1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ Vai trò của sống nước đối với cuộc sống cong người Nam bộ

171 355 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 3,21 MB
File đính kèm van nu quynh tram.rar (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mảnh đất và con người Nam bộ từ lâu đã đi vào thơ ca, phim ảnh như là một miền sông nước trù phú gắn với quá trình khai hoang mở đất hùng tráng của người Việt. Nghiên cứu về mảnh đất con người nơi đây để truyền bá, bảo tồn, phát huy và lưu truyền các giá trị văn hoá truyền thống là trách nhiệm của những người làm công tác truyền thông. Công tác trong ngành truyền hình và say mê nghiên cứu văn hoá Việt Nam, tôi có một mong muốn là được nghiên cứu sâu các đề tài văn hoá dưới góc nhìn của một nhà báo. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Vai trò của sông nước đối với cuộc sống con người Nam bộ thể hiện qua phim tài liệu” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hoá học.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

VĂN NỮ QUỲNH TRÂM

VAI TRÒ CỦA SÔNG NƯỚC ĐỐI VỚI CUỘC SỐNG

CON NGƯỜI NAM BỘ THỂ HIỆN

QUA PHIM TÀI LIỆU

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC Người hướng dẫn: TS Lê Khắc Cường

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011

Trang 2

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10

CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ VĂN HOÁ SÔNG NƯỚC NAM BỘ VÀ

CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA SÔNG NƯỚC ĐẾN ĐỜI SỐNG VẬT

2.1 Tác động của sông nước đến đời sống vật chất 432.1.1 Sông nước tác động đến định cư và phân bố dân cư 432.1.2 Phương thức sản xuất dựa vào sông nước 532.1.3 Giao thông với môi trường sông nước 88

2.2 Tác động của sông nước đến đời sống tinh thần 99

Trang 3

2 2.1 Phương ngữ Nam bộ rất giàu các từ ngữ chỉ các sự vật, khái niệm liên

2.2.2 Sông nước với sinh hoạt văn hoá nghệ thuật ở Nam bộ 112

CHƯƠNG III: TÁC ĐỘNG CỦA SÔNG NƯỚC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN CỦA NGƯỜI NAM BỘ QUA PHIM TÀI LIỆU 118

3.1 Phim tài liệu phản ánh tác động của sông nước đến đời sống vật chất của

Trang 4

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Mảnh đất và con người Nam bộ từ lâu đã đi vào thơ ca, phim ảnh như

là một miền sông nước trù phú gắn với quá trình khai hoang mở đất hùngtráng của người Việt Nghiên cứu về mảnh đất con người nơi đây để truyền

bá, bảo tồn, phát huy và lưu truyền các giá trị văn hoá truyền thống là tráchnhiệm của những người làm công tác truyền thông

Công tác trong ngành truyền hình và say mê nghiên cứu văn hoá ViệtNam, tôi có một mong muốn là được nghiên cứu sâu các đề tài văn hoá dướigóc nhìn của một nhà báo Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Vai trò của sôngnước đối với cuộc sống con người Nam bộ thể hiện qua phim tài liệu” làmluận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hoá học

2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu

Phim tài liệu về Nam bộ bằng cách này hay cách khác đều cố gắngphác hoạ một cách sống động nhất mảnh đất và cuộc sống con người Nam

bộ Qua các thước phim tài liệu còn lưu lại cho đến ngày nay, ta thấy hiệnlên một phần quá khứ, hiện tại và cả tương lai của mảnh đất được thiênnhiên ưu đãi này

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các kiến thức Văn hoá học đểtìm hiểu vai trò của sông nước đối với cuộc sống con người Nam bộ quaphim tài liệu

3 Lịch sử nghiên cứu

Một trong những tác phẩm cổ nhất đề cập đến vùng đất Nam bộ là

Chân Lạp phong thổ ký của Châu Đạt Quan viết vào khoảng năm

1296-1297, khi ông theo chân một đoàn sứ giả sang Cao Miên dưới triều vuaCindravarman (1295-1307) Lúc bấy giờ, vùng đất hoang vu, thiên nhiên

Trang 5

khoáng đãng Nam bộ hiện ra trước mắt ông với những bờ bụi lau sậy trải dàihàng ngàn dặm, những đám trâu rừng gặm cỏ ven sông khi ông ngược dòngsông Tiền sang Chân Lạp.

Cuối thế kỷ XVII, trong Phủ biên tạp lục (1776), Lê Quý Đôn có

những ghi chép ban đầu về vùng đất này Chủ yếu Lê Quý Đôn đề cập đếnsản vật, phong tục của vùng đất Gia Định xưa

Đến Gia Định thành thông chí (1820), thì bức tranh của đất Gia Định

hiện lên rất rõ nét, từ thiên nhiên, cây cỏ, sản vật cho đến phong tục tậpquán, nếp sinh hoạt của cộng đồng cư dân nơi đây được Trịnh Hoài Đứcmiêu tả khá cặn kẽ với một tình yêu đặc biệt Những sắc thái sông nước đặctrưng của người Gia Định – Nam bộ được tác giả thể hiện rất sinh động, từtính thích ăn mắm, giỏi bơi lội, chèo xuồng, tính tình phóng khoáng

Trong khoảng thời gian 1950-1990, nhà văn Sơn Nam cho xuất bản

một loạt các tác phẩm về Nam bộ như Tìm hiểu đất Hậu Giang (1959), Nói

về miền Nam (1965), Đồng bằng sông Cửu Long hay là văn minh miệt vườn

(1970), Hương rừng Cà Mau (1972), Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1973),

Cá tính của miền Nam (1974), Bến Nghé xưa (1981), Đất Gia Định xưa

(1984), Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa (1985) Những cuốn

sách này là tài liệu hết sức quý giá cho việc tìm hiểu vùng đất Nam bộ.Những ghi chép, điều tra tại chỗ của Sơn Nam là những bức tranh chân thực

về đất, về người Nam bộ Trong các tác phẩm trên, tập truyện ngắn Hương

rừng Cà Mau đã mang lại cho người đọc nhiều cảm xúc thẩm mỹ về sông

nước phương Nam

Nhà văn Đoàn Giỏi trong truyện ngắn Đất rừng phương Nam, đã khắc

hoạ thành công những nét độc đáo về thiên nhiên, con người Tây Nam bộ

Nó là những trang viết sống động về phong thổ đất phương Nam

Trang 6

Mấy đặc điểm văn hoá đồng bằng sông Cửu Long (1984), do Lê Anh

Trà (chủ biên) là kỷ yếu hội thảo khoa học đầu tiên về văn hoá đồng bằngsông Cửu Long được tổ chức tại Cần Thơ vào tháng 3 năm 1983, bước đầu

đã tìm ra được những đặc điểm của văn hoá đồng bằng sông Cửu Long vớinhững vấn đề: tính cách con người vùng đồng bằng sông Cửu Long, ngônngữ, tôn giáo và nghệ thuật truyền thống đồng bằng sông Cửu Long Nguồn

tư liệu của các tham luận là tư liệu điền dã dân tộc học kết hợp tư liệu thànhvăn Công trình phân tích sâu, khái quát cao về đặc trưng văn hoá của ngườiNam bộ

Các tác giả Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường trong

Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long (1990) đã cung cấp cho bạn

đọc một diện mạo về nhiều mặt của văn hoá đồng bằng sông Cửu Long:nghề nông, sinh hoạt vật chất, sinh hoạt tinh thần “là một miền văn hoá-dân

cư lâu đời, đa dạng và thật sống động Nơi đây (…) có nhiều truyền thốngcủa văn hoá xưa cũ khác nhau, tiếp tục được nuôi dưỡng, được cách tântrong cuộc sống mới hiện đại, và có những lớp người thuần chủng, hỗnchủng tại chỗ hoà nhập vào nhau…” Một cuốn sách nền tảng khi nghiêncứu vùng đất này

Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long (1991) có sự kết hợp tư

liệu thành văn và tư liệu điền dã dân tộc học, nghiên cứu văn hoá Nam bộdưới góc độ văn hoá của các cộng đồng tộc người Việt, Hoa, Chăm, Khmer,phân tích sâu các khía cạnh làm nên bản chất văn hoá tộc người từ đặc điểm

cư trú, quá trình tộc người, đời sống văn hoá vật chất (nhà ở, trang phục, ănuống, kế sinh nhai), tinh thần (văn hoá nghệ thuật, tín ngưỡng-tôn giáo)

Văn hoá dân gian người Việt Nam bộ (1992) của Thạch Phương, Hồ

Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh đã kế thừa những công trình sưu tập vàbiên khảo về văn hoá, lịch sử, triết lý, phong tục, ngôn ngữ, nghệ thuật, thú

Trang 7

vui chơi Công trình đề cập đến tất cả các vấn đề văn hoá của Nam bộ từvăn hoá vật chất: thói quen ăn uống, cách ăn mặc, nhà ở, phương tiện đi lại,các nghề thủ công truyền thống và nghệ thuật tạo hình dân gian, đến văn hoátinh thần: như phong tục tập quán trong các nghi lễ vòng đời người: sinh đẻ,cưới xin, tang ma, lễ giỗ, các dạng sinh hoạt diễn xướng dân gian (hò, lý,nói, hát), diễn xướng sân khấu dân gian Một công trình giàu tính tư liệu,nhưng thế mạnh vẫn nghiêng về mô tả đời sống văn hoá của cư dân sôngnước Tây Nam bộ.

Công trình Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng đồng

bằng sông Cửu Long (1993) của Phan Thị Yến Tuyết đề cập đến ba dạng

thức được xem là cơ bản nhất của văn hoá vật chất: nhà ở, trang phục, ănuống Tác giả chọn góc độ tiếp cận văn hoá tộc người (Việt, Khmer, Hoa,Chăm) nên chúng ta có thể thấy được điểm chung và riêng giữa các tộcngười này

Kế thừa kết quả nghiên cứu của những tác phẩm trước đó, Nguyễn

Phương Thảo trong Văn hoá dân gian Nam bộ - Những phác thảo (1997)

khái quát những nét riêng của làng Việt Nam bộ như sau: là làng mới, kéodài trên diện rộng, thiếu chất kết dính chặt Nam bộ cũng là nơi xuất hiệnnhững tôn giáo bản địa: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài,Phật giáo Hoà Hảo Tác giả lập luận rằng văn hoá dân gian Nam bộ phảnánh môi trường tự nhiên với sự phong phú của hệ thống sông ngòi, kênhrạch, tài nguyên động vật, thực vật vừa giàu có vừa phong phú, khí hậuthuận lợi Sinh hoạt văn hoá tinh thần có thể loại hò sông nước, truyện cổhướng đến thiên nhiên nhiều hơn xã hội, truyện cổ tích giải thích các địadanh

Luận văn cao học chuyên ngành Văn hoá học Ứng xử văn hoá trong

khai thác môi trường thiên nhiên ở Cà Mau (1997) của Vưu Nghị Lực đã chỉ

Trang 8

ra những đặc điểm môi trường thiên nhiên và con người Cà Mau cùng cáchứng xử văn hoá trong khai thác môi trường thiên nhiên đó Cà Mau vốn nổitiếng với những rừng tràm, rừng đước, lắm sình lầy, xứ sở của sông nướcnhiều cá tôm, những làng rừng trong thời kháng chiến.

Những khía cạnh kinh tế của văn minh kênh rạch Nam bộ (1999) của

Lê Quốc Sử nghiên cứu văn hoá Nam bộ trong mối quan hệ với địa-kinh tế.Tác giả quan niệm văn hoá vật chất (kinh tế) là hạ tầng cơ sở, quyết định tưtưởng, ý thức (văn hoá tinh thần) là thượng tầng kiến trúc Ông sử dụngthuật ngữ “Văn minh kênh rạch” diễn tả yếu tố “nước” (tự nhiên và nhântạo) là đặc trưng của vùng Nam bộ, không đâu có Vùng đất mới xa lạ nhiềugian khổ hiểm nguy của sông nước mênh mông khô hạn sáu tháng mà lũ lụtcũng kéo dài 6 tháng

Đồng quê Nam bộ (2004) của Vương Liêm là ký ức của tác giả về quê

ngoại ấp Tập Rèn, xã Thới An Hội, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng Tác giảchỉ dừng lại miêu tả quang cảnh đồng quê với những cánh đồng bát ngátcùng nếp sinh hoạt của cư dân nơi đây: gồm người Việt, Hoa, Khmer từtrang phục, ăn ở, lao động sản xuất; cảnh nhộn nhịp của mùa gặt “(…) tớimùa lúa chín, lúa được chở về phơi đầy cả dải sân rộng trước mười ngôi nhà.Lúc này, mọi người trong nhà đều tất bật với công việc phơi lúa, giê lúa và

vô bồ liên tiếp nhiều ngày” Tác giả cũng đúc kết những kinh nghiệm dângian như việc đoán biết nước lớn hay nước ròng (“chim bìm bịp kêu nướclớn”), kinh nghiệm bắt cá, lấy tổ chim…

Thông qua nghiên cứu so sánh, luận văn cao học Cây cầu trong văn

hoá Việt Nam ở Bắc bộ và Nam bộ (2005) của Nguyễn Thị Phương Duyên

cung cấp một cái nhìn hệ thống, toàn diện về đặc điểm và giá trị của cây cầu

ở hai vùng văn hoá Bắc bộ và Nam bộ, ý nghĩa biểu tượng của nó trong đời

Trang 9

sống tinh thần của con người Với Nam bộ, hình ảnh những cây “cầu khỉ” cógiá trị biểu trưng cho một vùng sông nước mênh mang.

Năm 2006, Nguyễn Đoàn Bảo Tuyền bảo vệ luận văn chuyên ngành

Văn hoá học Văn hoá ứng xử với môi trường sông nước của người Việt miền

Tây Nam bộ tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.

Hồ Chí Minh Bằng phương pháp cấu trúc - hệ thống, tác giả đã nghiên cứuvăn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên sông nước của người Việt Tây Nam

bộ, về vai trò của sông nước trong truyền thống văn hoá Việt Nam Trọngtâm của luận văn là xác định cách thức ứng xử với môi trường nước củangười Việt Tây Nam bộ trên tất cả lĩnh vực ăn, ở, đi lại, gìn giữ sức khỏe,sản xuất và đánh giặc với chiến thuật tận dụng lợi thế, hạn chế bất lợi

Sắc thái văn hoá sông nước vùng U Minh (2007) của Nguyễn Diệp

Mai tập trung làm nổi bật những nét sinh hoạt thường ngày (ăn, ở, mặc,phương tiện đường thuỷ) cùng với sinh hoạt tâm linh (tục thờ Bà - Cậu, thờthần sông Cái Lớn, Hà Bá, ma da, thần sấu,…) của cư dân vùng sông nước

U Minh (Kiên Giang)

Trong luận văn cao học Ghe xuồng trong đời sống văn hoá người Việt

Tây Nam bộ (2008), từ góc độ một loại hình văn hoá vật chất-ghe

xuồng-Phan Thái Bình đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết về các hoạt độngkhai thác, đánh bắt, nghề đóng ghe, những sinh hoạt hàng ngày, tục thờ,kiêng kỵ liên quan đến phương tiện giao thông thuỷ đặc trưng của miền Tâysông nước

Kỷ yếu hội thảo Văn hoá phi vật thể người Việt miền Tây Nam bộ (2010) có một số bài liên quan đến chủ đề sông nước đáng chú ý: Tây Nam

bộ với tư cách là một vùng văn hoá và các tiểu vùng của nó (Đinh Thị

Dung), Văn minh sông nước Cửu Long-một cấu trúc mới của văn minh sông

nước (Nguyễn Tri Nguyên), Đồng bằng sông Cửu Long: ứng xử với đất và

Trang 10

nước (Đỗ Lai Thúy), Sấu trong tâm thức dân gian của cư dân Tây Nam bộ

(Nguyễn Thanh Lợi), Đời sống tâm linh của cư dân theo nghề cá ở Đồng

Tháp Mười (Nguyễn Hữu Hiếu).

Nghề cá Đồng Tháp Mười năm xưa (2010) là một chuyên khảo quý

của Nguyễn Hữu Hiếu Lần đầu tiên nghề đánh cá nội đồng ở Nam bộ được

đề cập khá toàn diện về ngư cụ và hoạt động đánh bắt cá, cá trong một sốnghề thủ công, ẩm thực với con cá, đời sống tâm linh của cư dân nghề cá,chính sách khai thác,

Nhìn chung, đặc trưng văn hoá sông nước Nam bộ đã được thể hiệntrong nhiều công trình nghiên cứu dưới những góc độ tiếp cận khác nhautuynhiên đặc trưng ấy được phản ánh như thế nào trong phim tài liệu truyềnhình thì cho đến nay vẫn còn chưa được quan tâm của giới nghiên cứu vănhoá, điện ảnh

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn cảnh cuộc sống của người Nam

bộ gắn với sông nước thiên nhiên được thể hiện qua các phim tài liệu ở cácthời kỳ

Khu vực nghiên cứu thực tế bao gồm các tỉnh, thành Tây Nam bộ (AnGiang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang,Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh và Cần Thơ), Đông Nam bộ(Bình Phước, Bình Dương, Đồng N ai, Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu và Thànhphố Hồ Chí Minh)

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Nghiên cứu đề tài này, luận văn sử dụng phương pháp văn hoá học vàphương pháp cấu trúc - hệ thống

Trang 11

Phương pháp văn hoá học là một phương pháp nghiên cứu liên ngành,kết hợp lý luận của nhiều ngành như: tâm lý học, triết học, xã hội học, đạođức, văn hoá học… Phương pháp này luôn đặt sự vật hiện tượng cần nghiêncứu dưới góc nhìn của văn hoá học.

Phương pháp cấu trúc- hệ thống được sử dụng xuyên suốt trong quátrình nghiên cứu đề tài để tiếp cận văn hoá Nam bộ với tính sông nước trong

hệ thống văn hoá Việt Nam nói chung

Phương pháp sưu tầm và nghiên cứu tư liệu phim cũng như sách báo,tạp chí, Internet để tham chiếu so sánh được sử dụng một cách liên tục, kếthợp với phương pháp nghiên cứu thực địa giúp ghi lại các thông tin chínhxác và trung thực

Phương pháp diễn dịch và quy nạp dùng để diễn giải và kết luận cáchiện tượng, kết hợp với phương pháp phân tích và tổng hợp để từ các hiệntượng cụ thể nhằm suy ra những nét đặc trưng mang tính quy luật

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận văn cung cấp một cái nhìn tương đối cụ thể, nhằm làm sáng tỏnhững nét đặc trưng của văn hoá Nam bộ, lý giải đặc trưng sông nước trongtính cách văn hoá của người và đất Nam bộ

Luận văn khẳng định vai trò của phim tài liệu trong việc bảo tồn vàtruyền bá các giá trị văn hoá Nam bộ, bảo vệ những giá trị nguồn cội của dântộc, bảo vệ kho tàng văn hoá dân gian, góp phần nuôi dưỡng tình yêu vớivùng đất phương Nam nói riêng, tình yêu đất nước nói chung Thông qualuận văn, chúng tôi mong muốn các đài truyền hình, các hãng phim đầu tưsản xuất nhiều phim hơn, khai thác nhiều và sâu hơn các giá trị văn hoá Nam

bộ trong các tác phẩm của mình

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần dẫn luận và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

Trang 12

Chương 1: Những vấn đề chung, trình bày những nét chung về vai trò

của sông nước đối với cuộc sống của người Việt ở Nam bộ trong cái nhìnthời gian, không gian và chủ thể Các tiêu chí để nhận biết, đánh giá sự tácđộng này đến việc hình thành lối sống văn hoá, tính cách Nam bộ Chươngnày cũng nói đến vai trò đóng góp của phim tài liệu trong việc lưu trữ, bảotồn và truyền bá các giá trị văn hoá bằng hình ảnh

Chương 2: Tác động của yếu tố sông nước đến đời sống vật chất và

tinh thần của người Nam bộ, trình bày các luận điểm nhằm lý giải quá trình

tác động của yếu tố sông nuớc đến cuộc sống người Việt khai hoang, từ đóhình thành lối sống và tính cách văn hoá đặc trưng của người Nam bộ

Chương 3: Sự phản ánh tác động của sông nước đến đời sống vật

chất và tinh thần của người Nam bộ qua phum tài liệu, miêu tả và chứng

minh vai trò tích cực của phim tài liệu trong việc bảo tồn, phát huy, truyền

bá các giá trị văn hoá Nam bộ

Phần phụ lục: bao gồm các phim tài liệu dưới dạng phim VCD, DVD

và các tài liệu tham chiếu so sánh

Trang 13

Chương 1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Thiên nhiên Nam bộ

1.1.1 Vị trí địa lý

Nam bộ là phần lãnh thổ ở phía cực Nam của Tổ quốc, có diện tích63.262 km2, chiếm 19,15% diện tích cả nước, phía đông giáp biển Đông, phíaBắc giáp các tỉnh cực Nam Trung Bộ (tỉnh Bình Thuận) và Tây Nguyên (tỉnhLâm Đồng), phía Tây giáp Campuchia và vịnh Thái Lan, phía Nam giáp biểnĐông

Về mặt hành chính, Nam bộ bao gồm 2 khu vực: Đông Nam bộ và TâyNam bộ

Đông Nam bộ bao gồm 5 tỉnh: Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, BìnhDương, Bình Phước, Tây Ninh và 1 thành phố trực thuộc trung ương là Thànhphố Hồ Chí Minh với diện tích 23.545km2, chiếm hơn 7,15km2 diện tích tựnhiên toàn quốc, dân số 10.939,2 triệu (2002)

Đây là vùng đất mới trong lịch sử phát triển của đất nước, là khu vực tậptrung nhiều đô thị nằm giữa các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên,những vùng giàu tài nguyên đất đai, rừng và khoáng sản

Tây Nam bộ bao gồm 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, VĩnhLong, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, AnGiang, Đồng Tháp và 1 thành phố trực thuộc trung ương là thành phố Cần Thơ,Khu vực này có diện tích tự nhiên 39.717,3km2, dân số khoảng 16,7 triệu(2002), chiếm 12% diện tích và 21% dân số cả nước

Đây là vùng tận cùng phía Tây Nam của Tổ quốc, có bờ biển dài trên736km và nhiều đảo, quần đảo như Phú Quốc, Thổ Chu với khoảng 360.000km2

vùng đặc quyền kinh tế, giáp biển Đông và vịnh Thái Lan

Trang 14

Tây Nam bộ là một trong những đồng bằng châu thổ rộng và phì nhiêu ởĐông Nam Á và thế giới Đây là vùng sản xuất lương thực lớn nhất và cũng làvùng thuỷ sản, vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn của nước ta [35, tr.507-508, 533-534].

1.1.2 Địa hình

Địa hình ở Nam bộ chia thành 2 khu vực địa lý khác nhau Khu vực ĐôngNam bộ rộng 23.545km2, có 2 dạng địa hình Dạng địa hình thứ nhất tương đốibằng phẳng với 3/4 diện tích là đồng bằng và bán bình nguyên, gò đồi Độ dốcphổ biến từ 13-150, độ cao không quá 200m, có những bề mặt cao nguyên thấp

và những đồi lượn sóng, rất ít bị chia cắt

Dạng thứ hai là dải đất xám ở phía Nam, tiếp giáp với đồng bằng châuthổ, địa hình thoải với lớp phù sa cổ bao trùm Đây là dạng bậc thềm của châuthổ sông Cửu Long để lại trong quá trình kiến tạo địa chất [36, tr.233-235]

Châu thổ sông Cửu Long có diện tích lên đến 39.592km2 (so với15.000km2 của châu thổ Bắc Bộ), bao gồm phần thượng châu thổ và hạ châuthổ

Phần thượng châu thổ nằm nối tiếp ngang với thung lũng phù sa, đặcđiểm dễ nhận biết là có các gờ sông hay gọi là “giồng” Các giồng có sườn đổthoải dần từ phía sông trở ra đến rốn vùng trũng, trở thành các đồng lầy, mùamưa ngập nước sâu, như Đồng Tháp Mười chẳng hạn

Phần hạ châu thổ được tính từ nơi hai sông Tiền và sông Hậu bắt đầu chianhánh và bao gồm không những phần đất nổi nằm tiếp giáp với biển mà cả phầnchâu thổ ngầm Các giồng hai bên bờ sông đã hạ thấp đến mức khó nhận thấynhưng các cồn cát duyên hải cao đến 5m, trở thành những dạng địa hình quantrọng Đồng bằng hạ châu thổ thường xuyên chịu tác động của thuỷ triều vàsóng biển Có nhiều những đảo nhỏ, những cù lao, những cồn: cù lao Dài (VĩnhLong), cù lao Năm Thôn, cồn Bà Nở (Tiền Giang), cù lao Cồn Cốc, cù lao

Trang 15

Dung, cù lao Tròn, cù lao Nai (Sóc Trăng)… Ngoài ra còn có những đảo khổng

lồ, mà đỉnh nằm ngay ở chỗ sông bắt đầu chia nhánh và đáy lồi ra tận phía biển

Ví dụ như tỉnh Bến Tre có sông Hàm Luông chảy ở giữa hai cù lao Bảo và cùlao Minh Các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc và một phần Long Xuyên cũchỉ là một cù lao cực lớn nằm giữa sông Tiền và sông Hậu [31, tr.285-286]

1.1.3 Khí hậu

Nằm trong miền khí hậu phía Nam, Đông Nam bộ có đặc điểm của mộtvùng khí hậu cận xích đạo với nền nhiệt độ cao và hầu như không thay đổitrong năm Đặc biệt có sự phân hoá sâu sắc theo mùa, phù hợp với hoạt độngcủa gió mùa

So với đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam bộ có lượng mưa tươngđối dồi dào Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500-2.000mm Nhìnchung, đây là nơi có khí hậu tương đối điều hoà, những diễn biến thất thườngrất nhỏ, ít có thiên tai Thời tiết không quá lạnh, ảnh hưởng của bão hạn chế.Khí hậu thuận lợi cho cây trồng Tuy nhiên, mùa khô hơi thiếu nước do sự phânhoá mưa sâu sắc theo mùa [35,tr 509]

Khu vực đồng bằng sông Cửu Long khí hậu tương đối ổn định Nhiệt độcao và ổn định, trung bình thấp nhất cũng trên 25oC, biến động trung bình 2-

3oC, độ dài ngày ít chênh lệch trong năm: khoảng 11-12 giờ/ngày, ẩm độ khôngkhí trung bình biến đổi đều đặn

Năng lượng bức xạ lên đến 15x109kcal/ha/năm, nếu thuỷ lợi đầy đủ, cóthể sản xuất nông nghiệp quanh năm với vụ mùa năng suất cao Chế độ bức xạ

ở vùng châu thổ này không những lớn hơn 30-50Kcal/cm3/năm, mà còn ổnđịnh, giúp cho việc xen canh, trồng gối, tăng vụ và thâm canh được thuận lợi

Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 90% tổng lượng mưa cảnăm và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Vùng ven biển Tây Nam: CàMau-Rạch Giá-Hà Tiên bắt đầu mưa sớm và kết thúc muộn Cả đồng bằng mưa

Trang 16

bắt đầu từ Tây sang Đông Khu vực ven biển Đông: Trà Vinh-Ba Tri-Gò Côngmùa mưa ngắn và không ổn định.

Trong mùa mưa, lượng mưa cũng biến động rất nhiều hàng năm và thayđổi giữa các vùng Trong thực tế người nông dân đã biết khéo léo phối hợp giữanước mưa, nước sông tự chảy và tưới động lực bổ sung khai thác triệt để nguồntài nguyên nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp [12, tr.73-81]

1.1.4 Thuỷ văn

1.1.4.1 Sông ngòi

Hệ thống thuỷ văn ở Nam bộ bao gồm 2 hệ thống sông chính là hệ thốngsông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long

Ở Đông Nam bộ có các con sông lớn như: Đồng Nai, Sài Gòn, Bé, Vàm

Cỏ Đông, Thị Vải…Các con sông này đưa toàn bộ nước từ các vùng Đà Lạt,Tây Ninh, Lâm Đồng vào địa phận của vùng thông qua các phụ lưu Lòng Tàu,Thị Vải, Soài Rạp, Vàm Cỏ Trong đó, quan trọng nhất là các sông Đồng Nai,Sài Gòn, Bé

Sông Đồng Nai dài 850km, diện tích lưu vực là 44.100km2, bắt nguồn từvùng Lang Biang, do 2 nhánh Đa Dung và Đa Nhim hợp thành Sông Đồng Naicòn được tiếp nước từ sông La Ngà từ cao nguyên đổ xuống nên có nhiều thácghềnh Sông Đồng Nai còn nhận thêm nước của sông Bé, rồi hội lưu với sôngSài Gòn tại Nhà Bè Từ đây sông chia thành nhiều nhánh, chảy qua rừng Sác,

đổ ra biển ở vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái Sông Đồng Nai có tổng lượngdòng chảy bình quân là 16,7 tỉ m3/năm

Sông Bé dài 350km, bắt nguồn từ vùng núi phía Tây của khu vực NamTây Nguyên với diện tích lưu vực là 7.650km2 Sông chảy qua địa phận 2 tỉnhBình Dương và Bình Phước khoảng 80km, rồi đổ vào sông Đồng Nai

Trang 17

Sông Sài Gòn dài 256km, diện tích lưu vực là 5.560km2, bắt nguồn từCampuchia, chảy qua các tỉnh Bình Phước, Bình Dương và thành phố Hồ ChíMinh [36, tr.240].

Sông Mekong là một trong những con sông lớn trên thế giới, dài4.500km, bắt nguồn từ vùng núi tuyết Tangkulashan ở độ cao 5.000m trên caonguyên Tây Tạng với cái tên Trung Quốc là sông Lan Thương1, chảy từ VânNam qua Cảnh Hồng-Calanpa đến biên giới Trung Quốc-Myanma Từ Hoiatêxa(Myanma) có chung biên giới với Lào Từ ngã ba Nặm Mộc, mường Tôn Phưng(Lào) thì chung biên giới với Thái Lan, qua Huội Sài đi vào nội địa Lào dọctỉnh Saynhabuli đến Salakham-Viên Chăn lại chung biên giới với Thái Lan; đếnBăng Ban (Thái Lan) đi vào nội địa Lào qua Paksé, vượt thác Li Phỉ (thácKhôn) vào đất Campuhchia ở Bung Thơ Beng, tỉnh Strungtreng Đến PhnômPênh, sông Mekong nối với sông Tonglesap và thành hai nhánh chảy vào ViệtNam Phía Bắc là nhánh sông Tiền (Tiền Giang), nhánh phía Nam là sông Hậu(Hậu Giang) Hai nhánh này cùng xuôi dòng chảy ra biển Đông theo hướngTây-Đông [79, tr.29]

Sông Tiền từ biên giới Việt Nam-Campuchia ra đến cửa sông dài 220km,

có lòng sâu hơn, nên là con sông mang nhiều nước và phù sa nhất, chiếm 2/3lưu lượng nước của sông Cửu Long Ngang Vĩnh Long, cách biển chừng100km, sông chia ra làm 2 nhánh, tạo thành sông Mỹ Tho và sông Cổ Chiên.Sông Mỹ Tho ngay sau đó lại tách ra một nhánh quan trọng tạo thành sông HàmLuông, rồi lại tiếp tục chia ra thành sông Ba Lai, sông Cửa Tiểu và sông CửaĐại Sông Tiền đổ nước ra biển Đông qua 6 cửa, lần lượt từ Bắc xuống Nam là:

1 Người Tây Tạng gọi Dza chu (nước của đá), người Trung Quốc gọi là Lan Thương giang (con sông cuộn sóng), người Thái và người Lào gọi là Mca Nam Chúng (con sông mẹ), người Campuchia gọi là Tonle-Thom (con sông lớn) Ở Việt Nam, do con sông đổ ra biển theo 9 cửa

nên gọi là sông Cửu Long Và hiện nay, tên gọi của nó cho cả vùng lưu vực là sông Mekong

với ý nghĩa là “mẹ của các con suối” (Nguyễn Ngọc Dũng, Sông Cửu Long, Báo Tuổi trẻ chủ nhật, ngày 4-11-2001)

Trang 18

cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu(sau này là một nhánh phụ của sông Cổ Chiên).

Sông Hậu chảy ra biển theo một dòng duy nhất, rải rác vẫn có những cùlao lớn ở giữa dòng Nước từ sông Tiền đã chuyển dần sang Hậu qua các kênhVĩnh An (Tân Châu-Châu Đốc), Chợ Mới, sông Vàm Nao nên lượng nước củasông Tiền và sông Hậu gần tương đương Cách biển 75km, sông Hậu bắt đầuchia nhánh, đổ ra biển qua 3 cửa Định An, Bát Xắc và Trần Đề [31,tr 280-282;

48, tr.226; 64, tr.239].

Nếu tính cả những nhánh sông phụ, thì toàn đồng bằng sông Cửu Long

có 37 con sông, tổng chiều dài 1.708km Ngoài nước mưa, sông Mekong lànguồn duy nhất cung cấp nước tưới cho đồng bằng sông Cửu Long [45, tr.28]

Sông Cửu Long có diện tích lưu vực 0,79x106km2 với lưu lượng nướchàng năm là 470km3 Lượng phù sa của sông hiện nay khoảng 160 triệutấn/năm Nguồn vật liệu cung cấp chủ yếu là sét, bột và cát trầm tích trong điềukiện chế độ thuỷ triều thay đổi của biển Đông, biển Tây và ảnh hưởng chế độgió mùa

Lưu lượng trung bình của hệ thống sông Cửu Long là 10.700m3/giây Vàomùa lũ lưu lượng tăng lên đến gấp năm lần mức trung bình, cao nhất là ở cáctháng tám-tháng mười, có khi lên đến 53.000m3/giây Vào mùa kiệt lưu lượnggiảm xuống rất thấp, nhất là các tháng ba-tháng năm, có khi thấp xuống còn2.000m3/giây

1.1.4.2 Kênh đào

Hệ thống sông rạch, đặc biệt là ở khu vực Tây Nam bộ chằng chịt nhưmột mạng nhện khổng lồ, với hơn 2.500km sông rạch tự nhiên và 2.500km

Trang 19

kênh đào1, trong đó có 1.575km kênh có chiều rộng 18-60m, 480km kênh rộng8-16m, còn lại là dưới 8m [31, tr.266].

Những kênh đào quy mô nhà nước bắt đầu được xây dựng vào cuối thế

kỷ XVIII-đầu thế kỷ XIX trước hết phục vụ giao thông, quốc phòng, sau đó mớikết hợp thuỷ lợi Đó là những kênh Bảo Định (còn gọi là kênh Bến Tranh) đàonăm 1765, nối liền sông Mỹ Tho với sông Vũng Gù (Vàm Cỏ Tây) Đến năm

1819, vua Gia Long lại cho đào rộng và vét sâu thêm Kênh Bà Bèo (còn gọi làkênh mới Rạch Chanh hay kênh Thương Mại) đào năm 1785, dài 16km, nốiRạch Chanh (phía sông Vàm Cỏ Tây) với sông Ba Rày (Cai Lậy) thông quasông Tiền Kênh Cái Cỏ đào năm 1815, nối SvâyRiêng (Campuchia) với rạchCái Cái (Tân Hồng, Đồng Tháp), dài 30km Kênh Thoại Hà (1818), kênh Vĩnh

Tế (1819) nối liền sông Hậu và vịnh Thái Lan Ngoài ra, còn có những kênhnhỏ hơn như kênh Ruột Ngựa (1771), kênh An Thông (1819), sông Lợi Tế(1829) hay còn gọi là kênh Bo Bo, kênh Vĩnh An (1843), kênh Tân Hương,kênh nối rạch Lấp Vò, sông Sa Đéc [31,tr.521;43, tr.38]

Thời Pháp thuộc có các kênh Xà No được xem như là một công trìnhthuỷ lợi lớn nhất ở Nam kỳ, có thể sánh ngang với việc thiết lập đường xe lửaSài Gòn - Mỹ Tho Kinh được đào từ 1901 đến tháng 7 - 1903, mặt nước rộng

60 m, đáy rộng 40 m, kinh phí 3,6 triệu francs Quy mô nhất là kênh Rạch Giá

-Hà Tiên (1926), đánh dấu một bước thực dân chuyển sang khai thác vùng tứgiác Long Xuyên

Năm 1895, Tổng đốc Lộc (Trần Bá Lộc) cho đào một con kênh lớn dài 45

km, rộng 10 m và hoàn thành vào năm 1997 Bắt đầu từ rạch Bà Bèo (arroyoCommercial, rạch Thương Mại), đào thời Tây Sơn, bao quanh cả vùng Mỹ Tho

đổ ra rạch Ruộng gần Sa Đéc Sự thành công của hệ thống kênh Tổng Đốc Lộc,

1 Có tài liệu ghi là và 137 kênh rạch lớn, tổng chiều dài 2.780km.

Trang 20

gồm kênh chính và một loạt kênh xương cá được đánh số từ 1 đến 10 và từ 25đến 28, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương, tiêu thoát lũ, xả phèn vàphát triển vùng phía Nam, nó thay đổi cái nhìn của người Pháp đối với ĐồngTháp Mười.

Với hệ thống kênh đào được thực hiện trong khoảng 80 năm ở Nam kỳ,người Pháp đã làm thay đổi hẳn diện mạo nông nghiệp ở đồng bằng sông CửuLong Diện tích đất canh tác được mở rộng không ngừng, đồng nghĩa với sảnlượng lúa ngày một tăng, hình thành nên thị trường hàng hoá trên lĩnh vực nôngnghiệp Giao thông vận tải cũng phát huy hiệu quả qua hệ thống giao thôngđường thủ Đó là những tiền đề quan trọng giúp cho việc phát triển sản xuất, đờisống và bảo đảm an ninh lương thực của cả nước ở một vựa lúa lớn nhất nước[59, tr.43; 43, tr.39]

1.1.5 Sinh vật

1.1.5.1 Thực vật

Vào thế kỷ XVIII, ở vùng đất nay là Nam bộ, rừng rậm bạt ngàn, cảnh

vật quả là u tịch, nhà bác học Lê Quý Đôn đã nhận xét: “Phủ Gia Định, đất

Đồng Nai từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, cửa Đại, cửa Tiểu, toàn là rừng rậm hàng mấy ngàn dặm” [34, tr.345].

Rừng tự nhiên ở Đông Nam bộ phân bố không đồng đều giữa các tỉnh,chủ yếu tập trung ở Bình Dương và Bình Phước (272.000 ha) Các tỉnh khác chỉ

có dưới 100.000ha, ít nhất là thành phố Hồ Chí Minh (6.700ha) Ở vùng này cómột phần vườn quốc gia Cát Tiên nổi tiếng với tổng diện tích 71.920ha thuộc 3tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước Đây là nơi nổi bật về đa dạng sinh học,

là kho dự trữ tài nguyên vô giá của Tổ quốc Vườn quốc gia Cát Tiên được tổchức UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thứ 411 của quốc tế và làkhu dự trữ sinh quyển thứ 2 của Việt Nam [35, tr.510]

Trang 21

Nguồn lợi thực vật chủ yếu ở Tây Nam bộ là thực vật ưa nước Trong đólúa nước chiếm vị trí chủ đạo, sau đó đến các loại khoai đậu, hoa màu Cây ăntrái có đến hàng trăm giống khác nhau Lớp phủ thực vật tự nhiên ở khu vực

này chủ yếu là cỏ dại và các loài cây thuỷ sinh mọc ven sông như bần, ô rô,

dừa nước, điên điển, sậy, đế Các vùng trũng ngập nước quanh năm như Đồng

Tháp Mười thì có bàng, năn, lác, lúa trời, sen, súng Gần như trên các sông rạch đều bắt gặp lục bình trôi khắp nơi, nhiều khi làm tắc nghẽn giao thông

đường thuỷ

Rừng ở Tây Nam bộ chủ yếu là rừng ngập nước Rừng ngập mặn venbiển chiếm diện tích đến 300.000ha, đứng hàng thứ ba trên thế giới Rừng ởTây Nam bộ mang tính điển hình và có giá trị kinh tế cao so với rừng ngập mặn

ở Bắc Bộ Cây mấm đen với trên nửa thân ngập trong nước khi triều lên, có nhiệm vụ củng cố nền đất lỏng, mở đường cho cho các cây vẹt, tách Cây đước

có bộ rễ to khỏe, rậm rạp, tán cây có đường kính 2-3m, cao 1-2m, ngăn chặncác luồng sóng từ phía biển bào mòn đất liền và đồng thời giữ lại phù sa bồi tụ

Cây đước là thành phần chính của rừng ngập mặn ven biển Tây Nam bộ,

đặc biệt là ở Cà Mau Đây là loài cây ưa mọc trên đất phù sa cận sinh, nhất làđất bùn mịn, có thuỷ triều lên xuống định kỳ, nước mặn hoặc lợ, khí hậu ấm áp.Đước là sắc mộc có giá trị cao nhất ở rừng ngập mặn.Cây đước khi đã mọcthành rừng thì không có một loại cây gì có thể chen vào sống chung được nênrừng đước thường có sự phân chia lãnh địa riêng lẻ: đước ra đước, mắm ramắm, chà là ra chà là… chúng sống chung trong môi trường là đầm lầy ngậpmặn chứ không sống chung bên cạnh nhau Đây cũng là điểm khác biệt củarừng đước so với các loại rừng khác

Chỗ đất đã tương đối ổn định, có nhiều chất hữu cơ, nước biển nhạt, là

nơi vô số các loài cây khác tranh nhau mọc như cốc, mấm trắng,ráng, vẹt dù,

sú, bần, chà là, dừa nước Bên ngoài là mấm đen và đước Sau cùng là rừng

Trang 22

tràm mọc thuần nhất và đều đặn trên thảm cây bụi như sậy, vốp, choại, năn [31,

tr.291-293]

Hình 1.1 Rừng đước Năm Căn (Cà Mau)

Theo tài liệu lưu trữ từ năm 1862-1931, hình thái rừng tràm chiếm gầnhết các tỉnh Rạch Giá, Bạc Liêu, Hà Tiên, Châu Đốc đến ranh giới tỉnh CầnThơ, Long Xuyên, Vĩnh Long Trước những năm 1930, người ta chia vùng xuất

xứ của rừng tràm thành 3 vùng: rừng tràm miền Trung, rừng tràm Đồng ThápMười và rừng tràm U Minh Trong đó, rừng tràm U Minh đến năm 1930 có142.520ha bao gồm các tỉnh Rạch Giá, Bạc Liêu, Hà Tiên Hiện nay, vùng UMinh ngày xưa là 2 khu vực tứ giác Long Xuyên và vùng bán đảo Cà Mau (UMinh Thượng và U Minh Hạ) [60, tr.5-6]

Có ý nghĩa kinh tế nhất là các loài động vật sinh sống dưới nước, đặc biệt

là tôm và cá Trữ lượng cá vùng này lớn nhất nước, phân bố chủ yếu ở các khuvực cửa sông và vùng vịnh Thái Lan Riêng ở vùng vịnh Thái Lan, cá đáychiếm khoảng 600.000 tấn, chiếm 36% lượng cá đáy cả nước, cá nổi khoảng

Trang 23

275.000 tấn, chiếm 20% cá nổi cả nước, tôm có 25.000 tấn, chiếm khoảng 50%trữ lượng tôm cả nước.

Đồng bằng sông Cửu Long cũng là vùng có năng suất nguyên sinh caonhất Vùng cửa sông Cửu Long có năng suất cao gấp 10 lần so với các vùng venbiển khác trong toàn quốc

Về động vật trên cạn, đáng chú ý nhất là các loài chim tự nhiên Từ xưacho đến nay, ở đây đã hình thành những vườn chim độc đáo Đây chính là hệsinh thái đặc trưng của vùng (cá-rừng-chim), tạo thành một trạng thái cân bằng

ổn định Hiện nay vẫn còn những vườn chim tự nhiên như vườn: Ngọc Hiển,Cái Nước, Vĩnh Lợi (Bạc Liêu, Cà Mau), vườn Cù Lao Đất (Bến Tre), vườnchim U Minh, Giá Rai, Hồng Dân [35, tr.538-539]

Ở đồng bằng sông Cửu Long, rừng ngập nước có tới 49 loài thực vật, tạothành 12 quần xã thực vật, trong đó 4 quần xã ở bãi biển mới bồi và 6 quần xã

ổn định ở phía trong [45, tr.287]

Chỉ riêng hệ thực vật ở khu vực Đồng Tháp Mười đã có 112 họ với 540loài (không kể cây trồng): 10 họ khuyết thực vật (dương xỉ) với 15 loài, 102 họthực vật hạt kín với 525 loài Cỏ và cói chiếm số loài nhiều nhất với 138 loài

Số loài cây bụi và cây gỗ là 66 loài, còn lại chủ yếu là cây thảo

Riêng hệ thực vật thuỷ sinh (thực vật nổi) khá đa dạng, phong phú, mangsắc thái riêng, điển hình nhất trong cả nước với 8 ngành tảo nước ngọt, có 503loài, thứ và dạng; trong đó có 272 loài là thức ăn tự nhiên của tôm cá Nhóm tảo

cố định đạm có 22 loài [43,tr.33]

1.1.5.2 Động vật

Vào cái thuở cha ông chúng ta đi khai hoang cách nay trên 300 năm,vùng đất Nam bộ lúc ấy còn đầy cọp, sấu, voi, trâu rừng, trăn, rắn, rùa, muỗi,vắt, đĩa Đó là cái cảnh “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um” hay “muỗi kêunhư sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh” Riêng nguồn lợi thuỷ sản là cá nước ngọt

Trang 24

(cá sông) gồm 255 loài, thuộc 130 giống, 45 họ, trong đó có 55 loài có giá trịkinh tế cao [45, tr.294].

Theo dự thảo quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Cửu Long (1993), thì ởđây, động vật có số lượng nhiều nhất là loài và bộ chim (386 loài), kế đến làloài cá (260 loài), loài bò sát và động vật có vú (23 loài) và loài lưỡng cư (6loài) [43, tr.33]

Mekong là con sông giàu cá tôm đứng hàng thứ hai trên thế giới, chỉ sausông Amazon của Nam Mỹ Ở khu vực hạ lưu sông Mekong thuộc Việt Nam cóhơn 1.200 loài thuỷ sản, trong đó có hơn 60 loài có giá trị kinh tế, tập trung ởhai họ cá chép và cá tra (đây là vùng sản xuất cá da trơn lớn nhất thế giới), sảnlượng ước tính đến 2 triệu tấn/năm Khu vực này đóng góp đến 85% tổng sảnlượng nội địa khai thác được của cả nước Diện tích nuôi trồng thuỷ sản ao hồtoàn khu vực khoảng 22.000ha

1.2 Cư dân Nam bộ

Dưới thời các chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613), Nguyễn Phúc Nguyên(1613-1625), những lưu dân từ miền Trung đã đến tụ cư ở địa điểm đầu tiên củaĐồng Nai-Gia Định là Mô Xoài (Bà Rịa), một địa điểm nằm trên trục giaothông đường bộ từ Bình Thuận vào Nam Họ quần cư trên các gò cao, gần sông,gần biển

Cuối thế kỷ XVI- đầu thế kỷ XVII, người Việt đã định cư ở vùng đấtNam bộ, hình thành nên những cộng đồng làng xã Những người nông dân, ngưdân nghèo bằng những chiếc thuyền nhỏ từ miền Trung họ đã men theo bờ biểnvào đến miền Đông Nam bộ khai khẩn những “ruộng núi” (sơn điền) và đếnmiền Tây Nam bộ để làm “ruộng cỏ (thảo điền) Ở Đông Nam bộ, họ cư ngụ ở

Bà Rịa, Bàn Lân, Bến Gỗ, Bến Cá, cù lao Rùa, Tân Triều, cù lao Tân Chánh,rạch Lá Buông

Trang 25

Trong các thế kỷ XVII, XVIII, từ vùng đất địa đầu Bà Rịa, mang tính

“trung chuyển”, lưu dân người Việt lần lượt đến định cư và tiến hành khai khẩn

ở cửa sông Soài Rạp, bờ sông Vàm Cỏ Tây, bờ bắc sông Tiền và các cù lao nơicửa sông Tiền Họ định cư trên các giồng đất cao khá rộng lớn, không bị ngậplụt, bao gồm Tân An với giồng Cai Yến, vùng Ba Giồng chạy thẳng đến CaiLậy, vùng Gò Công qua Chợ Gạo tới Mỹ Tho với giồng Gò Rùa, giồng ÔngHuê, giồng Tháp, giồng Xe và những gò Bàn, gò Găng, gò Tre, gò Xoài Địabàn khai phá của họ đến tận những dải đất ở vàm Rạch Gầm, Xoài Mút, cù laoBảo

Vùng ven Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, các giồng đất phìnhiêu, ít ngập lụt cũng được chú ý khai thác

Ở Hà Tiên, người Việt là nhóm dân cư đông nhất và đến sớm định cư ở

vùng này Theo Hà Tiên hiệp trấn Mạc thị gia phả, vào năm 1671, khi Mạc Cửu

dựng nghiệp ở vùng đất này thì đã có đông người Việt đến sinh sống:”NgườiViệt, người Đường (Phúc Kiến), người Liễu (Quảng Đông) kéo đến trú ngụ làm

ăn, người đông ngày càng trù mật”

Trong thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn tích cực ra sức khẩn hoang, khaiđiền, lập làng, đào mương kênh nên đã di dân ào ạt người Việt từ vùng QuảngNam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên vào Nam bộ, đặc biệt là Tây Nam bộ.Cuối thế kỷ này, dân cư người Việt ước tính 15 vạn người và phân bố trên toànvùng Nam bộ ngày nay Các dân tộc như Mạ, Cơ Ho, Châu Ro, Stiêng ở ĐôngNam bộ cũng cộng cư gần gũi với người Việt

Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần đã cho một tướng cũ nhà Minh cùnghơn 3.000 người và 50 chiến thuyền đến định cư ở miền Đông Nam bộ (Cù laoPhố, nay là vùng Biên Hoà) do Trần Thượng Xuyên đứng đầu và Dương NgạnĐịch đến khai phá vùng Mỹ Tho và Cao Lãnh Nhiều người dân nghèo từ cáctỉnh ven bờ biển đông nam Trung Quốc (Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông,

Trang 26

Hải Nam) dắt díu nhau nhập cư vào đồng bằng sông Cửu Long để kiếm sốngngày một đông Những cuộc hôn nhân giữa người Hoa và người Việt đã sớmhình thành.

Năm 1710, theo giáo sĩ Labbé, số người Việt và người Minh hương đãlên đến 20.000 người, tập trung ở khu vực Đồng Nai và Mỹ Tho

Năm 1714, Mạc Cửu, người Lôi Châu (Quảng Tây) lập ra 7 xã ở Hà Tiên,người Khmer kéo đến ngụ cư cùng người Việt và sau đó ông đã dâng đất nàycho chúa Nguyễn Phúc Chu và được phong làm Tổng binh Hà Tiên

Năm 1835, dưới thời vua Minh Mạng, một nhóm người Chăm khoảnghơn 4.500 người theo đạo Hồi từ Campuchia chuyển về định cư trên vùng đấtbãi ven sông ở Châu Đốc

Sang thế kỷ XIX, dân số gia tăng nhanh chóng và lưu dân miền ngoàitiếp tục nhập cư khai khẩn theo sự vận động của triều Nguyễn Các trung tâmđịnh cư hình thành trong các thế kỷ trước ở vùng ven sông Đồng Nai, Sài Gòn,Vàm Cỏ, sông Tiền, vùng giữa sông Tiền và sông Hậu giờ đây nối liền thànhmột dải đồng ruộng, vườn tược liên tiếp, chạy dài từ Bà Rịa, Biên Hoà, qua GiaĐịnh đến Mỹ Tho, Vĩnh Long

Đặc biệt, trong nửa đầu thế kỷ XIX, lưu dân người Việt ngày càng xâmnhập càng lúc càng mạnh vào vùng đất nằm về phía nam sông Hậu như vùngLong Xuyên, Rạch Giá sau khi một sô kênh lớn như Vĩnh Tế, Thoại Hà đượckhai thông [20, tr.163-164; 25, tr.91-94]

Thành phần cư dân Nam bộ hiện nay rất đa dạng, phong phú Đại diệncho lớp cư dân lâu đời là người Mạ, người Stiêng, người Châu Ro, kế tiếp làngười Việt, Khmer, Chăm, Hoa

Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay khoảng 1,3 triệungười, tập trung nhiều nhất ở Sóc Trăng (400.000 ngàn), Trà Vinh (320.000),

Trang 27

Kiên Giang (204.000), An Giang (85.000), Bạc Liêu (60.000), Cần Thơ(39.000), Cà Mau (29.000), Vĩnh Long (21.000)

Người Chăm có 13.060 người, sống ở An Giang, tập trung ở các xã NhơnHội, Khánh An, Quốc Thái, Đa Phước, Vĩnh Trường (huyện An Phú), KhánhHoà (huyện Châu Phú), Phú Hiệp (huyện Phú Tân), Châu Phong (huyện TânChâu)

Đặc điểm định cư của người Chăm An Giang là họ sống tập trung thànhnhững ấp (puk) hay liên ấp từ biên giới Campuchia rải rác theo dòng sông Hậu

và sông Khánh Bình hợp lưu ở Tam Giang (thị xã Châu Đốc) chạy xuống đến

xã Khánh Hoà (huyện Châu Phú)

Người Hoa tập trung đông nhất ở thành phố Hồ Chí Minh (524.000người), kế đến là các tỉnh Đồng Nai (103.185), Sóc Trăng (80.154), Kiên Giang(42.499), Bạc Liêu (32.280), Cần Thơ (29.950), An Giang (15.989), Trà Vinh(14.300), Cà Mau (13.657)

Người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long tập trung ở 2 khu vực chính.Một là, ở thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, khu vực chợ búa Họ tập trung ởnhững nơi thuận tiện cho việc buôn bán, làm các nghề tiểu thủ công, côngnghiệp (mua vật liệu, tiêu thụ sản phẩm), nên hiện có khoảng 75% người Hoasống ở thành thị Hai là, ở một số khu vực ruộng, rẫy, trồng các loại cây hoamàu

Vai trò của người Hoa trong nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Longkhông phải với cây lúa nước mà gắn với rau màu Tiêu biểu như ở Hỏa Lựu (thị

xã Vị Thanh, Hậu Giang) là vùng đất trồng khóm nổi tiếng hay Vĩnh Châu (SócTrăng) đất trồng hành, tỏi nổi tiếng của người Triều Châu

Ngoài Chợ Lớn là “thủ phủ” của người Hoa ở Nam bộ, thì Mỹ Tho (TiềnGiang), Hà Tiên (Kiên Giang), Bạc Liêu là những điểm hội tụ của người TriềuChâu:

Trang 28

Bạc Liêu là xứ quê mùa Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu (Ca dao)

[142, tr.67-68; 127, tr.53-54,110-112]

1.3 Văn hoá Nam bộ

Văn hoá Nam bộ được các nhà nghiên cứu xếp trong 6 vùng văn hoá củaViệt Nam1

Làng Việt Nam bộ là làng khai phá Quá trình hình thành của nó khác vớiquá trình hình thành làng miền Bắc và miền Trung Các làng Bắc Bộ ra đời do

sự tan rã dần của công xã nông thôn mà dấu tích còn lại chính là ruộng côngđiền, công thổ Trong khi đó, làng Việt Nam bộ lại ra đời do nhu cầu khai pháđất mới từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX Có làng do dân cư từ nhiều nguồn khácnhau tập hợp lại trong quá trình khai phá, cũng có làng vốn là những đồn điềnlập dưới thời chúa Nguyễn, vua Nguyễn [44, tr.14]

Đây là vùng đất mới khai phá khoảng 300 năm, nên nó vừa lạ lẫm, nhưnglại luôn gọi mời, thu hút sự chú ý của con người Đây cũng là vùng đất cónhững con người năng động, cởi mở, nghĩa khí

Cùng thời với các nền văn hoá Đông Sơn ở Bắc Bộ và Sa Huỳnh ở Trung

Bộ, cách nay khoảng 2.000-3.000 năm, nơi đây đã có các nền văn hoá ở lưu vựcsông Đồng Nai và sông Cửu Long Những cư dân này đã biết đúc đồ kim khí,xây dựng các cảng thị và có mối giao thương với Trung Hoa, Ấn Độ và cảphương Tây

1 Trong công trình gần đây nhất của mình, Ngô Đức Thịnh chia nước ta thành 7 vùng văn hoá: vùng văn hoá đồng bằng Bắc Bộ, vùng văn hoá Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ, vùng văn hoá duyên hải Bắc Trung Bộ, vùng văn hoá duyên hải Trung và Nam Trung Bộ, vùng văn hoá Trường Sơn-Tây Nguyên và vùng văn hoá Nam bộ Trong đó, vùng văn hoá Nam bộ chia thành 3 tiểu vùng: tiểu vùng văn hoá sông Đồng Nai, tiểu vùng văn hoá văn hoá Sài Gòn-Gia Định và tiểu vùng văn hoá đồng bằng sông Cửu Long (Ngô Đức Thịnh, Bản sắc văn hoá vùng ở Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.29-47).

Trang 29

Một cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp mở ra với tất cả sự giàu có của vùngđất mới, nhưng cũng chứa đựng những thách thức đối với những lưu dân đầutiên đến đây: “Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh”, “Muỗi kêu nhưsáo thổi, đỉa lềnh như bánh canh”, “Dưới sông sấu lội, trên bờ cọp um”

Không ở đâu như ở đây, thiên nhiên hào phóng đã “ùa” vào văn học nghệthuật và để lại những dấu ấn khó phai Ở đây ta không bắt gặp nhiều những thầnthoại, truyền thuyết mang đậm dấu ấn lịch sử và gắn với nguồn gốc dân tộc như

ở Bắc Bộ Hệ thống truyện dân gian của người Việt Nam bộ thường hướng đếnthiên nhiên nhiều hơn xã hội Truyện kể địa danh có số lượng lớn giải thích vềthời kỳ khai phá Truyện trạng chịu sự tác động rõ nét của thiên nhiên, khác vớiloại truyện trạng phản ánh hiện thực xã hội như ở miền Bắc hay miền Trung Cadao chủ đề tình yêu quê hương đất nước chiếm số lượng lớn, gắn với tâm tư,tỉnh cảm của người Việt nơi miền đất mới [54, tr.56-57]

Do là miền đất mới tập hợp dân tứ xứ quy tụ về nên ở đây đã diễn ra quátrình giao lưu văn hoá mạnh mẽ Đó là sự giao lưu giữa các tộc người, giữa cưdân địa phương với nhau và giao lưu với bên ngoài như Campuchia, Malaysia,Indonesia, Trung Quốc và phương Tây:

Dưới Bến Nghé hát lẳng lơ giọng con đò, con rỗi,

Trên tàu voi ca khủng khỉnh tiếng thằng mục, thằng nài Trọ trẹ dưới sông quân Huế kéo neo hò hụi:

Xì xô ình đường các khách già rao kẹo ối chao ôi!

Trang 30

vườn sau ruộng) Nhà cửa đơn sơ, thường ba gian, hai chái, làm bằng vật dụng

rẻ tiền, dễ kiếm như tranh tre, lá dừa nước

Cơ cấu xã hội nơi thôn quê không bền chắc lắm, nó không cột chặt ngườinông dân với quê nhà Nơi nào có điều kiện sinh sống tốt là họ có thể “bứt phá”

để tìm đến, không hề vướng bận Trong làng xóm, quan hệ cá nhân mạnh mẽ.Nhiều người ít nhớ gốc tích của mình, họ hàng quê hương, cũng ít thấy các giaphả của các dòng họ Có thể vì những điều kiện lịch sử đặc thù, vốn là nhữnglưu dân chủ yếu từ miền Trung, trong đó có những người từng là tội phạm củatriều đình, nên họ ít lấy gốc gác làm trọng

Nghề chính của dân Nam bộ vẫn là nghề làm ruộng Ở nơi đất rộng ngườithưa, thiên nhiên ưu đãi, gần như không có bão lụt, hạn hán, nhiều cá tôm, chimmuông, thú vật, nên hình thức canh tác chủ yếu là khai hoang, quảng canh, làmtheo kiểu “móc lõm” Nguồn lợi thu được luôn dồi dào, là đất “làm chơi ănthiệt”

Vốn là xứ sở của sông nước, nên Nam bộ được mệnh danh là văn minh

sông rạch Kênh rạch lan toả thành hệ thống chằng chịt khắp nơi và người dân

sinh sống, làm ăn theo nhịp điệu của con nước, cả trong đời sống vật chất lẫntinh thần Ghe xuồng ở Nam bộ đã trở thành người bạn đường gắn bó không thểthiếu được trong cuộc sống hằng ngày của người dân nơi đây

Với những người dân đi mở cõi vào buổi đầu ở đồng bằng sông Cửu

Long, ba vật thiết thân không thể thiếu được là chiếc xuồng ba lá, cây phảng và

cái nóp Xuồn ba lá để làm phương tiện ở chốn đi đâu cũng mênh mông sông

nước Cây phảng dùng để phát cỏ, thiết thân hơn cả cày bừa của người Việt ởBắc bộ, Trung bộ, góp phần quan trọng vào việc khẩn hoang Cái nóp được đanbằng sợi cây bàng, dùng để ngủ thay mùng, mền, rất tiện lợi Khi có người chết

có thể dùng nóp để bó xác đi chôn

Trang 31

Áo bà ba và chiếc khăn rằn từ lâu đã trở thành trang phục tiêu biểu cho

phụ nữ Nam bộ Bộ bà ba tuy có nguồn gốc ngoại lai nhưng nó đã trở thành yphục gắn bó hàng thế kỷ với người dân ở vùng đất mới này Không chỉ phụ nữ

mà cả nam giới cũng mặc bà ba vì sự tiện lợi và giản dị của nó Khăn rằn củaphụ nữ Nam bộ gần gũi về hình dáng và cách sử dụng với khăn Krame của phụ

nữ Khmer

Người Việt Nam bộ ngày nay vẫn còn giữ nghi lễ “cúng việc lề” ở một sốđịa phương Đây là ngày cúng giỗ của con cháu ở Nam bộ nhớ đến tổ tiên gốcmiền Trung vào đây lập nghiệp Trong đó không thể thiếu món cá nấu ám Đó làdấu hiệu nhận biết của các dòng họ thông qua tập tục ăn uống này của một thờikhẩn hoang

Nguồn lợi thuỷ sản dồi dào, nên trong cơ cấu bữa ăn của người Nam bộgiàu đạm thuỷ sản Các sông rạch, kênh đào, cửa biển đã cung cấp cho ngườidân nơi đây một nguồn thuỷ sản gần như vô tận:

Cá đồng, cá biển, cá sông

Ốc, đuông, ba khía, chim cùng tôm cua

(Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca)

Họ còn biết cách dự trữ cá tôm để ăn dần trong các đìa, ao, rọ cá Haynhư chế biến thành khô, làm nước mắm, mắm cá với hàng chục loại rất phongphú, với An Giang được mệnh danh là “Vương quốc mắm”

Bên cạnh các tôn giáo lớn có nguồn gốc du nhập từ bên ngoài như Phậtgiáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Hồi giáo còn có các tôn giáo bản địa chỉ xuấthiện ở đây mang sắc thái địa phương rõ rệt như Cao Đài, Hoà Hảo, Tứ Ân HiếuNghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Dừa, đạo Ngồi, đạo Nằm, đạo Câm Nhữngtôn giáo này thường có tính hỗn hợp (syncretisme) bởi giáo lý được pha trộn từgiáo lý của các tôn giáo khác Các tôn giáo này có ảnh hưởng rất lớn đến một

bộ phận dân cư, mang tính thích nghi cao

Trang 32

Đời sống tâm linh của con người nơi đây còn được thể hiện một cách đadạng, phong phú qua tín ngưỡng dân gian Đó là thờ cúng tổ tiên, thờ Thànhhoàng, thờ thổ địa (Neaktà của người Khmer, ông Bổn của người Hoa), các nghi

lễ nông nghiệp (lễ hạ điền, lễ cúng cơm mới ), thờ cây, thờ đá, thờ cọp, thờ cásấu, thờ rắn, thờ cá voi Những hình thức tín ngưỡng này do những lưu dânmang theo từ miền quê cũ vào và nó đã chịu sự giao lưu, tiếp biến trong nhữngđiều kiện mới

Về ngôn ngữ, phương ngữ Nam bộ hình thành cùng với quá trình ngườiViệt tới đây khai khẩn vùng đất mới từ khoảng thế kỷ XVI, XVII đến nay Tiếngnói Nam bộ mang trong mình những cội nguồn khác nhau nhưng cùng phản ánhthế giới và con người nơi vùng đất mới với những sắc thái đa dạng, phong phú

Đó là quá trình hội tụ của nhiều dạng tiếng nói địa phương khác nhau mà ngườiViệt từ các miền ngoài mang vào, bên cạnh đó còn có sự tiếp xúc vay mượn vớicác ngôn ngữ của các dân tộc cùng sinh sống ở vùng đất này (Khmer, QuảngĐông, Triều Châu, Phúc Kiến, Chăm, Pháp ) Các từ ngữ ở đây gắn liền vớiđặc trưng sinh thái vùng miền, đặc biệt là các hiện tượng tự nhiên, môi trường

về sông nước, chim thú, cây cỏ không lẫn với bất cứ vùng miền nào khác[126, tr.7-8]

Người Nam bộ rất thích ca hát Âm nhạc ở đây chứa đựng nhiều hìnhthức khác nhau, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ khác nhau của các dân tộc, từ nông

thôn đến thành thị, các tầng lớp xã hội khác nhau Nhạc bóng rỗi của người Việt

Nam bộ có nét gần gũi với nhạc bóng rỗi của người Chăm ở Trung Bộ, nhạc

arak của người Khmer Có thể tìm thấy dấu vết ảnh hưởng của Trung Hoa trong

một số bài cải lương, cũng như các bài bản Quảng Đông, Triều Châu được Việthoá Nghe các nhạc khí trình tấu trong một dàn nhạc lễ Nam bộ làm ta liên

tưởng ngay tới trống kinăng, trống scorthom trong dàn múa bóng của người Chăm, dàn nhạc phlêng Xiêm của người Khmer Trong dân ca Nam bộ đôi khi

Trang 33

có thể bắt gặp vài âm điệu của bóng dáng âm nhạc Tây Nguyên Các nhà nghiên

cứu đã nói tới một điệu thức Nam bộ thể hiện trong âm nhạc và dân ca Nam bộ

được thực hiện bằng dàn nhạc ngũ cung [137, tr.261-263]

Lý là thể loại âm nhạc dân gian thịnh hành từ Bắc chí Nam, địa bàn phổ

biến nhiều nhất từ Thừa Thiên-Huế, Nam Trung Bộ đến Nam bộ Riêng vùngđất Nam bộ, số lượng các bài lý khá phong phú và đa dạng với những sắc tháiriêng Có các bài lý về trái cây, các món ăn bình dân, các con vật, các vật dụnghàng ngày và cả các nhân vật, phản ảnh các phong tục tập quán và những sinhhoạt lao động thường ngày Ngay trong Nam bộ, cùng một điệu lý nhưng sắcthái giữa các địa phương lại khác nhau

Do môi trường sông nước nên ở đây đã xuất hiện nhiều điệu hò gắn với

đặc điểm sinh thái như hò chèo ghe, hò mái cụt, hò mái nhì, hò mái ba, hò mái

đoản, hò mái dài, hò mái trường, hò thẻ mực, hò khoan, hò hụi Ngoài những

điệu hò mang từ miền Bắc, miền Trung, Nam bộ còn xuất hiện các điệu hò mới

như hò văn, hò truyện, hò tuồng, hò tiểu thuyết, hò quốc sự gắn với sinh hoạt

văn chương cũng như bối cảnh xã hội nơi vùng đất mới

Đầu thế kỷ XX, ở Nam bộ đã ra đời hình thức sân khấu cải lương, mộthình thức ca kịch dân tộc, được nhiều tầng lớp nhân dân yêu thích Trong giaiđoạn tiếp xúc với văn hoá phương Tây, cộng với chính sách đồng hoá văn hoácủa thực dân, sân khấu cải lương và ca nhạc tài tử được xem là tiếng nói phảnkháng bằng âm nhạc dân tộc chống lại mưu đồ nô dịch của Pháp

Ngôi đình làng Nam bộ thường không mang dáng vẻ tiêu biểu như đìnhlàng miền Bắc với tính trang nghiêm, cổ kính Thành Hoàng trong các đìnhNam bộ thường mang tính phiếm chỉ Các nhân vật lịch sử khi mất cũng trởthành thần Thành Hoàng như Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Văn Thoại, Lê VănDuyệt, Nguyễn Trung Trực Lễ hội ở đình làng thường nặng phần nghi lễ, ít cóhội hè, vui chơi như miền Bắc, tuy cũng có diễn xướng như hát bội

Trang 34

Các lễ hội lớn ở Nam bộ là lễ hội Bà Chúa Xứ (An Giang), lễ hội Bà Đen(Tây Ninh), lễ hội Dinh Cô (Bà Rịa-Vũng Tàu), lễ hội Nguyễn Trung Trực, lễhội Lăng Ông Bà Chiểu (TP Hồ Chí Minh) Người Khmer có lễ mừng nămmới Chol Chnam Thmay và lễ Cúng trăng gắn với tục đua ghe ngo Người Hoa

có các lễ hội liên quan đến Thiên Hậu, Quan Công

Tính cách người Nam bộ có nhiều nét độc đáo Trịnh Hoài Đức thì chorằng đó là những người “trọng nghĩa khinh tài”, Lê Quý Đôn nhận xét là “dândám làm ăn lớn” Các nhà du hành từng đặt chân đến vùng đất Nam bộ cũng cónhững cách nhìn nhận như “hiếu khách hơn bất kỳ nơi nào ở châu Á”(Finlayon) hay “nhân đạo có thừa” (Borri), sống có nghĩa khí, hào hiệp, sẵnlòng ra tay giúp đỡ người bị nạn “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha”(Nguyễn Đình Chiểu)

Họ không coi trọng chuyện học hành để tiến thân Họ là những người ưahành động hơn thuyết lý dông dài Trong cách cư xử luôn đề cao sự bộc trực,thẳng thắn, không câu nệ hình thức Người Nam bộ rất dễ tiếp nhận cái mới,nhạy cảm với cái mới, năng động trong cung cách làm ăn với kiểu cách “làm ralàm, chơi ra chơi”

1. 4 Phim tài liệu truyền hình

1.4.1 Phim tài liệu

Phim tài liệu là một trong bốn loại hình của nghệ thuật điện ảnh mànguyên tắc hàng đầu là loại bỏ sự hư cấu Chất liệu của nó là những cảnh quay

về người thực, việc thực

Phim tài liệu ra đời mở đầu cho sự xuất hiện nền điện ảnh nhân loại, bộphim đầu tiên do Lumier xây dựng và trình chiếu công cộng có thu tiền Hiệnnay, hầu hết các nước đều có xưởng làm phim tài liệu, tạo ra nhiều tác phẩm cógiá trị, trong đó có những phim về hai cuộc chiến tranh thế giới, các cuộc đấutranh cách mạng và giải phóng dân tộc, đã làm nhiệm vụ thông tin kịp thời,

Trang 35

động viên hàng trăm triệu người đấu tranh cho hoà bình, tiến bộ xã hội, dânchủ, tự do, độc lập dân tộc Phim tài liệu tạo điều kiện tốt chưa từng có giúp conngười giải phóng tầm mắt đi khắp mọi ngóc ngách trên các châu lục, xuống đáyđại dương hay vào vũ trụ, chiêm ngưỡng đến cả thế giới vi mô, đóng góp lớntrong sự nghiệp nâng cao dân trí và đấu tranh xã hội [70, tr.469].

Theo Từ điển bách khoa toàn thư (Encarta) thì phim tài liệu là những

tác phẩm truyền hình có cấu trúc chặt chẽ nhằm mục đích khám phá sự kiện, hiện tượng, con người trong đời sống hiện thực một cách chi tiết.

David Bordwell và Kristin Thompson, Trường đại học Wisconsin lại cho

rằng: “Phim tài liệu là một tác phẩm chứa đựng trong nội dung của nó những

thông tin chân thực về thế giới bên ngoài” Quan điểm này cũng nhấn mạnh

vào tính chân thực của phim tài liệu truyền hình David Bordwell và KristinThompson coi tính chân thực như đặc tính quan trọng nhất, quy định nhữngđặc tính khác của phim tài liệu Phim tài liệu có thể đưa ra một cách nhìn,một chính kiến và cách giải quyết vấn đề của người làm phim và những sựkiện, hiện tượng có thực trong cuộc sống

Các nhà lý luận chia phim tài liệu thành 2 loại:

− Phim tài liệu phỏng vấn: t h ô n g q u a c á c l ờ i k ể n h â n

c h ứ n g , đ ạ o d i ễ n , b i ê n t ậ p ghi nhận một cách trung thực về sự kiện,hiện tượng, về những biến động xã hội chủ yếu qua lời kể của các nhânchứng

− Phim tài liệu của sự thực: hình ảnh được diễn ra trên thực tế, không

mang dấu ấn chủ quan của tác giả Thể loại này bắt đầu xuất hiện từ khoảngnhững năm 50, 60 của thế kỷ XX, với loại camera chuyên dụng gọn nhẹ giúp

nhà phim có thể theo kịp diễn biến của sự kiện: “Trước hết, một bộ phim tài

liệu có giá trị phải phản ánh được những góc cạnh khác nhau của sự thực, một sự thực không đơn giản như chúng ta nhìn thấy mà là một sự thực

Trang 36

được đặt trong bối cảnh lịch sử, xã hội đã tạo ra chúng” [3, tr ]

Căn cứ vào nội dung, các nhà lý luận còn chia phim tài liệu thành các

dạng sau: phim thời sự tài liệu, phim tài liệu địa chí, phim tài liệu giáo khoa,

phim tài liệu phân tích

1.4.2 Phim tài liệu truyền hình:

Nhóm thể loại phim thời sự - tài liệu, mở đầu cho sự xuất hiện nền điệnảnh thế giới với tác phẩm “Tàu vào ga” và “Giờ tan tầm ở nhà máy” của anh

em nhà Lumiere (Pháp) Tiếp theo đến bộ phim tài liệu của Fláecti (Mỹ)

“ Về những người dân Eskimo.” Phim tài liệu truyền hình ra đời sau phim tài

liệu điện ảnh và đã kế thừa được hệ thống ngôn ngữ của điện ảnh Nhữngyếu tố này được kết cấu theo một phương pháp ghép nối gọi là montage vàbằng hình ảnh động, hay còn gọi trực diện là âm thanh

Phim tài liệu truyền hình là sự hợp tác hai chiều Truyền hình tìmthấy những khả năng to lớn của phim tài liệu trong việc định hướng dư luận xãhội Còn những nhà làm phim tài liệu thấy ở truyền hình các điều kiện đảm bảocho phim tài liệu phát huy được năng lực Những lợi thế vượt trội của truyềnhình như khả năng thông tin nhanh, gọn, chính xác đã tác động tới tư tưởng vàtình cảm của công chúng một cách mạnh mẽ nhờ sự kết hợp giữa hình ảnh và

âm thanh

1.4.2.1 Các thể loại phim tài liệu truyền hình

Phim tài liệu truyền hình dược chia làm ba nhóm: chân dung, phóng

sự, chính luận và nhằm vào ba đối tượng là: con người, sự kiện, vấn đề.

Cả ba nhóm thể loại này thường có sự giao thoa, hoà nhập và hỗ trợ lẫn nhau

- Phim tài liệu chân dung: “được xây dựng theo loại hình phim tài

liệu khoa hoc, phim truyện Trong phim tài liệu chân dung, tác giả phải tôn trọng các sự kiện trong thời gian, không gian lịch sử, nhưng có quyền giới thiệu những nhân vật có thực ấy theo cách nhìn và cách hiểu của riêng mình “

Trang 37

- Phim phóng sự tài liệu: “được xây dựng trên những hình ảnh ghi

chép về người thực việc thực theo một đề tài xác định Mặc dù có thể có khác biệt trong quan điểm tác giả, phim phóng sự tài liệu phải đảm bảo yếu

tố chân thực, nhờ đó phim phóng sự có giá trị như một tư liệu lịch sử”

- Phim thời sự: phim được xây dựng trên cơ sở chất liệu là người

thực, việc thực, có giá trị tư liệu lịch sử, được phát trên phương tiện truyền thông để biết những sự việc xảy ra hàng ngày trong nước và thế giới [145]

1.4.2.2 Chức năng của phim tài liệu truyền hình

-Chức năng thông tấn và báo chí

Đây là chức năng quan trọng nhất, chi phối toàn bộ quá trình sáng tạophim tài liệu truyền hình, dẫn tới quan niệm phim tài liệu truyền hình là mộtthể loại tác phẩm báo chí truyền hình

Tính thời sự trong phim tài liệu truyền hình thể hiện qua việc phản ánh

sự kiện, vấn đề, nhân vật… hằng ngày với những thông tin nóng hổi, kịp thời,xác thực Yếu tố chính trị, phục vụ kịp thời mục đích tuyên truyền (các

sự kiện chính trị nổi bật, những ngày lễ lớn, các dịp kỷ niệm )

-Chức năng giáo dục và nhận thức

Thông qua những hình ảnh có thật về con người, đất nước, thiên nhiên,

sự kiện, sự việc, phim tài liệu truyền hình giúp khán giả truyền hình được tiếpcận và nâng cao nhận thức tư duy một cách phong phú và đa dạng thông quacác bộ phim tài liệu

-Chức năng thẩm mỹ và giá trị tư liệu lịch sử

Chức năng thẩm mỹ của phong tài liệu truyền hình thể hiện qua các hình tượng thẩm mỹ và chất thơ; thông qua các yếu tố ẩn dụ, tượng trưng,…

Phim tài liệu là một môi trường lý tưởng cho việc tiếp nhận một tác phẩmnghệ thuật Hình tượng nghệ thuật điện ảnh đi thẳng vào trực giác người xem,

dễ đem lại những cảm xúc mạnh mẽ, cả tiếng khóc lẫn tiếng cười đột khởi

Trang 38

Người xem cùng lúc bị tác động mạnh bởi hình ảnh, lời thoại, tiếng động, âmnhạc… của phim tài liệu truyền hình nên dễ khắc sâu sự kiện, nhân vật,…vào tâm thức.

Giá trị tư liệu lịch sử của phim tài liệu truyền hình nói riêng, phim tàiliệu nói chung thể hiện ở chỗ nó ghi nhận, mô tả các sự kiện, sự việc quantrọng, có ảnh hưởng đến nhiều người, nhất là những sự kiện chỉ xảy ra mộtlần hoặc những sự kiện, sự việc, con người… thuộc về lịch sử Đấy là nhữnghình ảnh không thể tái tạo được

1.4.3 Phim tài liệu Việt Nam

Ở Việt Nam, những phim thời sự-tài liệu ra đời trước Cách mạngtháng 8-1945 đều do người nước ngoài sản xuất Những thước phim tài liệu đầutiên về cách mạng hiện nay còn giữ được là những hình ảnh về ngày độc lập 2-9-1945, về cuộc mít tinh khổng lồ tại vườn hoa Ba Đình, những đoạn phim vềChủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Phạm Văn Đồng sang Pháp dự Hội nghịFontainebleau năm 1946

Từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, các nhà quayphim tài liệu đã lăn lộn trên các chiến trường ghi lại hình ảnh chiến đấu củaquân và dân ta tại nhiều nơi (chiến khu 7, 8, 9 ở Nam bộ; chiến khu Việt Bắc):

“Trận Mộc Hoá”, “Chiến dịch Cao Bắc Lạng” (1948), “Chiến dịch La Ban- CầuKè”(1950), “Trận Đông Khê”(1950), “Chiến thắng Tây Bắc”(1952), “Giữ lànggiữ nước” và đặc biệt là phim “Chiến thắng Điện Biên Phủ”(1954)

Từ sau ngày 19-3-1959, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thànhlập ngành Điện ảnh Việt Nam, phim tài liệu Việt Nam có nhiều chuyển biến,đặc biệt trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghinhận Có nhiều bộ phim tiêu biểu như: “Nước về Bắc Hưng Hải”(1959), “Đầusóng ngọn gió”(1967), “Lũy thép Vĩnh Linh”(1970), “Tiếng trống trường”(phim

Trang 39

tài liệu vô tuyến truyền hình, 1973), “Mở đường Trường Sơn”(1973-1974),

“Thành phố lúc rạng đông” (1975), “Đường dây lên sông Đà”

Trong số những phim tài liệu phản ánh trực tiếp cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước của quân và dân miền Nam, có thể kể đến: “Du kích CủChi” (1967), “Đường ra phía trước” (1969), “Những người dân quê tôi” (1970),

“Những người săn thú trên Đăk Sao” (1970), “Làng nhỏ ven sông Trà” (1971)

Về cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có những phim tư liệu ghiđược về những hoạt động, sinh hoạt của Bác ở Việt Bắc:”Hình ảnh về cuộc đờihoạt động của Hồ Chu tịch”(1960), “Tiếng gọi mùa xuân”(1968), “Bác Hồ củachúng em”(1969), “Mùa sen nhớ Bác”(1969), “Bác Hồ sống mãi”(1970),

“Chúng em nhớ Bác”(1970), “Con đường mang tên Bác”, “Nguyễn Ái

tự do” (Bungari, 1960)

Tính từ năm 1954 đến 1963, Việt Nam đã giành được 46 giả Bông senvàng, 71 Bông sen bạc trong các liên hoan phim quốc gia, 15 huy chương vàng,

7 huy chương bạc trong các Liên hoan phim quốc tế [70, tr.470]

Năm 1975, phim tài liệu chuyển dần sang chương trình phim tài liệu củađài truyền hình quốc gia, với những phóng sự dài phản ảnh những sự việc, sựkiện xảy ra hàng ngày trong nước và thế giới

Phim tài liệu về đề tài sông nước Nam bộ phản ánh văn hóa đời sống

Trang 40

vật chất tinh thần của người dân Nam bộ chỉ thực sự bùng nổ trong 10 nămtrở lại đậy với các bộ phim cĩ chất lượng như:

* Dư địa chí (Đài truyền hình Việt Nam),17 tập, mỗi tập 30 phút.

Dư địa chí truyền hình chia làm 3 bộ: Những thành phố ven sơng (7

tập), Những cánh rừng phương Nam (5 tập), Những vùng đất ven sơng

Đồng Nai (5 tập) Các tập phim do đạo diễn Mai Xuân Hịa làm chủ biên.

*Đất chín rồng (Hãng phim truyền hình thành phố Hồ Chí Minh TFS

sản xuất năm 2002), dài 18 tập, mỗi tập 20 phút

Phim tài liệu Đất chín rồng do Nguyễn Hồ làm chủ biên, đạo diễn

nghệ thuật NSND Phạm Khắc

* Mekong ký sự (92 tập), phần trên lãnh thổ Việt Nam gồm 26 tập, từ

tập 67 đến tập 92 (Hãng phim truyền hình thành phố Hồ Chí Minh TFS sảnxuất năm 2006).

Uống chung dịng nước (hợp tác quốc tế đài truyền hình quốc gia 6

nước tiểu vùng sơng Mekong, 2007)

Đặc biệt, đây là bộ phim tài liệu đầu tiên có sự phốihợp của các nước có con sông chảy qua, đó là dòngMekong, được xem là một trong những con sông lớnnhất thế giới Kết quả của bộ phim là sự hợp tác của 6nước thuộc tiểu vùng gồm Trung Quốc, Myanma, Lào,Thái Lan, Camphuchia và Việt Nam Bộ phim được khởiđộng sản xuất năm 2005 với kinh phí lên đến 2 triệuđôla Phim được khảo sát từ 6 nước và khởi quayđồng loạt, và phát sóng dồng loạt trên 6 nước Đâycũng là sự kiện quan trọng của nền điện ảnh ViệtNam, cụ thể là phim tài liệu truyền hình của Đàitruyền hình Việt Nam

Ngày đăng: 05/05/2018, 13:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anh Động (2006), U Minh cá đồng và thuỷ tộc, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: U Minh cá đồng và thuỷ tộc
Tác giả: Anh Động
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2006
2. Anh Động (2000), U Minh ong và chim, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: U Minh ong và chim
Tác giả: Anh Động
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2000
4. Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị (1984), Ca dao dân ca Nam bộ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao dân ca Nam bộ
Tác giả: Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1984
5. Bùi Đức Tịnh (1999), Lược khảo nguồn gốc địa danh Nam bộ, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo nguồn gốc địa danh Nam bộ
Tác giả: Bùi Đức Tịnh
Nhà XB: Nxb Vănnghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
6. Bùi Huy Đáp (1985), Văn minh lúa nước và nghề trồng lúa Việt Nam , Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn minh lúa nước và nghề trồng lúa Việt Nam
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1985
7. Châu Đạt Quan (1973), Chân Lạp phong thổ ký, Lê Hương dịch, Kỷ Nguyên Mới xb, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân Lạp phong thổ ký
Tác giả: Châu Đạt Quan
Năm: 1973
8. Chu Xuân Diên (2002), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2002
9. Đào Công Tiến (2003), Nông nghiệp và nông thôn những cảm nhận và đề xuất, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp và nông thôn những cảm nhận và đềxuất
Tác giả: Đào Công Tiến
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
10. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Văn hoá-Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá-Thôngtin
Năm: 2002
11. Đào Văn Hội (1971), Phong tục miền Nam qua mấy vần ca dao, Sống Mới xb, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục miền Nam qua mấy vần ca dao
Tác giả: Đào Văn Hội
Năm: 1971
12. Đặng Kim Sơn (1986), Các hệ thống sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hệ thống sản xuất nông nghiệp ở đồng bằngsông Cửu Long
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1986
13. Đặng Văn Thắng (1996), Nông cụ và ngư cụ truyền thống ở Đồng Tháp Mười. Trong Địa chí Đồng Tháp Mười, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông cụ và ngư cụ truyền thống ở Đồng ThápMười". Trong "Địa chí Đồng Tháp Mười
Tác giả: Đặng Văn Thắng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
14. Đặng Văn Thắng (2003), Nông và ngư cụ truyền thống ở Vĩnh Long.Trong Tìm hiểu văn hoá Vĩnh Long (1732-2000), Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông và ngư cụ truyền thống ở Vĩnh Long".Trong "Tìm hiểu văn hoá Vĩnh Long (1732-2000)
Tác giả: Đặng Văn Thắng
Nhà XB: Nxb Văn nghệ thànhphố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
15. Đinh Văn Liên (1998), “Văn minh sông rạch” trong văn hoá của cư dân Sài Gòn-Gia Định, Tạp chí Xưa và Nay, số 58B, tháng 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn minh sông rạch” trong văn hoá của cư dânSài Gòn-Gia Định", Tạp chí "Xưa và Nay
Tác giả: Đinh Văn Liên
Năm: 1998
16. Đỗ Quang Hưng (chủ biên) (2001), Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáoNam bộ
Tác giả: Đỗ Quang Hưng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
17. Đoàn Nô (2003), Ngư cụ thủ công chủ yếu và nghề cá ở Kiên Giang, Nxb Văn hoá-Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngư cụ thủ công chủ yếu và nghề cá ở Kiên Giang
Tác giả: Đoàn Nô
Nhà XB: NxbVăn hoá-Thông tin
Năm: 2003
18. Génibrel J.F.M (1898), Dictionnaire Vietnamien – Francais, Khai Trí xb, Sài Gòn, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dictionnaire Vietnamien – Francais
19. Hà Thắng, Nguyễn Hoa Bằng, Nguyễn Lâm Điền (chủ biên) (1997), Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vănhọc dân gian đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Hà Thắng, Nguyễn Hoa Bằng, Nguyễn Lâm Điền (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
20. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (2009), Một số vấn đề lịch sử vùng đất Nam bộ đến cuối thế kỷ XIX, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lịch sử vùng đấtNam bộ đến cuối thế kỷ XIX
Tác giả: Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2009
21. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (2009), Một số vấn đề lịch sử vùng đất Nam bộ thời kỳ cận đại, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Cần Thơ, Ngày 4-3- 2008, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lịch sử vùng đấtNam bộ thời kỳ cận đại
Tác giả: Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w