1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Văn hóa mẫu hệ người Chăm

160 503 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 29,28 MB
File đính kèm Van hoa mau he nguoi Cham.rar (27 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với các dân tộc anh em, dân tộc Chăm đã góp phần làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam phong phú và đa dạng. Thánh địa Mỹ Sơnmột trong các di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận cùng các tháp Champa cổ kính nằm dọc dải đất miền Trung, làng dệt thổ cẩm truyền thống, các làng gốm ở Bầu Trúc (Ninh Thuận), Gọ (Bình Thuận)… gắn với dân tộc Chăm đã góp phần làm giàu văn hóa đất nước trong tiến trình lịch sử văn hóa. Ngày nay trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, dân tộc Chăm cùng với các dân tộc anh em đã và đang ra sức chung tay góp phần làm nên nước Việt Nam giàu và đẹp. Tìm hiểu về văn hóa các dân tộc Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa luôn là điều cần thiết và rất được các nhà nghiên cứu quan tâm.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

NGUYỄN THỊ DIỄM PHƯƠNG

VĂN HÓA MẪU HỆ CHĂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

MS: 60.31.70

Hướng dẫn khoa học

TS PHÚ VĂN HẲN

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2009

Trang 2

MỤC LỤC

1.3 Nguồn gốc mẫu hệ của người Chăm 35

2.1 Mẫu hệ Chăm từ góc nhìn văn hóa nhận thức 39

2.2 Mẫu hệ Chăm từ góc nhìn văn hóa tổ chức cộng đồng 41

2.2.1 Mẫu hệ Chăm từ góc nhìn văn hóa tổ chức đời sống tập thể 41

2.2.2 Mẫu hệ Chăm từ góc nhìn văn hóa tổ chức đời sống cá nhân 59

CHƯƠNG III MẪU HỆ CHĂM TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 84

3.1 Mẫu hệ Chăm từ góc nhìn văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên 85

3.1.1 Trong việc ở 85

3.1.2 Trong cái mặc 87

3.1.3 Trong lao động sản xuất 88

3.2 Mẫu hệ Chăm từ góc nhìn văn hóa ứng xử với môi trường xã hội 93

3.2.1 Giao lưu với văn hóa Ấn Độ 93

3.2.2 Giao lưu với văn hóa Islam 100

3.2.3 Giao lưu với văn hóa người Việt 111

Trang 3

MỘT SỐ QUY ƯỚC VỀ CÁC TỪ TIẾNG CHĂM

ĐƯỢC SỬ DỤNG

1 Vì một số từ tiếng Chăm có nhiều cách viết, cách phiên âm khác nhau nênchúng tôi chỉ chọn một trong số các cách viết để các từ tiếng Chăm đượcdùng trong luận văn mang tính thống nhất, theo như bảng sau:

TRONG LUẬN VĂN

NGHĨA TIẾNG VIỆT

Allah/ Alla/ Ala/ Âuluah

Amư/ Ame

Bà la môn/ Bàlamôn

Binưk/ binek

Chabun/ Cabun

Chăm Bà Ni/ Bà ni/ Bani/ Bàni

Chăm pa/ Champa/ Campa

Cei/ cey

Hakim/ Hakem/ Hakêm

Ine me/ Inư mư

Islam/ Hồi/ Hồi giáo

Kate/ Katê

Mengavôm/ mengavom

Palei/ paley

Pato/ Patauw

Po Klaung Girai/ Po Klong Girai

Po Nagar/ Po Inư Nưgar/ Po Negar

Po Romé/ Pô Rômê/ Po Rome

AllahAme

Bà la mônBinekCabunChăm BaniChampaceiHakemIne me

IslamKatêMengavomPaleiPato

Po Klaung Girai

Po Nagar

Po Rome

Thượng đế (Islam)Cha

Một tôn giáoÔng cai lệ

Lễ cúng nữ thầnNgười Chăm theo đạo IslamTên vương quốc

CậuÔng cả (vùng Chăm Islam)Người đại diện cha mẹ cô dâu, chú rể

Tên một tôn giáoMột lễ hội của người ChămGia đình

Làng ChămDạy dỗ, giáo dục, giáo huấnTên một vị vua ChămThần mẹ xứ sở của người Chăm

Tên một vị vua Chăm

Trang 4

Po Sah Ine/ Po Sah Inư

Pasaih/ pà xế/ paseih

Po thang/ Po sang/ Phô Thang

Qur’an/ Koran/ Ko ran

Thang/ Sang

Po Sah Inepasaih

Po sangQur’anSang

Tên một nữ thần ChămThầy cúng

Bà chủ nhàTên bộ kinh (Islam)Nhà

2 Một số đoạn trích có các từ tiếng Chăm trong luận văn do được trích từ nhiềunguồn tài liệu khác nhau nên có các cách viết, cách phiên âm khác nhau,chúng tôi vẫn giữ nguyên

Trang 5

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

ĐH KHXH và NV : Đại học khoa học xã hội và nhân văn

ĐHQG : Đại học quốc gia

NXB KHXH : Nhà xuất bản Khoa học xã hội

NXB VHDT : Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc

NXB VHTT : Nhà xuất bản Văn hóa thông tin

Trang 6

DẪN NHẬP

Trang 7

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với các dân tộc anh em, dân tộc Chăm đã góp phần làm nên bản sắc vănhóa Việt Nam phong phú và đa dạng Thánh địa Mỹ Sơn-một trong các di sản vănhóa thế giới được UNESCO công nhận cùng các tháp Champa cổ kính nằm dọc dảiđất miền Trung, làng dệt thổ cẩm truyền thống, các làng gốm ở Bầu Trúc (NinhThuận), Gọ (Bình Thuận)… gắn với dân tộc Chăm đã góp phần làm giàu văn hóađất nước trong tiến trình lịch sử - văn hóa Ngày nay trong công cuộc xây dựng vàphát triển đất nước, dân tộc Chăm cùng với các dân tộc anh em đã và đang ra sứcchung tay góp phần làm nên nước Việt Nam giàu và đẹp Tìm hiểu về văn hóa cácdân tộc Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa luôn là điều cầnthiết và rất được các nhà nghiên cứu quan tâm

Người Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo - Polynesian, là một trong những

cư dân định cư sớm ở Việt Nam Ngày nay họ tập trung sinh sống chủ yếu ở khuvực Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tây Ninh, thành phố Hồ ChíMinh, An Giang và rải rác ở một vài tỉnh khác Người Chăm có những nét văn hóarất độc đáo và có xã hội mẫu hệ khá điển hình Đặc điểm này thể hiện và chi phốinhiều khía cạnh của đời sống người Chăm song tùy theo cộng đồng tín ngưỡng, khuvực mà mức độ tác động có khác nhau

Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về người Chăm trong lĩnhvực dân tộc, lịch sử, văn hóa và đời sống xã hội nhưng chưa có công trình khoa họcnghiên cứu sâu, cặn kẽ, có hệ thống về văn hóa mẫu hệ Chăm Mặt khác, xã hộingày nay có nhiều thay đổi đã ảnh hưởng đến những giá trị văn hóa truyền thốngcho nên đặc trưng văn hóa mẫu hệ ở người Chăm cũng đã có sự biến đổi Vì vậy,nghiên cứu, tìm hiểu “Văn hóa mẫu hệ Chăm” như một thể nghiệm kiến thức vănhóa học của chính mình đồng thời ứng dụng vào công tác nghiên cứu khoa học vàthực tiễn

2 Mục đích nghiên cứu

Văn hóa mẫu hệ đã và đang ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống xã hội ngườiChăm Tuy vậy khi nghiên cứu người Chăm các học giả trong và ngoài nước chỉ đề

Trang 8

cập đến người Chăm theo chế độ mẫu hệ nhưng vấn đề mẫu hệ chưa được phântích, làm rõ trong hầu hết các công trình khoa học về người Chăm Do vậy, trong đềtài “Văn hóa mẫu hệ Chăm” người thực hiện đặt trọng tâm tìm hiểu về văn hóa mẫu

hệ Chăm trong đời sống người Chăm một cách cụ thể Đồng thời trên cơ sở nghiêncứu, so sánh - đối chiếu, phân tích và quan sát thực tế để thấy được những biến đổitrong đời sống văn hóa mẫu hệ Chăm ngày nay, cũng như những nguyên nhân dẫnđến sự thay đổi đó Kết quả của luận văn này không chỉ nêu lên những giá trị vănhóa mẫu hệ truyền thống của người Chăm, những đổi thay của mẫu hệ Chăm trongthời kỳ hiện đại mà tác giả còn mong muốn góp phần cung cấp những cơ sở khoahọc để xây dựng định hướng phù hợp trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc vănhóa Chăm trong sự nghiệp giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay

3 Lịch sử vấn đề

Văn hóa Chăm từ xưa đến nay vẫn luôn là đối tượng thu hút các nhà nghiêncứu trong và ngoài nước

Trước năm 1945, các nhà nghiên cứu về người Chăm chủ yếu dựa vào nguồn

sử liệu Việt Nam và Trung Quốc chẳng hạn như trong Tiền Hán Thư, Hậu Hán Thư, Lương Thư, Cựu Đường Thư, Tân Đường Thư, Tống Sử, Chư Phiên chí, Lĩnh ngoại đại đáp, v.v để dựng lại sử Lâm Ấp – Hoàn Vương – Chiêm Thành Những tư liệu

sử của Việt Nam đến triều Nguyễn chủ yếu nói về việc triều cống, giao tranh, hòahiếu Những tư liệu của Trung Quốc về phong tục tập quán của người Chăm xưacũng rất hiếm hoi, rời rạc, thiếu hệ thống và thiếu tính khách quan

Người Chăm thực sự được nghiên cứu nhiều hơn từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế

kỷ XX bởi những người Pháp như J Crawford, A.Bastian, E Aymonier, H.Parmentier, E.M Durand, L.Finot, A Cabaton, Maspéro v.v và mở đầu bằng việc

tìm hiểu ngôn ngữ, văn tự Chăm Đầu tiên là J Crawford công bố tài liệu “Từ vựng Chăm” vào năm 1852 Aymonier E đã nghiên cứu tiếng Chăm và công bố cuốn

“Ngữ pháp tiếng Chăm” đầu tiên bằng tiếng Pháp năm 1889.

Năm 1906, W.Schmidt có bài xác định tiếng Chăm thuộc ngữ hệ Nam Á E.M.

Durand công bố 12 bài viết về người Chăm; E Huber tập trung nghiên cứu về văn

Trang 9

tự Chăm và công bố trong Tham cứu Đông Dương (Indochine studies) Cũng vào năm 1906, cùng với E Aymonier, A Cabaton cho xuất bản cuốn “Từ điển Pháp – Chăm” (Aymonier E et Cabaton A (1906): Dictionnaire Cam - Franςais, Paris).

Các công trình này luôn được chú ý trong việc nghiên cứu người Chăm về sau.Đầu thế kỷ XX, tiêu biểu của giai đoạn này có thể kể đến H Parmentier vớicác công trình điều tra về nghệ thuật, kiến trúc và những cuộc khai quật các khu ditích cổ Champa L Finot công bố công trình nghiên cứu về tôn giáo của Champa cổđại (1901) Năm 1927, R.C Majumdar đã xuất bản cuốn sách về lịch sử Champa

“History and culture of an Indian colonial kingdom in the Far East 2 nd -16 th centuries AD” và được nhà xuất bản Gian Publish House in lại ở Dehli năm 1985 Một năm sau, năm 1928 G Maspéro xuất bản quyển “Vương quốc Champa” (Le Royaume de Champa) dày 278 trang với nhiều tư liệu phong phú

Năm 1930, M Ner công bố về mẫu hệ Chăm “Au pays du droit maternel” Về

sau cũng xuất hiện thêm một số công trình khác nữa về mẫu hệ nhưng chỉ nhắc lạinội dung có trước Hầu hết những công trình đó đều nghiên cứu chủ yếu trên lĩnhvực ngôn ngữ, khảo cổ, điêu khắc, kiến trúc

Đến năm 1944, G Coedes viết về “Lịch sử cổ Chămpa trong khung cảnh các nước Ấn Độ hóa ở Đông Nam Á”

Vào thời gian này, ông Dương Tấn Phát, một tri huyện người Chăm ở AnPhước (nay thuộc huyện Ninh Phước, Ninh Thuận), đã sưu tập phong tục, tập quán

người Chăm biên soạn thành “Bộ luật hôn nhân Chàm” (1950).

Từ năm 1955, trên các tập san “Văn hóa Á Châu”, “Văn hóa nguyệt san” cho

đăng một số bài viết về người Chăm của một số tác giả người Việt và người Chămnhư Nghiêm Thẩm, Nguyễn Bạt Tụy, Thái Văn Kiểm, Dohamide, Dorohiêm… Một

số bài có đề cập đến người Chăm theo mẫu hệ, giới thiệu một số tập tục của ngườiChăm nhưng không có tác giả nào trình bày chuyên sâu về mẫu hệ và văn hóa mẫu

hệ Chăm

Đến năm 1967 ở miền Nam Việt Nam, “Mẫu hệ Chàm” của Nguyễn Khắc

Ngữ được xuất bản (Sài Gòn) Đây có thể xem là công trình nghiên cứu đầu tiên ở

Trang 10

nước ta về mẫu hệ Chăm nhưng thực sự công trình này chỉ nêu lên vấn đề của chế

độ xã hội mẫu hệ Chăm một cách khái quát, mang tính chất mô tả, chủ yếu chuyển

ý từ “Bộ luật hôn nhân Chàm” của Dương Tấn Phát.

Đến thập niên 70 có một số tác phẩm về người Chăm đáng chú ý như: “Đồng bào các sắc tộc thiểu số ở Việt Nam” của Nguyễn Trắc Dĩ hay “Người Chăm Hồi giáo miền Tây Nam phần Việt Nam” (1974) của Nguyễn Văn Luận Cả hai công

trình này cũng chỉ nhắc đến người Chăm theo chế độ mẫu hệ hoặc cho rằng cónhững chứng cứ về mẫu hệ của người Chăm mà không đặt trọng tâm để nghiên cứusâu hơn

Sau năm 1975, hoạt động nghiên cứu về văn hóa Chăm trở nên sôi nổi, đượccác nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhiều hơn và trở nên phong phú hơn rấtnhiều Có nhiều công trình khảo sát dân tộc học có giá trị, tổng hợp của nhiều

chuyên ngành như các bài viết của Phan Lạc Tuyên “Nông nghiệp cổ truyền của đồng bào Chăm Thuận Hải”; của Lý Kim Hoa “Vài nhận định về tín ngưỡng dân gian Chàm ở Thuận Hải” Những năm sau đó có thể kể đến “Người Chăm ở Thuận Hải” (Thuận Hải, 1989) của Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, Phan Ngọc Chiến,“Điêu khắc Chăm” của Cao Xuân Phổ, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long,

“Văn hóa Chăm” (1991) của Phan An, Phan Xuân Biên, Phan Văn Dốp đã phác

thảo một bức tranh toàn cảnh về văn hóa Chăm trong tiến trình phát triển của xã hội

Chăm, tìm hiểu cội nguồn văn hóa Chăm ngày nay Ngoài ra còn có, “Tôn giáo của người Chăm ở Việt Nam” của Phan Văn Dốp và một số công trình khác của Viện

Khoa học xã hội tại Thành Phố Hồ Chí Minh (nay là Viện Phát triển bền vững vùngNam Bộ)

Từ thập niên 90 đến nay, số lượng các công trình nghiên cứu về người Chăm

có thể kể đến Ngô Văn Doanh với “Văn hóa Chămpa”, Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp và Nguyễn Văn Diệu với “Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, “Gia đình và hôn nhân truyền thống ở các dân tộc Malayo-Polynesian” (1994) của Vũ

Đình Lợi

Trang 11

Thời gian gần đây xuất hiện công trình khoa học của một số tác giả là người

Chăm như “Nghề gốm cổ truyền của người Chăm ở Bầu Trúc- Ninh Thuận” (2001) của Văn Món, một số công trình nghiên cứu của Phú Văn Hẳn như “Đời sống văn hóa và xã hội người Chăm thành phố Hồ Chí Minh” (chủ biên- 2005), “Cơ cấu ngữ

âm và chữ viết tiếng Chăm Việt Nam và tiếng Melayu Malaysia” (2003) Mới đây,

“Danh mục thư tịch Chăm ở Việt Nam” do Thành Phần sưu tầm, tập hợp và biên

soạn có nhiều thông tin giá trị liên quan đến văn hóa, xã hội người Chăm

Đề cập đến đời sống hôn nhân gia đình người Chăm và phụ nữ Chăm có các

công trình như “Văn hóa - xã hội Chăm: nghiên cứu và đối thoại” (2003) của Inrasara; “Luật tục Chăm và luật tục Raglai” do Phan Đăng Nhật chủ biên (2003);

“Gia đình và hôn nhân của người Chăm ở Việt Nam” của Bá Trung Phụ (2001), mô

tả các loại hình và các nghi lễ gia đình, quan niệm trong hôn nhân, quy tắc và hìnhthái hôn nhân, nghi lễ đám cưới của các nhóm người Chăm theo đạo Bà la môn,Bani và Islam cũng như nói đến chế độ mẫu hệ được thể hiện trong các thành viên,trong gia đình và sự biến đổi hôn nhân gia đình người Chăm từ sau 1975 Nguyễn

Lê Minh Tấn (2005) với “Hệ thống thân tộc, hôn nhân-gia đình của người Chăm ở Tây Ninh” (trường hợp ở xã Suối Dây, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh) cho rằng

người Chăm ở Tây Ninh theo chế độ phụ hệ nhưng vẫn còn bảo lưu rất nhiều tàn dư

của chế độ mẫu hệ Phan Văn Dốp và Nguyễn Thị Nhung công bố “Cộng đồng người Chăm Hồi giáo ở Nam Bộ trong quan hệ giới và phát triển” (NXB Nông

Nghiệp, 2006) giới thiệu kết quả nghiên cứu đề án cùng tên theo hướng nghiên cứu

cụ thể vai trò người phụ nữ Chăm Ngoài ra có các bài của Lý Tùng Hiếu như

“Phận đàn ông trong chế độ mẫu quyền” (2000), “Nam quyền trong chế độ mẫu hệ

ở Việt Nam” (2009) liên quan đến “mẫu hệ”, “mẫu quyền” rất có giá trị.

Như vậy từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóaChăm trên nhiều khía cạnh: tôn giáo, đời sống, nghệ thuật, kiến trúc…v.v và ítnhiều cũng đã đề cập đến vấn đề mẫu hệ trong gia đình người Chăm Điều này đòihỏi tác giả trong quá trình thực hiện đề tài hướng đến sự chuyên sâu và toàn diệnhơn về văn hóa mẫu hệ Chăm Bên cạnh đó, những tư liệu từ các công trình nghiên

Trang 12

cứu trước có giá trị rất thiết thực trong việc tổng hợp để đi sâu hơn vào đề tài nghiêncứu này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính là người Chăm mà nội dung tập trung tìm hiểucủa đề tài là văn hóa mẫu hệ của người Chăm, văn hóa mẫu hệ Chăm đã ảnh hưởng

và tác động như thế nào trong đời sống của người Chăm

- Phạm vi thời gian nghiên cứu: nghiên cứu văn hóa mẫu hệ Chăm truyềnthống qua đó nghiên cứu đối sánh với văn hóa mẫu hệ Chăm hiện tại

- Không gian nghiên cứu: nghiên cứu về văn hóa mẫu hệ Chăm trong cộngđồng người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận làm đối tượng nghiên cứu trình bàychính, các vùng người Chăm còn lại như cộng đồng Chăm Nam Bộ, hoặc mẫu hệtrong một số cộng đồng khác sẽ được nghiên cứu để đối sánh

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Về mặt lý luận, đây là đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành Văn hóa học,tác giả tiếp cận và giải quyết vấn đề mẫu hệ trong đời sống người Chăm từ góc độvăn hóa Đề tài này sẽ góp phần bổ sung về tư liệu và làm rõ hơn về văn hóa mẫu hệcủa người Chăm và văn hóa mẫu hệ

- Xét tính thực tiễn, công trình nghiên cứu góp phần làm rõ hơn về ngườiChăm, hiểu rõ hơn về văn hóa mẫu hệ Chăm Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, donhiều tác động mà văn hóa mẫu hệ Chăm đã không hoàn toàn giống như trước nênrất cần nghiên cứu để có cách hiểu đúng vấn đề này cũng như nhận ra những biếnđổi của nó trong xã hội hiện đại, từ đó có thể giúp ích cho việc đề xuất, hoạch địnhchính sách phù hợp đặc trưng văn hóa mẫu hệ của người Chăm, góp phần bảo tồn

và phát huy bản sắc văn hóa Chăm và văn hóa Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ còn là tư liệu đóng góp cho những công trìnhkhác nghiên cứu tiếp khi tìm hiểu về những dân tộc có văn hóa mẫu hệ hoặc gợi mởnhững hướng nghiên cứu mới

Trang 13

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Người thực hiện luận văn vận dụng các phương pháp khoa học phù hợp với đềtài, cụ thể là:

Phương pháp nghiên cứu văn hóa học - là phương pháp nghiên cứu khoa họcliên ngành, trên cơ sở những tư liệu do các ngành khác (dân tộc học, sử học, ngônngữ học, tôn giáo học, nhân học văn hóa xã hội ) cung cấp, phương pháp này đặt

sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu (cụ thể là vấn đề mẫu hệ Chăm) dưới góc nhìncủa văn hóa học Đây là phương pháp chủ yếu được vận dụng để thực hiện đề tàinày

Thao tác phân tích và tổng hợp tiến hành trên tư liệu văn bản, từ kết quả cácnghiên cứu khoa học trước đó và các tư liệu thu thập được trong quá trình khảo sátthực tế tại cộng đồng người Chăm

Phương pháp so sánh - đối chiếu: được sử dụng để hệ thống các tài liệu, đốichiếu, so sánh (đồng đại, lịch đại) tìm ra những biến đổi trong văn hóa mẫu hệChăm trong xã hội hiện đại so với xã hội truyền thống, cũng như hệ thống các thôngtin, tài liệu (văn bản và thực tế) mà luận văn đưa ra có kết quả xác thực cao hơn.Phương pháp so sánh đối chiếu còn để so sánh văn hóa mẫu hệ Chăm với một sốdân tộc khác ở Việt Nam

Thao tác diễn dịch và quy nạp nhằm giải quyết vấn đề từ cái chung đến cáiriêng, cái chi tiết; từ cái cụ thể đến cái khái quát

Ngoài ra chúng tôi cũng tiến hành quan sát, tham dự, phỏng vấn một số giađình người Chăm ở xã Phan Hiệp và xã Phan Thanh, huyện Bắc Bình (Bình Thuận)vào mùa hè năm 2008 và gặp gỡ, phỏng vấn một số gia đình Chăm Islam ở xã PhúHiệp và xã Châu Phong (An Giang) vào tháng 10 năm 2007 (danh sách nhữngngười được phỏng vấn xin xem phụ lục trang 148, 149) để tìm hiểu về cuộc sốnghiện nay của người Chăm, qua đó kiểm tra, đối chiếu cũng như rút ra những thôngtin, nhận định xác thực cho nội dung nghiên cứu Trước đó, trong khoảng thời gianhọc tại khoa Du lịch từ năm 2000 đến năm 2003 cũng đã đi tham quan, tìm hiểu cácvùng văn hóa Chăm như thánh địa Mỹ Sơn, bảo tàng Chăm ở Đà Nẵng, các tháp

Trang 14

Champa như tháp Po Klaung Girai, tháp Po Nagar, tháp Po Rome, làng gốm BầuTrúc, một số gia đình dệt thổ cẩm ở Mỹ Nghiệp

Về nguồn tài liệu, ngoài các công trình khoa học đã công bố liên quan đến

người Chăm và văn hóa Chăm, tác giả luận văn chú trọng khai thác các văn bản liênquan gồm các tài liệu thuộc về lí luận, phương pháp luận về văn hóa và văn hóamẫu hệ; các bài Gia huấn ca liên quan đến giáo dục con cái, đến văn hóa mẫu hệ

Chăm như Ariya Pato Adat Kumei (Lời mẹ dạy), Ariya Muk Thruh Palei (Mẹ xứ sở) Ngoài ra, chúng tôi còn chú ý đến hai công trình nghiên cứu của Nguyễn Khắc Ngữ là “Mẫu hệ Chàm” (1967, Nhà xuất bản Trình Bầy-Sài Gòn) và “Luật tục Chăm và luật tục Raglai” do Phan Đăng Nhật (chủ biên) (2003, Nhà xuất bản Văn

hóa dân tộc - Hà Nội) Bên cạnh đó chúng tôi còn khai thác nguồn tài liệu từ cáctrang web trên internet

Nguồn tư liệu điền dã như quan sát, ghi chép, phỏng vấn, điều tra thực địa(một số gia đình ở xã Phú Hiệp và xã Châu Phong (An Giang) vào tháng 10 năm

2007 và một số gia đình người Chăm ở huyện Bắc Bình (Bình Thuận) vào năm2008) để hiểu rõ hơn những biến đổi trong văn hóa mẫu hệ của người Chăm trongcộng đồng Chăm hiện nay so với trước đó và so với dân tộc khác cũng theo mẫu hệ.Danh sách những người được phỏng vấn xin xem phần phụ lục trang 148, 149

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảochính, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chương này mang tính lý luận, là nền tảng lý thuyết giúp người thực hiệnnghiên cứu các chương tiếp theo Chương này còn trình bày tóm lược về đời sốngkinh tế, văn hóa, xã hội của người Chăm và các nhóm cộng đồng Chăm hiện nay ởViệt Nam

Chương 2: MẪU HỆ CHĂM TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA NHẬN THỨC

VÀ VĂN HÓA TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG

Trang 15

Chương này nói về văn hóa mẫu hệ từ góc nhìn văn hóa nhận thức và văn hóa

tổ chức cộng đồng trong đời sống cá nhân của người Chăm như trong tín ngưỡng,phong tục, nghệ thuật và trong tổ chức đời sống tập thể như trong gia đình, dòngtộc, cộng đồng làng xã

Chương 3: MẪU HỆ CHĂM TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI

Trình bày văn hóa mẫu hệ thể hiện trong ăn, mặc, ở và lao động sản xuất củangười Chăm Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày sự giao lưu ảnh hưởng giữavăn hóa mẫu hệ Chăm với văn hóa Ấn Độ, văn hóa Islam và văn hóa người Việt

Trang 16

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trang 17

1.1 Một số vấn đề về lý luận

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Khởi đầu là định nghĩa của E.B.Tylor trong cuốn Văn hóa nguyên thuỷ (Primitive culture) xuất bản ở London năm 1871, và từ đó cho đến nay đã có rất

nhiều định nghĩa khác nhau Vào năm 1952, hai nhà nhân học người Mỹ là A.Kroeber và C Kluckhohn đã viết một cuốn sách chuyên bàn về các định nghĩa văn

hóa nhan đề: Văn hóa - tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa (Culture:

a critical review of concepts and definitions), trong đó đã dẫn ra và phân tích 164

định nghĩa về văn hóa Trong lần xuất bản thứ hai của cuốn sách này, số định nghĩavăn hóa đã tăng lên đến trên 200 Còn hiện nay thì số lượng định nghĩa về văn hóakhó biết chính xác được: có người bảo là 400, có người nói là 500, lại có người chorằng đã lên đến con số nghìn [Trần Ngọc Thêm 2000: 54]

Nếu giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của

nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật ), nếu theo nghĩa rộng, văn hóa thườngđược xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra Năm 1940, Hồ ChíMinh đã viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mớisáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và cácphương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Vănhóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó màloài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sựsinh tồn" [Hồ Chí Minh 1995: 473]

Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: "Đối với một số người,văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo;đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc nàykhác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng,phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồngquốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm

1970 tại Venise" [dẫn theo Trần Ngọc Thêm 2004: 20] Thuật ngữ “văn hóa” sử

Trang 18

dụng trong công trình này được xem xét theo nghĩa rộng và chúng tôi xin chọn địnhnghĩa văn hóa sau đây để vận dụng trong đề tài nghiên cứu này:

“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm

2004: 25]

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng chúng tôi thấy định nghĩanày không những có khả năng bao quát được khá nhiều cách tiếp cận khác nhau vềvăn hóa, cách hiểu khác nhau về văn hóa, mà còn có thể cho phép ta nhận diện đượcmột hiện tượng văn hóa và phân biệt nó với những hiện tượng khác không phải làvăn hóa - từ những hiện tượng phi giá trị, những giá trị tự nhiên thiên tạo, cho đếnnhững giá trị nhân tạo chưa có tính lịch sử Định nghĩa này xem văn hóa như một

hệ giá trị Tính hệ thống là một yêu cầu quan trọng, nó đòi hỏi phải xem xét mọi giátrị văn hóa trong mối quan hệ mật thiết với nhau Do đó, dựa trên định nghĩa này,chúng tôi sẽ tiếp cận văn hóa mẫu hệ Chăm như một hệ thống, xem xét dưới gócnhìn của văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử với môi trường tựnhiên và môi trường xã hội, từ đó nhận diện những biến đổi trong văn hóa mẫu hệChăm hiện nay Do vậy, sử dụng định nghĩa này chúng tôi có thể tiếp cận được vănhóa mẫu hệ Chăm một cách toàn diện và đầy đủ nhất

1.1.2 Các khái niệm mẫu hệ và văn hóa mẫu hệ

Thuật ngữ “mẫu hệ” (tiếng Anh là “matrilineal”, theo từ điển Encarta thì

“matrilineal” nghĩa là thừa kế và truyền nối theo dòng nữ “inherited or tracedthrough the women’s line of descent”) Mặc dù nhiều nhà nhân học biết đến thuậtngữ này qua công trình nghiên cứu của J.J.Bachofen và L.H Morgan nhưng thật rathuật ngữ “mẫu hệ” được sử dụng lần đầu tiên bởi E.B.Tylor vào năm 1896, trong

một bài báo có tựa đề “Hệ thống gia đình mẫu hệ”

Trong quyển “Mẫu quyền” (1861), một trong những cuốn sách đầu tiên nghiêncứu về lịch sử gia đình, Bachofen cho rằng: “Loài người thoạt đầu tiên sống trongnhững quan hệ tính giao bừa bãi, những quan hệ như thế làm cho không thể nào biết

Trang 19

được chắc chắn ai là cha đẻ nên huyết tộc chỉ có thể xác định theo nữ hệ-theo mẫuquyền-và tất cả các dân tộc cổ đại lúc đầu tiên ở trong tình trạng như thế… Vì vậynhững người đàn bà, với tư cách là mẹ, tức là người duy nhất chắc chắn đã sinh rathế hệ trẻ, đã được tôn kính và có uy tín đến cao độ” [dẫn theo Engels 1971: 208].Theo ý kiến của Bachofen thì “sự tôn kính và uy tín đó đạt đến mức trở thành sựthống trị hoàn toàn của nữ giới”

Thế kỷ thứ V, IV trước công nguyên các học giả Hy Lạp cổ đại đã nêu lênthuyết phụ quyền nguyên thủy cho là từ nguyên thủy đã có phụ quyền và chế độ phụquyền từ nguyên thủy tồn tại mãi cho đến ngày nay Lại có người như Móc-phay(1960), Kunov (1913) cho rằng trong quá trình phát triển lịch sử, lúc đầu loài ngườitrải qua phụ quyền, về sau phụ quyền mới nhường chỗ cho mẫu quyền Cũng cóngười cho rằng mẫu quyền và phụ quyền là hai con đường phát triển song song độclập với nhau như Xti-nơ, Lô-uy, Mec-dớc, Gơ- rép-ne [Phan Hữu Dật 1973: 259].Hoặc theo Edward Westermarck (1862 - 1939), nhà dân tộc học và xã hội học Phần

Lan, giáo sư đại học ở Henxinki và Luân Đôn (nổi tiếng với tác phẩm "Lịch sử hôn nhân của loài người") cho rằng chế độ một vợ một chồng là phương thức hôn nhân

gia đình sớm nhất trong xã hội nguyên thủy, đồng thời phủ nhận hiện tượng tạp hôn

và chế độ mẫu hệ

Đến giữa thế kỷ thứ XIX, nhờ những công trình nghiên cứu của Bachofen, M.Lennan, Morgan thì các thuyết trên mới bị đánh đổ Quan điểm lớn, chủ yếu nhấtcủa Morgan là phát hiện ra chế độ mẫu quyền tồn tại trước phụ quyền, Engels viết:

“sự phát hiện đó cũng có ý nghĩa như thuyết tiến hóa của Darwin đối với sinh vậthọc” Theo Britanica Micropedia “Dưới ảnh hưởng của thuyết tiến hóa của CharlesDarwins và một phần trong công trình của nhà sử học và dân tộc học người Thụy SĩJ.J Bachofen và Lewis H Morgan sống vào thế kỷ XIX, người ta cho rằng mẫu hệ

đã kế tục thời kỳ quần hôn và có trước thời kỳ phụ hệ trong tiến trình phát triển của

xã hội loài người Mẫu hệ là một hình thái tổ chức xã hội được hình thành trong xãhội nguyên thủy- thời kỳ sớm của lịch sử phát triển xã hội loài người, khi con ngườinhận thức được sự cần thiết phải từ bỏ tập tục quần hôn và bắt đầu có ý thức về

Trang 20

dòng họ bởi tập tục quần hôn khiến cho người ta không xác định được chính xáccha của đứa bé là ai, trong khi đó huyết thống phía mẹ thì hoàn toàn được xác định

rõ Mẫu hệ là sự nhận thức về dòng họ trong quá trình hình thành cộng đồng theonguyên lý cùng dòng giống (co-descent) “Theo nguyên lý này, những người docùng một bà mẹ sinh ra (cùng huyết thống mẹ) luôn có một sợi dây liên kết chặtchẽ Trong xã hội nguyên thủy, dưới hình thức quần hôn, người cha không có nhiềutrách nhiệm cũng như sự ràng buộc với gia đình, con cái, còn người mẹ là ngườisinh con ra, nuôi nấng, dạy dỗ con cái từ lúc còn nhỏ cho đến lúc trưởng thành Từ

đó hình thành nên những thị tộc mẫu hệ là “tập thể ngoại hôn của những người cùng

huyết thống tính theo dòng mẹ, tự giác về sự thống nhất của mình theo tên gọi chungcủa thị tộc, trong các nghi lễ tôtem giáo và là một đơn vị kinh tế - xã hội của xã hộinguyên thuỷ, tìm thấy ở nhiều tộc người trong nhiều giai đoạn khác nhau của xã hộichưa có giai cấp chẳng hạn như ở một bộ phận thổ dân Úc, ở người Mêlanêdi(Mélanésie), ở thổ dân Bắc Mĩ, … v.v Đặc điểm của xã hội mẫu hệ là người phụ nữgiữ vai trò quan trọng trong sản xuất, trong đời sống gia đình và ngoài xã hội” [Báchkhoa toàn thư điện tử]

Nhà bác học người Anh J.M Lenan (1827-1881), trong cuốn “Hôn nhân nguyên thủy”, khi tìm hiểu những tập quán đã từng tồn tại một cách phổ biến trong

các nền văn hóa khác nhau như cưới trộm, hôn nhân ngoại tộc (ngoại tộc hôn), hônnhân đa phu (người phụ nữ lấy nhiều chồng), đã coi đó là những đặc điểm củanhững thị tộc theo dòng mẹ [dẫn theo J.M Lenan 1865: 35] Theo J.M Lenan thì

“do chế độ nhiều chồng nên người ta chỉ biết ai là mẹ đẻ đứa bé chứ không biếtđược ai là cha nó: do đó mà huyết tộc chỉ tính theo bên nữ, chứ không tính theo bênnam được Đó là chế độ mẫu quyền” [dẫn theo Engels 1971: 209] Tác giả này cũng

đã thừa nhận chế độ huyết tộc theo mẫu quyền là chế độ có trước tiên: “Vì chế độngoại tộc hôn và chế độ nhiều chồng đều do cùng một nguyên nhân duy nhất là sựchênh lệch về số lượng giữa nam và nữ mà ra cho nên ta phải nhận định rằng tất cảcác chủng tộc ngoại tộc hôn hồi khởi thủy đều có chế độ nhiều chồng Cho nênchúng ta phải coi là không thể tranh cãi được rằng chế độ thân tộc đầu tiên ở các

Trang 21

chủng tộc ngoại tộc hôn là chế độ chỉ biết có quan hệ huyết tộc về đằng mẹ” [dẫntheo Engels 1971: 210]

Như vậy, quan điểm của các nhà khoa học theo thuyết tiến hóa thì chế độ mẫu

hệ chính là dấu vết của xã hội mẫu quyền thời xa xưa Có những cộng đồng có lịch

sử mẫu hệ cận đại dưới áp lực của hiện đại hóa và của phân công lao động xã hội,

đã chuyển sang phụ hệ Như vậy, với đa số các cộng đồng xã hội hiện đại, mẫu hệ làmột “giai đoạn” trong lịch sử phát triển của nó, mà những dấu tích vẫn còn xuấthiện dưới hình thức này hay hình thức khác

Trong “Bách khoa toàn thư về nhân học xã hội và văn hóa” (1996) thì xác định “Mẫu quyền là chỉ tới sự thống trị của các thành viên nữ trong xã hội, và mẫu hệ là cách tính dòng dõi về phía mẹ”[dẫn theo Thu Nhung Mlô 2000: 52]Cũng trên quan điểm đó F Engels cho rằng “rõ ràng là một khi đã có chế độquần hôn thì dòng dõi chỉ xác định được về bên mẹ mà thôi, và vì vậy chỉ có nữ hệ

là được thừa nhận” [Engels 1971: 242], vì vậy ông quan niệm chế độ mẫu quyền làchỉ huyết tộc về phía mẹ, những người cùng họ hàng trong cùng một thị tộc mớiđược kế thừa và tài sản được trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ,con cái của người đàn ông chết đi lại không thuộc về thị tộc của người đó, màthuộc về thị tộc của mẹ “vì trong hình thức gia đình đó, người ta không thể biết rõngười cha một cách chắc chắn, nên người ta chỉ kể đến mẫu hệ mà thôi, lại vì anh

em trai không được quyền lấy chị em gái mình làm vợ mà chỉ có thể lấy một ngườiđàn bà thuộc dòng họ khác thôi, cho nên theo chế độ mẫu quyền, các con cái donhững người vợ dòng họ đó đẻ ra đều không thuộc thị tộc Do đó chỉ có những concháu của những người con gái của một thế hệ là vẫn ở trong tập đoàn thị tộc màthôi Còn con cháu của những người con trai thì sang thị tộc những người mẹ củachúng” [Engels 1971: 291] và “Việc chỉ thừa nhận có huyết tộc theo mẫu hệ vàcác quan hệ thừa kế đã phát triển cùng với thời gian từ tình hình đó Bachofen gọi

là mẫu quyền” [Engels 1971: 242]

Như vậy, khái niệm mẫu hệ và mẫu quyền là khác nhau Trên cơ sở nghiêncứu xã hội mẫu hệ của nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới, các nhà khoa hoc đã

Trang 22

xác định mẫu hệ là cách tính dòng dõi theo phía mẹ; quyền thừa kế tài sản, quản lýtài sản và con cái đều được truyền lại cho con cháu của người phụ nữ Quyền này

có khi chỉ thể hiện ở việc lấy họ mẹ đặt cho con cái gọi là mẫu tính hoặc ngườiđàn ông về ở nhà vợ gọi là mẫu cư Còn mẫu quyền thì đi xa hơn, quyền hành giađình và xã hội nằm trong tay nữ giới, thủ lĩnh là nữ giới Mẫu quyền được hìnhthành không phải chỉ do chế độ quần hôn mà còn do nhiều nguyên nhân khác nhưvai trò của người phụ nữ trong sản xuất kinh tế, sự phân công lao động giữa nam

và nữ bởi trong kinh tế trồng trọt nguyên thủy thì người phụ nữ giữ vai trò chính,làm những nhiệm vụ chính “kinh tế hái lượm bao giờ cũng nằm trong tay nữ giới”[Phan Hữu Dật 1973:53], còn nam giới thì đi săn bắt

Thuật ngữ mẫu hệ hay mẫu dòng, mẫu quyền đều gợi đến một giá trị lịch sử

truyền thống hơn là hiện đại, và thường được dùng để mô tả những cộng đồng,những xã hội xa xưa, truyền thống mà ngày nay càng trở nên hiếm hoi Những xãhội như thế giờ đây chỉ còn dấu vết hay tồn tại rất ít, như ở người Musuo 摩摩 ởTrung Quốc, đảo dân Minicoy ở phía bắc Maldives, cộng đồng người Nair ở bangKerala phía Nam Ấn Độ, cộng đồng người Tojolabalians (một nhóm người Mayan)sống ở Ciapas, tộc người Minangkabau ở Indonesia…

Ngoài ra ở một số tộc người ở các vùng Tây Tạng, Nêpan, nam Ấn Độ vàSrilanka, phía Bắc Nigeria và Bắc Camơrun…còn tồn tại tục đa phu, người phụ nữđược phép chọn nhiều chồng

Ở Việt Nam, chế độ mẫu hệ phổ biến ở một số tộc người cư trú ở Nam Trung

Bộ - Tây Nguyên như tộc người Chăm, Êđê, Raglai, Jarai và ở các tộc người cư trú

ở Nam Tây Nguyên như K’ho và M’nông

Tuy nhiên theo Encyclopedia Britannica thì “theo quan điểm của các nhà khoahọc theo thuyết tiến hóa cho mẫu quyền như là một giai đoạn trong lịch sử phát triển

xã hội trên toàn thế giới thì nay quan điểm này đang bị nghi ngờ, hiện nay nhiềungười cho rằng một xã hội thật sự mẫu quyền, hoàn toàn mẫu quyền 100% chưa từngtồn tại trong lịch sử” [Britannica]

Trang 23

Do vậy, xã hội mẫu hệ của các dân tộc trên thế giới được thể hiện khá phongphú và đa dạng Tùy theo từng địa phương, từng dân tộc mà vai trò và quyền hànhcủa người phụ nữ được thể hiện khác nhau nên việc thừa kế và quản lý tài sản, concái hoặc hình thức cư trú sau hôn nhân có những nét khác nhau Chẳng hạn, ởngười Minangkabau ở Tây Sumatra tài sản của ông bà vẫn chuyển giao cho dòng

nữ nhưng “Người phụ nữ không đứng ra quản lý tài sản này mà nó lại được giao cho anh trai của người ấy… ông ta quản lý tài sản bên mẹ và được truyền lại cho các cháu trai là con của chị em gái mình”[dẫn theo Thu Nhung Mlô 2000: 23]

Bộ lạc Goajiro - Arawak ở Columbia và Venezuela với khoảng 60.000 ngườisống ở Nam Mỹ thì cha và dòng họ bên cha được ghi nhận nhưng không quan trọnglắm Con sinh ra lúc đầu sống với mẹ, sau đó một người chị gái hay em gái củangười mẹ (đứa bé gọi là dì) sẽ nuôi cháu gái, còn 1 người anh trai hoặc em trai của

mẹ sẽ nuôi những đứa cháu trai Như vậy dù đứa trẻ là trai hay gái thì cũng đượcnuôi dưỡng và lớn lên trong dòng tộc bên mẹ

Với người Musuo 摩 摩, một dân tộc có dân số khoảng 50.000 người sống ởYunnan, Trung Quốc tính chất mẫu hệ ở đây được thể hiện dưới nhiều hình thức,nhưng nổi bật là các tục lệ chọn bạn trai trong lễ hội, khi có con thì con sống với

mẹ, người bố chỉ được đến thăm con chứ không được ở lại v.v…

Tóm lại, mẫu hệ là việc tính theo dòng mẹ, con cái mang dòng mẹ, thừa kếtài sản theo dòng mẹ và vợ chồng sau hôn nhân cư trú phía nhà vợ Người phụ nữ

là nhân vật quan trọng trong gia đình và trong dòng họ Đặc điểm bao trùm lêntoàn bộ xã hội của các tộc người trên là vai trò nổi bật của dòng nữ (dòng mẹ).Như vậy, mẫu hệ ở đây được hiểu là một xã hội trong đó quan hệ huyết thống vàquan hệ thừa kế được tính theo dòng của mẹ

Đối với người Chăm hiện nay, Phú Văn Hẳn nhấn mạnh: “Hiện cũng không ítngười chỉ hiểu mẫu hệ Chăm theo nghĩa đen là một chế độ mà đàn bà nắm quyền,trong đó có quyền bắt rể và các con cái phải lấy họ mẹ Điều này không hoàn toànđúng, vì thực tế đối với người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận, con gái đếntuổi trưởng thành đều đi hỏi con trai làm chồng, con trai đi ở rể và các con đều

Trang 24

theo theo huyết thống dòng họ mẹ, song đối với người Chăm Nam Bộ thì con traiphải đi hỏi vợ, có thể ở rể hoặc không, nhưng các con đều phải theo huyết thốngdòng họ cha” [Phú Văn Hẳn 1996: 12] Ngoài ra nét đặc sắc trong văn hóa mẫu hệChăm còn thể hiện trong nhiều khía cạnh của đời sống văn hóa xã hội người Chăm

ở nhiều mức độ đậm nhạt khác nhau mà có đi sâu tìm hiểu mới thấy được hết cáiđộc đáo và cái hay đó

Văn hóa mẫu hệ có thể được hiểu như là hệ thống những giá trị văn hóa do conngười trong xã hội mẫu hệ sáng tạo ra, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên

và xã hội mẫu hệ, từ đó tác động và chi phối cách ứng xử và giao tiếp của các thành

viên trong cộng đồng xã hội mẫu hệ đó Thuật ngữ “văn hóa mẫu hệ Chăm” được

sử dụng trong công trình là muốn nói đến những giá trị văn hóa mẫu hệ của ngườiChăm ở Việt Nam và mục đích của đề tài là nghiên cứu đặc trưng mẫu hệ đã thểhiện hay chi phối như thế nào đến các mặt trong đời sống của người Chăm từ phạm

vi cá nhân, phạm vi gia đình đến phạm vi xã hội

1.2 Định vị văn hóa Chăm

1.2.1 Chủ thể văn hóa

Dân tộc Chăm là con cháu của cư dân Champa cổ, là một trong những dân tộc

cư trú lâu đời trên mảnh đất Việt Nam

Theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Quyền thì người Chăm là một giống laigiữa các giống Mông Cổ, giống thượng Indonesian, giống Mã lai và giống ẤnAngen Sự lai giống này khiến người Chăm có nước da sáng, thân hình trung bình1,6m, tóc hơi gợn sóng, mặt gần với kiểu phương Tây [Nguyễn Quang Quyền1978: 103]

Trong “Văn hóa Chăm”, các tác giả cho rằng đó là cư dân ở các quần đảo

Nam Trung Quốc xuống vùng đất liền Đông Dương rồi từ đó di cư ra hải đảo ĐôngNam Á [Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp 1991: 9]

Theo Trần Ngọc Thêm, vào thời đồ đá giữa (khoảng 10.000 năm về trước) cómột dòng người thuộc đại chủng Mongoloid từ vùng Tây Tạng thiên di về phíaĐông Nam, tới Đông Dương thì dừng lại Tại đây đã diễn ra sự hợp chủng giữa họ

Trang 25

với cư dân Melanésien bản địa, dẫn đến kết quả là sự hình thành chủngIndonésien Từ cuối thời đá mới, đầu thời đại đồ đồng, trên cơ sở sự chuyển biến

từ loại hình Indonésien bản địa dưới tác động của việc tiếp xúc thường xuyên vớiđại chủng Mongoloid từ phía Bắc, đã hình thành một chủng mới là chủng Nam Á.Trong khi đó, ở phía Nam, dọc theo dải Trường Sơn, vẫn là địa bàn cư trú củangười Indonésien…Đó là tổ tiên của người Chàm, Raglai, Êđê, Churu, …v.v.Ngôn ngữ của nhóm người này cũng duy trì được nhiều nét tương đồng với ngônngữ của cư dân các hải đảo [dẫn theo Trần Ngọc Thêm 2004: 55-56]

Học giả Kern và Maitre đã xếp người Chăm cùng chung nhóm với dân tộc

Êđê, Jarai, Churu, Raglai Đây là con cháu của những di dân từ Thế giới đảo đến.

Người Chăm nói tiếng Mã lai - Đa đảo, viết chữ Chăm và viết cả chữ Phạn(Sanskrit) Ấn Độ mà chúng ta còn thấy được trên các bi ký Trải qua nhiều lần,nhiều hình thức cải tiến, hình thành nên bộ chữ Chăm akhar thrah ngày nay

Ông Stephen Oppenheimer một bác sĩ người Anh, trong công trình nghiên cứu

được ghi trong quyển sách “Ðịa đàng ở phương Đông” đã khẳng định rằng: Tổ tiên

Champa đã có mặt tại dải đất miền Trung Việt Nam ngày nay từ thiên niên kỷ thứ 2trước công nguyên và có thể họ là một mắt xích trong mạng lưới giao thương trảirộng trên biển (vì có bao lơn nhô ra biển) thuộc thời đại đồ đồng thau [StephenOppenheimer 2005 : 156]

Những phát hiện về khảo cổ học gần đây đề cập đến chủ nhân của nền văn hóa

Sa Huỳnh có thể là tổ tiên của người Chăm và của các dân tộc thuộc cư dân Malayo

- Polynesian ở Việt Nam ngày nay Cách đây 2.500 năm tức vào khoảng từ thế kỷthứ II đến thế kỷ thứ VI đã có tổ tiên người Chăm sống ở vùng phía Nam châu thổsông Mã (Bình Trị Thiên) [Lương Ninh 2006a: 10]

Như vậy, theo những đúc kết nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước thì vềmặt nhân chủng người Chăm thuộc nhóm loại hình Nam Á, tiểu chủng Mongoloidphương Nam, đại chủng Mongoloid và xét về ngôn ngữ thì tiếng Chăm thuộc đạichi Malayo - Polynesian (Mã Lai - Đa Đảo), ngữ hệ Austronesian (Nam Đảo)

Trang 26

Nhiều ý kiến cho rằng Chăm = Champa, và Champa cổ là một nhà nước tập

quyền như kiểu nhà nước Đại Việt xưa Có ý kiến cho rằng, trong lịch sử có sự kiệnngười Chăm thống trị Tây Nguyên hoặc các vua Champa đều là dân tộc Chăm Đếnnay, nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất về một nhận định rằng Nhà nước Champađương thời không phải là Nhà nước tập quyền, mà là một quốc gia theo chế độ mẫu

hệ Quốc gia Champa tồn tại trong lịch sử không phải là một quốc gia thống nhất,độc lập mà là một "liên bang", gồm các tộc người mà người Chăm là đa số và ởtrình độ phát triển kinh tế, xã hội cao hơn [Phú Văn Hẳn 2006: 20]

với cấu trúc cân đối,

tinh xảo trong việc sử

Ở Việt Nam nếu người Chăm chia theo khu vực cư trú thì gồm có 3 nhómchính như sau :

Hình 1: Thánh địa Mỹ Sơn- một trong những di sản văn hóa thế giới của Việt Nam Ảnh: Nguyễn Thị Diễm Phương (2000)

Trang 27

Nhóm 1: Gồm người Chăm cư trú từ Nha Trang trở ra, thường được gọi là

người Chăm Hroi Hiện nay nhóm người Chăm này có 21.287 người1, trong đó cưtrú ở Phú Yên là 16.664 người, Bình Định 4.393 người và Khánh Hòa 200 ngườisống tập trung ở huyện Vân Canh (Bình Định) và Đồng Xuân, Sơn Hồ, Sông Hinh(Phú Yên), cư trú phân bố dưới chân dãy núi Trường Sơn, hai bờ thượng lưu sông

Đà Rằng và trên cao nguyên Vân Hòa

Người Chăm Hroi nói tiếng Chăm nhưng không còn lưu truyền chữ viết cổ(akhar thrah) như người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận cũng như không dùngchữ viết theo mẫu tự Arab như Chăm Nam Bộ Bà con ở đây cùng duy trì một xãhội mẫu hệ truyền thống như người Chăm ở nơi khác, song không theo đạo Bà lamôn và Islam (Hồi giáo)

Chăm Hroi không theo

tục hoả táng như người Chăm

ở Ninh Thuận, Bình Thuận mà

chỉ tín ngưỡng đa thần và gắn

với các tập tục truyền thống

Người Chăm Hroi còn duy trì

một nền âm nhạc dân gian

Chăm cùng với các nhạc cụ cổ

truyền như bộ chiêng, bộ trống

(nhạc gõ) mang âm điệu độc

đáo riêng Phong tục tập quán

của Chăm Hroi có nhiều nét tương đồng với văn hóa của một số dân tộc TâyNguyên [Phú Văn Hẳn 2005:17]

Nhóm 2: Gồm người Chăm cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận Lâu nay, các

nhà khoa học trong và ngoài nước chủ yếu tập trung nghiên cứu nhóm người Chămnày Điểm nổi bật đầu tiên được nhiều người biết đến đó là những ngôi thápChampa cổ mà mỗi tháp đều mang lối nghệ thuật độc đáo riêng như Po Yang

1 Theo thống kê dân số 1/4/1999 – thống kê dân số 2009 chưa cập nhật được vì vào thời điểm này chưa được công bố chính thức

Hình 2: Người Chăm Hroi ở Sơn Hòa (Phú Yên) đang đánh cồng chiêng

Ảnh: Thành Nam

Trang 28

Pakrang (Ba Tháp), Po Klaung Girai, Po Rome, Po Dam, Po Sah Ine (Phú Hài) Sau năm 1975, nhiều tháp Champa đã được trùng tu hoặc đang được tiến hành trùng

tu Các tháp là niềm tự hào của người Chăm và là nơi thu hút du khách đến chiêmngưỡng nhất là vào dịp lễ hội Katê (Kate) mà dân tộc Chăm hàng năm tổ chức ở cáctháp vào ngày mồng một tháng 7 Chăm lịch

Nhóm 3: Người Chăm Nam Bộ

Hiện có khoảng 24.288 người, đông nhất là ở An Giang (12.435 người), rồiđến thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Kiên Giang, BìnhDương… Người Chăm cư trú quây quần bên cạnh những thánh đường Islam(Masjid, Surau) Người Chăm Nam Bộ cùng nguồn gốc với người Chăm ở miềnTrung, do nguyên nhân lịch sử, nhiều người Chăm đã di cư sang Campuchia,Malaysia, Thái Lan, Indonesia vào những thế kỷ trước Cuối thế kỷ XVIII và đầuthế kỷ XIX, một bộ phận người Chăm ở Campuchia mâu thuẫn với một nhóm ngườiKhmer bản địa nên đã đến ở An Giang và Tây Ninh

Hình 3: Tháp Po Klaung Girai ở tỉnh Ninh Thuận

Ảnh: Nguyễn Thị Diễm Phương (2000)

Trang 29

Vào những năm 1940, biên giới luôn có chiến tranh nên nhiều gia đình ngườiChăm ở đây đã bán ruộng đất và tài sản riêng để di cư vào Sài Gòn - Gia Định -Chợ Lớn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) để tìm yên ổn và lập kế sinh nhai Sau đó,

một số khác đã di cư đến lập nghiệp

ở Xuân Lộc (Đồng Nai) và PhúRiềng (Bình Phước)

Hình 4: Thánh đường Hồi giáo ở xã Châu Phong, An Giang

Ảnh Nguyễn Thị Diễm Phương (2007)

Trang 30

Hầu hết người Chăm Nam Bộ đều theo đạo Islam và lấy kinh Qur'an làm kim

chỉ nam cho mọi hoạt động tín ngưỡng của mình, thực hiện thống nhất 5 nền tảngcăn bản của Islam Hầu hết người Chăm Nam Bộ đều ở nhà sàn Nhiều ngôi nhà vàthôn xóm được hình thành ven bờ sông, rạch, kênh, mương Các khu cư trú củangười Chăm Nam Bộ đều có thánh đường Nhiều thánh đường lớn, có lối kiến trúcmang màu sắc Ấn Độ và Ả Rập, có thánh đường đã được Bộ văn hóa công nhận là

di tích kiến trúc quốc gia Người Chăm Nam Bộ vẫn còn làm nghề đánh cá thủ côngtrên sông và đa số sống bằng nghề buôn bán nhỏ Phụ nữ Chăm An Giang đều biết

dệt xà rông, dệt kama, thêu khăn, đanlưới phục vụ nhu cầu ăn mặc theo truyềnthống Chăm [Phú Văn Hẳn 2005: 20]

Tóm lại, người Chăm ngày nay là con cháu của cư dân Champa cổ Hiện nay

người Chăm cư trú trong các palei (hoặc puk) thuộc các tỉnh Bình Định, Phú Yên,Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh,Tây Ninh và An Giang

Do cư trú ở nhiều vùng khác nhau, nên mức độ giao lưu, tiếp xúc với văn hóacủa các dân tộc khác cũng khác nhau, mỗi vùng cư trú của người Chăm trên cơ sở

Hình 5: Bên trong thánh đường Mubarak (An Giang)

Ảnh: Nguyễn Thị Diễm Phương (2007)

Trang 31

văn hóa của mình cùng với những ảnh hưởng, tác động của bên ngoài đã hình thànhnên những sắc thái văn hóa rất đặc sắc.

1.2.2 Không gian văn hóa

Theo sử liệu Trung Quốc, vương quốc Champa được hình thành vào cuối thế

kỷ thứ hai công nguyên (năm 192) với tên gọi đầu tiên là Lâm Ấp (192-758), sau đóđổi tên thành Hoàn Vương (758-866), và cuối cùng là Champa (866 về sau) Lãnhthổ của vương quốc Champa cổ trải dài từ đèo Ngang thuộc tỉnh Quảng Bình đếnlưu vực sông Đồng Nai Bao gồm đồng bằng ven biển, cao nguyên và miền núi.Vương quốc Champa được chia thành 4 châu (vốn xưa là những tiểu quốc khácnhau), đó là: Amaravati (tương ứng với khu vực từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi màQuảng Nam là trung tâm), Vijaya (tương ứng với khu vực Bình Định, Phú Yên),Kauthara (tương ứng với khu vực Khánh Hòa), Panduranga (tương ứng với khu vựcNinh Thuận, Bình Thuận) Vương quốc Champa trải qua nhiều triều đại, ban đầuđóng đô ở Sinhapura (Trà Kiệu, Quảng Nam), sau dời sang Indrapura (ĐồngDương, Quảng Nam), rồi vào Vijushia và Sudra (âm Hán-Việt gọi là thành Đồ Bàn

ở An Nhơn, Bình Định) [Trần Ngọc Thêm 2004: 425]

Kế thừa di sản độc đáo của văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chăm nói chung vàvăn hóa mẫu hệ Chăm nói riêng tất yếu còn là sản phẩm tổng hòa của cả nguồnảnh hưởng khu vực và nguồn bản địa Trước hết, xét về bối cảnh địa lý- khí hậu thìngười Chăm sống trên dải đất hẹp miền Trung, giữa một bên là dãy Trường Sơncao vút và bên kia là biển Đông sâu thẳm, tạo cho khí hậu, thổ nhưỡng đồng bằngTrung Bộ tương phản, khắc nghiệt Ngay từ xa xưa người Chăm đã làm nên nhữngcông trình trị thủy, hệ thống thủy lợi phục vụ cho tưới tiêu Đập Nha Trinh là côngtrình thuỷ lợi nổi tiếng của người Chăm xưa, ngày nay vẫn tiếp tục tưới nước cho

cả một cánh đồng rộng lớn ở vùng Phan Rang (Ninh Thuận) Ngoài ra, họ đã thuầndưỡng được giống lúa không cần nhiều nước được gọi là “lúa Chiêm” NgườiChăm ngày nay sống chủ yếu bằng nghề nông: làm ruộng, làm nương rẫy, chănnuôi trâu, bò, heo và dùng trâu bò để kéo cày [Phú Văn Hẳn: 17] Như vậy, “tuymang bản chất dương tính, nhưng lại sống trong một vùng Đông Nam Á nông

Trang 32

nghiệp cho nên người Chăm không thể không hấp thụ những ảnh hưởng của vănhóa khu vực mà đặc trưng điển hình là thiên về âm tính trong cố gắng đạt đến sựhài hòa âm dương, với triết lý âm dương trong nhận thức và tục sùng bái sinh thựckhí trong tín ngưỡng” [Trần Ngọc Thêm 2004: 428]

Người Chăm trước kia còn vươn ra khơi với nghề đi biển, đánh cá Chính yếu

tố không gian này đã tác động đến kinh tế và tình cảm, theo Nguyễn Khắc Ngữ thìđây là hai trong số bốn nguồn gốc dẫn đến văn hóa mẫu hệ của người Chăm[Nguyễn Khắc Ngữ 1967: 28-33] Do gần biển, người đàn ông thường đi biển vắngnhà nên con cái gần gũi mẹ hơn cha Mặt khác, trong bối cảnh vùng Đông Nam Ánông nghiệp nên người phụ nữ có vai trò quan trọng trong kinh tế gia đình, cụ thể lànông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) và thủ công (làm gốm, dệt thổ cẩm)

1.2.3 Thời gian văn hóa

Tiến trình văn hóa dưới các bước tiếp biến và giao lưu văn hóa thì khó có thểphân biệt được tách bạch, rõ ràng từng giai đoạn nhưng xét một cách khái quát cóthể nhận diện tiến trình văn hóa Chăm thành 4 lớp văn hóa như sau:

Lớp văn hóa bản địa và khu vực:

Do đặc điểm cư trú là dải đất miền Trung nắng gió, thiên nhiên khắc nghiệtnên con người phải vật lộn với thiên nhiên, điều này đã tạo cho người Chăm mộttính cách cứng rắn và cương nghị, thượng võ nghĩa là mang “bản chất dương tính”[Trần Ngọc Thêm 2004: 428] Mặt khác, người Chăm cũng sống trong vùng ĐôngNam Á nông nghiệp mang loại hình văn hóa gốc nông nghiệp: trọng tình cảm,trọng văn, trọng phụ nữ, trọng âm nên văn hóa Chăm cũng không nằm ngoàinhững ảnh hưởng của văn hóa khu vực là hài hòa âm dương nhưng có phần thiên

về âm tính Văn hóa mẫu hệ Chăm cũng bắt nguồn từ lớp văn hóa này

Lớp văn hóa ảnh hưởng Bà la môn giáo và Phật giáo của Ấn Độ

Người Ấn Độ vượt biển đến ngày càng nhiều để mua trầm hương và vàngcủa Champa Ảnh hưởng của Ấn Độ đối với văn hóa Chăm khá mạnh mẽ trongkhoảng từ thế kỷ VII đến hết thế kỷ XV Mặc dù xã hội Ấn Độ vốn theo phụ hệ và

Bà la môn giáo vốn là tôn giáo thiên về người đàn ông, trọng nam và cho dù chịu

Trang 33

ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ mạnh mẽ thì văn hóa mẫu hệ của người Chăm vẫn tiếptục tồn tại, “nhìn bề ngoài thì nguồn ảnh hưởng Ấn Độ có vẻ nổi bật nhất, nhưngthực chất thì lại là nguồn bản địa và khu vực mới giữ vai trò quan trọng” [TrầnNgọc Thêm 2004: 444]

Thực tế, hiện nay người Chăm không biết gì nhiều về Bà la môn giáo Đa số

người Chăm ở Ninh Thuận - Bình Thuận theo tục hoả táng (gọi là Cam Cuh) và một

bộ phận khác ít hơn bao gồm người Chăm ở Palei Ia la-u và Palei Ia Banguk (NinhThuận) và Kinh cựu (Bình Thuận) không theo đạo nào Bộ phận này thờ phượngthần linh và thờ cúng ông bà tổ tiên của mình hơn là tuân thủ giáo lý Bà la môn[Phú Văn Hẳn: 18]

Ngoài ra, Phật giáo vào thế kỷ IX du nhập vào Champa [Trần Ngọc Thêm2004: 426], tuy cũng có nhiều chùa Phật và những văn bia nói về giáo lý nhà Phật rađời nhưng vai trò, tác động và ảnh hưởng của Phật giáo ở Champa, cụ thể là đếnvăn hóa mẫu hệ Chăm không mạnh mẽ bằng Bà la môn giáo

Lớp văn hóa ảnh hưởng Islam

Sự tiếp xúc Islam trên xứ sở Champa khá sớm vào khoảng thế kỷ thứ X, hoặctrễ lắm cũng vào thế kỷ XIV - XV Người Chăm theo đạo Islam chia thành hai bộphận là Chăm Islam và Chăm Bani Bộ phận người Chăm Bani hiện cư trú ở tỉnhNinh Thuận, bộ phận Chăm Islam gồm cộng đồng người Chăm ở Nam Bộ, mộtphần ở Ninh Thuận và hiện nay cũng đang phát triển ở Bình Thuận Hai bộ phậnBani và Islam thực hiện giáo luật Hồi giáo và sinh hoạt tôn giáo hoàn toàn độc lậpvới nhau

Về mặt nguồn gốc tôn giáo thì cả Chăm Bani và Chăm Islam đều có chung tínngưỡng tôn giáo Islam, song do quá trình phát triển người Chăm Bani vừa gắn vớitín ngưỡng tôn giáo Islam đồng thời cũng gắn với các yếu tố truyền thống ở địaphương Còn Chăm Islam, do đã tiếp xúc với người Islam ở Malay, ở Nam Dương(nay là Malaysia, Indonesia ) và người Islam ở một số nước khác nên sinh hoạt tôngiáo Islam của bộ phận này khá thống nhất như người Islam ở các nước trong khuvực và thế giới Islam đã du nhập vào cộng đồng Chăm từ lâu đời và ngày càng ảnh

Trang 34

hưởng vào nền văn hóa Chăm Người Chăm Islam hiện nay chủ yếu sinh sống ởNam Bộ Họ có nguồn gốc từ các tỉnh miền Trung của Champa cổ (Ninh Thuận,Bình Thuận) Năm 1471, đông đảo người Chăm đã rời bỏ quê hương để ra nướcngoài và quá trình Islam hóa đã diễn ra mạnh mẽ Khi rời vùng đất Champa, mốigắn kết với truyền thống Ấn giáo dần trở nên lỏng lẻo vì thế khi sang Chân Lạp,Xiêm La, Malacca… người Chăm được tiếp xúc với những người Mã Lai Islam vốntrước đây đã có quan hệ khá mật thiết với họ cho nên mối quan hệ càng trở nên gắnkết hơn Hơn nữa, người Chăm lại có cùng nguồn gốc nhân chủng và cùng ngữ hệMalayo - Polynesian với cộng đồng Islam gốc Indonesia và Malaysia Vì thế nênkhi lập nghiệp thì cộng đồng Chăm ở An Giang, và tiếp đó là những người Chăm từ

An Giang đến sinh sống ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ đã có mối quan hệ khákhắng khít về tôn giáo, về xã hội, về huyết thống với người Malaysia Mối quan hệcủa người Chăm Islam với cộng đồng Islam gốc Indonesia và Malaysia càng đượccủng cố bởi ngay tại Nam Bộ và Sài Gòn, người Indonesia và Malaysia cũng đã cómặt từ khá sớm Đến nửa cuối của thế kỷ XIX, khi Nam Kỳ rơi vào tay thực dânPháp thì việc giao thương với thế giới bên ngoài càng phát triển, và những ngườiIndonesia và Malaysia theo đạo Islam đến định cư ở Sài Gòn đã tăng lên đáng kể[Phú Văn Hẳn (chủ biên) 2005: 62]

Trong quá trình du nhập, tồn tại và phát triển Islam trong cộng đồng ngườiChăm thì văn hóa mẫu hệ Chăm trong quan hệ tương tác cũng chịu sự ảnh hưởng,tác động từ Islam và ngược lại

Lớp văn hóa giao lưu với văn hóa Việt và các dân tộc khác:

Từ cuối thế kỷ XVII lãnh thổ Champa và dân tộc Chăm đã hòa hợp dần vàoViệt Nam Chăm - Việt tiếp nhận văn hóa lẫn nhau Ngoài những đặc trưng văn hóaIslam và ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ tôn giáo thì hiện nay trong sinh hoạt tín ngưỡngcủa cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận đã xuất hiện đạo Thiên Chúa, Tin Lành

và Bà Hai… nhưng số lượng không nhiều

Ngày nay ngoài cộng đồng người Chăm ở Việt Nam - hiện nay chủ yếu cư trú

ở các tỉnh An Giang, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Ninh

Trang 35

Thuận-còn có các cộng đồng người Chăm ở Campuchia, Thái Lan, Indonesia… Tuy nhiên,Việt Nam vẫn là chiếc nôi đầu tiên và là nơi mà truyền thống văn hóa của họ pháttriển liên tục cho đến ngày nay Mỗi cộng đồng địa phương của người Chăm hìnhthành nên nhiều sắc thái đặc thù mang tính khu vực địa phương khác nhau Bêncạnh đó, trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa thì những giá trị văn hóatruyền thống cũng có những biến đổi Tuy vậy, văn hóa tộc người Chăm vẫn bảo lưutruyền thống văn hóa mẫu hệ và truyền thống văn hóa mẫu hệ thể hiện trên nhiềukhía cạnh của đời sống người Chăm cho đến tận ngày nay

Người Chăm ngày nay do sinh sống bên cạnh các dân tộc anh em nên sự giaolưu văn hóa qua lại diễn ra thường xuyên Người Chăm để lại nhiều dấu vết và ảnhhưởng đến văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, văn hóa Khmer ở Nam Bộ và ngượclại Truyền thống mẫu hệ của các dân tộc như Ê đê, Jarai và một số dân tộc khác cònlưu lại nhiều dấu vết mẫu hệ được cho là có sự ảnh hưởng mẫu hệ truyền thống củangười Chăm và ngược lại Người ta có thể tìm thấy nhiều nét tương đồng trongphong tục cưới hỏi, làm nhà ở, lao động sản xuất của người Khmer, trong văn hóaChăm Nam Bộ cũng như một số tập tục của người Tây Nguyên, một số thần linhcủa người Tây Nguyên và người Chăm đều được người Chăm và các dân tộc TâyNguyên thờ phượng

1.3 Nguồn gốc mẫu hệ của người Chăm

Về nguồn gốc của chế độ mẫu hệ Chăm, Nguyễn Khắc Ngữ xét đến 4 yếu tốchính: nguồn gốc lịch sử, chính trị - kinh tế, nguồn gốc nhân chủng và yếu tố tìnhcảm [Nguyễn Khắc Ngữ 1967: 28-33]

Về nguồn gốc lịch sử, theo truyền thuyết, dân tộc Champa tôn xưng nữ thần PoNagar là “Thần mẹ của xứ sở”, người đã khai sáng ra giang sơn gấm vóc của dântộc Champa Po Nagar là nữ thần khai hóa dân tộc Champa, dạy cho họ biết phép trịnước an dân, biết phương cách sản xuất lúa chiêm, lúa nước, biết cách dẫn thủynhập điền để phát triển kinh tế và cách thức trồng bông dệt vải, mang đến cho dântộc Champa một cuộc sống ấm no, sung mãn Nguyễn Khắc Ngữ đã đặt ra giả thiết:Phải chăng vì nhân vật đầu tiên khai sáng ra non sông Champa là một nữ thần nên

Trang 36

dân tộc Champa từ trong quá khứ của cội nguồn, đã đón nhận chế độ mẫu hệ và kéodài đến ngày nay?

Nguyễn Khắc Ngữ còn cho mẫu hệ Chăm là do yếu tố kinh tế - chính trị Theoông, người Chăm trước đây giỏi nghề đánh cá, đi biển Dải đất miền Trung vớiđường bờ biển dài, thuận lợi cho việc đi buôn và đánh bắt hải sản, nghề này lại phùhợp với đàn ông nên họ thường đi xa và phải vắng nhà cho nên người phụ nữ có vaitrò rất quan trọng, họ quán xuyến và quyết định mọi việc trong gia đình

Bên cạnh đó, Nguyễn Khắc Ngữ còn xét đến nguồn gốc nhân chủng của ngườiChăm, tác giả này cho rằng "Người Chăm, theo các nhà khảo cổ, vốn là giống dòng

Mã Lai Đa đảo, một vùng thuộc văn minh hải đảo nhận ảnh hưởng văn hóa Ấn Hồi mà hiện nay vẫn còn theo chế độ mẫu hệ Họ di cư sang miền Nam Trung phần

-và Nam phần nhiều thế kỷ trước Tây lịch, mang theo -và bảo vệ mọi phong tục, tậpquán cùng chế độ gia đình mẫu hệ của họ" [Nguyễn Khắc Ngữ 1967: 30]

Yếu tố cuối cùng được Nguyễn Khắc Ngữ đề cập đến là yếu tố tình cảm Bởingười cha thường vắng nhà, mẹ là người mang nặng đẻ đau, sống gần gũi và chămsóc dạy dỗ con cái nên tình cảm của các con tập trung vào mẹ là chính và con cáithường thương yêu mẹ hơn cha

Theo Inrasara (ngườiChăm) thì nguồn gốc nhân chủng, văn minh mới là nhân

tố quyết định và ông cho rằng có không ít dân tộc trước đó theo mẫu hệ, sau mớichuyển sang phụ hệ trong khi đó người Chăm vẫn giữ được mẫu hệ từ xưa cho đếnbây giờ Tuy nhiên ông không đưa ra minh chứng gì thêm và ý kiến này cũng khôngkhác với nhận định của nhiều nhà nghiên cứu về người Chăm trước đó

Thiết nghĩ, cả bốn yếu tố trên đều góp phần tạo nên nguồn gốc mẫu hệ Chămnhưng yếu tố quan trọng và chi phối mạnh mẽ nhất là nguồn gốc lịch sử và nguồngốc nhân chủng Vì theo quan niệm của người Chăm quốc mẫu Po Nagar là người

có công lao to lớn tạo lập nên nước Champa, nên điều này đã tác động sâu sắc đếnniềm tin và tín ngưỡng của người Chăm Mặt khác, khi Bà la môn giáo và Islam dunhập thì xã hội mẫu hệ hay những dấu ấn của xã hội mẫu hệ vẫn tồn tại mặc dù haitôn giáo này đều xây dựng trên cơ sở phụ hệ Như vậy mẫu hệ không phải sản phẩm

Trang 37

văn hóa Bà la môn giáo hay Islam giáo mang đến đây mà mẫu hệ phải tồn tại lâu dàibền vững trước khi tiếp xúc văn hóa Ấn Độ Như vậy phải chăng mẫu hệ từ giốngdòng Mã Lai Đa Đảo, khi di cư đến đây người xưa đã mang theo và hình thành nênnhững thị tộc mẫu hệ, họ tiếp tục bảo lưu, duy trì và dấu ấn đó vẫn còn được gìn giữcho đến ngày nay

Theo Phú Văn Hẳn, “người Chăm vốn là cư dân đề cao tín ngưỡng thờ mẫu từlâu đời Thờ phụng Thiên Ya Na-Po Nagar ở Nha Trang hoặc ở Ninh Thuận là mộtminh chứng, kết hợp với quá trình phát triển về sau khi ngày càng tiếp xúc với vănhóa Việt, văn hóa của người Kinh đồng hành với văn hóa phụ hệ là lý do ngườiChăm đề cao mẫu hệ như là cách thức để văn hóa Chăm đặc thù trong lòng văn hóaViệt Nam, đa dân tộc Hơn nữa, trong chế độ xã hội mẫu hệ, người Chăm cảm thấy “an toàn” hơn về huyết thống bên mẹ (có nghĩa là các con là con do mẹ sinh ra,chắc chắn hơn)” Bachofen cũng đã chỉ rõ “Những người đàn bà, với tư cách là mẹ,tức là người duy nhất chắc chắn đã sinh ra thế hệ trẻ, đã được tôn kính và có uy tínđến cao độ” [dẫn theo Engels 1971: 208] Với nhận định này phần nào đã lí giải sựtồn tại mẫu hệ và văn hóa mẫu hệ của người Chăm hiện nay

Trang 38

CHƯƠNG II MẪU HỆ CHĂM TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA NHẬN THỨC VÀ VĂN HÓA TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG

Trang 39

2.1 Mẫu hệ Chăm từ góc nhìn văn hóa nhận thức

Con người nông nghiệp luôn mong muốn cho mùa màng bội thu nên họ luônquan tâm đến sự nảy nở của hoa màu và con người Vì hoa màu tốt tươi thì cuộcsống mới sung túc, và cuộc sống nông nghiệp thì định cư, trồng lúa mang tính thời

vụ rất cao do vậy rất cần sức người, gia đình đông đúc thì càng tốt, càng thêm lợi

Mà sự sinh sản của con người thì do hai yếu tố: mẹ và cha, còn sự sinh sôi của hoamàu cũng là do đất và trời Đây chính là sự khái quát hóa đầu tiên trên con đườngdẫn tới triết lý âm dương

Người Chăm và các dân tộc khác ở nước ta vốn là cư dân gốc nông nghiệpsống trong hoàn cảnh của nghề trồng lúa thường xuyên tiếp xúc với những cặp đốilập khác như “úng - hạn”, “nắng - mưa”, “nước - lửa” v.v nên quan niệm vũ trụluận là âm dương tương khắc, tương sinh Âm và dương luôn gắn bó mật thiết vớinhau, vận động và chuyển hóa cho nhau Tư tưởng âm dương là sản phẩm trừutượng hóa từ ý niệm và ước mơ của cư dân nông nghiệp, tư tưởng này thể hiện rõqua việc mọi thứ thường đi đôi theo hướng âm dương hài hòa: cha & núi = dương,

mẹ & nước = âm, chẳng hạn như khi thỉnh đá để làm bia kut ở người Chăm cũngtheo triết lý này Nghi thức thỉnh đá để làm bia kut rất công phu Bia kut chính -quan trọng nhất (bia giữa, còn gọi là kut Po Inư Nưgar) sẽ lấy đá từ bờ biển - biểutượng mẹ biển, cũng là biểu tượng lòng mẹ như biển cả Đá lấy từ sông hoặc suốidùng làm bia kut cho đàn bà (biểu tượng cho âm, mang ý nghĩa mẹ sông), đá lấy từnúi làm bia kut cho đàn ông (cha như núi) Ngoài ra, lối tư duy cặp đôi - dấu vết củatriết lý âm dương ở thời khai nguyên cũng hiện lên như : người Chăm có hai tộc làtộc cau (đặc, dương) và tộc dừa (rỗng, nước, âm) [Trần Ngọc Thêm 2004 : 112]Tuy quan niệm quân bình âm dương nhưng đó cũng không phải là sự quânbình tuyệt đối mà là sự quân bình trên cơ sở thiên về âm tính Những từ ghép chỉcác cặp âm dương cơ bản, thiết yếu thường có cấu tạo theo thứ tự ưu tiên âm trướcdương sau, mẹ trước, cha sau Trong các thuật ngữ cũng thể hiện điều này Trongthuật ngữ thân tộc ở người Chăm cư trú tại Ninh Thuận và Bình Thuận, theo MahMod, đặc biệt được nhấn mạnh ở phần đặc tính “mẫu hệ”, thể hiện rõ ở phần

Trang 40

“kamuôn phí” tức là cháu đích tôn, con gái út của em gái hoặc chị gái Ego NgườiChăm có câu thành ngữ sau đây để chỉ mối quan hệ của những người này:

“Mik wa tada kamuan”

Nghĩa là “cậu, dì, bác (anh chị của mẹ) là ngực của cháu”, tức là ruột thịt Nhưvậy mối quan hệ này là mối quan hệ liên đới cả vật chất lẫn tinh thần giữa cậu, dì,bác (anh chị của mẹ) và cháu gái út, và người con gái út đó có quyền lợi và nghĩa vụđối với gia đình và tộc họ - “Giàu út hưởng, khó út lo”

Ngoài ra, theo Trần Ngọc Thêm, một biểu hiện của triết lý âm dương đó chính

là các biểu tượng âm dương vuông – tròn lồng vào nhau, có thể thấy qua nghệ thuậtđiêu khắc, kiến trúc ở các tháp Chăm qua các hình tượng yoni - linga (vuông - tròn),cha Trời (tròn), mẹ Đất (vuông) Bên cạnh đó, quan niệm chuộng số lẻ cũng là mộtbiểu hiện của triết lý âm dương [Trần Ngọc Thêm 2004 :422] Người Chăm khi làmnhà, các số đo trong thiết kế nhà ở cũng thường là các số lẻ, số bậc cầu thang cũng

là bậc lẻ

Trong văn hóa dân gian của người Chăm cũng xuất hiện những ứng dụng củatriết lý ngũ hành chẳng hạn như “người Chăm coi phía Bắc là nơi của người chết(nghĩa địa), phía Nam là của người sống, phía Tây là của ma quỷ, phía Đông là củathánh thần” [Trần Ngọc Thêm 2004: 139] Bên cạnh đó, một trong những bằngchứng cho thấy nhận thức bước đầu về cấu trúc không gian của vũ trụ ở ngườiChăm thời xưa cũng mang dấu vết của nhận thức về ngũ hành của người dân nôngnghiệp phương Đông như: Vua Bhadravarman, vào cuối thế kỷ thứ IV, đầu thế kỷthứ V ngoài tôn kính Siva thì các bi ký cho biết nhà vua còn dành sự thành kính củamình cho “Mahesvara (Siva), Uma…Brahma, Visnu, Đất, Gió, Khoảng Không vàLửa” [dẫn theo Ngô Văn Doanh 1994: 12]

Nghiên cứu về các bài văn mà các chức sắc cộng đồng người Chăm thườngđọc mỗi khi tế lễ hay cúng kỵ, mở đầu lời cầu nguyện vẫn là “Po Yangmư – PoNagar” Po Yangmư chỉ dụ cho một thượng đế tối thượng và Po Nagar được biểutrưng cho Bà mẹ xứ sở, sự kết hợp hài hòa giữa Po Yangmư – Po Nagar sẽ kiến tạocho cuộc sống được êm đềm và phồn thịnh

Ngày đăng: 04/05/2018, 15:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w