ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- LÝ THỊ PHƯƠNG GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY Luậ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÝ THỊ PHƯƠNG
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Thị Thanh
Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng đươc công bố trên công trình khoa học nào khác
Tôi xin cam đoan: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Lý Thị Phương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 7
8 Kết cấu 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU - NỘI DUNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 8
1.1 Khái niệm về văn hóa, bản sắc văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc 8
1.1.1 Khái niệm văn hóa 8
1.1.2 Bản sắc văn hóa 18
1.1.3 Bản sắc văn hóa dân tộc 20
1.2 Nội dung bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnhVĩnh Phúc 24
1.2.1 Đặc điểm dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam 24
1.2.2 Bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc 43
1.3 Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay 51
Tiểu chương 1 57
Chương 2: GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY - NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 58
Trang 52.1 Những nhân tố tác động đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc hiện nay 58
2.1.1 Tác động của điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội 58
2.1.2 Tác động của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu 69
2.1.1.1 Tác động của cơ chế kinh tế thị trường 69
2.1.2.2 Tác động của quá trình toàn cầu hóa 74
2.2 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay - Thực trạng và nguyên nhân 80
2.2.1 Thực trạng 80
2.2.1.1 Thành tựu 80
2.2.1.2 Hạn chế 83
2.2.2 Nguyên nhân của hạn chế 85
2.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay 88
2.3.1 Phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo tạo điều kiện nâng cao hiệu quả công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu 88
2.3.2 Đẩy mạnh công tác giáo dục văn hóa lịch sử, văn hóa truyền thống, nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc hiện nay 90
2.3.3 Đổi mới và tăng cường công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu 91
Tiểu kết chương 2 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 101
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: So sánh ngôn ngữ [23,tr.12] 31 Bảng 1.2: So sánh ngôn ngữ Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Quảng Ninh 47 Bảng 1.3: So sánh ngôn ngữ Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Thái Nguyên 48
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đất nước ta có 54 dân tộc anh em cùng cư trú trên dải hình chữ S, mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng của mình được kết tinh cùng với lịch sử trong quá trình hình thành và phát triển Cùng với dòng chảy thời gian và những biến động của lịch sử, văn hóa của mỗi dân tộc cũng vận động và biến đổi theo những quy luật nhất định, với sự đan xen giữa những yếu tố cũ và yếu tố mới tạo nên những nét độc đáo riêng, đồng thời góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng
Ngày nay, đứng trước xu thế toàn cầu hóa vừa tạo ra những cơ hội lớn cho sự phát triển mỗi dân tộc, đồng thời cũng xuất hiện không ít những thách thức, khó khăn nguy cơ về sự đồng hóa văn hóa, sự đánh mất bản sắc văn hóa
và sự bất bình đẳng trong hưởng thụ văn hóa Do đó, việc khẳng định hệ giá trị đang là một vấn đề có tính cấp thiết, vừa có tính thời sự, vừa có tính lâu dài Cần phải có chủ trương chính sách cụ thể trong việc giữa gìn và bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc Khẳng định tầm quan trọng của vấn đề, tại Nghị quyết Trung ương V khóa VIII và Nghị quyết Trung ương IX khóa XII, Đảng ta đã khẳng định xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Vĩnh Phúc cũng là nơi định cư của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số Trong đó có người Sán Dìu, cư trú rải rác chủ yếu trung du miền núi của tỉnh Trong quá trình lịch sử, đồng bào người Sán Dìu chọn nơi có địa hình bán sơn địa để định cư Sống bên cạnh bên cạnh dân tộc Kinh, Dao và Cao Lan Nhưng người Sán Dìu đã sớm xây dựng cho mình bản sắc văn hóa, độc đáo mang dấu ấn của tộc người nhằm khẳng định vị thế của mình
Trang 8Tuy nhiên, trước sự tác động của toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đã làm mai một bản sắc văn hóa hóa dân tộc Việt Nam nói chung, bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng Điều này đã đạt ra vấn đề hết sức cấp bách trong công tác giữ gìn bản sắc văn hóa hiện nay
Với những lý do như trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay” làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Văn hóa đang là một vấn đề nổi trội được nhiều nhà khoa học quan tâm
và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: Dân tộc học, văn hóa học, triết học Bàn về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc phải kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Nhóm nghiên cứu về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc:
Trong cuốn “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của Phan Ngọc (Nxb.Văn hóa
thông tin, Hà Nội, 1998), tác giả đi vào phân tích và làm sáng tỏ khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc và mối quan hệ giữa các không gian văn hóa Từ đó đi đến khẳng định:“văn hóa nào cũng cần phải có sự giao tiếp để phát triển” [37,tr.16]
Bàn về văn hóa, còn phải kể đến công trình nghiên cứu “Cơ sở văn
hóa Việt Nam” của Trần Quốc Vượng (chủ biên), (Nxb Giáo Dục, 2008)
Cuốn sách giới thiệu đến về các quan niệm về văn hóa và các đặc điểm của văn hóa Việt Nam trong quá trình tiếp biến văn hóa nhân loại Qua đó, khẳng định sự giao lưu văn hóa, cần phải có chính sách giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Bên cạnh đó, cuốn“Văn hóa bản sắc văn hóa dân tộc” của tác giả Hồ
Bá Thâm (Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, 2012) Tác giả đã làm rõ bản chất, đặc trưng của văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc và còn chỉ ra những thách
Trang 9thức khó khăn trong điều kiện giữ gìn, phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay trước sự tác động của kinh tế thị trường
Ngoài ra, khi nghiên cứu về “Văn hóa Việt Nam trên con đường giải
phóng, đổi mới hội nhập và phát triển” tác giả Đỗ Huy, (Nxb Thông tin -
Truyền thông, 2013) Được tác giả trình bày hành trình của quá trình giải phóng, đổi mới và dự báo về bước phát triển mới của văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và đưa ra những giải pháp cụ thể
Nghiên cứu về bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số có“Bản sắc văn
hóa dân tộc Mông và giải pháp giữ gìn và phát huy các giá trị của nó ở Việt Nam hiện nay” của Hoàng Xuân Lương Luận án tiến sĩ Triết học, (Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2002) Tác giả đã tập trung vào khai thác những đặc điểm hình thành và những đặc trưng của bản sắc dân tộc Mông và đưa ra cái nhìn mới về bản sắc dân tộc Mông trước những tác động của kinh
tế thị trường
Ngoài những nghiên cứu về bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số phải
kể đến “Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc Mường ở tỉnh Phúc Thọ hiện nay” của Đinh Thị Hoa Luận văn thạc sĩ
Triết học (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2006) Luận văn đã phân tích rõ về khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc Mường qua các giá trị vật chất và giá trị tinh thần dước góc độ triết học
Mặc dù, khai thách ở nhiều góc độ khác nhau, song các tác giả đều làm
rõ khái niệm văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần Bên cạnh
đó, khẳng định tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ đổi mới ở nước ta và đề ra các giải pháp
Nhóm những công trình nghiên cứu về về dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam
và dân tộc Sán Dìu tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 10Bàn về bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu, phải kể đến cuốn “Người Sán
Dìu ở Việt Nam” của Ma Khánh Bằng (Nxb Khoa học xã hội, 1983) Cuốn
sách được tác giả giới thiệu khái quát về dân tộc Sán Dìu, các hoạt động kinh
tế, sinh hoạt vật chất và một số tục lệ trong đời sống hàng ngày
Trong cuốn“Văn hóa các dân tộc thiểu số Vĩnh Phúc” của tác giả Lâm
Quý, (Ban Dân tộc – Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc xuất bản năm 2009).Trong cuốn sách này, tác giả đã thể hiện theo tinh thần khảo cứu dân tộc học về lịch sử dân cư, tập quán sản xuất, sinh hoạt xã hội, ngôn ngữ, chữ viết, kiến trúc – mỹ thuật – âm nhạc dân gian, phong tục, lễ hội nhằm giúp người đọc có cách nhìn tổng quan về văn hóa các dân tộc ở Vĩnh Phúc với bản sắc truyền thống riêng Tác giả cũng đồng thời cảnh báo những nguy
cơ làm phai nhạt bản sắc các dân tộc thiểu số Từ đó khuyến nghị một số vấn
đề về giữ gìn, bảo tồn, khai thác phát huy các giá trị văn hóa độc đáo của các dân tộc Sán Dìu, Cao Lan và Dao ở Vĩnh Phúc
Bên cạnh đó, cuốn “Tri thức dân gian trong chu kỳ đời người của người
Sán Dìu ở Việt Nam” của Diệp Trung Bình, (Nxb Văn hóa dân tộc, 2011) Tác
giả làm rõ những đặc điểm văn hóa của đồng bào dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam Đưa ra những so sánh và những giá trị truyền thống và hiện đại, những biến đổi lớn trong bản sắc văn hóa của người Sán Dìu ở nước ta hiện nay
Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu về “Dân tộc Sán Dìu ở
tỉnh Vĩnh Phúc” của Lâm Quang Hùng, (Nxb Khoa học và Công nghệ, 2011)
Tác giả đi khai thác những giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc qua một số giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể dưới góc độ dân tộc học Tác giả hướng tới khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn các giá trị của dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc trong thời kỳ đổi mới
Về cuốn “Văn hóa ẩm thực người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc” của Lâm
Quang Hùng (Nxb Văn hóa dân tộc, 2013), được đề cập đến bởi những
Trang 11phong ăn uống của người Sán Dìu trong đời sống hàng ngày và những đặc sản của đồng bào
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc khai thác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa, văn hóa của dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam, khai thác trên phương diện phong tục tập quán, văn hóa của đồng bào dân tộc dân tộc Sán Dìu nói chung, đồng bào dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc nói riêng chưa thực sự đi sâu vào nghiên cứu về bản sắc văn hóa của dân tộc Sán Dìu một cách có hệ thống dưới góc độ triết học
Do đó, từ những hướng nghiên cứu trên chưa có công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học nào bàn về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay Vì vậy, đề tài không trùng lặp với các đề tài, công trình nghiên cứu đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Làm rõ bản sắc văn hóa của dân tộc Sán Dìu, tầm quan trọng và thực trạng giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay từ đó đề xuất một số giải pháp
3.2 Nhiệm vụ
Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc và tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
- Phân tích những nhân tố tác động và thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
- Đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay
Trang 124 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài: Đề tài được thực hiện dựa trên những nguyên
lý, lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề văn hóa và chính sách dân tộc, đồng thời đề tài có kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và nhân văn có liên quan
Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Đề tài sử dụng phương pháp luận
duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Kết hợp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, điều tra, so sánh
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
5.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Luận văn xác định rõ đối tượng nghiên cứu của đề tài: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay dưới góc độ triết học
5.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Văn hóa là một vấn đề rộng, đa dạng và phong phú, luận văn không đi nghiên cứu toàn bộ về văn hóa dân tộc Sán Dìu mà đề tài đi sâu vào khai thác
có hệ thống dưới góc độ triết học về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay
6 Đóng góp của luận văn
Dưới góc độ triết học luận văn góp phần làm rõ thêm bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu và phân tích thực trạng của những tác động của kinh tế thị trường đến bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc Qua đó
đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy giá trị tốt đẹp trong giai đoạn hiện nay
Trang 137 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả của cuộc nghiên cứu của đề tài có thể sử làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy bộ môn có liên quan như: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –Lênin, văn hóa học, dân tộc học, chính sách dân tộc, ở các nhà trường, đồng thời làm tài liệu cho cán bộ hoạch định chính sách quản lý văn hóa dân tộc trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 2: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh
Vĩnh Phúc hiện nay- những nhân tố tác động, thực trạng và giải pháp
Trang 14NỘI DUNG Chương 1:
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU – NỘI DUNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN
HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
1.1 Khái niệm về văn hóa, bản sắc văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là gì? Câu hỏi được đặt ra từ lâu đối với tư duy của nhân loại, điều này chứng tỏ văn hóa đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, văn hóa được như là một cái gì thiêng liêng đối với mỗi con người, linh hồn của dân tộc Với tư cách là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại
xã hội, văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng, vì thế nó đã tạo nên diện mạo phong phú và đa dạng của đời sống tinh thần của con người, thời đại
Văn hóa được chọn làm đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, trở thành thuật ngữ đa nghĩa, trên thế giới hiện nay có hàng trăm cách định nghĩa khác nhau về văn hóa và nhiều cách tiếp cận khác nhau:
* Một số quan niệm về văn hóa ở phương Đông và phương Tây
- Ở phương Đông: Thế kỷ VI –Trước Công Nguyên, Khổng Tử đã
dùng thuật ngữ “Văn” để chỉ những giá trị đẹp của cuộc sống, trong sự giao tiếp, ứng xử của con người với con người Cái đẹp ấy không chỉ là cái đẹp ở hình thức, mà nó bao hàm cả cái đúng và cái tốt “Hoá” nghĩa là biến cải, biến đổi Và “Văn hoá” là biến cải, biến đổi, bồi đắp cho đẹp ra, hướng con người đến cái đẹp và đạt tới chân - thiện - mỹ Văn hóa sớm xuất hiện trong ngôn ngữ ngay từ Trước Công Nguyên, thời kỳ Tây Hán, trong bài “Chi Vũ” sách
“Thuyết Uyển”, Lưu Hướng đã viết: “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng
Trang 15văn đức rồi sau mới dùng vũ lực” văn hóa được dùng để đối lập với vũ lực Văn hóa phải được hình thành trong môi trường lành mạnh, ở đó con người
có những cách ứng xử văn minh, văn hóa mang tính giáo dục cao
Quan niệm về văn hóa theo PGS.TS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động và thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”[52,tr.10] Văn hóa được đề cập khá toàn diện và sâu sắc, văn hóa là một chỉnh thể, vừa mang tính đa dạng vừa là
sự thống nhất của nhiều thành tố, thông qua hoạt động thực tiễn của con người những giá trị đó được kết tinh thành văn hóa Tác giả khẳng định, văn hóa trước hết phải có tính hệ thống để phân biệt với tính tập hợp Từ đó, tạo nên mối liên hệ giữa các hiện tượng thuộc về văn hóa, những quy luật về sự hình thành và phát triển của nó
Trong định nghĩa trên, tác giả còn cho ta thấy tính “giá trị” của văn hóa Tính giá trị được nhấn mạnh để phân biệt với phi giá trị Sự phân biệt đó cho phép ta có được cái nhìn biện chứng khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật hiện tượng, tránh được sự phủ định sạch trơn hay xu hướng cực đoan trong việc tìm hiểu văn hóa
Ở một khía cạnh khác, văn hóa với đặc trưng là tính nhân sinh, cho phép phân biệt như một hiện tượng xã hội để văn hóa (vật chất do con người sáng tạo ra) với các giá trị tự nhiên (nhân tạo)
Bàn về văn hóa, GS Phan Ngọc khẳng định: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các
Trang 16cá nhân hay tộc các người khác”[41,tr.23] Tác giả quan niệm văn hóa như một thế giới biểu tượng, theo đó văn hóa là hiện tượng vừa phổ biến lại vừa mang tính cá biệt Nó phổ biến với tính cách một đặc điểm chung của con người, bắt gặp ở mọi thể cộng đồng Con người ở đâu cũng sống cùng một lúc với hai thế giới, thế giới thực tại và thế giới các biểu tượng Con người không chỉ sống trong hiện tại mà sống cả trong quá khứ và tương lai, hai yếu tố thuộc thế giới biểu tượng Cách ứng xử của con người xuất phát từ một hệ thống những nguyên lý trừu tượngcủa thế giới ý niệm đã hình thành một cách gần như tự nhiên.
Ngoài ra, khi nghiên cứu về văn hóa ta có thể thấy trong “Việt Nam Văn
hóa sử cương” của Đào Duy Anh đã đưa ra quan niệm: Người ta thường cho
rằng văn hoá chỉ là những học thuật tư tưởng, của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chât các dân tộc khác nhau của loài người, nhân thế
mà xem văn hoá có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải như vậy Học thuật tư tưởng cố nhiên là trong phạm vi của văn hoá nhưng phàm
sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải là ở trong phạm vi của văn hoá hay sao? Hai tiếng “văn hoá” chẳng qua chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người, cho nên ta có thể nói rằng: Văn hoá tức là sinh hoạt Quan niệm này
cũng đã đồng nhất văn hoá với xã hội
Cũng có những định nghĩa khác coi là phong tục, tập quán, tín ngưỡng; lúc thì được coi là chuẩn mực, lối sống… Thật vậy, thuật ngữ văn hóa được
sử dụng rộng rãi trong nhiều bộ môn khoa học cụ thể, làm cho mỗi nó tìm thấy những phương diện phù hợp với vấn đề mà nó giải quyết
Tác giả Đào Duy Anh tiếp cận văn hóa trong mối quan hệ của các yếu
tố cấu thành nên đời sống xã hội: con người, đời sống sinh hoạt và văn hóa Con người là chủ thể của văn hóa, là lực lượng sáng tạo nên các giá trị văn
Trang 17hóa thông qua các phương thức sinh hoạt tức là các hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần, hoạt động nghệ thuậ Văn hóa với tư cách là những giá trị vật chất và giá trị tinh thần cho con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và trong cuộc đấu tranh xã hội Chính nhờ có văn hóa mà con người khác với động vật, không phải là động vật Sự tiến bộ của văn hóa đánh dấu sự trưởng thành của con người trên bước đường tiến hóa văn hóa đã nâng người lên cao hơn động.
Qua những nghiên cứu về văn hóa các tác giả hầu hết đi khai thác văn hóa theo chiều cạnh là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, nhưng mới chỉ dừng lại ở góc độ văn hóa học chưa thực sự nêu bật được bản chất của văn hóa
- Ở phương Tây: Văn hóa còn được quan niệm là những giá trị tinh
thần Theo tiếng Latinh là Cultus animi là trồng trọt tinh thần Do đó, văn hóa được tìm hiểu bởi hai khía cạnh: Khía cạnh thứ nhất: Văn hóa được hiểu như là một sự “gieo trồng tư tưởng” Khía cạnh thứ hai: Xem văn hoá như là
“tự nhiên thứ hai” do con người sáng tạo ra và đối lập với “tự nhiên thứ nhất” Đây là cách xem xét phổ biến trong quan niệm của các nhà tư tưởng thời kỳ Phục Hưng và Cận Đại Ở giai đoạn này, người ta đã nhận thấy văn hoá là kết quả của sự phát triển của con người, đồng thời văn hoá là đặc trưng và cơ sở
để hình thành nên con người xã hội
Có thể nói, trường phái triết học duy tâm cổ điển Đức đã có nhiều đóng góp đáng kể trong việc xây dựng khái niệm văn hoá, tiêu biểu là I.Kant và G.W.F.Hegel Theo I.Kant: Văn hoá là giá trị của con người, hay đó là: Sự phát triển những lực lượng tự nhiên của con người và là khả năng lấy mình làm mục đích, bằng cách sử dụng tự nhiên làm phương tiện để đạt được mục đích tự do và khả năng của con người có thể lấy mình với tư cách một tồn tại
tự do làm mục đích cuối cùng của sự tồn tại của mình Ở đây I.Kant đã coi con người là tồn tại tối cao, với quan niệm này đưa ông tới chỗ tuyệt đối hoá
Trang 18vai trò của con người trong việc sáng tạo ra các giá trị văn hoá và dẫn con người ta đến chỗ đối lập tuyệt đối với tự nhiên, tự coi mình là kẻ có quyền
“bóc lột” tự nhiên và hành động như thế tất yếu sẽ bị “trả giá” trước sự tác động của tự nhiên đối với con người Những tác động có hại của tự nhiên đối với con người như hạn hán, bão lụt, những tác động của biến đổi khí hậu ngày nay đang đặt con người trước những khó khăn thách thức nhất là trong giai đoạn hiện nay
Đối với G.W.F Hegel, một nhà triết học cổ điển Đức, xem xét khái niệm văn hoá bằng cách ra một loạt mối quan hệ nhân cách - văn hoá, tìm hiểu về sự kế thừa trong phát triển văn hoá, về tính phổ quát của các quá trình
xã hội - văn hoá Mặc dù G W.F Hegel đã nhận thấy yếu tố qua trọng của con người là xã hội và trong mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội, con người sáng tạo ra văn hoá Tuy nhiên, sự lý giải của ông còn thiếu tính toàn diện, thường mâu thuẫn và mang nặng tính tư biện Với quan niệm về thế giới “ý niệm tuyệt đối” đã đưa ông đến quan điểm đồng nhất văn hoá với hoạt động sản xuất tinh thần được thể hiện thông qua bộ phận tri thức xã hội Hegel đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của tồn tại hiện thực đối với lịch sử phát triển của văn hoá Ông coi sự phát triển của văn hoá là sự biến đổi bản thân ý thức chủ quan
về thế giới chỉ thuộc về cái gọi là “ý niệm tuyệt đối” chứ không liên quan gì đến hiện thực
Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng cả phương Đông và phương Tây, về cơ bản đều thống nhất văn hóa là tất cả những giá trị do con người sáng tạo ra Đó là các giá trị trong quá trình lao động, hoạt động thực tiễn
Do đó, văn hóa là đặc trưng cơ bản nhất để phân biệt giữa con người và con vật
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về văn hóa
- Quan niệm của C.Mác – Ph Ăngghen về văn hóa
Trang 19Lao động là hoạt động mà ở đó xác lập và thể hiện mối quan hệ giữa con người – tự nhiên, con người – xã hội và con người văn hóa, thông qua lao động con người cải biến tự nhiên, tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của mình, lao động là đặc thù của con người
C.Mác khẳng định Mỗi bước tiến của lịch sử là một bước tiến của văn hóa”, chủ nghĩa Mác thú nhận nó với tư cách là một hệ giá trị, bị chi phối bởi các điều kiện lịch sử, năng lực thực hiện Khi so sánh hoạt động của con người và động vật, Trong Bản Thảo kinh tế triết học 1844 C.Mác cho rằng:
“Cố nhiên súc vật cũng sản xuất, nó xây dựng tổ, chỗ ở của nó như con ong, con Hải Ly… nhưng súc vật chỉ sản xuất cái mà bản thân nó trực tiếp cần đến,
nó sản xuất một cách phiến diện; còn con người thì sản xuất một cách toàn diện; con vật chỉ sản xuất và bị chi phối vởi nhu cầu thể xác trực tiếp, còn con người sản xuất ngay cả khi được giải phóng khỏi nhu cầu của thể xác và chỉ khi giải phóng khỏi nhu cầu mới sản xuất chân chính của chữ đó, con vật mới sản xuất ra bản thân nó, còn con người sản xuất ra toàn bộ thế giới tự nhiên”[34,tr.136,137] Con vật chỉ chế tạo theo kích thước và nhu cầu của loài
đó, còn con người có thể sản xuất theo kích thước của bất cứ loài nào ở đâu cũng biết vận dụng cái bản chất có hữu của mình; Do đó con người cũng chế tạo theo quy luật của cái đẹp
Như vậy, có thể nói việc con người tạo ra “thiên nhiên thứ hai” theo quy luật của cái đẹp là cái thuộc tính bản chất, quy định cái văn hóa trong hoạt động của con người Nếu tự nhiên là cái nôi đầu tiên của sự hình thành
và phát triển con người thì văn hóa là cái nôi thứ hai Nếu tự nhiên là cái quyết định sự tồn tại của con người với tư cách là một thực thể sinh vật thì văn hóa là phương thức bộc lộ, phát huy những năng lực của bản chất người gắn liền với các hoạt động sống của con người
Trang 20Trong Luận cương thứ 6 về Phoi ơ bắc C.Mác đưa ra luận điểm: “Bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”.[31,tr.11] Theo đó không
có con người trừu tượng thoát ly mọi hoàn cảnh xã hội Trong điều kiện hoạt động thực tiễn của mình con người đã tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần đó chính là văn hóa Có thể nói hoạt động xã hội của con người là tiền đề
cơ sở cho sự tiến bộ của xã hội và văn hóa cũng được kế thừa trong tiến trình phát triển của nhân loại
- Quan điểm của Lênin về văn hóa
Kế thừa và phát triển các quan điểm của triết học Mác, V.I Lênin đã phân tích sâu sắc thêm về mặt xã hội của văn hóa với cách tiếp cận từ lý luận
về Hình thái kinh tế - xã hội Lênin đã đưa ra nguyên tắc quan trọng trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới Đó là những nguyên tắc quan trọng trong tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc và tính nhân loại trong văn hóa; xác định sự nghiệp vền văn hóa là bộ phận trong guồng máy cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Theo Lênin, văn hóa vô sản có khả năng phát triển toàn diện năng lực bản chất của con người cho nên nó phải là
sự kế thừa có phê phán các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại để phát triển lên một tầm cao mới, mang đậm chất liệu văn hóa và bản chất người Lênin có đưa ra: Văn hóa vô sản không phải bỗng nhiên mà có, nó không phải
là do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản phát minh ra…văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số kiến thức
mà loài người đã tích lũy được dưới ách áp bức của xã hội tư bản, xã hội của bọn địa chủ và của xã hội của bọn quan liêu
Xem xét trên khía cạnh triết học chủ nghĩa Mác – Lênin cho thấy, văn hóa phản ánh toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra trong quá trình hoạt động thực tiễn Chỉ có lao động, tác động vào giới tự nhiên, thì hoạt động đó là điều kiện để phân biệt giữa con người với súc vật
Trang 21Theo quan niệm về Văn hoá giáo dục và Khoa học Liên hợp quốc (UNESCO) Trong những hoạt động thúc đẩy phát triển văn hóa dân tộc ở các quốc gia, UNESCO đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa hôm nay
có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân, chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [61,tr.23,24]
Định nghĩa trên đã trình bày khái quát những nội dung, đặc trưng của văn hóa Văn hóa bao hàm hai lĩnh vực cơ bản là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Đó là những cái tạo ra bản sắc riêng của cá nhân, cộng đồng
và xã hội
- Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa
Văn hóa sinh ra cùng với hoạt động của con người, do đó nó bao gồm
cả hoạt động sản xuất vật chất lẫn sản xuất tinh thần chính vì vậy, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đưa ra một quan niệm mang tính khái quát cao:“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích sống con người đã sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo văn hóa nghệ thuật những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và các phương thức sử dụng, toàn
bộ những phát minh đó là văn hóa, văn hóa là tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [36,tr.431]
Trang 22Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 văn hóa được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là đời sống tinh thần của xã hội, văn hóa thuộc về kiến trúc thượng tầng, có mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế, chính trị và xã hội Quan điểm về văn hóa của Người đã khái quát nội dung rộng nhất của phạm trù văn hóa, qua đó chỉ ra văn hóa không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con người, mà còn bao hàm trong đó cả những hoạt động vật chất Văn hóa với tư cách là chủ thể hoạt động của đời sống xã hội Nó biểu hiện sự thống nhất của yếu tố tự nhiên và xã hội, khả năng và sức sáng tạo của con người
Từ góc độ tiếp cận văn hóa của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh khi nói đến văn hóa là nói đến con người, con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con người trở thành người Có thể nói: Văn hóa là sự phát triển lực lượng vật chất và tinh thần, biểu hiện trong lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần của con người Tuy nhiên, sự phân chia đó chỉ mang tính chất tương đối, bởi giá trị “văn hóa vật chất” về thực chất là được vật chất hóa từ các “giá trị tinh thần” Hơn nữa, các giá trị tinh thần không bao giờ tồn tại dưới dạng thuần túy tinh thần, mà tồn tại dưới dạng phi vật thể mang tính khách quan như văn hóa trong các lĩnh vực giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng,v.v
Mác Quan điểm của Đảng ta về văn hóa
Quan niệm về văn hóa Đảng ta đã đưa ra cái nhìn mới về văn hóa Hội
nghi lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII): Về xây dựng
và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đâm đà bản sắc dân tộc: “Văn hóa
Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc” [8,tr.40]
Trang 23Ngoài ra bàn về văn hóa Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI:về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Trong Nghị quyết Đảng ta khẳng định mục tiêu xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện , hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền t ảng tinh thần vững chắc của xã hô ̣i , là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Đảng ta đã khẳng định tầm quan trọng của văn hóa, phản ánh toàn
bộ những giá trị do con người tạo đựng nên, văn hóa vừa là mục tiêu vừa
là nền tảng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đứng trên nền tảng kiến trúc thượng tầng văn hóa, văn hóa được xem xét một cách toàn diện trên chỉnh thể của nó
Nhìn chung, tất cả các quan niệm về văn hóa như trên đều đưa đến cái nhìn tổng thể, văn hóa là do con người sáng tạo ra, đó là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần
Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, luận văn lựa chọn cách tiếp cận theo quan niệm của tác giả Trần Ngọc Thêm, theo đó có thể hiểu: Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với tự nhiên và xã hội Như vậy, không phải tất cả những gì do con người sáng tạo ra đều là văn hóa, mà chỉ có những yếu tố được kết tinh thành giá trị, cái cốt lõi mới trở thành văn hóa, những giá trị đó được phản ánh trong thực tiễn, bằng những hoạt động của chính mình, con người đã tạo ra văn hóa
Trang 24Song, không phải quan niệm nào cũng được xếp vào bản sắc, mà bản sắc văn hóa là cái cốt lõi, nội dung, bản chất của một nền văn hóa cụ thể, đó là những nét văn hóa riêng vốn có của mỗi dân tộc những nét riêng ấy thường được biểu hiện qua các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, vật thể và phi vật thể Bản sắc văn hóa là cái thường xuyên được duy trì, tái hiện, hoàn thiện trong tiến trình phát triển Mặc dù, đã trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử, nhưng những giá trị ấy không những không mất đi, mà nó còn tiếp nhận tinh hoa của các dân tộc khác làm phong phú thêm giá trị văn hóa của dân tộc mình
Bàn về văn hóa, tác giả Phạm Thái Việt đã đưa ra quan niệm: “Bản sắc
là những yếu tố văn hóa đặc trưng cho từng cấp độ chủ thể văn hóa được xét đến Bản sắc giúp khu biệt cộng đồng văn hóa này với cộng đồng văn hóa khác” [57,tr 328] Ở đây bản sắc văn hóa thể hiểu với tư cách là văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc nói riêng
Nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Hồ Bá Thâm quan niệm bản sắc văn hóa: “Là một kiểu tổng hợp, kết hợp những phẩm chất, những giá trị văn hóa nội sinh và ngoại sinh tạo thành linh hồn, sức sống bền vững của dân tộc, có nét ưu trội đặc biệt hơn một số dân tộc khác, vừa mang tính ổn định tương đối vừa biến đổi trong quá trình lịch sử đấu tranh và xây dựng của dân tộc
đó”.[50,tr.23]
Trang 25Qua cách tiếp cận trên của các học giả Việt Nam: Bản sắc văn hóa biểu hiện các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sức sống của từng dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyền thống văn hóa Đó là các giá trị được lưu giữ qua các thời kỳ lịch sử nối tiếp từ thế hệ này qua thế hệ khác, hòa vào dòng chảy liên tục của lịch sử văn hóa các dân tộc Khi đã hình thành và trở thành truyền thống của bản sắc văn hóa mang tính bền vững và có chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vi của cá nhân và cộng đồng Song khái niệm bản sắc văn hóa không phải là sự cố định, bất biến hoặc khép kín mà nó luôn vận động và phát triển, bên cạnh sự phong phú và đa dạng, bản sắc văn hóa còn mang tính lịch sử Mọi sự vật hiện luôn tồn tại, vận động, bản sắc cũng vậy, làm thích nghi với yêu cầu của thời đại Trong tiến trình phát triển, yếu tố đặc thù phù hợp với thực tiễn sẽ được phát huy, những yếu tố bảo thủ lạc hậu sẽ
bị bài trừ
Như vậy, luận văn lựa chọn hướng tiếp cận bản sắc văn hóa theo quan điểm của tác giả Hồ Bá Thâm: Bản sắc văn hóa là một kiểu tổng hợp, kết hợp những phẩm chất, những giá trị văn hóa nội sinh và ngoại sinh tạo thành linh hồn, sức sống bền vững của dân tộc, có nét ưu trội đặc biệt hơn một số dân tộc khác, vừa mang tính ổn định tương đối vừa biến đổi trong quá trình lịch
sử đấu tranh và xây dựng của dân tộc đó Thật vậy, bản sắc văn hóa là nền tảng tạo nên linh hồn của dân tộc, là những đường nét cụ thể biểu hiện sức sống của mỗi tộc người trong tiến trình phát triển lịch sử
Nếu như văn hóa là nội dung quan trọng trong kiến trúc thượng tầng, bản sắc văn hóa luôn thể hiện nội dung bên trong có của văn hóa, đó là nét riêng phản ánh độc đáo mối liên hệ thường xuyên, phổ biến giữa cái chung (văn hóa nhân loại) với cái riêng (văn hóa dân tộc) Do đó, bản sắc văn hóa không đứng ngoài văn hóa, mà chúng luôn có mối quan hệ tác động qua lại với nhau
Trang 261.1.3 Bản sắc văn hóa dân tộc
Dân tộc nào cũng có nền văn hóa truyền thống, đó là tổng hợp những hiện tượng văn hóa xã hội bao gồm các chuẩn mực giao tiếp, các khuôn mẫu văn hóa, các tư tưởng xã hội, các phong tục tập quán, các nghi thức, v,v Được bảo tồn qua năm tháng, tạo nên nét đặc thù chỉ có trong dân tộc ấy
Từ góc độ triết học, xét trong mối quan giữa các nền văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc bao giờ cũng thể hiện tính hai mặt: Thống nhất và đa dạng
Sự thống nhất đó phản ánh những nét chung của nền văn hóa như văn hóa vùng, văn hóa quốc gia, văn hóa khu vực Tính đa dạng, phản ánh những sắc thái riêng, đặc thù của mỗi dân tộc
Xét trong sự vận động và phát triển, bản sắc văn hóa dân tộc vừa mang tính ổn định, vừa mang tính biến đổi Bản sắc văn hóa dân tộc ổn định ở quá trình hình thành và phát triển lâu dài của lịch sử dân tộc Tính biến đổi, ở chỗ bản sắc văn hóa dân tộc không phải là một thực thể cố định, mà nó luôn vận động và biến đổi không ngừng Vì thế, trong tiến trình phát triển của lịch sử, bản sắc văn hóa luôn được kế thừa những giá trị của thế hệ trước đó
Bản sắc văn hóa dân tộc là một khái niệm “động” và “mở” Trong cuốn
“Bản sắc văn hóa Việt Nam”, GS Phan Ngọc đã khẳng định: Một nền văn hóa
là một cơ thể sống, muốn cơ thể ấy có đủ sinh lực và dũng khí để tồn tại và lớn lên thì nó buộc phải thích nghi với mọi hoàn cảnh, tức là phải biến đổi bản thân và tiếp biến với các nền văn hóa bên ngoài Nếu khép kín, chắc chắn nó
sẽ xuống cấp và chết dần chết mòn Mang tính lịch sử cụ thể và vận động, bản sắc văn hóa đổi mới không ngừng trên cơ sở để xóa bỏ cái cũ, cái lạc hậu tiếp thu và phát huy những yếu tố tích cực và tiến bộ, đồng thời tạo lập các giá trị mới để đáp ứng với yêu cầu phát triển của thời đại
Nói như vậy, chúng ta có thể hiểu bản sắc văn hóa dân tộc được hình thành và phát triển phụ thuộc vào đặc điểm tộc người, điều kiện lịch sử tự nhiên, nơi cư trú, thể chế chính trị, cũng như sự giao thoa với các nền văn hóa khác
Trang 27Bản sắc văn hóa dân tộc cũng giống như bộ “gen” bảo tồn dân tộc Được thể hiện ở hệ giá trị dân tộc, ở truyền thống, bản lĩnh, tâm hồn, lối sống, tình cảm, cách nghĩ và khát vọng Đó là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức, thống nhất giữa trình độ và tư duy, tinh thần độc lập tự cường, ý chí và bản lĩnh dân tộc với các hình thức biểu hiện bên ngoài của nó, thật không nên đồng nhất bản sắc văn hóa dân tộc với một số yếu tố hình thức bên ngoài của các nền văn hóa Bản sắc văn hóa dân tộc vừa bao hàm các giá trị do dân tộc mình sáng tạo ra trong quá khứ và hiện tại, vừa bao hàm các giá trị tinh hoa của nhân loại được dân tộc tiếp nhận một cách sáng tạo
Thật vậy, không thể có nền văn hóa nào hình thành và phát triển nếu không thể hiện được tâm hồn, trí tuệ, bản lĩnh, sức sáng tạo của một dân tộc Văn hóa chỉ tồn tại và phát triển khi chứa đựng và thể hiện đầy đủ bản sắc dân tộc đã sáng tạo ra nó Mỗi dân tộc trong quá trình lựa chọn thái độ, phương thức sống và hoạt động để ứng phó với hoàn cảnh, vừa tiếp thu, tiếp biến các giá trị để nâng cao tinh thần tự chủ, tự cường tạo nên các tố chất riêng biệt của dân tộc Nó không chỉ biểu hiện bên ngoài như cung cách ứng xử, phong thái sinh hoạt, nghệ thuật kiến trúc, đền, chùa, nét đặc trưng của các làn điệu dân ca, ngôn từ các tác phẩm văn học – nghệ thuật, mà còn được biểu hiện ở cái bên trong như năng lực sáng tạo, tư duy, chiều sâu tâm hồn, truyền thống đạo lý, thế giới quan, nhân sinh quan
Bản sắc văn hóa dân tộc còn thể hiện với những khuynh hướng cơ bản trong sáng tạo của văn hóa của mỗi dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tư tưởng,v.v trong quá trình vận động và phát triển không ngừng của dân tộc ấy
Bản sắc văn hóa dân tộc hiểu một cách chung nhất – là hệ thống các giá trị đặc trưng bản chất của một nền văn hóa được xác lập, tồn tại, phát triển
Trang 28thông qua nhiều sắc thái văn hóa cụ thể khác nhau Đó là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử, những nét độc đáo của dân tộc này so với dân tộc khác
Tại Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã
chỉ ra bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam: “bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc của cộng đồng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết; tính cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng – nước; lòng nhân ái, bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý; đầu óc thực tế; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; tế nhị trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc dân tộc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo” [8, tr.23]
Sự đặc sắc trong văn hóa dân tộc Việt Nam là một nền văn hóa vừa đa dạng vừa thống nhất, là sự đan xen, tiếp xúc, biến đổi, bổ sung lẫn nhau của văn hóa các tộc người Nền văn hóa đó có được là nhờ vào sự cố kết cộng đồng 54 dân tộc anh em trong quá trình dựng nước và giữ nước đã hun đúc nên ý thức cộng đồng Tuy nhiên, mỗi vùng văn hóa nước ta, do điều kiện tự nhiên, phương thức canh tác, sự giao lưu vùng văn hóa nước ta, sự giao lưu văn hóa, tâm lý cộng đồng, nguồn gốc lịch sử mà sắc thái văn hóa riêng thể hiện ở tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán, lối sống, lối ứng xử trong các sinh hoạt xã hội và trong giao tiếp văn hóa, ở đây thể hiện tính thống nhất
và đa dạng phong phú không loại trừ nhau mà bổ sung nhau Trong quá trình giao lưu văn hóa, những yếu tố đặc trưng cốt lõi của mỗi dân tộc vẫn được giữ gìn, duy trì và phát huy nó, tạo nên những sắc thái riêng độc đáo không
bị pha trộn với các dân tộc khác Do vậy, hòa hợp các dân tộc tạo nên một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng
Trang 29Nếu như văn hóa là một bộ phận cấu thành của kiến trúc thượng tầng, bản sắc văn hóa cụ thể trong mọi mặt của đời sống xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc phản ánh của hình thái ý thức xã hội Mỗi dân tộc đều có nét văn hóa đặc trưng, thể hiện cái riêng của mình Do vậy, muốn nhận biết được bản sắc văn hóa, phải thông qua vô vàn những sắc thái khác nhau
Tóm lại, từ quan niệm của nhiều học giả khác nhau, luận văn đã lựa
chọn hướng tiếp cận về bản sắc văn hóa dân tộc theo Hội nghị lần thứ V Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII : “bao gồm những giá trị bền vững,
những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc của cộng đồng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết; tính cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng – nước; lòng nhân ái, bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý; đầu óc thực tế; đức tính cần
cù, sáng tạo trong lao động; tế nhị trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc dân tộc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo của sự phân tích các quan niệm dưới những chiều cạnh khác nhau
và đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử bản sắc văn hóa dân tộc chỉ được biểu hiện khi đặt nó trong mối quan
hệ với văn hóa các dân tộc khác Luận văn tiếp cận bản sắc văn hóa dân tộc trên tính hai mặt thống nhất và đa dạng
Bản sắc văn hóa dân tộc là các giá trị vật chất tinh thần đặc trưng tiêu biểu, cơ bản phán ánh diện mạo, phẩm chất cốt cách và bản lĩnh riêng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc mà qua đó chúng ta có thể phân biệt nền văn hóa của dân tộc này với nền văn hóa của dân tộc khác Đó là tổng thể tính chất đường nét màu sắc, biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, nhất quán
của mình trong sự phát triển
Trang 301.2 Nội dung bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnhVĩnh Phúc
1.2.1 Đặc điểm dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam
Người Sán Dìu là một dân tộc ít người trong cộng đồng hơn 54 dân tộc anh em trong cả nước, sống chủ yếu ở trung du miền núi của một số tỉnh phía bắc Việt Nam Theo nhiều nhà nghiên cứu về dân tộc học ở Việt Nam cho thấy: Dân tộc Sán Dìu là một tộc người được hình thành từ thời Nhà Minh ở Quảng Đông (Trung Quốc), di cư từ vào Việt Nam được khoảng 300 năm nay Nơi đầu tiên người Sán Dìu đến là Quảng Ninh, họ đã vượt dãy Hoàng Chúc, Cao Sơn tới Hà Cối, Tiên Yên rồi tỏa đi các nơi Một Bộ phận dọc theo
bờ biển Đầm Hà, Móng cái và các tỉnh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hải Dương Dân tộc Sán Dìu chọn nơi dịnh cư của của mình là vùng bán Sơn địa
Có nhiều ý kiến cho rằng: Từ xa xưa người Sán Dìu có nguồn gốc từ người Dao, do chia thành những nhóm nhỏ phiêu bạt nhiều nơi, một trong những nhóm đó, người Sán Dìu rất có thể sống cạnh người Hán (Phương Nam) nên dần quên tiếng mẹ đẻ của mình và tiếp thu thổ ngữ Hán Quảng Đông Thông qua truyện thơ bằng chữ Hán “Vũ Nhi”, truyền thuyết như “Vua Cóc” (Kham Suy Vong) được lưu truyền rộng rãi trong tộc người Sán Dìu Cốt truyện nhiều lần nhắc đến các địa danh như Tân Châu, Linh Sơn, Hà Nam Song truyền thuyết cũng không cho biết lai lịch của họ, ngoài các địa danh “Mãn Khê Quốc” Qua lời kể của các cụ già và gia phả của một số dòng
họ, cho thấy lịch sử người Sán Dìu vốn là một bộ tộc nhỏ bé, sinh sống ở miền Nam Trung Quốc Vào những năm cuối thời nhà Minh, đầu nhà Thanh (thế kỷ XVII), vì không chịu nổi sự đàn áp, bóc lột tàn bạo của giai cấp thống trị phong kiến, người Sán Dìu một lần nữa phải lưu tán, một bộ phận đã vượt biên giới Việt - Trung để vào Việt Nam Dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam không đông, nhưng sống xen kẽ với nhiều dân tộc khác trên khắp dải đất trung du
Trang 31bán sơn địa, năm có dân số là 126.237 người (theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê năm 2009) Từ lâu, người Sán Dìu đã tự nhận là San Déo Nhín theo âm Hán – Việt là Sơn Dao Nhân, các tộc người xung quanh cư trú bên cạnh, gọi người Sán Dìu với nhiều tên gọi khác nhau như: Trại Đất (người Trại ở nhà đất) để phân biệt với Trại Cao (tức người Cao Lan ở nhà sàn), Mán Quần Cộc, Mán Váy xẻ Năm 1960, Tổng cục Thống kê Trung ương đã chính thức sử dụng tên Sán Dìu, và từ đó Sán Dìu trở thành tên gọi chính thức được ghi trong văn bản Nhà nước Đến nay, tên Sán Dìu được sử dụng phổ biến trong toàn quốc
Mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa độc đáo, ngôn ngữ là một biểu hiện của sự độc đáo đó Do vậy, nói đến văn hóa của người Sán Dìu là nói đến các yếu tố tiếng nói, chữ viết, lối sống, trang phục, cách ứng xử với môi trường tự nhiên, các mối quan hệ xã hội, các sắc thái tâm lý, tình cảm, những phong tục tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng tôn giáo Những yếu tố này được bảo tồn qua năm tháng, trở thành thói quen trong hoạt động của mỗi người, được truyền từ đời này sang đời khác Hay nói cách khác văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần của một dân tộc, được hình thành và phát triển cùng với dân tộc đó
-Văn hóa dân tộc Sán Dìu dưới góc độ giá trị văn hóa vật chất
+ Về làng bản và Nhà ở
Khác với nơi định cư trên miền núi đá cao của dân tộc H’Mông (ở Hà Giang, dân tộc Chăm sống ở vùng ven biển miền trung, dân tộc Kinh chọn đồng bằng gần ven sông cư trú, còn người Sán Dìu chọn vùng chân núi (bán sơn địa) làm nơi ở của mình Thời kỳ trước Cách mạng tháng tám năm 1945, các khu vực cư trú của người Sán Dìu thường được sống thành trại, thôn, làng
xã, tổng, có kỳ hào cai quản Đứng đầu tổng có chánh quản, phó quản; làng
xã có lý trưởng, phó lý; thôn thì có khám trại Các chức dịch có nhiệm vụ thi
Trang 32hành mọi luật lệ của chế độ thực dân phong kiến Chính từ hình thức định canh định cư này cũng quy định nên phương thức sinh hoạt và canh tác và phong tục tập quán
Đứng trước sư tiến bộ của phương thức sản xuất kinh tế mới, xuất hiện
sự mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là điều tất yếu không thể tránh khỏi Vì thế, trong điều kiện mới quan hệ sản xuất phong kiến cần được xóa bỏ và nhường chỗ cho quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn Điều này tác động đến kiểu tổ chức xã hội của người Sán Dìu, tạo thành những bước thay đổi căn bản Họ đã cùng nhau xây dựng nông thôn mới tiến kịp với
sự phát triển chung trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Người Sán Dìu thường sống thành từng xóm nhỏ, có từ khoảng 200 –
300 hộ, hoặc có thể ít hơn, làng được thiết lập dưới những chân núi hoặc sườn đồi thấp, trên đồi bằng Người Sán Dìu ở nhà đất gần với kiểu nhà của dân tộc Kinh, sống xen kẽ với nhiều tộc người khác, đồng bào người Sán Dìu thiết kế cho mình kiểu kiến trúc nhà ở bằng nhà đất, lập bằng mái tranh hay mái lá bằng lá cọ, nhà dựa lưng vào núi hướng mặt ra cánh đồng màu mỡ, hoặc nơi gần ruộng tiện lợi cho sinh hoạt
Nhà cửa của người Sán Dìu thường làm theo quy mô nhỏ, bộ sườn kết cấu đơn giản, vì kèo thường là ba hay năm, kèo đơn nhỏ nguyên cây, xà và kèo gác lên ngoàm đầu cột, được buộc lại với nhau bằng lạt (lạt tre, nứa hay
dây rừng) Nhà thường ba gian hai chái (sam ngạn lóng xá), gian bên trong
nhô ra phía ngoài khoảng 80cm, tạo nên một cái hiên nhỏ ở gian chính giữa Mái nhà thường được lợp bằng tranh hay rơm rạ Tường nhà trái bằng đất (buộc đứng thưa rồi trát rơm trộn bùn)
+ Về công cụ lao động: người Sán Dìu rất sáng tạo trong việc chế tạo
công cụ lao động để giải quyết cho khâu canh tác trên các địa hình khác nhau:
Sử dụng cày (lày), bừa một (tan phà), bừa đôi (sồng phà), bừa bàn có 11 đến
Trang 3313 chiếc răng sắt, và dùng sức kéo của trâu bò Ngoài ra còn sử dụng cái cào
bàn (thui phà) công cụ lao động này dùng chủ yếu để trồng khoai lang, lên luống trồng ngô, trồng sắn Bên cạnh đó, còn dùng liềm để gặt hái (lèm) và Vàng (vố lèm).Công cụ không thể thiếu đối với người Sán Dìu đó là chiếc xe quệt (phong) gần giống với xe bò, nhưng xe quyệt chỉ có 2 dây kéo và ko có
lốp, dùng để kéo lúa, củi, các vật dụng đi canh tác và thu hoạch mùa màng Nhìn chung phương thức canh tác của người Sán Dìu gắn với nơi cư trú vùng bán sơn địa, chủ yếu vẫn là nông nghiệp lúa nước gần với dân tộc Kinh, bên cạnh đó cũng có nương soi, bãi, trên nương trồng lúa nếp nương, ngô, khoai sắn phục vụ nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống và chăn nuôi Trong chăn nuôi,
họ nuôi trâu, bò, lợn, gà, là chủ yếu
Công cụ lao động một trong những yếu tố quan trọng giúp cho đồng bào có thể thực hiện phương thức sản xuất tự cấp, tự túc đắp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Sự sáng tạo trong việc chế tạo ra công cụ góp phần làm phong phú thêm văn hóa của tộc người
+ Về trang phục: Trang phục của người Sán Dìu đến nay đã có sự thay
đổi nhiều Trước đây trang phục có sự phân biệt giữa ngày thường và ngày lễ Dịp tết, ngày hội hoặc đi chơi xa đối với nam giới và nữ giới trang phục là nét
đẹp của người Sán Dìu
Nam giới: Thường vận một cặp áo dài, áo trong màu xanh, áo ngoài
màu đen Kiểu áo có năm thân, cổ cao, có hò cái khuy bên phải, ống tay hẹp,
áo dài quá gối Ngày thường hay khi lao động người ta thường mặc áo ngắn
và cũng là kiểu áo năm thân, nhưng màu nâu, thân cụt, ở bên trong thân áo phải có may một túi nhỏ
Quần màu nâu hoặc trắng, cắt theo kiểu chân què, cặp lá tọa, thắt lưng màu chàm, xanh hay để nguyên màu của sồi, đũi Đàn ông để tóc dài, búi tó sau gáy, cài châm bằng xương Nai hoặc bằng bạc Đối với ngày thường họ để
Trang 34đầu trần hoặc vấn khăn đầu rìu, khi đi dự tiệc làng hoặc đám cưới thì đội khăn xếp hoặc vấn khăn nhiễu màu đen Ngày thường họ đi chân đất hoặc guốc gộc bằng gỗ, vào dịp hội hè người sang đi giày da Gia Định, còn người nghèo đi ép quai ngang, đế bằng da trâu Nam giới ít dùng đồ trang sức, chỉ
có vài cái nhẫn bằng đồng hoặc bằng bạc, đôi khi có thêm vòng cổ
Nữ giới: Đối vớí trang phục của phụ nữ phong phú hơn trang phục của
nam giới, bộ trang phục truyền thống gồm có: Khăn đội đầu, áo ngắn, váy, yếm, thắt lưng, và xà cạp Áo dài và áo ngắn cắt cùng kiểu chỉ khác nhau về
độ dài, thường mặc thành từng cặp, áo dài bên ngoài bao giờ cũng là màu chàm, còn áo bên trong có thể là màu trắng Áo dài cắt theo kiểu áo tứ thân,
cổ cao nẹp trơn, không đính khuy, bên trong đắp bằng vải màu trắng, để khi mặc lộn ra phía ngoài Cách mặc áo cũng có sự khác biệt giữa lứa tuổi người già thường mặc áo vắt sang bên phải, còn người trẻ thì ngược lại Họ dùng thắt lưng màu màu xanh, đỏ, tím, hoa lý, hoặc có hoa văn trang trí nhiều màu
Đối với phụ nữ nuôi con nhỏ thường mặc áo ngắn cắt theo kiểu áo năm thân nhưng không có khuy, chỉ đính dài để buộc Phụ nữ Sán Dìu trước đây không có yếm Đối với trang phục nữ giới ở các dân tộc có nhiều nét độc đáo, nhưng không có một một dân tộc nào có kiểu váy độc đáo như chiếc váy của phụ nữ Sán Dìu Đó là kiểu váy không khâu liền gồm hai hoặc bốn mảnh vải cùng đính trên một cạp, mảnh này chồng lên mảnh kia khoảng 10 – 15cm Nếu là váy hai mảnh có từ ba đến bốn bức can lại với nhau Khi mặc váy thì một mảnh ở phía trước, một mảnh ở phía sau, tạo thành hai khe hở dọc hai bên chân Với kiểu váy này, khiến cho người phụ nữ Sán Dìu luôn phải giữ ý
tứ trong lao động cũng như trong sản xuất và giao tiếp Chiếc váy của phụ nữ Sán Dìu không thêu thùa nhiều kiểu hoa văn xanh đỏ, đen, trắng như một số dân tộc khác mà vẫn đẹp, gọn gàng, mở từ hai vai khép lại ở thắt lưng ngang
eo bụng, tạo nên nét đẹp trong bản sắc của họ
Trang 35Nếu như phụ nữ dân tộc Nùng, Dao, Cao Lan đội khăn lệch trên đầu, thì phụ nữ Sán Dìu họ vấn tóc và đội khăn vuông màu đen, ở 4 góc khăn có trang trí hoa văn ghép vải màu và có các tua vải, khi đội người ta thường buộc
2 tua vải lên đỉnh đầu
Thường ngày phụ nữ Sán Dìu đi giày vải, dép lốp, dép nhựa và các kiểu
guốc Trong lao động hoặc đi đường còn cuốn xà cạp (Kịooc sen) bằng vải
màu trắng hoặc màu chàm Bên cạnh đó, phụ nữ sán Dìu còn sử dụng những trang sức phổ biến mang đặc trưng riêng bao gồm: Khuyên tai, vòng cổ, nhẫn,
xà tích bằng bạc Khi nói đến đồ trang sức, nổi bật là cái túi đựng trầu (loi
thoi) hình múi bưởi, được may và trang trí thêu thùa rất công phu Từng
đường kim múi chỉ được các chị em phụ nữ Sán Dìu thể hiện bằng sự khéo léo của mình có lẽ được thể hiện rõ nét nhất là ở đây Túi thêu bằng chỉ màu, luồn từ bốn đến tám sợi dây tết bằng chỉ nhiều màu Đầu day tết nút và có tua dài đeo một chuỗi xu đồng để vắt qua vai ra sau lưng giữ lấy túi trầu, ngoài ra còn phải kể đến con dao cau với cái vỏ gỗ chạm khắc rất công phu, thường được chị em phụ nữ đeo bên thắt lưng vào dịp hội hè, tết nhất Túi đựng trầu
là vật làm duyên của phụ nữ Sán Dìu
Như vậy, có thể thấy trang phục của của đồng bào dân tộc Sán Dìu nói
riêng tạo nên nét văn hóa độc đáo góp phần xây dựng nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
- Văn hóa dân tộc Sán Dìu dưới góc độ giá trị văn hóa tinh thần
+ Gia đình – dòng họ
Trước cách mạng tháng tám, gia đình người Sán Dìu không còn tồn tại kiểu tứ đại, ngũ đại đồng đường (bốn, năm đời) mà chuyển sang gia đình nhỏ phụ quyền Đối với dân tộc Kinh, vai trò của trưởng họ rất quan trọng và quyền uy trong dòng họ, thì người Sán Dìu ngược lại tộc trưởng không có uy quyền lớn trong dòng họ Tuy nhiên, khi gia đình hay dòng họ có việc gì, thì cũng mời tộc trưởng đến chủ chì và góp ý trong công việc
Trang 36Trong gia đình, người cha, người chồng có quyền định đoạt mọi việc Người con trai trưởng được tôn trọng gần ngang với người cha Chỉ có con trai mới được thừa kế tài sản của gia đình và dòng họ để lại, do ảnh hưởng bởi
tư tưởng Nho giáo và định kiến xã hội phong kiến “trọng nam, khinh nữ” con gái không được học chữ Hán, chỉ có công việc đồng áng và nội trợ, chăm sóc gia đình, nếu con gái muốn thừa kế tài sản thì của gia đình đó không có con trai, phải ở rể thì mới được thừa hưởng và thực hiện nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ vợ sau này, hôn nhân của người Sán Dìu một vợ, một chồng, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, việc dựng vợ gả chồng là do bố mẹ
Người Sán Dìu cấm kỵ trong gia đình con dâu không được ngồi cùng mâm với bố chồng hoặc anh chồng
Đối với người Sán Dìu có các dòng họ như: Lý, Trần, Trương, Từ, Lê, Lương, Diệp, Tạ, mỗi dòng họ có một hệ thống tên đệm riêng Có dòng họ 7 tên đêm, thậm chí lên tới 9 hoặc 12 tên đệm Những người cùng dòng họ không được kết hôn với nhau, họ Lý và họ Trương không kết hôn cùng nhau
+ Về ngôn ngữ
Nếu như trang phục một trong những tiêu chí quan trọng để phân biệt giữa tộc người này với tộc người kia, thì đồng bào người Sá Dìu cũng có ngôn ngữ riêng: Ngôn ngữ của đồng bào dân tộc Sán Dìu sử dụng trong nội bộ cộng đồng tộc người đó là thổ ngữ Hán, Quảng Đông (Trung Quốc) Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ Sán Dìu tác giả Vương Tiến (Viện ngôn ngữ học) thì người Sán Dìu dùng khoảng 95% chữ Hán, đọc theo âm Sán Dìu (Hán – Sán Dìu), còn lại chữ tự tạo theo chữ Hán nhưng âm ngữ thay đổi, hoặc chữ mới
âm nghĩa mới do chính người dân tộc sáng tạo ra trong quá trình phát triển tộc người Có thể coi đó là chữ Nôm Sán Dìu nên ai đã biết chữ Hán không biết tiếng Sán Dìu vẫn có thể đọc hiểu văn tự của người Sán Dìu Tuy vậy, vẫn có
Trang 37sự khác nhau giữa văn viết và văn nói, có thể người Sán Dìu biết tiếng Sán Dìu nhưng mỗi khi nghe đọc truyện nghe lời các bài cúng của thầy cúng hay đọc sách chữ Hán cũng chỉ nghe lõm bõm
Bảng 1.1: So sánh ngôn ngữ [23,tr.12]
Trang 38+ Về tín ngưỡng, tôn giáo
Quan niệm về thế giới quan của người Sán Dìu được thể hiện qua tín ngưỡng, tôn giáo
Xuất phát từ quan niệm về vũ trụ và vai trò sáng tạo của con người Người Sán Dìu rất coi trọng đời sống tâm linh các nghi lễ liên quan đến chu
kỳ đời người điều này phản ánh đời sống văn hóa tinh thần đồng bào Sán Dìu
Có thể nói, người Sán Dìu có hệ thống tín ngưỡng đa dạng và phong phú Nếu như tín ngưỡng của người H’mông mang tính sơ khai, tiền giai cấp đối với người Sán Dìu thờ cúng tổ tiên là chính Ngoài ra, đồng bào còn theo Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo và tin vào thần linh, ma quỷ Không chỉ dân tộc Sán Dìu mà nhiều dân tộc nước ta cũng bị ảnh hưởng bởi các tôn giáo trên, nhưng khi du nhập vào Việt Nam tư tưởng của các tôn giáo đã bị phong kiến hóa nhằm củng cố thêm cái quyền uy gia trưởng Ở người Sán Dìu, cũng tùy theo từng dòng họ mà ma tổ tiên được thờ từ sáu, bảy đời, cho tới mười đời, mười hai đời Nhưng khi cúng bái, cầu khẩn sự linh ứng người ta thường tính đến
đời thứ tư, nếu tính từ đời mình, tức là đời cụ của mình
Quan niệm về thế giới của người Sán Dìu khác với Kitô giáo vũ trụ không phải do Thượng đế sinh ra Với đồng bào người Sán Dìu vạn vật xung
quanh con người đều có linh hồn (vún), hồn và thể xác luôn gắn bó với nhau
Quan niệm thế giới có 3 tầng: Tầng trên là trời là thế giới của tổ tiên và các vị thần; tầng giữa là thế giới của trần gian con người ở; tầng dưới lòng đất là địa
ngục, âm phủ (im can) Bên cạnh đó, họ còn quan tâm đến sự sinh sôi nảy nở
và chu kỳ đời người trong đó có nhiều nghi lễ khác nhau Quan niệm về vũ trụ của người vũ trụ là vô cùng, vô tận
Thờ Phật Bà Quan Âm: Người làm nghề thầy cúng lập bàn thờ Phật nhưng không tụng kinh, mà chỉ cúng như các loại ma khác Bàn thờ Phật để
Trang 39một chỗ riêng, cao hơn bàn thờ tổ tiên Nếu thờ Phật phải kiêng không được mang thịt chó, thịt trâu vào nhà hoặc ăn
Thờ Tam Thanh: Ở đây đối với người làm nghề thầy cúng của người Sán Dìu nhất thiết phải có Tam Thanh đặt mội nơi riêng và cao hơn bàn thờ tổ tiên
Thờ sư tổ: Người làm nghề thầy cúng thờ ông tổ của nghề cúng bái, tức người dạy làm thầy Bàn thờ đó được đặt ngang hàng với ma tổ tiên và ông Táo
Bàn thờ mụ, thương thì bàn thờ này được đặt trong buồng các bà mẹ,
để mụ bảo hộ trẻ con lúc sài, đẹn, đau yếu Đồng bào người Sán Dìu tin nếu khi đứa trẻ gặp điều gì bất trắc thì bà mụ sẽ phù hộ cho đứa trẻ đó
Ngoài ra, người Sán Dìu còn thờ thổ thần, Thành hoàng làng ở đình Ở một số nơi, người Sán Dìu còn “nhân hóa” một hòn đá để ký gửi cho con mình, cho rằng hòn đá đó bảo hộ, đồng thời còn coi hòn đá đó là bố mẹ nuôi, người ta chọn một hòn đá có hình thù đặc biệt, hay do thầy cúng chỉ định rồi làm lễ cúng gửi đứa trẻ vào đó, đứa bé nhận hòn đá đó làm “bố nuôi” Hàng năm vào dịp lễ tết gia đình phải sắm sửa lễ vật cúng “bố nuôi” để được được phù hộ luôn mạnh khỏe, chóng lớn, cho đến khi thực sự trưởng thành gia đình làm lễ tạ “Bố nuôi” được gọi là “cởi khóa” và sau đó thay tên cho đứa trẻ
Người Sán Dìu thực hiện nhiều nghi lễ như: Lễ thượng điền, hạ điền và tết cơm mới, thờ Táo quân “vua bếp” và thờ ma giữ cửa để bảo vệ không cho
ma dữ vào trong nhà Họ còn thờ ma để bảo vệ gia súc, chuồng gà, chuồng lợn
Có thể nói, về thế giới thần linh, quan niệm về ma (cúi) của người Sán
Dìu là sự bình đẳng giữa thần, thánh, ma quỷ là một Đối với đồng bào người Sán Dìu “ma” bao hàm nghĩa rộng nhằm chỉ tất cả thần thánh, trời đất, ma dưới nước, ma trên trời, ma trên mặt đất Trong đó đồng bào còn quan niệm
có “ma dữ” (thôc cúi) và “ma lành” (hén cúi), “ma lành” thường bảo vệ mùa
màng gia súc, giúp con người thoát khỏi con ma khác Tuy nhiên, “ma lành” cũng cần phải được thờ phụng chu đáo, nếu không “ma lành” sẽ trừng phạt
Trang 40con người “Ma dữ” thường tìm đủ cách hại con người, đó là ma rừng, ma sấm sét, ma những người chết bất đắc kỳ tử, họ thường quan niệm ở đâu cũng
có ma, ma quanh quẩn bên người, nên bất cứ một sự việc gì xảy đến với con người mà người ta không thể giải thích được nguyên nhân, thì họ tin là do ma làm, đối với người Sán Dìu, “ma lành” được thờ trong nhà, ma khác thì chỉ cúng mà không thờ Ở đây đồng bào vẫn giữ được tín ngưỡng nguyên thủy, tin là có ma thuật ăn sâu vào tiềm thức của họ, và tin rằng những người cùng dòng họ không thể hại nhau bằng ma thuật, vì làm thế trái với đạo lý, nên không linh nghiệm, do đó ma thuật chỉ dùng để báo thù những người khác họ
và khác thân tộc Cũng vì sợ hãi nên đồng bào tin rằng có ma người sống
(slang nhín cúi) Vì một lý do nếu ai đó bị ốm đau hoặc ngẫu nhiên gặp một
số “chuyện lạ” họ đều gắn cho ma làm Đặc biệt đối với phụ nữ đang ở cữ và
gia súc mới đẻ người ta tin rằng có loại ma sống thích tanh hôi, hút máu Những người ma sống này thường bị xa lánh, sợ hãi và căm ghét Người Sán Dìu tin còn có ma thuật chữa bệnh bằng cách niệm chú, loại này thường để chữa lành những vết thương của gia súc Ngoài ra họ cũng tin có ma thuật tình yêu, song ít người biết làm, vì người ta coi đó là việc làm không tốt
Ở người Sán Dìu có các trò chơi dân gian, tri thức dân gian và thơ ca: Đối với mỗi dân tộc đều có nét văn hóa truyền thống đặc sắc, với người Sán Dìu văn hóa dân gian đã có từ lâu đời được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác với nhiều thể loại
Về dân ca và hát dân ca: Có một số làn điệu hát đối đáp giao duyên
giữa nam và nữ, họ sử dụng nhạc khí bằng tù và “ngọc coi” (bằng sừng trâu,
vỏ ốc), sáo, thanh la, não bạt, trống da Bên cạnh đó, có một số điệu nhảy mà
chủ yếu dành cho tang ma, cúng bái như: Múa gậy (lại thẹt sóng), múa dâng đèn (bỉn tanh), múa hành quang tiếp thành (hang coong chép sệnh), múa chạy đàn (kết lạy than)