Dân tộc Khmer Nam Bộ có một quá trình hình thành và phát triển độc đáo, riêng biệt. Từ hoàn cảnh xã hội và lịch sử tộc người xa xưa, để tránh họa “diệt tộc” bởi những cuộc chiến tranh giữa các vương triều phong kiến đương thời, người Khmer đã phải trôi dạt, lưu tán về những vùng đất chưa có dấu chân người, chưa có chủ quyền để tiếp tục tồn tại. Vùng đất đó chính là Đồng bằng sông Cửu Long. Từ nơi đây, đời sống của người Khmer đã gắn liền với hoạt động nông nghiệp, với đồng ruộng, sông rạch và hình thành nên những giá trị văn hóa tiêu biểu của cư dân nông nghiệp, bao gồm: văn hóa của sự thích nghi hoàn cảnh, văn hóa của sự ứng phó với những biến động của tự nhiên, văn hóa của sự tận dụng môi trường xung quanh, văn hóa của sự khai thác điều kiện sống…
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
_
NGUYỄN LÂM THẢO LINH
VĂN HÓA QUẢN LÝ XÃ HỘI
Ở CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER
TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.70
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS HOÀNG VĂN VIỆT
TP HỒ CHÍ MINH, 2009
Trang 2M C L C Ụ Ụ
MỤC LỤC 2
DẪN LUẬN 4
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 6
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 6
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 9
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 10
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA, VĂN HÓA QUẢN LÝ XÃ HỘI 12
1.1 VĂN HÓA 12
1.1.1 Khái niệm văn hóa 12
1.1.2 Chức năng văn hóa và cấu trúc văn hóa của chủ thể 20
1.2 VĂN HÓA QUẢN LÝ XÃ HỘI 26
1.2.1 Quản lý xã hội 26
1.2.2 Văn hóa quản lý xã hội 33
CHƯƠNG 2: CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER Ở KIÊN GIANG VÀ VĂN HÓA QUẢN LÝ TRUYỀN THỐNG 44
2.1 CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER Ở KIÊN GIANG 44
2.1.1 Sự hình thành cộng đồng văn hóa người Khmer tỉnh Kiên Giang.44 2.1.2 Đặc điểm văn hóa người Khmer Kiên Giang 52
2.2 VĂN HÓA QUẢN LÝ XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI KHMER TỈNH KIÊN GIANG 56
2.2.1 Vai trò của gia đình trong văn hóa quản lý xã hội 56
2.2.2 Vai trò của phum – sóc trong văn hóa quản lý xã hội 60
2.2.3 Vai trò của ngôi chùa trong văn hóa quản lý xã hội 68
Trang 32.3 VĂN HÓA QUẢN LÝ XÃ HỘI Ở CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER Ở TỈNH KIÊN
GIANG TRƯỚC 1975 77
2.3.1 Thời kỳ Nhà Nguyễn 77
2.3.2 Thời kỳ thực dân Pháp 80
2.3.3 Thời kỳ chính quyền Sài Gòn 83
CHƯƠNG 3: VĂN HÓA QUẢN LÝ XÃ HỘI HIỆN ĐẠI Ở CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER TỈNH KIÊN GIANG 88
3.1 HỆ THỐNG QUẢN LÝ XÃ HỘI HIỆN ĐẠI Ở CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER TỈNH KIÊN GIANG 88
3.1.1 Hệ thống Đảng lãnh đạo 90
3.1.2 Hệ thống chính quyền 92
3.1.3 Hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội 97
3.2 PHÁT HUY VAI TRÒ QUẢN LÝ XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HMER Ở KIÊN GIANG TRONG QUẢN LÝ XÃ HỘI HIỆN ĐẠI 101
3.2.1 Phát huy vai trò gia đình và văn hóa - giáo dục 101
3.2.2 Phát huy vai trò của phum - sóc 105
3.2.3 Phát huy vai trò ngôi chùa 112
KẾT LUẬN 122
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
Trang 4DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Người Khmer là một dân tộc có dân số đông thứ hai – sau người Kinh– trong số 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên mảnh đất Việt Nam Hầuhết người Khmer tập trung ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, dân số ngườiKhmer ở Kiên Giang đứng hàng thứ ba so với tổng dân số Khmer ở Nam bộ(sau Sóc Trăng và Trà Vinh) Cùng với các tộc người khác, người Khmer làmột bộ phận khăng khít trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đã có nhiềuđóng góp, cống hiến to lớn trong sự nghiệp thống nhất, xây dựng và đổi mớiđất nước hiện nay
Dân tộc Khmer Nam Bộ có một quá trình hình thành và phát triển độcđáo, riêng biệt Từ hoàn cảnh xã hội và lịch sử tộc người xa xưa, để tránh họa
“diệt tộc” bởi những cuộc chiến tranh giữa các vương triều phong kiến đươngthời, người Khmer đã phải trôi dạt, lưu tán về những vùng đất chưa có dấuchân người, chưa có chủ quyền để tiếp tục tồn tại Vùng đất đó chính là Đồngbằng sông Cửu Long Từ nơi đây, đời sống của người Khmer đã gắn liền vớihoạt động nông nghiệp, với đồng ruộng, sông rạch và hình thành nên nhữnggiá trị văn hóa tiêu biểu của cư dân nông nghiệp, bao gồm: văn hóa của sựthích nghi hoàn cảnh, văn hóa của sự ứng phó với những biến động của tựnhiên, văn hóa của sự tận dụng môi trường xung quanh, văn hóa của sự khaithác điều kiện sống…
Trong hoàn cảnh sống đó, người Khmer Nam bộ có cách tổ chức xãhội rất đặc thù với tính ổn định và bình đẳng cao Ngay từ buổi đầu khai phávùng đất Nam bộ, người Khmer đã định hình được mô hình quản lý cộngđồng với sự phân cấp thành hai đơn vị là phum và sóc Đó là dạng tổ chức xãhội tự quản theo cơ chế quản lý lưỡng hợp: xã hội – tôn giáo mang dáng dấpcủa công xã nông thôn Mối quan hệ giữa các thành viên trong phum, sóc
Trang 5hoặc giữa những phum, sóc dựa trên cơ sở bình đẳng, dân chủ mang tínhcộng đồng cao Cách thức tổ chức cuộc sống cộng đồng thành các phum, sóctheo phương thức tự quản trong quá trình sống, lao động khai phá vùng đấtmới đã hình thành nên một nền văn hóa đậm đà bản sắc tộc người KhmerNam bộ Trong đó, văn hóa quản lý xã hội ở cộng đồng nổi lên như một yếu
tố chi phối sự phát triển chung của cả nền văn hóa
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa VIII đã chỉ rõ: “… Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc… mỗi dân tộc
có một bản sắc riêng tạo nên tính đa dạng và phong phú của văn hóa ViệtNam” Thật vậy, cùng với quá trình chung sống, khai phá vùng đất Nam bộ,cộng đồng người Khmer đã có những đóng góp to lớn đối với đất nước cả vềsức người, sức của lẫn những giá trị văn hóa – nhân văn, làm giàu thêm nềnvăn hóa dân tộc Chính vì vậy, nghiên cứu văn hóa quản lý xã hội của ngườiKhmer ở Kiên Giang không chỉ để lưu giữ, bảo tồn những tinh hoa đặc sắccủa một dân tộc mà còn nhằm để phát triển nền văn hóa đó lên một tầm caohơn, theo kịp sự phát triển của xã hội
Hiện nay, trọng tâm của công cuộc đổi mới là đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc ViệtNam Xã hội chủ nghĩa Điều đó đòi hỏi và cho phép phát triển toàn diện tất
cả các lĩnh vực của văn hóa, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩyphát triển kinh tế - xã hội Có một thực tế là với vốn văn hóa quản lý xã hội ởcộng đồng đã từng phát huy trong lịch sử, nhưng với phong tục tập quán, lốisản xuất lạc hậu, cộng đồng dân tộc Khmer Nam bộ tỏ ra không theo kịp cơchế mới nên đời sống gặp rất nhiều khó khăn Phần lớn người Khmer ở Nam
bộ có mức sống thấp hơn người Kinh và người Hoa trong vùng Dĩ nhiên, làmột quốc gia đa dân tộc, trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau
và văn hóa quản lý xã hội không giống nhau ở cộng đồng các dân tộc, do đó
Trang 6có nhiều vấn đề cần phải được nghiên cứu trong việc phát triển đời sống xãhội nói chung và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc nói riêng, để vừa củng cố
và phát triển sức mạnh tinh thần chung của cả nước, vừa phát huy và pháttriển các giá trị tinh thần của từng dân tộc Chính vì vậy, cần thiết phải nghiêncứu một cách có hệ thống văn hóa quản lý xã hội ở cộng đồng người KhmerNam bộ nói chung, ở tỉnh Kiên Giang nói riêng
Vì vậy, việc chọn “Văn hóa quản lý xã hội ở cộng đồng người
Khmer tỉnh Kiên Giang” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành văn hóa
học là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là làm rõ quá trình phát triển văn hóa quản lý
xã hội ở cộng đồng người Khmer tỉnh Kiên Giang từ truyền thống đến hiệnđại
Để đạt được mục đích đó, Luận văn thực hiện các nhiệm vụ chính yếusau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về văn hóa quản lý xã hội, nguồngốc tộc người và nét đặc thù trong đời sống vật chất và tinh thần của cộngđồng người Khmer tỉnh Kiên Giang
- Nhận diện mối quan hệ cộng đồng truyền thống và hiện đại: quản lý
xã hội truyền thống và quản lý xã hội hiện đại
- Quá trình tất yếu thay đổi cơ chế quản lý xã hội truyền thống phù hợpvới môi trường xã hội mới
3 Lịch sử vấn đề
- Ngoài nước:
Trang 7Về văn hóa Khmer, trước đây đã từng được nhiều nhà nghiên cứungười Pháp quan tâm, với các tác giả: Barrault, Francois Martite, S.Bernard… đăng trên các tạp chí Pháp – Á (France – Asia), Cực Á (Extrême –Asia)… xuất bản ở Paris trước năm 1975 Chuyên đề về Khmer của các nhànghiên cứu người Pháp được chú ý nhiều và có giá trị khoa học hơn cả là cáctác phẩm của gia đình Maspéro như: Đế quốc Khmer của Georges Maspéro…Các nghiên cứu của các tác giả người Pháp chỉ đề cập từng mặt: các nhà sư
và lễ nghi tôn giáo, mỹ thuật và kiến trúc các ngôi chùa, sinh hoạt dân dã, tụcngữ và thơ ca dân gian… Do cách nhìn chưa toàn diện về nguồn gốc, vềnhững biến thiên lịch sử và môi trường địa lý thiên nhiên nên các tác giả chỉ
lý giải người Khmer và văn hóa Khmer chung mà không phân biệt ngườiKhmer ở Campuchia và người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long của ViệtNam
- Trong nước:
Về vấn đề người Khmer ở Nam bộ đã có nhiều công trình nghiên cứu,
như: Phan An, 1995, Cơ chế quản lý xã hội truyền thống phum, sóc của
người Khmer Nam bộ trong làng xã ở Châu Á và Việt Nam, Viện KHXH tại
TP Hồ Chí Minh, Nxb TP Hồ Chí Minh; Thạch Voi, 1998, Tìm hiểu vốn văn
hóa dân tộc Khmer Nam bộ, Nxb Tổng hợp Hậu Giang; Trường Lưu (chủ
biên), 1993: Văn hóa người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Văn hóa dân tộc; Mạc Đường, 1991, Vấn đề dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu
Long, Nxb Khoa học xã hội; Nguyễn Hữu Tiến, 1994, Tổng luận phân tích một số vấn đề người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã
hội; Sơn Phước Hoan (chủ biên), 1999 – 2000, Vai trò của chùa đối với đời
sống văn hóa của đồng bào Khmer Nam bộ, Đề tài nghiên cứu khoa học (cấp
bộ), nghiên cứu vai trò của ngôi chùa đối với đời sống văn hóa của đồng bào
Khmer Nam bộ Trần Văn Bổn, 2002, Phong tục và nghi lễ vòng đời người
Khmer Nam bộ, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội; Trần Thanh Tâm, Trần Ngọc
Trang 8Nghị, 1999, Văn hóa cộng đồng Khmer tỉnh Kiên Giang; Phan Xuân Biên (chủ biên), Luận cứ khoa học cho việc xác định chính sách đối với cộng đồng
người Khmer và người Hoa ở Việt Nam, đề tài cấp Nhà nước mang mã số
KX.04.12;…
- Một số bài viết về người Khmer: Nguyễn Khắc Cảnh, 2000, Đôi nét
về đặc điểm phân bố dân cư và hình thái cư trú của người Khmer tỉnh Sóc Trăng, Tài liệu hội thảo khoa học lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Sóc
Trăng trước năm 1945; Mạc Đường, Vấn đề dân cư và dân tộc ở Đồng bằng
sông Cửu Long; Đinh Văn Liêm, Bàn về vấn đề giao lưu văn hóa giữa các tộc người ở Đồng bằng sông Cửu Long; Huỳnh Lứa: Bàn về quá trình khai phá vùng Đồng bằng sông Cửu Long - Đồng Nai và sự hình thành một số tính cách, nếp sống tập quán của người dân Nam bộ; Huỳnh Ngọc Trảng, Bàn về văn hóa của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long; Nguyễn Hữu Tiến,
1994, Tổng luận phân tích một số vấn đề người Khmer ở Đồng bằng sông
Cửu Long, Viện thông tin khoa học xã hội; Phan An, Nghiên cứu người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí dân tộc học;…
- Một số luận án tiến sĩ, thạc sĩ: Huỳnh Thanh Quang, 1993, Nâng cao
truyền thống văn hóa của dân tộc nhằm phát huy nhân tố con người của đồng bào Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Luận văn Thạc sĩ khoa học triết
học; Lâm Thanh Sơn, 1997, Ngôi chùa trong đời sống văn hóa người Khmer
Sóc Trăng, Luận văn Thạc sĩ khoa học văn hóa; Nguyễn Khắc Cảnh, 1997, Loại hình công xã của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, Luận án
Phó tiến sĩ khoa học lịch sử; Trần Thanh Nam, 2000, Phát triển đời sống tinh
thần của đồng bào Khmer Nam bộ trong công cuộc đổi mới đất nước, Luận
án tiến sĩ triết học;.…
Những công trình nghiên cứu trên đã khái quát những nét cơ bản vềvăn hóa của đồng bào Khmer Nam bộ ở từng khía cạnh khác nhau như: vấn
Trang 9thống của người Khmer; văn hóa vật chất của người Khmer; các loại hìnhcông xã của người Khmer… Bên cạnh đó, các vấn đề như tổ chức xã hội, hônnhân gia đình của người Khmer cũng được giới thiệu khái lược trong một sốcông trình nghiên cứu của các tác giả
Những công trình đã được công bố trên sẽ là tài liệu tham khảo quýbáu cho đề tài này Nhưng, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu văn hóaquản lý xã hội ở cộng đồng người Khmer tỉnh Kiên Giang
Vì vậy, đề tài “Văn hóa quản lý xã hội ở cộng đồng người Khmer tỉnh Kiên Giang” sẽ không trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã được công
bố
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cộng đồng người Khmer ở Kiên Giang trongquá trình phát triển văn hóa quản lý xã hội từ truyền thống đến hiện đại
Đề tài này không nhằm giải quyết toàn bộ những vấn đề văn hóa – xãhội của cộng đồng người Khmer, mà chỉ tập trung nghiên cứu những biến đổitrong việc quản lý xã hội trong truyền thống và hiện đại ở cộng đồng ngườiKhmer tỉnh Kiên Giang Từ đó, xem xét vai trò của văn hóa quản lý xã hộitruyền thống trong xây dựng hệ thống quản lý xã hội hiện đại ở cộng đồngngười Khmer tỉnh Kiên Giang
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Với kết quả nghiên cứu, Luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm vănhóa quản lý xã hội ở cộng đồng người Khmer tỉnh Kiên Giang trong truyềnthống và hiện đại
Trang 10- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định đường lốicủa Đảng và chính sách của Nhà nước đối với việc phát triển kinh tế - xã hộinói chung, đối với đồng bào Khmer Kiên Giang nói riêng
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảngdạy và học tập về người Khmer và những vấn đề có liên quan
6 Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng quan điểm lịch sử và phương pháp tiếp cận liên ngành trongvăn hóa học để nghiên cứu đối tượng Người nghiên cứu xem xét vấn đề quản
lý xã hội không tách rời các thành tố, các thành phần khác trong chỉnh thểvăn hóa cộng đồng Khmer với tính thống nhất trong đa dạng của cộng đồngcác dân tộc Việt Nam
Các phương pháp cụ thể gồm:
- Phương pháp hệ thống: xem xét văn hóa quản lý xã hội ở cộng đồng
người Khmer tỉnh Kiên Giang không tách rời các thành tố khác trong chỉnhthể văn hóa của cộng đồng Khmer nói chung; đồng thời gắn với tính thốngnhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
- Phương pháp xã hội học: tiến hành điều tra, thu thập thông tin vềngười Khmer tỉnh Kiên Giang
- Phương pháp dân tộc học: điền dã, quan sát, trực tiếp tham gia hoặcphỏng vấn những người lớn tuổi, những học giả trí thức Khmer ở KiênGiang
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Dẫn luận và Kết luận, Luận văn được kết cấu trong 3chương
Trang 11Chương 1: Một số lý luận về văn hóa và văn hóa quản lý xã hội.
Chương 2: Khái quát về cộng đồng người Khmer tỉnh Kiên Giang Từ
đó, nghiên cứu văn hóa quản lý xã hội truyền thống của người Khmer thôngqua hệ thống tổ chức xã hội
Chương 3: Nghiên cứu về hệ thống quản lý xã hội hiện đại và xuhướng vận động của văn nó trong cộng đồng người Khmer tỉnh Kiên Gianghiện nay
Trang 12CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA,
VĂN HÓA QUẢN LÝ XÃ HỘI
1.1 Văn hóa 1.1.1 Khái niệm văn hóa
Thuật ngữ văn hóa xuất hiện từ lâu trong ngôn ngữ nhân loại Qua cácthời kỳ lịch sử, nội hàm khái niệm văn hóa từng bước được xác định và cũngkhông ngừng bổ sung thêm các nội dung mới Cùng với sự phát triển tri thứccủa con người, quan niệm về văn hóa có sự thay đổi về nội dung theo lịch sử.Nhưng, cho đến nay, văn hóa vẫn là một trong những khái niệm phức tạp vàkhó xác định Các tác giả khác nhau thường hiểu văn hóa theo những nội dungkhông đồng nhất, phụ thuộc vào góc độ tiếp cận của từng người
Theo nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học người Đức W.Wundt thì thuậtngữ văn hóa bắt nguồn từ một động từ tiếng La-tinh “colere” sau chuyểnthành “cultura”, có nghĩa là cày cấy, vun trồng Từ đó, từ agri – cultura cónghĩa là trồng trọt ngoài đồng, tức nông nghiệp Về sau, từ “cultura” chuyểnnghĩa từ trồng trọt cây cối sang vun trồng tinh thần, trí tuệ Cicéron (106 – 43TCN) – nhà triết học hùng biện thời La Mã có một thành ngữ nổi tiếng là
“Filosofia cultura animi est”, nghĩa là: Triết học là văn hóa [sự vun trồng] tinhthần Đó là quá trình giáo dục, bồi dưỡng tinh thần, trí tuệ cho con người
Ở phương Đông, từ thời cổ đại người Trung Quốc đã sử dụng thuật ngữvăn hóa
“Văn” trong ngôn ngữ cổ Trung Hoa là nói cái vẻ ngoài, cái được biểuhiện bên ngoài Có ba loại văn: thiên văn, địa văn và nhân văn Ví như mặt trời,mặt trăng, tinh tú, mây mưa, sấm chớp là văn của trời Vằn lông, màu sắc là
Trang 13văn của muôn thú Con người cũng có văn (diện mạo, quần áo, ngôn ngữ ).Nhưng quan trọng hơn cả là những cái được biểu hiện trong đời sống xã hội củanó: điển chương, chế độ, nhân luận, phong tục, đạo đức Khi quan niệm “Văn”
là cái biểu hiện ra bên ngoài thì khái niệm đối nghĩa với văn là “Chất” (nội dungbên trong) Khổng Tử nói: “Chất quá mức của văn thì thô dã, văn quá mức củachất thì lòe loẹt” Văn, chất hài hòa (Văn chất bân bân) mới là quân tử Tuynhiên, nếu “Văn” chỉ là dáng vẻ bên ngoài, cái mà con người có thể trau dồi, sửasang thì vị tất đã phải đề cao “Văn” đến thế “Văn”, theo người Trung Quốc cổđại, còn là Đạo, cũng là cái mà Trời trao cho các bậc thánh nhân để truyền đạocủa Trời Như vậy, “Văn” có nguồn gốc linh thiêng “Văn” ở đây cũng gắn vớigiá trị tinh thần cao quý; gắn với Thi, Thư, Lễ, Nhạc Người nắm được “Văn”cũng là bậc thánh nhân Thánh nhân dùng “Văn” để giáo hóa thiên hạ
Hai tố từ “Văn” và “Hóa” xuất hiện sớm nhất trong Kinh Dịch, Quẻ Bínói: “Quan sát dáng vẻ con người, lấy đó để giáo hóa thiên hạ” (Quan hồ nhânvăn, dĩ hóa thành thiên hạ) Khổng Dĩnh Đạt trong “Chu Dịch chính nghĩa”giải thích: “ý nói bậc thánh nhân quan sát dáng vẻ con người, tức là nói Thi,Thư, Lễ, Nhạc, theo đó mà dạy để giáo hóa thiên hạ” [Ngô Vinh Chính,Vương Nhiệm Quý, 1994: 47] Như vậy, nghĩa gốc của “Văn” là vẻ đẹp domàu sắc tạo ra Từ cái nghĩa này, “Văn” có nghĩa là hình thức đẹp đẽ biểuhiện trước hết trong Thi, Thư, Lễ, Nhạc, cách cai trị, đặc biệt trong ngôn ngữ,
cư xử lịch sự Nó biểu hiện thành một hệ thống quy tắc xử sự được xem là đẹp
đẽ “Văn” do đó trở thành một yếu tố then chốt và có lý luận, thu hút nhữngngười dị tộc theo người Hán bằng chính cái văn của nó Từ “văn hóa” đã cótrong sách đời Hán để chỉ văn trị, tức cách cai trị mang hình thức đẹp đẽ kếthợp với giáo hóa
Lưu Hướng (thời Tây Hán, 206 TCN – 25) là người sử dụng từ “vănhóa” sớm nhất Sách “Thuyết Uyển” bài “Chi Vũ” viết: “Bậc thánh nhân trịthiên hạ trước dùng văn đức sau mới dùng vũ lực Phàm dùng vũ lực để đối phó
kẻ bất phục tùng, dùng văn hóa không thay đổi được thì sau đó dùng lẽ chinh
Trang 14phạt” [Ngô Vinh Chính, Vương Nhiệm Quý, 1994: 49] Chữ văn hóa ở đây làchỉ sự “giáo hóa”, đặt đối trọng với vũ lực Từ Hồng Hưng cho biết: “Văn hóa(thời xưa) là “văn trị giáo hóa, lễ nhạc, điển chương, chế độ” Cách giải thíchnày vẫn được bảo trì ở Trung Quốc đến ngày nay, đương nhiên nó không hoàntoàn giống nghĩa từ Cultura của phương Tây hiện đại”.
Suốt thời kỳ Phục hưng, từ văn hóa áp dụng vào nghệ thuật văn chươngtrong các thành ngữ “Cultura banarum artium” và “Cultura littératumhumanionum” (văn hóa nghệ thuật và văn hóa văn chương nhân đạo) Người
ta nói về bản chất của văn hóa thông qua cuốn sách về sư phạm và nghệ thuật
Các triết gia thế kỷ XVII vận dụng phương pháp khoa học để nghiêncứu con người và nói đến việc bồi dưỡng trí tuệ, rèn luyện con người FrancisBacon trong phần II cuốn sách triết học của ông, vẫn dùng hình ảnh vun trồngcây cối để nói việc rèn luyện tinh thần con người (De cultura animi) ThomasHobbes sử dụng từ cultus để chỉ nghĩa vun trồng, chiêm ngưỡng
Vào thế kỷ XIX, lần đầu tiên nhà nhân chủng học Anh Edward Tylor đưa
ra một định nghĩa về văn hóa được xem là cổ điển trong tác phẩm “Văn hóanguyên thủy” (1871): “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, là toàn bộphức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phongtục và những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách làmột thành viên của xã hội” [Người đưa tin UNESSCO, 2/1996: 7] Ở định nghĩanày Tylor đã liệt kê ra các thành tố của văn hóa là hiểu biết, tín ngưỡng, nghệthuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những tập quán khác mà ông không thể
kể ra hết
Năm 1952, hai nhà dân tộc học Mỹ A.L Kroeber và C.L Kluckhohn
đã dẫn ra và phân tích 164 định nghĩa về văn hóa mà các tác giả khác nhaucủa nhiều nước đã từng nêu ra trong một cuốn sách chuyên bàn về các địnhnghĩa văn hóa nhan đề “Văn hóa – tổng luận phê phán các quan niệm và địnhnghĩa” (Culture: a critical review of concepts and definitions) Trong lần xuất
Trang 15bản thứ hai của cuốn sách này, số định nghĩa đã tăng lên đến trên 200 Cònhiện nay thì số lượng định nghĩa về văn hóa khó mà biết chính xác được: cóngười bảo là 400, có người nói là 500, lại có người quả quyết rằng chúng lênđến con số nghìn… [Trần Ngọc Thêm, 2005: 2]
Nhà chính khách và nhà văn Pháp Edouard Herriot cho, “văn hóa là cái
gì còn lại sau khi người ta đã quên tất cả” Một số nhà triết học văn hóa Nga
đã dùng phạm trù “hoạt động” để làm rõ bản chất của văn hóa Chẳng hạn,theo quan điểm của L.N Kôgan và P.Visnhexki: “văn hóa – là hoạt động sángtạo của con người nhằm tìm hiểu thế giới Nó chịu sự quy định của phươngthức sản xuất vật chất Trong diễn trình văn hóa, các định chuẩn và giá trị xãhội cũng như toàn bộ các tiêu chuẩn và giá trị đã vật hóa hoạt động sáng tạocủa con người được sản sinh, giữ gìn, phổ biến và sử dụng” [L.N Kôgan,P.Visnheki, 1972: 23]
Tại hội nghị quốc tế Mexico do UNESSCO tổ chức ngày 26 tháng 7đến ngày 6 tháng 8 năm 1982, với trên 1.000 đại biểu và nhiều nhà văn hóađại diện cho hơn một trăm nước, người ta đưa ra 200 định nghĩa văn hóa Cuốicùng trong bản tuyên bố chung, người ta chấp nhận một quan niệm văn hóanhư sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất văn hóa là tổng thể những nét tiêng biệt vềtinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hộihay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và vănchương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thốnggiá trị, những tập tục và tín ngưỡng Chính văn hóa đem lại cho con người khảnăng suy xét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành sinhvật đặc biệt, nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo
lý Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thinhững lựa chọn Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức đượcbản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên nhữngcông trình vượt trội bản thân mình” [Hà Xuân Trường, 1994: 5,6]
Trang 16Ngài F Mayor, tổng giám đốc UNESSCO trong dịp lễ phát động Thập
kỷ quốc tế phát triển văn hóa (tại Paris 21/1/1988) đã phát biểu: “Văn hóa làtổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại.Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giátrị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng củamỗi dân tộc” [Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, 1994: 5,6]
Ở Việt Nam, năm 1938 lần đầu tiên học giả Đào Duy Anh đã sử dụngthuật ngữ văn hóa Ông cho “Văn hóa là văn vật và giáo hóa, văn hóa là giáohóa con người trở nên đẹp đẽ” [Đào Duy Anh, 1998: 13]
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhưmục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, nhữngcông cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa” [Hồ Chí Minh, 1995:431]
Là nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam, khi nói về văn hóa, Thủtướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vôcùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiênnhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển,quá trình con người làm nên lịch sử cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóavới nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tưtưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và
sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộngđồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình không ngừng lớnmạnh” [Phạm Văn Đồng, 1994: 16]
Từ những cách tiếp cận như trên, có thể nói, mỗi nhà nghiên cứu vềvăn hóa thường đưa ra một định nghĩa của mình về văn hóa Bởi vậy, có thể
Trang 17có định nghĩa quá bao trùm hoặc quá hạn hẹp nhưng mỗi định nghĩa đều hàmchứa những hạt nhân hợp lý – phản ánh mặt này hay mặt khác nội hàm củakhái niệm văn hóa Ngày nay, người ta đã nêu ra nhiều định nghĩa khác nhau
về văn hóa mà mỗi một trong chúng có nét nghĩa riêng theo yêu cầu sử dụng,nhưng có thể chia thành một số khía cạnh:
(1) Văn hóa là đời sống tinh thần của con người, có tính xã hội, cơ chếcủa nó gắn với con người nhưng là cơ chế trên sinh học và ngoài sinh học
(2) Văn hóa là hệ thống các biểu trưng do một cộng đồng xây dựng nên:ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán, nghi lễ, lối sống, tôn giáo, đạo đức,thẩm mỹ, pháp luật, (biểu trưng hóa tình cảm, khát vọng, tư duy, mục đích,
lý tưởng, )
(3) Văn hóa là quan hệ ứng xử giữa con người con người, con người thiên nhiên; các hoạt động sinh hoạt, lao động, sáng tạo mà đặc biệt hoạt độngthông qua các công cụ lao động của con người; thông qua các hoạt động, cácquan hệ được xác lập và việc hoàn thiện các quan hệ ấy là phương diện củavăn hóa
-(4) Văn hóa là thiên nhiên thứ hai - thế giới Người, mà nhà nghiên cứupháp luật người Đức Puferdorf xem văn hóa là cái đối lập với tự nhiên, là toàn
bộ cái con người tạo ra và đề xuất trong hoạt động của mình; còn nhà triết họcngười Đức Herder thì xem văn hóa là sự hình thành con người lần thứ hai: lầnthứ nhất, con người xuất hiện như một thực thể sinh vật tự nhiên và lần thứhai, con người hình thành như một thực thể xã hội
(5) Văn hóa là phương thức sống của cộng đồng, dân tộc nên “văn hóagồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác dân tộc khác, từ những sảnphẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và
Trang 18lao động” (F Mayor – Tổng Giám đốc UNESCO) [Từ điển bách khoa ViệtNam, 2005: 798].
(6) Văn hóa là trình độ phát triển của từng thời đại, mỗi xã hội, mỗi thờiđại đều có sắc thái (bản sắc) văn hóa riêng; về lịch đại, văn hóa Cổ đại, vănhóa Phục hưng, văn hóa Hiện đại; về đồng đại, văn hóa phương Đông, phươngTây, văn hóa Đông Sơn…; về tính chất, văn hóa quý tộc, văn hóa bình dân,văn hóa tư sản…
(7) Văn hóa là phương thức hoạt động sống của con người trong từnglĩnh vực, mỗi lĩnh vực hoạt động sống của xã hội đều có sắc thái văn hóariêng: văn hóa lao động, văn hóa tư duy, văn hóa giao tiếp, văn hóa đạo đức,văn hóa pháp luật, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa chính trị,…
(8) Văn hóa là sức mạnh bản chất Người, văn hóa là sản phẩm của conngười, kể cả sự phát triển của bản thân con người và các quan hệ của conngười Mác cũng đã viết: “Có thể xem đoán trình độ văn hóa chung của conngười khi bản chất người trở thành tất nhiên đối với con người” [C Mác – Ph.Ăngghen, 1970: 115]
Dù tiếp cận với bất cứ nghĩa nào thì văn hóa phải là cái có giá trị haygiá trị là cốt lõi của văn hóa Giá trị là cái được người ta thừa nhận, người tacần đến như một nhu cầu, hoặc cấp cho nó một vị trí quan trọng trong đờisống của họ Giá trị là một phạm trù Người biểu hiện sự nhân đạo, văn minhtrong quá trình phát triển con người Giá trị không phải là sản phẩm chủ quancủa chủ thể mà là những chuẩn mực chung trong đời sống của cộng đồng, làsản phẩm của sự đánh giá và xác nhận của xã hội Giá trị là cái phải được thựctiễn kiểm nghiệm và được lịch sử nhân loại xác nhận là phù hợp với yêu cầutồn tại và phát triển của con người Giá trị là thành quả lao động sáng tạo của
cả chủng loài nhưng được các quốc gia dân tộc, những cộng đồng người, từngtập thể và cá nhân giữ gìn, phát huy trong đời sống xã hội hiện thực
Trang 19Văn hóa là một chỉnh thể phản ánh toàn bộ đời sống xã hội, thể hiệntrên ba mặt cơ bản:
Thế giới giá trị vật chất - tinh thần Những giá trị được kết đọng trong
vật thể và phi vật thể Vật thể: công cụ lao động, tiện nghi sống, di tích lịch
sử, công trình kiến trúc, v.v Phi vật thể: giá trị tinh thần, truyền thống dântộc, hệ chuẩn đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật, khoa học, nghệ thuật, v.v
Thế giới năng lực người Sự chiếm hữu thế giới trong thế giới tinh thần,
sáng tạo lịch sử và khả năng ứng xử của con người Nội tâm hóa: nhận thức,trang bị tri thức, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng hoạt động, (tích lũynăng lượng văn hóa của chủ thể văn hóa); v.v Ngoại tâm hóa: phân thân chủthể văn hóa trong hoạt động thực tiễn, lao động sáng tạo; hóa thân vào sảnphẩm; thỏa mãn nhu cầu Chân - Thiện - Mỹ Khả năng ứng xử giữa người vàngười, giữa con người và thiên nhiên; ở đây, thể hiện thái độ, quan điểm,phương thức ứng xử; sự thể hiện lý tưởng, niềm tin, thị hiếu trong hoạt động
Trình độ phát triển con người Nâng vị trí con người lên cao so với thế
giới động vật Phát triển, hoàn thiện các phẩm chất Người: đức, trí, thể, mỹmột cách toàn diện và hài hòa Phát triển nhân cách với tư cách chủ thể vănhóa
Văn hóa bao giờ cũng gắn với văn hóa dân tộc, vì dân tộc là cái xác
định bản sắc văn hóa; do đó, văn hóa của dân tộc đậm tính dân tộc Dân tộc là
bộ phận của nhân loại: nhân loại là tổng hòa các dân tộc, trong dân tộc có cáichung của nhân loại; cho nên, văn hóa của dân tộc đồng thời chứa đựng cácgiá trị nhân loại (tính nhân loại) Trong xã hội có giai cấp, văn hóa của mộtgiai cấp mang hệ tư tưởng giai cấp, thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởng,niềm tin, ý thức của giai cấp và phục vụ cho đấu tranh vì quyền lực và lợiích của giai cấp (tính giai cấp) Do có tính dân tộc, tính nhân loại và tính giai
Trang 20cấp, văn hóa mang cả trong mình nó cả tính đa dạng, phổ biến và lịch sử cụthể
Từ những phân tích như trên, rất có lý khi tác giả Trần Ngọc Thêm chorằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tươngtác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần NgọcThêm, 2006: 25]
Với nghĩa rộng nhất, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo trong lịch sử, biểu hiện sức sáng tạo và năng lực vươn lên của con người trong tiến trình cải biến tự nhiên, cải biến xã hội và cải biến chính bản thân mình; là biểu trưng của trình độ phát triển các quan
hệ nhân tính thông qua các hoạt động sống và sáng tạo theo hệ chuẩn Chân – Thiện – Mỹ trong điều kiện lịch sử xã hội cụ thể.
1.1.2 Chức năng văn hóa và cấu trúc văn hóa của chủ thể
Với nghĩa như trên, người ta không thể thành người nếu như không cóvăn hóa Điều đó cho thấy vai trò của văn hóa lớn lao đối với đời sống củatừng con người và sự phát triển của xã hội loài người Nhưng, có thể tiếp cậnvai trò của văn hóa với các chức năng cơ bản như sau:
Trước hết, văn hóa có chức năng nhận thức Chức năng nhận thức là
chức năng đầu tiên của mọi hoạt động văn hóa, thiếu nó không thể nói tớichức năng nào khác mà bộ phận quan trọng là giáo dục và khoa học Giáodục và khoa học là những hoạt động tác động trực tiếp đến hiểu biết, có tácdụng mở mang trí tuệ Sự khác nhau giữa trình độ phát triển của các dân tộccũng như của mỗi con người thường bắt đầu từ đây Kinh nghiệm lịch sử củanhiều nước chỉ ra rằng, chiến lược đẩy nhanh sự phát triển của một đất nướckhông thể bỏ qua các hoạt động về giáo dục và khoa học
Trang 21Thứ hai, Văn hóa có chức năng thẩm mỹ Cùng với nhu cầu hiểu biết, con
người còn có nhu cầu hướng tới cái đẹp Cho nên, cùng với chức năng nhậnthức, văn hóa còn có chức năng thẩm mỹ C.Mác viết: “Con vật chỉ chế tạotheo kích thước và nhu cầu của loài của nó, còn con người thì có thể sản xuấttheo kích thước của bất cứ loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất cốhữu của mình vào đối tượng; do đó, con người cũng chế tạo theo quy luật củacái đẹp” [C Mác – Ph Ăngghen, 1980:120]
Cảm xúc thẩm mỹ, tức khả năng biết rung động của cái đẹp, ở mộtmức độ nào đó tạo nên giá trị đạo đức của con người Không phải ngẫu nhiên
M Gorki gọi mỹ học là đạo đức học trong tương lai Nhà tư tưởng lớn nướcNga thế kỷ XIX là Biêlenxki nói cụ thể hơn: “Cảm xúc về cái đẹp là một điềukiện làm nên phẩm giá con người Phải có nó con người mới có được trí tuệ,phải có nó nhà bác học mới cất mình lên tới những tư tưởng tầm cỡ thế giới,mới hiểu được bản chất và các hiện tượng trong tính thống nhất của chúng…phải có nó người ta mới có thể không quỵ ngã dưới sức đè nặng trĩu của cuộcđời và làm nên những chiến công… Thiếu nó, thiếu đi cái cảm xúc ấy thìkhông có thiên tài, không có tài năng, không có trí thông minh mà chỉ còn lạicái thứ đầu óc tỉnh táo một cách ti tiện cần thiết cho sinh hoạt thường ngàytrong nhà, cho những tính toán nhỏ nhen ích kỷ” [Nguyên lý mỹ học Mác –Lênin, 1984: 9]
Lịch sử phát triển của nhân loại chứng minh rằng, mỗi bước tiến của xãhội cũng là một bước con người vươn tới cái đẹp Cũng có thể nói nhu cầu vàkhả năng vươn tới cái đẹp là một trong những động lực quan trọng tạo nên sựtiến bộ về vật chất và tinh thần của cuộc sống con người – Con người càngtiến tới trình độ văn minh thì nhu cầu và khát vọng về cái đẹp càng nổi lênnhư những nhu cầu bức thiết nhất
Thứ ba, Chức năng bao trùm của văn hóa là chức năng giáo dục xã
Trang 22nhân loại và lịch sử của mỗi dân tộc Văn hóa duy trì và phát triển bản sắcdân tộc, là “chiếc cầu” hữu nghị gắn bó nhiều dân tộc, nhiều thế hệ trong mụctiêu chung của con người là hướng về cái Chân – Thiện – Mỹ Con ngườiluôn luôn gắn với lịch sử, nên cũng không thể tách con người khỏi văn hóa,
vì văn hóa cũng là bản thân lịch sử của con người Với ý nghĩa đó, việc giáodục con người bằng văn hóa, bằng các giá trị truyền thống của văn hóa có vaitrò rất quan trọng
Văn hóa bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và được tích lũyqua nhiều thế hệ, mang tính lịch sử và tạo cho văn hóa một bề dày, một chiềusâu Nó được duy trì bằng truyền thống văn hóa, tức là cơ chế tích lũy vàtruyền đạt kinh nghiệm trong cộng đồng qua không gian và thời gian Nó lànhững giá trị tương đối ổn định thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội đượctích lũy và tái tạo trong cộng đồng người và được cố định hóa dưới dạngngôn ngữ, phong tục, tập quán nghi lễ, luật pháp, dư luận… Văn hóa thựchiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị ổn định mà còn bằngnhững giá trị đang hình thành Các giá trị này tạo nên một hệ thống chuẩnmực mà con người hướng tới Nhờ đó văn hóa đóng vai trò quyết định trongviệc hình thành nhân cách ở con người, trồng người, dưỡng dục nhân cách.[Trần Quốc Vượng, 2007: 102]
Bằng chức năng giáo dục, văn hóa tạo cho lịch sử nhân loại và lịch sửcủa mỗi dân tộc một sự phát triển liên tục Chức năng phái sinh của chứcnăng giáo dục là chức năng tổ chức xã hội của văn hóa [Trần Quốc Vượng,2007: 10] Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cungcấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để đối phó với môi trường tự nhiên
và môi trường xã hội [Trần Ngọc Thêm, 2006: 21]
Văn hóa không phải là trừu tượng mà bao giờ cũng gắn liền với mộtcấu trúc văn hóa của một chủ thể nhất định Cấu trúc văn hóa của một chủ thể
Trang 23chỉnh thể các lượng lực bản chất Người quy định sự tồn tại và phát triển củachủ thể Ở đây, chủ thể được đề cập tới ở hai cấp độ: cá nhân và tổ chức Về
cơ bản, cấu trúc hệ giá trị văn hĩa của một chủ thể là như sau:
Thế giới quan liên kết tồn bộ văn hĩa chủ thể Thế giới quan là tồn
bộ những quan niệm của chủ thể về sự phát triển của chính trị thế giới, về bảnthân mình, về vị trí của mình trong thế giới đĩ Qua nhận thức thế giới, chủthể tự xem xét chính bản thân mình để xác định cho mình mục đích sống, ýnghĩa hành động của mình, lựa chọn con đường và cách thức hành động đểđạt mục đích, ý nghĩa đĩ
Lý tưởng quy định hướng đích văn hĩa của chủ thể Lý tưởng là hình
ảnh hồn mỹ, mục đích cao đẹp mà chủ thể vươn tới Lý tưởng là mục tiêuhành động cao nhất của chủ thể Lý tưởng quy định hoạt động thực tiễn -khơng cĩ lý tưởng, người ta khơng cĩ ý thức và hành vi của mình Lý tưởngđịnh hướng tư tưởng, tình cảm, ý chí và hoạt động của con người
Tri thức là hạt nhân văn hóa của chủ thể Tri thức là sự hiểu
biết của con người về thế giới và bản thân mình Đĩ là một chỉnh thể về sốlượng và chất lượng lý luận và kinh nghiệm đã tích lũy được Nếu xét trongbản thể và tính khuynh hướng thì trình độ lý luận giữ vai trị chi phối vì nĩkhái quát kinh nghiệm thực tiễn để nâng lên tầm của cái phổ biến, vạch rađược những nhân tố mang tính bản chất và quy luật ẩn giấu đằng sau nhữngtri thức kinh nghiệm đã được tích lũy Cịn tri thức kinh nghiệm lại làm cơ sở,làm tiền đề cho sự tiếp thụ, sự khái quát thực tiễn thành lý luận đồng thờichính tri thức kinh nghiệm là chiếc cầu nối giữa lý luận và thực tiễn, cũng làđiều kiện tiên quyết để chủ thể tiến hành hoạt động sống trong thực tế Trongchỉnh thể đĩ, những tri thức thuộc về bản chất, về quy luật cùng những kinhnghiệm điển hình và các phương thức hành động mang tính nghệ thuật caođĩng vai trị chủ đạo trong việc hình thành và phát triển thế giới quan và
Trang 24Truyền thống quy định bản sắc văn hóa của chủ thể Truyền thống là
những giá trị của các thế hệ trước tạo ra, được các thế hệ sau lưu giữ, kế thừa
và tiếp tục phát huy trong hoạt động thực tiễn của mình Truyền thống của dântộc, của giai cấp, của địa phương thẩm thấu trong toàn bộ lý luận và thực tiểncủa chủ thể Đối với cá nhân, ngoài những truyền thống chung với tổ chức,mỗi người còn mang trong hành trang của mình truyền thống chính trị của quêhương, của gia đình Tất cả chúng đều kích thích mạnh mẽ đến việc hìnhthành và phát triển động lực của chủ thể, mà nhất là khi gặp khó khăn thìtruyền thống càng trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết như sức mạnh hiện thực
để chủ thể vượt qua tất cả Không những thế, truyền thống còn là nhân tố cực
kỳ quan trọng quy định việc lựa chọn phương thức, phương tiện, thủ thuậthành động thực tiễn
Niềm tin là sức mạnh văn hóa của chủ thể Niềm tin là biểu hiện ở sự
trung thành với lý tưởng, với định hướng hành động đã lựa chọn; ở lập trườngkiên định trước sau như một với ý chí hành động hiện thực hóa đường lối đếncùng trong bất kỳ tình huống nào Niềm tin là kết quả của một quá trình nhậnthức đúng đắn, sâu sắc lợi ích và con đường – phương thức để hiện thực hóalợi ích đó
Đường lối là kết quả sự phát triển văn hóa của chủ thể Đường lối của
chủ thể là một hệ thống những quan điểm, phương hướng, chủ trương… đểhoạt động thực tiễn Nó không chỉ thể hiện được khát vọng, nhu cầu lợi íchcủa chủ thể mà còn phải thể hiện được những lý tưởng xã hội cao cả của thờiđại, của nhân loại, những giá trị mang tính chủng loài, những mục tiêu,nguyên tắc, chuẩn mực, những thông lệ mang tính quốc tế Đường lối khôngchỉ là kết quả tất yếu của toàn bộ sự phát triển văn hóa mà đến lượt mình,đường lối còn quy định trở lại phương hướng phát triển văn hóa của chủ thể
Từ toàn bộ sự phát triển của văn hóa, chủ thể lựa chọn công cụ và
Trang 25hoàn cảnh cụ thể Đó là kết quả của toàn bộ sự phát triển văn hóa, của sự thâuthái và thâu hóa lý luận và kinh nghiệm của cả loài người trong cả quá trìnhlâu dài của chủ thể.
Từ cấu trúc hệ giá trị, người ta còn nói đến biểu hiện văn hóa của chủthể Nói đến biểu hiện của văn hóa là làm rõ sự tồn tại cảm tính của nó Sựtồn tại cảm tính văn hóa của chủ thể được nhận thấy rõ nhất trên các cấp độ
cơ bản sau:
Bản lĩnh nhân văn của cá nhân Văn hóa của cá nhân là sản phẩm tất
yếu từ khả năng thâu thái và thâu hóa tri thức và kinh nghiệm của nhân loại;
là khả năng tự trang bị, tự nâng cao trình độ nhận thức của chính mình Nóđược thể hiện ở năng lực trí tuệ cao với sự mẫn cảm, tinh tế, nhạy bén và với
sự khôn ngoan, sự sành sỏi trong đời sống thực tiễn bằng việc xử lý đúng đắn
và kịp thời các vấn đề cần kíp đem lại hiệu quả xã hội cao Văn hóa của cánhân biểu hiện một cách tập trung ở việc có được lập trường quan điểm riêngtrước các vấn đề phức tạp, nhất là khi còn chưa có những ý kiến tương đồng;
ở ý chí bảo vệ và hiện thực hóa đến cùng cho lý tưởng đã xác định; cùngnhững định hướng giá trị để làm người Nó thể hiện trực tiếp ở khả năng vàhiệu quả thực hiện nhiệm vụ tổ chức giao phó với những phương thức đạttrình độ nghệ thuật cao; ở sự giao tiếp, ứng xử, thói quen trong hoạt động vàtrong đời sống hàng ngày tương ứng với vị thế và yêu cầu nhiệm vụ củamình… Nét đặc trưng cho văn hóa cá nhân là khả năng thu phục nhân tâm,năng lực sáng tạo trong thực tiễn
Trình độ nhân văn của tổ chức Văn hóa của tổ chức thể hiện tập trung
ở tính khoa học, cách mạng và nhân bản của thể chế tổ chức và làm cho hoạtđộng của tổ chức ngày thêm hiệu quả Thể chế tổ chức là toàn bộ những chếđịnh tổ chức, thiết chế tổ chức và phương thức vận hành của guồng máy của
tổ chức đó Chế định tổ chức là toàn bộ thể lệ, chế độ, các quan hệ về chức
Trang 26lệ… trong hoạt động mà tất cả phải tuân theo và không thể làm khác được đểđảm bảo mục tiêu của cuộc vận động tổ chức và làm cho các hoạt động đadạng, phong phú của tổ chức diễn ra trong tính quy định Thiết chế tổ chức làtoàn bộ kết cấu bộ máy của tổ chức với hệ thống các cơ quan chức năng, các
bộ phận nhất định cùng những con người xác định với những phương tiện vậtchất và tinh thần tương ứng để hiện thực hóa nhiệm vụ đã định Phương thức
tổ chức là tổng thể các phương pháp và hình thức hoạt động trên thực tế vớiviệc sử dụng những biện pháp và công cụ tương ứng với mục tiêu mà tổ chức
đã định làm cho mục tiêu được thực hiện một cách nghệ thuật nhất Tiêu chícao nhất để đánh giá văn hóa của tổ chức là hiệu quả xã hội do hoạt độngthực tiễn của tổ chức đó đem lại
1.2 Văn hóa quản lý xã hội 1.2.1 Quản lý xã hội
Con người ngay từ buổi sơ khai ban đầu đã biết quy tụ lại thành bầy,nhóm để tồn tại với hai mục tiêu đảm bảo được sống (chống trả sự tấn côngcủa các thế lực khác, bầy nhóm khác, ác thú, thế lực tự nhiên ) và phát triển
để tiến hành các hoạt động sinh sống; dần dần sự cộng đồng sinh tồn đó được
tổ chức ngày một chặt chẽ và tạo thành các xã hội với các hoạt động đa dạng
và phong phú trên trái đất
Do tính chất xã hội của lao động của con người, quản lý tồn tại trongmọi xã hội ở bất cứ lĩnh vực nào và trong bất cứ giai đoạn phát triển phát triểnnào Lao động của con người luôn là lao động tập thể, mỗi người có một vị trínhất định trong tập thể, có quan hệ và có giao tiếp với người khác, tập thểkhác trong quá trình lao động Vì vậy, cần có sự quản lý để duy trì tổ chức, sựphân công lao động, các mối quan hệ giữa những người trong một tổ chức xãhội và giữa các tổ chức xã hội trong quá trình sản xuất vật chất, trong quá
Trang 27trình xã hội nhằm đạt được mục tiêu nhất định Để xã hội vận hành, hoạt độngquản lý xã hội là một đòi hỏi tất yếu khách quan.
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại
và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏđến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận vàchịu một sự quản lý nào đó C Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trựctiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiềucũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân vàthực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thểsản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một ngườiđộc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải cónhạc trưởng” [Mác – Ăngghen, 1993: 480]
Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, có thể hiểu nội hàmthuật ngữ quản lý dưới các góc độ sau:
Quản lý là hoạt động xuất hiện từ nhu cầu cuộc sống của con người Để
tồn tại và phát triển, con người không thể hành động riêng lẻ mà cần phối hợpnhững nổ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung Quá trình tạo ra của cải vậtchất và tinh thần cũng như bảo đảm cuộc sống an toàn cho cộng đồng và xãhội ngày càng được thực hiện trên quy mô lớn hơn với tính phức tạp ngàycàng cao hơn, đòi hỏi sự phân công, hợp tác để liên kết những con người trong
tổ chức Chính từ sự chuyên môn hóa, hiệp tác hóa lao động đã làm xuất hiệnmột dạng lao động đặc biệt – lao động quản lý
Quản lý là hoạt động thực tiễn xã hội có tổ chức mà con người tiến
hành để thực hiện những mục đích nhất định Quản lý xuất hiện như một chức
năng tổ chức xã hội Khi con người bắt đầu hình thành về mặt giống loài, họquần tụ thành xã hội Tính chất xã hội của đời sống, của lao động đã làm nảysinh chức năng quản lý Để tồn tại trong những điều kiện khắt nghiệt ở buổi
Trang 28bình minh của lịch sử, bầy người nguyên thủy cần có sự phối hợp Vì vậy,hoạt động quản lý xuất hiện như một yêu cầu của tính cộng đồng và ngày càngđược củng cố, hoàn thiện cùng với sự phát triển của trình độ lao động, của sự
xã hội hóa lao động Lịch sử của hoạt động quản lý cũng lâu dài như bản thân
sự tồn tại của con người
Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người
kết hợp với nhau trong một tổ chức nhằm đạt một mục tiêu chung Sống trong
xã hội, con người bao giờ cũng nằm trong một nhóm người, một tổ chức, mộtcộng đồng nào đó Hoạt động quản lý là hoạt động phát sinh khi con người kếthợp với nhau trong một tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu chung Những hoạtđộng quản lý không chỉ phát sinh khi con người tạo thành tập thể, mà còn rấtcần thiết Bởi vì, nếu không có hoạt động đó mọi người trong tập thể sẽ khôngbiết làm gì, làm lúc nào hoặc sẽ làm một cách lộn xộn, thay vì cùng bước vềmột hướng thì mỗi người lại bước về một hướng khác nhau Quản lý giúp cáctập thể, các tổ chức, các cộng đồng người và các thành viên của nó thấy rõmục tiêu và hướng đi của mình Đây là yếu tố đầu tiên quan trọng nhất đối vớimọi con người và tổ chức, giúp tổ chức thực hiện được sứ mệnh của mình, đạtđược những thành tích ngắn hạn và dài hạn, tồn tại và phát triển không ngừng.Quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọicấp độ và có liên quan đến mọi người Đó là một loại hoạt động xã hội bắtnguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hiệp tác để làm mộtcông việc nhằm đạt một mục tiêu chung
Quản lý là một phương thức làm cho những hoạt động được hoàn thành
với một hiệu quả cao, thông qua những người khác Vấn đề quản lý thế nào
cho tốt đẹp để hoàn thành được mục tiêu chung có thể đã được manh nha từlúc con người biết hợp tác với nhau trong các tổ chức Ban đầu là những tổchức để cùng nhau tự vệ, dần dần tiến tới những tổ chức kinh tế, tôn giáo, cáclĩnh vực khác của đời sống và khi xã hội xuất hiện nhà nước thì có thêm tổ
Trang 29chức chính trị Như vậy, hoạt động quản lý ra đời như một thành tựu văn hóacủa loài người Nó tồn tại trong mọi cộng đồng, mọi hệ thống tổ chức xã hội.Trong đời sống kinh tế - xã hội, vấn đề quản lý trở nên hết sức phức tạp
Quản lý có mặt ở tất cả mọi nơi, mọi lúc, có nhiều người hoạt động ởmọi lĩnh vực như: trong sản xuất, trong hoạt động dân sự, quân sự, trong hoạtđộng của các tổ chức xã hội mà ở đó số cá thể có thể đến hàng nghìn, hàngtriệu thành viên, và độ phức tạp của mỗi tổ chức lại tăng lên theo cấp số nhâncủa số thành viên tổ chức Quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống có
tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội), bảo đảm giữ gìnmột cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thựchiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó [Từ điển bách khoa ViệtNam, 2003: 580]
Quản lý xã hội là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của chủthể quản lý xã hội lên xã hội và các khách thể có liên quan, nhằm duy trì vàphát triển xã hội theo các đặc trưng và các mục tiêu mà các chủ thể quản lýđặt ra phù hợp với xu thế phát triển khách quan của lịch sử [Trường Đại họckinh tế quốc dân, Khoa Khoa học quản lý, 2006: 11]
Đối tượng của quản lý xã hội là việc quản lý các nhóm, các tổ chức, cácthiết chế và các cộng đồng xã hội Tương ứng với những tổ chức, nhữngnhóm, những cộng đồng, những thiết chế với tư cách các thành phần của cơcấu xã hội sẽ có tất cả những lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Đó lànhững hoạt động trên bình diện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, khoa học kỹthuật, giao tiếp xã hội Trong quản lý xã hội, các loại quản lý giới vô sinh,quản lý giới sinh vật, quản lý khoa học công nghệ, đều có mối liên hệ mậtthiết với quản lý xã hội, thông qua hoạt động của con người với các giới trên.Cuộc sống của con người chịu sự chi phối của nhiều mối quan hệ Bên cạnhmối quan hệ xã hội, con người còn chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên
Trang 30trường sinh thái mà con người đang sống Do vậy, quản lý xã hội chính là cấp
độ nghiên cứu cao nhất trong phạm trù quản lý, là một dạng quản lý tổng quátnhất và cũng là loại quản lý có tính chất chất phức tạp nhất Theo các tác giảG.D Daviducka, A.N Elxucovia và I.A Pixarenlô, quản lý xã hội là việcquản lý từng khía cạnh của đời sống xã hội, quản lý các thiết chế xã hội và xãhội nói chung, nhằm duy trì trạng thái năng động và vận hành hành hệ thống
xã hội một cách bình thường
Chủ thể quản lý xã hội bao gồm các tập đoàn lợi ích xã hội, các giaitầng, các thiết chế xã hội (tiêu biểu là nhà nước) và sức mạnh truyền thống,tập quán của dân tộc; hai bộ phận của chủ thể quản lý này luôn tồn tại songhành, nhưng mức độ tác động không phải mạnh yếu như nhau và không phảiluôn có vị thế cố định trong tiến trình biến đổi lịch sử của mỗi quốc gia, dântộc
Để quản lý xã hội, các chủ thể quản lý xã hội phải sử dụng sức mạnhquyền lực của mình và các truyền thống, tập quán của dân tộc để biến đườnglối (trị đạo) của mình thành hiện thực; phải làm cho mọi người dân hiểu, ủng
hộ và có khả năng biến đường lối thành hiện thực (trị học); thông qua việchình thành một cấu trúc xã hội hợp lý (trị thể); một cơ chế sử dụng nhân lực
và tài nguyên, các mối quan hệ đối ngoại một cách hữu hiệu, đặc biệt là côngtác cán bộ (trị tài); với các phương pháp, hình thức, nghệ thuật quản lý thíchhợp, nhất là việc sử dụng các công cụ, các chính sách, các giải pháp quản lý(trị thuật); đồng thời chủ thể quản lý xã hội còn cần thiết phải tạo ra và vậndụng các thời cơ đột biến, các nguồn lực bên ngoài để phát triển xã hội.[Trường Đại học kinh tế quốc dân, Khoa Khoa học quản lý, 2006: 25]
Con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quản lý xã hội Mộtmặt, trong hệ thống quản lý xã hội, mỗi người vừa là khách thể quản lý khi xéttương quan với cấp độ lớn hơn, và là chủ thể quản lý khi xét ở cấp độ nhỏ
Trang 31còn biểu hiện ở chỗ nó tự quản lý bản thân mình Con người quản lý chínhbản thân mình là quản lý công việc, hành vi của mình theo vị trí và vai trò màanh ta đảm nhận trong hệ thống quản lý, song anh ta không thể hành động mộtcách tự do tùy tiện, bởi anh ta luôn chịu sự quy định của chính năng lực vàphẩm chất hiện có của mình Đây cũng là một trong những đặc điểm riêng biệtcủa quản lý xã hội.
Quản lý xã hội là quản lý các quan hệ xã hội của con người nên là hoạtđộng rất khó khăn và phức tạp Một mặt, xã hội là một hệ thống bao gồm toàn
bộ các hoạt động cả về kinh tế, chính trị, hành chính, đạo đức, tinh thần nên
nó chứa đựng tất cả những phức tạp của các đối tượng phải quản lý Mặt khác,trong quản lý xã hội có những quan hệ phi chính thức như quan hệ đạo đức,quan hệ cá nhân, quan hệ xã hội nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật Hơnnữa, sự tác động qua lại của các đối tượng, các quan hệ làm cho việc quản lýcàng phức tạp và khó khăn hơn Trong đời sống kinh tế - xã hội thì vấn đềquản lý xã hội trở nên hết sức phức tạp
Quản lý xã hội có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của cáccộng đồng người, các dân tộc và quốc gia, thậm chí cả quốc tế Lịch sử pháttriển của nhân loại đã chỉ rõ, các cộng đồng người, các dân tộc chỉ có thể tồntại và phát triển mạnh khi việc quản lý xã hội có hiệu quả; ngược lại là sự đìnhđốn, trì trệ, thậm chí có thể dẫn đến sự hủy hoại khó lường
Quản lý xã hội là hoạt động có tính liên tục, tính kế thừa Sự sống hiệntại của con người luôn gắn liền với quá khứ và hướng đến tương lai Cho nên,hoạt động quản lý không chỉ thụ nhận và phát huy những giá trị, những kinhnghiệm mà các thế hệ trước đã tạo ra hay tích lũy được mà còn phải biết tạo ratiền đề, điều kiện thuận lợi và đặt nền móng vững chắc cho hoạt động quản lýđối với những quá trình xã hội tiếp sau
Trang 32Quản lý xã hội mang tính thẩm thấu, lan truyền Mỗi chủ thể tiến hànhhoạt động quản lý trong những điều kiện khác nhau với những yêu cầu về lợiích không giống nhau nhưng, thế giới là thống nhất, con người ngoài cái riêngcòn có những cái chung; hoạt động quản lý, ngoài cái cá biệt hay đặc thù,cũng còn có rất nhiều chỗ tương đồng Cho nên, các chủ thể quản lý có thểtrao đổi kinh nghiệm với nhau, học hỏi lẫn nhau và cùng nhau xây dựngnhững lý thuyết mang tính phổ biến hay khung khổ quản lý chung
Quản lý xã hội luôn liên quan đến việc phát huy động lực và hạn chếphản động lực của sự phát triển xã hội Động lực phát triển xã hội – hay chínhxác hơn, động lực vận hành xã hội – là nguồn sinh lực định hướng, duy trì vàthúc đẩy xã hội hoạt động Động lực có thể diễn ra theo hai chiều hướng khácnhau: tích cực và tiêu cực Trong quản lý xã hội, động lực của xã hội chính làđộng lực của từng thành viên, tính đồng thuận và sự kết hợp tốt của từng độnglực riêng lẻ thông qua các thiết chế tổ chức xã hội hợp lý, ngoài ra còn tínhđến sự kết hợp có hiệu quả của các xã hội bên ngoài Còn phản động lực là sựkhông đồng thuận của các động lực cá nhân trong xã hội thông qua các điềubất cập của thiết chế xã hội; các tác động xấu từ các xã hội khác có sức chiphối và các tác hại do điều kiện bất lợi mà thiên nhiên gây ra… Hoạt độngquản lý phù hợp với quy luật khách quan, với xu hướng vận động của cộngđồng, tạo ra điều kiện hiện thực hóa lợi ích của đa số thành viên cộng đồng sẽtạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy xã hội phát triển; ngược lại, sẽ tạo đều kiệncho phản động lực trổi dậy, cản trở sự phát triển của xã hội
Quản lý xã hội vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật Với tư cách
là một khoa học, quản lý xã hội là sự đúc kết lý luận và kinh nghiệm quản lý
từ thực tiễn, biểu hiện sự phù hợp giữa những quy luật nội tại của hoạt độngquản lý với những quy luật của đời sống xã hội trên cơ sở nhận thức sâu sắc
và đầy đủ những đòi hỏi khách quan từ yêu cầu của cộng đồng cụ thể
Trang 33Với tư cách là một nghệ thuật, chủ thể quản lý phải cĩ được phươngpháp hành động độc đáo với sự khéo léo kết hợp sáng tạo một cách tinh vinhững phương thức và cơng cụ quản lý vốn khác nhau thành một chỉnh thể hệphương pháp và cơng cụ độc đáo để đem lại hiệu quả xã hội cao nhất Đĩ là
“nghệ thuật của những bước đi” lắt léo và vịng vèo, với những bước tiến,bước lùi, bước vịng ; đặc biệt là nghệ thuật tính tốn thiệt hơn một cách chuđáo của những chủ thể quản lý cĩ trí tuệ ở tầm cao
Chức năng của quản lý xã hội là đảm bảo việc thực hiện các nhu cầuphát triển tiến bộ xã hội cho tồn bộ hệ thống xã hội, cũng như các tiểu hệthống của nĩ Quản lý xã hội là những tác động cĩ ý thức của các chủ thể xãhội (cĩ thể cá nhân hoặc nhĩm xã hội), vào xã hội nhằm sắp xếp và duy trì cácphẩm chất đặc thù của xã hội, đáp ứng sự tồn tại và phát triển của xã hội trongtất cả các lĩnh vực hoạt động của nĩ như lao động, học tập, văn hĩa, chính trị,tơn giáo và các cơng tác xã hội khác [Tạ Minh, 2002: 16]
Như vậy, cĩ thể hiểu: Quản lý xã hội là hoạt động nhằm phối hợp và
điều chỉnh hành vi của con người (cá nhân và tập thể, nhĩm người và xã hội) theo những chuẩn mực nhất định để đạt đến mục tiêu xác định trong một hồn cảnh khách quan.
1.2.2 Văn hĩa quản lý xã hội
Văn hĩa là hoạt động sống của con người, tương ứng với một kiểu hoạtđộng của con người là một dạng thức văn hĩa Văn hĩa quản lý xã hội, trướchết cũng là những giá trị của chủng lồi, cũng mang đầy đủ những phẩm chất
và các thuộc tính của văn hĩa nĩi chung Nhưng, với tư cách là cơng cụ đểquản lý các quá trình xã hội, văn hĩa quản lý xã hội là những giá trị trong hoạtđộng quản lý của các cộng đồng người nhất định Mỗi cộng đồng người cĩphương thức sống mang tính đặc trưng nên văn hĩa quản lý xã hội là một
“phương thức sinh hoạt cùng những biểu hiện của nĩ” mà con người sáng tạo
Trang 34ra do yêu cầu của tổ chức lao động xã hội, tổ chức đời sống cộng đồng cũngmột cách tương ứng
Ngoài chức năng của văn hóa nói chung, văn hóa quản lý xã hội cònnhằm định hướng hoạt động của con người theo những giá trị và chuẩn mựcvăn hóa nhất định, đạt được những mục tiêu phát triển xã hội xác định Conngười tồn tại với tư cách thành viên xã hội thì hành động bao giờ cũng phảituân theo cơ chế vận hành của một xã hội nhất định, “đều làm theo ý chungchứ không tùy tiện làm theo ý riêng của mình” [Đảng Cộng sản Việt Nam,1997: 12] nhằm đảm bảo tính thống nhất trong các hoạt động xã hội; thiết lập,kết hợp và điều hòa một cách tối ưu giữa những lợi ích, tình trạng và sự pháttriển của cá nhân, của tập thể, của cộng đồng người theo những quy luật vàyêu cầu phát triển chung của toàn xã hội
Văn hóa quản lý xã hội không chỉ điều tiết những mối quan hệ xã hội vàlợi ích của các chủ thể, địa vị và vai trò xã hội của mỗi con người mà còn địnhhướng hành động, quy định quyền hạn và trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụcủa mỗi loại chủ thể trong hành động thức tiễn vì sự tiến bộ của con người và
sự phát triển của xã hội theo chân giá trị vĩnh hằng của nhân loại
Một cách nhìn khái quát, văn hóa quản lý xã hội là tổng thể những giátrị hình thành từ quan niệm, chuẩn mực, nguyên tắc và phương pháp quản lý
xã hội tạo nên mối quan hệ hài hòa giữa chủ thể khách thể trong hoạt độngquản lý xã hội để đạt được mục tiêu chung Cho nên, cấu trúc của văn hóaquản lý xã hội là tổng thể các thành tố và các mối quan hệ giữa các thành tố ấytạo thành một chỉnh thể biểu hiện sự tồn tại hay một cơ chế tác động của hệgiá trị ấy đến đời sống chính trị - xã hội
Hệ giá trị xã hội của cộng đồng đóng vai trò chủ đạo trong văn hóa quản lý xã hội Văn hóa quản lý xã hội thực hiện việc hướng các thành viên xã
Trang 35hội đến một hệ giá trị chung của cộng đồng xã hội đã tích lũy được trong quátrình sinh sống và phát triển
Giá trị là yếu tố cốt lõi của văn hóa quản lý xã hội Nó là cái làm nênbản sắc văn hóa của mỗi cộng đồng, có vai trò liên kết xã hội Bằng sức mạnhliên kết đó, hệ giá trị có khả năng chi phối, điều tiết mọi hành xử của mọithành viên sống trong cộng đồng xã hội ấy Có thể thấy hệ giá trị tồn tại nhưnền tảng tinh thần của một xã hội Trong quản lý xã hội, các cá nhân luônhướng các hoạt động và quan hệ của mình tới giá trị xã hội Giá trị với tư cách
là thành tố quan trọng của các quan hệ văn hóa là vì các hoạt động nhận thức,ứng xử, sáng tạo được đánh giá bởi cộng đồng Giá trị thông qua đánh giá mà
có Giá trị thuộc về quyền lực của xã hội Giá trị văn hóa là những tư tưởngbao quát được tin tưởng mạnh mẽ chung cho mọi người về cái gì là đúng làsai, là thiện là ác, là đẹp là xấu, là hợp lý là phi lý, là mong muốn và khôngmong muốn Giá trị văn hóa có tính chất khái quát hơn chuẩn mực ở chỗ nókhông quy định những ứng xử cụ thể cho những tình huống cụ thể
Giá trị văn hóa là một hệ thống các quan hệ khách quan được quy địnhbởi thực tiễn lịch sử, bởi tính thông tin rộng rãi Giá trị văn hóa gắn với các lợiích xã hội Tính khách quan, tính thông tin rộng rãi không quy định tính lợiích trong các quan hệ giá trị Các giá trị văn hóa đều biểu hiện các lợi ích củacác lực lượng xã hội tiên tiến Các giá trị văn hóa tiên tiến luôn tạo ra các địnhhướng làm tăng trưởng cái đúng, cái tốt, cái đẹp Các giá trị văn hóa thôngqua đánh giá mà có, tuy nhiên đánh giá không tạo nên giá trị Nội dung kháchquan của các giá trị do lao động đã được kết tinh và đã được xã hội hóa quyđịnh Giá trị văn hóa có tính quy định về mặt lịch sử Có những giá trị lâu bền,
có giá trị một thời và có các giá trị muôn thuở, có những giá trị thật và cónhững giá trị giả Giá trị giả không đứng vững trước sự lựa chọn và thử tháchcủa thời gian Thế giới văn hóa là thế giới các giá trị Lịch sử văn hóa đó là
Trang 36quá trình chiếm lĩnh những giá trị, tạo dựng các mô hình lý tưởng theo mụctiêu thỏa mãn ngày càng cao các nhu cầu của con người.
Giá trị xã hội là bộ phận cốt lõi của văn hóa quản lý xã hội, có tác dụngchi phối các hoạt động của các thành viên trong xã hội, định hướng phát triểncủa một cộng đồng xã hội, có tác dụng điều hòa hành vi lợi ích và quan hệgiữa các cá nhân, nhóm, tập đoàn xã hội Mỗi xã hội có nhiều giá trị khácnhau, như giá trị văn hóa, giá trị kinh tế, chính trị, tâm lý, thẩm mỹ Tất cảnhững giá trị xã hội này đã tạo thành một hệ thống giá trị của xã hội Sự lựachọn và sắp xếp các giá trị trong hệ thống giá trị theo một trật tự nào đó, gọi làđịnh hướng giá trị Giá trị là quan niệm về cái có ý nghĩa được chia sẻ trongmột cộng đồng xã hội Đối với mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, nó vừa là cáiđược mong muốn, vừa là cái đáng mong muốn, cần phải mong muốn Giá trịtồn tại như một hệ thống và được xác lập thành hệ thống giá trị xã hội Giá trị
ở đây là giá trị xã hội, nó mang tính cộng đồng
Giá trị đóng vai trò quản lý xã hội ở chỗ nó quy định hành vi của mỗi cánhân trong cộng đồng, làm cho họ hành động luôn đi theo định hướng chungcủa cộng đồng Giá trị giúp cho cá nhân dựa vào vị thế xã hội của mình màxác định phương hướng hành động cho phù hợp với lý tưởng chung của xãhội Trong đời sống xã hội, mỗi hành xử của con người được coi như một lựachọn, trong đó ẩn dấu một động cơ giá trị Và, mỗi sản phẩm văn hóa được tạo
ra đều có chứa đựng một giá trị xã hội nào đó Vì thế, có thể xem toàn bộnhững tạo phẩm do hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ cũng nhưtrong hiện tại như là hình thức ngoại hiện của văn hóa, còn tổng giá trị xã hộichứa đựng trong cấu tạo phẩm ấy (cả vật thể và phi vật thể) trở thành nội dungtinh thần của văn hóa Hệ giá trị đóng vai trò liên kết xã hội và điều tiết hoạtđộng của mỗi thành viên trong cộng đồng, nói như Max Weber thì: “Văn hóa
là một cấu trúc có bề sâu Cuộc sống xã hội được phản chiếu trên bề mặt, dưới
bề mặt đó, văn hóa được chia theo các tầng khác nhau, thường tiềm ẩn và vô
Trang 37thức Ở độ sâu này ta thấy có sự sắp xếp của các quy tắc văn hóa, điều chỉnhcái bề mặt ở bên trên” [Dẫn theo Joachim Matthees, 1994: 180 ]
Giá trị là nhân tố quan trọng của hành vi cá nhân, là vật điều chỉnh cácnguyện vọng và hành động của con người, là chỗ dựa để đánh giá hành độngcủa người khác, để định đoạt lợi ích xã hội của các thành viên trong cộngđồng Do đó, giá trị xác định các tiêu chuẩn của thang bậc xã hội, làm nềntảng cho cuộc sống chung Nền văn hóa nào cũng có một bảng giá trị được coinhư bộ chỉnh của xã hội mà trong đó, định hướng giá trị làm nhiệm vụ địnhhướng phấn đấu cho toàn xã hội
Hệ thống chuẩn mực văn hóa và phong tục của cộng đồng là sự biểu hiện cụ thể giá trị văn hóa trong văn hóa quản lý xã hội Văn hóa quản lý xã
hội là sự quản lý dựa trên những chuẩn mực xã hội, phong tục chung của cộng
đồng xã hội và được thực hiện bằng sự tự giác của mỗi người
Chuẩn mực là cái được công nhận là đúng theo quy định hoặc theo thóiquen của xã hội Chuẩn mực xã hội là thuật ngữ dùng để mô tả những tiêuchuẩn chung hoặc ý tưởng hướng dẫn con người đáp ứng những yêu cầu của
xã hội Các cá nhân trong xã hội chấp nhận các chuẩn mực, tuân thủ qua cáchành động nhằm tăng cường tính thống nhất của các nhóm Người ta gọi mộthành động là chuẩn có nghĩa nhấn mạnh đến sự đáp ứng được những yêu cầu
về hành vi đối với cộng đồng Bất cứ nhóm nào được xác lập đều có các chuẩnmực riêng cho chính nhóm đó và nói rộng hơn là cả đối với cộng đồng Tiêuchuẩn nhóm có thể khác giữa nhóm này với nhóm khác và các bộ phận nhỏcủa nhóm có thể áp dụng những chuẩn mực khác nhau trong cùng một hoàncảnh Với nghĩa như vậy, trong xã hội có rất nhiều chuẩn mực khác nhau màchuẩn đạo đức là cái làm nền của tất cả
Chuẩn mực văn hóa là những nguyên tắc, thể lệ, lề thói, lễ nghi… đượcxác lập trên cơ sở tình yêu thương giữa con người với con người để điều
Trang 38chỉnh hành vi của con người trong sinh hoạt cộng đồng theo yêu cầu pháttriển của xã hội Chuẩn mực văn hóa không được quy định bằng văn bảnpháp lý cũng không có sức mạnh cưỡng chế như pháp luật mà sức mạnh điềuchỉnh của nó là sự phê phán của xã hội, sự tự ý thức của bản thân bởi sựtrưởng thành của “các lực lượng bản chất Người” ở mỗi cá nhân Trong mỗinền văn hóa thường có những hệ thống chuẩn mực cùng phát huy tác dụngđan kết các hoạt động của con người Đó là hệ thống các chuẩn mực trong laođộng, hệ thống các chuẩn mực trong giao tiếp, hệ thống các chuẩn mực tôngiáo, tín ngưỡng, đảng phái Các hệ thống chuẩn mực này bao chứa nhữngđịnh chuẩn quy định tính thông tin, tính kiểm soát trong các lĩnh vực cơ bảncủa đời sống tinh thần của xã hội tạo thành các chuẩn mực về đạo đức, cácchuẩn mực pháp luật, các chuẩn mực thẩm mỹ và trí tuệ Các chuẩn mực nàymang tính quy định, tính cấm đoán và tính điều chỉnh.
Hoạt động sống của con người bất kể về phương diện nào cũng đều làhoạt động xã hội Toàn bộ hoạt động xã hội của con người diễn ra liên tục dệtnên đời sống xã hội của nó, thể hiện như một mạng lưới các tình huống ứng
xử Ở đó, con người tiếp xúc với nhau, tác động đến nhau, thông báo chonhau, yêu cầu nhau hoặc tiếp nhận ở nhau một điều gì đó Mỗi một cuộc tiếpxúc là một tình huống ứng xử Mỗi nền văn hóa sử dụng bảng giá trị như tấmbiển chỉ đường hướng cho các thành viên xã hội lựa chọn cách ứng xử như thếnào để tránh xung đột với các cá nhân khác, mỗi người sẽ phải tự giải quyếtnhư thế nào khi lợi ích riêng bị đụng chạm Cách ứng xử ấy được chọn lọc vàtrải nghiệm qua nhiều đời thì trở thành khuôn mẫu ứng xử
Chuẩn mực xã hội là hệ thống những quy định cụ thể về cách ứng xửcủa mọi người trong giao tiếp xã hội, là khuôn mẫu cho hành động của các cánhân Xét trong mối tương quan, thì chuẩn mực xã hội bắt nguồn từ giá trị xãhội, nó là sự hiện thực hóa các giá trị trong đời sống xã hội, bằng cách đặt ra
hệ thống quy tắc hướng dẫn hành động cho mọi người
Trang 39Trong chuẩn mực văn hóa có một chuẩn mực đặc biệt là phong tục.Toàn bộ khuôn mẫu ứng xử được cộng đồng xã hội chấp nhận và vận dụng thìtrở thành chuẩn mực xã hội, được đúc kết và hệ thống hóa lại thì thành phongtục Phong tục là những thói quen được hình thành lâu dài trong lịch sử, đượclưu truyền từ đời này sang đời khác trở thành tập quán của cộng đồng mà mọithành viên trong cộng đồng đều phải nhận thức đúng và không thể hành độngtrái; ai vi phạm sẽ bị trừng phạt một cách thích đáng Phong tục là một công
cụ đặc biệt quan trọng trong văn hóa quản lý xã hội Nó thôi thúc người ta nênlàm hay không nên làm, nó ràng buộc người ta phải làm hay không được làm,góp phần vào việc điều chỉnh hành vi của cá nhân đi theo định hướng chungcủa cộng đồng xã hội Các cộng đồng xã hội phải phát huy được những giá trịnhân văn, lành mạnh của phong tục nhằm điều tiết các hoạt động của cá nhân
và các tổ chức xã hội
Phong tục sẽ sử dụng sức mạnh của dư luận xã hội để buộc các thànhviên trong cộng đồng phải tự giác vận dụng những chuẩn mực xã hội trongmọi ứng xử của nó Đây chính là tác động điều chỉnh của phong tục – một bộphận của văn hóa quản lý xã hội
Hệ thống các thiết chế văn hóa xã hội là sự tổ chức của văn hóa quản lý
xã hội Văn hóa quản lý xã hội là sự quản lý xã hội được thực hiện thông qua
các thiết chế xã hội Thiết chế xã hội là hệ thống tổ chức xã hội vận hành theo
một thể chế luật lệ xác định, được các thành viên trong cộng đồng xã hội ấythừa nhận và tự nguyện thực hiện
Trong thuật ngữ xã hội học, thiết chế không phải là cái thuộc về cánhân, nó cũng không phải là một nhóm hay một đoàn thể, mà là một quá trình
xã hội Quá trình này được khuôn mẫu hóa, trong đó các vai trò xã hội phối trívới nhau bằng việc thực hiện những khuôn mẫu ứng xử, diễn ra theo một trật
tự xác định, nhằm đáp ứng một nhu cầu nào đó của cộng đồng, được phần lớn
Trang 40Thiết chế xã hội là một cơ cấu tổ chức, mang tính chất tương đối ổnđịnh của những khuôn mẫu ứng xử, vai trò và tương quan giữa chúng, thựchiện theo một cách thức đã được chế định và thống nhất, với mục đích là đápứng các nhu cầu cơ bản của xã hội [J.H Fichter, 1973: 148] Thiết chế xã hộisinh ra nhằm đáp ứng một nhu cầu nào đó của xã hội Mỗi thiết chế ra đời đều
có tính mục đích của nó Các thiết chế thường mang tính ổn định trong mộtthời gian dài
Thiết chế xã hội được tổ chức thành cơ cấu xã hội Chúng ta biết các vaitrò và tương quan xã hội, tự chúng biểu hiện như là sự phối hợp thành cơ cấucác khuôn mẫu ứng xử, tức trở thành phong tục, tập quán Chúng trở thành cácyếu tố truyền thống, bền vững của một nền phong hóa (nếp sống), và do đóbiểu hiện như nội lực cô kết cộng đồng, đảm bảo sự an sinh và phát triển cho
xã hội Mỗi hệ thống thiết chế là một đơn vị vận hành, đáp ứng một loại nhucầu nào đó của xã hội Nó có tính độc lập tương đối, cho nên người ta có thểtách nó ra để nghiên cứu, phân tích Nhưng toàn bộ hệ thống thiết chế xã hội
là một chỉnh thể thống nhất, giữa các thiết chế có mối quan hệ qua lại, vậnhành nhịp nhàng, tương ứng với một mặt hoạt động của xã hội Không mộtthiết chế nào có thể tách biệt hoàn toàn khỏi những thiết chế khác Kết quả làtrong hoạt động thực tiễn, khi xã hội có nhu cầu về cải cách thiết chế phù hợpvới hoàn cảnh mới, thì người ta không thể tiến hành cải cách thiết chế này màkhông cải cách thiết chế khác, và ngược lại
Thiết chế biểu hiện giống như một giá trị Điều đó có nghĩa là các trạngthái lặp đi lặp lại của thiết chế trở thành những chuẩn mực ứng xử Người thựchiện xuất sắc các chuẩn mực ấy sẽ trở thành tấm gương – một giá trị Một bộphận của chuẩn mực ứng xử được diễn đạt thành văn, thể hiện dưới hình thứcluật và lệ Trong một cộng đồng xã hội – văn hóa, thiết chế tạo ra áp lực xãhội, buộc các thành viên của nó phải thực hiện hệ thống chuẩn mực mà cộng