàu
và tám người tát (thay phiên nhau) thì khẩu đìa có vài trăm khối nước chỉ cần tát vàitiếng đồng hồ là nước cạn gần đến đáy
Khi nước cạn đến độ
nhất định, mọi người ào xuống
đìa bắt cá ném lên bờ Trên bờ
có người lượm cá để vào thùng
có chứa nước rộng lại không để
cá chết Còn những loại cá nhỏ
thì không cần rộng mà cho vào
cần xé mang về Một khẩu đìa
có thể cho vài tấn cá Sau khi
chủ đìa cho là đã bắt hết cá
dưới đìa, họ vận chuyển về nhà và nhanh chóng phân loại để cân cho bạn hàng mang
ra chợ Rạch Sỏi; cá nhỏ bị chết và các loại cá rô, cá sặc được làm mắm hoặc xẻ khô.Lúc bấy giờ, tại khẩu đìa, đội quân đi bắt hôi nhảy xuống đìa mót cá Đó là nhữngngười nghèo, trẻ em Một khẩu đìa, cho dù bắt cá kỹ thế nào cũng không bao giờ hết
cá vì những con cá lóc khi nghe động thì chúi xuống sình, cá rô thì nằm êm rơ Lúc
Hình 6 : Tát đìa Ảnh nguồn Internet
40