1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ khoa học Sinh thái học

67 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 2,61 MB
File đính kèm LV thạc sĩ-Sinh thái học (VQG Phú Quốc).rar (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là Luận văn báo cáo tốt nghiệp thạc sĩ Sinh thái học k16. Một bài báo cáo hoàn chỉnh về Nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia Phú Quốc Kiên Giang. Bài báo cáo đươc GS TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn và Tiến sĩ Đặng Minh Quân hướng dẫn rất tận tình và chu đáo. Luận văn này rất phù hợp để làm tài liệu tham khảo và là tư liệu nghiên cứu khoa học cho các bạn học sinh, sinh viên.

Trang 1

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đảo Phú Quốc là một hòn đảo lớn nằm phía Tây Nam của Việt Nam, trong Vịnh Thái Lan, cận xích đạo, có khí hậu nhiệt đới gió mùa (nóng ẩm, mưa nhiều), nên hệ thực vật ở đây rất đa dạng và phong phú Theo Phạm Hoàng Hộ (1985), mặc

dù đảo Phú Quốc đã được khảo sát rất sớm bởi các nhà Thực vật học người Pháp vào cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, nhưng sự hiểu biết của chúng ta về tài nguyên thực vật ở đảo này còn rất ít Mặt khác, các điều kiện môi trường của tài nguyên ấy cũng chưa được xác định rõ, nên có rất nhiều loài có giá trị đã bị đốn làm nọc tiêu, cũng như đã bị khai thác trước khi giá trị của chúng được phát hiện Chính vì vậy, Vườn Quốc gia (VQG) Phú Quốc được thành lập theo Quyết định số 91/2001/QĐ-TTg ngày 8 tháng 6 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển hạng Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc đảo Phú Quốc thành VQG Phú Quốc cũng nhằm mục đích tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn đa dạng sinh học ở hòn đảo này

Núi Hàm Rồng án ngữ phía Tây Bắc của đảo Phú Quốc trên địa phận của 2

xã là Bãi Thơm và Gành Dầu thuộc sự quản lý của VQG Phú Quốc Đây là một trong những núi có vị trí quan trọng về mặt quốc phòng, đồng thời có nhiều phong cảnh đẹp nên thuận lợi cho sự phát triển các loại hình du lịch sinh thái Mặt khác,

hệ sinh thái và hệ thực vật ở đây rất đa dạng và phong phú, có nhiều loài quí hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, nhiều loài đặc hữu địa phương và đặc biệt là ở những tầng rừng có độ cao từ 150 m trở lên còn có rất nhiều loài cây gỗ có giá trị

kinh tế cao hiện nay như Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeryi), Dầu mít (Dipterocarpus costatus), Trai (Fagraea fragrans), Thao lao (Lagerstroemia calyculata), Bô bô (Shorea hypochra), Tri tân ổi (Tristaniopsis merguensis),… Tuy

nhiên, do núi Hàm Rồng nằm ở vùng đệm ven biển, khá gần khu vực dân cư sinh sống, nên rừng ở đây chịu sự tác động rất lớn từ con người thông qua việc khai thác

gỗ để làm nhà ở, đóng tàu, làm các đồ mỹ nghệ phục vụ du lịch,… nên những cây

Trang 2

có giá trị kinh tế cao đang bị khai thác trái phép ngày càng nhiều và có nguy cơ khó phục hồi

Gần đây, Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang đã trình Chính phủ dự án xây dựng đảo Phú Quốc thành đảo du lịch sinh thái chất lượng cao Nếu dự án được thực hiện thì sự tác động của du lịch và các dịch vụ du lịch đến VQG Phú Quốc nói chung và núi Hàm Rồng nói riêng là rất lớn Do đó, việc điều tra thành phần loài thực vật để

có biện pháp quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững giá trị đa dạng sinh học của VQG Phú Quốc nói chung và núi Hàm Rồng nói riêng là rất cần thiết nhằm giảm thiểu tối đa các tác động bất lợi từ du lịch Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài

“Nghiên cứu tính đa dạng thực vật của núi Hàm Rồng thuộc Vườn quốc gia Phú Quốc ở độ cao trên 150 m”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu, phân tích và đánh giá được sự đa dạng của hệ thực vật bậc cao

có mạch ở núi Hàm Rồng ở độ cao trên 150 m nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của VQG Phú Quốc

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Hệ thực vật bậc cao có mạch ở núi Hàm Rồng của VQG Phú Quốc ở độ cao trên 150 m

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Phân tích và đánh giá sự đa dạng hệ thực vật ở núi Hàm Rồng ở độ cao trên

150 m, bao gồm các nội dụng sau:

- Thu mẫu, kiểm kê và xây dựng danh lục thực vật ở khu vực nghiên cứu theo hệ thống của Brummitt (1992)

- Đánh giá sự đa dạng thực vật về phân loại, bao gồm:

+ Đánh giá đa dạng mức độ ngành

+ Đánh giá đa dạng mức độ họ

Trang 3

+ Đánh giá đa dạng về thành phần loài

- Đánh giá sự đa dạng về dạng sống

- Đánh giá sự đa dạng nguồn tài nguyên di truyền, bao gồm:

+ Đa dạng về giá trị sử dụng (cây có ích)

+ Đa dạng về các loài cây có nguy cấp

- Phân tích sự đa dạng về các yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật

- Phân tích đặc điểm sinh thái và cấu trúc thảm thực vật

1.5 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Thời gian: từ tháng 10/2010 đến tháng 04/2011

Trang 4

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG HỆ THỰC VẬT TRÊN THẾ GIỚI

Việc nghiên cứu các hệ thực vật trên thế giới đã có từ rất lâu với nhiều bộ Thực vật chí của rất nhiều nước đã được hoàn thành Đối với vùng châu Á có những công trình xuất bản vào thế kỷ 19 – 20 tiêu biểu là: Thực vật chí Hồng Kông (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí Ấn độ (1872 – 1897) gồm 7 tập, Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 – 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977),… Ở Đông Dương, trong thời

kì này, tiêu biểu nhất là công trình của H Lecomte chủ biên (1907 – 1952) đã phân loại, mô tả và thống kê các loài cây từ Dương xỉ tới Thực vật Hột kín của toàn Đông Dương Đây được xem là công trình lớn nhất về thực vật ở Đông Dương, gồm 7 tập chính và sau lại bổ sung thêm bằng những tập phụ (Ngô Tiến Dũng, 2002)

Sự đa dạng về thành phần loài thực vật có hoa trên thế giới cũng đã được Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 2004) tổng hợp dựa trên nhiều nguồn tài liệu thực vật trên thế giới, kết quả cho thấy: Vùng nhiệt đới Nam Mỹ là nơi giàu loài nhất có thể chứa tới 1/3 số loài trên toàn thế giới Trong đó, Brazin có tới 55.000 loài, Côlômbia có khoảng 35.000 loài, Vênêzuêla có khoảng 15.000 - 25.000 loài; Vùng Đông Nam châu Á như Indonesia có tới 20.000 loài, Malaysia và Thái Lan có khoảng 12.000 loài,…

Ngày nay, vấn đề nghiên cứu và bảo tồn đa dạng thực vật nói riêng và đa dạng sinh vật nói chung đã trở thành một chiến lược trên toàn thế giới Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên toàn thế giới như Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP), Quỹ quốc tế và bảo vệ thiên nhiên (WWF), Viện nghiên cứu quốc tế về tài nguyên thực vật (IPGRI), Viện

Trang 5

nhiều cuốn sách mang tính chỉ dẫn đã ra đời Năm 1990, WWF đã cho xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh vật (The Importance of Biological Diversity) hay IUCN, UNEP và WWF đã đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới (World Conservation Strategy), IUCN - WWF đưa ra chiến lược sinh vật toàn cầu (Global Biological Strategy) Năm 1991, WRI, WB và WWF xuất bản cuốn

“Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Vật Thế Giới” (Conserving The World’ Biological Diversity), hay IUCN, UNEP và WWF xuất bản cuốn “Hãy quan tâm tới trái đất” (Caring For The Earth) Năm 1992 – 1995, WCMC (World Conservation Monitoring Centre) công bố một cuốn sách tổng hợp (Đánh giá đa dạng sinh vật toàn cầu – Global Biodiversity Assessment) các tư liệu về đa dạng sinh vật của các nhóm sinh vật khác nhau của các vùng khác nhau trên toàn thế giới làm cơ sở cho việc bảo tồn chúng có hiệu quả hơn (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2006)

2.2 NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG HỆ THỰC VẬT Ở VIỆT NAM

2.2.1 Nghiên cứu đa dạng về phân loại thực vật

Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2006), việc nghiên cứu sự đa dạng thực vật Việt Nam đã được tiến hành từ rất sớm Ngoài những công trình nghiên cứu cổ điển của Loureiro (1970) và Pierre (1879 – 1907) thì từ những năm đầu thế kỷ đã xuất hiện một công trình nổi tiếng là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ thực vật chí Đông Dương do H Lecomte chủ biên (1907 – 1952) Trong công trình này, tác giả đã thu mẫu và định tên, lập khóa mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương Trên cơ sở đó, Thái Văn Trừng (1978) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ Trong

đó, Ngành Hột kín có 3366 loài, 1727 chi và 239 họ Ngành Dương xỉ và họ hàng Dương xỉ có 599 loài, 205 chi và 42 họ Ngành Hột trần có 39 loài, 18 chi và 8 họ Trên cơ sở các công trình đã có, Pócs Tamás (1965) cũng đã thống kê được ở miền Bắc có 5190 loài Năm 1969, Phan Kế Lộc thống kê và bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5609 loài, 1660 chi và 140 họ (xếp theo hệ thống Engler), trong đó có 5069 thực vật Hột kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại Tiếp theo là bộ Thực vật chí

Trang 6

Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960 – 1997) cùng với nhiều tác giả khác nghiên cứu và hệ thống các loài thực vật trên phạm vi

cả nước, đến nay đã công bố 29 tập gồm 74 họ cây có mạch nghĩa là chưa đầy 20% tổng số họ đã có

Từ năm 1969 – 1976, nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật đã cho xuất bản bộ sách

"Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam" do Lê Khả Kế chủ biên gồm 6 tập Ở miền Nam, Phạm Hoàng Hộ (1970 – 1972) đã công bố 2 tập “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” giới thiệu 5326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài Rêu còn lại

5246 loài thực vật có mạch

Nhằm phục vụ cho công tác khai thác tài nguyên, Viện Điều tra qui hoạch rừng đã công bố 7 tập “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1971 – 1988) giới thiệu khá chi tiết cùng hình vẽ minh họa và đến năm 1996 công trình này được dịch ra tiếng Anh do

Vũ Văn Dũng chủ biên Trần Đình Lý (1993) công bố “1900 cây có ích ở Việt Nam”, Võ Văn Chi (1997) công bố quyển “Từ điển cây thuốc Việt Nam” Đáng chú

ý nhất là bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam trong vài năm gần đây Đây là

bộ sách đầy đủ nhất và dễ sử dụng nhất góp phần đáng kể cho khoa học thực vật Việt Nam Ngoài ra, còn có một số họ riêng biệt trên phạm vi toàn quốc đã được công bố như Orchidaceae Đông Dương của Seidenfaden (1992), Orchidaceae Việt Nam của Leonid V Averynov (1994), Euphorbiaceae Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Thìn (1995, 1999, 2007), Annonaceae Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2000), Lamiaceae của Vũ Xuân Phương (2000), Myrsinaceae của Trần Thị Kim Liên (2002), Cyperaceae của Nguyễn Khắc Khôi (2002) Đây là những tài liệu quan trọng nhất làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại thực vật Việt Nam Bên cạnh những công trình nghiên cứu chung cho cả nước hay ít ra một nữa đất nước, đã có nhiều công trình nghiên cứu khu hệ thực vật vùng được công bố chính thức như hệ thực vật Tây Nguyên đã công bố 3754 loài thực vật có mạch do Nguyễn Tiến Tân, Trần Đình Đại, Phan Kế Lộc chủ biên (1984); Danh lục thực vật

Trang 7

một diện tích 592 km2; Lê Trần Chấn, Phan Kế Lộc, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nông Văn Tiếp (1995) về hệ thực vật Lâm Sơn, Lương Sơn, Hòa Bình trên một diệc tích nhỏ 15km2 đã thống kê 1261 loài thực vật bậc cao có mạch, 698 chi và 178 họ; Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2024 loài thực vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sa Pa – Phan Si Pan

Trên cơ sở các bộ thực vật chí, các danh lục thực vật của từng vùng, việc đánh giá tính đa dạng hệ thực vật của cả nước hay từng vùng cũng đã được các tác giả đề cập đến dưới các mức độ khác nhau, trên những nhận định khác nhau

Về đa dạng các đơn vị phân loại: Trên phạm vi cả nước, Nguyễn Tiến Bân (1997) đã thống kê và đi đến kết luận thực vật Hột kín trong hệ thực vật Việt Nam

có 8500 loài, 2050 chi trong đó lớp Hai lá mầm là 1590 chi là trên 6300 loài và lớp Một lá mầm 460 chi với 2200 loài Phan Kế Lộc (1996) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 10361 loài, 2256 chi, 305 họ chiếm 4%; 15% và 57% tổng số các loài, chi

và họ của thế giới, trong đó 9628 loài 2010 chi, 291 họ cây hoang dại có mạch và

733 loài, 246 chi và 14 họ cây trồng; ngành Hột kín chiếm 92,47% tổng số loài, 92,48% tổng số chi và 85,57% tổng số họ; ngành Dương xỉ kém đa dạng hơn theo tỉ

lệ 6,45%; 6,27%; 9,97% về loài; ngành Thông đất đứng thứ 3 (0,58%), tiếp đến là ngành Hột trần (0,47%), hai ngành còn lại không đáng kể về họ, chi và loài Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lý các tên theo hệ thống Brummitt (1992)

đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2582 chi, 395 họ thực vật bậc cao

Về đánh giá đa dạng phân loại theo từng vùng: Mở đầu là các công trình của Nguyễn Nghĩa Thìn (1992 – 1994) về đa dạng thực vật Cúc Phương, tiếp theo là Phan Kế Lộc (1992) vế cấu trúc hệ thực vật Cúc Phương; Lê Trần Chấn, Phan Kế Lộc, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nông Văn Tiếp (1994) về đa dạng hệ thực vật Lâm Sơn (Hòa Bình)

Từ năm 1995 – 2007, Nguyễn Nghĩa Thìn cùng với một số tác giả khác đã công bố một số loạt bài báo về đa dạng sinh học ở VQG Cúc Phương (Ninh Bình); vùng núi đá vôi Hòa Bình; núi đá vôi Sơn La; Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN)

Trang 8

Khau Ca (Hà Giang); KBTTN Nà Hang và KBTTN Chạm Chu (Tuyên Quang); KBTTN Hữu Liên (Lạng Sơn); VQG Hoàng Liên (Lào Cai); VQG Ba Bể (Bắc Kạn); VQG Cát Bà (Hải Phòng); VQG Bến Én (Thanh Hóa); VQG Pù Mát và KBTTN Pù Huống (Nghệ An), VQG Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình); VQG Cát Tiên (Đồng Nai); VQG Yôk Đôn (Đăk Lăk); vùng ven biển Phong Điền (Thừa Thiên – Huế) (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008)

Qua quá trình nghiên cứu, Nguyễn Nghĩa Thìn đã công bố cuốn "Cẩm nang nghiên cứ u đa da ̣ng sinh vâ ̣t" (1997) nhằm hướng dẫn cách đánh giá tính đa da ̣ng thực vâ ̣t của vùng nghiên cứu cho các VQG và KBTTN trong cả nước; Pha ̣m Bình Quyền và Nguyễn Nghĩa Thìn đã công bố cuốn "Đa da ̣ng sinh ho ̣c bảo tồn" (1999); Nguyễn Nghĩa Thìn và Lê Vũ Khôi công bố cuốn "Đi ̣a lý sinh vâ ̣t" (2000); Nguyễn Nghĩa Thìn cũng đã cho ra cuốn “Hê ̣ sinh thái rừng nhiê ̣t đới” (2003) và "Đa da ̣ng sinh học và tài nguyên di truyền thực vâ ̣t" (2005) nhằm cung cấp những cơ sở cho công tác nghiên cứu đa da ̣ng sinh ho ̣c nói chung và đa da ̣ng về thực vâ ̣t ở Viê ̣t Nam

nói riêng

2.2.2 Nghiên cứu đa dạng về thảm thực vật

Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2006), đa dạng về quần xã thực vật trên phạm vi

cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu nổi tiếng của Thái Văn Trừng (1963 – 1978) về thảm thực vật Việt Nam Dựa trên quan đểm sinh thái phát sinh quần thể

đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành các kiểu phụ, kiểu trái và thấp nhất các

ưu hợp Trong các yếu tố phát sinh thì khí hậu là yếu tố phát sinh ra kiểu thực vật, còn các yếu tố địa lý, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khu hệ thực vật và con người

là yếu tố phát sinh của các kiểu phụ, kiểu trái và ưu hợp

Miền Nam có công trình thảm thực vật Nam Trung bộ của Schmid (1974) Ngoài điều kiện khí hậu với chế độ thoát nước khác nhau, các tiêu chuẩn phân biệt các quần xã là sự phân hóa khí hậu, thành phần thực vật đai cao Ở miền Bắc có công trình của Trần Ngũ Phương (1970) đã chia các đai trên cơ sở độ cao, sau đó dựa vào điều kiện địa hình và tính chất sinh thái, các kiểu khu vực dựa vào thành

Trang 9

Ngoài ra, Nguyễn Vạn Thường (1995) đã xây dựng bản đồ thảm thực vật Bắc Trung bộ và đã chia 4 vùng sinh thái chính căn cứ vào độ cao so với mặt biển: <700

m nhiệt đới ẩm, <700 m nhiệt đới ẩm có nửa mùa khô, <700 m hơi khô có mùa mưa

rõ và 800 – 1500 m nhiệt đới ẩm Có thể nói, đó là sơ đồ tổng quát nhất về thảm thực vật Bắc Trung bộ Việt Nam Đến 1985, theo cách phân loại mới của UNESCO (1973) Phan Kế Lộc đã vận dụng thang phân loại đó để xây dựng thang phân loại thảm thực vật Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ, 77 quần hệ khác nhau

Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ và Trần Văn Thuy (1995, 1996) đã nghiên cứu các quần xã thực vật và xây dựng bản đồ thảm thực vật VQG Cúc Phương, cùng năm đó có một số thông báo của Vũ Văn Dũng về các kiểu thảm thực vật ở VQG Vũ Quang; của Nguyễn Đức Ngắn, Lê Xuân Ái về các kiểu thảm thực vật Côn Đảo; của Nguyễn Duy Chuyên về các kiểu thảm thực vật ở khu bảo tồn và VQG các tỉnh miền Nam Việt Nam; của Trần Ngọc Bút về các kiểu thảm thực vật VQG Cát Bà; Lê Đức Giang về các kiểu thảm thực vật VQG Bến En; của Huỳnh Văn Kéo về các kiểu thảm thực vật VQG Bạch Mã; của Võ Văn Bền về các kiểu thảm thực vật đảo Phú Quốc; của Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Xuân Đặng, Lê Văn Chiêm về các kiểu thảm thực vật VQG Nam Cát Tiên; Đỗ Minh Tiến về các kiểu thảm thực vật khu bảo tồn Tam Đảo; Bùi Văn Định, Cao Văn Sung, Phạm Đức Tiến

về các kiểu thảm thực vật VQG Ba Bể Từ năm 1998 – 2007, Nguyễn Nghĩa Thìn

đã lần lượt công bố về các kiểu thảm thực vật vùng Sa pa – Phan si pan (1998), về các kiểu thảm thực vật VQG Cát Bà (1998 – 1999), về các kiểu thảm thực vật ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, về các kiểu thảm thực vật VQG Bạch Mã (2003), về các kiểu thảm thực vật VQG Pù Mát (2004), về các kiểu thảm thực vật KBTTN Na Hang, VQG Yôk Đôn (2006), KBTTN Khau Ca và Trùng Khánh (2007) (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008)

2.2.3 Nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật

Về phương diện phân bố địa lý, liên quan đến nguồn gốc phát sinh của thực vật chủ yếu để phân biệt hai nhóm thực vật đó là bản địa và di cư cũng được quan

Trang 10

tâm nghiên cứu Bởi vì một hệ thực vật bao giờ cũng chứa nhiều yếu tố địa lý thực vật khác nhau, các yếu tố nảy có thể là yếu tố đặc hữu hay yếu tố di cư Các loài thuộc yếu tố đặc hữu thể hiện sự khác biệt giữa các hệ thực vật với nhau, còn các loài thuộc yếu tố di cư sẽ chỉ ra sự liên hệ giữa các hệ thực vật đó Chính vì vậy khi nghiên cứu tính đa dạng của hệ thực vật nào đó thì việc nghiên cứu về phổ yếu tố địa lý là rất cần thiết Nó cho phép xác định khu vực phân bố của loài cũng như các bậc taxon trên loài từ đó chúng ta có thể hiểu bản chất cấu thành của nó làm cơ sở cho việc đình hướng bảo tồn và dẫn giống cây trồng (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008)

Gagnepain là người đầu tiên nghiên cứu, phân tích và đánh giá các yếu tố địa

lý thực vật của hệ thực vật Việt Nam, theo tác giả hệ thực vật Đông Dương bao gồm năm yếu tố được trình bày trong hai công trình là: “Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương” (1926) và “Giới thiệu về hệ thực vật Đông Dương” (1944) cụ thể như sau:

Yếu tố Trung Quốc 33,8% tổng số loài của hệ thực vật Yếu tố Xích Kim – Hymalaya 18,5%

Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác 15,0%

Yếu tố đặc hữu 11,9%

Yếu tố nhập nội và phân bố rộng 20,8%

Pócs Tamás (1965) đã phân tích và sắp xếp các loài thực vật ở Bắc Việt Nam thành 3 nhóm các yếu tố sau:

- Nhân tố bản địa đặc hữu 39,90%

+ Của Đông Dương 7,35%

- Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới: 55,27%

+ Từ Trung Quốc 12,89%

+ Từ Ấn Độ và Hymalaya 9,33%

Trang 11

+ Từ các vùng nhiệt đới khác 7,36%

+ Ôn đới 3,27%

Trong nhân tố khác thì nhân tố nhập nội, trồng trọt chiếm 3,08%

Thái Văn Trừng (1978), căn cứ vào bản thống kê các loài của hệ thực vật Bắc Việt Nam đã cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài đặc hữu Nhưng khi thảo luận tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ Nam Trung Hoa và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khu phân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng tỉ lệ các loài đặc hữu bản địa lên 50%, còn yếu tố di cư chiếm tỉ lệ 39%, các nhân tố khác theo tác giả chỉ chiếm 11% (7% yếu tố nhiệt đới, 3% yếu tố ôn đới và 1% yếu tố toàn thế giới), nhân tố nhập nội vẫn là 3,08%

Căn cứ vào các khung phân loại của Pócs (1965), Ngô Chinh Dật (1993) và

Lê Trần Chấn (1994) và trên cơ sở các công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) đã xây dựng thang phân loại các yếu tố địa lý thực vật cho hệ thực vật Việt Nam và áp dụng cho việc sắp xếp các chi thực vật Việt Nam vào các yếu tố địa lý và năm 2004 đã chỉnh sửa để dễ dàng áp dụng hơn Trong các tài liệu

đó tác giả đã khẳng định lại số chi hiện có và chỉ ra số chi đặc hữu đối với hệ thực vật Việt Nam chỉ xấp xỉ 1% mà thôi

Các yếu tố địa lý của hệ thực vật khu vực nghiên cứu dựa theo cách phân chia của Nguyễn Nghĩa Thìn (1999, 2004) như sau:

1 Yếu tố toàn thế giới: gồm các taxon phân bố khắp nơi trên thế giới

2 Yếu tố liên nhiệt đới: gồm các taxon mà chúng phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Úc,châu Phi và châu Mỹ Một số có thể mở rộng tới vùng ôn đới 2.1 Nhiệt đới châu Á, châu Úc và châu Mỹ

2.2 Nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ

Trang 12

2.3 Yếu tố nhiệt đới châu Á – Mỹ: gồm các taxon mà chúng phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á đến vùng nhiệt đới châu Mỹ, một số có thể mở rộng đến Đông Bắc châu Úc và các đảo Tây Nam Thái Bình Dương

3 Yếu tố cổ nhiệt đới: gồm các taxon mà chúng phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi, châu Úc và các đảo lân cận

3.1 Yếu tố nhiệt đới Á – Úc: gồm các taxon mà chúng phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á tới châu Úc và các đảo lân cận Nó nằm cánh đông của cổ nhiệt đới và mở rộng đến các đảo Ấn Độ nhưng không bao giờ đến lục địa châu Phi 3.2 Yếu tố nhiệt đới Á – Phi: gồm các taxon ở vùng nhiệt đới châu Á và châu Phi và các đảo lân cận Đây là cánh tây của vùng cổ nhiệt đới và có thể mở rộng tới Phi-gi và các đảo Nam Thái Bình Dương nhưng không bao giờ tới châu Úc

4 Yếu tố châu Á nhiệt đới: gồm các taxon mà chúng phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ Ấn Độ, Srilanca, Mianma, Thái Lan, Đông Dương và Tây Nam Trung Quốc (lục địa châu Á), Indonesia, Malaysia, Philippin đến Niu Niu Ghine và

mở rộng tới Phi-gi và các đảo Nam Thái Bình Dương (vùng Malaysia) nhưng không bao giờ tới châu Úc Kiểu này được tách thành các kiểu phụ sau:

4.1 Yếu tố lục địa Đông Dương – Malaysia: gồm các taxon mà chúng phân

bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ lục địa Đông Nam Á đến Malaysia, Indonesia, Philippin, Niu Ghine và mở rộng tới Phi-ghi và các đảo Nam Thái Bình Dương nhưng không bao giờ tới châu Úc ở phía Nam và Ấn Độ ở phía Tây

4.2 Lục địa Đông Dương - Ấn Độ hay lục địa châu Á nhiệt đới: gồm các taxon mà chúng phân bố ở vùng châu Á từ Ấn Độ, Srilanca, Mianma, Thái Lan, Đông Dương và Tây Nam và Nam Trung Quốc không tới vùng Malaysia

4.3 Yếu tố lục địa Đông Dương – Hymalaya = lục địa Đông Nam Á (trừ Malaysia và Ấn Độ): gồm các taxon mà chúng phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ chân Hymalaya, Mianma, Thái Lan, Đông Dương và Tây Nam - Trung Quốc một

số chúng có thể mở rộng đến bán đảo Malaysia ở phía Nam Đây là nhóm thực vật

Trang 13

4.4 Đông Dương – Nam Trung Quốc: gồm các taxon mà chúng phân bố ở Đông Dương và Nam Trung Quốc đặc biệt xung quanh biên giới Trung Quốc (chỉ

có ở Nam Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Đài Loan, Hải Nam) và Đông Dương

4.5 Đặc hữa Đông Dương: các taxon phân bố giới hạn trong phạm vi 3 nước Đông Dương và đôi khi có thể gặp ở Thái Lan

5 Yếu tố ôn đới: gồm các taxon mà chúng phân bố trong vùng ôn đới châu

Á, châu Âu và châu Mỹ và có thể mở rộng đến vùng nhiệt đới và thậm chí tới vùng

ôn đới Nam bán cầu

5.1 Ôn đới Đông Á – Bắc Mỹ: gồm các taxon mà chúng phân bố ở vùng

ôn đới châu Á và Bắc Mỹ có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới

5.2 Ôn đới cổ thế giới: gồm các taxon mà chúng phân bố ở vùng ôn đới châu Âu và có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới châu Phi và châu Úc

5.3 Ôn đới Địa Trung Hải - châu Âu - châu Á: gồm các taxon mà chúng phân bố trong vùng ôn đới quanh Địa Trung Hải châu Âu và châu Á

5.4 Đông Á: gồm các taxon mà chúng phân bố trong vùng ôn đới từ Hymalaya đến Đông Trung Quốc tới Triều Tiên hay Nhật Bản và có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới

6 Đặc hữu Việt Nam: gồm các taxon mà chúng phân bố trong giới hạn của Việt Nam

6.1 Gần đặc hữu Việt Nam: gồm các taxon mà chúng phân bố chủ yếu trong giới hạn của Việt Nam và có thể tìm thấy ở một vài điểm của các nước lân cận dọc theo biên giới

6.2 Đặc hữu Nam Việt Nam

7 Yếu tố cây trồng

Trang 14

2.3 NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THỰC VẬT Ở VQG PHÚ QUỐC

VQG Phú Quốc được thành lập theo Quyết định số 91/2001/QĐ-TTg ngày 8 tháng 6 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển hạng Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc đảo Phú Quốc thành VQG Phú Quốc

Theo Phạm Hoàng Hộ (1985), Phú Quốc đã được khảo sát từ rất sớm bởi nhà các nhà thực vật học người Pháp Tiêu biểu như Pierre (1879 – 1907) đã mô tả hơn

400 loài đại mộc rừng trong bộ sách kinh điển “Flore forestière de Cochinchine”; Geoffray cũng đã khảo sát đảo này từ năm 1904 đến 1905 và kết quả nghiên cứu được công bố trong bộ “Flore Générale de I’Indochine” xuất bản từ năm 1907 đến năm 1944 Về sau còn có nhiều nhà thực vật học của các nước như Pháp, Nhật đến nghiên cứu về Thực vật thượng đẳng và cả Rong biển Phạm Hoàng Hộ cũng đã có nhiều cuộc khảo sát ở đảo này Năm 1960, ông đã khảo cứu Rong biển của vùng này, kết quả đã được công bố trong luận án (1961) và trong công trình Rong biển Việt Nam (1970) Năm 1969, ông đã nghiên cứu Thực vật thượng đẳng của đảo Gần đây nhất là năm 1983, nhóm nghiên cứu của ông đã tiến hành 2 đợt khảo sát ở đảo này Kết quả cho thấy có 929 loài bao gồm Nấm và Thực vật thượng đẳng, 108 loài Rong biển và 70 loài Rong nước ngọt và lợ; trong đó có nhiều loài mới ghi nhận cho Việt Nam và cho khoa học Kết quả này đã được công bố trong “Thực vật

ở đảo Phú Quốc” xuất bản năm 1985 Gần đây nhất là năm 2005, Phân Viện Điều tra Qui hoạch rừng II đã tiến hành điều tra sơ bộ thành phần loài thực vật của VQG Phú Quốc, dựa trên kết quả nghiên cứu được và tổng hợp các kết quả nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ (1985) đã lập bảng danh lục các loài thực vật bậc cao có mạch gồm 1164 loài, nhưng không có đầy đủ bộ mẫu cũng như hình ảnh để so sánh, đối chiếu Hiện nay, việc nghiên cứu về thực vật nhằm kiểm kê thành phần và số lượng loài phục vụ cho việc bảo tồn ở VQG Phú Quốc chủ yếu do các cán bộ, nhân viên của Vườn thực hiện nhưng qui mô còn nhỏ, chưa đánh giá đầy đủ giá trị đa dạng

sinh học của Vườn Vì vậy, với đề tài "Nghiên cứu tính đa dạng thực vật của núi

Trang 15

phần hoàn chỉnh hơn bảng danh lục thực vật VQG Phú Quốc nhằm phục vụ cho công tác điều tra, qui hoạch và bảo tồn đa dạng sinh học của VQG

2.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA VQG PHÚ QUỐC

2.4.2 Địa lý - Địa hình

VQG Phú Quốc có 2 dạng địa hình chính là địa hình dạng đồi và địa hình dạng núi

Địa hình đồi: Trên 1/3 diện tích của VQG Phú Quốc thuộc dạng đồi thấp và

đồi trung bình nằm ở phía Bắc và phía Tây Bắc Độ cao trung bình của khu vực này dưới 50m so với mặt nước biển, bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng, rải rác có các đồi dạng bát úp nhô lên, độ cao dưới 200m Những khu vực ven các rạch thì có địa hình trũng nên thường ngập nước từ 2 – 3 tháng vào mùa mưa, nhưng lại cạn kiệt vào mùa khô

Địa hình núi: VQG Phú Quốc có gần 2/3 diện tích tự nhiên thuộc dạng địa

hình núi Các núi của VQG Phú Quốc thuộc dạng núi thấp và núi trung bình, chiều cao trung bình của các núi này từ 300 m - 500 m so với mặt nước biển Hệ thống núi của VQG Phú Quốc gồm dãy núi chính là:

Dãy núi Hàm Ninh: là dãy núi lớn nhất của VQG, dài khoảng 30 km, chế ngự bờ phía Đông của vườn với đỉnh núi Chúa cao 565m là núi cao nhất trong phạm vi VQG, núi Vồ Quặp (478 m) và núi Đá Bạc (448 m) Dãy núi này có độ cao nghiêng từ phía Đông sang phía Tây và thấp dần từ phía Bắc xuống phía Nam Đi

Trang 16

theo chiều từ Tây sang Đông độ cao tăng dần và các đỉnh núi lệch hẳn về hướng Đông, toàn bộ sườn phía Bắc và phía Đông của núi phần sườn trên là vách đá dựng đứng, độ dốc lên đến trên 450, tạo thành vách che từ Đông sang Tây

Núi Chảo nằm ở phía Bắc của VQG có đỉnh cao nhất là 382m, vách núi khá dốc

Dãy núi Hàm Rồng chạy từ Rạch Tràm xuống phía Nam dài trên 10 km, đỉnh cao nhất của núi là đỉnh Hàm Rồng cao 366 m với địa hình hiểm trở, có nhiều vách núi dựng đứng

Nhìn chung địa hình vùng núi của VQG Phú Quốc được chia cắt thành các dạng địa hình khá đa dạng, các bậc địa hình được thể hiện khá rõ rệt theo chiều tăng dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc; vùng trung tâm của vườn có các thuỷ vực của hệ thống sông rạch ở huyện Phú Quốc như lưu vực của Rạch Tràm, rạch Cửa Cạn, lưu vực của rạch Dương Đông

2.4.3 Địa chất - thổ nhưỡng

Theo tài liệu địa chất của Viện Địa lý học Việt Nam thì đảo Phú Quốc có nền địa chất sa thạch là chủ yếu, nền sa thạch này có dạng mặt bàn nghiêng về phía Nam, có chiều dày vào khoảng 600 m, tiếp nối với sa thạch của dãy núi Tượng ở Campuchia Loại đá này khi phong hoá tạo ra loại đất Feralit có thành phần cơ giới chủ yếu là cát nên nghèo chất dinh dưỡng, khả năng giữ nước rất kém và thường bị trực di mạnh, hình thành 3 loại đất Feralit như sau:

Đất Feralit vàng xám

Có diện tích lớn nhất ở VQG Phú Quốc, phân bố trên các triền núi sa thạch, tập trung nhiều ở khu vực trung tâm của VQG, phát triển trên nhiều cấp độ dốc khác nhau, thường từ 5 - 200 Loại đất này có thành phần cơ giới nhẹ (chủ yếu là cát pha), nghèo chất dinh dưỡng

Trang 17

Đất Feralit vàng đỏ

Có diện tích lớn thứ hai ở VQG Phú Quốc, thường phát triển trên các địa hình gợn sóng có cấp độ dốc từ 0 - 80 Loại đất này có tầng đất tương đối dày, độ phì lớn hơn loại đất Feralit vàng xám

Đất Feralit xói mòn trơ xỏi đá

Có diện tích lớn thứ ba ở VQG Phú Quốc, tập trung nhiều trên các sườn núi

có cấp độ dốc lớn, thường trên 200

Ngoài ra trong phạm vi VQG Phú Quốc còn có các loại đất Sialit feralit xám phân bố rải rác trong vùng, trên các độ dốc < 150, có độ phì thấp và đất phù sa Gley, đất cát, đất sét mặn ven biển, nhưng có diện tích nhỏ và phân tán

2.4.4 Khí hậu - thuỷ văn

Đảo Phú Quốc nằm trong vùng biển phía Tây thuộc vịnh Thái Lan một trong những vùng có lượng mưa cao nhất và có vị trí gần xích đạo nên thuộc vùng khí hậu nóng, rất ẩm Một năm có hai mùa mưa và khô, với mùa mưa kéo dài và mùa khô ngắn, từ 1 - 2 tháng khô trong năm Các nhân tố khí hậu như sau:

* Chế độ nhiệt

- Nhiệt độ bình quân năm: 27,3°C

- Nhiệt độ bình quân năm cao nhất: 32,1°C

- Nhiệt độ bình quân năm thấp nhất: 21,8°C

* Lượng mưa

- Lượng mưa bình quân năm: 3.038 mm

- Lượng mưa bình quân năm cao nhất: 3.149 mm

- Lượng mưa bình quân năm thấp nhất: 2.241 mm

- Số ngày mưa trong năm trung bình: 174 ngày

Lượng mưa hàng năm thường tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 Các tháng 7,

8, 9 có số ngày mưa lên tới 23 - 24 ngày/ tháng và lượng mưa đạt trên 450 mm

Trang 18

Trong 3 tháng của mùa khô (tháng 1, 2 và 3) chỉ có 2 tháng khô (tháng 1 và 2) có lượng mưa dưới hai lần nhiệt độ (P ≤ 2t) và một tháng hạn (Pa < t)

* Sông suối

Mật độ sông suối của huyện Phú Quốc là 0,42 km sông suối/ km2, đây thuộc nơi có mật độ sông suối cao nhất trong các đảo của nước ta Ở VQG Phú Quốc có hai suối lớn có diện tích lưu vực 10 km2 trở lên Tổng diện tích lưu vực các suối là

252 km2 (chiếm 25% tổng diện tích đảo) Các suối lớn của huyện đảo chảy qua VQG như:

- Rạch Cửa Cạn bắt nguồn từ núi Chúa, chiều dài suối chính 28,75 km Tổng chiều dài các nhánh suối 69 km, diện tích lưu vực của cả rạch là 147 km2

- Rạch Dương Đông bắt nguồn từ núi Đá Bạc, chiều dài suối chính 18,5 km Tổng chiều dài các nhánh suối 63 km, diện tích lưu vực của cả rạch là 105 km2 Ngoài ra còn có các suối rạch nhỏ khác như Rạch Tràm, Rạch Vũng Bầu, Rạch Cá…

Trang 19

Huyện đảo Phú Quốc có diện tích không lớn, do vậy các suối ngắn, nhỏ và

do địa hình của VQG Phú Quốc nghiêng từ đông sang tây nên hệ thống phân thuỷ cũng đổ từ hướng Đông sang hướng Tây và các suối lớn của huyện Phú Quốc chảy

từ hướng Đông sang hướng Tây

* Nước ngầm

Nguồn nước ngọt của đảo Phú Quốc được tích luỹ từ nước mưa, nước mưa cung cấp nước trực tiếp trong các mùa mưa và được tích luỹ dưới dạng nước ngầm, với độ che phủ của thảm thực vật rừng khá cao và nằm trong vùng có lượng mưa lớn (trên 3.000 mm/ năm) nên nguồn nước mặt (gồm nước mưa và nước ngầm) hiện tại của đảo Phú Quốc khá dồi dào

Nguồn nước ngầm của đảo Phú Quốc thuộc dạng tầng nông có đều khắp trong khu vực VQG, tuy nhiên ở phía Nam của VQG tầng nước ngầm nông hơn và trữ lượng phong phú hơn khu vực phiá Bắc đảo nơi địa hình chủ yếu là núi đá cao

Chất lượng nước mặt ở đảo Phú Quốc là loại nước mềm, theo Viện Vệ sinh Dịch tễ xác định, đây là loại nước sạch có thể dùng cho ăn uống được

* Chế độ thuỷ triều

VQG Phú Quốc được bao bọc ở 3 phía Bắc, Đông, Tây là biển với chiều dài

bờ biển khoảng 60 km, vùng bờ biển chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều

2.4.5 Nhân tố con người

Nhân tố con người chủ yếu là dân cư địa phương Dân cư địa phương định cư tập trung ở các vùng cửa rạch ven biển như: Bãi Thơm, Rạch Tràm, Gành Dầu, Cửa Cạn, Hàm Ninh, sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt hải sản và trồng tiêu Sự tác động của con người vào rừng trong những năm chưa thành lập VQG Phú Quốc gồm: Chặt cây lấy đất trồng tiêu; chặt cây gỗ làm nọc tiêu và xây dựng, đóng tàu thuyền, thùng nước mắm và than củi để sấy hải sản

2.4.6 Đặc điểm của khu vực nghiên cứu

Về vị trí địa lý: Núi Hàm Rồng nằm trên địa phận của xã Gành Dầu và xã Bãi

Thơm, trải dài theo hướng Bắc Nam dài trên 10 km, cao 366 m, thấp dần từ Bắc

Trang 20

xuống Nam và từ Đông sang Tây Phần phía Bắc nhô ra biển, có tên mũi “Hàm Rồng”, phía Đông giáp sông Rạch Tràm, phía Tây giáp Ấp Rạch Vẹm xã Gành Dầu, phía Nam giáp với núi Xóm Mới Do nằm gần khu vực dân cư nên tài nguyên rừng cũng chịu sự tàn phá nặng nề từ người dân nơi đây, một phần vì khai thác tạo cảnh quan du lịch, phục vụ sinh hoạt hằng ngày; một phần vì sự khai thác trái phép các loài gỗ quí

Về thảm thực vật: Với vị trí địa lý thuận lợi, núi Hàm Rồng có sự hiện diện

của nhiều dạng sinh cảnh khác nhau như sinh cảnh rừng thứ sinh, sinh cảnh rừng Tràm, sinh cảnh rừng Nhum, sinh cảnh rừng ngập mặn, sinh cảnh rừng thưa cây họ Dầu, sinh cảnh rừng trên núi đá (ở đai cao) Hệ thực vật trên núi Hàm Rồng rất đa

dạng và phong phú, gồm các loài cây gỗ lớn tiêu biểu như Tràm (Melaleuca cajuputi), Vên vên (Anisoptera costata), Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeryi), Dầu mít (Dipterocarpus costatus), Còng (Calophyllum), Bứa (Garcinia),…; các loài phong lan quý như Vân hài (Paphiopedilum), Ái Lan (Malaxis), Âm Lan Núi (Aphyllorchis montana), các loài dược thảo quý như Hà thủ ô (Streptocaulon), Bí

kỳ nam (Hydnophytum formicarum),… và một số loài sống ký sinh khác

Về khí hậu: Có 2 mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và

mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 cho đến hết tháng 11 năm sau Mùa khô chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc có cường độ tương đối mạnh, tốc độ gió trung bình 4 m/s Khi gió Đông Bắc mạnh, tốc độ đạt từ 20 đến 24 m/s Mùa khô có độ ẩm trung bình 78% Nhiệt độ cao nhất 35°C vào tháng 4 và tháng 5 Mùa mưa mây nhiều, độ ẩm cao, từ 85% - 90% Nhiệt độ trung bình năm là 27,2°C Lượng mưa trung bình năm

ở khu vực Bắc đảo (gồm cả dãy núi Hàm Rồng) rất cao, trên 3.000 mm/năm

Về dân số: Mật độ dân số ở xã Bãi Thơm và xã Gành Dầu rất thấp, khoảng

58 người/km2 Phần lớn người dân ở đây sống bằng nghề đánh bắt thủy sản và làm nương rẫy, nên hầu hết là sinh sống ở các vùng ven biển, ven rạch và dưới chân núi Với điều kiện sinh sống như vậy nên sự ảnh hưởng của người dân đến mức độ đa dạng sinh học của khu vực nghiên cứu là rất lớn

Trang 21

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

Phương tiện nghiên cứu ngoài thực địa:

+ Máy định vị vệ tinh GPS (Etrex Legend HCx - Garmin)

+ Máy chụp ảnh kỹ thuật số (Canon Powershot A700)

Phương tiện nghiên cứu trong phòng thí nghiệm:

+ Các tài liệu về phân loại thực vật

Trang 22

để nghiên cứu mức độ đa dạng hệ thực vật cần nắm hiện trạng, cấu trúc hệ thống thành phần thực vật của vùng cần nghiên cứu; tìm hiểu mối quan hệ của thực vật nghiên cứu với các hệ thực vật lân cận, qua đó đánh giá giá trị tài nguyên khu vực nghiên cứu để có biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

3.2.2.1 Công tác ngoại nghiệp

Chọn tuyến điều tra và lập ô tiêu chuẩn

- Xác định tuyến thu mẫu và lập ô tiêu chuẩn:

Trước tiên chúng tôi nhờ các nhân viên kiểm lâm và nhân viên phòng kỹ thuật của VQG Phú Quốc hướng dẫn quan sát thực tế các sinh cảnh của Núi Hàm Rồng Dựa vào những thông tin từ các nhân viên kiểm lâm, các chuyên gia nghiên cứu về đa dạng thực vật, các tài liệu của VQG và những quan sát từ thực tế chúng tôi đã tiến hành khảo sát các khu vực cần nghiên cứu theo hai hướng: hướng Đông tiếp giáp với Rạch Tràm thuộc ấp Rạch Tràm xã Bãi Thơm và hướng Tây giáp với biển thuộc ấp Rạch Vẹm xã Gành Dầu, lấy ranh giới độ cao 150 m làm mức giới hạn xuất phát và hướng về đỉnh núi Hàm Rồng, trong đó có 3 sinh cảnh:

(1) sinh cảnh rừng thứ sinh

(2) sinh cảnh rừng cây họ Dầu

(3) sinh cảnh rừng trên núi đá

Đó là cơ sở để chúng tôi chọn các tuyến thu mẫu và đặt các ô tiêu chuẩn ở cả 3 sinh cảnh này, kích thước mỗi ô tiêu chuẩn là 2000 m2 (40m x 50m) (Bảng 3.1, Hình 3.1) Việc đặt ô tiêu chuẩn, mô tả ô tiêu chuẩn và vẽ lát cắt đứng chúng tôi dựa theo cuốn “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)

- Mô tả ô tiêu chuẩn:

Sau khi lập ô tiêu chuẩn, chúng tôi tiến hành mô tả, đo đếm, thống kê các thông số trong ô như: vị trí của ô (tọa độ), diện tích, độ dốc, độ cao so với mặt nước

Trang 23

Bảng 3.1 Sinh cảnh, số lượng, độ cao và tọa độ các ô tiêu chuẩn trong khu vực nghiên cứu

TT Sinh cảnh Ô số Độ cao Tọa độ Ghi chú

Trang 24

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí các ô tiêu chuẩn trong khu vực nghiên cứu ở núi Hàm Rồng

+ Vẽ lát cắt đứng:

Chọn một diện tích trong ô tiêu chuẩn với chiều dài 40 - 50m và chiều rộng 10m để vẽ lát cắt đứng Để vẽ lát cắt đứng chúng tôi tiến hành đo, đếm các cây gỗ trong ô với các tiêu chí như đường kính ngang ngực (D1,3) độ cao vút ngọn (H) độ cao dưới cành (h), tán che bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc Sau đó căn cứ trên số liệu đã thu được, dùng giấy kẻ ly để xây dựng sơ đồ lát cắt đứng (Hình 2)

Trang 25

Hình 3.2 Các chỉ số đo để vẽ lát cắt

(H: độ cao vút ngọn; h: độ cao dưới cành; D 1,3 : đường kính ngang ngực;

Đ: hướng Đông; T: hướng Tây; N: hướng Nam; B: hướng Bắc)

Thu mẫu, xử lý mẫu, sấy khô và bảo quản mẫu

Việc thu mẫu, xử lý, sấy khô và bảo quản mẫu dựa theo cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997)

+ Phương pháp thu mẫu:

Dùng túi ni lông đựng mẫu, giấy báo, dây buộc, nhãn, bút chì 2B để ghi nhãn, sổ ghi chép, kéo cắt cành, cồn

Mẫu thu phải đủ cành, lá, hoa, quả (nếu có) Mỗi loài cây thu 3 – 5 mẫu, kích thước mẫu khoảng 50 – 70 cm Các mẫu thu trên cùng một cây thì ghi cùng một số hiệu

Khi thu mẫu, ghi chép đầy đủ các đặc điểm của loài cây vào sổ ngoại nghiệp, nhất là các đặc điểm dễ biến đổi khi mẫu sấy khô như màu sắc, mùi vị, hoặc

Trang 26

không tồn tại trên mẫu như kích thước, có hay không có nhựa mủ, màu sắc của nhựa,

Thu mẫu và ghi chép xong cho vào túi ni lông cỡ to (60 x 100cm) mang về nhà mới làm mẫu

+ Cách xử lý và sấy khô:

Sau mỗi ngày lấy mẫu chúng tôi đeo nhãn cho mỗi mẫu Nhãn ghi số hiệu mẫu còn các thông tin khác ghi vào sổ riêng các nội dung sau:

Địa điểm và nơi lấy mẫu (tỉnh, huyện, xã, )

Ngày lấy mẫu

Ghi tóm tắt các đặc điểm quan trọng: dạng sống, độ cao, đường kính, các màu sắc và hình dạng của vỏ cây, lá, hoa, quả và các đặc điểm khác như có lông, có gai hay không,

Người lấy mẫu

Sau khi đã đeo nhãn, mỗi mẫu đặt gọn trong một tờ báo gập tư, vuốt ngay ngắn trên mỗi mẫu có lá sấp, lá ngửa để có thể quan sát dễ dàng cả hai mặt lá mà không phải lật mẫu Đối với hoa, dùng các mảnh báo nhỏ để ngăn cách nó với các hoa hay lá bên cạnh phòng khi sấy dể bị dính vào các bộ phận khác của cây Sau đó xếp nhiều mẫu thành chồng, cứ 5 - 6 mẫu chèn thêm một tấm nhôm lượn sóng Khoảng 15 - 20 mẫu dùng hai cặp ép cây bằng kim loại ốp ngoài rồi ép chặt mẫu và

bó lại Bó mẫu được phơi nắng hoặc sấy qua bằng củi, hàng ngày thay báo mới để mẫu mau khô và không bị ẩm

Mẫu mang về phòng thí nghiệm được cho vào tủ sấy lại Trước khi sấy phải thay giấy báo mới và bó chặt trong cặp ép trước khi cho vào tủ sấy Khi sấy phải để mẫu dựng đứng để nước bốc hơi dễ dàng và mẫu mau khô Thời gian sấy từ 3 – 7 ngày kể từ khi bỏ mẫu vào tủ sấy, nhiệt độ sấy là 55 – 60o

Các tiêu bản đã được sấy khô và ép phẳng, sau đó trình bày trên bìa giấy cứng Crôki (Croquis) kích thước 28cm x 42cm

Trang 27

3.2.2.2 Công tác nội nghiệp

Phân tích mẫu và xác định tên khoa học

Phương pháp phân tích mẫu và xác định tên khoa học dựa theo cuốn “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) Quá trình tiến hành như sau:

Phân chia mẫu theo họ và chi: Trước khi phân tích mẫu cây phải biết mẫu

cây thuộc họ nào Vì vậy trước hết chúng tôi sắp xếp chúng theo từng họ Để làm nhanh chúng tôi nhờ chuyên gia có kinh nghiệm giúp đỡ để giảm nhẹ công việc và thời gian, đồng thời chúng tôi dựa theo bản chỉ dẫn nhận dạng nhanh các họ trong quyển “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) và cuốn “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật Hột kín ở Việt Nam” của Nguyễn Tiến Bân (1997) Từng họ lại nhờ các chyên gia sắp xếp chúng theo từng chi trước khi phân tích và tiến hành xác định loài Những mẫu nào chưa xác định họ

và chi được thì dùng các khóa xác định họ và chi để xác định

Khi phân tích cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:

Phân tích từ tổng thể bên ngoài đến các chi tiết bên trong

Phân tích từ đặc điểm lớn đến đặc điểm nhỏ

Phân tích đi đôi với ghi chép và vẽ hình

Tra khoá xác định lưỡng phân để xác định tên loài

Loài nào chưa xác định được tên khoa học, thì xếp vào riêng

Xác định tên khoa học của loài:

Các tài liệu chính dùng trong quá trình xác định tên khoa học gồm:

“Cây cỏ Việt Nam” gồm 3 tập của Phạm Hoàng Hộ (1999 – 2000)

“Danh lục các loài thực vật Việt Nam” tập 2 và 3 do Nguyễn Tiến Bân chủ biên (2001 – 2005)

“Cây gỗ rừng Việt Nam” 7 tập của Bộ Lâm nghiệp (1971-1988)

Ghi đầy đủ tên khoa học của cây cùng tên tác giả và tên họ của mẫu cây đó

Trang 28

Đối chiếu mẫu (so mẫu): đối chiếu các mẫu thu được với các mẫu lưu trữ ở

Phòng tiêu bản thực vật của Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học tự nhiên – Đại học quốc gia Hà Nội

Kiểm tra tên khoa học: Khi đã có đầy đủ tên loài, tiến hành kiểm tra lại các

tên khoa học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót Điều chỉnh khối lượng họ và chi theo hệ thống của Brummitt (1992), điều chỉnh tên loài theo

“Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1999 – 2000)

Xây dựng bảng danh lục thực vật

Sau khi xác định được tên loài, chúng tôi tiến hành sắp xếp các loài, các chi, các họ vào từng ngành thực vật theo mức độ tiến hóa từ thấp đến cao dựa vào hệ thống của Brummitt (1992) Căn cứ theo Brummitt và Powell (1992) để chỉnh lại tên tác giả cho thống nhất Đây là những cuốn sách được sử dụng phổ biến đã được các nhà thực vật Việt Nam áp dụng nhằm mục đích để đồng nhất hoá về độ lớn các bậc taxon và các tên gọi, giúp cho việc so sánh một cách chính xác Sau đó lập bảng danh lục thực vật núi Hàm Rồng ở độ cao trên 150 m Bảng danh lục được xây dựng gồm các cột như sau:

Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật về các bậc phân loại

Khi đã có danh sách từ bảng danh lục chúng tôi tiến hành đánh giá đa dạng thực vật về phân loại ở các cấp độ như sau:

Đa dạng các taxon trong ngành: Thống kê số loài, chi và họ theo từng ngành

Thống kê tính tỉ lệ phần trăm của các bậc taxon trong ngành so với toàn vùng nghiên cứu Sau đó lập bảng và vẽ biểu đồ các nhóm đó

Trang 29

Đa dạng loài của các họ: Thống kê số loài, chi theo từng họ thực vật Sau đó

lập bảng các nhóm đó Xác định 10 họ giàu loài nhất, tính tỉ lệ phần trăm các họ giàu loài so với toàn bộ số loài của cả vùng nghiên cứu

Đa dạng loài của các chi: Thống kê số loài theo từng chi sau đó lập bảng các

nhóm đó Chọn 10 chi có nhiều loài nhất, tính tỉ lệ phần trăm các chi giàu loài so với toàn bộ số loài của vùng nghiên cứu

Phương pháp đánh giá đa dạng về các yếu tố địa lý

Việc thiết lập phổ các yếu tố địa lý, chúng tôi áp dụng sự phân chia theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 2004) đã được trình bày ở Chương II

Sau khi đã phân chia các loài thuộc vào từng yếu tố địa lý thực vật, chúng tôi tiến hành lập phổ các yếu tố địa lý để dễ dàng so sánh và xem xét cấu trúc các yếu tố địa lý thực vật giữa các vùng với nhau

Phương pháp đánh giá đa dạng về giá trị tài nguyên và mức độ bị đe dọa

Căn cứ trên các tài liệu đã công bố như “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (Võ Văn Chi, 1997); “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (Đỗ Tất Lợi, 2003);

“1900 loài cây có ích ở Việt Nam” (Trần Đình Lý, 1993) và “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (Nguyễn Tiến Bân chủ biên, 2001 – 2005) chúng tôi thống kê tất cả các loài cây có ích và tính tỉ lệ phần trăm so với số loài thực vật của cả vùng nghiên cứu

Thống kê các loài cây quí hiếm và các loài cây có nguy cơ bị tuyệt chủng theo Sách đỏ Việt Nam (2007) để có chính sách quản lý và bảo tồn

Trang 30

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 KẾT QUẢ VỀ XÂY DỰNG DANH LỤC THỰC VẬT

Từ kết quả khảo sát ở 8 ô tiêu chuẩn trong 3 sinh cảnh của núi Hàm Rồng ở

độ cao trên 150 m thuộc VQG Phú Quốc, chúng tôi đã xây dựng được bảng danh lục các loài thực vật bậc cao có mạch gồm 249 loài thuộc 159 chi của 71 họ trong 4 ngành thực vật (Bảng 4.1) Bổ sung vào danh lục thực vật của VQG Phú Quốc 34 loài, chủ yếu là các loài thuộc họ Lan (Orchidaceae) và các loài thuộc ngành Dương

xỉ (Polypodiophyta) (Bảng 4.2, Phụ lục 4)

Bảng 4.1 Danh lục thực vật núi Hàm Rồng của VQG Phú Quốc ở độ cao trên 150 m

Các ký hiệu viết tắt trong danh lục:

DS: Dạng sống

G: thân gỗ (gỗ lớn, gỗ trung); B: thân bụi, gỗ nhỏ; C: thân cỏ đứng, bò hay ngầm; L: thân

leo hoặc bò; P: cây phụ sinh; K: dạng khác (dạng cau dừa, thân cột)

ĐL: Yếu tố địa lý

CD: Công dụng

T: cây làm thuốc; G: cây lấy gỗ; C: cây làm cảnh; A: cây ăn được (lá, thân, củ, hoa, quả,

hạt dùng làm lương thực, thực phẩm, gia vị); As: cây làm thức ăn gia súc; S: cây lấy sợi;

N: cây cho nhựa, tinh dầu, tanin, thuốc nhuộm; X: cây làm vật liệu xây dựng hay làm đồ

thủ công mỹ nghệ (Song, Mây,…); D: cây độc

MS: Mã số mẫu

Trang 31

TT Tên Khoa học Tên Việt Nam DS ĐL CD MS

Trang 32

11 Podocarpaceae Họ Kim giao

14 Ancistrocladaceae Họ Trung quân

15 Annonaceae Họ Mãng cầu

30 Sageraea elliptica (A DC.) Hook &

Thoms

16 Apocynaceae Họ Trước đào

17 Araliaceae Họ Đinh Lăng

18 Celastraceae Họ Chân danh

19 Connaraceae Họ Lốp bốp

Dây lửa lá trinh nữ

Trang 33

(Kiền kiền Phú Quốc)

23 Ebenaceae Họ Hồng

25 Euphorbiaceae Họ Thầu dầu

Ngày đăng: 20/04/2018, 08:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w