Giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít người ở tỉnh Đăk Lăk - Thực trạng và giải pháp
Trang 1Giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc
ít ngời ở tỉnh đắk lắk - thực trạng và giải pháp
Hà Nội – 2010
Giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc
Trang 2ít ngời ở tỉnh đắk lắk - thực trạng và giải pháp
Hà Nội – 2010
Trang 3Mục lục
Trang
Chơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục
pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc miền núi của nớc ta hiện nay
2.1 Đặc điểm điều kiện chính trị - kinh tế - xã hội và ảnh hởng
của nó đến giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít
Trang 4Mở ĐầU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới ở nớc ta do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi ớng và lãnh đạo trong 15 năm qua "đã đạt đợc những thành tựu quantrọng", tạo tiền đề vững chắc đa đất nớc ta bớc vào một thời kỳ mới - thời
x-kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc Thực tiễn đổi mới đấtnớc đã chỉ rõ mối quan hệ biện chứng rằng: phát triển nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị tr ờng có sự quản lý củaNhà nớc đòi hỏi tất yếu phải xây dựng và hoàn thiện Nhà nớc pháp quyềncủa dân, do dân và vì dân Nhà nớc quản lý các lĩnh vực của đời sống xãhội bằng pháp luật, phát huy dân chủ và không ngừng tăng cờng pháp chếxã hội chủ nghĩa (XHCN) là phơng thức không chỉ là để xây dựng hoànthiện Nhà nớc pháp quyền mà còn là phơng thức phổ biến, chủ yếu để nhànớc quản lý xã hội có hiệu lực, hiệu quả Vì vậy "Đẩy mạnh cải cách tổchức và hoạt động của Nhà nớc, phát huy dân chủ, tăng cờng pháp chế" đãtrở thành một trong mời nội dung lớn trong Báo cáo chính trị của Ban chấphành Trung ơng khóa VIII trình Đại hội Đảng lần thứ IX Tăng c ờng phápchế XHCN là một nguyên tắc hiến định thể hiện trong Hiến pháp của Nhànớc ta Để thiết lập một nền pháp chế thống nhất và vững chắc trên phạm
vi cả nớc; để thiết lập trật tự pháp luật, kỷ cơng phép nớc đợc nghiêm minh,dân chủ và công bằng, có rất nhiều con đờng với nhiều giải pháp phongphú Trong đó, phải kể đến giải pháp trớc mắt và lâu dài đảm bảo việc thựchiện pháp luật trở thành lối sống, thói quen của Nhà n ớc và nhân dân - đó
là đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục pháp luật (GDPL), nâng cao ý thức phápluật cho nhân dân Chính vì vậy, Chính phủ đã ra Chỉ thị số 02/CT-TTgnăm 1998 và Quyết định số 03/QĐ-TTg ngày 7/1/1998 về việc ban hành
kế hoạch triển khai công tác phổ biến GDPL Trong Báo cáo của Chínhphủ do Thủ tớng Phan Văn Khải trình bày tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa
X ngày 20/11/2001 nêu rõ:
Trang 5Trong xã hội, việc tạo lập nếp sống và làm việc theo phápluật phải đợc đặt thành một yêu cầu cơ bản và cấp bách của đờisống văn hóa ở các gia đình, các cụm dân c, các đơn vị cơ sở vàphải coi đó là sự nghiệp của toàn dân, đòi hỏi nỗ lực của toàn bộ
hệ thống chính trị trong việc phổ biến tuyên truyền pháp luật, đẩymạnh đấu tranh chống các hành vi trái pháp luật, xử lý nghiêmminh các vi phạm [8, tr 2]
Với nhận thức trên có thể khẳng định rằng: nếu sự nghiệp giáo dục
là quốc sách hàng đầu thì GDPL có vị trí đặc biệt quan trọng ở nớc ta hiệnnay Với lôgic ấy, để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị số22-NQ/TW, ngày 27/11/1989 về một số chủ trơng, chính sách lớn phát triểnkinh tế xã hội miền núi, trong đó có Tây Nguyên "với vị trí chiến lợc và uthế về đất đai tài nguyên, xây dựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, vững mạnh
về quốc phòng an ninh, tiến tới có vùng kinh tế động lực" (nh Chiến lợcphát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 đã xác định) Nhà nớc ta phải tăng c-ờng GDPL cho nhân dân các dân tộc ít ngời ở Tây Nguyên nói chung và ở
Đăk Lăk nói riêng theo quy định của Điều 36 Hiến pháp 1992: " Nhà nớcthực hiện chính sách u tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, cácvùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn"
Thực tiễn vừa qua, công tác GDPL cho nhân dân ở tỉnh Đăk Lăk cha
đáp ứng đợc yêu cầu của sự nghiệp đổi mới ý thức pháp luật và tình hìnhthực hiện pháp luật của một bộ phận không nhỏ cán bộ và nhân dân nóichung còn rất hạn chế nhất là những vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều nhândân các dân tộc ít ngời đang sinh sống Các điều kiện để tiếp nhận thông tinpháp lý nhất là các văn bản pháp luật của Nhà nớc đối với đồng bào dân tộcvùng sâu, vùng xa bị hạn chế so với nhân dân ở thành thị và nông thôn đồng
bằng Vì vậy, hệ thống luật tục (cả tích cực và lạc hậu) của ngời dân tộc
vốn đã đợc các buôn làng sử dụng từ xa đến nay càng có điều kiện chi phối,
điều chỉnh các quan hệ xã hội ở buôn làng Bối cảnh đó càng cho thấy việc
Trang 6tuyên truyền và GDPL Nhà nớc, đa pháp luật vào cuộc sống ở đây là vấn đềlớn đòi hỏi cần đợc đáp ứng kịp thời
Trong thời gian gần đây ở các tỉnh Tây Nguyên nói chung và ĐăkLăk nói riêng có những vấn đề chính trị phức tạp và nhạy cảm Để đảm bảo
sự ổn định và phát triển bền vững cho vùng Tây Nguyên, Nhà nớc ta phải có
kế hoạch, chính sách đồng bộ, nhiều giải pháp thiết thực hữu hiệu, trong đócông tác GDPL cần đợc coi trọng ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng củagiai đoạn mới
Với những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: " Giỏo dục phỏp luật cho nhõn dõn cỏc dõn tộc ớt người ở tỉnh Đăk Lăk - Thực trạng và giải phỏp " là rất cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn thiết thực.
2 Tình hình và phạm vi nghiên cứu của luận văn
2.1 Tình hình nghiên cứu
GDPL với t cách là một phạm trù pháp lý là một dạng hoạt động củaNhà nớc trong tổ chức thực hiện pháp luật, biện pháp tăng cờng pháp chế,vấn đề này đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cơ quan và cácnhà khoa học từ trớc đến nay đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới đất nớc, đổimới xây dựng và hoàn thiện Nhà nớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân
+ Các công trình nghiên cứu ở ngoài nớc nh:
- "Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cờng pháp chế xã hội chủ
nghĩa", Luận án tiến sĩ luật của Trần Ngọc Đờng.
- "ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và GDPL cho nhân dân lao
động ở Việt Nam", Luận án phó tiến sĩ luật của Nguyễn Đình Lộc.
+ ở trong nớc việc nghiên cứu GDPL đợc nhiều tác giả đề cập đếnnhững khía cạnh và mức độ khác nhau, thể hiện trong các công trình nghiêncứu, bài viết đăng trên các báo, tạp chí và GDPL đã là đề tài của nhiều luận
án, luận văn luật học, các công trình nghiên cứu đó có thể kể đến nh:
- "Giáo dục pháp luật cho nhân dân" của tác giả Nguyễn Ngọc
Minh (Tạp chí Cộng sản, số 10, tr.34-38, năm 1983)
Trang 7- "Giáo dục ý thức pháp luật để tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa và xây dựng con ngời mới" của Phùng Văn Tửu (Tạp chí Giáo dục lý
luật thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn chủ trì) ;
- "Một số vấn đề lý luận và thực tiến trong công cuộc đổi mới", đề
tài khoa học cấp Bộ, mã số 92-98, 223 ĐT của Viện Nghiên cứu Khoa họcpháp lý - của Bộ t pháp;
- "Tìm kiếm mô hình phổ biến giáo dục pháp luật có hiệu quả trong một số dân tộc ít ngời", đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Nghiên cứu Khoa
học pháp lý;
- "Giáo dục pháp luật trong các trờng Đại học, trung học chuyên
nghiệp và dạy nghề không chuyên luật ở nớc ta hiện nay", Luận án Phó tiến
sĩ của Đinh Xuân Thắng;
- "Giáo dục pháp luật qua hoạt động t pháp ở Việt Nam", Luận án
phó tiến sĩ của Dơng Thị Thanh Mai;
- "Giáo dục pháp luật cho dân tộc Khơme Nam Bộ (qua thực tiễn
An Giang)", Luận văn thạc sĩ của Lê Văn Bền;
- "Bàn về giáo dục pháp luật" của phó tiến sĩ Trần Ngọc Đờng -
D-ơng Thị Thanh Mai, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995
- "Một số vấn đề về phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn
hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Đặng Ngọc Hoàng.
+ Một số bài viết của các tác giả đã đăng trên Tạp chí thời gian gần
đây:
Trang 8- "Nhìn lại một năm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Gia
Lai" của Trần Xuân Thiệp, (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 2/2000).
- "Xã hội hóa công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong tình hình
mới" của Hồ Viết Hiệp (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 9/2000).
- "Xây dựng lối sống theo pháp luật và vấn đề giáo dục pháp luật
trong nhà trờng", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 11/2001, v.v
Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học của tập thể và cánhân, các bài viết từ trớc đến nay về GDPL đã có những đóng góp quantrọng về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, có thể nói rằng cho đến nay cha cómột công trình luận án, luận văn nào nghiên cứu về GDPL cho nhân dâncác dân tộc ít ngời tại tỉnh Đăk Lăk Với tính cách là một xã hội thu nhỏcủa nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống ở miền núi trong giai đoạn hiệnnay cần phải chú trọng đúng mức và cấp thiết của việc GDPL và coi đây lànhiệm vụ chính trị quan trọng để góp phần vào việc ổn định tình hình vàphát triển kinh tế - xã hội ở một tỉnh miền núi nh Đăk Lăk
2.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Luận văn nghiên cứu vấn đề GDPL cho đồng báo các dân tộc ítngời trong tỉnh Đăk Lăk nói chung, đặc biệt là nhân dân các dân tộc Êđê vàM'nông
- Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu kể từ khi có đờng lối đổimới của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đến nay
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Nghiên cứu thực trạng, đề xuất những giải pháp nhằm tăng cờnggiáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít ngời ở tỉnh Đăk Lăk
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
Trang 9Một là: Phân tích làm rõ cơ sở lý luận GDPL cho nhân dân các dân
4 Phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu
Luận văn đợc xây dựng trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩaMác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và pháp luật Nhà n-
ớc ta về GDPL nói chung và cho nhân dân các dân tộc ít ngời nói riêng
- Luận văn sử dụng các phơng pháp nghiên cứu cụ thể nh: phơngpháp lịch sử - cụ thể, phân tích tổng hợp, thống kê so sánh, điều tra xã hộihọc v.v
5 Những đóng góp mới của luận văn
- Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên, nghiên cứu tơng đối có hệthống những vấn đề lý luận về GDPL cho nhân dân các dân tộc ít ngời ởmột địa phơng miền núi
- Phân tích đánh giá thực trạng GDPL, đồng thời rút ra những kinhnghiệm về GDPL cho nhân dân các dân tộc ít ngời tại Đăk Lăk
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và tăng cờnggiáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít ngời ở Đăk Lăk
6 ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần vào việc nhận thức rõ tính đặc thù và thựctrạng GDPL hiện nay cho ngời dân tộc tại tỉnh Đăk Lăk, từ đó nâng caonhận thức, trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức hoạt động thực tiễn của các cơ quan
Đảng và nhà nớc trong việc GDPL đối với ngời dân tộc thiểu số tại tỉnh
Đăk Lăk
Trang 10- Các giải pháp đợc đề ra trong luận văn có thể đợc áp dụng trongviệc xây dựng chơng trình GDPL và thực tiễn GDPL cho đồng bào dân tộcthiểu số nói chung và ngời dân tộc tại tỉnh Đăk Lăk nói riêng.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy tại các ờng, lớp, trung tâm đào tạo, bồi dỡng cán bộ pháp lý cho vùng dân tộc thiểu
tr-số nói chung và ngời dân tộc tại tỉnh Đăk Lăk nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo luận văn
đợc chia thành ba chơng, 7 tiết
Trang 11Chơng 1
Những Vấn Đề Lý Luận CƠ Bản Về Giáo Dục Pháp Luật nói chung Và Giáo Dục Pháp Luật CHO NHÂN DÂN Các DÂN Tộc Miền Núi Của Nớc TA Hiện NAY
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục pháp luật
1.1.1 Khái niệm giáo dục pháp luật
GDPL là vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trongkhoa học giáo dục cũng nh trong sự nghiệp giáo dục ở nớc ta Khái niệmGDPL thờng đợc quan niệm là một dạng hoạt động gắn liền với việc triểnkhai thực hiện pháp luật cũng nh trong hoạt động thực tiễn áp dụng phápluật Với t cách là một dạng giáo dục thì GDPL ở nớc ta hình thành và thựchiện muộn hơn so với giáo dục chính trị, và giáo dục đạo đức Với t cách làmột khái niệm pháp lý - GDPL đợc hình thành trong khoa học pháp lý cũng
nh đợc tiến hành trong thực tế ở nớc ta rất muộn mằn so với nhiều nớc trênthế giới Chính vì vậy, quan niệm về GDPL ở nớc ta vẫn còn có nhiều ýkiến khác nhau, đó là lẽ bình thờng Song để có một cách nhìn nhận đúng
đắn khoa học về GDPL, trớc hết cần xem xét một số các quan niệm vềGDPL cơ bản sau đây:
- Quan niệm thứ nhất cho rằng: GDPL là một bộ phận của giáo dục
chính trị t tởng, đạo đức Theo quan niệm này khi tiến hành giáo dục chínhtrị t tởng, các quan điểm, đờng lối, chủ trơng của Đảng cho nhân dân thì tự
nó sẽ hình thành nên ý thức pháp luật Điều đó có ý nghĩa làm tốt công tácgiáo dục chính trị t tởng, giáo dục đạo đức sẽ đạt đợc sự tôn trọng pháp luậtcủa công dân Hay nói cách khác sự hình thành ý thức pháp luật là hệ quảtất yếu của việc giáo dục chính trị t tởng hay giáo dục đạo đức
- Quan niệm thứ hai: Xem GDPL chỉ đơn thuần là hoạt động phổ
biến tuyên truyền, giải thích pháp luật thông qua các phơng tiện thông tin
đại chúng nh đài phát thanh, truyền hình và sách báo Chỉ cần làm tốt công
Trang 12tác thông tin tuyên truyền pháp luật nh vậy là có thể làm tốt công tácGDPL.
- Quan niệm thứ ba cho rằng: GDPL là lấy "trừng trị" để giáo dục
ng-ời vi phạm và răn đe giáo dục ngng-ời khác Thông qua việc xử lý những hành
vi vi phạm pháp luật nh áp dụng hình phạt đối với ngời phạm tội, xử phạt viphạm hành chính hay áp dụng các chế độ trách nhiệm dân sự sẽ có tác dụngGDPL cho mọi ngời; không cần phải tuyên truyền hay giải thích pháp luật
- Quan niệm thứ t: đồng nghĩa GDPL với dạy và học pháp luật ở các
trờng học, còn việc tuyên truyền phổ biến pháp luật ở ngoài xã hội thìkhông phải là GDPL
Tất cả các quan niệm trên, mặc dù ở những góc độ khác nhau nhng
đều có sự nhìn nhận GDPL ở những khía cạnh và mức độ hợp lý nhất định.Song ở các quan niệm đó đều bộc lộ ít nhiều sự phiến diện, hoặc đơn giản
đến mức tầm thờng hóa vai trò của GDPL; cha thấy đợc đặc thù và giá trịvốn có của GDPL Vì vậy, những quan niệm đó đã hạ thấp vai trò, vị trí xãhội của GDPL Mặt khác trong thực tiễn các quan niệm trên đây đã khôngtạo ra khả năng hoặc thậm chí cản trở việc triển khai hoạt động có tổ chứccũng nh quy mô việc thực hiện pháp luật; làm cho hiệu lực, hiệu quả củapháp luật trong thực tế không cao Nhận định trên thể hiện trong quan niệmthứ nhất; việc hình thành nên ý thức pháp luật của con ngời đợc xem nh làsản phẩm của quá trình giáo dục chính trị t tởng hay giáo dục đạo đức Nếuquan niệm nh vậy thì vấn đề GDPL sẽ không đợc coi trọng đúng mức, dovậy không đợc đặt ra nh một hoạt động độc lập Chính quan niệm này trongthực tiễn đã gây ra một hậu quả tai hại kéo dài trong nhiều năm ở nớc ta dẫn
đến không có nội dung, chơng trình GDPL; pháp luật không đến với ngờidân nên ý thức pháp luật trong xã hội thấp kém
Quan niệm thứ hai coi GDPL thực chất là những đợt tuyên truyền,
cổ động không mang tính thờng xuyên, liên tục với nội dung, chơng trình
cụ thể mà theo mùa vụ, mỗi khi có văn bản pháp luật mới đợc ban hành Vídụ: Khi sửa đổi Hiến pháp, sửa đổi bổ sung Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự
Trang 13v.v thì tổ chức tuyên truyền theo đợt Quan niệm GDPL nh vậy là phiếndiện, thiếu đồng bộ và liên tục nên hiệu quả giáo dục không cao.
Các quan niệm thứ ba, thứ t cũng đều bộc lộ những khiếm khuyết,phiến diện nên trong thực tiễn đã không tạo ra khả năng triển khai hoạt
động GDPL một cách rộng rãi Sự nhận thức không đầy đủ về GDPL nênkhó có thể khái quát đợc nội hàm của khái niệm này
Để có quan niệm đúng đắn về GDPL, con đờng duy nhất cần tiếpcận là những thành tựu của khoa học giáo dục học Giáo dục là một hiện t-ợng xã hội và chỉ có trong xã hội loài ngời thể hiện nền văn minh nhân loại.Giáo dục luôn luôn là nhu cầu của xã hội, nó có vai trò tác động trở lại xãhội Vì thế mà các nhà nớc của giai cấp cầm quyền để bảo vệ quyền lợi củamình đều thông qua giáo dục Trong khoa học s phạm, giáo dục đợc hiểutheo hai nghĩa đó là nghĩa rộng và nghĩa hẹp
- Theo nghĩa rộng: giáo dục là sự ảnh hởng, tác động của những
điều kiện khách quan (nh chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, môi ờng sống ) và của cả những nhân tố chủ quan (tác động tự giác, có chủ
tr-định và tr-định hớng của nhân tố con ngời) nhằm hình thành những phẩmchất, kỹ năng nhất định của đối tợng giáo dục
- Theo nghĩa hẹp: giáo dục là quá trình tác động định hớng của nhân
tố chủ quan lên khách thể giáo dục, nhằm truyền bá những kinh nghiệm
đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, xã hội và t duy, để họ có
đầy đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội
Trong quá trình hoạt động thực tiễn, các nhà lý luận cũng đã thừanhận những yếu tố ảnh hởng của các điều kiện khách quan tác động đến sựhình thành ý thức cá nhân của con ngời Song các nhà lý luận khoa học sphạm đã nhấn mạnh đến yếu tố tác động hàng đầu cực kỳ quan trọng vàthậm chí quyết định của nhân tố chủ quan trong giáo dục Vì vậy khái niệmgiáo dục hiện nay chúng ta thờng đợc hiểu theo nghĩa hẹp
Trang 14Nh vậy quan niệm về giáo dục theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp nh trênthì GDPL trớc hết cũng là một hoạt động mang đầy đủ những tính chấtchung của giáo dục nhng nó có những đặc điểm riêng biệt, phạm vi riêng cảnội dung, hình thức và phơng pháp riêng biệt Theo cả nghĩa rộng và nghĩahẹp của giáo dục, GDPL đợc hiểu một cách khái quát nhất: con ngời với tcách là một thực thể xã hội là một khách thể (hay đối tợng) chịu ảnh hởng
và sự tác động của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để hìnhthành lên ý thức tình cảm và hành vi pháp luật
Thực tế hiện nay theo quan điểm chung của các nhà khoa học pháp
lý đều xuất phát từ nghĩa hẹp của giáo dục Vận dụng khái niệm giáo dụctheo nghĩa hẹp, các nhà khoa học đã xây dựng khái niệm GDPL bởi cácyếu tố sau đây:
- Thứ nhất: Sự hình thành ý thức của con ngời là một quá trình chịu
ảnh hởng và sự tác động của các điều kiện khách quan lẫn các nhân tố chủquan Các Mác viết: "Con ngời vốn là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục
Và do đó con ngời đã biến đổi là sản phẩm của những hoàn cảnh khác vàcủa một nền giáo dục đã thay đổi" [37, tr 10]
Khi nghiên cứu sự tác động ảnh hởng lên ý thức con ngời thì cácnhà lý luận giáo dục đã phân biệt điều kiện khách quan và chủ quan Điềukiện khách quan là những yếu tố ảnh hởng hình thành lên ý thức con ngời,nhân tố chủ quan là nhân tố tác động có chủ đích, có định hớng, có nộidung và phạm vi nhất định Yếu tố ảnh hởng khách quan có thể tự phát, thụ
động, có thể tự phát theo chiều nay hay chiều khác không có chủ đích trớc.Vậy theo nghĩa hẹp của giáo dục có thể vận dụng vào quan niệm GDPL đó
là sự tác động có định hớng của nhân tố chủ quan bằng việc xác định nộidung, chơng trình pháp luật cần đa vào kế hoạch giáo dục cho công dân
- Thứ hai: Từ nghĩa hẹp của khái niệm giáo dục trong khoa học s
phạm để xây dựng khái niệm GDPL chúng ta nhận thức đợc mối quan hệgiữa "cái chung" và "cái riêng", "cái đặc thù", "trong mối quan hệ với giáodục nói chung là "cái chung" "cái phổ biến" "cái riêng" vừa phải mang
Trang 15những đặc điểm chung vừa phải mang tính thể hiện những nét đặc thù GDPL
là "cái riêng" cái đặc thù trong mối quan hệ với giáo dục là "cái chung", "cáiphổ biến"
Tính đặc thù của GDPL so với các hoạt động giáo dục khác ở một
số điểm sau đây:
- Về mục đích GDPL: Hoạt động GDPL mang tính định hớng,nhằm nâng cao ý thức pháp luật, hình thành tình cảm lòng tin và sự tôntrọng đối với pháp luật của Nhà nớc từ đó tự giác xử sự phù hợp với phápluật hiện hành
- Về nội dung, GDPL có nội dung cơ bản riêng biệt, những tri thứccủa nhân loại về Nhà nớc và pháp luật cũng nh nội dung của các văn bảnpháp luật thực định sẽ đợc truyền tải đến khách thể (hoặc đối tợng) mộtcách thiết thực và có hiệu quả Việc xác định đúng nội dung pháp luật đểtruyền tải cho đối tợng nhất định nào có ý nghĩa quan trọng và quyết định
đến hiệu quả của GDPL
- Về chủ thể, đối tợng, hình thức, phơng pháp GDPL: Hoạt động này
là một quá trình thờng xuyên, liên tục và lâu dài chứ không phải là tác độngtheo sự tác động phong trào, theo thời vụ của chủ thể giáo dục lên đối tợngGDPL Cần phải có sự kết hợp đồng bộ giữa gia đình, nhà trờng và xã hộicủa các cấp, các ngành cần quan tâm đúng mức cho hoạt động GDPL NgờiGDPL (chủ thể) phải là ngời có kiến thức pháp luật, có năng lực thực tiễntruyền thụ kiến thức, đợc tiếp nhận đầy đủ các thông tin pháp lý để truyềntải những kiến thức pháp lý cho ngời đợc giáo dục (đối tợng) và chủ thểphải luôn luôn là ngời gơng mẫu trong chấp hành pháp luật để đối tợng noigơng
Hình thức và phơng pháp GDPL cần phải phù hợp với từng đối tợng.Chủ thể phải lựa chọn cách thức, phơng pháp cho phù hợp để mang lại hiệuquả cao trong GDPL Hình thức có thể đơn giản, từ thấp đến cao hay trựcquan, trừu tợng cũng là yếu tố góp phần quyết định đến hiệu quả củaGDPL
Trang 16- Thứ ba: Quan niệm GDPL vận dụng từ nghĩa hẹp của giáo dục có
ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt 2 phạm trù: GDPL và phạm trù ýthức pháp luật Hai phạm trù này có mối quan hệ với nhau mật thiết nhngkhông đồng nhất với nhau
Hoạt động GDPL là sự tác động của nhân tố chủ quan mà trớc hết làhoạt động có định hớng, có tổ chức, có chủ định về kế hoạch về nội dung,chơng trình, còn sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩm, là kết quả củacác ảnh hởng của điều kiện khách quan là sự tác động của nhân tố chủquan, nhng nhân tố chủ quan này lại có vai trò chủ đạo và quyết định đến sựhình thành ý thức pháp luật Sự phân biệt này có ý nghĩa thực tiễn vô cùngquan trọng trong điều kiện đổi mới ở nớc ta hiện nay Trong xã hội tanhững yếu tố khách quan mang tính tiêu cực trong cơ chế thị trờng; đó làtham ô, hối lộ, lối sống không lành mạnh đang tác động đến nhận thức,tình cảm, lòng tin vào pháp luật,đi ngợc lại mục tiêu của một nền pháp chếXHCN Mặt tiêu cực đó, trong xã hội đòi hỏi chúng ta phải quan tâm hơn
đến nhân tố chủ quan nhằm tác động định hớng trong quá trình hình thànhnên ý thức pháp luật cho công dân Trong điều kiện hiện nay ở nớc ta việctrang bị tri thức pháp luật, bồi dỡng tình cảm và thói quen tuân theo phápluật của nhân dân lao động là trách nhiệm của các cơ quan nhà nớc, đặc biệt
là các cơ quan nhà nớc trực tiếp bảo vệ pháp luật, các cơ quan nhà nớckhác, các tổ chức xã hội ở các cấp, các ngành trong đó trớc hết thuộc vềcơ quan có chức năng giáo dục đào tạo con ngời Con ngời trong xã hội cầnphải đợc tổ chức đợc định hớng GDPL cho hoạt động của họ; nếu không sẽkhông hình thành ý thức pháp luật tích cực ở cá nhân con ngời trong xã hội
Tóm lại: Từ phân tích nh trên có thể định nghĩa GDPL nh sau:
GDPL là hoạt động có định hớng, có tổ chức, có chủ định của chủ thểGDPL để cung cấp tri thức pháp luật, bồi dỡng tình cảm và hành vi hợppháp cho đối tợng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ ý thức phápluật đúng đắn và thói quen hành động phù hợp với các quy định pháp luật
và đòi hỏi của nền pháp chế XHCN
Trang 171.1.2 Mục đích của giáo dục pháp luật
Khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào đó thì chúng ta phải xác
định mục đích để làm gì ? cần đạt đợc mục đích ấy bằng con đờng nào ? tức
là phải lựa chọn hình thức và phơng pháp nhất định Xác định đúng đắnmục đích của GDPL chẳng những là căn cứ, tiêu chí để đánh giá hiệu quả
mà còn là căn cứ để xây dựng nội dung GDPL phù hợp với đối tợng đợcgiáo dục Mục đích của GDPL khác với mục đích của các dạng giáo dụckhác
Mục đích của GDPL trong điều kiện hiện nay cần xác định cụ thể ởnhững vấn đề sau đây:
- Một là: Từng bớc nâng cao nhận thức về pháp luật cho công dân.
Nâng cao nhận thức, mở rộng sự hiểu biết của con ngời trên các lĩnhvực là một yêu cầu khách quan của công tác giáo dục nói chung TrongGDPL thì mục đích đợc đặt ra là không ngừng nâng cao nhận thức pháp lýcho đối tợng đợc GDPL để họ có kiến thức vững vàng nắm bắt đợc nhữngtri thức về Nhà nớc về pháp luật và đặc biệt là pháp luật thực định Trong
điều kiện ở nớc ta hiện nay, thực tế cho thấy rằng Đảng và Nhà nớc ta đặcbiệt quan tâm đến việc nâng cao dân trí nhất là dân trí pháp lý Tuy nhiên
do đặc điểm và điều kiện ở một số vùng sâu, vùng xa nên nhân dân các dântộc ít ngời có hạn chế về hiểu biết pháp luật Vì thế việc xác định đúng đắnmục đích GDPL có ý nghĩa thực tiễn đặc biệt quan trọng Chỉ có thể GDPL,nâng cao nhận thức pháp lý làm cho mọi ngời hiểu một cách đầy đủ và
đúng đắn về giá trị xã hội và vai trò điều chỉnh của pháp luật từ đó hìnhthành tâm lý, tình cảm và thái độ tôn trọng pháp luật, tin tởng vào pháp luật
và điều chỉnh hành vi xử sự của mình Khi mà mọi thành viên trong xã hội
đã đạt đến một ý thức "Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật" thì
đó là mục đích cao nhất và đó là hệ quả của quá trình GDPL
- Hai là: Hình thành tình cảm pháp lý và niềm tin nội tâm đối với
pháp luật Việc nâng cao trình độ kiến thức pháp lý là mục đích đầu tiên vôcùng quan trọng nhng bản thân nó cha phải là sự quyết định đến hành vi xử
Trang 18sự hợp pháp Nếu đã có kiến thức pháp luật, nhng trong mỗi con ngời cầnphải có tình cảm pháp lý, nghĩa là có thái độ tôn trọng pháp luật và tin t ởngvào sự công bằng của pháp luật từ đó mới tạo ra khả năng điều chỉnh hành
vi hợp pháp của mình Thiếu tình cảm và niềm tin vào pháp luật thì mọihành động dễ bị chệch hớng khỏi chuẩn mực pháp lý vì những mục đích,
động cơ cá nhân Thực tế cho thấy nếu một ngời có sự hiểu biết pháp luật,
có tình cảm và lòng tin vào pháp luật thì họ sẽ tin theo những quy định củapháp luật Tuy nhiên để có đợc tình cảm và lòng tin vào pháp luật thì cầnphải giáo dục tình cảm, lòng tin và sự công bằng, trách nhiệm, nghĩa vụ củacông dân, thái độ không khoan nhợng với kẻ thù Tất cả những vấn đề đó sẽ
động (chủ quan và khách quan) để hình thành nên hành vi và thói quen xử
sự theo pháp luật trong đó hoạt động GDPL là yếu tố cơ bản Bởi lẽ thôngqua GDPL sẽ cung cấp tri thức pháp luật, lòng tin sâu sắc vào sự cần thiếtvào sự tuân theo một cách tự nguyện những quy định của pháp luật Để đạt
đợc mục đích này trong quá trình GDPL phải lựa chọn nhiều hình thức,
ph-ơng pháp và thờng xuyên, liên tục để mọi công dân hiểu đợc sự cần thiết,tính hợp lý của pháp luật vì lợi ích chung của xã hội Thực tiễn hiện nay ởnớc ta, mục đích này có quan hệ vô cùng to lớn khi mà đa số nhân dân lao
động vẫn còn tình trạng cha có thói quen xử sự theo pháp luật, việc sử dụngquyền và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của hiến pháp và pháp luật cònhạn chế, thậm chí còn vi phạm nghiêm trọng
GDPL nhằm đạt đợc ba mục đích nêu trên, ngoài ra mục đích của
nó còn giúp cho việc xác định hiệu quả của quá trình GDPL Không dựavào mục đích của GDPL thì không thể đánh giá đợc hiệu quả và các chỉ sốxác định hiệu quả của quá trình GDPL
Trang 191.1.3 Chủ thể và đối tợng của giáo dục pháp luật
Trong hoạt động GDPL những ngời (cá nhân, tổ chức) theo chứcnăng của mình tham gia vào việc truyền thụ phổ biến pháp luật nh giảngdạy, trình bày, giải thích, pháp luật gọi là chủ thể, những ngời đợc truyềnthụ học tập, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật gọi là (đối tợng)
- Về chủ thể của GDPL:
Trong lý luận về giáo dục học chủ thể giáo dục là những thầy giáo,cô giáo và tất cả những ngời làm công tác giáo dục khác Theo từ điểnTiếng Việt: Chủ thể nói chung đợc hiểu "là đối tợng gây ra hành độngmang tính tác động trong quan hệ đối lập với đối tợng bị chi phối bởi hành
động tác động, gọi là khách thể" [47, tr 130] Vận dụng vào GDPL, có thểhiểu chủ thể GDPL là những ngời hoạt động GDPL Hay nói khác đi thìchủ thể GDPL đợc hiểu là tất cả những ngời, mà theo chức năng, nhiệm vụhay trách nhiệm xã hội đã tham gia góp phần vào việc thực hiện các mụctiêu GDPL Việc xác định chủ thể, đối tợng GDPL có ý nghĩa về lý luận vàthực tiễn Trong mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tợngGDPL trong quá trình GDPL, chủ thể khi tiến hành mọi hoạt động GDPLthì sự tác động đó có ý thức, có mục đích, có kế hoạch đến đối tợng giáodục Trên cơ sở đó, chủ thể xác định những nhu cầu, khả năng và điều kiệntiếp nhận tác động GDPL của đối tợng cũng nh các yêu cầu đòi hỏi kháchquan đối với các chủ thể GDPL trong việc xác định nội dung, hình thức, ph-
ơng pháp phù hợp để tiếp cận GDPL và tiến hành giáo dục có hiệu quả caonhất
- Về đối tợng GDPL:
Vấn đề đối tợng của GDPL có quan hệ chặt chẽ với chủ thể, bởi lẻchủ thể khi tiến hành hoạt động GDPL thì phải xác định đối tợng là ai, cơquan, tổ chức hay cá nhân, công dân nào, trình độ tuổi tác Trên cơ sở xác
định đúng đắn đối tợng cần GDPL thì chủ thể mới lựa chọn hình thức vàphơng pháp thích hợp Chẳng hạn đối tợng là CBCC nhà nớc thì khi GDPL
Trang 20phải khác với nhân dân các dân tộc ít ngời, có nh vậy mới mang lại hiệuquả cao nhất trong tuyên truyền GDPL
Đối tợng GDPL có thể là những cá nhân công dân, hay cơ quan tổchức hoặc một nhóm cộng đồng dân c trong xã hội đợc tiếp nhận tác độngcủa các hoạt động GDPL trực tiếp hoặc gián tiếp do chủ thể GDPL tiếnhành nhằm đạt đợc mục đích đặt ra
Năm 1998 Thủ tớng Chính phủ đã ra Chỉ thị 02/1998/CT-TTg vàQuyết định 03/QĐ-TTg ngày 07/1/1998 về việc ban hành kế hoạch triểnkhai công tác phổ biến GDPL Căn cứ vào kế hoạch của Chính phủ thì đốitợng GDPL bao gồm:
- CBCC nhà nớc:
Đối tợng này là CBCC Nhà nớc, họ đã đợc đào tạo bồi dỡng nên đã
có trình độ và khả năng nhận thức nhất định Trong đối tợng này, vấn đềGDPL phải chú ý hơn đến những ngời đang làm việc trong các cơ quan bảo
vệ pháp luật nh Tòa án, Viện kiểm sát, thanh tra Trong mối quan hệ này,
họ là đối tợng cần đợc GDPL, nhng mối quan hệ khác họ lại là chủ thể củaGDPL cho nhân dân lao động Trong những năm gần đây đội ngũ CBCCnhà nớc ta đã đợc Đảng và Nhà nớc quan tâm đào tạo, bồi dỡng về kiếnthức pháp luật Tuy nhiên nhiều CBCC Nhà nớc do không đợc đào tạo cơbản nên kiến thức pháp luật còn chắp vá, thiếu hệ thống Điều đó đã hạnchế rất nhiều đến năng lực quản lý nhà nớc, khả năng giải quyết công việctrong các cơ quan Nhà nớc Vì vậy GDPL cho đối tợng là CBCC là vấn đềvừa cấp bách vừa lâu dài, phải thờng xuyên, liên tục mới có thể đáp ứng đòihỏi của quá trình quản lý nhà nớc bằng pháp luật ở nớc ta
- Học sinh - Sinh viên:
Đối tợng này là những công dân trẻ, khỏe, thông minh và sáng tạo,
là chủ nhân tơng lai của đất nớc Học sinh, sinh viên đang thực sự là lực ợng xung kích trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, công nghệ Tuy nhiên
l-về ý thức pháp luật của họ vẫn còn nhiều hạn chế Do vậy tình trạng vi
Trang 21phạm pháp luật đã xảy ra trong các học đờng, cũng nh ngoài xã hội Các tệnạn xã hội nh ma túy, lối sống buông thả, đồi trụy phần nhiều lại do thanhthiếu niên mắc phải Vì thế GDPL cho đối tợng học sinh - sinh viên cũng làmột yêu cầu đòi hỏi khách quan của xã hội đang đợc Nhà nớc thực sự coitrọng Có nh vậy thì học sinh sinh viên ra trờng họ có kiến thức khoa họcvững vàng, có lối sống lành mạnh và ý thức pháp luật đợc nâng cao.
- Các chủ doanh nghiệp, ngời quản lý, cán bộ công đoàn ở các doanh nghiệp:
Trong sự nghiệp đổi mới nền kinh tế ở nớc ta, chính sách phát triểnnền kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nớc ta là nhất quán ổn địnhlâu dài Nhà nớc tạo ra môi trờng pháp luật bình đẳng nhằm bảo hộ quyền
và lợi ích hợp pháp cũng nh sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệptrong mọi thành phần kinh tế Song Nhà nớc cũng đòi hỏi nghiêm ngặt cácdoanh nghiệp, các thơng nhân phải hoạt động sản xuất kinh doanh trongkhuôn khổ pháp luật Thành tựu kinh tế trong 15 năm đổi mới ở nớc ta có
sự đóng góp đáng kể của hàng vạn doanh nghiệp (đến nay là trên sáu vạndoanh nghiệp) Tuy nhiên trên thực tế việc sản xuất, kinh doanh vẫn bị ảnhhởng của cơ chế cũ và trật tự kỷ cơng pháp luật còn lỏng lẻo Không ít cácdoanh nghiệp, các thơng nhân, đặc biệt là những ngời sản xuất nhỏ hay làmkinh tế gia đình khi tham gia vào nền kinh tế thị trờng, do kiến thức phápluật còn hạn chế, nhất là pháp luật kinh tế Vì vậy, hiện tợng vi phạm hợp
đồng, hoặc bị lừa đảo hoặc dẫn đến thua lỗ là khó tránh khỏi Đúng nh
Đảng ta đã nhận định: "lối làm ăn chạy theo lợi nhuận bất kể giá nào, dẫn
đến vi phạm pháp luật, lừa đảo, hối lộ, làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế,xâm phạm nghiêm trọng tài sản xã hội chủ nghĩa và của công dân, làm cho
kỷ luật, kỷ cơng và pháp luật không nghiêm" [15, tr 25]
Nh vậy, GDPL là đòi hỏi từ nhu cầu thiết thân của các nhà kinhdoanh và yêu cầu quản lý kinh tế của nhà nớc Có nh vậy mới giúp họ cónhững kiến thức cơ bản về pháp luật liên quan đến lĩnh vực kinh doanh,
Trang 22từng bớc tạo cho họ thói quen kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, tránhtình trạng phá rào, vi phạm pháp luật nh hiện nay.
- Các tầng lớp nhân dân lao động, đặc biệt là nhân dân các dân tộc
ít ngời, vùng sâu, vùng xa:
Đây là lực lợng đông đảo những ngời lao động, chiếm đa số trongxã hội và lao động của họ đang tạo ra một khối lợng lớn giá trị vật chất choxã hội
Tuy nhiên lực lợng đông nhất trong xã hội này lại ít có điều kiện
đ-ợc học tập, nghiên cứu và tìm hiểu pháp luật Đặc biệt nhân dân các dân tộc
ít ngời ở vùng sâu, vùng xa miền núi nh Tây Nguyên, ý thức pháp luật cònrất thấp Chính vì vậy cần phải GDPL để họ nhận thức đợc trách nhiệm vànghĩa vụ, quyền lợi của công dân đối với Nhà nớc và xã hội Tại Đăk Lăkcần phải chú ý đến vai trò của già làng trởng bản với t cách vừa là chủ thểgiáo dục vừa là đối tợng GDPL Có thể nói Già làng, trởng bản là nhữngngời rất có uy tín ở buôn thôn, những việc xích mích trong buôn làng vớinhau đều do Già làng, trởng bản tham gia giải quyết một cách có hiệu quả.Già làng, trởng bản khi tham gia giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trongnhân dân ở buôn làng thì với t cách là chủ thể của GDPL Có thể nói cácgià làng, trởng bản ở các buôn làng Tây Nguyên thờng chỉ dựa vào uy tíntập quán, luật tục để chỉ dẫn và giải quyết công việc, còn kiến thức phápluật còn hạn chế Do vị trí vai trò của già làng, trởng bản, nên họ cần phải
đợc bồi dỡng kiến thức pháp luật hơn ai hết ở cơ sở các cộng đồng dân c Vìvậy họ có vai trò "kép" vừa là chủ thể vừa là đối tợng của GDPL
- Hiện nay tại Đăk Lăk có: 655 già làng và 627 trởng bản Già làng
do dân bầu chọn, suy tôn, trởng bản (thôn) do bổ nhiệm
Tại tỉnh Đăk Lăk đã mở nhiều lớp tập huấn về kiến thức pháp luậtcho Già làng, trởng bản
Đối tợng GDPL chủ yếu đợc đề cập ở đây là nhân dân các dân tộc ítngời ở tỉnh Đăk Lăk
Trang 231.1.4 Nội dung hình thức phơng pháp giáo dục pháp luật
Nội dung GDPL:
Việc xác định nội dung của GDPL là vấn đề đặc biệt quan trọng.Bởi lẽ nội dung GDPL là gì, mức độ nh thế nào cho từng loại đối tợng làvấn đề cốt lõi quyết định hiệu quả của GDPL Hay nói cách khác trên cơ sởmục đích và đối tợng mà xác định một nội dung GDPL thiết thực để cóhiệu quả cao
Nội dung GDPL nói chung là một phạm vi rộng bao gồm kiến thứcpháp luật cơ bản nh lý luận khoa học về pháp luật, các ngành luật, các vănbản pháp luật thực định Ngoài ra nội dung của GDPL còn bao hàm cácthông tin về việc thực hiện pháp luật, về việc điều tra, xét xử các vụ án hình
sự, dân sự, kinh tế, cả về nghiên cứu điều tra xã hội học pháp luật Cácthông tin hớng dẫn hành vi pháp luật cụ thể của công dân nh thực hiệnquyền và nghĩa vụ theo pháp luật, các quy định và thủ tục để bảo vệ lợi íchcủa Nhà nớc và xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và côngdân
Đối với nhân dân các dân tộc ít ngời ở các tỉnh Tây Nguyên nóichung và ở tỉnh Đăk Lăk nói riêng theo chúng tôi nội dung GDPL cụ thể là:
- Nghĩa vụ công dân trong việc tham gia đóng góp xây dựng phápluật của Nhà nớc, quy chế dân chủ ở cơ sở
- Nghĩa vụ công dân trong việc cùng với toàn dân đấu tranh phòng
và chống các vi phạm pháp luật để pháp luật đợc thực hiện công bằng
- Nghĩa vụ công dân trong việc thực hiện nghiêm chỉnh triệt để và
đúng đắn pháp luật của Nhà nớc cũng nh các quy tắc sinh hoạt trong cộng
Trang 24quyền, lợi ích và nghĩa vụ pháp lý của công dân trên các lĩnh vực của đờisống xã hội.
Nh đã đề cập ở trên, việc xác định nội dung giáo dục phải dựa trênnhu cầu, điều kiện, đặc điểm của đối tợng đợc giáo dục mới có hiệu quả.Trên phơng diện lý luận nói chung của GDPL do chủ thể GDPL quyết định.Nội dung ấy phát sinh từ nhu cầu quản lý nhà nớc bằng pháp luật, từ yêucầu của việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu chính trị, kinh tế xã hội,chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nớc Trên thực tế, nội dung củaGDPL phù hợp hay không phù hợp còn phải căn cứ vào thực trạng ý thứcpháp luật của ngời dân, vào điều kiện, khả năng tiếp thu của họ để xác địnhnội dung giáo dục từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, cộng nhiều nộidung nhỏ để thực hiện nội dung phong phú đa dạng hơn, nhiều lĩnh vựcpháp luật hơn
Đối với đồng bào các dân tộc ít ngời ở Đăk Lăk, ngoài những nộidung GDPL nêu trên cần hớng dẫn nhân dân thực hiện các tập quán sinhhoạt tốt đẹp, các luật tục còn phù hợp với pháp luật Nhà nớc Đồng thời chỉ
ra cho nhân dân thấy đợc những hủ tục lạc hậu, những luật tục trái với lợiích cộng đồng và trái với pháp luật của Nhà nớc trong điều kiện đổi mớihiện nay
Hình thức, phơng pháp GDPL
Đối tợng GDPL tiếp nhận đợc tri thức pháp luật và làm biến đổi
về chất trong nhận thức của họ thì bản thân mục đích và nội dung củaGDPL không thể tự nó đi vào nhận thức Vấn đề là ở chỗ cần phải thôngqua các phơng thức truyền tải thông tin, các hình thức giao tiếp giữa chủthể giáo dục và đối tợng giáo dục bằng những hình thức và phơng phápkhác nhau
Nếu chủ thế giáo dục biết lựa chọn các hình thác và phơng pháp nàophù hợp với đối tợng thì giáo dục sẽ mang lại hiệu quả cao Nếu hình thức
và phơng pháp không phù hợp thì hiệu quả sẽ thấp Giữa hình thức, phơngpháp và nội dung của GDPL cũng có mối quan hệ tác động lẫn nhau Hình
Trang 25thức và phơng pháp, nó có tác động làm cho việc truyền tải nội dung thấmsâu vào nhận thức của đối tợng và nội dung đến lợt nó càng trở nên hoànthiện hơn, thông qua việc truyền tải thông tin để bổ sung chơng trình nộidung GDPL
Hiện nay có một số tác giả quan niệm về hình thức GDPL khácnhau, nhng chúng tôi đồng ý quan niệm rằng: "Hình thức giáo dục phápluật là các dạng hoạt động cụ thể để tổ chức quá trình giáo dục pháp luật"[20, tr 75] với quan niệm này có thể chia hình thức GDPL thành hai loại:
- Các hình thức GDPL mang tính phổ biến, truyền thống đợc sửdụng trong nhiều loại hình thức giáo dục nh: dạy và học pháp luật trong cácnhà trờng, qua các phơng tiện thông tin đại chúng, báo chí, tác phẩm vănhọc nghệ thuật, câu lạc bộ pháp lý, thi tìm hiểu pháp luật, nói chuyện phápluật ở các cơ quan Nhà nớc, Tổ chức quần chúng, khu dân c, hội thảo khoahọc pháp lý
- Các hình thức mang tính đặc thù của GDPL Tính đặc thù này thểhiện trong mối quan hệ tác động giữa GDPL là ý thức và hành vi của côngdân
Nội dung này bao gồm định hớng GDPL trong các hoạt động lậppháp, hành pháp, t pháp của các cơ quan Nhà nớc Các cơ quan quản lý Nhànớc chuyên ngành, GDPL thông qua hoạt động của các tổ chức xã hội,nghề nghiệp, tổ hòa giải, dịch vụ t vấn pháp luật
Về phơng pháp GDPL: có thể nói rằng trong khoa học pháp lý cha
có một định nghĩa nào về phơng pháp GDPL Tuy nhiên theo khoa học sphạm thì phơng pháp giảng dạy là các con đờng, cách thức, biện pháp tác
động để chiếm lĩnh nội dung giảng dạy và đạt đợc mục đích giảng dạy
Phơng pháp giảng dạy pháp luật là cách thức, biện pháp đợc chủ thể
sử dụng để truyền đạt nội dung pháp luật tác động đến đối tợng nhằm mục
đích nâng cao nhận thức pháp luật, tình cảm và lòng tin cũng nh thói quen
xử sự theo pháp luật Vấn đề đặt ra là chủ thể GDPL phải có sự lựa chọn
Trang 26ph-ơng pháp tốt phù hợp khả năng tiếp nhận kiến thức của đối tợng Không thể
áp dụng một phơng pháp giáo dục cho nhiều đối tợng khác nhau, chênhlệch tuổi tác và trình độ nhận thức Điều đó sẽ phản khoa học, phản tácdụng của GDPL
1.1.5 Mối quan hệ giữa giáo dục pháp luật với các lĩnh vực giáo dục khác
GDPL có những đặc điểm riêng khác biệt với các dạng giáo dụckhác nh giáo dục chính trị, giáo dục đạo đức, giáo dục lao động v.v nhnggiữa chúng có mối quan hệ mật thiết và hỗ trợ cho nhau GDPL đợc xem
nh là một dạng giáo dục trong hệ thống giáo dục nhằm hình thành ý thứccông dân Vì vậy, GDPL phải đợc đặt trong mối quan hệ với hệ thống giáodục nói chung Nghiên cứu các mối quan hệ hệ thống với các dạng giáo dụcgần gũi với nó nh giáo dục chính trị t tởng, giáo dục đạo đức và giáo dục
đào tạo các ngành khoa học khác giúp chúng ta tìm ra những nét đặc thùcũng nh những nét chung, tiếp cận những sự tác động qua lại lẫn nhau, bổsung cho nhau Vì thế GDPL khi đặt trong tổng thể hệ thống giáo dục nó cómối quan hệ mật thiết với các dạng giáo dục khác
1.5.1.1 GDPL với giáo dục chính trị t tởng
Chính trị t tởng là một lĩnh vực thuộc phạm trù ý thức, trong đó lậptrờng giai cấp, đờng lối cách mạng của Đảng cầm quyền là đờng lối chínhtrị, là bản chất của giai cấp Pháp luật là sự cụ thể hóa, thể chế hóa t tởng đ-ờng lối của Đảng cầm quyền Vì vậy khi GDPL cũng hình thành nên ở đốitợng lập trờng giai cấp và ý thức chính trị
ở nớc ta, Đảng Cộng sản Việt Nam "là lực lợng lãnh đạo Nhà nớc
và xã hội" Đờng lối chính sách của Đảng là "linh hồn" của pháp luật Đờnglối nghị quyết của Đảng đợc thể chế hóa, cụ thể hóa bằng pháp luật Đã cóthời gian dài trớc đây, giáo dục chính trị đợc coi là nhiệm vụ hàng đầu, làchủ yếu nên dẫn đến việc xem nhẹ GDPL Cần phải xác định rằng giáo dụcchính trị t tởng khác với GDPL Song giữa chúng có quan hệ mật thiết vớinhau
Trang 27Trong giáo dục chính trị t tởng có chứa đựng, đan xen nhất địnhtrong nội dung của mình những hiện tợng của pháp luật, cũng có nhữngquan hệ tích cực đối với những đòi hỏi của pháp luật, kích thích lợi ích đợc
điều chỉnh bằng pháp luật Mối quan hệ mật thiết qua lại giữa GDPL vàgiáo dục chính trị t tởng đòi hỏi các chủ thể giáo dục phải biết kết hợp tiếnhành đồng thời GDPL với giáo dục chính trị t tởng
1.5.1.2 Mối quan hệ giữa GDPL và giáo dục đạo đức
Giữa pháp luật và đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nhữngquy định pháp luật là phù hợp với đạo đức và có nhiều quy phạm đạo đức đ-
ợc Nhà nớc thừa nhận trở thành quy tắc xử sự bắt buộc nh quy phạm phápluật bởi nó thể hiện giá trị chung phổ biến của xã hội
Do vậy giáo dục đạo đức tạo nên những tiền đề cần thiết để hìnhthành ở công dân sự tôn trọng đối với pháp luật Ngợc lại GDPL tạo khảnăng thiết lập trên thực tế những nguyên tắc đạo đức mới Các quy phạmpháp luật và quy tắc đạo đức đều là quy tắc điều chỉnh hành vi xử sự củacon ngời, loại quy phạm này có những điểm chung nhất tác động lên conngời Những điểm chung nhất đó là:
+ Hình thành nên lòng tin và sự cần thiết tuân theo những nguyêntắc cơ bản của đạo đức
+ Mang lại niềm tin vào giá trị xã hội của pháp luật
+ Tạo ra thói quen xử sự trong các hoàn cảnh cụ thể theo các tiêuchuẩn đạo đức và pháp luật
Đồng thời thông qua GDPL - con đờng hình thành ý thức pháp luậtcủa công dân; nhờ đó các quy tắc đạo đức của giai cấp bóc lột và các tậpquán hủ tục lạc hậu sẽ bị xã hội loại trừ và đi đến xóa bỏ
Do mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức chặt chẽ nh vậy và sự tác
động qua lại lẫn nhau giữa chúng, đòi hỏi cần chú trọng đến sự tác độngcủa giáo dục đạo đức và GDPL Trong hoạt động thực tiễn các cơ quan
Đảng và Nhà nớc phải sử dụng đồng bộ các biện pháp, các hình thức của cả
Trang 28hai dạng giáo dục nhằm bổ sung cho nhau, tác động lẫn nhau với mục đíchchung là tạo nên thói quen trong xử sự bằng những hành vi hợp pháp, phùhợp với đạo đức xã hội.
1.5.1.3 GDPL và giáo dục đào tạo các ngành khoa học khác
- Đào tạo pháp luật: Đào tạo pháp luật là một quá trình giáo dụckiến thức lý luận khoa học pháp lý cơ bản và kiến thức pháp luật thực địnhnhằm cung cấp cho đối tợng giáo dục những tri thức pháp luật Đào tạopháp luật đợc tiến hành theo chơng trình kế hoạch và thời gian nhất định.Quá trình đào tạo cũng là quá trình GDPL
Theo chúng tôi không nên tách biệt hoàn toàn khái niệm GDPL và
đào tạo pháp luật nhng rõ ràng khái niệm GDPL rộng hơn đào tạo phápluật làm rõ mối quan hệ này có ý nghĩa là trong thực tế khi tiến hànhGDPL có thể vận dụng nhiều hình thức, phơng pháp để truyền tải thông tinpháp lý đến đối tợng giáo dục vì đối tợng GDPL phong phú hơn, đa dạnghơn đào tạo pháp luật
- Các ngành khoa học tự nhiên có đặc thù của nó là nghiên cứu khoahọc trong lĩnh vực tự nhiên nh toán học, hóa học, vật lý học tuy nhiên khiGDPL cần phải sử dụng đến kiến thức của khoa học tự nhiên để luận giảicho một quy định nào đó của pháp luật chẳng hạn quy định về điều kiệnkết hôn giữa nam và nữ thì phải luận giải đợc vì sao ở độ tuổi đối với nữphải đủ 18 tuổi trở lên, nam đủ 20 tuổi trở lên mới đợc kết hôn, hoặc tiêuchuẩn y học Việt Nam đã đa ra những quy định của pháp luật loại quyphạm kỹ thuật (chuyên môn nghiệp vụ) là một bộ phận trong hệ thống phápluật, đợc pháp luật thừa nhận, không có kiến thức về các ngành khoa học tựnhiên thì các nhà làm luật không thể tạo ra đợc pháp luật chặt chẽ và khảthi, dẫn đến việc thực hiện pháp luật không thống nhất
- Khoa học xã hội là các ngành khoa học nghiên cứu về xã hội vềcon ngời và tổ chức của con ngời trong xã hội Vì thế GDPL nó có quan hệgắn chặt với giáo dục các môn của khoa học xã hội Những cơ sở khoa họccủa việc xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của con ngời
Trang 29trong xã hội và biện pháp phòng ngừa đối với xã hội đều cần đến tri thứccủa khoa học xã hội.
Từ sự phân tích các mối quan hệ GDPL với các ngành khoa họckhác cho thấy GDPL có liên quan mật thiết với đào tạo pháp luật, khoa học
tự nhiên, khoa học xã hội Cho nên chủ thể của GDPL phải nghiên cứu tìmhiểu để có kiến thức sâu rộng khi luận giải một quy định nào đó của phápluật có nh vậy thì khả năng giảng dạy, truyền thụ mới sâu sắc, mới hấp dẫn
và có cơ sở khoa học Đó cũng có nghĩa là tránh tình trạng nói suông, giáo
điều không tạo đợc niềm tin vào pháp luật một cách sâu sắc và nhanh nhất
1.2 Quan điểm của Đảng và cơ sở pháp lý về giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít ngời ở tỉnh Đăk Lăk
1.2.1 Đặc điểm giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít ngời ở tỉnh miền núi Đăk Lăk
Giáo dục là "quốc sách hàng đầu" là sự nghiệp của Đảng, Nhà nớc
và nhân dân ta Nhà nớc "thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục;thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chơng trình nộidung kế hoạch giáo dục" GDPL là một nội dung chơng trình và kế hoạchcủa sự nghiệp giáo dục nói chung ở nớc ta Nền giáo dục nớc ta là thốngnhất, không có nền giáo dục cho từng tỉnh hoặc thành phố và vì vậy GDPLkhông có "con đờng" đi riêng cho mỗi tỉnh thành Giáo dục nói chung vàGDPL nói riêng ở từng vùng miền, địa phơng không nằm ngoài cái "chung"
đó, song thực tế thực hiện giáo dục chỉ ra tính phong phú đa dạng của côngtác quan trọng này Để công tác giáo dục đợc thực hiện có hiệu quả cần xác
định đặc điểm của GDPL cho nhân dân các dân tộc ít ngời ở tỉnh miền núi,biên giới Đăk Lăk Tuy nhiên phải xác định Đăk Lăk chỉ là một trong cáctỉnh thuộc miền núi, vùng có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống ở nớc ta
Đặc điểm thứ nhất: Đối tợng GDPL là nhân dân các dân tộc ít ngời
sinh sống trong tỉnh Đăk Lăk
Trang 30Đối tợng của GDPL là nhân dân GDPL cho nhân dân là chủ yếuchứ không phải là GDPL cho CBCC Nhân dân ở đây là những ngời đủ 6tuổi trở lên, có hộ khẩu tạm trú hoặc thờng trú ở tỉnh Đăk Lăk Họ là họcsinh, họ là nông dân, công nhân, là ngời lao động khác ở các lĩnh vực của
đời sống kinh tế xã hội trong phạm vi một tỉnh Đây là đối tợng có tính
"phổ biến" trong đó có GDPL cho các học sinh trong nhà trờng từ cấp tiểuhọc đến phổ thông trung học Đặc điểm này khác với GDPL nói chung,khác với GDPL trong nhà trờng, khác với GDPL trong các trờng cao đẳng,
đại học và dạy nghề, GDPL cho CBCC hoặc GDPL cho công nhân
Cơ cấu của đối tợng là nhân dân các dân tộc ít ngời (thiểu số).Trong tỉnh Đăk Lăk có 43 dân tộc cùng sinh sống Trong khi cả nớc có 54dân tộc anh em Dân tộc thiểu số chiếm 34% của 1.761.830 ngời dân Cácdân tộc thiểu số ở đây là: các dân tộc "bản địa" nh Êđê, M’nông và nhiềudân tộc ít ngời di c từ ngoài bắc vào nh Tày, Nùng, Dao, Thái Vì vậy đặc
điểm tâm lý dân tộc bản sắc từng dân tộc, hoàn toàn khác nhau Trình độhọc vấn nói chung của đa số các dân tộc ít ngời ở tỉnh Đăk Lăk là thấp
Đa số nhân dân các dân tộc ít ngời đều không biết tiếng nói và chữviết của ngời Kinh, đây là hạn chế lớn nhất khi tiếp thu những tri thức vềpháp luật
Tâm lý dân tộc ít ngời thờng hay tự ti, bảo thủ, gồm cả t tởng cục
bộ dân tộc, địa phơng chủ nghĩa, các cộng đồng, các cụm dân c, các dòng
họ có phong tục tập quán riêng biệt Nhân dân các dân tộc ít ngời vẫn còn
sử dụng hệ thống luật tục Luật tục vừa mang tính dân tộc vừa mang tínhkhu vực Luật tục có ảnh hởng mạnh mẽ đến đời sống đồng bào dân tộc.Luật tục có tính tiến bộ, tích cực đợc Nhà nớc thừa nhận và cộng đồng các
c dân tự giác tuân theo Song bên cạnh đó vẫn còn có những hủ tục nặng nề,lạc hậu nh thách cới, tang ma, lấy nhiều vợ (tục nối dây) khi GDPL phảichú ý và thận trọng có phê phán nhng hết sức khéo léo, tế nhị đối với những
hủ tục lạc hậu
Trang 31- Đặc điểm thứ hai: Chủ thể GDPL cho nhân dân các dân tộc ít
ng-ời tại tỉnh Đăk Lăk
Chủ thể GDPL là ngời dạy pháp luật cho nhân dân Nếu GDPL làmột dạng tổ chức thực hiện pháp luật, tăng cờng pháp chế XHCN thì tráchnhiệm về tình hình thực hiện pháp luật trớc hết thuộc về các cơ quan nhà n-
ớc GDPL cho nhân dân vì thế là nhiệm vụ của nhà nớc ở địa phơng: "Hội
đồng nhân dân quyết định biện pháp bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, phápluật" [35, Điều 17]
ủy ban nhân dân (UBND) là cơ quan hành chính nhà nớc ở địa
ph-ơng là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp Nhvậy, UBND là chủ thể tuyên truyền GDPL cho nhân dân Thực hiện nhiệm
vụ này UBND giao cho Sở T pháp, phòng T pháp ở địa phơng
Các Sở t pháp đều có phòng Tuyên truyền và GDPL Việc tổ chứclực lợng thực hiện tuyên truyền GDPL ở các địa phơng có những loại chủthể giống nhau, nhng cũng có những loại chủ thể GDPL cụ thể khác nhau
Theo quyết định 1603/1998/QĐ-UB của UBND tỉnh Đăk Lăk banhành ngày 8/8/1998 về ban hành quy chế báo cáo viên pháp luật theo đóbáo cáo viên pháp luật của tỉnh đợc thành lập một đội ngũ đông đảo gồm:
"Cán bộ, công chức đang công tác tại các cơ quan đơn vị xã, phờng, thịtrấn; các huyện, thành phố; ở tỉnh và các đơn vị Trung ơng đóng trên địabàn tỉnh làm nhiệm vụ tuyên truyền; phổ biến, giáo dục pháp luật đến cácngành, các cấp và mọi tầng lớp nhân dân từ tỉnh đến cơ sở"
Nh vậy những ngời làm công tác tuyên truyền, phổ biến công tácGDPL trên đây là chủ thể của GDPL Tiêu chuẩn để trở thành chủ thể củaGDPL đó là:
+ CBCC nhà nớc
+ Có phẩm chất chính trị vững vàng, t cách đạo đức tốt, có tinh thântrách nhiệm và khả năng hoàn thành công việc đợc giao
Trang 32+ Có trình độ cử luật hoặc cử nhân các ngành khác nhng có am hiểuchính sách của Đảng, kiến thức pháp luật cơ bản của Nhà nớc và các quy
định của ngành về công tác đợc giao
+ Có phơng pháp diễn đạt rõ ràng, dễ hiểu và có sức thuyết phục
ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số nói chung và ở tỉnh Đăk Lăknói riêng, các già làng trởng bản là chủ thể GDPL Đây cũng là loại chủ thể
đợc vận dụng trong thực tế Các Già làng, trởng bản, họ là đối tợng "kép"vừa là đối tợng của GDPL nhng đồng thời là chủ thể Ưu thế của những ng-
ời này là vừa có "uy quyền" thực tế, tự nhiên trong cộng đồng ngời dân tộc,vừa gần gũi dân và thờng giải quyết những tranh chấp, xích mích trongbuôn làng Vì vậy nếu họ là chủ thể thì chắc chắn hiệu quả sẽ rất cao
- Các luật s, luật gia không phải là CBCC có nghĩa họ hành nghềchuyên trách Chủ thể này cần phải đa họ vào trong đội ngũ báo cáo viênpháp luật bởi họ có trình độ pháp lý vững và thông qua hoạt động t vấn, bàochữa các luật gia, luật s đã góp phần hết sức quan trọng vào công tácGDPL
Những ngời đợc nhà nớc giao cho nhiệm vụ GDPL ở tỉnh Đăk Lăkcũng giống nh ở các tỉnh miền núi và vùng dân tộc ít ngời Sự khác biệt cơbản đối với các tỉnh thành khác là đội ngũ các già làng trởng bản Với lợithế là uy tín của họ đối với nhân dân, họ là những ngời đi giáo dục cần đợcGDPL trớc hết trong nhân dân
Đặc điểm thứ ba: Nội dung GDPL cho đồng bào dân tộc ít ngời.
Nội dung GDPL nh đã phân tích trong mục 1.1.4; Đó là nội dungGDPL hiện nay không chỉ cho nhân dân một tỉnh mà đợc áp dụng trong cảnớc Tuy nhiên, một mặt nội dung GDPL đợc xác định cho từng thời kỳ,từng đối tợng khác nhau sẽ có thời lợng nội dung khác nhau Vì thế nộidung GDPL là một "đại lợng động" hay thay đổi cho phù hợp để đạt đợcmục đích hiệu quả mong muốn Mặt khác, đặc điểm đối tợng và chủ thểGDPL cho nhân dân các dân tộc ít ngời quy định mức độ nội dung, truyềntải Nói một cách khác là nội dung GDPL phải tơng ứng với khả năng tiếp
Trang 33nhận tri thức pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số Có thể khái quátnhững đặc điểm nội dung GDPL cho nhân dân các dân tộc ít ngời ở tỉnh
Đăk Lăk nh sau:
- Một là: Nội dung GDPL đan xen gắn kết với nội dung giáo dục
chính trị t tởng, giáo dục đạo đức
- Hai là: Tăng cờng GDPL về bảo vệ phát triển rừng, phòng chống
ma túy, pháp luật về hôn nhân gia đình, phát huy tập quán tốt đẹp
- Ba là: Phê phán các luật tục lạc hậu, trái với pháp luật của nhà
n-ớc, với lợi ích của xã hội, tập thể, kìm hãm văn minh tiến bộ
- Bốn là: GDPL về đoàn kết các dân tộc, đoàn kết toàn dân.
Đặc điểm thứ t: Các hình thức và phơng pháp giáo dục.
Về các hình thức hay "mô hình" hoặc "con đờng" GDPL ở nớc tathực chất cha có các hình thức giáo dục đợc xác định ổn định về mặt lý luậnvẫn đang trong giai đoạn tìm tòi thử nghiệm Thành tựu về giáo dục học ởnớc ta đã tổng kết có tính giáo khoa về giáo dục công dân trong đó có chỉdẫn "con đờng giáo dục ý thức công dân" bao gồm:
- Giáo dục thông qua giảng dạy pháp luật trong nhà trờng
- Giáo dục thông qua các dạng hoạt động xã hội nh xây dựng gia
đình văn hóa hay các cuộc vận động có tính phong trào trong nhân dân
- GDPL thông qua các lễ hội
- Tổ chức các sinh hoạt đoàn thể
- Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật hấp dẫn và có thởng Đó lànhững "con đờng" chung nhất đợc vận dụng trong GDPL Đối với đồng bào
dân tộc thiểu số ở vùng núi, nhóm tác giả trong tác phẩm: "Một số vấn đề
về giáo dục pháp luật ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số", đã nêu các hình
thức (mô hình) GDPL sau đây:
- Giáo dục pháp luật thông qua công tác hòa giải
Trang 34- Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động báo chí tuyêntruyền.
- Giáo dục pháp luật thông qua một số loại hình trờnghọc
- Giáo dục pháp luật thông qua các sinh hoạt truyềnthống [31, tr 23, 54, 87, 113]
Các hình thức GDPL kể trên mang tính phổ biến có thể áp dụngrộng rãi ở các vùng miền, các dân tộc ở miền xuôi cũng nh ở miền ngợc.Các hình thức này áp dụng ở các tỉnh Tây Nguyên sẽ phù hợp và có hiệuquả cao
ở mỗi một hình thức giáo dục việc sử dụng các phơng pháp giáodục ở từng nơi đối với từng loại đối tợng sẽ khác nhau Những phơng pháp
sử dụng có tính riêng biệt ở Đăk Lăk cũng nh ở các tỉnh ở vùng núi, dân tộcthiểu số cho thấy những đặc điểm khác biệt với việc giáo dục ở nơi khác
Đặc điểm nổi bật là việc dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc sẽ hiệuquả hơn dùng tiếng nói ngời Kinh và chữ quốc ngữ Ngời dân tộc trực tiếplàm công tác hòa giải hoặc giảng dạy pháp luật hoặc tổ chức các lễ hội dântộc sẽ có hiệu quả hơn Các phơng tiện thông tin đại chúng nh sách báo, đàiphát thanh, truyền hình, đợc sử dụng ở Tây Nguyên cũng nh những đặc
điểm riêng biệt nh tiếng nói, hình ảnh và các yêu cầu về kỹ thuật phù hợpvới địa hình rừng núi ở thành phố vô tuyến truyền hình là phơng tiệnchuyển tải thông tin là chủ yếu thì ở Đăk Lăk radio casetes lại là ph ơngtiện truyền thông phổ biến phù hợp với đồng bào dân tộc ít ngời vì cónhững địa phơng vùng sâu vùng xa lới điện quốc gia cha tới, vô tuyến cha
sử dụng đợc v.v Nh vậy con đờng mà pháp luật đến với nhân dân, cáchình thức phơng pháp GDPL không thể rập khuôn ở mọi miền là giốngnhau Nếu không xem xét những đặc điểm và yêu cầu riêng biệt này thìcông tác giáo dục sẽ rơi vào "giáo điều" "hô hào" và vô tình sẽ là tắc tráchvới sự nghiệp GDPL có tầm vóc lớn và ý nghĩa thiết thực này
Trang 351.2.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và cơ sở pháp lý hiện hành của công tác giáo dục pháp luật ở nớc ta
Từ trớc đến nay, Đảng và nhà nớc ta luôn luôn quan tâm lãnh đạocông tác GDPL cho nhân dân Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới đất nớc, Đảng
và Nhà nớc ta luôn coi trọng công tác này, thể hiện sâu sắc, cụ thể trong cácvăn kiện của Đảng và chính sách của Nhà nớc
Trong bài phát biểu chỉ đạo hội nghị thảo luận dự thảo Luật hônnhân và gia đình ngày 10/10/1959 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Công
bố đạo luật này cha phải mọi việc đều xong mà phải tuyên truyền giáo dụcpháp luật lâu dài mới thực hiện đợc tất" [39, tr.54] T tởng đó của Hồ ChíMinh có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình tuyên truyền GDPL ởnớc ta từ trớc tới này Thấm nhuần những quan điểm t tởng Hồ hí Minh
Đảng ta luôn luôn quan tâm đến công tác tuyên truyền GDPL cho nhândân Vấn đề này đợc khẳng định qua các kỳ đại hội đại biểu toàn quốc của
Đảng Tại đại hội lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ:
Coi trọng công tác giáo dục pháp luật tuyên truyền giảithích pháp luật Đa việc dạy pháp luật vào hệ thống các trờngcủa Đảng, của Nhà nớc (kể cả các trờng phổ thông, đại học) củacác đoàn thể nhân dân cán bộ quản lý các cấp từ Trung ơng đến
đơn vị cơ sở Phải có kiến thức về quản lý hành chính và hiểubiết về pháp luật cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp đểgiáo dục pháp luật nâng cao ý thức pháp luật và làm t vấn phápluật cho nhân dân [14, tr.121]
Với t tởng chỉ đạo này cho thấy Đảng đã đề cập một cách toàn diện,công tác GDPL (từ chủ thể đối tợng đến nội dung hình thức và phơng pháp
để tiến hành hoạt động GDPL) Tiếp tục thực hiện quan điểm GDPL chocán bộ và nhân dân tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng takhẳng định:
Trang 36Điều quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng, hoànthiện hệ thống pháp luật, tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa,nâng cao trình độ dân trí hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủpháp luật của nhân dân, thờng xuyên giáo dục pháp luật xây dựng
ý thức sống và làm việc theo pháp luật trong nhân dân [15, 91]
tr.90-Pháp luật là công cụ để bảo đảm phát huy nền dân chủ, dân chủ vàpháp luật là hai mặt của một vấn đề là điều kiện bảo đảm cho sự tồn tại vàphát triển của nhau Vì thế coi trọng công tác tuyên truyền GDPL cũng làbảo đảm cho tăng cờng pháp chế XHCN
Tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ lần thứ VII, Đảng tatiếp tục khẳng định: "Tăng cờng giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết và ýthức tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật bảo
đảm cho pháp luật đợc thi hành một cách nghiêm minh thống nhất và côngbằng" [17, tr.37]
Công tác tuyên truyền và GDPL đã thực sự là một chủ trơng lớn của
Đảng ta và chủ trơng đó đã tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán vềcông tác GDPL tại Đại hội lần VIII Đảng ta tiếp tục khẳng định và nhấnmạnh đến việc triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và GDPL:
Huy động lực lợng của các tổ chức chính trị xã hội nghềnghiệp, các phơng tiện thông tin đại chúng tham gia vào đợt vận
động thiết lập và các hoạt động thờng xuyên xây dựng nếp sốngmới và làm việc theo pháp luật trong các cơ quan nhà nớc và xãhội [18, tr.241]
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng ta tiếp tục khẳng định:
"Phát huy dân chủ đi đối với giữ vững kỷ luật, kỷ cơng tăng cờng pháp chếquản lý xã hội bằng pháp luật Tuyền truyền giáo dục toàn dân nâng cao ýthức chấp hành pháp luật" [19, tr.135]
Trang 37Trên đây là các quan điểm của Đảng ta về công tác GDPL, từ Đạihội lần thứ VI đến Đại hội lần thứ IX thể hiện t tởng nhất quán là tiếp tụcthực hiện chủ trơng tuyên truyền và GDPL xuyên suốt của Đảng ta về côngtác Có thể khẳng định đây là một chủ trơng lớn và hết sức đúng đắn của
Đảng ta thể hiện quyết tâm cao của Đảng ta là vừa đẩy mạnh công tác xâydựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật vừa coi trọng công tác tuyến vàGDPL để nâng cao dân trí pháp lý, ý thức pháp luật của nhân dân cả nớc
Những cơ sở pháp lý của công tác GDPL ở nớc ta:
Nhà nớc ta đã thể chế hóa những quan điểm đờng lối, chủ trơng của
Đảng trong Hiến pháp 1980 tại Điều 38 đã quy định: "Nhà nớc tuyên truyềngiáo dục sâu rộng đờng lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiếnpháp và pháp luật của nớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [9, tr.3]
Kế thừa và phát triển Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 cụ thể hơn một bớc:
"Nhà nớc tạo điều kiện để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thứccông dân sống theo hiến pháp và pháp luật" [10, tr.31] "Đại biểu Quốc hộiphổ biến và vận động nhân dân thực hiện hiến pháp, luật và nghị quyết củaQuốc hội" [10, tr.97] Điều 112 Hiến pháp cũng quy định nhiệm vụ củaChính phủ: "Bảo đảm thi hành hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhànớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vũ trang và công dân, tổ chức vàlãnh đạo công tác tuyên truyền và giáo dục Hiến pháp và pháp luật trongnhân dân" [10, tr 112] Điều 121 Hiến pháp quy định: "Đại biểu hội đồngnhân dân có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện pháp luật, chính sáchcủa Nhà nớc, nghị quyết của Hội đồng nhân dân tham gia quản lý Nhà nớc"[10, tr.156]
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp về công tác tuyên truyền GDPL,Luật Tổ chức Chính phủ quy định: "Quyết định các biện pháp chỉ đạo và kiểmtra thi hành Hiến pháp, pháp luật và các quyết định của chính phủ trong cáccơ quan nhà nớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và côngdân Tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền giáo dục Hiến pháp và phápluật" [33, tr 22] Về công tác tuyên truyền GDPL ở địa phơng, Luật Tổ
Trang 38chức HĐND và UBND quy định quyền hạn của UBND nh sau: "Tuyêntruyền giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành hiến pháp, luật, các vănbản của cơ quan nhà nớc cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dâncùng cấp trong cơ quan nhà nớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũtrang nhân dân, công dân ở địa phơng" [35, Điều 43].
Căn cứ vào Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ, Thủ tớng Chínhphủ ra Chỉ thị 02/1998/CT-TTg ngày 7/1/1998 về việc tăng cờng công tácphổ biến GDPL từ năm 1998-2002 và thành lập hội đồng phối hợp công tácphổ biến GDPL
Theo đó bản kế hoạch này đã đề ra một cách khá cụ thể mục tiêu yêucầu nội dung, biện pháp tiến độ và phân công thực hiện kế hoạch triển khaicông tác
Phổ biến GDPL, là một chơng trình công tác lớn có ý nghĩa quantrọng, khẳng định quyết tâm của Đảng, nhà nớc ta trong việc đổi mới, đẩymạnh công tác phổ biến GDPL
- Tiếp theo Chỉ thị 02/1998 và Quyết định 03/1998 của Thủ tớngChính phủ, Bộ trởng Bộ T pháp đã ra Chỉ thị số 01/1998/CT-BTP ngày 10tháng 01 năm 1998 về một số biện pháp trớc mắt để triển khai thực hiện Chỉthị và Quyết định nói trên của Thủ tớng Chính phủ Để có sự thống nhấtchung và cụ thể hóa Chỉ thị và Quyết định của Thủ tớng Chính phủ, Bộ Tpháp đã ban hành Thông t số 339/1998/TT-BTP ngày 19/8/1998 về việc h-ớng dẫn thực hiện Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg ngày 07/01/1998 củaThủ tớng Chính phủ
Từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở những quy định của pháp luật,Tỉnh ủy Đăk Lăk đã ra Chỉ thị số 25/2000/CT-TU ngày 21/9/2000, về việctăng cờng sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phổ biến, GDPL, chỉ thịnêu rõ:
Lãnh đạo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán
bộ, Đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân là nhiệm vụ
Trang 39th-ờng xuyên của các cấp ủy Đảng từ tỉnh đến huyện và cơ sở nộidung phổ biến, giáo dục pháp luật phải phù hợp với từng đối tợng
và thiết thực ở từng đơn vị ở từng địa phơng Về hình thức phải đadạng nh: Tổ chức học tập, quán triệt tuyên truyền trên các phơngtiện thông tin đại chúng, các hình thức trực quan, cổ động, cáccuộc thi (có thể có thởng) và các hình thức thông tin thiết thựckhác [51, tr 1-2]
- UBND tỉnh Đăk Lăk đã có các ý kiến chỉ đạo trong các văn bảnsố: 670/CV-UB ngày 26/4/2000, công văn số 1069/CV-UB ngày 19/6/2000
về việc giao cho Sở T pháp xây dựng các đề án về tuyên truyền phổ biếnGDPL trong CBCC và nhân dân từ năm 2001-2005
"Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật", không ngừng tăng cờngpháp chế XHCN
- GDPL là quá trình nhằm nâng cao dân trí pháp lý, vì vậy để đạt
đ-ợc mục đích đó thì chủ thể GDPL phải tìm hiểu, nghiên cứu các đối tợngGDPL để áp dụng hình thức và phơng pháp GDPL phù hợp nhằm mang lạihiệu quả cao, vì thế khi tiến hành GDPL phải phân loại đối tợng, đặc biệt lànhân dân các dân tộc ít ngời thì phải có phơng pháp GDPL phù hợp, dễ nhớ,
dễ hiểu tránh lấy t duy vòng vo trừu tợng
- Khi GDPL cho nhân dân các dân tộc ít ngời ở tỉnh Đăk Lăk phảichú trọng đến đặc điểm đối tợng, chủ thể GDPL lựa chọn nội dung phápluật nào phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở địa phơng, u tiên cho việc
Trang 40tuyên truyền GDPL đối với những lĩnh vực nào mang tính chất cấp bách,thời sự liên quan đến đời sống hàng ngày của họ.
Những nội dung cơ bản của GDPL đợc phân tích ở chơng 1 sẽ là cơ
sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng GDPL cho nhân dân các dân tộc ítngời ở tỉnh Đăk Lăk đợc trình bày ở chơng 2