MỞ ĐẦUMục đích là sinh viên chuyên ngành Quản lý Văn hóa, trong quá trình học tôi đã được trang bị những kiến thức chuyên sâu và hiểu rõ về từng vấn đề của các dân tộc thiểu số như: Kinh
Trang 1MỞ ĐẦU
Mục đích là sinh viên chuyên ngành Quản lý Văn hóa, trong quá trình học tôi đã được trang bị những kiến thức chuyên sâu và hiểu rõ về từng vấn đề của các dân tộc thiểu số như: Kinh tế, trang phục, nhà cửa, ẩm thực, hôn nhân, ma chay, tínngưỡng, văn nghệ dân gian, lễ hội, thiết chế xã hội Từ đó cho thấy mỗi dân tộc mỗi vùng miền lại có một nét văn hóa đặc trưng riêng giúp tôi hiểu được về đời sống vật chất cũng như văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số và đó cũng nền tảng thức để tôi tìm hiểu sâu hơn về giá trị văn nghệ dân gian của người Thái
Dân tộc Thái là một trong số 54 dân tộc Việt Nam và là dân tộc thiểu số mang nhiều nét văn hóa đặc trưng riêng Người Thái ở Việt Nam có dân số
1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả
63 tỉnh, thành phố Người Thái cư trú tập trung tại các tỉnh: Sơn La [Mương La] (572.441 người, chiếm 53,2% dân số toàn tỉnh và 36,9% tổng số người Thái tại Việt Nam), Nghệ An (295.132 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh và 19,0% tổng
số người Thái tại Việt Nam), Thanh Hóa (225.336 người, chiếm 6,6% dân số toàn tỉnh và 14,5% tổng số người Thái tại Việt Nam), Điện Biên [Mương Thèng ]
(186.270 người, chiếm 38,0% dân số toàn tỉnh và 12,0% tổng số người Thái tại Việt Nam), Lai Châu [ Mương Lay ] (119.805 người, chiếm 32,3% dân số toàn tỉnh
và 7,7% tổng số người Thái tại Việt Nam), Yên Bái [ Mương Lo ] (53.104
người), Hòa Bình (31.386 người), Đắk Lắk (17.135 người), Đắk Nông (10.311 người)
Trong bài tiểu luận của tôi tập trung vào nghiên cứu văn nghệ dân gian của người Thái ở tỉnh Sơn La
Trang 21 Khái quát chung về tỉnh Sơn La và dân tộc Thái
1.1 Khái quát chung về tỉnh Sơn La
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Sơn La là tỉnh miền núi cao nằm ở phía tây bắc Việt Nam trong khoảng 20039' –
22002' vĩ độ Bắc và 103011' – 105002' kinh độ Đông
Phía Bắc giáp hai tỉnh Yên Bái, Lào Cai
Phía Đông giáp Hòa Bình, Phú Thọ
Phía Tây giáp Lai Châu, Điện Biên
Phía Nam giáp Thanh Hóa
Sơn La có 250km đường biên giới với nước bạn Lào
Thị xã Sơn La cách thủ đô Hà Nội 320 km về phía tây bắc
Diện tích tự nhiên 14.055 km2, chiếm 4,27% diện tích cả nước
1.1.2.2 Văn hóa , xã hội
Nói đến Sơn La là nói đến một vùng văn hoá đa dạng, phong phú, giàu hương sắc
và đậm đà bản sắc dân tộc bởi mảnh đất này là nơi hội tụ sinh sống từ lâu đời của
12 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có một kho tàng di sản văn hoá mang sắc thái riêng và hết sức quý giá, hiện nay vẫn được giữ gìn, phát huy
Với hàng ngàn cuốn sách chữ Thái cổ, Dao cổ chứa đựng những bản trường ca, sửthi, lịch sử xây dựng bản Mường, những thiên tình sử của người Thái Với nhữngdân vũ như: xòe (dân tộc Thái); múa chuông (dân tộc Dao), múa khèn, ô (dân tộcH’Mông), lắc hông (dân tộc Khơ mú) Các làn điệu dân ca như: khắp (dân tộcThái), đang (dân tộc Mường); dân ca H’Mông với các loại nhạc cụ dân tộc: trống,chiêng, các loại sáo, khèn làm say đắm lòng người Với những lễ hội đặc sắc của
Trang 3các dân tộc làm cho văn hóa Sơn La thêm đặc sắc: lễ hội hết chá (dân tộc Thái), lễhội mợi (dân tộc Mường), lễ hội Xé pang ả (dân tộc Kháng), lễ hội Pang a (dân tộc
La Ha)…
1.2 Khái quát về dân tộc Thái ở Sơn La
1.2.1 Dân số , nguồn gốc lịch sử , phân bố dân cư
số người Thái tại Việt Nam), Thanh Hóa (225.336 người, chiếm 6,6% dân số toàn tỉnh và 14,5% tổng số người Thái tại Việt Nam), Điện Biên [Mương Thèng ]
(186.270 người, chiếm 38,0% dân số toàn tỉnh và 12,0% tổng số người Thái tại Việt Nam), Lai Châu[ Mương Lay ] (119.805 người, chiếm 32,3% dân số toàn tỉnh
và 7,7% tổng số người Thái tại Việt Nam), Yên Bái [ Mương Lo ] (53.104
người), Hòa Bình (31.386 người), Đắk Lắk(17.135 người), Đắk Nông (10.311 người)
1.2.1.2 Nguồn gốc lịch sử
Theo David Wyatt, trong cuốn “Thailand: A short history (Thái quốc: Lịch sử tómlại)”, người Thái xuất xứ từ phía nam Trung Quốc, có cùng nguồn gốc với cácnhóm dân ít người bây giờ như Choang, Tày, Nùng Dưới sức ép của người Hán vàngười Việt ở phía đông và bắc, người Thái dần di cư về phía nam và tây nam.Người Thái di cư đến Việt Nam trong thời gian từ thế kỉ 7 đến thế kỉ 13 Trung tâmcủa họ khi đó là Điện Biên Phủ (Mường Thanh) Từ đây, họ tỏa đi khắp nơi ởĐông Nam Á bây giờ như Lào, Thái Lan, bang Shan ở Miến Điện và một số vùng
ở đông bắc Ấn Độ cũng như nam Vân Nam
Theo sách sử Việt Nam, vào thời nhà Lý, đạo Đà Giang, man Ngưu Hống (tứcngười Thái) đến từ Vân Nam, đã triều cống lần đầu tiên vào năm 1067 Trong thế
kỷ 13, người Ngưu Hống kết hợp với người Ai Lao chống lại nhà Trần và bị đánhbại năm 1280, lãnh tụ Trịnh Giác Mật đầu hàng, xứ Ngưu Hống bị đặt dưới quyềnquản lý trực tiếp của quan quân nhà Trần Năm 1337 lãnh tụ Xa Phần bị giết chếtsau một cuộc xung đột, xứ Ngưu Hống bị sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt và đổi tên
Trang 4thành Mương Lễ, hay Ninh Viễn (Lai Châu ngày nay) và giao cho họ Đèo cai quản.Năm 1431 lãnh tụ Đèo Cát Hãn, người Thái Trắng tại Mương Lễ, nổi lên chốngtriều đình, chiếm hai lộ Qui Hóa (Lào Cai) và Gia Hưng (giữa sông Mã và sôngĐà), tấn công Mương Mỗi (Sơn La), Đèo Mạnh Vương (con của Đèo Cát Hãn) làmtri châu Năm 1466, lãnh thổ của người Thái được tổ chức lại thành vùng (thừatuyên) Hưng Hóa, gồm 3 phủ: An Tây (tức Phục Lễ), Gia Hưng và Qui Hóa, 4huyện và 17 châu.
Những lãnh tụ Thái được gọi là phụ tạo, được phép cai quản một số lãnh địa và trởthành giai cấp quý tộc của vùng đó, như dòng họ Đèo cai quản các châu Lai, ChiêuTấn, Tuy Phụ, Hoàng Nham; dòng họ Cầm các châu Phù Hoa, Mai Sơn, Sơn La,Tuần Giáo, Luân, Ninh Biên; dòng họ Xa cai quản châu Mộc; dòng họ Hà cai quảnchâu Mai, dòng họ Bạc ở châu Thuận; họ Hoàng ở châu Việt…
Năm 1841, trước sự đe dọa của người Xiêm La, triều đình nhà Nguyễn kết hợp bachâu Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu bên bờ tả ngạn sông Mekong thành phủĐiện Biên Năm1880, phó lãnh sự Pháp là Auguste Pavie nhân danh triều đình ViệtNam phong cho Đèo Văn Trị chức tri phủ cha truyền con nối tại Điện Biên; sau khigiúp người Pháp xác định khu vực biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc vàLào, Đèo Văn Trị được cử làm quan của đạo Lai Châu, cai quản một lãnh thổ rộnglớn từ Điện Biên Phủ đến Phong Thổ, còn gọi là xứ Thái Tháng 3, 1948 lãnh thổnày được Pháp tổ chức lại thành Liên bang Thái tự trị, qui tụ tất cả các sắc tộc nóitiếng Thái chống lại Việt Minh
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, để lấy lòng các sắc tộc thiểu số miền Bắc, Chínhphủ Việt Minh thành lập Khu tự trị Thái Mèo ngày 29 tháng 4 năm 1955, Khu tự trịTày Nùng và vùng tự trị Lào Hạ Yên, nhưng tất cả các khu này đều bị giải tánnăm 1975
1.2.2 Khái quát về đặc điểm văn hóa
1.2.2.1 Đặc điểm văn hóa vật chất
- Nhà ở
Nhà sàn của người Thái – Sơn La – Tây Bắc “hướn hạn phủ táy” là một côngtrình kiến trúc tài hoa, hòa đồng với thiên nhiên, trời đất cùng vạn vật, có 2 loại:
Trang 5– Nhà sàn khung cột: bộ khung được gá lắp từ các bộ phận rời, bắt đầu từ việc chôn cột (nhà cột chôn – nghèo) “hươn chim mạy”.
– Nhà sàn vì kèo “vì cột”: Kèo, cột, xà ngang đã được lắp ráp thành các đơn vị “vì kèo” dựng nối các vì bằng các xà dọc (tiến từ hườn khứ sang kẻ khứ (quá giang = khứ) có hai trụ để đỡ đòn tay (pe hản) là con cung Đó là loại nhà “hườn kè khang”(nhà kê hạ)
Nhà sàn Thái bao giờ cũng làm số gian lẻ, 2 đầu hồi – “tụp cống” khum khum như mai Rùa, gắn với truyền thuyết thủa khai thiên lấp địa, thần Rùa “Pua tẩu” Dạy người Thái làm nhà theo hình Rùa đứng
“Khửn song phái/ cái song đay” – mở 2 cửa/ đi 2 cầu thang là “tang chan” và
“tang quản” “Tang chan” ở cuối nhà bên trái dành cho phụ nữ “Chan” là phần nhàsàn được nối dài ra ngoài trời Đây là nơi đàn bà trong nhà ngồi nghỉ ngơi chơi lúc nhàn rỗi, thêu thùa, cầu thang phía này thường 9 bậc (9 vía)
Cầu thang đầu bên phải “tang quản” dùng cho nam giới; 7 bậc (7 vía)
Có 2 bếp lửa: “chik pháy” phía tang quản dành cho người già Bếp chính phía tang chan dành cho nấu nướng, phụ nữ Bếp lửa nhà sàn ở giữa nơi núi rừng âm u được coi như “trái tim bốc lửa” sưởi ấm nuôi dưỡng cả về vật chất, tinh thần cho cả nhà.Gian “quản” có bàn thờ tổ tiên “hỏng hóng” và cột thiêng “sau hẹ” Trên cột thiêng
có treo hình Rùa bằng gỗ 3 bông lúa “sam huống khẩu” và 3 nhánh rau “thì là”
“sam hóm chik” – đó là biểu tượng của tô tem giáo cùng bóng dáng thuyết thiên – địa – nhân
- Trang phục
Phụ nữ Thái Đen có bộ trang phục rất duyên dáng, áo cóm bó sát người, váy đen dài chấm gót, đầu đội khăn piêu Người con gái Thái khi về nhà chồng phải chuẩn bị đủ khăn piêu và chăn bông để biếu gia đình và họ hàng nhà chồng Phụ
nữ có chồng phải vấn tóc cao trên đỉnh đầu gọi là tẳng cẩu Điều này vừa để phân
biệt được người con gái đã có chồng hay chưa, vừa thể hiện sự thủy chung của người phụ nữ đó với chồng
So với trang phục nữ, trang phục nam người Thái đơn giản và ít chứa đựng sắc thái tộc người và cũng biến đổi nhanh hơn Trang phục nam giới gồm: áo, quần, thắt lưng và các loại khăn
Áo nam giới có hai loại, áo cánh ngắn và áo dài Áo ngắn may bằng vải chàm, kiểu
xẻ ngực, tay dài hoặc ngắn, cổ tròn Khuy áo làm bằng đồng hay tết thành nút vải
Áo không có trang trí hoa văn chỉ trong dịp trang trọng người ta mới thấy nam giớiThái mặc tấm áo cánh ngắn mới, lấp ló đôi quả chì (mak may) ở đầu đường xẻ tà hai bên hông áo
Trang 6Mặc dù có những nhóm người Thái khác nhau nhưng nhìn chung trang phục của họphần nào cũng thể hiện ảnh hưởng của nhau Tất cả đều rất tự hào về bản sắc riêng của mình và không ngừng bảo tồn, phát huy, phát triển những giá trị văn hóa
truyền thống tộc người, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam Tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc
- Món ăn
Xôi, cơm lam
Đối với dân tộc Thái, gạo nếp cũng giống như gạo tẻ của người Việt vậy, xôi dẻo cũng giống như cơm trắng ăn hàng ngày Vào ngày tết, xôi nếp là món ăn không thể thiếu trong mâm cơm tân niên Người Thái rất xem trọng cơm gạo, sau mỗi vụ mùa, người dân đều làm lễ mừng lúa mới, những bông lúa đẹp nhất sẽ được lựa lặt treo lên giàn bếp cả năm, cầu mong vụ mùa mới sẽ bội thu như vụ mùa vừa rồi
Để làm được cơm xôi cúng tất niên, người Thái phải lấy loại gạo nếp ngon nhất Gạo nếp ngon sẽ được rửa sạch, ngâm một lần nước rồi đồ lên bằng “viếng” Xôi gạo người Thái thơm, dẻo, ăn ngọt trong miệng Khi đưa lên mâm cúng đầu năm, xôi được đưa vào chiếc “ép” giữ ấm và trông đẹp mắt
Cơm lam được xem là món đặc sản của rất nhiều dân tộc và không còn xa lạ với người Việt, tuy nhiên cơm lam của người Thái Kì Sơn được liệt vào hạng ngon nhất Bởi lẽ, cơm lam của người dân nơi đây được nấu bằng ống tre “pngá” Gạo nếp được cho vào ống tre “pngá” non, nướng đều trên than hồng Khi cơm chín, bóc lớp vỏ ngoài ra, khúc cơm xôi nóng hổi còn được bọc một lớp lụa Trong lúc nướng, lớp lụa này đã bong từ vỏ tre bám vào cơm xôi Ăn khúc cơm có lớp lụa
“pngá” sẽ thấy thơm ngon vô cùng
Nậm pịa
“Nậm pịa” là món ăn có thành phần hết sức đặc biệt, được làm từ nhũ tương trong ruột non của những con vật ăn cỏ Người Thái chế biến nó trở thành một món nướcchấm thịt luộc, nướng hoặc dùng làm nộm Thứ nước này có vị hơi đắng bùi, còn dùng để chấm xôi cũng rất ngon
“Nậm pịa” được dùng trong những ngày trọng đại, thế nhưng thường ngày người Thái vẫn dùng một món nước chấm tương tự nhưng được làm từ ruột cá Ngay khi được bắt dưới sông lên, cá sẽ được làm ngay Phần ruột cá sẽ được băm nhỏ, cho thêm xả, gia vị rồi nấu chín Trong quá trình nấu, thêm vào một bát nước, khuấy
Trang 7đều đến khi đặc lại là có thể dùng được Nó có tên gọi khác là “khi pá”, là một cách gọi vui của người dân nơi đây.
Lạp - nộm thịt sống
Sống ở vùng núi cao, người Thái thường xuyên săn bắn và từng xem đây là nguồn thức ăn chính cho mình Những con thú săn được như hươu, nai, hoẵng sẽ được chế biến thành hàng chục món ngon, đặc biệt nhất là món “lạp”- nộm thịt sống Khi làm “lạp” sống, người ra sẽ chọn những miếng thịt nạc ngon nhất như đùi, mông của con thú Thịt “lạp” sẽ được thái lát mỏng, to rồi cho vào gạo nếp để vuốt hết nhớt và khô ráo Sau đó thái thật nhỏ, khi ăn thì trộn với nước măng chua hoặc
“nặm pìa” Đây là món nộm sống ngon tuyệt dành cho phái mày râu
Tuy nhiên, vẫn có món “lạp” chín dành cho phụ nữ và trẻ em Để làm món “lạp” chín, cùng một món nước nhúng như thế, thịt sống sẽ được thay bằng thịt chín bămnhỏ, rang lên cho thật dậy mùi, đổ vào nộm sẽ thành “lạp” chín “Lạp” dù sống haychín đều rất hấp dẫn người ăn
Lương Chi Mọc
“Mọc” là món ăn khá đơn giản, không cần chế biến công phu nhưng lại xuất hiện thường xuyên nhất trong mâm cỗ ngày tết của người Thái Khi làm mọc, người ta thường dùng gạo tấm hạt thật nhỏ, ngâm với nước cho thật mềm Sau đó băm thêmnhánh xả thơm trộn vào Điều đặc biệt làm nên hương vị thơm ngon của mọc chính
là loại thịt được cho vào cùng Có thể đó là vài thớ thịt lợn, khúc cá tươi,… cũng
có thể thay thế bằng vài con nòng nọc (đối với dân tộc Khơ mú, thịt được dùng là thịt chuột) Mỗi loại thịt được sử dụng trong mọc đều mang một hương vị khác nhau, nhưng ngon nhất vẫn là thịt cá mát - loại cả chỉ có thể được bắt ở dòng sông Nặm Mộ ở Kì Sơn Sau khi cho thớ thịt vào giữa gạo tấm và xả, người dân thêm vào chút gia vị như tiêu rừng, muối sao cho vừa ăn Tất cả đều được gói lại vào trong lá chuối, dùng lạt cột phần đầu lại, đưa hấp cách thủy cho chín Khi mọc chín, tháo bỏ dây lạt, bóc lá chuối ra, hương thơm của xả cùng vị bùi béo của thớ thịt kích thích vị giác vô cùng
Cuộc sống của người Thái ở Kì Sơn đang ngày càng đầy đủ và no ấm hơn Bởi vậy,các món ăn trên đã không còn chỉ xuất hiện trong những dịp lễ Tết mà đã có mặt trong cả những bữa ăn hàng ngày, và trở thành một nét văn hóa ẩm thực đặc sắc màbất cứ du khách nào cũng sẽ muốn thử nếu có dịp đến thăm vùng đất này
- Rượu cần
Rượu cần (lẩu xá – rượu của người Xá “Khơ Mú”) là thứ rượu ủ men (không cất
= lẩu xiêu)
Trang 8* Men lá gồm các thứ quả bơ, mắk cái, củ riềng, lá trầu không, quả ớt…giã nhuyễn với gạo tấm, sau đó nắm thành từng miếng tròn dẹt như bánh rán, đem ủ trong đống rơm, xếp từng lớp đều nhau từ 15 – 20 ngày có mùi men bốc lên đem phơi, để gác bếp khô Khi dùng giã nhỏ rắc vào cơm rượu Mỗi mẻ rượu cần 7 – 9 bánh.
* Cái rượu: Vỏ sắn khô gọt ra ngâm suối 3 ngày đêm cho hết mùi bồ hóng vàđộc tố ở sắn, vớt lên phơi khô trộn với trấu lẫn tấm đưa lên “chõ” (dụng cụ đồ hấp,
đồ cho chín, đổ ra mẹt để nguội đem men rắc trộn đều, tiếp tục ủ bằng lá chuối hoặc lá rừng (bó nhum, bỏ cá) để rượu bốc men rổi bỏ vào chum (ché) lấy lá chuối hoặc mảnh ny long bịt kín (để hở thì rượu sẽ bị chua) – sau 25 – 30 ngày thì có thể dùng được, để càng lâu thì rượu càng đặc, càng ngọt
Ngoài sắn khô, còn làm bằng ngô, ý dĩ, củ dong riềng, chuối, dừa, củ mài…
Rượu cần (lẩu xá) còn có tên là lẩu kép (rượu trấu), lẩu pẳng (rượu ống), lẩu
co (rượu cây) rất đậm ngọt
Rượu Thái Sơn La: 1kg gạo + 2kg trấu + ½ lạng men Ủ 5 – 7 ngày
Khi uống: Mở nắp, đổ nước lã sạch vào ngâm 1 phút cho ngấm, cắm cần vào
và đổ nước (sừng trâu) liên tục khi ta hút… uống đông vui: 1 hũ từ 10 – 12 bạn bè coi như là anh em “lẩu khay cáy khả” (rượu mở là thịt gà…)
Khi chum rượu lẩu xá đã mở là trống, khèn, cồng chiêng hòa theo các điệu
“khắp”, múa xòe dập dìu say sưa tới sáng
Bên hũ rượu cần là nơi hội tụ mọi cộng đồng mường bản, chân thành, đoàn kết, bình đẳng, không phân biệt ai với ai
1.2.2.2 Văn hóa tinh thần
- Ngôn ngữ chữ viết
Từ năm 2003 khi xây dựng bản đồ phân bố các dân tộc theo ngôn ngữ ở ĐôngNam Á của bảo tàng dân tộc học Việt Nam, các nhà chuyên môn đã thống nhất đưa
Trang 9nhóm ngôn ngữ Thái vào ngữ hệ Thái Ka- đai (các tài liệu trước đó xếp ngôn ngữThái trong dòng Tày- Thái thuộc ngữ hệ Nam Á ).
Người ta nhận thấy, nhóm ngôn ngữ Mường- Việt được đưa vào ngữ hệ Nam Á,còn nhóm ngôn ngữ Hán thì thuộc ngữ hệ Hán- Tạng Ở khu vực Đông Nam Á, sốlượng người dân sử dụng ngôn ngữ đa âm tiết chỉ là thiểu số, các nhóm ngôn ngữmang đặc điểm đa âm tiết cũng thuộc về số ít Những người Thái ở Qùy Châu (địadanh trước đây bao gồm thêm cả một phần đất của các huyện Quế Phong, NghĩaĐàn và Qùy Hợp ngày nay) cùng nằm trong phần đa số tạo bởi các nhóm ngôn ngữ
có đặc điểm chung là đơn âm tiết và mang thanh điệu Ngôn ngữ Thái Ka- đai QùyChâu trong phần trình bày này được hiểu là ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) của cưdân người Thái thuộc địa bàn phủ Qùy Châu cũ và cả một bộ phận người Thái củahuyện Thường Xuân (Thanh Hóa) ngày nay
Ở Việt Nam, dân tộc Thái là dân tộc thiểu số có tiếng nói và sớm có chữ viết riêng.Kết quả nghiên cứu cho biết chữ Thái Đen đã có từ thế kỉ XI Và còn chuyện "LaiLông Mương" của người Thái Nghệ An kể về lịch sử từ thời hồng hoang, tạo dựngnúi non, vạn vật Có lẽ trước đây, do đặc điểm riêng và sự lựa chọn giữa các vùngnên người Thái đã cho ra đời 8 loại hình kí tự cổ khác nhau Tuy nhiên, cả 8 loạihình kí tự ấy đều bén rễ từ một gốc chữ Sanscrit (Ấn Độ) thông qua mẫu tự Khmer.Chúng có nhiều điểm giống nhau về nguyên tắc dùng phụ âm, nguyên âm để ghépvần ghi âm tiết Thái (trừ hệ chữ Lai- Tay ở Nghệ An) Theo ông Cầm Trọng, támloại hình kí tự cổ của chữ Thái ở Việt Nam là:
1 Chữ Thái Đen ở các huyện thuộc tỉnh Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai
2 Chữ Thái Trắng ở huyện Phong Thổ, Lai Châu
3 Chữ Thái Trắng ở huyện Mường Lay, Mường Tè (Lai Châu)
4 Chữ Thái Trắng ở huyện Phù Yên
5 Chữ Thái Trắng ở huyện Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu, Đà Bắc (Hoà Bình)
6 Chữ Thái của người Thái nhóm Tay Thanh ở Thanh Hoá và Nghệ An Đây làloại chữ viết của những nhóm người Thái cư trú rải rác ở ba tỉnh Nghệ An, ThanhHoá và Hoà Bình với tên gọi địa phương là Tay Thanh Loại chữ viết này gần vớikiểu chữ của người Thái Đen hay Thái Trắng ở vùng Tây Bắc Việt Nam
Trang 107 Chữ Thái hệ Lai- Pao ở Tương Dương, Nghệ An Không có trường hợp nguyên
âm ghép vần với phụ âm theo trật tự đảo ngược như ở các hệ chữ Thái vùng TâyBắc Tên gọi Lai- Pao theo tiếng Thái nhóm Tay Mương có nghĩa là "chữ viết vùngsông Pao" Sông Pao (tiếng Thái gọi là nặm Pao) là tên gọi con sông Cả (sôngLam) của người Việt ở tỉnh Nghệ An Được biết, cuối thế kỷ XIX, người Thái ởvùng sông Pao này vẫn còn sử dụng loại văn tự này trong đời sống hàng ngày
8 Chữ Thái hệ Lai- Tay ở Qùy Châu, Nghệ An Theo ông Trần Trí Dõi, người ta
cũng gọi loại chữ Thái Quỳ Châu là chữ Tai Yo Đặc điểm nổi bật và dễ nhận biết
của loại chữ này là:
- Được viết theo hàng dọc, đọc từ trên xuống dưới, theo dòng từ phải qua trái; theotrang từ sau ra trước
- Không hề có nguyên âm ghép vần với phụ âm theo trật tự đảo ngược như ở các hệ
chữ Thái vùng Tây Bắc Riêng về điểm này thì chữ Thái hệ Lai- Pao và chữ Thái
hệ Lai- Tay có sự tương đồng với nhau,
- và một vài điểm khác
Trong những năm qua, đã có thực trạng là dạng thức vật chất của ngôn ngữ Thái làcác quyển sách chữ Thái cổ “Lai- Tay” trong cộng đồng dân tộc Thái trên địa bànNghệ An chưa được đánh giá đúng mức Sách chữ Thái cổ thường được cuộn trònlại và đựng trong ống nứa, có đậy bằng nắp ống nứa Sách gồm nhều tờ giấy (loạigiấy gọi là "chia năng xa", giấy rất mỏng chỉ viết được trên một mặt) được khâu lạibằng dây gai, viết bằng mực tàu Nội dung được ghi chép đa phần là các truyệnthơ, sau đó là lịch sử bản mường, dòng họ; cũng có cuốn ghi chép về luật tục,thuốc men, bói toán Hiện các sách này trở nên hiếm hoi, các gia đình đang sởhữu cũng không nắm được nội dung ghi chép bên trong Được biết, loại sách cổnày cũng được bảo quản ở bảo tàng Qùy Châu với một số lượng đáng kể nhưngvẫn chưa được nghiên cứu, khai thác Mấy năm trước đây những người còn sửdụng được chữ Thái trong cộng đồng chỉ còn có thể đếm trên đầu ngón tay Phầnlớn họ là những người đã cao tuổi, già yếu Người trẻ tuổi hầu như không ai biết
sử dụng chữ Thái Một bộ phận khác trong đồng bào Thái địa phương đã có biểuhiện coi nhẹ tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình Chữ viết của dân tộc Thái trên cảnước nói chung và trong địa bàn tỉnh Nghệ An nói riêng chưa được nghiên cứu mộtcách chuyên sâu
- Tín ngưỡng
Trang 11Tín ngưỡng truyền thống là thờ cúng tổ tiên, cúng trời đất, cúng bản mường, có nhiều lễ nghi gắn liền với sản xuất nông nghiệp, lễ đón tiếng sấm được coi là lễ mở đầu một năm mới Kho tàng văn hoá, văn nghệ dân gian phong phú, ngày tết có rất nhiều hoạt động đặc sắc Trong những ngày này họ thường đi đến nhà nhau ngồi tụuống rượu, hát đối đáp, múa xòe đến thâu đêm suốt sáng Những chàng trai, cô gái thì chọn cho mình bộ trang phục đẹp nhất để đi chơi ném còn, chơi đu quay, múa sạp, tó má lẹ Nhiều thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao nhiều
tác phẩm nổi tiếng như (Xống chụ xon xao), (Quám Tố Mường); thích ca hát, đặc biệt hát (khắp) là lối hát ngâm thơ rất phổ biến, có đệm đàn và múa; múa có múa
xoè là đặc trưng tiêu biểu
1.2.2.3 Văn hóa xã hội
- Quan hệ xã hội Thái:
Cơ cấu xã hội cổ truyền là Bản mường hay chế độ Phìa Tạo Tông Tộc gọi là
“Đằm” Mỗi người có 3 quan hệ trọng yếu:
– Ải noọng: Nam giới 4 đời trong gia tộc (bên nội):
– Nhinh Sao: Tất cả thành viên nữ…
– Lúng ta: Tất cả thành viên Nam thuộc họ vợ (bên ngoại)
- Quan hệ gia đình dòng họ
Người Thái có ba quan hệ về họ hàng:
1 Ải noọng: Gồm anh em, chị em chưa xây dựng gia đình sinh ra từ một (cùng mẹ cùng cha hay khác)- nội tộc 4 đời
2 Nhinh Sao: Là họ nhà trai hay thuộc khổi Ải noong và rể
3. Lung Ta: Họ nhà gái (bên ngoại)
- Đặc điểm kinh tế
Trang 12Người Thái có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng con, bắc máng lấy nước làm ruộng Lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp Người Thái cũng làm nương để trồng lúa, hoa màu và nhiều thứ cây khác Từng gia đình chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải, một số nơi làm đồ gốm Sản phẩm nổitiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp.
2 Kết quả nghiên cứu về những giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Thái
2.1 Một số loại hình văn nghệ dân gian
đã có người Mọi (Mường), người Mang cư trú Xây dựng theo Mường Lò thì Tạo Xuông ở lại lấy vợ sinh ra Tạo Lò, cho Khun Lường làm mo, Tạo Lò làm chúa Về sau Tạo Xuông cũng trở về quê cũ Mường Ôm, Mường Ai
Tạo Lò lấy vợ sinh ra 7 con trai: Ta Đúc, Ta Đẩu, Lặp Li, Lò Li, Lạng Ngang, Lạng Quang và Lạng Chượng… các con khôn lớn, Tạo Lò chia cho các con đi làm chúa các mường: Tạo Đúc “ăn” Lò Luông, Ta Đẩu “ăn” Lò cha, Lặp Li “ăn” Lò Gia, Lò Li “ăn” Mường Min, Lạng Ngạng “ăn” Mương Vân, Lạng Quang “ăn” Xí Xam, Bản Lọm Ngoài ra Tạo còn cho bô lão già bản Xửa Cang Ho “ăn” Mường Pục, Mường Mẻng… Rồi các cháu nội được chia đi làm chúa miền đất đầu sông Thao nước đỏ
Riêng con út Lạng Chượng không có Mường để “ăn” – “con út không có ngựa, con
út không có Mường” (giàu con út khó con út là thế) Lạng Chượng mới bàn với cáctay chân giúp việc là các ông ho hé, ông mo, ông nghe… triệu tập binh tướng, dân
Trang 13chúng mở lối đi tìm Mường Quân đi đến Khau cả, Khau Pục, Mường Min thì tiến thoái lưỡng nan, chúa bèn cúng “pang cha đáp” cầu hồn ông nội là Tạo Xuông, TạoNgần xuống phù hộ.
Chọn ngày lành, quân Lạng Chượng đến Mường Lùng – dốc Khau Phạ nhìn thấy cánh đồng rộng (xã Ngọc Chiến bây giờ) bèn dốc quân vượt dốc Xam xíp vào Mường Chiến Tạo Mường Chiến khiếp sợ xin gả con gái, Lạng Chượng ưng ý nhận đất Mường Chiến là Mường họ ngoại
Tới Mường Chai, Tạo ở đây sợ phải dâng nhiều trâu
Binh Chúa vượt rừng rậm, qua cầu mây Vạn Tọ, không thuyền bắc cây qua Nậm
Tè (Sông Đà)… đến đây vấp phải sự chống cự của người “Xá Cắm Ca” (Khơ Mú)
do Tù trưởng Khun Quàng cầm đầu Mác Chúa ngắn nên chúa phải chạy, mác Quàng dài nên đuổi Chúa xuống Nậm Tè, bị bắt cạo trọc đầu phơi nắng, binh Chúachết 800 người gan dạ… Rồi chúa rút binh về Ít Ong (Thủy điện Mường La hôm nay) để tang đồng đội
Rồi sau một thời gian nghỉ dưỡng rút kinh nghiệm chúa Lạng Chượng thắng Khun Quàng chiếm được đất Mường La từ Nặm Bú qua Khau Pha, Kéo Tèo, qua Nặm
Cá (Chiềng An), Chiềng Căm (Thị xã), Cọ, Kẹ qua núi Khau Hào lên Mường Muổi(Thuận Châu)… gặp quân Xá của Khun AmPoi ở núi Khau Tù, Khau Cả, quân chúa đánh nhiều lần bị thua… rồi chúa lập mưu “Mỵ Châu – Trọng Thủy”xưa, xin làm rể ĂmPoi… chọn ngày lành chúa mở tiệc chuốc rượu say cho Bố vợ, rồi giết chết đoạt đất Mường Muổi
Quân Chúa tiến lên Mường Quài (Thiên Giáo) chê đất ở đây ẩm ướt tanh hôi, bé nhỏ, qua Mường Húa, Mường Ẳng tới Mường Phăng chế đất bé trũng như vũng trâu đằm, chim cuốc chạy qua, chim đa đa chạy lại cũng thấy Quân chúa tiến vào Mường Thanh, đất này thật tốt “nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” (4 cánh đồng rộng ở Tây Bắc) ở đây Mường rộng lớn, tròn như cạp nong, cong như sừng trâu, cho quân lính phá rừng khai hoang làm ruộng, chia đất thành hai vùng
“Xoong Thanh” cho già Nà Lếch làm mo
Lạng Chượng làm chúa Mường Thanh lấy vợ bản Pe sinh ra Khum Pe, rồi lấy vợ sinh ra Khun Mứn Khun Pe mất sớm, ông nội đem cháu về nuôi, sau Khun Mứn sinh Tạo Pàn Chúa Lạng Chượng già rồi mất… cháu tiếp là Tạo Chiêu lên “ăn” đất Mường Lay, Tạo Cằm về Mường Muổi
Trang 14Cứ tiếp là Tạo Chông, Tạo Thâng, Tạo Quá Lạn, Tạo Chương, Tạo Quạ, Tạo Quạ lấy nàng An Phấư ở Mường Lay làm vợ cả, và Nàng Xơ (người Xá dòng dõi Khun Quàng, ĂmPoi) làm vợ hai Nàng Xơ sinh ra chúa Lò Lẹt.
Lò Lẹt lấy tên hiệu là Ngu Háu (rắn hổ mang) làm chủ đất Mường Muội nhiều nămvào đất triều cống Đại Việt từ đấy
2.1.2 Truyện cổ
Truyện cổ tích là một thể loại văn học được tự sự dân gian sáng tác có xu thế hưcấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loài vậtĐây là loại truyện ngắn, chủ yếu kể về các nhân vật dân gian hư cấu, như tiên, yêutinh, thần tiên, quỷ, người lùn, người khổng lồ, người cá, hay thần giữ của, vàthường là có phép thuật, hay bùa mê Truyện cổ tích có thể được phân biệt vớitruyện dân gian thần thoại khác như truyền thuyết (thường liên quan đến niềm tinvào tính xác thực của các sự kiện được mô tả) cũng như các câu chuyện về bài họcđạo đức, bao gồm truyện ngụ ngôn về động vật
Bên cạnh yếu tố hư cấu, tưởng tượng như một đặc điểm chủ yếu của thể loại,truyện cổ tích vẫn bộc lộ sự liên hệ với đời sống hiện thực, thông qua những đặcđiểm về nội dung, ngôn ngữ, tính chất của cốt truyện, motip, hình tượng nghệ thuậtv.v Nhiều truyện cổ tích xuất xứ từ xa xưa phản ánh được các quan hệ xã hộinguyên thủy và các biểu tượng, tín ngưỡng vật tổ, tín ngưỡng vạn vật hữu linh.Trong khi đó, các truyện cổ tích hình thành giai đoạn muộn hơn, như thời phongkiến, thường có những hình tượng vua, hoàng hậu, hoàng tử, công chúa Sang thời
tư bản chủ nghĩa, truyện cổ tích thường chú ý hơn đến thương nhân, tiền bạc và cácquan hệ xã hội liên quan đến mua bán, đổi chác, sự tương phản giàu nghèo v.v
Trang 15Về nội dung tư tưởng, truyện cổ tích thường mang tinh thần lạc quan, có hậu, trong
đó kết thúc truyện bao giờ cái thiện cũng chiến thắng hoặc được tôn vinh, cái ác bịtiễu trừ hoặc bị chế giễu
Là một thể loại truyền miệng, truyện cổ tích thường có nhiều dị bản Sự dị bản hóatác phẩm có thể được nhìn nhận do các dân tộc trên thế giới có những điểm chungnhất về văn hóa, lịch sử, sinh hoạt, lối sống; đồng thời cũng có những đặc điểmriêng trong nếp sống, đặc điểm lao động, sinh hoạt, điều kiện tự nhiên tùy từng dântộc Thêm vào đó những người kể truyện cổ tích thường mang vào các truyện họ kểnhững nét cá tính riêng, sự thêm thắt nội dung theo những ý đồ nhất định
Lịch sử nghiên cứu truyện cổ tích
Những nhà nghiên cứu và sưu tầm văn học dân gian từ thế kỷ 19 ở Đức, thuộctrường phái thần thoại học, như Schelling, anh em nhà Schlegel, anh em nhàGrimm xem truyện cổ tích là "những mảnh vỡ của thần thoại cổ" Các nhà nghiêncứu so sánh chú ý đến sự trùng hợp các sơ đồ cốt truyện và motip riêng lẻ trongtruyện cổ tích của các dân tộc khác nhau
Bên cạnh đó, những người theo trường phái nhân loại học (hay còn gọi là tiến hóaluận) ở Anh nửa sau thế kỷ 19, như E Tylor, A Lang, J Frazer xây dựng lý thuyết
về cơ sở thế sự và tâm lý của cái mà họ gọi là "các cốt truyện tự sinh của truyện cổtích", nhấn mạnh rằng truyện cổ tích trùng hợp đồng thời với sự tồn tại của hoang
dã Theo trường phái thần tượng học mà đại biểu là Mar Müller, Gaston Paris,Angelo de Gubarnatic, trong cổ tích có sự lan truyền của thần bí cổ đại, thần thoại
về mặt trời, thần thoại về bình minh Trường phái văn hóa với các đại biểu nhưBenfey, Consquin lại đi tìm nguồn gốc cổ tích dân gian ở Ấn Độ Bên cạnh đó,trường phái nghi thức chủ nghĩa gồm nhiều các nhà bác học Anh cho rằng cổ tích
là những nghi thức cổ truyền còn tồn tại dấu vết đến ngày nay
Nhà nghiên cứu Lazăn Săireanu người Rumani phân loại truyện cổ tích của các dântộc Roman nói chung và truyện cổ tích Rumani nói riêng thành hai nhánh chính làtruyện thần thoại hoang đường và truyện tâm lý Trong mỗi nhánh ông lại phânchia thành nhiều ngành và dưới các ngành lại là các thể loại, các kiểu, chẳng hạnngành "ba anh em trai", gồm kiểu anh em sinh đôi và kiểu anh em kết nghĩa; ngành
"đàn bà trong lốt cây cỏ", ngành "thú vật trả nghĩa" v.v
Các dạng truyện cổ tích
Tùy thuộc vào đề tài của tác phẩm, truyện cổ tích có thể được chia ra:
Trang 16Truyện cổ tích thần kỳ
Truyện cổ tích thần kỳ giai đoạn đầu thường gắn với thần thoại và có ý nghĩa mathuật Có thể bắt gặp các đề tài như dũng sĩ diệt trăn tinh (rắn, rồng v.v.) cứu ngườiđẹp; quan hệ dì ghẻ và con riêng; đoạt báu vật thần thông; người con gái đội lốt thú
kỳ dị bí mật giúp đỡ chồng; v.v
Truyện cổ tích phiêu lưu[sửa
Truyện cổ tích phiêu lưu thường trình bày các cuộc phiêu lưu kỳ lạ của nhân vậtchính, và việc giải thích các cuộc phiêu lưu này thường mang tính giả tưởng
Truyện cổ tích loài vật
Có nhân vật chính là các loài vật, truyện cổ tích loài vật là một trong những thểloại truyện cổ tích phổ biến nhất, có ở hầu hết các dân tộc trên thế giới Nhiều tácphẩm trong số đó xuất xứ từ giai đoạn xã hội chưa phân chia giai cấp, còn gắn vớitín ngưỡng vật tổ Truyện cổ tích loài vật, theo thời gian, dần dần mất đi tính chấtthần thoại và ma thuật, tiệm cận với thể loại truyện ngụ ngôn giáo huấn ở giai đoạn
về sau
Các thể loại khác
Ngoài 4 nhóm truyện cổ tích nói trên, có thể bắt gặp các truyện bịa, tức loại cổ tíchmang tính quấy đảo, trêu chọc v.v
Quan hệ giữa cổ tích và thần thoại
Trong folklore thái cổ, rất khó phân biệt ranh giới giữa truyện cổ tích và thầnthoại Phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng truyện cổ tích xuất xứ từ thầnthoại[2] Những truyện cổ tích đầu tiên bộc lộ sự liên hệ về cốt truyện đối với cácthần thoại, nghi lễ và các tập tục của bộ lạc nguyên thủy Đó là các mô tip đặctrưng cho thần thoại tô tem (tín ngưỡng vật tổ) phản ánh trong loại truyện cổ tíchloài vật; là sự kết hôn giữa những sinh thể kỳ dị, tạm thời bỏ lốt thú để mang mặtngười, như người vợ (và những dị bản truyện cổ tích muộn hơn là người chồng), đểgiúp đỡ bạn đời của mình một cách bí mật thường bắt gặp trong truyện cổ tích thầnkỳ; là việc đi tới những thế giới khác để giải thoát tù nhân, có sự tương đồng vớinhững thần thoại và truyền thuyết nói về các phiêu du của những saman (pháp sư)trong truyện cổ tích phiêu lưu v.v
Những thần thoại có cơ sở nghi lễ hoặc vốn là một phần của lễ thức có thể biến đổithành truyện cổ tích, do sự đứt gãy những liên hệ trực tiếp của các thần thoại đóvới sinh hoạt của bộ lạc Việc bãi bỏ sự hạn chế đối tượng có thể kể lại thần thoại,việc cho phép cả phụ nữ và trẻ em (những người không hành lễ) được kể thần thoại
Trang 17đã dẫn đến sự phi thần thoại hóa nguyên bản và cổ tích hóa thần thoại: sự từ bỏ, cóthể không cố ý, các yếu tố linh thiêng và thay vào đó là những nội dung hấp dẫnkhác, như quan hệ gia đình của các nhân vật, những chuyện đánh lộn, cãi cọ của họv.v đã thay đổi thần thoại cổ sơ thành cổ tích.
2.1.3 Sử thi
TÁY PÚ XẤC
Cùng với “quắm tố Mướng” là truyện Táy Pú Xấc “Người Thái đánh giặc” là một
sử thi tầm cỡ về “kể ông cha chinh chiến”…
Táy ở đây dùng đa nghĩa, như “trên đường đi” gọi là Táy Tang, qua cầu là Táy Khua, đọc chữ là Táy Xư, kể chuyện là Táy Quắm Tố… Táy nghĩa là kể
Pú là ông nội, người tôn kính như “Bác”, Pú ở đây là ông cha, lãnh tụ, thủ lĩnh
Xấc là chiến tranh: Đi trận là Pay xấc, đánh trộm là tặp xấc, dấy binh là diệt xấc, nổi loạn là xấc phản, giặc ngoại xâm là xấc chinh mương, hay xấc cướp mường, hay xấc pua mương Mặt trận là nả xấc, cuộc chiến là Chộ xấc, đi chiếm đất là xấc
to mương – “xấc” đánh nhau cả xâm lược lẫn tự vệ
Nội dung thư theo lịch sử của Quắm tố mướng, mở đầu từ Tạo Lò tới Cầm Nho (Kăm nho) là 50 đời
Sử thi viết theo lối hát “khắp” dùng rộng rãi trong sinh hoạt văn hóa đời thường và nghi lễ
Mở đầu là:
Cạy hin pẻn ke ma bốc
Nộc tót háy tai thẩy
Tai thẩy tai ti non
Tai cuông côn cuông kon mạy xọk
Pú hók lộm khẩu heo Tông Lo
Chang nháư tai thót nguông thót nga pạt
Trang 18phạk Tao, u, khong…
Ẩy đá dẹp đá tảng lên cạn
Chim gõ kiến chết già
Chết già tại nơi nằm
Chết trong bộng trong cành cây Xọ
Cụ Tổ đổ xuống vào mộ đồng Lò
Voi lớn chết rụng vòi ngà bên sông Thao,
nậm u, MêKông…
Đoạn tả Lò Lạng Chượng đem quân đi đánh chiếm Mường La
Mi khỏi kôn pay cón
Hảư Ải Ón uôn tang
Pọng cánh quen phăn hủa
Phăn hủa hảư kôn xen kôn păn pú bải
Có chân sai đi trước
Cho Ải Ón dẫn đường
Đến Xá chi, Xá cha