1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn thành phố long xuyên, tỉnh an giang

72 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 698,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng bộ cơ sở: nòng cốt là Ban chấp hành Đảng bộ là hạt nhân chính trị, trực tiếp thực hiện vai trò lãnh đạo thông qua việc triển khai, đề ra các chủ trương, đường lối, nghị quyết định

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ NGỌC LOAN

VAI TRÒ C ỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TRONG VI ỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO B ỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

LONG XUYÊN T ỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ NGỌC LOAN

VAI TRÒ C ỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TRONG VI ỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO B ỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

LONG XUYÊN T ỈNH AN GIANG

Ngành: Chính sách công

Mã số: 8340402

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LƯU MINH VĂN

HÀ NỘI, 2021

Trang 3

M Ở ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xóa đói, giảm nghèo luôn là vấn đề khó khăn và là những thách thức mang tính toàn cầu; không những thế xóa đói, giảm nghèo luôn làm ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội và ổn định chính trị của mỗi quốc gia Nếu vấn đề đói nghèo không được giải quyết tốt thì những mục tiêu, nhiệm vụ mà cộng đồng quốc tế,

quốc gia đã đặt ra như: hòa bình, ổn định, phát triển kinh tế và công bằng xã hội cũng sẽ bị ảnh hưởng Do đó, vấn đề xóa đói giảm nghèo là một trong những vấn đề chiến lược của từng quốc gia trong đó có Việt Nam Những thành tựu giảm nghèo

tại Việt Nam trong thời gian qua đã được quốc tế ghi nhận và đánh giá cao

Thực hiện chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác xóa đói, giảm nghèo, trong những năm qua thành phố Long Xuyên

đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm

Đầu năm 2016, thành phố Long Xuyên có 1.567 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 2.14% Qua nhiều năm phấn đấu với sự quyết tâm cao của hệ thống chính trị từ thành phố đến cơ sở với nhiều chủ trương, chính sách, cách làm có hiệu quả nên tỉ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo giảm đáng kể Qua kết quả rà soát, cuối năm 2020 thành phố Long Xuyên còn 19 hộ nghèo với tỷ lệ 0.03%; hộ cận nghèo có 2.114 hộ với 7.323 nhân khẩu, tỷ lệ 2.87%

Để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị đối với công tác giảm nghèo, Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Chỉ thị số 06-CT/TU ngày 31/3/2016 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác an sinh xã hội và

giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 Trên cơ sở Chỉ thị của Ban Thường vụ Thành ủy, ngày 12/4/2016, UBND thành phố ban hành kế hoạch số 54/KH-UBND ngày 12/4/2016 về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 tiến tới xóa hộ nghèo vào cuối năm 2020 với mục tiêu cụ thể như: đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh hộ nghèo mới, từng bước cải thiện và nâng cao điều kiện sống của người nghèo, tập trung mở rộng thực hiện xã hội hóa đối với công tác giảm nghèo, triển khai thực

Trang 4

hiện đồng bộ các chính sách an sinh xã hội; tăng cường khả năng tiếp cận các dịch

vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở… cho người nghèo tiến tới xóa nghèo bền vững

Nhìn chung, trong thời gian qua việc bố trí nguồn lực cho công tác giảm nghèo đã được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện, việc lồng ghép, phối hợp sử dụng các nguồn lực đã được áp dụng thực hiện khá đồng bộ và chặt chẽ đảm bảo

thực hiện kịp thời các chính sách hỗ trợ Nổi bật từ các nguồn vận động của cả hệ thống chính trị cơ sở đã góp phần lớn trong việc tổ chức thực hiện các dự án hỗ trợ cho người nghèo, trong giai đoạn 2016-2020, thành phố đã vận động hỗ trợ số tiền trên 43 tỷ đồng để hỗ trợ cho người nghèo, cận nghèo

Vì vậy, trong thời gian tới, để đạt được mục tiêu giảm nghèo bền vững, cần phải có sự quan tâm của toàn xã hội Với thực trạng nói trên đặt ra cho thành phố Long Xuyên nhiều khó khăn, thách thức và là trở ngại trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Long Xuyên lần thứ XI Trước tình hình đó, tác giả nghiên cứu đề tài:

“Vai trò của Hệ thống chính trị cơ sở trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang” làm đề tài Luận văn

Thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Công tác xóa đói, giảm nghèo từ khi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia

về công tác giảm nghèo năm 2016 cho đến nay đã có rất nhiều hướng dẫn, chỉ đạo,

kế hoạch, chương trình hành động về thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo Nhiều hội nghị sơ, tổng kết quá trình thực hiện chương trình quốc gia giảm nghèo

của từng giai đoạn, từng vùng, khu vực từ Trung ương đến địa phương trong phạm vi cả nước được thể hiện qua các văn bản quy định pháp luật, kế hoạch, báo cáo của Đảng, Chính phủ, văn kiện các kỳ Đại hội Đảng các cấp

Ngoài ra, các cơ quan, tổ chức có liên quan còn có các báo cáo, đánh giá về tác động, hiệu quả thực hiện của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo như: Đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và Chương trình

Trang 5

Quốc (UNDP); Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện CTMTQG XĐGN (2005)

của Ủy ban các vấn đề xã hội; Báo cáo phân tích điều tra cơ bản Chương trình

135-II (2008) của Ủy ban Dân tộc UNDP; Báo cáo đánh giá các mô hình phát triển sản xuất giảm nghèo bền vững và xây dựng cơ chế quản lý trong xây dựng và nhân rộng

mô hình (2013) của Tạ Hữu Nghĩa, Nguyễn Tiến Tới, Phạm Thị Mỹ Dung

Giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ của toàn xã hội, giảm nghèo bền vững không phải là nhiệm vụ riêng của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội hay của ban, ngành, đoàn thể nào khác mà là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị và toàn dân ta Muốn thực hiện thành công việc giảm nghèo bền vững, tất cả mọi cán

bộ, đảng viên, chính quyền đều phải quan tâm cùng giải quyết, thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ và phải có sự tham gia của toàn thể cộng đồng, nhằm triển khai thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn thành phố, để đảm bảo đúng tiến độ và đạt mục tiêu, chỉ tiêu Nghị quyết đại hội Đảng bộ thành phố Long Xuyên lần thứ XI nhiệm kỳ (2016-2020) để đến cuối năm 2020 Long Xuyên cơ bản không còn hộ nghèo theo chỉ tiêu Nghị quyết Đảng bộ đề ra

Thành phố Long Xuyên đã đưa ra những điểm mới cần thực hiện như tập trung vào những địa bàn khó khăn nhất, thực hiện giảm nghèo theo tiêu chí đa chiều đồng thời lấy chỉ tiêu thu nhập là chính, ngoài ra cần xác định mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin; các phương pháp hỗ trợ cần tập trung chuyển đổi từ việc cấp phát sang hỗ trợ có điều kiện để góp phần nâng cao ý thức của hộ nghèo Nhà nước chỉ hỗ trợ những gì người dân không làm được, Nhà nước không làm thay mà phải đề ra những giải pháp để hướng dẫn người nghèo thực hiện từ đó giúp hộ nghèo được thoát nghèo bền vững hạn chế thấp nhất tình trạng tái nghèo

Nhìn chung, các công trình nêu trên tiếp cận công tác xóa đói giảm nghèo và

giảm nghèo bền vững ở Việt Nam và các địa phương với nhiều gốc độ khác nhau cả

về lý luận và thực tiễn Theo hiểu biết của cá nhân tôi, cho đến thời điểm này vẫn chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề “Nâng cao vai trò hệ thống chính trị cơ

Trang 6

sở trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ vấn đề lý luận về vai trò hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

Phân tích thực trạng thực hiện vai trò của hệ thống chính trị cơ sở thành phố Long Xuyên trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

Đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của hệ thống chính trị cơ sở thành phố Long Xuyên trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

Phạm vi nghiên cứu: 11 phường và 02 xã trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Thời gian: Từ năm 2016 đến 2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong thực hiện xóa đói, giảm nghèo và giảm nghèo bền vững Sử dụng lý luận chính sách công và chính trị học về chính sách an sinh xã hội, về chính sách giảm

Trang 7

nghèo bền vững, về vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp sau: Phương pháp duy vật biện chứng; phương pháp duy vật lịch sử; phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh; phương pháp thống kê; phương pháp lịch sử-logic

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn tổng hợp và làm rõ thêm các quan điểm và lý luận về xóa đói giảm nghèo và giảm nghèo bền vững hiện nay một cách có hệ thống, trên cơ sở đó làm rõ vai trò của hệ thống chính trị trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

Đề xuất các giải pháp cơ bản để giảm nghèo một cách bền vững góp phần hoàn thiện các chính sách an sinh xã hội nói chung và hoạt động xóa đói giảm nghèo nói chung ở thành phố Long Xuyên nói riêng

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có ý nghĩa phục vụ cho

việc triển khai các chính sách về thực hiện giảm nghèo bền vững tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong thời gian tới và có thể tham khảo, vận dụng ở các địa phương có đặc điểm tương đồng với thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương, 7 tiết cụ thể như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

Chương 2 Thực trạng và giải pháp về vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ

kết hợp hữu cơ giữa tính chuyên ngành sâu và tính liên ngành, là khuynh hướng phát triển tự nhiên về tri thức luận và phương pháp luận của chính trị học, có vai trò

và đóng góp lớn cho sự phát triển tri thức về hệ thống chính trị

Trong ngôn ngữ chính trị hiện nay thuật ngữ “hệ thống chính trị” (political System) rất phổ biến, tuy nhiên về lịch sử phát triển lý luận chính trị học, thuật ngữ này là sản phẩm của chính trị học phương Tây từ nửa đầu thế kỷ XX Nó là thuật

ngữ hiện đại của chính trị học Ở Việt Nam khái niệm hệ thống chính trị bắt đầu được sử dụng chính thức từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX Cho đến nay, thuật ngữ này đã trở nên thông dụng trong hệ thống thuật ngữ chính trị ở Việt Nam Tuy nhiên, vì là thuật ngữ mới, nên chúng ta thường gặp những định nghĩa, những quan niệm khác nhau về hệ thống chính trị

Khảo cứu nhiều định nghĩa về hệ thống chính trị, có thể phân loại căn cứ vào

những tiếp cận cơ bản sau: Cách tiếp cận hẹp gồm những định nghĩa xem hệ thống chính trị về phương diện cơ cấu được giới hạn gồm những yếu tố - hệ thống các thiết chế, tổ chức Nhà nước, hệ thống đảng chính trị và hệ thống các tổ chức và

Trang 9

hiểu là “hệ thống các tổ chức xã hội mang tính chất Nhà nước và phi Nhà nước để

thực hiện các chức năng chính trị, thực hiện sự lãnh đạo, điều tiết đời sống chính trị

xã hội hoặc tham gia vào quyền lực chính trị” Ngược lại, cách tiếp cận rộng về mặt

cơ cấu của hệ thống chính trị ngoài những yếu tố được nêu trên, trong hệ thống chính trị mở rộng đến các thành tố như hoạt động chính trị, quan hệ chính trị, các thành tố thuộc về ý thức và tư tưởng (quan điểm, lý luận, học thuyết) chính trị v.v,

tức là tất cả những gì có nội dung chính trị Những định nghĩa sau phản ánh hướng tiếp cận rộng về hệ thống chính trị; “Hệ thống chính trị là tập hợp tất cả các tổ chức

và cơ quan chính trị và Nhà nước có liên quan với nhau, thể hiện cơ cấu giai cấp

của xã hội, các quan hệ chính trị của tất cả các giai cấp”

Trong phạm vi luận văn sử dụng định nghĩa sau: hệ thống chính trị là một bộ

phận của kiến trúc thượng tầng của xã hội, gồm các tổ chức, các thiết chế hợp

hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị

Theo Hiến pháp nước CHXHCNVN, hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay về

cấu trúc chiều ngang gồm, Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội gồm có: Công đoàn Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam; cấu trúc dọc của hệ thống chính trị Việt Nam gồm 4 cấp - trung ương, tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương, quận, huyện và cấp cơ sở

1.1.2 Hệ thống chính trị cơ sở

Cơ sở được nghiên cứu ở đây là khái niệm dùng để chỉ cấp thấp nhất trong hệ

thống bốn cấp với cấu trúc theo chiều dọc của hệ thống chính trị, quản lý hành chính Nhà nước ở Việt Nam hiện nay Trong các văn bản hành chính có những thuật ngữ đáng chú ý liên quan đến tên gọi của cấp, ngành Hệ thống chính trị cấp

cơ sở gồm hệ thống chính trị cấp xã, phường, thị trấn; Đồng thời trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương hệ thống chính trị cơ sở được gọi chung là hệ thống chính trị cấp xã

Trang 10

Hệ thống chính trị cơ sở làm tốt vai trò, chức năng và nhiệm vụ của mình theo đúng Hiến pháp và pháp luật, các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và cả hệ thống chính trị ở xã sẽ tham gia và đóng góp vào hoạt động chung của toàn bộ hệ thống chính trị Để làm được như vậy ngoài sự nỗ lực của bản thân cần thiết phải có

sự lãnh đạo, chỉ đạo, sự phối hợp giúp đỡ và tạo điều kiện của cấp trên một cách thường xuyên, thiết thực

Đảng bộ cơ sở: nòng cốt là Ban chấp hành Đảng bộ là hạt nhân chính trị, trực

tiếp thực hiện vai trò lãnh đạo thông qua việc triển khai, đề ra các chủ trương, đường lối, nghị quyết định hướng cho chính quyền triển khai các hoạt động quản lý, điều hành trên phạm vi địa bàn; bằng các hoạt động của đảng viên trong bộ máy chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội ở cơ sở; bằng việc giới thiệu đảng viên

ưu tú tham gia giữ các chức vụ chủ chốt trong chính quyền và các đoàn thể nhân dân; bằng công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục; bằng sự gương mẫu của đảng viên; bằng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước đối với cán bộ và đảng viên

quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi địa bàn theo Hiến pháp và Pháp luật Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở cơ sở, đại

diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng trên địa bàn theo quy định của pháp luật Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính

Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, nhiệm vụ

do cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên ủy quyền và chỉ đạo tổ chức thực hiện, đồng thời đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ tự quản tại địa phương

Trang 11

M ặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có chức năng

tuyên truyền, vận động người dân ở địa phương thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, của chính quyền cơ sở; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; chăm lo lợi ích và bảo vệ quyền lợi chính đáng của đoàn viên, hội viên Đồng thời, thực hiện chức năng giám sát, phản biện đối với hoạt động của chính quyền, đối với cán bộ, công chức, đảng viên ở cơ sở

Ngoài ra, ở cấp cơ sở hiện nay còn nhiều tổ chức, hội đoàn do người dân tự nguyện lập ra, hoạt động theo phương thức tự quản và tuân thủ pháp luật, góp phần tạo ra sự liên kết, đồng thuận trong xã hội Những tổ chức này tuy không phải là bộ

phận hợp thành hệ thống chính trị cơ sở nhưng có mối quan hệ không thể thiếu với

hệ thống này Vì vậy, nếu hệ thống chính trị cơ sở biết tạo điều kiện, phát huy sức mạnh của các tổ chức này thì sẽ tập trung sự đoàn kết, thống nhất, hợp tác, sáng tạo trong cộng đồng xã hội sẽ được nhân rộng, đem lại sự ổn định ở cơ sở, tạo ra sức mạnh lớn cho sự phát triển tại cơ sở, làm cho nền tảng xã hội của Đảng, Nhà nước

và của cả chế độ được củng cố vững mạnh ngay từ cơ sở

Như vậy, xét về cơ cấu tổ chức, hệ thống chính trị cơ sở có rất nhiều tổ chức hợp thành với vị trí, vai trò, chức năng và thẩm quyền khác nhau Củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của từng tổ chức này, cũng như các mối quan hệ giữa các

tổ chức trong hệ thống theo tư tưởng: nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong quản lý điều hành của chính quyền, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân tại cơ sở

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có tên gọi ban đầu là Mặt trận Dân tộc thống nhất

Việt Nam, do Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, được thành lập ngày 18/11/1930 MTTQVN là tổ chức liên minh chính trị, các

tổ chức chính trị- xã hội, các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư tại nước ngoài

Từ khi thành lập đến nay dưới sự lãnh đạo của Đảng và cùng trải qua các thời

kỳ hoạt động cách mạng với những tên gọi khác nhau, Mặt trận tổ quốc tập hợp, phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc của Việt Nam là một

Trang 12

nhân tố quan trọng góp phần quyết định vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị và là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương, dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động Mặt trận Tổ quốc việt Nam có vai trò tập hợp, thu hút các tầng lớp nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội; tuyên truyền động viên người dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tập hợp ý kiến, kiến nghị của người dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền với lợi ích chính đáng của nhân dân trên địa bàn

Công đoàn Việt Nam: Hiến pháp 2013 quy định: “Công đoàn Việt Nam là tổ

chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người dân lao động; chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, tham gia quản lý Nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan, quyền, nghĩa vụ của người lao động Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị, có quan hệ hợp tác với Nhà nước và phối hợp cùng các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác; hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

chính trị, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ

nữ Việt Nam

Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam từ khi thành lập đến nay đã đoàn kết, vận động, tập trung rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, trung hậu, đảm đang, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã có sự phát triển mạnh trong việc tổ chức, thu hút hội viên; có những mô hình liên kết, hỗ

trợ thiết thực, sáng tạo cho sự phát triển của các hội viên, tham gia xây dựng và phát

Trang 13

triển kinh tế gia đình, đề xuất chính sách cho Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của phụ nữ, trẻ em và thực hiện những hoạt động cho sự phát triển, bình đẳng giới của phụ nữ Việt Nam

Hội Nông dân Việt Nam: là tổ chức chính trị - xã hội của nông dân Việt Nam

do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Hội Nông dân VN là thành viên của Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam và là cơ sở chính trị của Nhà nước Việt Nam

Trong bối cảnh hiện nay, mục đích của Hội là tập hợp, đoàn kết nông dân tạo diễn đàn chia sẽ thông tin và tri thức trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, tạo sự kết nối, hỗ trợ giữa các hội viên, đồng thời đại diện và bảo vệ cho quyền, lợi ích chính đáng của hội viên trong quan hệ với các chủ thể khác của đời sống xã hội Từ

đó, tạo sự đồng thuận, sức mạnh của tổ chức, xứng đáng là lực lượng đồng minh tin cậy trong khối liên minh công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây

dựng và phát triển nông dân, nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới

Hội Cựu chiến binh Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội, là thành viên

của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, Hội

Cựu chiến binh VN là một tổ chức trong hệ thống chính trị do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủ trương của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Hội

Mục đích của Hội là tập hợp, đoàn kết, động viên các thế hệ cựu chiến binh giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống của “Bộ đội cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của cựu chiến binh, chăm lo giúp đỡ nhau trong cuộc sống

Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí

Minh là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đoàn thanh niên

cộng sản Hồ Chí Minh là thành viên của hệ thống chính trị, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Xây

dựng Đoàn vững mạnh là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng

Trang 14

Đoàn giữ vai trò chính trị nòng cốt trong việc xây dựng tổ chức và hoạt động

của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội sinh viên Việt Nam Đoàn giữ vai trò

là người phụ trách xây dựng tổ chức Đội đối với Đội Thiếu niên tiền phong

Về vai trò, chức năng của hệ thống chính trị cơ sở: đã và đang tập trung nâng

cao năng lực và hiệu quả hoạt động chính trị cơ sở xã, hệ thống chính trị có vai trò, chức năng đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở Tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị, chủ trưởng, đường lối của Đảng và Nhà nước đến nhân dân Ngoài ra, Hệ thống chính trị cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh, là cầu nối giữa đảng với nhân dân trực tiếp nắm bắt tình hình, đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào đời sống xã hội; đồng thời hệ thống chính trị cơ sở cũng chính là nơi nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của quần chúng nhân dân, nơi quần chúng nhân dân gửi gắm niềm tin, đề đạt nguyện vọng

của mình lên các cơ quan Đảng, Nhà nước

Từ những phân tích trên, có thể thấy: Hệ thống chính trị cơ sở là toàn bộ các

thiết chế chính trị như tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định nhằm thực hiện sự lãnh đạo

dân tại cơ sở

1.2 Chính sách giảm nghèo bền vững

1.2.1 Chính sách giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

Một số khái niệm liên quan

Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo động, là một trong những nguyên nhân đang trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong và phát triển của loài người Do đó, giảm đói nghèo là một trong những vấn đề cần được quan tâm của toàn cầu trong nhiều thập kỷ qua cũng như trong nhiều năm tới

và cũng là mục tiêu trong nhiều năm qua

Nghèo đói là tình trạng một bộ phận người dân không có khả năng thỏa mãn

Trang 15

triển kinh tế xã hội, phong tục, tập quán của từng vùng và những phong tục, tập quán đó đã được xã hội thừa nhận

Trong ngôn ngữ học thuật, hành chính “đói”, “nghèo” thường được dùng với

tư cách là thuật ngữ có nội hàm riêng biệt:

Đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu và thu

nhập không đủ đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì sự sống là tình trạng con người không có cái ăn, ăn không đủ dinh dưỡng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để tái sản xuất sức lao động

tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi tiêu chí của hộ nghèo Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng thu

nhập thực tế của người dân chỉ dành hầu như toàn bộ cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích lũy hầu như không có

Nghèo tuyệt đối là không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản nhưng những

nhu cầu cơ bản này lại tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục

tập quán của từng địa phương

Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức

trung bình của cộng đồng địa phương hay một nước

Xóa đói là làm cho bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và

thu nhập không đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì mức sống, từng bước nâng dần mức sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hàng ngày

sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo giảm xuống Hay nói theo cách khác,

giảm nghèo là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn

Giảm nghèo bền vững là việc kiên quyết không để tái nghèo, phải duy trì các

nguồn lực, các nhà đầu tư và các biện pháp chỉ đạo triển khai thực hiện liên tục không để tình trạng đói nghèo quay trở lại nơi chúng ta đang thực hiện quyết tâm giảm nghèo bền vững Giảm nghèo không chỉ là sự trợ giúp một chiều của tăng

Trang 16

trưởng kinh tế đối với các đối tượng có nhiều khó khăn mà còn là nhân tố quan

trọng tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho sự phát triển

Từ những nhận định nêu trên, theo tác giả “giảm nghèo bền vững được hiểu là

tình trạng dân cư đạt được mức độ thỏa thuận những nhu cầu cơ bản hay mức thu

hay mức thu nhập trên chuẩn nghèo đói ngay cả khi gặp các cú sốc hay rủi ro”,

trong đó tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có phương tiện để sản xuất, dịch vụ, bảo đảm lương thực ở từng hộ gia đình, nâng cao thu nhập bản thân, đặc biệt là tiếp cận các dịch vụ cơ bản như dịch vụ giáo

dục, y tế, nước sạch; giảm thiểu rủi ro do thiên tai, lũ lụt và tác động tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế, đảm bảo thoát nghèo bền vững, không rơi vào tái nghèo

Do cách nhìn nhận nguồn gốc nghèo khác nhau nên cũng có nhiều quan niệm

về giảm nghèo khác nhau, có thể hiểu một cách chung nhất, giảm nghèo là quá trình làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Tóm lại, giảm nghèo là một quá trình chuyển đổi từ một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn

hầu hết các quan niệm đều thống nhất quan niệm chính sách công như sau: Chính

sách công là thuật ngữ đùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang được đặt ra trong đời sống theo mục tiêu xác định

Thực hiện chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời

sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực hiện chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công

Trang 17

Giảm nghèo bền vững là việc thực hiện cải thiện đời sống vật chất, tinh thần

cho người nghèo hướng tới nâng cao nhận thức tự thoát nghèo và không để người

nghèo rơi trở lại tình trạng nghèo

Về nguyên tắc, vấn đề giải quyết nghèo nói chung cần được thực hiện trên cả hai mặt số lượng và chất lượng

Về số lượng: giảm nghèo là số tuyệt đối hộ nghèo sẽ giảm được trong một khoảng thời gian nhất định, cần phân biệt giữa số hộ nghèo giảm với số hộ thoát nghèo, hai khái niệm này chỉ thống nhất với nhau khi không có các yếu tố khác ảnh hưởng đến như dân cư di chuyển từ nơi này đến nơi khác, hộ tái nghèo…

Về chất lượng: giảm nghèo là khái niệm dùng để chỉ những kết quả đạt được của công tác giảm nghèo, mà nội dung cần đạt được là cuộc sống của người nghèo được nâng lên sau khi tiếp cận các biện pháp hỗ trợ hay nói cách khác chất lượng giảm nghèo là sự thể hiện tính bền vững của quá trình giảm nghèo

Giảm nghèo bền vững bên cạnh việc hoàn thành các chỉ tiêu giảm nghèo đã đề

ra trong từng giai đoạn Cần hướng đến việc giải quyết có hiệu quả nhất những hạn chế trong công tác giảm nghèo để tránh tình trạng tái nghèo, cải thiện tốt nhất mức thu nhập và hoàn cảnh sống của người nghèo Từng bước giúp người nghèo tự vươn lên thoát nghèo bền vững thông qua việc họ có điều kiện và cơ hội được tiếp cận các nguồn lực xã hội cơ bản để phát triển

Từ những khái quát trên, có thể cụ thể hóa quan niệm giảm nghèo bền vững trên các khía cạnh như sau:

Thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo gia tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm theo từng năm, từng giai đoạn

Điều kiện sống của người nghèo ngày càng được nâng lên nhất là các điều

kiện sống cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở…

Người nghèo có nhiều cơ hội để tự vươn lên thoát nghèo và ngày càng phát triển thông qua các chủ trương của Đảng, chính sách giảm nghèo của Nhà nước

Để chính sách giảm nghèo bền vững thực hiện đạt hiệu quả thì cần phải có

một quy trình thống nhất và phải thực hiện theo từng giai đoạn kế tiếp có liên quan

Trang 18

với nhau Quy trình thực hiện phải mang tính logic, khoa học và phải đáp ứng thực

tế Gồm 05 bước cụ thể như sau:

Bước 1: Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách

Các cơ quan có thẩm quyền triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch cụ thể căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương đang xảy ra và từ những nhu cầu thực tế cuộc sống

Kế hoạch khi triển khai thực hiện phải đảm bảo các yếu tố như nhân lực, vật lực nhưng phải dựa trên điều kiện thực tế mà triển khai thực hiện Kế hoạch phải thể hiện rõ những nội dung cần thực hiện, phải có sự phân công, phân việc rõ ràng và thời gian thực hiện cụ thể

Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Sau khi kế hoạch được thông qua, các cơ quan, ban, ngành Nhà nước tiến hành triển khai và tổ chức thực hiện thì công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thma gia thực hiện chính sách là một hoạt động quan trọng Thông qua việc tuyên truyền, phổ biến chính sách được triển khai rộng rãi đến mọi người dân Việc phổ biến tuyên truyền chính sách tốt sẽ giúp cho các đối tượng chính sách và người dân tham gia thực hiện chính sách sẽ hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách, về tính khả thi của chính sách để người dân tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của Nhà nước

Việc tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách cần được thực hiện thường xuyên và liên tục kể cả khi chính sách đang được thi hành, để các đối tượng cần được tuyên truyền luôn tin tưởng vào chính sách đã được triển khai thực hiện

Bước 3: Chuẩn bị các nguồn lực (điều kiện) để thực hiện chính sách:

Về nhân lực: Một chính sách khi triển khai thực hiện để đạt chất lượng và hiệu

quả thì phụ thuộc phần lớn vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi chính sách Cán bộ công chức thực thi chính sách phải qua đào tạo, có trình độ năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ

sách như tiềm năng tài nguyên và công nghệ khoa học Đây là những yếu tố quan trọng góp phần thực hiện thành công kế hoạch đã triển khai

Bước 4: Phối hợp thực hiện chính sách

Trang 19

Để chính sách khi triển khai thực hiện đạt được hiệu quả cao đòi hỏi phải có

sự phối hợp chặt chẽ của cả hệ thống chính trị Công tác phối hợp đã phát huy được

hiệu quả; trách nhiệm phối hợp giữa các bên ngày càng được nâng cao Mối quan hệ trong công tác phối hợp thực hiện chính sách ngày càng chặt chẽ, đây là mạng lưới

xã hội của Nhà nước, trong đó phải đề cập đến các tổ chức chính trị - xã hội, có vai trò quan trọng trong việc vận động trong tổ chức các hoạt động giảm nghèo ở địa phương

Bước 5: Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chính sách

Công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chính sách đây là bước thực hiện rất quan trọng, qua công tác kiểm tra, giám sát giúp cho các cấp, các ngành, các đơn

vị có liên quan trong việc thực hiện chính sách sẽ rút ra được những thuận lợi, những khó khăn, những hạn chế, thiếu sót trong quá trình thực hện chính sách, từ đó

sẽ đưa ra những giải pháp phù hợp

Chuẩn đo giảm nghèo đói

Để đánh giá về mức độ nghèo, người ta có thể dựa vào nhiều tiêu chuẩn khác nhau: Mức độ đảm bảo về lương thực (đánh giá mức độ nghèo qua lượng lương thực mà gia đình hoặc những người thiếu lương thực tiêu thụ mỗi năm) Quy mô sử

dụng cho cuộc sống hàng ngày (nhà ở sập xệ, thiếu gạo, không có việc làm, không

có sức lao động ) Mức thu nhập, các chỉ số về y tế, giáo dục, dinh dưỡng, tài sản kết hợp với thu nhập

Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 31/01/2011 của Thủ tướng Chính

phủ, quy định mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn mức dưới đây là nghèo:

Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân

từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000đ đến 520.000 đồng/người/tháng Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000đ đến 650.000 đồng/người/tháng

Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020

Trang 20

quy định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, cụ thể như sau:

Ở khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí: có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Ở khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ

số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Ở khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp

tiếp cận thông tin Như vậy, hộ nghèo giai đoạn 2016-2020 là những hộ có thu nhập

Trang 21

từ đủ mức chuẩn nghèo trở xuống hoặc thu nhập từ trên chuẩn nghèo đến chuẩn cận nghèo, thiếu hụt từ 3 chỉ số tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên [33,tr1]

1.2.2 Phân biệt chính sách xóa đói giảm nghèo và chính sách giảm nghèo

Chính sách xóa đói giảm nghèo

Chính sách xóa đói giảm nghèo là việc cụ thể hóa những chủ trương, đường lối của Đảng thông qua các quyết định; quy định của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề về nghèo, đói Chính sách xóa đói giảm nghèo còn thể hiện lợi ích và trách nhiệm của cả cộng đồng, của các nhóm xã hội nhằm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến một bộ phận dân cư nghèo, đói tạo sự phát triển bình thường cho người nghèo cũng như cho toàn xã hội

Chính sách xóa đói giảm nghèo là chương trình, dự án cùng với nguồn lực, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động vào các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo hay thành phố nghèo với mục đích cuối cùng là xóa đói giảm nghèo

Tập trung mở rộng thực hiện xã hội hóa đối với công tác giảm nghèo, huy động mọi nguồn lực trong xã hội và triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách an sinh xã hội, tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo có lao động chí thú làm ăn; hỗ trợ

về y tế; về giáo dục, về nhà ở, tiền điện nước sinh hoạt cho người nghèo, bảo vệ quyền lợi trẻ em và phụ nữ nghèo, từng bước tiến tới xóa hộ nghèo bền vững Ngoài ra, chính sách giảm nghèo còn đề ra những dự án cần thực hiện như dự án dạy nghề và giải quyết việc làm cho người nghèo, cận nghèo; dự án trợ giúp pháp lý cho người nghèo; dự án nhân rộng các mô hình giảm nghèo bền vững; dự án nâng cao

Trang 22

năng lực giảm nghèo, truyền thông, giám sát, đánh giá Trợ cấp đối với những hộ nghèo không có lao động, người già, neo đơn đang hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội

Giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng và toàn dân ta và

là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

từ năm 2011 đến năm 2020 được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI Nếu công tác giảm nghèo bền vững không được thực hiện hoặc thực

hiện không tốt thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta Vì thế, giảm nghèo bền vững vừa là nhiệm vụ, vừa là giải pháp mang tính quan trọng và cấp bách để hướng tới thực hiện mục tiêu chung là

“Dân giàu nước mạnh”

1.2.3 Những nội dung chính của việc thực hiện chính sách giảm nghèo

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền trong việc quán triệt sâu sắc đến các cấp, các ngành, địa phương về chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước có liên quan đến công tác giảm nghèo; làm cho các cấp, các ngành nhận thức đầy đủ về công tác xóa đói giảm nghèo Từ đó, xác định đúng chức năng, nhiệm vụ của mình để tổ chức thực hiện đem lại hiệu quả cao

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền và trong các tầng lớp nhân dân về tiêu chí tiếp cận nghèo đa chiều, mục tiêu giảm nghèo bền vững, góp

phần tạo được sự đồng thuận và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự đồng tâm, hiệp lực của toàn xã hội trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020; khơi dậy ý chí chủ động, vươn lên của người nghèo, tiếp cận và sử dụng có hiệu quả chính sách và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng để thoát nghèo, vươn lên khá giàu Gắn kết việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững

với thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, chú trọng việc phân cấp tạo cho cơ sở có tính chủ động trong quá trình lập kế hoạch, điều hành quản lý các hoạt động của Chương trình

Trang 23

Đổi mới công tác tổ chức, thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án, chính sách giảm nghèo như: hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho hộ nghèo; hỗ trợ hiệu quả cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, ưu tiên cho các dịch vụ gắn với tiêu chí nghèo đa chiều như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch

và vệ sinh, thông tin; phát triển hạ tầng các vùng khó khăn, vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao

Đẩy mạnh hoạt động tín dụng ưu đãi và tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo có đủ điều kiện, chí thú làm ăn có nhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh doanh được tiếp cận với nguồn vốn tín dụng từ Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang và các đối tượng chính sách khác gắn với chính sách khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chuyển giao khoa học kỹ thuật và nhân rộng mô hình giảm nghèo một cách có hiệu

quả; Gắn vay vốn tạo việc làm tại chỗ với hướng dẫn cách làm, khuyến nông và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất

Đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo thông qua hệ thống chính sách giảm nghèo hiện hành và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững nhằm cải thiện việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng giai đoạn 2016-2020; từng bước thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch trong việc hưởng thụ dịch vụ công và phúc lợi, trong thu nhập và đời sống giữa thành thị và nông thôn

Thực hiện việc đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, bảo đảm huy động đầy đủ, kịp thời theo đúng chỉ tiêu đề ra; tăng cường công tác huy động vốn từ ngân sách địa phương và các nguồn huy động đóng góp hợp pháp của doanh nghiệp; vận động các nguồn tài trợ của tổ chức, cá nhân, các nguồn vốn đối ứng cùng với sự tham gia đóng góp của người dân và các đối tượng được thụ hưởng

Mở rộng quan hệ hợp tác trong quá trình tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững với các tổ chức quốc tế, cả đa phương, song phương và các tổ chức phi chính phủ để chia sẻ thông tin và trao đổi kinh nghiệm,

Trang 24

đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ về kỹ thuật và nguồn lực để thực hiện thành công các

mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo

Tăng cường công tác kiểm tra và giám sát, đánh giá và định kỳ báo cáo sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Chương trình; cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; tạo điều kiện để các tổ chức đoàn thể nhân dân tham gia giám sát việc thực hiện

Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý; tập trung thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, nâng cao chất lượng vụ việc và tăng cường truyền thông về trợ giúp pháp lý ở cơ sở nhất là trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người cận nghèo

Chỉ đạo rà soát, đánh giá tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng giai đoạn 2016-2020 nhằm xây dựng khả năng thực hiện mục tiêu giảm nghèo trên địa bàn, xây dựng kế hoạch chi tiết, đề xuất các biện pháp cụ thể để đẩy nhanh tiến độ thực hiện giảm nghèo, chống bệnh thành tích, quan liêu, không phản ánh đúng thực trạng nghèo của địa phương

1.3 Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong thực hiện chính sách giảm nghèo b ền vững

1.3.1 Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong thực hiện Chính sách

Từ những căn cứ lý luận và những văn bản hướng dẫn các cấp của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác giảm nghèo (chẳng hạn, Chỉ thị 06-CT/TU ngày 31/3/2016 của Ban thường vụ Thành ủy về Tăng cường sự lãnh đạo

của Đảng đối với công tác đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020, Kế hoạch số 72/KH-UBND ngày 17/02/2017 của UBND tỉnh An

Giang; Kế hoạch số 54/KH-UBND ngày 12/4/2016 về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn thành phố Long Xuyên giai đoạn

2016 - 2020) có thể hình dung vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở những điểm sau:

- Với vai trò là thành viên Ban chỉ đạo giảm nghèo, các ban, ngành, đoàn thể

Trang 25

hoạch giảm nghèo, tuyên truyền sâu rộng tới quần chúng nhân dân, đặc biệt là xây

dựng ý thức tự vươn lên của các hộ gia đình nghèo, người nghèo tránh tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng xã hội hỗ trợ và bản thân hộ gia đình

nghèo, người nghèo nỗ lực vươn lên nâng cao đời sống và thoát nghèo bền vững

- Hệ thống chính trị cơ sở xây dựng, tổ chức thực hiện các hoạt động có liên

quan đến giảm nghèo bền vững (thông qua các dự án) như:

+ Hỗ trợ người nghèo trong việc phát triển sản xuất và nhân rộng các mô hình giảm nghèo trên địa bàn xã ngoài Chương trình 30a và Chương trình 135 Giữa năm

2016, thành phố triển khai thực hiện mô hình giảm nghèo bền vững tại xã Mỹ Khánh, hỗ trợ cho 25 hộ (16 hộ nghèo, 09 hộ cận nghèo), mỗi hộ 05 triệu đồng Sau thời gian triển khai, đa số các hộ đều sử dụng vốn đúng mục đích và đem lại hiệu quả kinh tế, từng bước ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo Tính đến nay, có trên 75% số hộ tham gia mô hình đã thoát nghèo, cận nghèo

+ Truyền thông về công tác giảm nghèo bền vững:

i) Xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện đối thoại trực tiếp với hộ nghèo, hộ

cận nghèo để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng và triển khai kế hoạch tăng cường các giải pháp nhằm hỗ trợ giúp hộ nghèo, cận nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững Đồng thời, kết hợp tuyên truyền, vận động, khuyến khích người lao động trong độ tuổi, nhất là lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo tham gia học nghề, chủ động tìm kiếm việc làm trong và ngoài nước Khuyến khích, động viên những hộ nghèo, cận nghèo chí thú làm ăn, phấn đấu tự lực vươn lên thoát nghèo

ii) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền theo nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, trong đó chú trọng các nội dung: chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đào tạo nghề; vị trí vai trò của đào tạo nghề cho lao động nông thôn; các mô hình dạy nghề gắn với giải quyết việc làm có hiệu quả; xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững; cung cấp thông tin thị trường hàng hóa, hỗ trợ việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp;

tư vấn học nghề, việc làm miễn phí…phổ biến kinh nghiệm hay, những gương điển hình về giảm nghèo thành công, hướng dẫn ứng dụng khoa học tiến bộ trong sản

xuất kinh tế góp phần giảm nghèo bền vững;

Trang 26

iii) Mạng lưới bưu chính, viễn thông vươn tới vùng sâu, vùng xa; phủ sóng

mạng lưới điện thoại di động Để nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền ở cơ sở, thành phố sẽ đẩy mạnh tuyên truyền bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú nhằm nâng cao nhận thức của người dân; hướng dẫn người dân tiếp cận với các chính sách giảm nghèo, vay vốn ưu đãi, tín dụng của ngân hàng chính sách

xã hội, xuất khẩu lao động và dạy nghề … Thực hiện lồng ghép việc tuyên truyền chương trình giảm nghèo bền vững với các chương trình mục tiêu quốc gia, các chính sách hỗ trợ cho người khác

Năng lực thực hiện và giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình giảm nghèo

bền vững của hệ thống chính trị cơ sở:

i) N âng cao năng lực thực hiện chính sách của hệ thống chính trị cơ sở: sự

phối hợp giữa các thành tố của HTCT, trong đó đặc biệt cần chú ý đến sự phối hợp

của các đơn vị trực tiếp liên quan đến lĩnh vực an sinh xã hội như Sở Lao động, Thương binh và Xã hội nhằm tổ chức tập huấn rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo và an sinh xã hội cho lãnh đạo, cán bộ phụ trách công tác giảm nghèo UBND cấp xã, phường và các trưởng/phó khóm ấp hoặc điều tra viên tại địa phương

ii) Ho ạt động kiểm tra và giám sát, đánh giá kết quả thực hiện: Công tác

kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện các chính sách giảm nghèo Trong quá trình giám sát đánh giá thực hiện Chương trình giảm nghèo sẽ lồng ghép hướng dẫn nghiệp vụ về quản lý, khai thác thông tin, theo dõi, giám sát, đánh giá kết quả thực

hiện Chương trình giảm nghèo bền vững theo tài liệu hướng dẫn của tỉnh cho các phường, xã; đồng thời, nâng cao năng lực vận hành hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá và cập nhật thông tin về giảm nghèo từ thành phố đến phường, xã

1.3.2 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền

Quyết tâm chính trị của hệ thống chính trị cơ sở

Xác định công tác giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện công tác đảm bảo an sinh xã hội, Thành ủy, UBND thành phố Long Xuyên lãnh, chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, tổ

Trang 27

tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về chủ trương thực hiện mục tiêu giảm nghèo trên địa bàn thành phố, qua đó góp phần cùng địa phương triển khai, thực hiện đồng bộ các giải pháp để công tác giảm nghèo được thực hiện đảm bảo và đúng thực chất Công tác huy động mọi nguồn lực xã hội để chăm lo cho người nghèo được triển khai thực hiện tích cực, tạo được sự đồng thuận và hiệu ứng tốt trong xã hội

giảm nghèo

Xuất phát từ vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thực thi chính sách giảm nghèo, trình độ năng lực của họ có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng đến kết quả tổ chức và thực thi chính sách

Việc xây dựng các mô hình điểm để nhân rộng chưa thực sự được quan tâm Công tác triển khai các văn bản thực hiện chương trình giảm nghèo ở các cấp còn chậm, chưa mang tính đồng bộ dẫn đến việc tổ chức triển khai thực hiện chưa đạt hiệu

quả cao Nguồn lực đầu tư cho các chương trình giảm nghèo còn chưa nhiều, đặc biệt

là nguồn kinh phí dùng cho công tác thực hiện chính sách giảm nghèo Công tác lãnh, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp chưa được quyết liệt, còn thiếu tính sáng tạo trong quá trình tổ chức thực hiện

Một chính sách khi đi vào thực hiện phải phụ thuộc vào bộ máy, đội ngũ cán

bộ thực thi chính sách Bộ máy hoạt động càng gọn nhẹ, đội ngũ cán bộ chuyên sâu,

cơ chế làm việc càng minh bạch, không chồng chéo, sự phối hợp giữa các bộ phận chặt chẽ thì việc triển khai thực hiện chính sách bao giờ cũng thuận lợi và hiệu quả hơn Nếu bộ máy hành pháp quan liêu, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả và các cán

bộ công chức thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm thì sẽ gây khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách, từ đó sẽ không phát huy được hết tác dụng của chính sách, thậm chí kết quả mang lại có thể đi ngược lại với mục tiêu ban đầu của chính sách

Thực hiện Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính

phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn

Trang 28

2016 - 2020, Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020; Các nghị quyết, quyết định, kế hoạch của UBND tỉnh An Giang để triển khai tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo, cụ thể như kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, Kế hoạch số 72/KH-UBND ngày 17/2/2017 về triển khai thực hiện Chỉ thị về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định Ban hành Kế hoạch tổ chức đánh giá giữa nhiệm

kỳ chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020 và

kết quả rà soát, tích hợp hệ thống chính sách giảm nghèo trên địa bàn tỉnh An Giang; Các Chỉ thị, Quyết định, kế hoạch, báo cáo của UBND thành phố Long Xuên như Chỉ thị số 06-CT/TU ngày 31/3/2016 của Ban Thường vụ thành ủy Long Xuyên về tăng cường sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo an sinh xã hội

và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020, Kế hoạch số 54/KH-UBND ngày 12/4/2015 về thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững thành phố giai đoạn 2016 – 2020 tiến tới xóa hộ nghèo cuối năm 2020, Kế hoạch cất, sửa nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2016 - 2020, báo cáo số 63/BC-UBND ngày 17/3/2020 về Tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020

Đây là một khâu quan trọng quyết định văn bản của chính sách công nói chung cũng như chính sách xóa đói giảm nghèo nói riêng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện Ngược lại, nếu chính sách hoạch định bị chủ quan, không hợp lý, không đầy đủ thì mặc dù công tác tổ chức thực hiện có tốt đến đâu cũng sẽ gây cản trở, thậm chí có thể dẫn đến thất bại trong việc thực hiện chính sách

Để hệ thống văn bản đạt được chất lượng tốt nhất đòi hỏi những người tham gia xây dựng và ban hành chính sách phải đạt một trình độ nhất định và có sự hiểu biết về lĩnh vực chuyên môn, nên đó phải là những chuyên gia, các nhà tư vấn …

Trang 29

Sự triển khai một chính sách có hiệu quả phụ thuộc nhiều vào việc hệ thống chính trị cơ sở cần tổ chức, phân bổ, sử dụng và kiểm soát được các nguồn tài chính, nhân lực, vật lực cho việc triển khai thực hiện chính sách và kết quả mà chính sách đem lại Trong đó:

Nguồn lực lao động: là lực lượng dân số trong độ tuổi có khả năng lao động và

được pháp luật quy định Đây cũng là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, đồng

thời đây cũng là nhân tố quyết định việc tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả của quá trình thực hiện một chính sách

Nguồn khoa học, công nghệ: thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế thông qua sự tác

động của nó Khoa học và công nghệ phát triển sẽ góp phần làm thay đổi lực lượng

sản xuất theo hướng hiện đại, quy mô sản xuất, ngành nghề, sản phẩm làm ra; mở rộng khả năng tiếp cận thị trường góp phần tăng năng suất lao động, giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm; nâng cao đời sống

vật chất, tinh thần của con người

sản xuất, mà còn là khả năng cân đối, cả lưu thông, tiêu thụ sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất Do đó, nó cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc triển khai thực hiện của một chính sách Tăng nguồn vốn, mở rộng sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động

nguồn lực của cải vật chất ban đầu, được hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể khai thác và sử dụng nhằm để thỏa mãn những nhu cầu đang tồn

tại và phát triển của mình Đây cũng là nhân tố cơ bản, là nền tảng để thực hiện chính sách nói chung và chính sách xóa đói giảm nghèo nói riêng

Tóm lại, người nghèo trong xã hội thường ít học, cho nên nguồn lao động chủ yếu là lao động phổ thông, chất lượng thấp chưa đáp ứng yêu cầu do đó việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để vươn lên thoát nghèo cũng là một vấn đề luôn được quan tâm Đặc biệt, chú trọng nguồn kinh phí để xây dựng kế hoạch cho phù hợp để trong quá trình thực hiện chính sách nhằm đạt hiệu quả cao

Trang 30

S ự tham gia của người dân trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo

Chính sách xóa đói giảm nghèo do Nhà nước triển khai, điều hành, tài trợ, khuyến khích, kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung… nhưng sự tham gia của bản thân người nghèo là động lực chính trong quá trình thực hiện chính sách Nếu chính sách

đó không đem lại lợi ích cho quốc gia, cho cộng đồng dân cư và nhất là cho người nghèo hoặc nếu nhân dân chưa hiểu được mục đích ban hành của Đảng, Nhà nước cũng như lợi ích của chính sách đó đem lại thì họ sẽ không đồng tình ủng hộ, dẫn đến chính sách đó thực hiện kém hiệu quả hoặc có thể không được thực hiện trên thực tế

Người nghèo có nhiều phương thức với nhiều tư cách khi tham gia vào chính sách giảm nghèo bền vững Trước tiên, người nghèo phải tham gia với tư cách là đối tượng thụ hưởng chính sách; người nghèo còn tham gia với tư cách là người cung cấp thông tin xác định mức đói nghèo, đối tượng đói nghèo, thông tin về kết

quả chính sách, thông tin về tác động của các công cụ thực hiện chính sách…

Những thông tin mà người nghèo mang lại có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách xóa đói giảm nghèo, bởi đây là các thông tin cần thiết, phản ánh trung thực về tình hình cũng như cuộc sống hàng ngày của người nghèo Để khuyến khích người nghèo cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết, việc cung cấp cho họ các phương tiện như điểm nhận thông tin, biểu mẫu cung cấp thông tin, phương tiện liên lạc, thông tin về mức độ hữu ích của thông tin cung cấp, các hình thức khuyến khích hợp lý khác là rất quan trọng, cần nhận thức rằng khi thông tin hữu ích được cung cấp, người nghèo sẽ có cảm nhận được chính sách xóa đói giảm nghèo là công việc của chính họ và họ có thể đóng góp được nhiều kết quả hữu ích

Nếu chính sách xóa đói giảm nghèo đáp ứng được yêu cầu cụ thể của từng địa phương sẽ được người dân đồng tình ủng hộ, từ đó sẽ tham gia nhiệt tình vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, như vậy chính sách ban hành sẽ được ủng hộ, duy trì và phát triển Còn ngược lại, nếu chính sách không đem lại lợi ích thiết thực cho người dân,

Trang 31

dân vào chính quyền bị giảm sút, cao hơn nữa có thể dẫn xảy ra những điểm nóng trong xã hội

Người nghèo cũng có thể tự tổ chức thành các nhóm, tập thể hỗ trợ nhau để thoát nghèo, trong đó người thành công trong việc thoát nghèo bền vững sẽ hướng dẫn kinh nghiệm cho người chưa thành công Nếu người nghèo có ý thức và đủ năng lực tổ chức các mô hình hoạt động đem lại hiệu quả trong cuộc sống thì sự tương tác giữa Nhà nước và người nghèo trong từng lĩnh vực cùng nhau hoạt động

để xóa đói giảm nghèo dễ dàng và đạt hiệu quả cao hơn

Đến cuối cùng, người dân chính là người được thụ hưởng những lợi ích của chính sách công, đặc biệt người dân nghèo trong xã hội được hưởng những lợi ích

từ việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo đem lại, nên việc nâng cao nhận thức cho người dân để họ nhiệt tình tham gia vào công tác xóa đói giảm nghèo và làm giàu nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho toàn xã hội

1.4 Một số kinh nghiệm thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo và chính sách gi ảm nghèo bền vững

1.4.1 Tính liên tục và tính kế thừa giữa chính sách xóa đói, giảm nghèo

Qua 05 năm thực hiện, thành phố Long Xuyên đã vận động được 52.114 triệu đồng để chăm lo cho hơn 110.859 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh

Trang 32

khó khăn gồm trợ giúp khó khăn, trường hợp ốm đau, tang chế, hỏa hoạn, thiên tai

và các trường hợp khó khăn đột xuất khác; cất mới và sửa chữa 738 căn nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo với tổng trị giá trên 26 tỷ đồng

Điểm nổi bật trong thời gian qua là sự phối hợp chặt chẽ giữa hệ thống chính trị thành phố cùng với địa phương trong xây dựng các khu dân cư đại đoàn kết cho

hộ nghèo, hộ cận nghèo không có đất ở, nhà ở trên địa bàn thành phố Long Xuyên, đây là nhu cầu rất cần thiết, giúp cho thành phố quyết tâm hướng đến mục tiêu xóa nghèo bền vững vào năm 2020 Từ giữa năm 2016 đến nay, thành phố đã triển khai xây dựng 15 khu dân cư đại đoàn kết, đã bố trí cho 292 hộ nghèo, hộ cận nghèo không có đất ở ổn định cuộc sống, tổng kinh phí trên 32 tỷ đồng (trong đó, ngân sách thành phố hỗ trợ phần san lắp mặt bằng và hệ thống thoát nước trên 10 tỷ đồng, phần còn lại là vận động các doanh nghiệp đóng góp, điển hình như: Công ty TNHH Sông Hồng hỗ trợ xây dựng 02 khu dân cư đầu tiên đại xã Mỹ Khánh và phường Mỹ Hòa 50 căn; Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết An Giang ủng hộ xây dựng khu dân cư xã Mỹ Hòa Hưng với 23 căn nhà, khu dân cư phường Mỹ

Thạnh 10 căn, khu dân cư phường Mỹ Phước 11 căn nhà; Công ty TNHH MTV khai thác và Chế biến đá An Giang ủng hộ xây dựng khu dân cư phường Mỹ Thạnh

10 căn nhà và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài địa bàn cùng tham gia đóng góp Các chính sách hỗ trợ hộ nghèo như vay vốn, học nghề, giới thiệu việc làm, bảo hiểm y tế… được triển khai thực hiện đồng bộ với cách làm chặt chẽ, phù hợp điều kiện của từng hộ mang lại hiệu quả rõ nét, giúp cho các hộ nghèo có thu nhập

ổn định và vươn lên thoát nghèo bền vững Tổng số hộ nghèo trên địa bàn thành phố đầu năm 2016 là 1.567 hộ, tỷ lệ 2.14% đến cuối năm 2020 giảm còn 19 hộ, tỷ lệ 0.03% (đây là những hộ nghèo cùng cực, không có khả năng thoát nghèo theo quy

định); hộ cận nghèo giảm còn 2.114 hộ, tỷ lệ 2.87%, đạt chỉ tiêu “ Tỷ lệ hộ nghèo

cuối năm 2020 còn dưới 2%” theo Nghị quyết đề ra

Song song việc xây dựng nhà Đại đoàn kết, mô hình nâng cao mức sống cho

hộ nghèo đang hưởng chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố cũng được triển khai thực hiện nhằm giúp cho đối tượng bảo trợ xã hội có mức thu nhập ổn

Trang 33

thành phố đến phường, xã quan tâm, đầu năm 2016 qua rà soát thành phố có 238 hộ

với 363 người đang hưởng trợ cấp

Riêng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố, được sự thống nhất của Ban thường vụ Thành ủy đã xây dựng và triển khai kế hoạch giai đoạn 2016-2020 thực hiện theo lộ trình từng năm, năm 2016 chăm lo cho 135 người đạt 34.52% với mức

hỗ trợ chung tùy theo mức hưởng cụ thể của từng cá nhân: Đối với khu vực thành

thị hỗ trợ bằng với mức 900.000 đồng/người/tháng và khu vực nông thôn hỗ trợ bằng với mức 700.000 đồng/người/tháng Năm 2017, đã vận động hỗ trợ chăm lo cho 196 đối tượng Năm 2018, qua rà soát còn lại 186/195 người (đạt 95.38% so kế

hoạch) Năm 2019 đến năm 2020 vận động hỗ trợ cho 235 đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo (đạt 100% kế hoạch), bình quân từ 200.000đ - 650.000 đồng/người/tháng bao gồm tiền và hiện vật (gạo, mì, nước tương, dầu ăn…) với tổng số tiền vận động chăm lo gần 2,5 tỷ đồng Đây là mô hình mới về chăm lo cho người nghèo được triển khai thực hiện tại thành phố Long Xuyên

Từ nguồn quỹ vận động được và các nguồn hỗ trợ khác thành phố đã hỗ trợ cất mới và sửa chữa nhà cho người nghèo, hỗ trợ người nghèo phát triển sản xuất,

hỗ trợ con em hộ nghèo vượt khó học giỏi và bệnh nhân nghèo khám, chữa bệnh, chăm lo quà tết cho người nghèo, đặc biệt là chăm lo đối tượng bảo trợ xã hội góp phần thực hiện tốt chương trình an sinh xã hội của thành phố

Phát động đóng góp “ Quỹ vì người nghèo”; tích cực xã hội hóa việc huy động các nguồn lực đầu tư cho mục tiêu giảm nghèo; tiếp cận và sử dụng có hiệu quả các chính sách và nguồn lực của Nhà nước, cộng đồng hỗ trợ cho người nghèo

Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo, người nghèo, đối tượng chính sách xã hội như sau:

Thực hiện tốt chính sách tín dụng ưu đãi với hộ nghèo, hộ cận nghèo có nhu

cầu về vốn để phát triển sản xuất và đảm bảo sử dụng đồng vốn đạt hiệu quả; đơn giản về điều kiện, thủ tục hồ sơ vay vốn giúp hộ nghèo được tiếp cận với nguồn vốn tín dụng gắn vay vốn với tạo việc làm để mang lại hiệu quả cao

Thực hiện cấp phát thẻ bảo hiểm y tế kịp thời cho tất cả người nghèo, cận nghèo,

trẻ em dưới 6 tuổi, đối tượng chính sách bảo trợ xã hội theo Luật Bảo hiểm y tế

Trang 34

Thực hiện có hiệu quả chính sách miễn học phí cùng các khoản đóng góp khác, hỗ trợ chi phí học tập cho con em hộ nghèo khi học tại các cơ sở giáo dục cấp học phổ thông trong tỉnh

Các đối tượng học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo, cận nghèo, hộ khó khăn được hỗ trợ vay vốn ưu đãi và cấp bù học phí theo các quy định hiện hành của Chính phủ

Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo hàng tháng theo quy định của Nhà nước

Người nghèo, cận nghèo được tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý khi có nhu cầu về các lĩnh vực tại Trung tâm trợ giúp pháp lý của Tỉnh, thành phố và Chi hội

luật gia tại các phường, xã Cung cấp các tờ rơi với nội dung tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật để người dân thông suốt

Nâng cao nhận thức, năng lực của cộng đồng và đội ngũ cán bộ cơ sở để tổ chức thực hiện chương trình giảm nghèo đạt hiệu quả cao; tổ chức đối thoại chính sách, xác định nhu cầu và năng lực tham gia của người dân; điều tra, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo, nhất là cán bộ chuyên trách ở cơ sở;

tập huấn, bồi dưỡng cán bộ làm công tác giảm nghèo sát với thực tế và giao trách nhiệm cụ thể cho cán bộ trực tiếp giúp đỡ các hộ nghèo để được thoát nghèo bền vững

Tổ chức nhiều cách thức tuyên truyền để góp phần giảm nghèo phù hợp góp phần nâng cao nhận thức của toàn xã hội về ý nghĩa, tầm quan trọng, mục tiêu và những chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác giảm nghèo

Xây dựng kế hoạch giám sát, đánh giá kết quả thực hiện giảm nghèo hàng năm

và thực hiện giám sát chuyên đề Thông qua giám sát, đánh giá nhằm bảo đảm cho chương trình giảm nghèo được thực hiện có hiệu quả, đúng mục tiêu, đúng đối tượng, có biện pháp điều chỉnh, chỉ đạo kịp thời

Thường xuyên khảo sát, thống kê đối tượng người lao động có nhu cầu học nghề được đào tạo miễn phí thông qua Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn Kết hợp với Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh tư vấn, giới thiệu, cung ứng lao động

Trang 35

cho các doanh nghiệp trong tỉnh, ngoài tỉnh và đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng

Thực hiện tốt các chính sách về dạy nghề - việc làm: chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, chính sách hỗ trợ lao động đi làm việc ngoài tỉnh, ngoài

nước, chính sách vay vốn từ Chương trình “Quỹ quốc gia giải quyết việc làm” của

Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh

Tìm kiếm thông tin về thị trường lao động ngoài nước, nhất là thị trường có thu nhập cao, an toàn cho người lao động để hướng dẫn người lao động tham gia.Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người lao động về mục đích, yêu cầu, các chế độ, chính sách và vai trò quan trọng của việc học nghề - việc làm, giúp người lao động chủ động tìm việc làm, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát, công tác dạy nghề, đảm bảo chất lượng, hiệu quả dạy nghề

Mở rộng các hình thức ký kết hợp đồng dạy nghề có sự tham gia của ba bên là Nhà nước - Cơ sở dạy nghề - Doanh nghiệp sử dụng lao động Tăng cường sự phối

hợp giữa các doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề để đào tạo theo địa chỉ, theo đơn đặt hàng để người lao động sẽ có việc làm ngay sau khi khóa đào tạo kết thúc

1.4.2 Bài học về vai trò quyết định của hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh An Giang

Nghèo đói luôn là vấn đề quan trọng, nên được sự quan tâm và tập trung chỉ đạo điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo các cấp thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, đôn đốc và sơ, tổng kết để kịp thời đánh giá, xây dựng các giải pháp khả thi, gắn liền với việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để đem lại hiệu quả cao trong quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo Qua thời gian thực hiện, rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Làm tốt vai trò lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị thành phố Long Xuyên, phát huy vai trò khối đại đoàn kết dân tộc; huy động và sử dụng

có hiệu quả các nguồn lực xã hội thì mới đảm bảo thoát nghèo bền vững

Trang 36

Các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân nhận thức đúng đắn

về công tác giảm nghèo, coi đây là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên thì công tác giảm nghèo sẽ chuyển biến ngày càng tích cực

Trong quá trình triển khai thực hiện cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành, các cấp; phân công nhiệm vụ của từng thành viên trong Ban chỉ đạo giảm nghèo và trong quá trình thực hiện có kiểm tra, giám sát chặt chẽ thì sẽ đạt được những kết quả giảm nghèo cao

Quan điểm giải quyết việc giảm nghèo ngày càng mang tính toàn diện hơn, từ việc xác định hộ nghèo về thu nhập đã chuyển sang hộ nghèo đa chiều Các giải pháp giảm nghèo từ việc tập trung thực hiện các chính sách hỗ trợ cơ bản đến việc giải quyết các thiếu hụt dịch vụ xã hội cho người nghèo, giúp người nghèo tự vươn lên thoát ngèo nâng dần mức thu nhập cho bản thân và gia đình, tiếp cận các dịch vụ

xã hội cơ bản từng bước ổn định cuộc sống

Công tác vận động, tuyên truyền cho người nghèo, đặc biệt là những người có

khả năng lao động luôn được quan tâm thực hiện tốt, có tác động tích cực tạo sự chuyển biến về nhận thức trong hộ nghèo, nhiều hộ cố gắng vươn lên thoát nghèo khá vững chắc, có hộ tự làm đơn xin được ra khỏi danh sách hộ nghèo Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm chuyển biến về nhận thức của người dân nhất là hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ khó khăn trong công tác giảm nghèo, ý thức được trách nhiệm của mình, từ đó tự vươn lên thoát nghèo, tránh tư tưởng trông chờ ỷ lại vào Nhà nước Phát huy vai trò chủ thể của người dân; vì vậy, công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân là giải pháp hàng đầu, làm cho dân hiểu, dân tin, dân hưởng ứng, dân tham gia bàn bạc, hiến kế, đóng góp công, của để thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, đặc biệt là công tác đưa lao động đi làm ngoài nước luôn được chú trọng nhằm hỗ trợ trực tiếp cho người lao động nghèo tự tạo việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần tích cực giúp cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo có đủ điều kiện và cơ hội có được việc làm, góp phần phát

Ngày đăng: 20/06/2021, 07:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w