1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na

120 670 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 3,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bài thơ, tiểu luận và diễn văn của Người phản ánh một sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử và văn minh nhân loại và một niềm tin chung thuỷ đối với bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc và quốc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN PHƯƠNG THỦY

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA TRONG GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC H’MÔNG Ở SA PA – LÀO CAI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học

Hà Nội-2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN PHƯƠNG THỦY

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA TRONG GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN

TỘC H’MÔNG Ở SA PA – LÀO CAI HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học

Mã số: 60.31.27

Người hướng dẫn khoa học: TS VĂN THỊ THANH MAI

Hà Nội - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 2

Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀ GIỮ

GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC

1.3 Nội dung giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 34

Chương 2 GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA

DÂN TỘC H’MÔNG Ở SA PA – LÀO CAI HIỆN NAY THEO

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

56

2.1 Những nhân tố tác động đến quá trình giữ gìn và phát huy bản

sắc văn hóa dân tộc H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai

56

2.2 Thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc H’Mông

ở Sa Pa – Lào Cai hiện nay

67

2.3 Nội dung và giải pháp trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa

dân tộc H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai hiện nay

94

KẾT LUẬN 102 Danh mục tài liệu tham khảo 104 Phụ lục 111

Trang 4

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh được UNESCO tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại Người đã để lại cho chúng ta một

tài sản tinh thần vô giá, đó là hệ thống tư tưởng của Người Trong di sản tư

tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về văn hóa là một bộ phận quan trọng, có giá trị lý luận và thực tiễn đối với dân tộc và nhân loại trong cả hiện tại và tương lai Những sáng tạo và đóng góp của Người về văn hóa "là chủ trương làm khởi sắc

và tăng cường truyền thống văn hoá Việt Nam, gắn nó với các nền văn hoá khác trên thế giới Các bài thơ, tiểu luận và diễn văn của Người phản ánh một sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử và văn minh nhân loại và một niềm tin chung thuỷ đối với bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc và quốc gia, kể cả dân tộc mình và các dân tộc khác trên thế giới" [76, tr.41] đã không chỉ góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc mà còn thiết thực thúc đẩy cho sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc; góp phần vào sự tiến bộ và phát triển nền văn minh của nhân loại

Hồ Chí Minh không chỉ là chủ thể sáng tạo giá trị văn hóa mà còn là một biểu tượng đẹp đẽ của văn hóa, tâm hồn dân tộc Việt Nam Trong hệ thống di sản văn hóa của Hồ Chí Minh, quan điểm về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của Người có ý nghĩa to lớn, giúp chúng ta có cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn để thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong công cuộc đổi mới hôm nay Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn cốt cách dân tộc và bảo tồn bản sắc văn hóa trong quá trình phát triển và tồn vong của một quốc gia, bởi rằng "càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin bao nhiêu thì càng phải coi trọng những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cha ông bấy nhiêu” Bản thân Người là hiện thân của việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân

Trang 5

tộc, khẳng định cốt cách dân tộc trong hành trình giao lưu, tiếp biến văn hóa để làm giàu cho chính bản thân mình, dân tộc mình

Nhận thức rõ được giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu tư tưởng văn hóa của Người dưới nhiều góc độ, nhiều phương diện khác nhau, trong đó tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nói riêng là một vần đề rất quan trọng Hiện nay, đất nước ta đang trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế Bên cạnh những cơ hội, những thành tựu đã đạt được, Việt Nam cũng đang phải đối diện với những nguy cơ, thách thức Trên tinh thần đó, chú trọng đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc thiểu số theo tinh thần Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị: "Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ sở mỗi dân tộc phát huy bản sắc văn hoá của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân tộc khác và góp phần phát triển văn hoá chung của cả nước, tạo ra sự phong phú

đa dạng trong nền văn minh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam [16, tr.51] là vấn đề vô cùng cần thiết Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn và phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống

xã hội” [19, tr.33] Với ý nghĩa đó, việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung, bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số nói riêng là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng để thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII

Trong những năm qua, quán triệt tinh thần xây dựng Đảng là then chốt và xây dựng kinh tế là trung tâm, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc làm nền tảng tinh thần, là động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước, cùng với cả nước, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc tỉnh Lào

Trang 6

Cai đã xây dựng và phát triển văn hóa, trong đó có giữ gìn và phát huy di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc H’Mông ở Sa Pa nói riêng trong tiến trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, quá trình thực hiện vẫn còn những hạn chế, những tồn tại cần phải khắc phục…Từ thực tế đó, nhằm đẩy mạnh việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần không ngừng nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần, phát triển kinh tế du lịch… của nhân dân các dân tộc

huyện Sa Pa nói chung, dân tộc H’Mông nói riêng, tôi chọn đề tài: “Vận dụng

tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai hiện nay” làm luận văn Thạc sĩ khoa

học, chuyên ngành Hồ Chí Minh học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tư tưởng Hồ Chí Minh là nội dung có sức hấp dẫn lớn đối với nhiều nhà nghiên cứu Đã có nhiều đề tài khoa học xã hội, nhiều công trình nghiên cứu các cấp về tư tưởng Hồ Chí Minh được nghiên cứu một cách sâu sắc và hệ thống, trong đó các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa ngày càng phong phú, đề cập nhiều mặt, nhiều khía cạnh của văn hóa dưới các góc độ khác nhau

2.1 Nhóm các công trình sách

Hiện đã có nhiều cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng Hồ Chí Minh

về văn hóa nói chung, về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nói riêng,

đặc biệt là các dân tộc ít người Trong số đó có thể kể: Huy Cận: "Suy nghĩ về

bản sắc văn hóa dân tộc", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Đỗ Huy: "Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Thành

Duy: "Cơ sở khoa học và nền tảng văn hóa của tư tưởng Hồ Chí Minh", Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; Đại học quốc gia Hà Nội - Trường Đại học khoa

Trang 7

học xã hội và nhân văn: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa Việt

Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Bùi Đình Phong: “Đỉnh cao tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa”, Nxb Lao động, Hà Nội, 2001; Đinh Xuân Lâm

– Bùi Đình Phong: “Văn hóa và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Phạm Ngọc Anh - Bùi Đình Phong: "Hồ

Chí Minh - Văn hóa và phát triển", Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2009;

Song Thành: “Hồ Chí Minh, nhà văn hóa kiệt xuất”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2010, v.v

Những công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên đề cập, từng bước làm rõ nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về văn hóa, những cống hiến và sự nghiệp văn hóa đồ sộ của Người cho dân tộc và nhân loại, v.v Đồng thời, có đánh giá, nhìn nhận của các học giả về danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng của Người vào quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc

Các công trình này đã cho chúng tôi những kiến thức chung, tổng quát và tiếp cận một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, quan điểm của Người về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Đây là cơ sở quan trọng giúp tôi giải quyết nội dung của luận văn

tính dân tộc của văn hóa nghệ thuật vào xây dựng nền văn hóa nghệ thuật đậm

đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu

Hiền, 2008; “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa vào việc giữ gìn và

Trang 8

phát huy di sản văn hóa của dân tộc Êđê ở Đắk Lắk trong giai đoạn hiện nay”,

Luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Hiền, 2009; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn bản

sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và sự vận dụng vào xây dựng nền văn hóa ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Doãn Thị Mai

Thủy, 2010; “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Tỉnh Thái Nguyên

hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ của Cao Thị Thu Lương,

2011; "Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mông ở tỉnh Sơn La hiện

nay", Luận văn thạc sĩ của Lê Minh Phước, 2013, v.v

Trong những luận văn đó, các tác giả đã trình bày quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, văn hóa - nghệ thuật, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và

sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở các địa phương khác nhau Trên cơ sở phân tích thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, các tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh Các luận văn trên đã cho chúng tôi một cách nhìn đa dạng, sâu sắc quan điểm của Hồ Chí Minh về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phù hợp với thực tiễn vùng, miền, địa phương Kết quả nghiên cứu này sẽ được kế thừa, làm cơ sở cho những luận giải trong quá trình viết luận văn của tôi

2.3 Nhóm các bài đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành

Có rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học, các chuyên gia đầu ngành nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, trong đó có:

"Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại",

Hồ Văn Chiểu, Tạp chí Cộng sản, số 34, 2003; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc", Nguyễn Ngọc Quyến, Tạp chí

Triết học, số 11, 2004; “Quan điểm của Hồ Chí Minh về giữ gìn và phát huy bản

sắc văn hóa dân tộc”, Nguyễn Danh Tiên, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 7, 2010;

Trang 9

“Văn hóa Hồ Chí Minh: đổi mới, hội nhập để phát triển”, Hoàng Chí Bảo, Tạp

chí Lý luận chính trị, số 7, 2010; v.v

Những bài viết này ở các chiều cạnh khác nhau đã giúp chúng tôi hiểu sâu sắc hơn về quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tất yếu phải bảo tồn, phát huy giá trị của văn hóa các dân tộc, có thể kế thừa, giúp ích cho quá trình làm luận văn

2.4 Nhóm các đề tài khoa học

Trong số các đề tài khoa học, Đề tài khoa học cấp Bộ “Tư tưởng Hồ Chí

Minh về xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam” (1995) do TS Bùi Đình Phong

làm chủ nhiệm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, đã phân tích

hệ thống quan điểm lý luận của Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới, từ

đó, đề xuất các quan điểm, giải pháp vận dụng vào xây dựng nền văn hóa ở nước

ta trong tiến trình đổi mới…

Đề tài khoa học cấp Nhà nước KHXH 04.01 “Tư tưởng Hồ Chí Minh về

xây dựng con người và phát triển văn hóa” (2001 – 2005) do GS Đặng Xuân Kỳ

làm chủ nhiệm, đã đi sâu làm rõ những sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh trong hoạt động văn hóa, khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn hệ thống quan điểm của Người trong phát triển văn hóa dân tộc, văn hóa nhân loại hiện nay…

Tìm hiểu các đề tài này đã giúp cho chúng tôi tiếp cận một cách hệ thống

lý luận của Hồ Chí Minh về văn hóa nói chung, trong đó có giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc nói riêng

2.5 Nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa của dân tộc thiểu số nói chung và Tây Bắc nói riêng

Cư Hòa Vần - Hoàng Nam, "Dân tộc Mông ở Việt Nam", Nxb Văn hóa dân tộc, 1994; "Văn hóa H’Mông", Nxb Văn hóa dân tộc, 1996; "Văn hóa dân

gian Lào Cai", Nxb dân tộc, 1997; Hồ Bá Thâm “Bản sắc văn hóa dân tộc”,

Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2003; "Xây dựng đời sống văn hóa ở vùng

Trang 10

cao", Nxb Văn hóa dân tộc, 2004; Trần Hữu Sơn, "Lễ hội cổ truyền Lào Cai",

Nxb Văn hóa dân tộc, 1998; "Văn hóa tâm linh người Mông ở Việt Nam truyền

thống và hiện đại", Nxb Văn hóa – Thông tin và Viện văn học Việt Nam, Hà

Nội, 2005, v.v đã cung cấp cho chúng tôi một cách nhìn tổng quan về văn hóa các dân tộc thiểu số trong đó có văn hóa của dân tộc H’Mông, làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài này

Như vậy, có thể thấy các công trình, bài viết nêu trên đều đã đề cập quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa, về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ở những góc độ khác nhau, song, chưa có một công trình nghiên cứu có tính hệ thống và chuyên biệt tập trung nghiên cứu làm rõ vấn đề như đề tài luận văn chúng tôi đã lựa chọn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc;

- Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc;

- Phân tích, đánh giá thực trạng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai;

Trang 11

- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc;

- Thực trạng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc H’Mông ở

Sa Pa – Lào Cai

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong luận văn này, tác giả không trình bày toàn bộ các vấn đề tư tưởng

Hồ Chí Minh về văn hóa, chỉ tập trung nghiên cứu những quan điểm của Người

về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu những nét chính về văn hóa người H'Mông ở Sa Pa, luận văn đi sâu phân tích, đánh giá việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai (từ năm 1998 đến nay)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về văn hóa, về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng của Hồ Chí Minh;

- Kết hợp các phương pháp nghiên cứu phân tích - tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, lịch sử và lôgíc, hệ thống và khảo sát thực tiễn để thực hiện luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Trang 12

Luận văn góp phần làm sáng tỏ nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Trên cơ sở phân tích thực trạng, nêu rõ thành tựu và hạn chế để cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc H’Mông ở Sa Pa - Lào Cai, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các bộ môn: Văn hóa, lịch sử, đạo đức, dân tộc học, tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học và Cao đẳng; làm tài liệu cho các đề tài nghiên cứu và cho những ai quan tâm, nghiên cứu tìm hiểu vấn đề này Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể của huyện Sa Pa trong việc xây dựng và phát triển văn hóa huyện Sa Pa nói riêng, dân tộc

H’Mông nói chung

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết

Trang 13

Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀ GIỮ GÌN

VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC 1.1 Khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc

1.1.1 Khái niệm văn hóa

* Một số quan niệm về văn hóa

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Về

mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus" mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng

ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người" Theo nhà triết học Anh Thomas Hobbes (1588-

1679), thì "Lao động giành cho đất gọi là sự gieo trồng và sự dạy dỗ trẻ em

gọi là gieo trồng tinh thần"

Theo ngôn ngữ của phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng Việt (culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức, ) có nguồn gốc từ các dạng của động từ Latin colere là colo, colui, cultus với hai

nghĩa: (1) - Giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt; (2) - Cầu cúng

Ở Phương Đông, thuật ngữ văn hóa được sử dụng từ rất sớm Thời Tây Hán (thế kỷ II trước Công nguyên), văn hóa được hiểu theo nghĩa là cách thức giáo hóa con người Thời nhà Chu đã xuất hiện từ “văn” và từ “hóa” Trong sách Chu Dịch có câu: “Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ”, tức là xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ Hay trong bài “Chỉ vũ”, sách Thuyết Uyển, Lưu Hướng viết: “Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước dùng văn đức sau mới dùng vũ lực Phàm dùng vũ lực đều để đối phó kẻ bất phục tùng,

dùng văn hóa không thay đổi được thì sau đó sẽ chinh phạt” [20, tr.13-14]

Còn Tuân Tử quan niệm “hóa tính khởi ngụy”, tức là qua nhân vi để cải tạo

Trang 14

con người thành thực thể văn hóa… Những khái niệm nêu trên cho thấy, văn hóa được hiểu như là giáo hóa

Ngày nay đã có nhiều thuật ngữ văn hóa khác nhau, ngày càng được bổ sung thêm nhiều nội dung mới do sự phát triển của xã hội và sự nhận thức của con người

Trên thế giới hiện nay có khoảng trên 400 định nghĩa về văn hóa Mỗi định nghĩa nhìn nhận văn hóa ở một khía cạnh khác nhau Năm 1982, tại Mêhicô, Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa vì sự phát triển thông qua Tuyên bố ngày 6/8 đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau:

Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hiện nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình, là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [90, tr.23-24]

Theo đó, văn hóa là một tổng thể các đặc trưng: Tinh thần và vật chất, tri thức, nghệ thuật, văn chương, quyền cơ bản của con người, v.v

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: "Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn,

Trang 15

vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội

và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức

chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin"[92 tr.1]

Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống Theo nghĩa chuyên biệt, văn hóa để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn; trong khi theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống

Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt

Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998 thì “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần

do con người sáng tạo ra trong lịch sử” Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ

học đưa ra quan niệm về văn hóa là: (1)- Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên - xã hội (2)- Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát) [75, tr.1100]

Trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, GS Đào Duy Anh cho rằng

văn hóa với tư cách là phương thức sinh hoạt văn hóa PGS.TS Trần Ngọc Thêm nhấn mạnh: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [73, tr.10] Còn GS Phạm Minh Hạc thì cho rằng: "Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vật chất của hoạt động con người, là giá trị phương thức xử thế được công nhận, đã khách thể hóa và thừa nhận trong một cộng

Trang 16

đồng truyền lại cho một cộng đồng khác và cho các thế hệ mai sau" [25, tr.11]

Như vậy, có thể thấy rằng có nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa, theo đó, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau nhưng cũng nói nên rằng văn hóa là lĩnh vực có phạm vi rất rộng lớn Cụ thể, văn hóa có mặt trong toàn bộ đời sống của con người, trong hoạt động sáng tạo của con người, đồng thời cũng là thước đo trình độ phát triển và sự hoàn thiện của con người Qua nghiên cứu các cách tiếp cận khác nhau về văn hóa,

có thể khái quát đặc điểm chính của văn hóa là: (1)- Văn hóa được xem như

hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mình trong tiến trình đi lên của lịch sử Tất cả những gì liên quan đến con người, đến mọi cách thức tồn tại của con người đều mang trong nó cái gọi là văn hóa - Văn hóa là đặc trưng toàn bộ cuộc sống của con người (2)- Văn hóa được hiểu như những giá trị tinh thần, là đời sống tinh thần của xã hội: đạo đức, tôn giáo, thẩm mỹ, v.v Văn hóa chỉ là một mặt của đời sống xã hội loài người (3)- Văn hóa được hiểu là trình độ học vấn của con người

* Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa

Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất, góp phần sáng tạo ra một nền văn hóa mới trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam Bằng sự kết tinh tinh hoa văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc, chắt lọc và kế thừa những tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp với những hoạt động thực tiễn phong phú, trong thời

gian (1942 - 1943), khi viết tác phẩm Nhật ký trong tù, ở mục đọc sách nằm

cuối tập thơ, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm của mình về văn hóa:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày

Trang 17

về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [39, tr.431]

Khắc phục được tính phiến diện trong trong các quan niệm về văn hóa,

từ một góc nhìn, quan niệm Hồ Chí Minh nêu ra là một cách tiếp cận cách toàn diện về văn hóa Theo Hồ Chí Minh: (1)- Văn hóa là tính đặc thù của xã hội, thể hiện mức độ phát triển lịch sử mà con người đạt được; là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn của con người (2)- Văn hoá là biểu hiện sự thống nhất của

tự nhiên và xã hội, là đặc tính về khả năng và sức sáng tạo của con người, nó bao hàm những giá trị cụ thể như máy móc, công cụ kỹ thuật, kết quả nhận thức, các tác phẩm nghệ thuật, các chuẩn mực pháp quyền, đạo đức, v.v ; cả sức mạnh chủ quan của con người và những khả năng trong hoạt động như tri thức, sự khéo léo, thói quen nghề nghiệp, mức độ phát triển của khả năng cảm thụ thẩm mỹ, thế giới quan, phương thức và hình thức giao tiếp của con người trong xã hội (3)- Văn hóa là những giá trị tinh thần, được đặt ngang với các vấn đề quan trọng khác như chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa thuộc kiến trúc thượng tầng (4)- Văn hóa được hiểu là trình độ học vấn của con người, nên ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú trọng đến vấn đề chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ, từng bước nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân

Quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh gần với quan điểm hiện đại về văn hóa, khái quát văn hóa với những nội dung rộng nhất của phạm trù văn hóa Theo đó, văn hóa không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con người, mà còn bao gồm cả những hoạt động vật chất Văn hóa là hoạt động

Trang 18

sáng tạo của con người, mà nguồn gốc là do nhu cầu sinh tồn của con người với tư cách là chủ thể của sự sáng tạo ra các giá trị văn hóa Văn hóa bao hàm hai lĩnh vực là văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần tương ứng với hai hình thức sản xuất của xã hội loài người là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Văn hoá vật chất biểu hiện lĩnh vực hoạt động vật chất và toàn bộ kết quả của hoạt động này, bao gồm: công cụ lao động, nhà ở và những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày như ăn, mặc, đi lại, thông tin, giao lưu, v.v Văn hoá tinh thần được phản ánh trong hoạt động ý thức, hoạt động sản xuất tinh thần, cùng với toàn bộ kết quả của nó như: hoạt động nhận thức, đạo đức, pháp luật, nghệ thuật, giáo dục đào tạo, tôn giáo tín ngưỡng, v.v Việc phân định hai lĩnh vực văn hoá trên đây chỉ là tương đối vì mỗi kết quả của những hoạt động này đều hàm chứa trong mình nó cả hai giá trị, giá trị vật chất và giá trị tinh thần

Còn về văn hóa dân tộc, có thể hiểu văn hóa theo hai nghĩa, hai cấp độ khác nhau Trong phạm vi hẹp, văn hóa dân tộc đồng nghĩa với văn hóa một tộc người Văn hóa dân tộc hoặc văn hóa tộc người + tộc danh là một chi tiết của văn hóa nói chung Ở phạm vi rộng, văn hóa dân tộc là văn hóa chung của

cả cộng đồng người (Nation) sống trong cùng một quốc gia Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, cũng như những quan hệ

xã hội được sáng tạo trong điều kiện môi trường sinh tụ của một tộc người, phản ánh những nhận thức, tâm lý, tình cảm, tập quán riêng biệt được hình thành trong lịch sử của dân tộc đó

Ở các quốc gia đa dân tộc, văn hóa của các tộc người đan xen, hấp thụ lẫn nhau, tạo nên nét chung của văn hóa quốc gia, của cả cộng đồng dân tộc, của vùng, miền, địa phương; và theo đó, mỗi nền văn hóa đều có bản sắc và những giá trị riêng của nó Cộng đồng sẽ bền vững khi nó trở thành dân tộc Giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc như là "mật mã di truyền xã hội"

Trang 19

của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng, dân tộc đó đã được tích lũy, lắng đọng trong quá trình hoạt động của mình Chính quá trình đó đã hình thành nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc họ, và trong đó yếu tố dân tộc là một trong những yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa, bởi: "Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc; một dân tộc đánh mất truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả" [62, tr.13] Có thể nói, "ngày nay văn hóa được coi là một yếu tố nội sinh, không phải chỉ là kết quả mà còn là nguyên nhân của sự phát triển xã hội, phải đặt trên nền tảng văn hóa mang bản sắc dân tộc, đồng thời tiếp thu những giá trị tinh hoa của loài người Văn hóa phải kết tinh thành trí tuệ của cả dân tộc, được kế thừa, phát triển qua nhiều thế hệ, tạo ra sức mạnh vật chất, tinh thần to lớn của toàn dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [54, tr.81] Chính vì vậy, việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với sự tồn vong của mỗi dân tộc

* Vai trò nền tảng tinh thần của văn hóa

Theo Hồ Chí Minh, văn hóa có vai trò to lớn trong đời sống xã hội, vì văn hóa không chỉ là một hiện tượng tinh thần tách rời đời sống vật chất của con người, mà ngược lại văn hóa bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Hơn nữa, văn hóa không chỉ thu hẹp trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật mà còn bao trùm lên toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, không chỉ phản ánh trình độ học vấn của con người mà còn là thước đo trình độ phát triển của xã hội Văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Theo Hồ Chí Minh, văn hóa và chính trị, kinh

tế, xã hội tạo thành 4 vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội, có mối quan hệ mật thiết với nhau

Trang 20

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, muốn đất nước phát triển thì phải coi trọng cả bốn yếu tố này như nhau và điều này được Hồ Chí Minh nêu rõ trong bài viết đăng trên báo Cứu quốc số ra ngày 8/10/1945: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có 4 vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải coi trọng ngang nhau: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa” Theo đó, chính trị, xã hội được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng Chính trị giải phóng sẽ

mở đường cho văn hóa phát triển, vì: “Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy… dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị nô lệ, thì văn nghệ cũng bị nô

lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được” [42, tr.434] Tiếp đó, tại Đại hội văn hóa toàn quốc 24/11/1946, Người nhấn mạnh: “Văn hóa có liên lạc với chính trị rất mật thiết”, nên không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị, phải phục vụ nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế

Cũng theo Hồ Chí Minh, kinh tế thuộc về cơ sở hạ tầng, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa, nên phải chú trọng xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở

hạ tầng để có điều kiện xây dựng và phát triển văn hóa Người viết, văn hóa thuộc kiến trúc thượng tầng, nhưng cơ sở hạ tầng có kiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được và có đủ điều kiện để phát triển Kinh tế phải đi trước một bước vì: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo, vì thế kinh tế phải đi trước” [45, tr.59]

Một nền chính trị đúng đắn bao giờ cũng được xây dựng trên cơ sở một nền văn hóa tiến bộ; một nền văn hóa tiến bộ phải hướng vào mục tiêu phục

vụ nhiệm vụ chính trị cao cả của đất nước chính là một quan điểm hết sức biện chứng của Hồ Chí Minh về văn hóa khi Người tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong thực tiễn Người không chỉ nhấn mạnh một chiều sự phụ thuộc của văn hóa vào kinh tế, chính trị mà còn chỉ rõ vai trò, sức mạnh to lớn của văn hóa tác động trở lại đối với kinh tế và chính trị Văn

Trang 21

hóa không phụ thuộc một cách máy móc vào điều kiện sinh hoạt vật chất, mà văn hóa, tư tưởng phải đi trước một bước, phải "soi đường cho quốc dân đi"

để thúc đẩy cho kinh tế và xã hội phát triển Hồ Chí Minh từng nói: “Trình độ văn hóa của nhân dân được nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh” [43, tr.281-282]

Văn hóa phải ở trong kinh tế và chính trị theo Hồ Chí Minh, nghĩa là văn hóa phải tham gia thực hiện những nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng

và phát triển kinh tế Quan điểm này đã định hướng cho việc xây dựng một nền văn hóa mới ở Việt Nam, theo đó, văn hóa có vai trò như một mặt trận, đồng hành cùng cuộc kháng chiến của dân tộc, là "văn hóa hóa kháng chiến"

và "kháng chiến hóa văn hóa"

Văn hóa phải ở trong kinh tế và chính trị nghĩa là hoạt động kinh tế và chính trị cũng phải có tính văn hóa, bởi rằng chính trị mà thiếu văn hóa thì sơ cứng và thô thiển; kinh tế mà thiếu văn hóa thì phát triển nhưng không bền vững… vì vậy văn hóa phải là sức mạnh nội sinh của sự phát triển

Cùng với định nghĩa về văn hóa, khẳng định vai trò của văn hóa, Hồ Chí Minh còn đưa ra năm điểm lớn định hướng cho việc xây dựng một nền văn hóa dân tộc

“1 Xây dựng tâm lý: Tinh thần độc lập tự cường

2 Xây dựng luân lý: Biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng

3 Xây dựng xã hội: Mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội

4 Xây dựng chính trị: dân quyền

5 Xây dựng kinh tế” [38, tr.431]

Trang 22

1.1.2 Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc

* Một số quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc

Mỗi dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển đã tạo nên đặc trưng về văn hóa và cả những nét tương đồng về văn hóa giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Tuy nhiên, trong sự tương đồng ấy thì mỗi một dân tộc có những điểm khác biệt về văn hóa mà các dân tộc khác không có Sự khác biệt ấy đã tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa giữa các dân tộc mà người ta gọi đó là bản sắc văn hóa dân tộc

Xét về mặt ngữ nghĩa, bản sắc văn hóa dân tộc là một từ ghép có gốc Hán – Việt “Bản” là cái gốc, cái cốt lõi, cái căn bản, “sắc” là sự biểu hiện cái căn bản, cái cốt lõi ấy ra ngoài Thuật ngữ bản sắc thường được sử dụng gắn với văn hóa và dân tộc Vì vậy, nói đến dân tộc là nói đến văn hóa, bản sắc văn hóa; nói đến văn hóa là nói đến dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc

Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng hợp những hiện tượng văn hóa - xã hội, bao gồm các chuẩn mực giao tiếp, các khuôn mẫu văn hóa, tư tưởng xã hội, phong tục tập quán, các nghi lễ, thiết chế xã hội… được hình thành, giữ gìn qua năm tháng; trở thành thói quen trong các hoạt động sống của con người

Nó được in dấu trong mọi mặt của đời sống xã hội thuộc một dân tộc nhất định, của một cộng đồng riêng biệt

Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc đã được nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa quan tâm, tiếp cận nên khái niệm về bản sắc văn hóa dân tộc cũng rất phong phú Theo đó, nhà nghiên cứu văn hóa Phạm Đức Dương cho rằng, mỗi nền văn hóa có luật chơi riêng, quy định kiểu lựa chọn và tạo nên những nét độc đáo riêng Nét độc đáo ấy chính là bản sắc văn hóa của dân tộc đó Bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc là cơ sở để khu biệt các dân tộc với nhau với điều kiện các dân tộc ấy phải có một truyền thống văn hóa vững chắc đã được thử thách trong quá trình vận động của lịch sử [8, tr.47]

Trang 23

Tác giả Huy Cận nhấn mạnh rằng: Bản sắc văn hóa không phải là một

di sản bất di, bất dịch, cũng không phải đơn thuần là một danh mục về những truyền thống Bản sắc văn hóa dân tộc đúng hơn là một động thái nội bộ, bên trong, là một quá trình sáng tạo không ngừng của chính bản thân một xã hội, một sự tự nhào nặn mình của cả cộng đồng cần được phát triển và sống mãi [6, tr.152-153]

Bản sắc văn hóa là "những biểu hiện giá trị tinh thần hay vật chất, nói lên đặc điểm của một tộc người nhất định, phân biệt họ với dân tộc khác" Trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998), Đảng ta đã khẳng định:

Bản sắc văn hóa dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động;

sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo [17, tr.56]

Bản sắc văn hóa của một dân tộc là di sản vô cùng quý giá; đó là tinh hoa, cốt lõi đồng thời bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện tinh thần, linh hồn, cốt cách, bản lĩnh của một dân tộc, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nhận định chỗ đứng của mỗi quốc gia trên trường quốc tế Bản sắc văn hóa được coi là dấu hiệu khác biệt về chất giữa các dân tộc với nhau, quyết định dân tộc

đó còn hay mất, phát triển hay tiêu vong, thể hiện sức sống của dân tộc đó Trong quá trình tồn tại và phát triển, chính bản sắc dân tộc đã làm nên cái cốt lõi vững chắc, giúp cho nền văn hóa vừa giàu cá tính, vừa đủ bản lĩnh để không ngừng tích tụ, biến đổi, phát triển, sáng tạo thêm những giá trị mới, tìm

Trang 24

kiếm những hình thức biểu hiện mới mà vẫn giữ được tính nhất quán so với bản thân mình trong quá trình phát triển

Bản sắc văn hóa được hình thành cùng với quá trình hình thành dân tộc,

nó gắn liền với hoàn cảnh không gian, địa lý, phương thức sản xuất, tâm lý của dân tộc Một dân tộc càng có chiều sâu cội nguồn, bề dày lịch sử và có ý thức cao về bản thân mình, càng có cơ hội bộc lộ cái tính riêng độc đáo của mình trong văn hóa Bản sắc văn hóa như mạch ngầm thẩm thấu vào mọi giá trị văn hóa, xuyên qua thời gian, làm nên mối liên hệ thiêng liêng, bền vững giữa các thế hệ, các giai đoạn phát triển của một nền văn hóa

Bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ là dấu hiệu hình thức để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, mà điều quan trọng hơn là cần đánh giá giá trị của những đặc trưng bản sắc đó theo tiêu chí nhân văn Vì vậy, nếu một dân tộc nếu như đánh mất bản sắc văn hóa của mình, thì thực chất dân tộc ấy đã đánh mất chính mình Chính vì vậy, việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa các dân tộc là vấn đề có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn vong của mỗi dân tộc

Cùng với sự hình thành và phát triển của dân tộc, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, có nền văn hóa lâu đời, đa dạng, có bản sắc riêng Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là tổng thể những giá trị bền vững do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo trong quá trình dựng nước và giữ nước Nền văn hóa này đã trải qua bao biến thiên của lịch sử, luôn tự ý thức về bản thân mình, không ngừng dung hòa, đổi mới, tự cường Vì thế, trước những thử thách nghiệt ngã nhất của lịch sử như bị áp đặt văn hóa, thậm chí cưỡng bức văn hóa, đất nước dù bị xóa tên song văn hóa dân tộc Việt Nam vẫn tồn tại và phát triển Không những thế, dân tộc Việt Nam còn tự tìm cho mình một ứng xử văn hóa thông minh khi không co mình lại, không từ chối văn hóa

Trang 25

bên ngoài và cũng không cam chịu bị đồng hóa trên tinh thần thấm nhuần quan điểm "một nền văn hóa khép kín là dấu hiệu của sự suy thoái" [8, tr.47]

Văn hóa Việt Nam không chỉ là sự kết tinh tinh hoa ngàn năm của dân tộc, mà còn có sự tiếp thu, chắt lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại để làm giàu cho văn hóa của mình Với ý nghĩa đó, bản sắc văn hóa Việt Nam là nội lực,

là sức mạnh, là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, là điểm tựa và là

bệ đỡ vững chắc đưa văn hóa nước ta ngày càng phát triển bền vững muôn đời

Như vậy, nói đến bản sắc văn hóa dân tộc là nói đến những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, hạt nhân của một nền văn hóa dân tộc, là nói đến những sắc thái biểu hiện đặc sắc của mỗi dân tộc thể hiện qua tính đa dạng và thống nhất, truyền thống và hiện đại, tự tôn dân tộc và hòa hợp dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc là tiền đề, sức mạnh nội sinh cho sự phát triển văn hóa của mỗi dân tộc trong hành trình xây dựng và phát triển

* Quan niệm của Hồ Chí Minh về bản sắc văn hóa dân tộc

Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: Trên dải đất hình chữ S, đồng bào các dân tộc Việt Nam, miền xuôi cũng như miền núi, dân tộc Kinh cũng như dân tộc Tày, Nùng, H’Mông, Ba Na, Khơ Me, v.v phải đoàn kết, đồng tâm, góp sức trong cuộc đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền quốc gia, lãnh thổ và có trách nhiệm chung để xây dựng và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần để ngày càng văn minh, tiến

bộ Làm được điều đó, cũng chính là thiết thực góp phần bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, phát triển văn hoá của dân tộc mình trong nền văn hoá chung của dân tộc Theo Người, để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thì điều cần thiết nhất là “mỗi dân tộc phải chăm lo đặc tính của mình” [50, tr 359] trong văn hoá, nghệ thuật và các dân tộc “nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc”, giữ gìn và phát huy những bản sắc văn hoá riêng của dân tộc mình trong

Trang 26

đời sống Hơn ai hết, Hồ Chí Minh thấu hiểu rằng, không có một nền văn hoá của dân tộc nào trường tồn lại tách rời khỏi những giá trị của truyền thống, đoạn tuyệt với những giá trị làm nên bản sắc độc đáo của một dân tộc nhất định (dù đó là dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số) Và giá trị vượt không gian, vượt thời gian của mọi nền văn hoá, đó chính là chân, thiện, mỹ, là những giá trị được lưu truyền hàm chứa trong di sản văn hoá vật thể, phi vật thể của mỗi dân tộc

Theo Hồ Chí Minh, bản sắc văn hóa dân tộc là một di sản vô cùng quý giá, là tinh hoa, cốt lõi và là linh hồn của chính dân tộc đó Bản sắc văn hóa dân tộc chính là đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc tạo nên sự khác biệt giữa các cộng đồng người Bản sắc văn hóa dân tộc là biểu hiện sâu sắc và tập trung nhất bản sắc dân tộc, giúp phân biệt, không nhầm lẫn với văn hóa dân tộc khác Tuy nhiên, cốt cách dân tộc không phải là nhất thành bất biến mà nó

có sự bổ sung những tinh túy mới Bởi khi điều kiện lịch sử thay đổi thì cần phải có sự chọn lọc, kế thừa, bổ sung và đổi mới cả với những giá trị đó

Chính bản sắc văn hoá dân tộc đảm bảo cho dân tộc tồn tại, đứng vững

và phát triển qua các biến động của lịch sử Bản sắc văn hoá dân tộc là cái biểu lộ được trọn vẹn sự hiện diện của một bản sắc trong giao lưu với các dân tộc khác Bản sắc dân tộc biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của nó, giúp cho dân tộc đó giữ được tính duy nhất (tính độc đáo), tính thống nhất, tính nhất quán so với bản thân mình Bản sắc dân tộc thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống - ý thức thuộc về một dân tộc (cội nguồn), cách tư duy, cách sống, cách dựng nước, giữ nước, cách sáng tạo văn hoá, khoa học, văn nghệ Bản sắc dân tộc thể hiện trong giá trị của dân tộc, nó

là cốt lõi của một văn hoá Bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ thể hiện ở nội dung, ở cốt cách, tâm hồn dân tộc mà còn thể hiện đậm nét ở hình thức và phương tiện biểu hiện Biểu hiện của cốt cách và tâm hồn con người Việt

Trang 27

Nam là truyền thống yêu nước thấm đượm qua lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, thương người như thể thương thân, truyền thống lao động cần cù, lạc quan, yêu đời, cố kết, đoàn kết vượt qua muôn ngàn khó khăn, gian khổ, v.v

Bản sắc văn hoá dân tộc luôn được bổ sung qua các thời kỳ lịch sử, bởi trong đó có giá trị được hình thành từ xa xưa và luôn luôn bền vững, song cũng có những giá trị đúng lúc trước, nhưng nay không thích hợp Đồng thời, lại có giá trị mới nhưng phù hợp với nguyện vọng dân tộc thì nhanh chóng có sức sống bền vững trong lòng dân tộc Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, đồng thời tự hào về bản sắc văn hóa các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, về các hình thức biểu hiện của văn hóa Việt Nam Là quốc gia đa dân tộc, ở đó, mỗi một dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đều

có bản sắc văn hóa riêng Cho nên, trong tư tưởng của Người, xây dựng nền văn hóa mới, nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc chính là xây dựng nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, thể hiện được những gì tinh túy nhất của các dân tộc sống trên lãnh thổ hình chữ S Theo đó, khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc còn hàm chứa những giá trị văn hóa của các dân tộc anh em Vì vậy, nếu để đồng bào thiểu số không biết chữ, không gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa mỗi dân tộc, để văn hóa truyền thống của đồng bào mai một, khoa học kỹ thuật thấp kém… thì chính là góp phần làm nghèo nàn nền văn hóa Việt Nam

Bản sắc văn hóa dân tộc là bằng chứng về bản lĩnh sáng tạo của dân tộc

đó, chịu sự quy định của những điều kiện sống (hoàn cảnh địa lý, hoàn cảnh lịch sử…), thích ứng với những điều kiện đó, tìm ra cách chế ngự khắc phục khó khăn, lợi dụng thuận lợi để phát triển Không phải chỉ cái “vốn có” mới là bản sắc văn hóa dân tộc, mà bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, cộng đồng dân tộc cũng phát triển, kết hợp với những yếu tố mới, nhưng trong cái phức hợp

Trang 28

hình thành về sau, cái “vốn có” vẫn là xương sống, kết hợp cái mới với cái

“vốn có” trong điều kiện mới

Quan điểm của Hồ Chí Minh về bản sắc văn hóa dân tộc rất toàn diện

và sâu sắc Nền văn hoá giàu bản sắc ấy chính là khí phách, là tâm hồn dân tộc, là tài sản vô giá của đất nước và của mỗi con người Việt Nam

1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

1.2.1 Cơ sở lý luận

* Văn hóa dân tộc

Sinh ra và lớn lên tại vùng quê nghèo xứ Nghệ giàu truyền thống văn hóa, lại xuất thân trong một gia đình Nho học yêu nước, ngay từ nhỏ, cậu bé Nguyễn Sinh Cung - Hồ Chí Minh đã có điều kiện để tiếp nhận những tinh hoa văn hóa dân tộc, của nền văn hóa Việt Nam được hình thành và phát triển qua hàng ngàn năm dựng dựng nước và giữ nước, trở thành nguồn nuôi dưỡng tinh thần giúp cho dân tộc chiến thắng thiên tai cũng như âm mưu đồng hóa của mọi kẻ thù xâm lược Cùng với sự ham hiểu hiểu biết, cởi mở tiếp thu để làm giàu tri thức cho chính bản thân mình, vốn văn hóa của gia đình, quê hương, dân tộc là điểm tựa để Hồ Chí Minh thâu thái tinh hoa văn hóa nhân loại làm giàu cho bản sắc văn hóa dân tộc trong hành trình hoạt động và đấu tranh cách mạng

Quê hương Nghệ An nằm trong vùng khí hậu khắc nghiệt Con người

xứ Nghệ cần kiệm, đoàn kết, thương yêu giúp đỡ nhau… trong sản xuất, mưu sinh và chiến đấu chống giặc ngoại xâm Theo chiều dài lịch sử, người dân Nghệ An luôn tham gia vào các cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc, từ chống phong kiến phương Bắc đến chống thực dân Pháp xâm lược… Đầu thế

kỷ XX, Phan Bội Châu, một chí yêu nước người Nam Đàn, Nghệ An đã khởi xướng phong trào Đông Du… Không chỉ có vậy, Nghệ An còn nổi tiếng là

Trang 29

vùng đất hiếu học, với nhiều người đỗ đạt cao, đem tài đức ra giúp dân, giúp nước Trong số rất nhiều khoa bảng nổi danh như: Trạng nguyên Bạch Liêu, Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, Thám hoa Nguyễn Văn Giai… thì huyện Nam Đàn có 4 người học giỏi được gọi là “Tứ hổ” (San, Đôn, Lương, Quý) và ông Vương Hữu Lương là người làng Kim Liên (quê nội của Nguyễn Sinh Cung) Làng Kim Liên - quê nội của Hồ Chí Minh cũng có nhiều người đỗ đạt Nho

sĩ của làng khá đông và nơi đây trở thành nơi lui tới thường xuyên của các Nho sĩ quanh vùng

Nghệ An còn là một trung tâm văn hóa, có kho tàng văn học dân gian phong phú, đa dạng Cả hai làng Kim Liên và Hoàng Trù còn là đất “hát phường vải” - một sinh hoạt văn hóa dân gian lâu đời tạo nên đặc trưng của văn hóa Nam Đàn Ngay từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được nghe những làn điệu dân ca của quê mình từ bà ngoại, từ người dì; được hưởng sự giáo dục đúng đắn, chỉ dạy tận tình của ông bà, cha mẹ, thầy học; được sống trong tình thân

và nuôi dưỡng trong lối sống văn hóa của gia đình, làng xóm… Bằng tình yêu, sự nhạy cảm và trí tuệ mẫn tiệp, Người đã sớm hiểu, trân trọng lịch sử dân tộc, truyền thống của cha ông và với lòng yêu nước, thương dân, bầu nhiệt huyết của mình, Hồ Chí Minh đã sớm có chí hướng, hoài bão cứu nước, cứu dân

Cùng với thời gian, có thể nói văn hóa dân tộc luôn được các thế hệ cha ông có ý thức bảo tồn và phát huy chính là cội nguồn hình thành tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh nói chung cũng như tư tưởng của Người về giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc nói riêng Theo Hồ Chí Minh, vì có tiếp thu chọn lọc nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ngày càng phong phú và do đó trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cũng cần có sự vận động, phát triển Theo đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam thể hiện rõ là: (1)- Giữ gìn, bảo vệ những giá trị

Trang 30

truyền thống tốt đẹp, lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc…- cái nôi, nguồn dinh dưỡng nuôi sống tinh thần của cả dân tộc Cha ông ta đã kiên cường đấu tranh để bảo vệ giang sơn gấm vóc, đồng thời bảo vệ cả phong tục tập quán của người Việt như cưới xin, nhuộm răng, xăm mình, để tóc dài… mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nhưng khi chủ nghĩa thực dân và văn hóa phương Tây tràn vào, một mặt, các phong trào đấu tranh yêu nước phát triển mạnh để đánh giặc, giữ nước; mặt khác, biết gạn đực khơi trong để gắn bảo tồn và phát triển văn hóa với cải cách, duy tân trên tinh thần không thể “đóng cửa” mà phải tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại (2)- Giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống như tình thương dân, đoàn kết toàn dân, lấy dân làm gốc,v.v của các bậc Vua hiền được lưu truyền trong văn học dân gian, thần thoại từ đời này sang đời khác nhằm chấn hưng văn hóa dân tộc Đó chính là, cả trong chiến

tranh và hòa bình, “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” và

“khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc” trên cơ sở “lấy dân làm gốc” luôn được quán triệt, thực hiện Thấu hiểu sâu sắc rằng, "chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân", coi trong vai trò của nhân dân, Hồ Chí Minh đã

bổ sung và yêu cầu mỗi người cán bộ, đảng viên phải “Trung với nước, hiếu với dân”, “lấy dân làm gốc”… (3)- Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là bảo vệ mạch nguồn chủ nghĩa yêu nước - giá trị đầu bảng của văn hóa dân tộc Việt Nam được thể hiện qua những sáng tác văn học dân gian Giữ gìn gắn với phát triển, và trên tinh thần đó, Hồ Chí Minh khẳng định "Không

có gì quý hơn độc lập tự do"

Được bắt nguồn từ văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đã ngấm sâu trong trái tim Người, là cơ sở để trong hành trình tìm đường cứu nước Người quyết định đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với con

Trang 31

đường cứu nước trong thời đại mới - con đường cách mạng vô sản để giải phóng dân tộc mình

* Văn hóa nhân loại

Nghiên cứu tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, có thể khẳng định rằng văn hóa phương Đông có ảnh hưởng rất sớm đến Hồ Chí Minh Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho học, Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng từ các nguyên tắc luân lý đạo đức từng thống trị tư tưởng, tình cảm các dân tộc phương Đông như: Trung, hiếu, tiết nghĩa, tôn sư trọng đạo, tam cương ngũ thường… Song tiếp thu một cách chọn lọc, Hồ Chí Minh đã bỏ qua những yếu tố lạc hậu, phản động về quan niệm khinh thường lao động chân tay, khinh phụ nữ, phân biệt đẳng cấp… của Nho giáo, để chắt lọc lấy các yếu tố tích cực như lý tưởng về một xã hội bình trị, hòa mục, hòa đồng, là triết lý nhân sinh, tu thân dưỡng tính, đề cao văn hóa lễ giáo, truyền thống hiếu học… để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng trên tinh thần cởi mở tiếp thu, vì rằng "trong học thyết của Khổng Tử có nhiều điểm không đúng, song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học” [41, tr.46]

Trong các trước tác của Hồ Chí Minh, có nhiều thuật ngữ của Nho giáo

đã được Người kế thừa, bổ sung và phát triển lên một tầm cao mới Đó là

"Trung với vua, hiếu với cha mẹ" được phát triển thành "Trung với nước, hiếu với dân"… Đặc biệt, cần, kiệm, liêm, chính vốn là những khái niệm của Nho giáo để nói về đạo đức, tư cách của người quân tử, nhưng đến Hồ Chí Minh thì "ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân” [41, tr.46]

Không chỉ chịu ảnh hưởng của Nho giáo, Hồ Chí Minh còn tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của Phật giáo Đó là tư tưởng vị tha, từ bi bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân, là sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm việc thiện, tinh thần bình đẳng, dân chủ, chống

Trang 32

phân biệt đẳng cấp, đề cao lao động, chống lười biếng… và hướng nó vào phục vụ cho mục đích chung của dân tộc và cách mạng Trong thực tiễn, Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực của tinh thần cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, sống giản dị, thanh bạch, hòa mục, hòa đồng với thiên nhiên

Trân trọng di sản văn hóa, tinh thần của quá khứ, Hồ Chí Minh đã chắt lọc những giọt tinh túy của các tiền nhân ở những mặt tích cực và trên cơ sở

đó bổ sung, đổi mới, phát triển nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng Và từ câu khẩu hiệu nổi tiếng "Tự do – Bình đẳng – Bác ái" của Đại cách mạng tư sản Pháp: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp:

Tự do – Bình đẳng – Bác ái… và từ thở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn dấu đằng sau những chữ ấy” [36, tr.477], để làm giàu cho chính bản thân mình, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, tiếp thu nền văn hóa phương Tây trong quá trình khảo nghiệm, tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng

Sau đó, trong những năm tháng hoạt động tại nước Pháp, Hồ Chí Minh

đã tiếp thu tư tưởng tự do, bình đẳng của các nhà khai sáng Vônte, Rútxô, Môngtétxkiơ; tiếp thu các giá trị của bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của Đại cách mạng Pháp, các giá trị về quyền sống, quyền tự

do, quyền mưu cầu hạnh phúc trong Tuyên ngôn độc lập ở Mỹ năm 1776…

để khái quát thành chân lý mang nhiều giá trị nhân văn cao cả, thể hiện trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945

Trên hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp thu có chọn lọc văn hóa phương Đông và phương Tây; vận dụng, bổ sung thêm những nội dung mới, trở thành những giá trị vĩnh hằng của nhân loại Trong quá trình tiếp thu các giá trị văn hóa phương Tây, đặc biệt là tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã không chỉ bổ sung thêm cho văn hóa Việt Nam thêm đa dạng,

Trang 33

phong phú mà còn khẳng định văn hóa Việt Nam phải "soi đường cho quốc dân đi", góp phần hoàn thiện về mặt tư tưởng văn hóa, tư tưởng nhân văn mang tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân loại sâu sắc ở Hồ Chí Minh

Trong quá trình tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, Hồ Chí Minh không đối lập văn hóa phương Đông với văn hóa phương Tây, truyền thống với hiện đại mà kết hợp văn hóa Đông – Tây một cách hài hòa Những điểm tích cực, tiến bộ của văn hóa nhân loại được Người lựa chọn tiếp thu, bổ sung, phát triển phục vụ cho mục đích cách mạng, cho sự nghiệp giải phóng con người, làm giàu cho bản sắc văn hóa Việt Nam, vì cả Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho

xã hội… Vì vậy, nếu họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, thì Người tin chắc rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết và cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Cuối thế kỷ XIX, các nước đế quốc đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa và căn bản đã hoàn thành việc phân chia thế giới, đặt ách thống trị thực dân ở khắp các châu Á, Phi, Mỹ Latinh Mâu thuẫn giữa các nước thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân ngày càng trở nên gay gắt và nhu cầu giải phóng dân tộc của nhân dân các dân tộc thuộc địa càng trở nên bức thiết

Khâm phục lòng yêu nước của các vị tiền bối, nhưng khác họ, Hồ Chí Minh ra nước ngoài tìm đường cứu nước, với khát vọng giành độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân Nhưng đi nhiều, khảo nghiệm nhiều và hòa mình vào phong trào công nhân Hồ Chí Minh đã không khỏi ngạc nhiên trước một nước Pháp ngập tràn các tệ nạn xã hội, đầy người dân nghèo khổ và đáng thương; nước Mỹ cũng còn rất nhiều người Mỹ da đen có cuộc sống nghèo khổ, các vụ “hành hình kiểu Lyusơ” khác xa với những gì mà các bản Tuyên ngôn nổi tiếng đã khẳng định Sống và làm việc, hòa mình với cuộc

Trang 34

sống khổ đau của người lao động ở nhiều quốc gia, châu lục, Hồ Chí Minh rút

ra nhận xét: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: Giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản” [36, tr 266]

Tháng 7/1920, khi được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Hồ Chí Minh đã sung sướng đến phát khóc lên vì đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc mình qua nội dung của văn kiện quan trọng đó Tại Đại hội Tua tháng 12/1920, Hồ Chí Minh đã bỏ phiếu tán thành, gia nhập Quốc tế thứ III và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp

Hành trình trải nghiệm và hòa mình vào thế giới văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng của các dân tộc, Hồ Chí Minh đã viết sách, viết báo, tham gia nhiều hoạt động văn hóa, tổ chức nhiều hội liên hiệp… nhằm giác ngộ cách mạng cho nhân dân các dân tộc, trong đó có đồng bào mình, truyền đến họ tinh thần đoàn kết, đồng tâm để "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta"

Trong bối cảnh chung của tình hình quốc tế, Việt Nam cũng bị chi phối bởi những điều kiện lịch sử đó Bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, thâm độc, nhân danh “khai hóa văn minh”, thực hiện chính sách ngu dân, chia để trị, đầu độc nhân dân ta bằng rượu và thuốc phiện… đời sống nhân dân ta cùng cực, tăm tối, dốt nát Để có được độc lập,

tự do, để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt, nhân dân Việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, giành chính quyền, giải phóng xã hội, từ đó giải phóng văn hóa, mở đường cho văn hóa phát triển

1.2.3 Hồ Chí Minh là biểu tượng của bản sắc văn hóa Việt Nam

Được vinh danh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại vì những đóng góp của mình, song Hồ Chí Minh trước hết là sản phẩm của dân tộc mình, đất nước mình, là tiêu biểu, là hội tụ tinh hoa của

Trang 35

văn hóa Việt Nam Người chính là tượng trưng cao đẹp nhất của tâm hồn, tính cách và văn hóa Việt Nam được hun đúc qua hàng nghàn năm lịch sử

Giống như bao người Việt Nam, Hồ Chí Minh mang trong mình lòng yêu nước - dòng chủ lưu, hạt nhân tinh thần sáng tạo của dân tộc, tư tưởng, tình cảm cao quý, thiêng liêng và lòng dũng cảm của con người Việt Nam và cũng là chuẩn mực đạo đức cơ bản của dân tộc Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã thúc giục Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, trở thành người cộng sản, suốt đời đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân Ở Hồ Chí Minh, khát vọng giành độc lập dân tộc gắn liền khát vọng đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân luôn thường trực, nhất quán trong suy nghĩ và hành động của Người Cùng với đó, tình yêu thương con người, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, khoan dung, hòa nhập, đề cao chữ “nhân”, chữ

“nghĩa”, “thương người như thể thương thân”, “nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước thì thương nhau cùng”…- văn hóa trọng tình đã thấm đẫm trong Người Chính sách đại đoàn kết, tấm lòng khoan dung, độ lượng của Hồ Chí Minh đã làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, cảm hóa được nhiều nhân sĩ, trí thức đã từng làm việc dưới chế độ cũ như Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, Thượng thư Bùi Bằng Đoàn, v.v Ở Hồ Chí Minh, lòng yêu thương con người không phụ thuộc vào biên giới, là động lực thúc đẩy Người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ hoạt động và đấu tranh cách mạng để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Trong đấu tranh cách mạng và trong từng thế ứng xử thường ngày, tình thương yêu con người, tình nghĩa đồng chí, đồng bào được nâng lên, cao đẹp trong năm châu bốn biển trên tinh thần thấu triệt phương pháp biện chứng của học thuyết Mác - Lênin: “Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được” [47, tr.554]

Trang 36

Văn hóa Việt Nam hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc dựng nước và giữ nước của cha ông, trong đó vừa giữ gìn những gì tinh túy, cốt tủy nhất của giá trị Việt Nam, vừa chống lại sự đồng hóa của kẻ thù nhưng không “khép kín”, “đóng cửa” mà mở rộng tiếp nhận trên tinh thần chắt lọc nhân tố cần thiết, thích hợp để làm giàu thêm cho văn hóa dân tộc mình Cuộc đời, nhân cách Hồ Chí Minh là biểu hiện sinh động của sự tiếp nhận, tiếp biến

và vượt gộp để làm giàu vốn tri thức, nâng tầm văn hóa của mình để trở thành biểu tượng của sự kết tinh những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, truyền thống và hiện đại Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh khác xa với biểu hiện hẹp hòi, mọi kỳ thị về văn hóa Mặc dù tiếp nhận tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, nhưng ở Hồ Chí Minh, cốt cách, bản sắc văn hóa dân tộc vẫn đậm đặc trong suy nghĩ, trong từng thế ứng xử, v.v để trở thành biểu tượng cao đẹp của văn hóa Việt Nam

1.3 Nội dung giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

1.3.1 Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Trong Từ điển Tiếng Việt, giữ gìn là "giữ cho được nguyên vẹn, không bị

mất mát, tổn hại" [75, tr.406] Còn phát huy là "làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm" [75, tr.768]

Theo đó, quá trình giữ lại này chính là để không bị mai một, không bị thay đổi, biến hóa hay biến thái, nhằm làm cho cái bản sắc ấy, cái đẹp tinh túy

ấy tỏa ra và tiếp tục phát triển Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc chính là làm cho những vấn đề căn cốt nhất, nền tảng nhất, làm nên nét riêng của cộng đồng dân tộc này so với cộng đồng dân tộc khác, thể hiện tâm thức của cộng đồng các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam được kế thừa cái tinh túy của truyền thống và lọc bỏ những cái hủ tục, lạc hậu trong hội nhập Quá trình giữ gìn và phát huy, một mặt để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại của

Trang 37

các dân tộc khác làm giàu cho dân tộc mình, mặt khác giữ cho văn hóa Việt Nam hòa nhập chứ không hòa tan

Mỗi dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển đã xây dựng cho mình một nền văn hóa riêng, nền văn hóa đặc trưng riêng có của dân tộc mình Chính vì vậy, nói tới dân tộc tức là nói tới văn hóa và ngược lại Văn hóa có mối quan hệ mật thiết với dân tộc, có nguồn gốc từ dân tộc, đồng thời cũng là diện mạo của dân tộc đó, trong đó bản sắc văn hóa dân tộc là cái cốt lõi của nền văn hóa Nhận thức được tầm quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, được tạo dựng qua bao biến cố và thăng trầm của lịch sử, là sự biểu hiện trường tồn của giống nòi, là cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đảm bảo sự thống nhất nền văn hóa đa dân tộc của Việt Nam

Hồ Chí Minh là người đã được đi nhiều, hiểu biết rộng và Người cũng tiếp cận nhiều nền văn hóa khác nhau Chính vì lẽ đó, ngay từ rất sớm Người

đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của văn hóa đối với dân tộc, Người sớm khẳng định: Gốc của văn hóa mới là dân tộc, tức là văn hóa đều có cội nguồn

từ dân tộc, được hình thành và phát triển từ nền văn hóa truyền thống của dân tộc và tiếp thu các giá trị tinh hoa mới Chính vì vậy, mà yếu tố dân tộc là yếu

tố quyết định nhất của một nền văn hóa Theo đó, bản sắc văn hóa dân tộc là biểu hiện của cốt cách dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cũng chính là giữ gìn cốt cách dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc là nội lực sức mạnh của một dân tộc Vì thế mỗi dân tộc phải giữ được cốt cách dân tộc, khi ấy dân tộc đó

sẽ đủ sức mạnh nội sinh, sức đề kháng để đối phó với mọi sự xâm lăng hay làn gió độc về văn hóa một cách vô thức hay có chủ định Nếu một dân tộc không giữ được hồn cốt của dân tộc mình, phản ứng một cách yếu ớt với sự xâm lăng về văn hóa, bị lai căng, hòa tan hay thậm chí là cái bóng của kẻ

Trang 38

khác, thì đồng nghĩa với việc dân tộc đó đã đánh mất chính mình, giết chết cái hồn của dân tộc mình Vì vậy, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề sống còn, là vấn đề tồn tại hay không tồn tại của mỗi quốc gia, dân tộc Với ý nghĩa đó, giữ được cốt cách dân tộc còn là bệ đỡ giúp cho dân tộc thích ứng, tiếp thu, dân tộc hóa những cái mới làm giàu cho bản sắc văn hóa dân tộc mình trong quá trình phát triển, làm giàu thêm, đa dạng thêm văn hóa nhân loại Nền văn hóa Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, bất chấp những âm mưu đồng hóa văn hóa của kẻ thù Đó chính là nhờ có sức

đề kháng của sức mạnh tiềm ẩn về văn hóa và bản sắc văn hóa

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc không những là để bảo tồn cốt tủy, tâm hồn dân tộc, mà còn là tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của mỗi cá nhân Dân tộc, ngoài những yếu tố kinh tế - xã hội thường gắn với một tộc người nhất định Mỗi tộc người lại có tâm lý, tính cách, đặc tính dân tộc khác nhau, trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi tộc người, họ lại sáng tạo ra những giá trị vật chất và giá trị tinh thần Vì vậy, văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của mỗi dân tộc, là hệ giá trị để giúp chúng ta phân biệt các quốc gia và các vùng lãnh thổ trên thế giới, đồng thời cũng khẳng định bản sắc riêng có của mỗi dân tộc Mỗi cá nhân sống trong cộng đồng dân tộc mình là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa, nên cá nhân không thể tách rời văn hóa dân tộc hay nói cách khác văn hóa dân tộc là nguồn nuôi dưỡng tinh thần cho sự phát triển của mỗi con người nói chung

Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng, nền văn hoá Việt Nam có sự kết hợp hài hoà, phong cách của nhiều dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Cùng chung một Tổ quốc, bản sắc văn hoá các dân tộc thể hiện rất đa dạng, rất phong phú, xuyên suốt và thấm đượm vào mọi mặt của đời sống xã hội, tồn tại trong văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của mỗi dân tộc anh

Trang 39

em, nên cần phải bảo tồn, chấn hưng những nét đẹp văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc, tạo điều kiện để đồng bào tiếp thu và phát triển văn hoá Việt Nam hiện đại

Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở và ý thức sâu sắc, tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc Người viết: Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời [38, tr.216] Truyền thống lịch sử đã tạo nên bản sắc văn hóa, cốt cách và tâm hồn Việt Nam Mỗi con người Việt Nam cần ý thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc, để văn hóa của dân tộc mãi trường tồn cùng với sự phát triển của dân tộc

Như vậy, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc theo quan điểm của Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với dân tộc Việt Nam nói riêng và mỗi dân tộc trên thế giới nói chung Ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã chú trọng xây dựng đời sống mới không chỉ của một người, một nhà, một làng mà là khắp cả nước và hạt nhân của đời sống mới chính là cần, kiệm, liêm, chính

Hồ Chí Minh đã nói đến thuần phong mỹ tục, không có cờ bạc, hút xách, bợm bài, trộm cắp, đến tục ngữ “lá lành đùm lá rách”, “đói cho sạch rách cho thơm” Và trong tư tưởng của Người, nếu một mình no ấm mà nỡ để đồng bào xung quanh đói rét, thì dù giàu cũng không hưởng được Người nói: Cách cư

xử đối với đồng bào thì nên thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ…

Nhiều lần, Người nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục, tức là phát triển một trong những giá trị truyền thống của dân tộc Mặt khác, trong khi trân trọng giữ gìn thuần phong mỹ tục, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh việc phê phán, bài trừ đồi phong, bại tục Người đã nói đến việc “khôi phục vốn cũ” với một tinh thần trân trọng các giá trị của người xưa

để lại như: tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân… Song,

Trang 40

Người yêu cầu xóa bỏ cái xấu (tính lười biếng, tham lam…), sửa đổi các phiền phức (cúng bái, cưới hỏi quá xa xỉ…) Song, tại Hội nghị cán bộ văn hóa ngày 30/10/1958, Hồ Chí Minh chỉ rõ, giữ gìn hay bảo tồn và phát huy,

có nghĩa là khôi phục vốn cũ, thì nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì không tốt thì phải loại dần ra Xem ra thì năm nay tương đối khá, còn như năm ngoái, thì khôi phục vốn cũ, thì khôi phục cả đồng bóng, rước xách thần thánh Vì khôi phục như thế, nên ở nông thôn nhiều nơi quên cả sản xuất, cứ trống mõ

bì bõm, ca hát lu bù Trong vốn cổ của cả cộng đồng dân tộc nói chung, mỗi dân tộc nói riêng, chúng ta giữ lấy và phát huy những di sản nào, từ bỏ những

di sản nào, điều đó không thể không đặt ra khi nói về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc… Sự cân nhắc và lựa chọn ấy thể hiện quá trình tự ý thức dân tộc, quá trình tự nhận thức, tự khám phá về dân tộc mình, xuất phát từ tầm cao mới của lịch sử, là quá trình “gạn đục khơi trong” và là sự tiếp nối dòng chảy liên tục của lịch sử dân tộc trong thế giới hiện đại Với ý nghĩa đó, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc của văn hoá đòi hỏi sự phát triển, sự sáng tạo không ngừng

1.3.2 Nội dung giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất của sự khẳng định dân tộc, đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Tại nghị quyết của UNESCO, phiên họp thứ 24 tại Pari ngày 20/10-20/11/1987 đã viết "sự đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam với lịch sử hàng nghìn năm, và những lý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau” Trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh

Ngày đăng: 18/04/2016, 12:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. Mái nhà truyền thống của người H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 2. Mái nhà truyền thống của người H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai (Trang 113)
Hình 1: Ruộng bậc thang của người H’ Mông ở Sa Pa – Lào Cai - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 1 Ruộng bậc thang của người H’ Mông ở Sa Pa – Lào Cai (Trang 113)
Hình 3. Dụng cụ sản xuất của người H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 3. Dụng cụ sản xuất của người H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai (Trang 114)
Hình 4. Rèn nông cụ sản xuất của người H’Mông ở xã San Sả Hồ - Sa Pa - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 4. Rèn nông cụ sản xuất của người H’Mông ở xã San Sả Hồ - Sa Pa (Trang 114)
Hình 5. Se đay - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 5. Se đay (Trang 115)
Hình 6. Dệt vải - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 6. Dệt vải (Trang 115)
Hình 7. In sáp ong tạo hoa văn trên y phục của người H’Mông Sa Pa - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 7. In sáp ong tạo hoa văn trên y phục của người H’Mông Sa Pa (Trang 116)
Hình 8. Sục chàm - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 8. Sục chàm (Trang 116)
Hình 9. Sản phẩm chạm khắc bạc của người H’Mông ở Sa Pa - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 9. Sản phẩm chạm khắc bạc của người H’Mông ở Sa Pa (Trang 117)
Hình 10. Trang sức - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 10. Trang sức (Trang 117)
Hình 11. Cúng thần trong lễ hội Nào Xồng tại Giàng Tả Chải – Tả Van - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 11. Cúng thần trong lễ hội Nào Xồng tại Giàng Tả Chải – Tả Van (Trang 118)
Hình 12. Ăn thề trong lễ Nào Xồng - Giàng Tả Chải – Tả Van - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 12. Ăn thề trong lễ Nào Xồng - Giàng Tả Chải – Tả Van (Trang 118)
Hình 13. Lễ hội Gầu tào tại xã San Sả Hồ - Sa Pa - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 13. Lễ hội Gầu tào tại xã San Sả Hồ - Sa Pa (Trang 119)
Hình 14. Âm hưởng vùng cao của người H’Mông ở Sa Pa - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 14. Âm hưởng vùng cao của người H’Mông ở Sa Pa (Trang 119)
Hình 15. Kéo vợ - Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na
Hình 15. Kéo vợ (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w