1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ: VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI BIỂN

138 557 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 4,52 MB
File đính kèm VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI BIỂN.rar (4 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biển từ xa xưa đã có nhiều ý nghĩa to lớn trong tự nhiên cũng như trong cuộc sống con người. Biển giúp cân bằng các khí O2 và CO2 cho khí quyển, điều hòa khí hậu, đóng vai trò quan trọng trong việc phát sinh, duy trì và phát triển sự sống trên trái đất. Đồng thời biển cũng là cầu nối nối liền các lục địa, giúp con người trong việc khai phá các vùng đất mới và giao lưu văn hóa. Theo dự báo của các nhà khoa học thì xu hướng biển tiến là điều không thể tránh khỏi và không bao lâu nữa biển và đại dương có thể là nơi trú ngụ của con người. Mặt khác, biển còn nhiều tác dụng quan trọng và cung cấp nhiều loại năng lượng như triều, nhiệt, sóng, hải lưu… Như vậy, biển góp phần quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của con người ở khắp mọi nơi trên trái đất. Đối với Tây Nam Bộ, một vùng đất ở phía nam của tổ quốc được bao bọc bởi một phần lớn diện tích là biển cả cho nên nơi đây có những mối quan hệ rất mật thiết đối với biển. Biển góp phần hình thành vùng đất này đồng thời giữ vai trò và ảnh hưởng rất to lớn đến con người Tây Nam Bộ về các mặt kinh tế, chính trị và văn hoá xã hội.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HOÁ HỌC

- -NGUYỄN HỮU NGHỊ

VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI BIỂN

CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

MS: 60.31.70

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS PHAN THU HIỀN

Trang 2

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

DẪN NHẬP 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4 Mục đích nghiên cứu 10

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 11

7 Bố cục của luận văn 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 13

1.1 Một số khái niệm liên quan 13

1.1.1 Văn hóa và ứng xử 13

1.1.2 Văn hóa ứng xử 15

1.2 Định vị văn hóa ứng xử với biển của người Việt miền Tây Nam Bộ 19

1.2.1 Không gian văn hóa 19

1.2.2 Chủ thể văn hóa 26

1.2.3 Thời gian văn hóa 31

CHƯƠNG 2 VĂN HÓA TẬN DỤNG VÀ ĐỐI PHÓ VỚI BIỂN CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ 36

2.1 Văn hóa tận dụng 36

2.1.1 Trong đời sống 36

2.1.2 Trong lao động sản xuất 40

2.1.3 Trong nghỉ ngơi – giải trí 59

2.1.4 Trong an ninh quốc phòng 63

2.2 Văn hóa đối phó 68

2.2.1 Trong đời sống 68

2.2.2 Trong lao động sản xuất 77

2.2.3 Trong giao thông vận tải 82

CHƯƠNG 3 VĂN HÓA SÙNG BÁI VÀ LƯU LUYẾN BIỂN CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ 90

3.1 Văn hóa sùng bái biển 91

3.1.1 Trong tín ngưỡng sùng bái nhân thần 92

3.1.2 Trong tín ngưỡng sùng bái vật linh 99

3.1.3 Trong phong tục 106

3.2 Văn hóa lưu luyến biển 108

3.2.1 Trong nghệ thuật diễn xướng 108

3.2.2 Trong nghệ thuật ngôn từ 114

3.2.3 Trong nghệ thuật tạo hình 118

3.2.4 Trong vui chơi – giải trí 120

Trang 3

KẾT LUẬN 124 TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

Trang 4

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Biển từ xa xưa đã có nhiều ý nghĩa to lớn trong tự nhiên cũng như trong cuộcsống con người Biển giúp cân bằng các khí O2 và CO2 cho khí quyển, điều hòa khíhậu, đóng vai trò quan trọng trong việc phát sinh, duy trì và phát triển sự sống trêntrái đất Đồng thời biển cũng là cầu nối nối liền các lục địa, giúp con người trongviệc khai phá các vùng đất mới và giao lưu văn hóa Theo dự báo của các nhà khoahọc thì xu hướng biển tiến là điều không thể tránh khỏi và không bao lâu nữa biển

và đại dương có thể là nơi trú ngụ của con người Mặt khác, biển còn nhiều tác dụngquan trọng và cung cấp nhiều loại năng lượng như triều, nhiệt, sóng, hải lưu… Nhưvậy, biển góp phần quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của con người ởkhắp mọi nơi trên trái đất

Đối với Tây Nam Bộ, một vùng đất ở phía nam của tổ quốc được bao bọc bởimột phần lớn diện tích là biển cả cho nên nơi đây có những mối quan hệ rất mậtthiết đối với biển Biển góp phần hình thành vùng đất này đồng thời giữ vai trò vàảnh hưởng rất to lớn đến con người Tây Nam Bộ về các mặt kinh tế, chính trị vàvăn hoá xã hội

Tuy nhiên, trong nghiên cứu văn hoá miền Tây Nam Bộ thì mối quan hệ giữacon người và biển ít được chú trọng Vì vậy, có nhiều ý kiến cho rằng Tây Nam Bộ

là vùng đất “nhạt biển” Nhưng thực chất có phải là như thế? Cho nên công trìnhnày đã tiến hành nghiên cứu văn hoá ứng xử với biển của người Việt miền Tây Nam

Bộ như một thành tố của văn hoá ứng xử của người Việt miền Tây Nam Bộ với môitrường tự nhiên nhằm tìm lời giải đáp cho vấn đề trên

Mặt khác, cư dân miền Tây Nam Bộ với điều kiện tự nhiên thuận lợi cùng vớinhững đặc điểm văn hóa của cư dân sông nước, phóng khoáng, hào hiệp, đậm nghĩatình đã chọn cho mình cách ứng xử với biển như thế nào cũng là một lý do mà đềtài hướng đến tìm hiểu Đồng thời, đề tài còn nghiên cứu để tìm ra những khác biệtgiữa văn hoá ứng xử với biển của người Việt vùng Tây Nam Bộ so với văn hoá ứng

xử với biển của người Việt ở các vùng miền khác trên đất nước Việt Nam

Trang 5

Thông qua đề tài, hy vọng sẽ lý giải được những vấn đề đã đặt ra và tìm rađược những giá trị văn hoá biển của người Việt miền Tây Nam Bộ.

2 Lịch sử vấn đề

Từ trước đến nay đã có một số công trình đề cập đến biển dưới các khía cạnhkhác nhau Trước hết, dưới góc độ sử học có thể kể đến các công trình nghiên cứu

như: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã đề cập đến biển trong mối quan hệ

với người Việt

Trong công trình Gia Định thành thống chí của Trịnh Hoài Đức có đề cập

nhiều đến vai trò của biển miền Tây Nam Bộ cũng như những ứng xử của ngườidân nơi đây đối với biển Trong công trình này biển Đông nói chung và biển miềnTây Nam Bộ nói riêng đã thể hiện được một vai trò rất lớn trong đời sống của cưdân Tác phẩm này cũng nói đến việc tận dụng biển và các sản vật từ biển của ngườiViệt miền Tây Nam Bộ

Việt Nam Văn hóa sử cương của Đào Duy Anh cũng đề cập đến mối quan hệ

của người Việt với biển Công trình này cũng khẳng định những ảnh hưởng của biểnđối với đời sống văn hóa người Việt Tuy nhiên, tác giả chỉ đưa ra nhận định mộtcách khái quát chứ chưa đi vào phân tích cụ thể

Đến năm 1983, nhóm tác giả Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh

Hùng đã xuất bản quyển sách Hải quân trong lịch sử chống ngoại xâm nói đến tầm

quan trọng của thủy quân Việt Nam trong sự nghiệp giữ nước

Biển với người Việt cổ của Viện Đông Nam Á (1996) là cái nhìn khái quát lịch

sử về biển Việt Nam Biển với người Việt cổ điểm lại những nền văn hóa biển ở

nước ta thời tiền sử, sơ sử trong bối cảnh Đông Nam Á lục địa và hải đảo

Dưới góc độ địa lý, có thể kể đến một số công trình của Lê Bá Thảo như: Địa

lý đồng bằng sông Cửu Long (2002), Thiên nhiên Việt Nam (2002), Những công trình khoa học địa lý tiêu biểu (2007) là những công trình thiên về nghiên cứu địa lý

các vùng miền Việt Nam trong đó có đồng bằng sông Cửu Long, ngoài ra, ông cũng

có đề cập đến môi trường biển cũng như cách con người đồng bằng sông Cửu Longtận dụng và ứng phó với biển

Nói về khía cạnh văn hóa, có thể đề cập đến một số công trình như: Văn hóa dân gian làng ven biển (2000) của Ngô Đức Thịnh Tác giả cho rằng người Việt ban

Trang 6

đầu không có truyền thống biển và khi có sự giao lưu tiếp xúc với cư dân Nam Đảo,hoạt động trên biển của họ chủ yếu ở tầm “biển cận duyên” Ngoài ra, còn có bài

viết về văn hóa biển của Vũ Quang Trọng là “Văn hóa dân gian các làng ven biển” trong tạp chí Văn hóa nghệ thuật (12/2004) khái quát về sáng tác văn học dân gian,

những kinh nghiệm, tri thức về biển, nghề biển, điêu khắc, kiến trúc dân gian, tôngiáo, tín ngưỡng … tạo nên nét văn hóa đặc trưng của cư dân vùng biển

Một số công trình khác như: Cộng đồng cư dân Việt Nam của tác giả Nguyễn Duy Thiệu (2002); Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam của tác giả Ngô Đức Thịnh (2004); Cộng đồng cư dân Việt ở Nam Bộ của Viện Khoa học Xã hội

vùng Nam Bộ (2004) cũng đề cập đến biển trong đời sống của người Việt nhưngchưa đi sâu vào văn hóa ứng xử của người Việt với biển hay với biển miền TâyNam Bộ

Trần Quốc Vượng cũng thể hiện sự quan tâm về biển trong bài viết “Mấy nét

khái quát lịch sử cổ xưa về cái nhìn biển của người Việt Nam” trong công trình Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm (2003) Bài viết này gồm 4 phần: phần 1 bàn về

huyền thoại, huyền tích và thực tiễn khảo cổ học tiền sử và sơ sử ở Việt Nam; phần

2 nói đến lịch sử bang giao, quan hệ thương mại biển quốc tế và Việt Nam, ngườiViệt trong mắt người nước ngoài; phần 3 trình bày về cái nhìn về biển của ngườiChăm và phần 4 là lịch sử quân sự Việt Nam trên biển

Trong công trình Tìm về Bản sắc Văn hóa Việt Nam (2004) của Trần Ngọc

Thêm, ông có nói đến yếu tố biển trong đời sống văn hóa, biển đóng vai trò quantrọng và chi phối trong cơ cấu bữa ăn, giao thông của người Việt Trong bài viết

Nước, văn hóa và hội nhập đăng trong kỷ yếu hội nghị khoa học Khoa học xã hội

và nhân văn trong bối cảnh hội nhập quốc tế - Trường Đại học Khoa học xã hội vàNhân văn thành phố Hồ Chí Minh 2003, Trần Ngọc Thêm cũng đã bàn đến văn hóabiển như một khía cạnh, một bộ phận của văn hóa nước Bên cạnh đó, trong tập bàigiảng Lý luận Văn hóa học của Trần Ngọc Thêm cũng có đề cập đến bài viết về Vănhóa nước và Văn hóa lửa Ông đã trình bày vắn tắt một cách hệ thống những cáchthức con người ứng xử với nước thông qua văn hóa tận dụng, đối phó, sùng bái vàlưu luyến nước

Trang 7

Cuốn Môi trường và văn hóa cuối Pleistocen đầu Holocen ở Việt Nam (2004)

của hai tác giả Nguyễn Khắc Sử và Vũ Thế Long đã chỉ rõ những biến đổi trong địatầng vùng đồng bằng ven biển Việt Nam thời kỳ này và cho thấy cái nhìn về quátrình hình thành biển Việt Nam nói riêng và khu vực nói chung

Năm 2004, Trần Hồng Liên, trong tác phẩm Cộng đồng ngư dân Việt ở Nam

Bộ, đã có những tìm hiểu khá chi tiết về đời sống văn hóa của cộng đồng ngư dân ở

Nam Bộ Trong công trình của mình, bước đầu tác giả chỉ chọn hai địa phương (mộtđại diện cho Đông Nam Bộ; một đại diện cho Tây Nam Bộ) để nghiên cứu chứkhông đi vào nghiên cứu tổng quát Với công trình nghiên cứu này, tác giả giúp chongười đọc có một cái nhìn cận cảnh về đời sống văn hóa của một nhóm ngư dân ởĐông và Tây Nam Bộ

Bên cạnh đó có thể kể đến công trình nghiên cứu về văn hoá biển của Nguyễn

Thị Hải Lê là Biển trong văn hoá Việt Nam (luận văn cao học 2006) đã cho thấy cái

nhìn khá bao quát về văn hoá biển của người Việt Trong công trình của mình, tácgiả Nguyễn Thị Hải Lê trình bày về yếu tố biển trong đời sống vật chất và tinh thầncủa người Việt ba miền (miền Bắc, miền Trung và miền Nam) Do đối tượng nghiêncứu rộng nên công trình chỉ dừng lại ở mức độ khái quát mà chưa đi sâu nghiên cứuyếu tố biển trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt ở từng vùng miền

Ngoài ra, thời gian gần đây còn có Yếu tố biển trong văn hóa Raglai (luận văn cao

học 2009) của Trần Kiêm Hoàng thể hiện sự nghiên cứu chuyên sâu về yếu tố biểntrong văn hoá của một cộng đồng dân tộc ít người ở Việt Nam

Lưu Văn Lợi với công trình Những điều cần biết về đất, biển, trời Việt Nam

(2007) đã đề cập đến mối quan hệ giữa con người đối với biển, trong đó có cư dânTây Nam Bộ, những nhận thức về biển cũng như những ứng xử của con người vớibiển trong lĩnh vực môi trường và quốc phòng

Hội thảo Văn hóa, du lịch biển đảo miền Tây Nam Bộ được tổ chức tại KiênGiang vào tháng 7 năm 2007, tác giả Phan Thị Yến Tuyết đã có bài viết “Nghiêncứu văn hóa biển Nam Bộ - tiếp cận nhân học và văn hóa dân gian” Bài viết đãkhái quát tương đối lịch sử nghiên cứu văn hóa biển Việt Nam nói chung và văn hóabiển tây Nam Bộ nói riêng Nội dung bài viết đề cập đến các vấn đề về nhân học

Trang 8

sinh thái biển, thiết chế văn hóa xã hội tại các làng chài, các loại hình khai thác hảisản, các tôn giáo, tín ngưỡng xã hội, văn hóa dân gian và văn hóa du lịch

Vào năm 2008, nhà xuất bản Từ điển bách khoa đã xuất bản Văn hóa biển miền Trung và văn hóa Tây Nam Bộ, quyển sách này không phải là một công trình

nghiên cứu có hệ thống mà chỉ tập hợp những bài tham luận ngắn, hầu hết các bàiviết đi vào phân tích vai trò của biển trong kinh tế, quân sự, du lịch… Đây cũng làquyển sách có giá trị thiết thực góp phần vào công tác nghiên cứu văn hoá biển ởViệt Nam

Trong công trình Con người, môi trường và văn hóa của Nguyễn Xuân Kính

(2009) cũng có một bài viết về việc ứng xử của người Việt đối với nước Mặc dùkhông đề cập nhiều đến biển nhưng qua đó cũng cho độc giả nhận thức được rõ hơnvai trò của nước nói chung và biển nói riêng trong đời sống vật chất và tinh thần củacon người

Gần đây nhất (12/2010), khoa Văn hóa học trường Đại học KHXH&NV thànhphố Hồ Chí Minh và Văn phòng Đại diện Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật tại thành phố

Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức một cuộc hội thảo với chủ đề Văn hóa phi vật thể người Việt miền Tây Nam Bộ Trong hội thảo có trên 30 báo cáo, trong đó có một

vài báo cáo trình bài về văn hóa ứng xử với nước cũng như văn hóa ứng xử với môitrường tự nhiên của người Việt miền Tây Nam Bộ

Ngoài ra cũng có một số bài viết ngắn trên các báo, tạp chí, một số phóng sựtrên truyền hình về biển và cuộc sống của người dân với biển đã phản ánh phần nào

về biển và văn hoá biển Việt Nam

Về các công trình nghiên cứu về biển của các học giả nước ngoài, có thể kể

đến công trình The sea around us của Rachel L.Carson, xuất bản năm 1961 tại New

York Công trình này cho rằng, những hoạt động nghiên cứu, khám phá về biểnđược bắt đầu vào thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, khi người ta nhận ra thủy triều

và biển có thể khai thác trong quân sự, nó ảnh hưởng rất lớn đến thành công hoặcthất bại trong quân sự Khi đó, chính quyền Mỹ và những nước đi đầu về tiềm năngbiển bắt đầu nỗ lực để tiến hành nghiên cứu khoa học về biển Từ đó những vùng xaxôi, những nơi hiểm trở trong lòng biển đã được các nhà khoa học tìm đến nghiêncứu Kết quả nghiên cứu cho thấy những quan niệm trước đây về biển trở nên lạc

Trang 9

hậu, sai lầm Tuy nhiên, khoa học biển giống như một hang động lớn mà ngườinghệ sĩ chỉ mới phác họa đơn sơ trong bức tranh lớn của mình, hang động kia vẫncòn những chỗ hổng lớn cần bàn tay cầm cọ của người họa sĩ tô điểm, chấm pháthêm.

Ngoài ra, ở Việt Nam nhiều người còn biết đến Công trình Địa đàng ở Phương Đông của Oppenheimer, công trình này đã nói đến các thời kỳ biển dâng, quá trình

hình thành biển và ảnh hưởng của nó đến quá trình di cư và văn hoá của cư dânĐông Nam Á

Grant R.Bigg với công trình The Oceans and Climate, nhà xuất bản

Cambridge University Press xuất bản năm 2003 tại Anh đã có những lý giải rất sâusắc về vai trò của đại dương trong hệ thống khí hậu cũng như tương tác giữa đạidương và khí quyển trên nhiều phương diện

Như vậy cho đến nay hầu hết các công trình nghiên cứu về biển của các họcgiả trong và ngoài nước đều tìm hiểu một cách tổng quát hoặc chỉ đi vào một số vấn

đề cụ thể trong phạm vi hẹp hay chỉ được nghiên cứu ở một khía cạnh nào đó màchưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu về văn hóaứng xử của người Việt, cụ thể là người Việt miền Tây Nam bộ với biển Điều nàyđòi hỏi tác giả trong quá trình thực hiện đề tài hướng đến sự chuyên sâu và toàndiện hơn, bên cạnh đó những công trình nghiên cứu trước sẽ là tài liệu quý giá, thiếtthực trong việc tổng hợp để đi sâu hơn vào đề tài nghiên cứu này

Đối với ngành Văn hóa học, việc nghiên cứu văn hóa biển Việt Nam chưanhiều Tài liệu nước ngoài nghiên cứu văn hóa biển Việt Nam rất hiếm, tài liệunghiên cứu về văn hóa biển trong nước còn ít và chủ yếu chỉ tập trung ở miền Bắc

và miền Trung Đối với Nam Bộ, đặc biệt là Tây Nam Bộ thì vẫn còn rất ít côngtrình nghiên cứu về văn hóa biển Có lẽ xuất phát từ nhiều lý do, trong đó lý do lớnnhất là đồng bằng châu thổ bao la đã góp phần xóa mờ vị trí, vai trò, tầm quan trọngcủa biển đối với vùng đất, con người Tây Nam Bộ nói riêng và đất nước nói chung

Vì vậy nghiên cứu văn hóa biển Tây Nam Bộ cũng như văn hóa ứng xử của ngườiViệt với biển Tây Nam Bộ là một vấn đề cấp bách cần đặt ra nhằm đáp ứng với xuthế phát triển chung của xã hội và phục vụ nhu cầu tìm hiểiu về văn hoá biển miềnTây Nam Bộ

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài chủ yếu xoay quanh nghiên cứu cách ứng xử của người Việt miền TâyNam Bộ thông qua những lợi ích và những tác hại mà biển mang lại cho con ngườinơi đây cũng như nghiên cứu yếu tố biển trong đời sống của cư dân thông qua mọilĩnh vực trong đời sống hằng ngày

Về chủ thể: Đề tài tập trung tìm hiểu, nghiên cứu người Việt mà cụ thể làngười Việt miền Tây Nam bộ chịu sự ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của biểntrong mối quan hệ và tiếp biến văn hóa với người Hoa, Chăm, Khmer Thông qua

đó, nhằm rút ra mối quan hệ giữa con người và biển thông qua văn hóa ứng xử

Về không gian: Không gian nghiên cứu chủ yếu là vùng đất Tây Nam Bộ chịuảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của biển và vùng biển thuộc hải phận của nước tanói chung và Tây Nam Bộ nói riêng Trong quá trình triển khai khi cần thiết sẽ có

sự liên hệ, mở rộng và so sánh với văn hoá biển các vùng miền khác của Việt Nam

để tìm ra nhũng điểm tương đồng và khác biệt với biển miền Tây Nam Bộ

Về thời gian: Nghiên cứu văn hóa ứng xử của người Việt miền Tây Nam Bộxuyên suốt từ quá trình người Việt khai phá vùng đất Tây Nam Bộ cho đến ngàynay

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học:

Góp phần hoàn thiện bức tranh tổng thể về nghiên cứu văn hoá Nam Bộ nóichung và văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên của người Việt miền Tây Nam Bộ

Trang 11

nói riêng, đồng thời góp phần vào công tác nghiên cứu về văn hóa biển ở nước ta.Nội dung của đề tài nghiên cứu về văn hoá ứng xử với biển của người Việt sẽ tạonên những nét mới trong nghiên cứu văn hoá và những đúc kết của đề tài sẽ gópnhững minh chứng thực tế cho đặc điểm của văn hoá miền Tây Nam Bộ.

- Ý nghĩa thực tiễn:

Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống những ứng xử của người Việt TâyNam Bộ đối với biển, qua đó thấy rõ hơn vai trò của biển trong đời sống văn hoácủa cư dân nơi đây, để từ đó có những ứng xử đúng mực đối với biển và hiểu hơnvăn hoá cư dân bản địa

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Với đối tượng và phạm vi nghiên cứu như trên, đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, tổng hợp từ các nghiên cứu của các ngành khác như

nhân học, xã hội học, tâm lý học, văn học, ngôn ngữ học… dưới góc nhìn văn hóahọc để tiếp cận, giải quyết vấn đề Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương phápnghiên cứu khác như:

Phương pháp hệ thống – cấu trúc, đây là phương pháp quan trọng, hỗ trợ cái

nhìn hệ thống, giúp quan sát quá trình vận động và biến đổi trong nhận thức vềbiển, mối quan hệ giữa con người với biển và những ứng xử với biển của cư dântrên khắp vùng Tây Nam Bộ từ xưa đến nay

Sử dụng phương pháp lịch sử giúp bổ sung cái nhìn hệ thống từ lịch đại đến

đồng đại để xem xét vấn đề một cách hệ thống, trình tự

Phương pháp so sánh giúp nhận ra sự khác biệt và tương đồng trong văn hoá

ứng xử với biển của người Việt miền Tây Nam Bộ so với miền Đông Nam Bộ, miềnNam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ và đồng bằng Bắc Bộ từ đó giúp tìm ra được bản sắcvăn hóa, đặc điểm văn hoá của cư dân Việt miền Tây Nam Bộ trong văn hoá ứng xửvới biển nói riêng và môi trường tự nhiên nói chung

Phương pháp khảo sát điền dã sẽ bổ sung những tư liệu thực tế giúp chỉ ra,

làm rõ và chứng minh các luận cứ đã đưa ra, giúp cho đề tài mang tính thực tiễn caohơn

Nguồn tài liệu được sử dụng trong luận văn chủ yếu là nguồn tài liệu của vănhóa dân gian và từ các chuyên ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội khác như văn

Trang 12

học, sử học, khảo cổ học, nhân học, dân tộc học, địa chất học và địa lý Ngoài ra, đềtài còn sử dụng các nguồn tư liệu từ những quan sát thực tế và thực tiễn cuộc sốngcủa cư dân nơi đây trong quá trình điền dã.

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia làm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung Trong chương này sẽ làm rõ các khái niệm cóliên quan trong luận văn, tạo cơ sở lý luận cho những chương tiếp theo, đồng thờiđịnh vị văn hóa ứng xử với biển của người Việt miền Tây Nam Bộ theo trục tọa độvăn hóa không gian, chủ thể và thời gian văn hóa

Chương 2: Văn hóa tận dụng và đối phó biển của người Việt miền Tây Nam

Bộ Trên cơ sở lý luận của chương một, chương hai sẽ đi vào nghiên cứu văn hóaứng xử với biển của người Việt miền Tây Nam Bộ về mặt vật chất Trong chươngnày sẽ nghiên cứu văn hóa tận dụng và văn hóa đối phó với biển của người Việtmiền Tây Nam Bộ trong các mặt đời sống, lao động sản xuất, nghỉ ngơi giải trí, anninh quốc phòng

Chương 3: Văn hóa sùng bái và lưu luyến biển của người Việt miền Tây Nam

Bộ Chương ba sẽ nghiên cứu văn hóa ứng xử với biển của người Việt miền TâyNam Bộ về mặt tinh thần Trong chương này sẽ nghiên cứu văn hóa sùng bái và vănhóa lưu luyến biển của người Việt miền Tây Nam Bộ qua các mặt tín ngưỡng,phong tục, nghệ thuật diễn xướng, ngôn từ, tạo hình và vui chơi giải trí

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Văn hóa và ứng xử

Khái niệm văn hóa

Văn hóa là một khái niệm có ngoại diên rất rộng và nội hàm rất phức tạp Từkhi văn hóa trở thành đối tượng nghiên cứu của văn hóa học cho đến nay đã có hàngtrăm định nghĩa khác nhau về văn hóa ra đời

Nhìn chung, các khái niệm, quan điểm về văn hóa đều có những lý lẽ riêng của

nó Tuy nhiên phần lớn trong số đó là những định nghĩa miêu tả, chỉ bàn đến mộtkhía cạnh này hay một khía cạnh khác của văn hóa mà thôi, điển hình là định nghĩacủa Tylor Các định nghĩa miêu tả có ưu điểm là giúp nhận diện cụ thể và chính xácđối tượng nhưng có nhược điểm lớn là khi đối tượng phức tạp thì không thể liệt kêhết và khi đối tượng thay đổi thì định nghĩa không còn phù hợp Điều này cho thấy

sử dụng định nghĩa miêu tả để định nghĩa văn hóa - một khái niệm phức tạp vàkhông ổn định là hoàn toàn không phù hợp

Đối với yêu cầu nghiên cứu của đề tài này đòi hỏi phải có một định nghĩa cónội dung khái quát và có tính hệ thống, vì vậy tác giả xin chọn định nghĩa sau đây

về văn hóa để vận dụng vào đề tài nghiên cứu:

“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm

Trang 14

trưng rất quan trọng như tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh, tính lịch sử đượcthể hiện trong định nghĩa

Khái niệm ứng xử

Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người trong xã hội, về mặt tâm lý

học, bà Lê Thị Bừng cho rằng “ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất Mọi ứng xử của con người đều xuất phát từ cái tâm, cái trí”.[Dẫn

theo Cao Thị Hải Yến 2001:17]

Nghiên cứu về văn hoá ứng xử của con người với con người và xã hội, Nguyễn

Thị Minh Thuý cho rằng “Nói đến ứng xử là nói đến cách xử trí trong quan hệ giữa người với người hoặc giữa cá nhân với cộng đồng trước những sự kiện hoặc sự việc

cụ thể”.[Nguyễn Thị Minh Thuý 2003:23]

Theo góc độ xã hội học, ứng xử dùng để chỉ “Cách hành động (và nói) như thế nào đó của một vai trò xã hội này đối diện với một vai trò khác Và đó là những hành động hoặc gọi là phản ứng theo một cách tương đối Ứng xử không chỉ giới hạn các vai trò xã hội với nhau, còn ứng xử với mình, ứng xử với đồ vật, với tự nhiên”.[Đoàn Văn Chúc 1997:124]

Từ góc độ sinh học, các nhà khoa học cho rằng ứng xử có nghĩa là “toàn thể những phản ứng thích nghi có thể quan sát khách quan mà một cơ chế, có một hệ thống thần kinh, thực hiện để đáp trả lại những kích thích … Điều đáng chú ý là những phản ứng ấy (những ứng xử, xử lý để đáp ứng) được diễn ra theo cách tương đối ổn định”.[Dẫn theo Đoàn Văn Chúc 1997:123]

Ứng xử của con người trong đời sống xã hội không diễn ra theo cách ngẫunhiên, tùy tiện Trước mỗi loại tình huống, con người đều ứng xử theo một cách nàođấy Ứng xử theo cách này hay cách khác là chấp nhận một nếp ứng xử, là ứng xửtheo những quy tắc Sự thi hành những quy tắc về ứng xử lại thành nếp ứng xử Sựlặp đi lặp lại việc thi hành những quy tắc ứng xử sẽ tạo thành tập quán, thành nhữngkhuôn mẫu

Trang 15

1.1.2 Văn hóa ứng xử

Trong xã hội truyền thống, người Việt Nam đã chọn cho mình những thế ứng

xử khác nhau Ông cha ta vẫn truyền dạy cho các thế hệ con cháu phải “Học ăn, học nói, học gói, học mở”, “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”, “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” … Tuy nhiên, bàn về khái niệm văn hóa ứng xử

thì trong xã hội xưa không thể hiện rõ Gần đây, tác giả Nguyễn Thanh Tuấn cho

rằng: “Có thể nói khái niệm lối sống hay văn hóa lối sống là tương đương với phạm trù văn hóa ứng xử” [Nguyễn Thanh Tuấn 2008:8] Về lối sống cũng có nhiều quan

điểm và cách tiếp cận khác nhau như:

Trong công trình nghiên cứu về Văn hóa xã hội chủ nghĩa của Học viện chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng “Lối sống là một phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế-xã hội nhất định, và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống; trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người và người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” [Dẫn theo Nguyễn Thanh

Tuấn 2008:12] Lối sống trên đây được hiểu như là những hoạt động, những hành vicủa con người

Một quan điểm khác của các nhà khoa học trong công trình nghiên cứu về lối

sống và môi trường cho rằng “Lối sống, trong một chừng mực nhất định, là cách ứng xử của những người cụ thể của môi trường sống Môi trường là cái khách quan quy định, là điều kiện khách quan trực tiếp tác động và ảnh hưởng đến lối sống của con người, của các nhóm xã hội và cộng đồng dân cư” [Dẫn theo Nguyễn Thanh

Tuấn 2008:13] Quan điểm này xem lối sống như một cách thức ứng xử của conngười, đồng thời cách ứng xử cũng phải chịu những tác động rất lớn từ môi trườngsống

Trong bài viết về lối sống của Thanh Lê được đăng tải trên tạp chí Cộng sản số

2, năm 2008 thì cho rằng “Nói một cách đơn giản, lối sống nói rõ con người sống như thế nào, đã làm gì, họ làm những gì, cuộc sống của họ chứa đựng những hành

vi nào Vì thế, về thực chất, lối sống không bao quát những điều kiện sống, mà toàn

bộ những hình thức hoạt động sống của con người trong quá trình sản xuất của cải vật chất và tinh thần, cũng như trong lĩnh vực xã hội – chính trị và gia đình – sinh

Trang 16

hoạt” [Dẫn theo Nguyễn Thanh Tuấn 2008:13] Quan điểm này xem lối sống như

toàn bộ các hình thức hoạt động và không bao quát các điều kiện sống Đây là cáchhiểu về lối sống rất gần với văn hóa ứng xử

Trong những năm gần đây, ngoài một số công trình liên quan đến văn hóa lốisống, như bàn về lối sống, nếp sống, đạo đức … thì cũng có một vài công trình đềcập đến văn hóa ứng xử

Công trình Những giá trị lịch sử văn hóa 1000 năm Thăng Long – Hà Nội do Nguyễn Viết Chức chủ biên đề cập về văn hóa ứng xử “gồm cách thức quan hệ, thái

độ và hành động của con người đối với môi trường thiên nhiên, đối với xã hội và đối với người khác” [Dẫn theo Nguyễn Thanh Tuấn 2008:15] Cách hiểu này cho

thấy văn hóa ứng xử gồm 3 chiều quan hệ như với thiên nhiên, với xã hội và vớibản thân Văn hóa ứng xử gắn liền với các thước đo mà xã hội dùng để ứng xử, điều

đó có thể xem như là những chuẩn mực xã hội Tuy nhiên, trong khái niệm này cònchưa phản ánh được cách thức quan hệ, thái độ, hành động của con người phải nhưthế nào thì mới được gọi là văn hóa ứng xử

Quan điểm khác cho rằng “Văn hóa ứng xử là một bộ phận của văn hóa đạo đức và nhân cách con người Đó là những hành vi, lời nói, phương thức tiến hành một cách văn minh, lịch sự, đẹp, thích hợp trong việc giao tiếp với gia đình, cộng đồng xã hội, đối với môi trường sinh thái và môi trường tự nhiên” [Hồ Sĩ Vịnh

2004:67] Điều này cho thấy văn hóa ứng xử là cách ứng xử “đẹp”, có giá trị Tuynhiên, khái niệm này còn thiếu tính bao quát

Theo Cao Thị Hải Yến thì “Văn hóa ứng xử có thể xem là một thành tố của văn hóa tinh thần, thể hiện chiều cạnh trí tuệ và nhân văn, phản ánh đời sống tâm hồn, tình cảm của cá nhân và cộng đồng trong hoạt động thực tiễn xã hội Xét về phương diện hoạt động, văn hóa ứng xử là một hệ thống các hành vi nhằm thực hiện những khuôn mẫu mang tính lý tưởng kết tinh những giá trị và chuẩn mực mà

cá nhân và cộng đồng hướng tới Văn hóa ứng xử là một phương diện để thực hiện nhân cách và bản lĩnh của con người trong hoạt động thực tiễn của con người, gắn liền với trình độ văn hóa được tích lũy và kinh nghiệm xử lý các tình huống xảy ra trong thực tiễn xã hội”[Cao Thị Hải Yến 2001:17] Định nghĩa này quá dài nhưng

qua đây cũng cho thấy rằng, văn hóa ứng xử gắn liền với những khuôn mẫu có giá

Trang 17

trị mà cá nhân và cộng đồng dựa vào đó để thực hiện Mặt khác, thông qua văn hóaứng xử, có thể nhận ra đời sống văn hóa của cá nhân và dân tộc.

Trong công trình Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm, với

phương pháp hệ thống – cấu trúc ông chia các giá trị văn hóa làm ba loại là văn hóanhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử với môi trường Văn hóa ứng xử vớimôi trường xét về đối tượng ứng xử thì có thể chia thành văn hóa ứng xử với môitrường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội Còn xét về cách thức ứng

xử thì chia thành văn hóa tận dụng môi trường và văn hóa đối phó với môi trường

Cụ thể hơn, ông cho rằng “Cộng đồng người (chủ thể văn hóa) hiển nhiên là tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường – môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu, v.v.) và môi trường xã hội (hiểu ở đây là các xã hội, dân tộc, quốc gia láng giềng) Cho nên, hệ thống văn hóa còn bao gồm hai tiểu hệ nữa liên quan đến cách thức xử sự của cộng đồng dân tộc với hai loại môi trường ấy Hai tiểu hệ đó là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội”[Trần

Ngọc Thêm 2004:29] Quả thật, không ai có thể sống ngoài môi trường xã hội vàmôi trường tự nhiên, văn hóa chắc chắn sẽ là con số không nếu không có sự tácđộng của con người vào hai loại môi trường đó Nghiên cứu cách tác động hay cáchthức ứng xử của con người vào môi trường tự nhiên và môi trường xã hội sẽ giúpcho chúng ta nhận thấy được tổng thể về văn hóa của một dân tộc, một vùng lãnhthổ

Ông còn cho rằng “Với mỗi loại môi trường, đều có thể có hai cách xử thế phù hợp với hai loại tác động của chúng (tạo nên hai vi hệ): tận dụng môi trường (tác động tích cực) và đối phó với môi trường (tác động tiêu cực) Với môi trường tự nhiên, có thể tận dụng để ăn uống và giữ gìn sức khỏe, để tạo ra các vật dụng hàng ngày…; đồng thời phải đối phó với thiên tai (trị thủy), với khoảng cách (giao thông), với khí hậu và thời tiết (quần áo, nhà cửa, kiến trúc) Với môi trường xã hội, bằng các quá trình giao lưu văn hóa, tiếp biến văn hóa, mỗi dân tộc đều cố gắng tận dụng các thành tựu của các dân tộc, quốc gia lân bang để làm giàu thêm cho nền văn hóa của mình; đồng thời lại phải lo đối phó với họ trên các mặt trận quân sự, ngoại giao”[Trần Ngọc Thêm 2004:29] Nói chung, văn hóa ứng xử với

Trang 18

môi trường tự nhiên và môi trường xã hội có hai thành tố là tận dụng và đối phó vàđây cũng là cách hiểu khái quát nhất của nội hàm văn hóa ứng xử.

Cũng liên quan đến văn hóa ứng xử, bài viết về “Văn hóa nước và văn hóa

lửa” trong tập bài giảng về Lý luận văn hóa học của Trần Ngọc Thêm, ngoài “văn

hóa tận dụng” và “văn hóa đối phó”, ông đã sử dụng khái niệm “văn hóa sùng bái”

và “văn hóa lưu luyến” như những thành tố cơ bản của văn hóa ứng xử để nghiêncứu Với văn hóa tận dụng và đối phó, có thể vận dụng để nghiên cứu về mặt vănhóa vật chất và với văn hóa sùng bái và lưu luyến, có thể vận dụng để nghiên cứu vềmặt văn hóa tinh thần

Gần đây Nguyễn Thanh Tuấn, trong công trình Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay, đã trình bày khá chi tiết các lý luận về văn hóa ứng xử Tác giả công trình này cho rằng “Văn hóa ứng xử là hệ thống các khuôn mẫu ứng xử được thể hiện ở thái

độ, kỹ năng ứng xử của cá nhân và cộng đồng người trong mối quan hệ với môi trường thiên nhiên, xã hội và bản thân, trên cơ sở những chuẩn mực văn hóa – xã hội nhất định, để bảo tồn, phát triển cuộc sống của cá nhân và cộng đồng nhằm làm cho cuộc sống của cá nhân và cộng đồng giàu tính người hơn” [Nguyễn Thanh

Tuấn 2008:36] Khái niệm này khá ngắn gọn và có tính bao quát cao Tuy nhiên,những khuôn mẫu ứng xử phải được xác định thông qua những chuẩn mực văn hóa– xã hội nhất định, vì vậy trong khái niệm khi đề cập khuôn mẫu ứng xử rồi thì có lẽkhông cần thiết làm rõ thêm bằng những chuẩn mực văn hóa – xã hội

Như vậy, qua định nghĩa về văn hóa của Trần Ngọc Thêm và qua các kháiniệm, quan niệm về ứng xử và văn hóa ứng xử, đặc biệt là khái niệm về văn hóaứng xử của Nguyễn Thanh Tuấn, có thể đưa ra khái niệm về văn hóa ứng xử nhưsau:

“Văn hóa ứng xử là hệ thống các khuôn mẫu ứng xử được con người thể hiện qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, xã hội và bản thân của mình nhằm bảo tồn, phát triển cuộc sống của con người”.

Từ khái niệm này cho thấy, nghiên cứu “Văn hóa ứng xử với biển của ngườiViệt miền Tây Nam Bộ” là nghiên cứu về hệ thống các khuôn mẫu ứng xử đượcngười Việt miền Tây Nam Bộ thể hiện qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự

Trang 19

tương tác với môi trường tự nhiên mà đối tượng cụ thể là biển nhằm bảo tồn, pháttriển cuộc sống của người Việt nơi đây.

1.2 Định vị văn hóa ứng xử với biển của người Việt miền Tây Nam Bộ 1.2.1 Không gian văn hóa

Qua bao lần biến đổi do các đợt đứt gãy, tân kiến tạo và sự thay đổi của mựcnước biển qua các chu kỳ băng hà đã hình thành nên vùng đất đồng bằng sông CửuLong như hiện nay

Ngày nay, đồng bằng sông Cửu Long hay Tây Nam Bộ là vùng đất bao gồm 12tỉnh và 1 thành phố trực thuộc trung ương Diện tích tự nhiên của Tây Nam Bộ là39.952 km2, chiếm 12% đất diện tích tự nhiên so với cả nước Trong đó, có 5 tỉnh và

1 thành phố không có biển là các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang, Long An,Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ với tổng diện tích là 28.168 km2, chiếm 70,5%tổng diện tích đồng bằng Các tỉnh Tây Nam Bộ có biển bao gồm: Bạc Liêu có phíađông và đông nam giáp biển Đông với bờ biển dài 56 km; Bến Tre có phía đônggiáp biển Đông với bờ biển dài 65 km; Cà Mau có phía đông và nam giáp biểnĐông, phía tây giáp vịnh Thái Lan và có bờ biển dài 254 km, trong đó có 107 km bờbiển Đông và 147 km bờ biển Tây, Cà Mau có 3 mặt giáp biển, có thềm lục địa trảidài theo biển, nằm ở trung tâm vùng biển các nước Đông Nam Á; Kiên Giang cóphía Tây giáp biển Tây Nam (nằm trong vịnh Thái Lan, thuộc phía Tây Nam củanước ta, giáp với Campuchia, Thái Lan và Malaysia) với đường biển dài 200 km.Sóc Trăng có phía đông nam giáp với biển Đông với đường biển dài 72 km TiềnGiang có phía đông giáp với biển Đông với bờ biển dài 32 km Trà Vinh có phíađông và đông nam giáp biển Đông với bờ biển dài 65 km Như vậy biển ở Tây Nam

Bộ không chỉ tiếp giáp với đất liền ở phần đáy châu thổ như đồng bằng sông Hồng

mà còn bao quanh ba mặt Đông, Nam, Tây-Nam với tổng chiều dài lên đến 744 km,chiếm 22,82% đường bờ biển Việt Nam

Sự tác động, ảnh hưởng của biển đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội khu vựcTây Nam Bô không phải đồng nhất mà có sự khác nhau giữa các vùng Nói như Lê

Bá Thảo: “Có thể phân biệt ra ba đới: đới duyên hải là nơi mà trầm tích sông - biển được lắng đọng trong điều kiện nước mặn hay nước lợ dưới ảnh hưởng của thủy triều, đới chuyển tiếp trong đó chịu ảnh hưởng của triều vẫn có tác dụng nhưng độ

Trang 20

mặn của nước đã giảm nhiều (đi từ nước lợ xuống đến nước rất nhạt) và cuối cùng

là đới nội địa không còn chịu ảnh hưởng của thủy triều thì nước ngọt” [Lê Bá Thảo

1986:43] Để nêu cụ thể từng địa danh trong vùng đồng bằng Sông Cửu Long thuộcđới nào là một điều rất khó khăn Bởi lẽ việc ngập mặn không bất di bất dịch màcòn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như thời tiết, khí hậu, thủy văn, điạ hình vàtừng năm mức độ, phạm vi ngập mặn cũng khác nhau Chính vì vậy cho đến nayvẫn chưa có một công bố nào cụ thể, rành mạch bằng số liệu hay bản đồ các vùngngập mặn cho toàn vùng mà chỉ có những con số thống kê riêng lẻ mang tính địaphương Tuy nhiên, để tiện cho việc nghiên cứu và quan sát, chúng tôi liệt kê mộtcách tổng quát các địa phương nằm trong ba đới như sau:

Đới duyên hải bao gồm những địa phương ven biển như: Bạc Liêu, Bến Tre,

Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng, Tiền Giang và Trà Vinh

Đới chuyển tiếp bao gồm các địa phương cách biển khoảng trên 35km cho đếnkhoảng 100km Các tỉnh ở Tây Nam Bộ có các huyện thị nằm trong đới chuyển tiếpbao gồm một phần các tỉnh: An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, thành phố CầnThơ, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long và toàntỉnh Hậu Giang,

Đới nội địa bao gồm các địa phương nằm sâu trong nội địa cách biển khoảngtrên 100km giáp một phần Campuchia và thành phố Hồ Chí Minh Các tỉnh ở TâyNam Bộ có các huyện thị nằm trong đới chuyển tiếp bao gồm một phần các tỉnh: AnGiang, Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long và toàn tỉnh Đồng Tháp

Cách ứng xử của người Việt miền Tây Nam Bộ đối với biển không giống nhau

mà có sự khác biệt ở từng nơi Sự khác nhau này tùy vào nơi cư dân sống thuộc vàođới nào và mức độ đậm nhạt trong việc ứng xử với biển của người Việt miền TâyNam Bộ được giảm dần từ đới duyên hải đến đới nội địa

So sánh chiều dài đường bờ biển giữa Tây Nam Bộ và các vùng miền kháctrong cả nước cho thấy thứ tự các vùng miền có bờ biển dài từ cao xuống thấp lầnlượt như sau: Nam Trung Bộ có bờ biển dài 1.146 km, chiếm 35,15% đường bờbiển Việt Nam; Tây Nam Bộ có bờ biển dài 744 km, chiếm 22,82% đường bờ biểnViệt Nam; Bắc Trung Bộ có bờ biển dài 730 km, chiếm 22,39% đường bờ biển ViệtNam; đồng bằng Bắc Bộ và Đông Bắc Bắc Bộ có bờ biển dài 525km, chiếm 16,11%

Trang 21

đường bờ biển Việt Nam; Đông Nam Bộ có bờ biển dài 115 km, chiếm 3,53%đường bờ biển Việt Nam1 Qua số liệu cho thấy Tây Nam Bộ là vùng có đường bờbiển dài đứng thứ hai trong cả nước và chỉ kém vùng Nam Trung Bộ.

Hình 1: Các vùng biển Việt Nam Nguồn: wikimapia.org

Đặt trong mối quan hệ giữa ba miền chúng ta thấy miền Trung (Nam Trung Bộ

và Bắc Trung Bộ) là miền có bờ biển dài nhất nước (1876km, chiếm 57,55% đường

bờ biển Việt Nam), đồng thời đứng trước một vùng đất có điều kiện tự nhiên khắcnghiệt chịu sự chi phối rất lớn của dãy Trường Sơn nên người Việt miền Trung chỉ

có lựa chọn duy nhất là hướng ra biển Mặt khác do được kế thừa những kinh

1 Số liệu được tổng hợp từ công trình “ Địa lí các tỉnh và thành phố ở Việt Nam” của Lê

Thông, nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 2006 và trang web vi.wikipedia.org

Trang 22

nghiệm đi biển và tiếp thu văn hóa biển của người Chăm nên có thể nói miền Trung

là vùng miền có văn hóa biển khá rõ nét Miền Nam (Đông Nam Bộ và Tây NamBộ) có bờ biển dài xếp vị trí thứ hai (859km, chiếm 26,35% đường bờ biển ViệtNam), mặt khác, bên cạnh biển cả giàu có, miền Nam còn có đồng bằng châu thổrộng lớn nhất nước với nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú nên ngườiViệt miền Nam nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng có hai sự lựa chọn, một bênhướng vào đồng bằng và một bên hướng ra biển cả Bên hướng vào đồng bằng hìnhthành nên văn hóa sông nước miệt vườn rõ nét và bên hướng ra biển cả hình thànhnên một văn hóa biển đặc thù Miền Bắc (đồng bằng Bắc Bộ và Đông Bắc Bắc Bộ)

có bờ biển dài xếp vị trí sau cùng (525km, chiếm 22,39% đường bờ biển Việt Nam),bên cạnh đó, miền Bắc cũng có những đặc điểm tự nhiên giống miền Nam nhưng dovới truyền thống văn hóa nông nghiệp, làng xã, người dân bám đất giữ làng cùngvới tài nguyên biển nơi đây kém hơn so với các vùng khác nên người Việt miền Bắckém mặn mà với biển so với miền Trung và miền Nam

Nhìn toàn cảnh cho thấy “vùng Tây Nam Bộ phía bắc và tây bắc giáp Campuchia, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh (thuộc Đông Nam Bộ) Phía tây và tây nam giáp biển Tây Nam nằm trong vịnh Thái Lan, phía đông và đông nam giáp biển Đông Lãnh thổ Tây Nam Bộ được mở rộng ra ngoài biển Đông và biển Tây Nam đến 12 hải lý, tức là trên 22km và vùng kinh tế ra đến 200 hải lý”[Lê Bá Thảo

2004:8] Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO) của Liên Hiệp Quốc,vùng biển Đông và Tây Nam Bộ có thể chia thành hai vùng: vùng I bao gồm phầnbiển kể từ cực Nam Trung Bộ vòng xuống phía mũi Cà Mau và vùng II bao gồmvịnh Thái Lan tính từ mũi Cà Mau về phía tây

Trong vùng lãnh hải của vùng Tây Nam Bộ có rất nhiều đảo lớn nhỏ, ví dụ nhưquần đảo Bình Trị (còn có tên Bà Lụa) trước Hòn Chông và nhiều đảo nhỏ khácngay trước thị xã Hà Tiên, phần lớn đều là những mỏm đá phiến, có hòn trơ trụi, cóhòn phủ đầy rừng rậm Xa hơn nữa là Hòn Rái, quần đảo Nam Du, quần đảo AnThới… và đảo Phú Quốc Nằm xa nhất là quần đảo Thổ Chu, cách bờ biển Hà Tiênđến 150km Đây là kết quả của quá trình tạo sơn hoặc tân kiến tạo sau các cuộc đứtgãy, sụt lún diễn ra

Trang 23

Hình 2: Không gian biển miền Tây Nam Bộ Nguồn: wikimapia.org

Về số lượng, mật độ các đảo và quần đảo thì vùng biển Tây Nam Bộ đứng sau

các vùng biển khác trong cả nước trừ vùng Đông Nam Bộ “Sự phân bố các đảo ở biển Việt Nam không đều, ven bờ vịnh Bắc Bộ có số lượng hơn 2.300 đảo với diện tích khoảng gần 800km 2 , ven bờ miền Trung có khoảng trên 250 đảo, với diện tích khoảng 170km 2 , ven bờ Nam Bộ có số lượng hơn 200 đảo với diện tích 678km 2”[Đặng Việt Thủy, Đậu Xuân Luận 2009:61] Tuy nhiên Tây Nam Bộ chính

là nơi sở hữu hòn đảo lớn nhất nước, đó là đảo Phú Quốc, với diện tích 573km2.Bên cạnh các đảo, một yếu tố cũng rất quan trọng và ảnh hưởng không gianmiền Tây Nam Bộ đó là những bãi bồi, đặc biệt là bãi bồi ở Mũi Cà Mau – vùng đấtđược cấu tạo bởi phù sa từ tất cả các cửa sông Cửu Long được hai dòng hải lưu ởvịnh Rạch Giá và biển Đông phối hợp tạo thành

Theo số liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau tốc độ bồi lấn biển

ở khu vực bãi bồi Mũi Cà Mau qua các giai đoạn như sau: giai đoạn 1930-1965bình quân lấn ra biển khoảng 15,3m/năm, giai đoạn 1965-1985 khoảng 26,6m/năm,giai đoạn 1985-1991 khoảng 38,2m/năm, giai đoạn 1991-1998 bình quân lấn ra biểnkhoảng 30m/năm Theo đó bình quân mỗi năm diện tích vùng bãi bồi Cà Mau tăng

Trang 24

thêm khoảng 136ha Diện tích đất bãi bồi của huyện Ngọc Hiển hiện nay khoảng7.632 ha.

Nếu biển Tây Nam được xem là một phần của biển Đông nằm trong vịnh TháiLan thì biển Đông được xem là một biển phụ thuộc của Thái Bình Dương, songcũng thông với Ấn Độ Dương Bờ phía tây tiếp giáp với phần lục địa Đông Nam Á,bao gồm: Singapore, Malaysia, Thái Lan, Campuchia và chủ yếu là Việt Nam (trong

đó có một phần bao bọc Tây Nam Bộ); phía bắc giáp với Hoa Nam và Đông Hảicủa Trung Quốc; phía đông ngăn cách với Thái Bình Dương bởi quần đảo Philippin

và phía nam ngăn cách với Ấn Độ Dương là quần đảo Indonesia

Theo Lê Bá Thảo, biển Đông (trong đó có phần biển bao bọc Tây Nam Bộ) làmột biển nóng nhưng nhiệt độ nước vẫn thay đổi trong năm tùy theo mùa Khi nhiệt

độ nước thay đổi, kéo theo sự thay đổi của nhiệt độ không khí, tuy chậm hơn từ 15đến 25 ngày Độ muối lớn, cao hơn trị số trung bình của các biển chung trên thếgiới Biển Tây Nam nằm trong vịnh Thái Lan là vùng biển ấm, thềm lục địa thoải,không có vực sâu Ở đây có nhiều loài rong biển sinh sống Biển có nguồn hữu cơkhá phong phú từ sông ngòi, kênh rạch đổ ra Môi trường và nguồn thức ăn phongphú đã thu hút rất nhiều loài thủy hải sản đến đây trú ngụ và phát triển Đồng thời,biển Tây Nam nằm gần như hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới và đến một chừngmực nào đó là một biển tương đối kín vì có nhiều đảo và quần đảo rộng lớn baoquanh2

Vùng biển Đông bao bọc Tây Nam Bộ là một vùng biển lồi và nông Địa hìnhdạng lòng chảo điển hình với nhiều dạng phong phú, đặc biệt là hàng nghìn đảo vàquần đảo lớn nhỏ

Về nhiệt độ, nói chung là vẫn mang tính chất nhiệt đới gió mùa Cường độtriều lớn và chế độ triều trong ngày đủ loại, điển hình là chế độ nhật triều đều (hiếm

có trên thế giới)

Về hải lưu ở vùng biển Đông và biển Tây Nam đổi hướng theo mùa Dòngbiển trong biển Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 9 thì chảy theo hướng chiều kimđồng hồ, từ tháng 10 đến tháng 1 lại chảy theo hướng ngược lại, còn trong các tháng

2, 3 và 4 thì đổ ra ngoài vịnh theo hướng nam Dòng biển của biển Đông bao bọc

2 Lê Bá Thảo: Thiên nhiên Việt Nam, NXB Giáo dục, năm 2004, tr9&tr334

Trang 25

Tây Nam Bộ thì chảy theo hướng ngược chiều kim đồng hồ Các dòng biển của biểnĐông và biển Tây Nam kể cả dòng ven bờ luôn duy trì theo hai hướng đối lập đưacác chất liệu bồi lắng về phía Nam, tích tụ lại ở khu vực Cà Mau, tạo thành mũi CàMau.

Về chế độ triều, vùng Tây Nam Bộ chịu sự tác động của triều từ ba mặt Đông,

Nam và Tây kết hợp “Từ phía Đông, triều truyền theo các cửa sông lớn như Cửa Đại, Ba Lai, Cổ Chiên, Trần Đề Hệ triều mang tính chất bán nhật với độ chênh lệch lớn trên dưới 3 m giữa hai lần nước lớn và hai lần nước ròng trong ngày Từ vịnh Thái Lan, triều truyền theo các sông Bảy Háp, Ông Đốc, Cái Lớn … theo chế

độ nhật triều, độ chênh lệch không quá 1 m Từ phía Nam, giữa mũi Cà Mau và cửa sông Bồ Đề, triều mang tính chất chuyển tiếp giữa hai hệ triều cơ bản nói trên Tác động của các chế độ triều mang tính chất phức tạp đó tạo ra những vùng “giáp nước” quanh năm úng thủy Triều truyền dẫn sâu vào nội địa tới 200-220 km Hàng

tỉ mét khối nước biển theo các sông và kênh rạch vào vùng đất thấp, gây nhiễm mặn hàng triệu héc-ta đất, nhất là về mùa khô”[Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm,

Mạc Đường 1990:19]

Về khí hậu, Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức có ghi rằng Gia

Định thuộc về phương ly, âm ít dương nhiều, thường nhiều gió Nam Vì mặt trời ởphương Nam, mà gió từ phương Nam thổi lại, cho nên gió mạnh ở phương Namnhiều mà không có lo về bão, là vì bão là gió đủ cả bốn phương, khi nổi ở đông bắc,thì từ bắc mà chuyển sang tây, khi nổi ở tây bắc thì từ bắc mà chuyển sang đông đềuđến nam thì tắt Và gió ở Gia Định, thì gió Nam là chính Phàm bão đều quay về

phương nam thì thôi Cho nên ở Gia Định không có bão Mặt khác “Do chịu sự ảnh hưởng điều hòa sâu sắc của biển và nằm gần xích đạo hơn cả nên khí hậu của đồng bằng này có tính đồng nhất tương đối và tính ổn định trên phạm vi toàn lãnh thổ”

Trang 26

Từ những đặc điểm tự nhiên trên cho thấy vùng biển Đông bao bọc Tây Nam

Bộ và biển Tây Nam có một giá trị lớn về phương diện thực tiễn cuộc sống Trướchết là nguồn lợi sinh vật biển rất phong phú và đa dạng, trong đó quan trọng nhất là

cá biển cùng với nhiều đặc sản khác rất có giá trị trong kim ngạch xuất khẩu Biểncũng mang lại những khoáng sản quan trọng như: các trầm tích sa khoáng và đặcbiệt là dầu khí Về giao thông hàng hải cũng rất thuận lợi và phát triển Một sốngành khác cũng không kém quan trọng như khai thác dược liệu, làm đồ mĩ nghệ,nhất là nghỉ mát và du lịch biển kết hợp với cảnh quan văn hóa và lịch sử Cuốicùng và cũng rất quan trọng trong tương lai là các ngành kinh tế như: công nghiệpbiển và đặc biệt là nông nghiệp biển Khu vực này rất phát triển các bãi triều, cácđầm phá ven biển Các vịnh, các vùng cửa sông và các làng cá ven biển tiếp tụcphát triển các cơ sở trồng trọt và chăn nuôi hải sản quý hiếm với năng suất cao đểxuất khẩu và góp phần nâng cao đời sống nhân dân

Nếu đặt biển vùng Tây Nam Bộ trong sự tương quan với các vùng biển kháctrong cả nước chúng ta sẽ thấy biển vùng Tây Nam Bộ có nhiều điểm khác biệt.Vùng biển Tây Nam Bộ là vùng biển duy nhất của Việt Nam có cả phần biển lồi vàphần biển lõm Từ Tiền Giang đến mũi Cà Mau có thể xem là một vùng biển lồigiống như biển vùng Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Bắc Trung Bộ nhưng khácvới các vùng khác ở chỗ đây là biển lồi chứ không sâu (do phù sa của các nhánhsông Cửu Long đổ ra) cho nên cảng biển ở đây kém phát triển so với các vùng biểnlồi khác Đối với các vùng biển lồi ở Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộkhông chịu ảnh hưởng lượng phù sa của các con sông lớn nên biển ở các vùng nàytương đối sâu vì vậy dễ dàng phát triển các hải cảng, đặc biệt là cảng nước sâu Từmũi Cà Mau đến Hà Tiên (Kiên Giang) được xem là vùng biển lõm giống vùng biểnđồng bằng Bắc Bộ nhưng khác nhau ở chỗ đây là vùng biển bồi, bãi biển không làbãi cát mà chỉ là bãi bùn ngập nước với sự góp mặt mắm, đước, sú, vẹt … Chính

sự khác biệt và những đặc điểm độc đáo đã tạo nên cho vùng biển miền Tây Nam

Bộ sắc thái riêng mà không có nơi nào có được

1.2.2 Chủ thể văn hóa

Con người có lẽ đã xuất hiện trên vùng đất Tây Nam Bộ từ lâu nhưng đếnkhoảng vào đầu công nguyên thì sử sách mới ghi lại được những bằng chứng rõ nét

Trang 27

nhất Một vài thế kỷ trước công nguyên, người Indonesian từ vùng cao khu vựcmiền Đông Nam Bộ mở rộng các cuộc khai phá xuống vùng đất thấp ven châu thổnhằm mở rộng giao lưu với các dân tộc ở Đông Dương và Đông Nam Á hải đảo Từthế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VI, đồng bằng hạ lưu sông MêKông trở thành địa bànquan trọng trên con đường giao lưu kinh tế - văn hoá Đông-Tây Thời gian này,người Indonesian đã mở rộng công cuộc chinh phục đất đai châu thổ sông CửuLong và cùng nhiều lớp người ngoại nhập (Thiên Trúc, Nguyệt Thị, Nam Dương )tạo lập nền văn hoá Óc Eo trên toàn vùng đồng bằng Nam Bộ và khu vực đông namCampuchia, dựng nên vương quốc Phù Nam hùng mạnh Đế chế Phù Nam đã bị sụp

đổ vào khoảng thế kỷ thứ VI nhưng nền văn hóa Óc Eo vẫn tồn tại đến khoảng haithế kỷ sau đó mới tàn lụi hẳn

Vào khoảng thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ XV, sau sự kiện vương quốc ChânLạp tiêu diệt Phù Nam, cư dân Phù Nam-Chân Lạp cổ lúc ấy hoặc rút lên vùng caoNam Đông Dương, hoặc số ít lưu lại sống rải rác trên các giồng cát ven sông, cậnbiển, gần các cửa sông Cửu Long Tuy nhiên, tình trạng chung của toàn vùng kể từthời điểm đó là hoang phế

Người Khmer chỉ thực sự định cư ở Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVI, tức sau khivương quốc Chân Lạp bị người Xiêm đánh bại, phải dời đô đến Phnom Penh ngàynay vào năm 1434, và chuyển trọng tâm đất nước từ tây bắc xuống đông nam Biển

Hồ “Đồng bào Khmer miền Tây Nam Bộ thường sống tập trung ở những giồng đất, dải đất cao Họ xây dựng cộng đồng thành những phum, sóc, trong đó các hộ gia đình thường sống gần kề nhau”[Trần Văn Bính 2004:233] Người Khmer không có

truyền thống với nghề biển, vì vậy họ tỏ ra ít gắn bó, tận dụng biển Ở miền TâyNam Bộ, người Khmer cư trú tập trung ở Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang và rải rác

ở một vài nơi khác Tuy nhiên trong quá trình sản xuất nông nghiệp, họ vẫn cónhững ứng xử nhất định đối với biển mà cụ thể là đối phó với biển trong việc chốngnhiễm mặn

Khoảng cuối thế kỷ XVI, đã có những người Việt đầu tiên vượt biển tới khaiphá vùng đất Tây Nam Bộ Những người Việt này không ai khác là những ngư dânmiền Trung, thạo nghề biển, có hiểu biết về vùng đất này, sau đó mới đến nhữngthành phần cư dân khác đến nhưng chủ yếu cũng là những cư dân sống dọc theo dãi

Trang 28

đất miền Trung Ban đầu, do nhiều vùng đất ven biển sình lầy ngập nước khôngthuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp nên những người sống với nghề nông đã dichuyển đến những vùng đất cao làm nơi định cư, canh tác nông nghiệp; còn đối vớinhững cư dân với truyền thống đi biển của mình đã nhận thấy những lợi thế về tàinguyên biển mang lại cùng với đặc điểm biển hiền hòa đã chọn các vùng ven biểncửa sông làm nơi lập nghiệp Một số người Việt đã lần lượt đưa vào vùng đất mớinày một hệ thống kỹ thuật nông nghiệp lúa nước và một số người thì mang đếnvùng này những kinh nghiệm khai thác hải sản ven bờ Có lẽ sự có mặt chính thứccủa người Việt ven bờ vùng biển Tây Nam Bộ bắt đầu từ thời gian này

Quá trình khai khẩn của người Việt càng thuận lợi hơn sau cuộc hôn nhân giữacông nữ Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II vào những năm 1620 Cácdanh từ được phiên âm từ Preinokor ra Sài Gòn, Kaskrobey ra Bến Nghé và NôngNại ra Đồng Nai đã được xuất hiện trong các nhóm người Việt Năm 1623 vua ChânLạp gửi quốc thư chấp thuận việc chúa Nguyễn muốn đặt trạm thu thuế tại Sài Gòn

Sự việc này có thể xem là một dấu ấn quan trọng trong công cuộc khai hoang xứĐàng Thổ của chúa Nguyễn nước Đại Việt

Theo nhiều nhà nghiên cứu thì “Người Việt Tây Nam Bộ có nguồn gốc chủ yếu

là nông dân nghèo, những người trốn tránh binh dịch, những tù nhân bị lưu đày, những binh lính đào ngũ hoặc giải ngũ, những thầy lang, thầy đồ nghèo, những con người bị chế độ phong kiến đàn áp, cưỡng bức và phân biệt đối xử, tóm lại là những lớp người tận cùng của xã hội từ Ngũ Quảng tụ họp về”[Nguyễn Công Bình,

Lê Xuân Diệm, Mạc Đường 1990:30] Con đường di cư của những cư dân Việt vàomiền Tây Nam Bộ có thể khác nhau, một nhóm chủ yếu là ngư dân ven biển miềnTrung đã di cư vào Nam bằng đường biển, định cư rải rác ở các khu vực ven bờvùng biển Tây Nam Bộ từ Tiền Giang đến Hà Tiên, các hải đảo ở biển Tây Nam

trong vịnh Thái Lan Theo Phan Thị Yến Tuyết “Đối với cư dân Việt từ miền Trung vào đồng bằng sông Cửu Long khẩn hoang, đất giồng duyên hải có lẽ là vùng đất đầu tiên khá thích hợp để sinh sống”[Phan Thị Yến Tuyết 1993:11] Một nhóm

khác, di cư bằng đường bộ thì ra sức khẩn hoang, khai hóa, trồng trọt

Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Chưởng cơ Nguyễn HữuKính vào kinh lý miền Nam Trên cơ sở những lưu dân Việt đã tới khu vực Đồng

Trang 29

Nai - Gia Định (Đông Nam Bộ), gồm khoảng 40.000 hộ với 200.000 khẩu, NguyễnHữu Kính cho lập phủ Gia Định, gồm hai dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, với hai huyệnPhước Long, Tân Bình Đến năm 1779, phủ Gia Định đã bao trùm toàn vùng Nam

Bộ hiện nay Chỉ riêng Trà Vinh và Sóc Trăng có giao lại cho vua Chân Lạp caiquản một thời gian, nhưng đến năm 1835 cũng được sát nhập vĩnh viễn vào lãnh thổViệt Nam Kể từ đó đến nay, vùng đất này đã trải qua 8 lần thay đổi tên gọi cũngnhư vị trí của nó trong hệ thống hành chính: Gia Định Phủ (1698-1802), Gia ĐịnhTrấn (1802-1808), Gia Định Thành (1808-1832), Nam Kỳ (1832-1867),Cochinchine tức Nam Kỳ thuộc Pháp (1867-1945), Nam Phần (1945-1975), Nam

Bộ (1945 đến nay)

Người Hoa bắt đầu có mặt ở đồng bằng sông Cửu Long vào thế kỷ XVII Theo

Phan Thị Yến Tuyết “Người Hoa cũng đặt chân đến đồng bằng sông Cửu Long khá sớm, vào khoảng nửa sau thế kỷ XVII Đây là đợt di cư lớn và ồ ạt nhất của người Hoa vào Việt Nam do tình trạng chiến tranh kéo dài và cuộc đấu tranh dân tộc gay gắt ở Trung Quốc Những người Hoa di cư vào đồng bằng sông Cửu Long bao gồm một số quan lại, tướng lĩnh và quân sĩ nhà Minh bị thất bại nhưng không chịu thần phục nhà Thanh, cùng một số thương nhân và thường dân” [Phan Thị Yến Tuyết

1993:15] Năm 1680, Mạc Cửu, một người gốc Quảng Đông, khi nhà Thanh cướpngôi nhà Minh đã cùng gia quyến vượt biển sang Chân Lạp khai khẩn và cai quản 7

xã gồm toàn lưu dân, gọi là Hà Tiên, Mạc Cửu mở rộng đất đai của mình gồm vùngđất Hà Tiên, Rạch Giá, Phú Quốc khi đó đang thuộc Chân Lạp nhưng Chân Lạpkhông kiểm soát được Năm 1708 để tránh áp lực thường xuyên của Xiêm La sangcướp phá, Mạc Cửu đã dâng đất khai phá xin nội thuộc về chúa Nguyễn Phúc Chu,chúa Nguyễn đổi tên thành Trấn Hà Tiên, phong cho Mạc Cửu làm chức Tổng binh,cai quản đất Hà Tiên Khi Mạc Cửu mất, con là Mạc Thiên Tứ lại được làm chức đôđốc, tiếp tục cai quản Hà Tiên Mạc Thiên Tứ đắp thành, xây lũy, mở chợ, làmđường và đưa người về dạy Nho học để khai hóa đất Hà Tiên Hà Tiên lúc đó đượcthương gia nước ngoài biết đến như là một cảng quốc Sự gắn bó của cư dân HàTiên với biển nơi đây là rất mật thiết Về nguồn gốc người Hoa ở đồng bằng sông

Cửu Long thì “phần lớn họ là những nhóm người quê quán ở các tỉnh ven biển miền Nam Trung Quốc như Phúc Kiến, Quảng Đông và đảo Hải Nam”[Phan Thị

Trang 30

Yến Tuyết 1993:15] Theo Trần Văn Bính chia theo nhóm ngôn ngữ thì “Năm 1787 đồng bằng sông Cửu Long có bốn bang: Quảng Châu, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam Năm 1814 có bảy bang: Quảng Châu, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam, Phúc Châu, Quế Châu, Lôi Châu Năm 1885 tới 1975 có năm bang: Quảng Châu, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam và Hẹ (Hắc Cá)”[Trần Văn Bính 2004:118] Nhìn

chung, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long khá đa dạng về nguồn gốc và ngônngữ nhưng có một điểm chung đó là hầu hết trong số họ đều là những cư dân sốngven biển nên khi ra đi họ đã mang theo những kinh nghiệm ứng xử với biển đếnvùng đất mới

Nhìn chung, vào đầu thế kỷ XVI, hầu hết đất đai ở đồng bằng sông Cửu Longđều là hoang hoá Kể từ thời điểm đó, các cộng đồng lưu dân người Khmer, ngườiViệt, người Hoa, người Chăm mới nối tiếp nhau tiến vào Nam Bộ, chia nhau khaikhẩn, đào kinh, canh tác, định cư, buôn bán, dần dần biến một vùng đất hoang vurộng lớn thành những vùng nông nghiệp trù phú và những đô thị sầm uất Từ thế kỷthứ XVI đến thế kỷ thứ XVIII người Kinh đã hoàn thành việc khai khẩn và xác lậplãnh thổ của mình rõ ràng Đó chính là vùng đất đồng bằng sông Cửu Long ngàynay

Mặc dù ngày nay, Tây Nam Bộ là vùng đất có nhiều dân tộc Việt Nam đangsinh sống như Kinh, Hoa, Khmer, Chăm … nhưng chiếm đại đa số vẫn là dân tộcKinh Đồng thời người Kinh cũng là thành phần chủ yếu trong việc khai thác và ứngphó với biển khơi, cụ thể là biển vùng Tây Nam Bộ Tuy nhiên, trong quá trình cộng

cư cùng người Hoa, Khmer và Chăm, người Việt đã giao lưu và chịu ảnh hưởngphần nào văn hóa ứng xử với biển của họ, mà ảnh hưởng rõ nét nhất đó là về tínngưỡng các vị thần liên quan đến biển của người Hoa Ngoài ra, cũng cần phải nhắctới ảnh hưởng của văn hóa Chăm đến văn hóa ứng xử với biển của người Việt miềnTây Nam Bộ Do người Chăm đã từng có một thời gian dài cư trú ở vùng đất duyênhải Trung Bộ - một dải đất hẹp với một bên là núi cao, một bên là biển khơi, nơi cókhí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn nên họ rất thạo nghề đi biển và đời sống của họ

có mối quan hệ khá mật thiết với biển Vì thế, về sau, khi người Việt Trung Bộ khaithác biển, họ đã tiếp thu và chịu ảnh hưởng đáng kể nét văn hóa ứng xử với biển củangười Chăm cho nên khi di cư vào vùng đất mới, ngư dân Việt miền Trung đã mang

Trang 31

theo và tiếp tục phát triển nghề đi biển của họ cho đến ngày nay Theo Gia Định Thành Thông Chí miêu tả như vùng Vũng Dương “dân cư tụ tập ngăn khoảnh ruộng nước mặn để làm ruộng muối”; vùng cửa biển Tắc Ký “dân miền biển nhóm đến làm nghề chài lưới”; vùng cửa biển Cần Giờ “chợ phố trù mật”; vùng cửa biển Đồng Tranh “lưới đáy và đó đăng theo ngư nghệ”; vùng đảo Côn Lôn “có ruộng núi trồng lúa, bắp, khoai, đậu” Một không gian sông, biển, rừng bao quanh nơi cư

trú của cư dân vùng biển:

“Mắm trước, đước sau, tràm theo sát, Sau hàng dừa nước, mái nhà ai”.

Theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê thì dân số các dân tộc vùng đồng bằngsông Cửu Long được thống kê cụ thể như sau:

1.2.3 Thời gian văn hóa

Giai đoạn trước khi người Việt khai phá miền Tây Nam Bộ:

Trước khi người Việt đến khai phá vùng đất miền Tây Nam Bộ, tức là khoảngthời gian từ đầu công nguyên đến thế kỷ thứ XVI, tộc người có mối quan hệ mậtthiết và gắn bó với biển nhất trong các lĩnh vực văn hóa vật chất và tinh thần đó là

cư dân Phù Nam, chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo

Vào thời gian này, cư dân Phù Nam đã biết tận dụng biển để làm muối và đặcbiệt là chế tác thủy tinh Năm 1995 các nhà khảo cổ học đã khai quật được mộtchiếc thuyền dạt vào cửa kênh ven biển ở huyện Hồng Dân - Cà Mau, trong thuyền

có hai bộ hài cốt, một của người lớn và một của thiếu niên cùng một số đồ dùngmang theo như vò, ấm, có niên đại khoảng thế kỷ thứ IV Điều đó càng chứng tỏ

Trang 32

rằng đã tồn tại một đất nước Phù Nam có nghề đi biển và cuộc sống trên bến dướithuyền sinh động

Sau khi nền văn hóa Óc Eo bị tàn lụi thì toàn bộ vùng biển miền Tây Nam Bộgần như bỏ ngỏ cho đến khi có sự xuất hiện của người Việt

Giai đoạn từ khi người Việt khai phá miền Tây Nam Bộ đến nay:

- Từ khi người Việt đến khai phá miền Tây Nam Bộ đến cuối thời phong kiến:

Sau khi nền văn hoá Óc Eo – văn hoá cảng biển – lùi vào quá khứ (thế kỷ thứVI), miền Nam rơi vào tình trạng hoang vu, hiểm trở Người Khmer, người Hoa,người Chăm, người Việt đều là những cư dân đến khai phá vùng đất mới NgườiViệt miền Tây Nam Bộ trong những ngày đầu khẩn hoang chủ yếu là những cư dân

có nguồn gốc từ miền Trung, một vùng đất mà yếu tố biển hằn sâu trong đời sốngvật chất và tinh thần của mỗi con người Vì vậy, khi đến vùng đất mới những lưudân đã mang theo những kinh nghiệm quý báu trong việc ứng xử với biển đã được

kế thừa từ người Chăm và tích lũy từ trong thực tiễn vào vùng đất miền Tây Nam

Bộ Tuy nhiên, truyền thống văn hoá biển từ miền Trung đưa vào miền đồng bằngNam Bộ không phải được giữ nguyên bản mà đã được cải biến cho phù hợp với quêhương mới Đồng thời, quá trình cộng cư, giao lưu văn hoá với các dân tộc kháctrên vùng đất châu thổ đã tạo nên những nét đặc trưng mang sắc thái mới trong quan

hệ với biển miền Tây Nam Bộ Về điều này, tác giả Trần Quốc Vượng cho rằng:

“Gần như một qui luật, văn hoá của lưu dân vùng đất mới, dù là của tộc người nào cũng đều là sự kết hợp giữa truyền thống văn hoá trong tiềm thức, trong dòng máu

và điều kiện tự nhiên, lịch sử của vùng đất mới, nó phát triển trong điều kiện cách

xa vùng đất cội nguồn cả về không gian và thời gian … Cho nên, nền văn hoá này vừa có nét giống lại vừa có nét khác với nền văn hoá ở vùng đất cội nguồn, của cùng một tộc người”[Trần Quốc Vượng 2002:271].

Từ thời Nguyễn nhiều nhóm dân cư từ miền Trung đến vùng đất đồng bằngchâu thổ đã tập hợp thành những nhóm dân cư ở khu vực ven biển cửa sông và cácnhóm dân cư này chính là tiền thân khai sinh các làng nghề biển nổi tiếng như:Động Cao, Định An, Bãi Giá, Gành Hào, Đá Bạc, Rạch Sỏi, đặc biệt là làng nghềđóng đáy hàng khơi Ba Động Các nhóm dân cư ở khu vực ven biển nhanh chóngthực hiện việc khai thác hải sản ở vùng biển như đánh bắt hải sản (đánh bắt ven bờ),

Trang 33

làm muối và làm nước mắm Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức có ghi

lại rất rõ ở Nam Kỳ có nhiều loại hải sản quý như: cá hồ sa, cá chim trắng, cá hồng,

cá thu, cá sen, cá mồi, cá thạch đầu hay gọi là cá ấp (làm mắm và nước mắm), cámềm, cá dưa, cá linh, cá điều, cá mực, cá dải áo, cá mề gà, cá cơm biển, cá ngân, cáchuột, cá dùi, cá hải mã … Ngoài ra còn các loại hải sản quý khác như hải kính (tụcgọi là điệp) thịt muối làm mắm, thứ này đỏ thì ngon mềm Trường diệt (tục gọi đápđáp), vàn đáp (có 2 loại trắng và đen), ngao trai ven biển đều có Ốc xà cừ, ốc taivoi, thịt dùng để ăn, vỏ để khảm đồ vật, vỏ sáng óng ánh Tôm hồng (tôm he) ởbiển, phơi khô bán cho thuyền buôn, duy hai trấn Vĩnh Thanh và Hà Tiên có nhiều;một năm có tới 10 vạn cân Con ghẹ ở biển, thịt ít, vị nhạt, con sam vị ngon, trứng

nó có thể muối làm mắm, con đồi mồi, con hải miết (tục gọi là con vích), to chiềungang 5,6 thước

Như vậy cho thấy, trong thời gian đầu trong công cuộc khẩn hoang, một bộphận không nhỏ cư dân Việt miền Tây Nam Bộ đã ra sức tận dụng khai thác biển vàvăn hoá biển miền Tây Nam Bộ cũng được dần dần hình thành từ đó

- Giai đoạn ảnh hưởng văn hóa Phương Tây:

Ảnh hưởng của Phương Tây bắt đầu từ sự kiện Pháp đánh chiếm Đà Nẵng vàonăm 1858 và sau đó men theo đường biển vào đánh chiếm vùng Đông Nam Bộ.Tháng 6 năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Bộcho Pháp Năm 1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Bộ còn lại và từ đó ngườiPháp áp đặt một chế độ thuộc địa ở toàn bộ Nam kỳ Cuộc tổng tiến công và nổi dậymùa xuân năm 1975, tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam dân chủ cộng hòađầu hàng vô điều kiện cũng là thời bước ngoặt kết thúc sự đô hộ của Phương Tây ởmiền Nam, Việt nam Như vậy, trong quan hệ giữa ba miền Bắc, Trung, Nam thìmiền Nam chịu sự ảnh hưởng nhiều nhất của Phương Tây vì bị đô hộ trực tiếp Nếuxét trong mối quan hệ giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ thì Đông Nam Bộ chịuảnh hưởng sâu sắc hơn vì chịu đô hộ lâu hơn đồng thời các bộ máy cai trị của Pháp,

Mỹ cũng đều được đặt ở Đông Nam Bộ

Trong suốt thời gian Pháp và sau đó là Mỹ đánh chiếm vùng đất đồng bằngNam Bộ thì một số làng nghề ven biển vẫn còn hoạt động Tuy nhiên, do nhiều lần

bị đánh phá bằng đường biển bằng các tàu chiến, chiến hạm nên một bộ phận cưdân Việt miền Tây Nam Bộ sống bằng nghề chài lưới ở vùng ven biển đã di chuyểnvào vùng sâu trong đồng bằng tìm nơi an toàn hơn để sinh sống

Trang 34

- Thời hội nhập toàn cầu:

Trong thời đại toàn cầu hóa, tiềm năng biển dồi dào chính là thế mạnh của TâyNam Bộ nói riêng và cả nước nói chung trong việc phát triển kinh tế và hợp tác kinh

tế quốc tế

Ở miền Bắc, đầu tư vào hệ thống cảng biển, kinh doanh dịch vụ cảng biển, vậntải biển (đặc biệt là Hải Phòng – cửa ngõ chính ra biển của các tỉnh phía Bắc) làmột trong những lĩnh vực được ưu tiên đầu tư bên cạnh việc thành lập các khu kinh

tế, khu công nghiệp ven biển

Ở miền Trung, lĩnh vực được đầu tư nổi bật nhất là du lịch với nhiều kháchsạn, nhà hàng, khu du lịch nghỉ dưỡng, khu nghỉ mát cao cấp, mang đẳng cấp quốc

tế Ngoài ra cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ kinh tế biển cũng được đầu tư như: xâydựng khu công nghiệp dịch vụ thủy sản, hệ thống cảng biển…

Trong khi đó ở Đông Nam Bộ, các dự án đầu tư tập trung chủ yếu trên hai lĩnhvực du lịch và công nghiệp Nước ngoài đầu tư chủ yếu vào khai thác dầu khí vớiquy mô lớn, chuyên sâu, ngoài ra các dự án lớn đầu tư vào lĩnh vực du lịch như xâydựng các khu nghỉ mát phức hợp, khu vui chơi giải trí, đồng thời hệ thống phươngtiện giao thông vận tải đường biển cũng được nhiều nước quan tâm, đầu tư Nhữngnăm gần đây, Đông Nam Bộ cũng mở rộng hình thức cho thuê cảng biển, mở rộngđối tượng cho phép đầu tư dịch vụ cảng biển, dịch vụ hậu cần (logistic), kêu gọi vốnđầu tư các cảng lớn như Hiệp Phước, Thị Vải, Lạch Huyện…

Đối với Tây Nam Bộ, một nơi có vùng biển phong phú về nguồn lợi hải sảnnhưng biển cạn, nhiều bãi bùn nên nơi đây chủ yếu đầu tư các lĩnh vực khai thác,nuôi trồng và chế biến hải sản Thời gian gần đây còn đẩy mạnh việc phát triển dulịch biển chất lượng cao tại Phú Quốc Nhìn chung, sau khi các đế quốc xâm lượcrút khỏi vùng đất này thì văn hoá biển vùng đất miền Tây Nam Bộ được thấy rõhơn Cư dân Việt miền Tây Nam Bộ đã đẩy mạnh việc khai thác hải sản đầu tiên làven bờ, sau đó theo xu hướng tiến ra biển xa Bên cạnh đó, việc nghiên cứu, đánhgiá tài nguyên biển cũng được chú trọng phát triển Ngày nay, văn hoá ứng xử vớibiển đã được thể hiện rất rõ trong các mặt đời sống vật chất lẫn tinh thần của cư dânViệt miền Tây Nam Bộ Đồng thời văn hoá biển miền Tây Nam Bộ cũng đã trởthành một thành tố rất quan trọng trong văn hoá của vùng đất miền Tây Nam Bộ

Trang 35

TIỂU KẾT

Tổng hòa các khái niệm văn hóa và ứng xử giúp hình thành khái niệm văn hóaứng xử, từ đó tạo cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu văn hóa ứng xử với biển củangười Việt miền Tây Nam Bộ Định vị văn hóa cho thấy rõ rằng biển có một vị trí

và vai trò rất quan trọng đối với mảnh đất và con người nơi đây: Biển chính là nhân

tố chính trong việc kiến tạo và hình thành nên vùng đất châu thổ; là cầu nối nối liềncác lục địa, các vùng miền của tổ quốc với vùng đất này và góp phần rất lớn trongviệc đưa chân những người Việt đầu tiên đến vùng đất phương Nam, mở tiền đề tolớn cho việc khai khẩn vùng đất mới mở rộng lãnh thổ Việt Nam mà ngày nay vùngđất này được biết với tên gọi là đồng bằng sông Cửu Long Sau bước chân ngườiViệt, người Hoa cũng theo con đường biển đến vùng đất này để rồi hợp với ngườiViệt, Khmer, Chăm … hình thành nên vùng đất đa tộc người với sự thống nhấttrong đa dạng Khi bước chân đến vùng đất châu thổ, người Việt đã mang theonhững kinh nghiệm ứng xử với biển từ miền Trung vào cùng với sự tiếp thu, cộnghưởng văn hóa ứng xử với biển của các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer đã tạo nên mộtnếp ứng xử với biển khá đặc sắc trên vùng đất mới Nếp ứng xử hay văn hóa ứng xửvới biển của người Việt miền Tây Nam Bộ thể hiện khá rõ nét qua văn hóa tậndụng, đối phó, sùng bái và lưu luyến

Trang 36

CHƯƠNG 2 VĂN HÓA TẬN DỤNG VÀ ĐỐI PHÓ VỚI BIỂN CỦA NGƯỜI

VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất có diện tích tiếp giáp với biển khá lớncùng với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt khắp vùng thông ra biển bằngnhiều cửa mà tiêu biểu nhất là chín cửa của sông Cửu Long nên toàn vùng này chịu

sự ảnh hưởng và tác động khá sâu sắc của biển

Đối với khu vực nội đồng, khi triều cường, nước mặn dễ dàng xâm nhập vàođất liền thông qua hệ thống sông ngòi, kênh rạch Đặc biệt nếu triều cường kết hợpvới khô hạn kéo dài thì nước mặn sẽ nhanh chóng đi sâu vào khu vực nội đồng gây

ra nhiều khu vực ngập úng mặn ở những vùng đất thấp, gây nhiều khó khăn choviệc phát triển cây trồng, đặc biệt là cây lúa - một loại cây lương thực quan trọngnhất của địa phương

Đối với khu vực ven biển thì đời sống cư dân nơi đây càng có mối quan hệ mậtthiết đối với biển hơn thông qua chế độ hải triều, hải lưu, gió, khí hậu đại dương …Dựa vào mức độ tác động, ảnh hưởng của biển đậm hay nhạt, nhiều hay ít, tíchcực hay tiêu cực mà trong mỗi tiểu ngành nghề, người dân Việt miền Tây Nam Bộ

đã linh hoạt chọn cho mình cách ứng xử riêng Nếu xét trên mọi bình diện, biển cóảnh hưởng tích cực đến lĩnh vực, ngành nghề nào thì con người ra sức tận dụng biểnphát triển lĩnh vực, ngành nghề đó Ngược lại, nếu biển có ảnh hưởng tiêu cực đếnlĩnh vực, ngành nghề nào thì con người tìm cách đối phó để hạn chế đến mức thấpnhất những tổn thất mà biển gây ra

Ẩm thực hay ăn uống là nhu cầu vật chất thiết yếu giúp duy trì sự sống và là

tiền đề cho sự sinh tồn, phát triển và tiến bộ của con người “Ăn uống là văn hoá,

Trang 37

chính xác hơn, đó là văn hoá tận dụng môi trường tự nhiên”[Trần Ngọc Thêm

1999:187] Trong cơ cấu bữa ăn của người Việt chủ yếu thiên về thực vật và trong

thực vật thì lúa gạo là thành phần quan trọng nhất “Người sống về gạo, cá bạo về nước” Đứng thứ hai là rau quả “Đói ăn rau, đau uống thuốc” Đứng thứ ba trong đồng thời đứng đầu trong các loại thức ăn động vật là các loài thủy sản “Con cá đánh ngã bát cơm”3

.

Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh khẳng định “Có thể lấy hình tượng cơm – cá

là mô hình truyền thống của bữa ăn Việt Nam …” [Ngô Đức Thịnh 2004:135] và

“Mâm cơm của mỗi gia đình, mỗi dân tộc là tấm gương trung thực nhất phản chiếu môi trường tự nhiên, trình độ và cách thức chinh phục môi trường ấy [Ngô Đức

Thịnh 2004:322]

Đối với người Việt miền Tây Nam Bộ thì sau cơm, rau, là thủy sản Nhờ cónguồn thủy sản thiên phú nên thủy sản trong bữa ăn của người dân nơi đây rấtphong phú về loại cũng như cách chế biến Sự sung túc, phong phú của nguồn tàinguyên thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long tới mức không một nơi nào trên đấtnước ta có thể đạt tới được:

“Ruộng đồng mặc sức chim bay Biển hồ lai láng mặc bầy cá đua”

“Cá đồng, cá biển, cá sông

Ốc, đuông, ba khía, chim cùng tôm cua”

Thủy sản có thể được chia thành hai loại: thứ nhất là các loại tôm, cá sống ởmôi trường nước ngọt và thứ hai là các loài hải sản

Sau thủy sản thì mới đến thịt, chủ yếu như thịt heo, gà, vịt, bò, trâu phần lớntương đồng với các vùng khác trong cả nước

Nhìn chung thì trong cơ cấu bữa ăn của người Việt miền Tây Nam Bộ là nhưvậy nhưng đi vào chi tiết, cụ thể thì có những khác biệt rất rõ giữa các các vùng, rõnét nhất là vùng nội địa và vùng duyên hải Vùng nội địa là những vùng xa biển, cáccánh đồng ít chịu sự ảnh hưởng của nước mặn nên vùng này rất chú trọng phát triểnviệc trồng cây lương thực Ngược lai vùng duyên hải là những vùng dễ bị ngập mặnnên hạn chế việc phát triển trồng cây lương thực, thực phẩm mà chủ yếu là phát

324-374

Trang 38

triển việc nuôi trồng nhuyễn thể và các giống loài hải sản, đánh bắt thủy hải sản cửasông, ven bờ dần dần tiến ra chinh phục biển khơi Chính sự khác biệt về cơ cấukinh tế và khác biệt về môi trường sống nên trong cơ cấu bữa ăn của người dânsống ở vùng nội địa giữ đúng theo cơ cấu bữa ăn của người Việt truyền thống vàthành phần thủy sản trong bữa ăn nghiêng về thủy sản nước ngọt hơn là hải sản.Còn đối với người dân sống vùng ven biển thì trong cơ cấu bữa ăn các thành phầnkhác không có gì thay đổi nhiều nhưng riêng phần thủy sản thì nghiêng về hải sảnhơn là thủy sản nước ngọt Tuy nhiên, đối với ngư dân, những con người có cuộcsống luôn gắn bó với biển cả thì cơ cấu bữa ăn của họ không bài bản như vậy Lúagạo vẫn luôn là thành phần đầu bảng không thể thay thế nhưng sau lúa gạo rau chưaphải là thành phần thứ hai mà ở đây người ta ăn thiêng về hải sản hơn là rau Bởi vìnhững vùng ven biển khó trồng rau, hoa màu nên rau khá hiếm Trong mâm cơm,ngoài cơm là món chính còn lại chủ yếu là cá biển với nhiều loại cá và nhiều kiểuchế biến khác nhau như, nướng, chiên, nấu, xào, kho.

Từ cá và các loại hải sản, người Việt miền Tây Nam Bộ đã chế biến để tạo rarất nhiều món ăn hấp dẫn, có hương vị riêng Phương thức chế biến các món ăn từhải sản cũng rất đa dạng, phong phú Từ cá, người ta có thể chế biến ra hàng chụcmón ăn khác nhau từ luộc, chiên, nướng, hấp, nấu chua, nấu ngọt, làm gỏi, làm chảđến các kiểu kho Đặc biệt, người Việt vùng đồng bằng Nam Bộ còn có một món ănkhá nổi tiếng đó là món canh chua cá biển được du khách trong và ngoài nước ưachuộng

Ở vùng biển Gò Công có món sam biển là đặc sản khá hiếm, sam có thể chếbiến làm món sam trứng nướng, nấu canh chua, luộc… Ngoài ra, từ hải sản người ta

có thể chế biến vô số món ăn như: chả ghẹ, gỏi cá nhòng, gỏi cá trích, gỏi ốc vá,cháo hào bao, hủ tiếu tôm mực, mắm mực, canh chua sả nghệ … để phục vụ cácbữa ăn gia đình hàng ngày và phục vụ du khách đến tham quan

Người Việt miền Tây Nam Bộ cũng giống như cư dân các vùng miền kháccũng sử dụng các loại gia vị như tiêu, ớt, gừng, sả … để khử bớt chất tanh trong cábiển Ngoài ra, người Việt còn dùng rượu gạo ngâm với rắn biển, cá ngựa, bào ngư,hải sâm … tạo ra những thứ rượu thuốc quý để bồi bổ sức khỏe và tăng cường sinhlực

Trang 39

Bên cạnh các món cá thì kỹ thuật chế biến nước mắm, trong đó có nước mắmrươi4 cũng như cách làm mắm, các loại khô hải sản đã cho thấy những nét tinh tếcủa người dân nơi đây trong việc xử lý các món ăn dự trữ góp phần tạo nên bản sắcdân tộc, đậm đà vị biển của người Việt

Trong giữ gìn sức khỏe và làm đẹp

Bên cạnh các loài động vật biển cung cấp nhiều chất bổ dưỡng cho sức khỏethì có nhiều loài thực vật biển rất có ích, dùng chế biến nhiều loại dược phẩm,chẳng hạn như I ốt trong rong biển, san hô, bromine được sử dụng trong chế biếnthuốc giảm đau, thuốc an thần, hay các chất như sodium, magiê, can xi, muốikhoáng,…

Bên cạnh đó, người ta còn khai thác rong biển để làm thức ăn, thức uống, đồngthời chế xuất mỹ phẩm phục vụ cho việc làm đẹp và chiết xuất để làm mặt nạ dưỡng

da, làm kem dưỡng tóc Ngoài ra, ngọc trai còn được dùng để điều chế mỹ phẩm.Bột ngọc trai kết hợp với sữa, dầu thực vật và một số hóa chất khác để làm kemdưỡng da Tuy nhiên, ngọc trai được biết đến nhiều hơn vì nó là một loại trang sứcđược ưu chuộng Ngọc trai có nhiều loại màu sắc khác nhau Ngọc đen được xem làcao cấp nhất, quý và đắt tiền nhất vì hiếm gặp Sau đó là ngọc màu hồng nhạt Ngọctrai trắng là loại phổ biến nhất Ngọc trai thường được xâu thành chuỗi, làm mặt chodây chuyền và mặt nhẫn, có khi lại kết hợp với đá tự nhiên Ngoài dáng tròn, còn cóviên có dáng hình giọt lệ, hình trái tim, hình bầu dục … tuỳ vào bàn tay khéo léocủa người thợ mà chuỗi ngọc có thêm nhiều kiểu dáng mới lạ và độc đáo Hiện nay,tại vùng Tây Nam Bộ, ngọc trai được nuôi nổi tiếng nhất là ở Phú Quốc Sau ngọctrai, các loại ốc, sò biển cũng được tạo ra chuỗi hạt, bông tai kiểu dáng rất phongphú và độc đáo, làm đẹp cho con người Người ta còn dùng ngọc trong ốc để chế táchàng mỹ nghệ phục vụ cho việc trang trí làm đẹp Các sản phẩm được làm từ đồimồi ở Hà Tiên cũng rất được ưa chuộng Từ đồi mồi người thợ có thể chế tác ra cácsản phẩm tinh xảo như vòng đeo tay, nhẫn, lược, trâm rẻ quạt, hộp thuốc lá, giágương, ống điếu, gọng kính, tráp đựng trầu … Tuy nhiên, hiện nay có chủ trươngcấm khai thác đồi mồi nhằm bảo tồn động vật hoang dã quý hiếm ở khu vực đồng

bồi ven biển Khi chế biến chúng thành nước mắm thì lại là loại nước mắm có giá trị thơm ngon bậc nhất, cho ta lượng đạm cao, nhiều bổ dưỡng, khẩu vị hấp dẫn

Trang 40

bằng nên nghề này không còn phát triển giống như trước đây nữa Ngoài ra, trongnghề khảm, người ta dùng vỏ trai, vỏ ốc biển để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật,những mặt hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp như: tủ, giường, bàn, ghế; hàng mỹ nghệgồm tranh phong cảnh, chân dung, gương soi, bình phong, bình hoa; vật dụng giađình gồm các hộp đựng tư trang, album, hình ảnh, hộp đựng kim chỉ khâu may,khay đựng ly tách, vật thờ cúng …

Nhìn chung, với tài nguyên hải sản dồi dào, người Việt miền Tây Nam Bộ tậndụng rất hữu hiệu để phục vụ cho cuộc sống mà cụ thể là trong ẩm thực Tây Nam

Bộ cũng như Trung Bộ, Bắc Bộ cũng có biển và hải sản nhưng với những đặc điểmvăn hoá của mình, người Việt miền Tây Nam Bộ đã có những ứng xử khác vớingười Việt miền Trung Bộ và Bắc Bộ trong vấn đề ăn uống Đồng thời cơ cấu bữa

ăn với sự góp mặt của hải sản của ba vùng cũng khác nhau Những điểm khác biệt

đó Nguyễn Thị Hải Lê cũng có đề cập đến trong công trình nghiên cứu của mình

“Thành phần cá và các sản vật từ biển trong cơ cấu bữa ăn của người Việt ở ba miền Bắc-Trung-Nam không giống nhau Người miền Bắc không quen lắm với cá biển trong khi cá biển được coi là món chính trong bữa ăn của người Việt miền Trung và miền Nam Nếu như ở Nghệ Tĩnh trở ra lưu hành câu tục ngữ “Thịt cá là hương hoa, tương cà là gia bản”, thì từ Quảng Bình trở vào, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long, người ta coi cá, mà chủ yếu là cá biển là món ăn hàng ngày Cũng như vậy, trong cách ăn, cách chế biến đồ hải sản mỗi miền có những đặc điểm khác nhau, tạo nên bản sắc riêng biệt của mỗi vùng miền và cũng từ đó làm

đa dạng phong phú thêm văn hoá ẩm thực của cư dân ven biển”[Nguyễn Thị Hải Lê

2006:52]

2.1.2 Trong lao động sản xuất

Trong lao động sản xuất, biển được tận dụng để giúp phát triển các lĩnh vựcnhư nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

Trong nông nghiệp

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm lương thực của cả nước, chiếmmột nửa tổng số diện tích và sản lượng lúa gạo toàn quốc Cho nên từ lâu nôngnghiệp đã được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của khu vực này Nông nghiệp làlĩnh vực kinh tế quan trọng được phân bố rộng khắp khu vực, lực lượng lao động

Ngày đăng: 05/05/2018, 14:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Biên giới của Chính phủ 1998: Một số suy nghĩ về xây dựng chiến lược phát triển kinh tế và quốc phòng trên biển – Phụ lục giáo trình về nâng cao năng lực quản lý biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về xây dựng chiếnlược phát triển kinh tế và quốc phòng trên biển
2. Ban biên soạn lịch sử Nam Bộ kháng chiến 2010: Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, tập 1, 2, 3 - NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Tây Nam Bộkháng chiến, tập 1, 2, 3
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
3. Ban Chỉ đạo và ban biên tập truyền thống Tây Nam Bộ 2000: Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến (1945 – 1975) – NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây NamBộ 30 năm kháng chiến (1945 – 1975)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
4. Bùi Mạnh Nhị (cb) 2003: Văn học dân gian - Những công trình nghiên cứu – NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian - Những công trình nghiêncứu
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Bùi Văn Nguyên 1993: Việt Nam thần thoại và truyền thuyết – NXB Mũi Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thần thoại và truyền thuyết
Nhà XB: NXB MũiCà Mau
6. Bùi Văn Tiếng 2006: “Tư duy văn hóa biển trong ca dao đất Quảng” – Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy văn hóa biển trong ca dao đất Quảng” –Tạp chí "Nguồn sáng dân gian
7. Cao Thị Hải Yến 2001: Văn hoá ứng xử Hồ Chí Minh trong việc xây dựng con người mới hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Văn hoá học, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ứng xử Hồ Chí Minh trong việc xâydựng con người mới hiện nay
8. Chu Khắc Thuật – Nguyễn Văn Thủ - Mai Quỳnh Nam 1998: Văn hóa lối sống với môi trường – NXB Văn hóa thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóalối sống với môi trường
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin Hà Nội
9. Dương Hoàng Lộc 2008: Văn hóa tín ngưỡng cộng đồng ngư dân ven biển Bến Tre, Luận văn thạc sĩ văn hóa học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tín ngưỡng cộng đồng ngư dân venbiển Bến Tre
10. Đào Duy Anh 2000: Việt Nam Văn hoá sử cương – NXB TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Văn hoá sử cương
Nhà XB: NXB TP. Hồ ChíMinh
11. Đặng Việt Thủy, Đậu Xuân Luận 2009: Tìm hiểu về biển, đảo Việt Nam - NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về biển, đảo Việt Nam
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
12. Đinh Gia Khánh 1995: Các vùng văn hóa Việt Nam - NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vùng văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn học
13. Đinh Văn Hạnh – Phan An 2004: Lễ hội ngư dân gian của ngư dân Bà Rịa – Vũng Tàu – NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội ngư dân gian của ngư dân BàRịa – Vũng Tàu
Nhà XB: NXB Trẻ
17. Hà Xuân Thông 2003: “Đặc điểm của các cộng đồng dân cư ven biển ở Việt Nam” – Kỷ yếu khóa tập huấn quốc gia về quản lý khu bảo tồn biển Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm của các cộng đồng dân cư ven biển ởViệt Nam
18. Hoàng Đức Nhuận (cb) 2009: Hỏi đáp về đường Hồ Chí Minh trên biển – NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về đường Hồ Chí Minh trên biển
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
20. Hồ Chí Minh 1995: Toàn tập - NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 3 21. Hồ Sĩ Vịnh 2006: Về bản lĩnh văn hóa Việt Nam – NXB Chính trị quốcgia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập" - NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 321. Hồ Sĩ Vịnh 2006: "Về bản lĩnh văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
22. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam 2008: Văn hóa biển miền Trung và văn hóa biển Tây Nam Bộ - NXB Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa biển miền Trung và vănhóa biển Tây Nam Bộ
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
23. Huỳnh Ngọc Trảng , Trương Ngọc Tường 1997: Đình làng Nam Bộ xưa và nay – NXB Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình làng Nam Bộ xưavà nay
Nhà XB: NXB Đồng Nai
24. Huỳnh Ngọc Trảng 1999: Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh, NXB Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh
Nhà XB: NXB ĐồngNai
26. Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường 1993: Đình Nam Bộ tín ngưỡng và nghi lễ - NXB TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ình Nam Bộtín ngưỡng và nghi lễ
Nhà XB: NXB TP. Hồ Chí Minh

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w