1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc sán dìu ở tỉnh vĩnh phúc trong bối cảnh hiện nay

97 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đặc điểm về điều kiệnđịa lý, kinh tế - xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau đã hình thành nênnhiều vùng văn hóa khác nhau, do đó mỗi dân tộc có những giá trị, sắc thái riêng,nh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC

VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC

TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

Trang 2

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quảnêu trong luận văn là trung thực và chưa từng đươc công bố trên công trình khoahọc nào khác

Tôi xin cam đoan: mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn, các tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn

Lý Thị Phương

Trang 4

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6

8 Kết cấu 6

B NỘI DUNG 7

Chương 1: BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU – NỘI DUNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 7

1.1 Khái niệm về văn hóa và bản sắc văn hóa 7

1.1.1 Khái niệm văn hóa 7

1.1.2 Khái niệm về bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc 14

1.2 Nội dung bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc 18

1.2.1 Đặc điểm dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam 18

1.2.3 Bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc 38

1.3 Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc Sán Dìu ở tỉnh nước ta hiện nay 43

Kết luận chương 1 47

Trang 5

Chương 2: GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY – NHỮNG NHÂN TỐ TÁC

ĐỘNG, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 48

2.1 Những nhân tố tác động đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc hiện nay 48

2.1.1 Tác động của điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội 48

2.1.2 Tác động của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu 58

2.2 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay - Thực trạng và nguyên nhân 65

2.2.1 Thực trạng 66

2.2.2 Nguyên nhân của hạn chế 75

2.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay 79

2.3.1 Phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo tạo điều kiện nâng cao hiệu quả công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu 79

2.3.2 Đẩy mạnh công tác giáo dục văn hóa lịch sử, văn hóa truyền thống, nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc hiện nay 80

2.4.3 Đổi mới và tăng cường công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu 81

Kết luận chương 2 82

C KẾT LUẬN 83

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 89

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Xu thế toàn cầu hóa đã đặt ra nhiều vấn đề hệ trọng đối với sự phát triển củamỗi quốc gia, dân tộc, vừa tạo ra những cơ hội lớn cho sự phát triển, đồng thời cũngđưa đến không ít những thách thức, khó khăn nhất là việc giữ gìn và phát huynhững giá trị văn hóa dân tộc đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển như ViệtNam Hòa chung với bối cảnh thế giới đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập

đa phương hóa đa dạng hóa các quan hệ quốc tế tạo điều kiện cho sự phát triển Quátrình đó vừa có những tác động tích cực, nhưng đồng thời cũng gây ra những hậuquả tiêu cực nhất là đối với giá trị văn hóa dân tộc Nhận thức được tính phức tạp

đó Trong Hội Nghị trung ương 5 (khóa VIII), Đảng ta đã ra nghị quyết “về xâydựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và xác địnhđây là nhiệm vụ chiến lược vừa cấp bách vừa lâu dài của đất nước

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với hơn 50 dân tộc anh em, gắn kết vớinhau trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước Do đặc điểm về điều kiệnđịa lý, kinh tế - xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau đã hình thành nênnhiều vùng văn hóa khác nhau, do đó mỗi dân tộc có những giá trị, sắc thái riêng,nhưng đều thống nhất trong đa dạng tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.Tỉnh Vĩnh Phúc thuộc đồng bằng Bắc Bộ là vùng đồng bằng có trung du vàmiền núi, bên cạnh dân tộc Kinh, đây cũng là nơi định cư của nhiều đồng bào dântộc thiểu số như dân tộc (Sán Dìu, Dao, Cao Lan,…) Toàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện cótrên 10 nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc Sán Dìu có gần 40nghìn người (chiếm 90,8% tổng số đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh) Các dântộc sống đan xen, đoàn kết, hoà thuận và hỗ trợ nhau cũng phát phát triển

Đồng bào dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc cũng như các dân tộc thiểu số ở vùngtrung du miền núi phía bắc, phân bố chủ yếu ở miền núi, đời sống còn nhiều khókhăn Đồng bào người Sán Dìu sống tập trung thành làng Xuất phát từ điều kiện tựnhiên và xã hội, đã tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của đồng của NgườiSán Dìu, biểu hiện thế giới quan và nhân sinh quan, phong cách tư duy lối sống sinhhoạt, ứng xử, tình cảm….tạo nên nét văn hóa đặc sắc, độc đáo riêng biệt của đồngbào dân tộc Sán Dìu Nét đặc sắc ấy đã ảnh hưởng đến từng cá nhân trong cộng

Trang 7

đồng và góp phần làm phong phú thêm những giá trị nền văn hóa của đất nước vàđời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Sán Dìu.

Trước sự tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, bản sắc văn hóadân tộc nói chung, bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu nói riêng đang bị mai một, phatrộn và thậm chí mất dần đi một số hệ giá trị Ở tỉnh vĩnh Phúc cũng không thoátkhỏi sự tác động đó Làm thế nào để giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa dântộc trước sự tác động của hội nhập quốc tế, của kinh tế thị trường là hết phức tạphiện nay Làm thế nào để tiếp biến được những giá trị văn hóa của nhân loại, nhữnggiá trị văn hóa mới, hiện đại mà vẫn giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa dântộc Sán Dìu trong bối cảnh kinh tế thị trường là những vấn đề có tính cấp thiết đã vàđang đặt ra ở nước ta hiện nay

Ý thức được điều đó, với mong muốn góp tiếng nói trong thực hiện nhiệm vụ

trên tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay” làm luận văn thạc sỹ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề văn hóa dân tộc là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu dướinhiều khía cạnh khác nhau như: Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Văn hóa,Dân tộc học… Bản “Đề cương văn hóa Việt Nam” năm 1943 của đồng chí TrườngChinh đã cụ thể và đề ra việc xây dựng một mô hình văn hóa mới là “dân tộc, đạichúng và hiện đại”

Bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với một quốc gia,dân tộc Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng mục tiêu xây dựng và pháthuy các giá trị văn hóa dân tộc, cho đến nay đã có nhiều đề tài, nhiều công trìnhnghiên cứu về vấn đề này, phải kể đến như :

“Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong cuộc sống hôm nay”, Luận văn thạc

sĩ Triết học của Lê Thị Mỹ Vân, 1999, Đại học KHXH & NV – ĐHQG Hà Nội,

“Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai trong

điều kiện kinh tế thị trường hiện nay” của Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí văn hóa nghệ thuật,

số 7/200

Trang 8

“ Phát triển đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ trong công cuộc đổi mới hiện nay” Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,

2003 của Đỗ Văn Hòa

“Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở tỉnh Phúc Thọ hiện nay”, Đinh Thị Hoa, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh, Hà Nội , 2006

“ Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số vùng tây bắc nước ta”, Viện

chủ nghĩa xã hội khoa học, kỷ yếu đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2007, Học viện chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008

-Bên cạnh đó, những bài viết công trình nghiên cứu về văn hóa dân tộc Sán Dìu như:

“Người Sán Dìu ở Việt Nam”, Ma Khánh Bằng, Nxb Khoa học xã hội, 1983 “ Văn

hóa truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang” ,

“Văn hóa các dân tộc thiểu số Vĩnh Phúc”, của tác giả Lâm Quý, do Ban Dân

tộc – Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc xuất bản năm 2009 Trong cuốnsách này, tác giả đã thể hiện theo tinh thần khảo cứu dân tộc học về lịch sử dân cư,tập quán sản xuất, sinh hoạt xã hội, ngôn ngữ, chữ viết, kiến trúc – mỹ thuật – âmnhạc dân gian, phong tục, lễ hội nhằm giúp người đọc có cách nhìn tổng quan vềvăn hóa các dân tộc ở Vĩnh Phúc với bản sắc truyền thống riêng Tác giả cũng đồngthời cảnh báo những nguy cơ làm phai nhạt bản sắc các dân tộc thiểu số Từ đókhuyến nghị một số vấn đề về giữ gìn, bảo tồn, khai thác phát huy các giá trị vănhóa độc đáo của các dân tộc Sán Dìu, Cao Lan và Dao ở Vĩnh Phúc “Dân tộc SánDìu”, Chu Thái Sơn, Nxb Kim Đồng, 2011

“Tri thức dân gian trong chu kỳ đời người của người Sán Dìu ở Việt Nam”, Diệp Trung

Bình, Nxb Văn hóa dân tộc, 2011

“Văn hóa truyền thống dân tộc Sán Dìu tỉnh Tuyên Quang”, Nxb Khoa học xã hội,

2011 Dân tộc Sán Dìu ở Bắc Giang, Nxb Thời đại, 2012

“Dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc”, Lâm Quang Hùng, Nxb Khoa học và

Công nghệ, 2011

Trang 9

“Văn hóa ẩm thực người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc”, Lâm Quang Hùng, Nxb Văn

hóa dân tộc 2013

Nhìn chung các tác phẩm, các công trình nghiên cứu chủ yếu đi vào khaithác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa, văn hóa của dân tộc Sán Dìu ởnước ta, công trình mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những giá trị văn hóa phongtục tập quán, văn hóa của người dân tộc Sán Dìu nói chung, và đồng bào dân tộcSán Dìu ở Vĩnh Phúc nói riêng Nhằm giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc củangười dân tộc Sán Dìu, từ đó đưa tới việc nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc vănhóa dân tộc Sán Dìu một cách chung nhất hoặc tìm hiểu một số nét văn hóa cụthể, hoặc chỉ nghiên cứu dưới góc độ văn hóa, dân tộc và lịch sử, chưa đi sâu vàonghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ triết học Mặt khác dưới tác độngcủa kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập vấn đề văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộcSán Dìu đang có những biến đổi sâu sắc, do đó có những khía cạnh cần phải đisâu nghiên cứu thêm và từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm giữ gìn vàphát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu và xây dựng đời sống văn hóa tinhthần cho đồng bào dân tộc Sán Dìu

Hơn nữa, tỉnh Vĩnh Phúc (ngoài các công trình nghiên cứu về dân tộc học vàvăn hóa các dân tộc của tỉnh) chưa có công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học nàobàn về chính sách dân tộc của tỉnh một cách toàn diện và đầy đủ Vì vậy, đề tàikhông trùng lặp với các đề tài, công trình nghiên cứu đã công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

- Đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dântộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay.

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.

Cơ sở lý luận của đề tài: Đề tài được thực hiện dựa trên những nguyên lý, lýluận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề văn hóa và chính sách dân tộc, đồng thời đề tài

có kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và nhân văn

có liên quan

Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vậtbiện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh cũng như những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta

về chính sách dân tộc về văn hóa Để phân tích, lý giải và làm rõ các vấn đề kết hợpcác phương hướng và biện pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch,điều tra, so sánh

Phương pháp khảo sát thực tế: Tiến hành đi thực tế tại các đơn vị trực tiếp làmcông tác dân tộc tại địa bàn, thu thập thông tin, số liệu thống kê về tình hình vănhóa, ưu điểm cũng như khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc vềvăn hóa của Đảng và Nhà nước ta

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

5.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Bản sắc văn hóa Sán Dìu và ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần củađồng bào dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay dưới góc độ triết học

5.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Văn hóa là một vấn đề rộng, đa dạng và phong phú, luận văn không đi nghiêncứu toàn bộ về văn hóa dân tộc Sán Dìu, Đề tài đi sâu vào khai thác có hệ thốngdưới góc độ triết học về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ởtỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay

Trang 11

6 Đóng góp của luận văn

Dưới góc độ triết học luận văn góp phần làm rõ thêm bản sắc văn hóa dân tộcSán Dìu và phân tích thực trạng của những tác động của kinh tế thị trường đến bảnsắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc, qua đó đề xuất một số giải phápnhằm giữ gìn và phát huy giá trị tốt đẹp trong giai đoạn hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Kết quả của cuộc nghiên cứu của đề tài có thể sử làm tài liệu tham khảo tronggiảng dạy bộ môn có liên quan như: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –Lênin, văn hóa học, dân tộc học, chính sách dân tộc ở các nhà trường, đồng thờilàm tài liệu cho cán bộ hoạch định chính sách quản lý văn hóa dân tộc trên địa bàntỉnh Vĩnh Phúc

Chương 2: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh VĩnhPhúc hiện nay- những nhân tố tác động, thực trạng và giải pháp

B NỘI DUNG

Trang 12

Chương 1:

BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU – NỘI DUNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

1.1 Khái niệm về văn hóa và bản sắc văn hóa

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là gì? Câu hỏi được đặt ra từ lâu đối với tư duy của nhân loại, điều nàychứng tỏ văn hóa đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, văn hóa được như làmột cái gì thiêng liêng đối với mỗi con người, linh hồn của dân tộc Với tư cách làmột trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, văn hóa là mộtkhái niệm có nội hàm rộng, vì thế nó đã tạo nên diện mạo phong phú và đa dạng củađời sống tinh thần của con người, thời đại

Hơn nữa trong cuộc cách mạng khoa học và công nghệ ngày càng phát triển,trình độ tư duy của con người được mở rộng, thì nội hàm văn hóa càng được mởrộng hơn Văn hóa được chọn làm đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học,trở thành thuật ngữ đa nghĩa, trên thế giới hiện nay có hàng trăm cách định nghĩakhác nhau về văn hóa, và nhiều cách tiếp cận khác nhau:

* Một số quan niệm về văn hóa ở phương Đông và phương Tây

- Ở phương Đông: Thế kỷ VI –Trước Công Nguyên Khổng Tử đã dùng thuật

ngữ “Văn” để chỉ những giá trị đẹp của cuộc sống, trong sự giao tiếp, ứng xử của conngười với con người Cái đẹp ấy không chỉ là cái đẹp ở hình thức, mà nó bao hàm cảcái đúng và cái tốt “Hoá” nghĩa là biến cải, biến đổi Và “Văn hoá” là biến cải, biếnđổi, bồi đắp cho đẹp ra, hướng con người đến cái đẹp và đạt tới chân - thiện - mỹ.Văn hóa sớm xuất hiện trong ngôn ngữ ngay từ Trước Công Nguyên, thời kỳ TâyHán, trong bài “Chi Vũ” sách “Thuyết Uyển”, Lưu Hướng đã viết: “Bậc thánh nhântrị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực” văn hóa được dùng để đốilập với vũ lực Văn hóa phải được hình thành trong môi trường lành mạnh, ở đó conngười có những cách ứng xử văn minh, văn hóa mang tính giáo dục cao

Theo PGS TS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trịvật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động và

Trang 13

thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội Vănhóa được đề cập khá toàn diện và sâu sắc, văn hóa là một chỉnh thể, vừa mang tính

đa dạng vừa là sự thống nhất của nhiều thành tố, thông qua hoạt động thực tiễn củacon người những giá trị đó được kết tinh thành văn hóa” [ 53,tr.10]

Bàn về văn hóa GS Phan Ngọc khẳng định: “Văn hóa là mối quan hệ giữathế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thựctại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hìnhtồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó làvăn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của

cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay tộc các ngườikhác” [52, tr.23]

Trong định nghĩa này xét văn hóa ở cái hiện tượng, tức cái hình thức độc đáocủa văn hóa không phải là một đồ vật, mà là một mối quan hệ, có mặt ở mọi tộcngười và chỉ có ở con người mà thôi, thì không thể nào tìm được một định nghĩa vềvăn hóa ở các ngành khoa học tự nó đã chia cắt loài người ra thành những tập đoànkhác nhau như dân tộc học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học Cần phải tìm ởnhững khoa học nghiên cứu loài người một cách tổng thể như tâm lý học, triết học

Với “Việt Nam Văn hóa sử cương” Tác giả Đào Duy Anh đã đưa ra quan niệm:

“Người ta thường cho rằng văn hoá chỉ là những học thuật tư tưởng, của loài người,nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chât các dân tộc khác nhau của loài người,nhân thế mà xem văn hoá có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải nhưvậy Học thuật tư tưởng cố nhiên là trong phạm vi của văn hoá nhưng phàm sự sinhhoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầmthường lại không phải là ở trong phạm vi của văn hoá hay sao? Hai tiếng “văn hoá”chẳng qua chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người, cho nên ta cóthể nói rằng: Văn hoá tức là sinh hoạt” [11,tr.9]Quan niệm này cũng đã đồng nhấtvăn hoá với xã hội

Cũng có những định nghĩa khác coi là phong tục, tập quán, tín ngưỡng; lúc thìđược coi là chuẩn mực, lối sống… thật vậy, thuật ngữ văn hóa được sử dụng rộngrãi trong nhiều bộ môn khoa học cụ thể, làm cho mỗi nó tìm thấy những phươngdiện phù hợp với vấn đề mà nó giải quyết

Trang 14

- Ở phương Tây: Văn hóa theo tiếng Latinh là Cultus animi là trồng trọt

tinh thần.Cultus là văn hóa với hai khía cạnh:

Khía cạnh thứ nhất, Văn hóa được hiểu như là một sự “gieo trồng tư tưởng”; Khía cạnh thứ hai, xem văn hoá như là “tự nhiên thứ hai” do con người sáng

tạo ra và đối lập với “tự nhiên thứ nhất” Đây là cách xem xét phổ biến trong quanniệm của các nhà tư tưởng thời kỳ Phục Hưng và Cận Đại Ở giai đoạn này, người

ta đã nhận thấy văn hoá là kết quả của sự phát triển của con người, đồng thời vănhoá là đặc trưng và cơ sở để hình thành nên con người xã hội

Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng cả phương Đông và phươngTây, về cơ bản đều thống nhất văn hóa là tất cả những do con người sáng tạo ra cácgiá trị trong quá trình lao động, hoạt động thực tiễn Do đó, văn hóa là đặc trưng cơbản nhất để phân biệt giữa con người và con vật

Văn hóa không chỉ được nghiên cứu bởi nhiều chuyên ngành khác nhau, mà cácnhà triết học đã lấy đó làm đối tượng phục vụ cho quá trình nghiên cứu của mình

Có thể nói, trường phái triết học duy tâm cổ điển Đức đã có nhiều đóng gópđáng kể trong việc xây dựng khái niệm văn hoá, tiêu biểu là I.Kant và G.W.F.Hegel.Theo I.Kant: Văn hoá là giá trị của con người, hay đó là: Sự phát triển những lựclượng tự nhiên của con người và là khả năng lấy mình làm mục đích, bằng cách sửdụng tự nhiên làm phương tiện để đạt được mục đích tự do và khả năng của conngười có thể lấy mình với tư cách một tồn tại tự do làm mục đích cuối cùng của

sự tồn tại của mình Ở đây I.Kant đã coi con người là tồn tại tối cao, với quanniệm này đưa ông tới chỗ tuyệt đối hoá vai trò của con người trong việc sáng tạo

ra các giá trị văn hoá và dẫn con người ta đến chỗ đối lập tuyệt đối với tự nhiên,

tự coi mình là kẻ có quyền “bóc lột” tự nhiên và hành động như thế tất yếu sẽ bị

“trả giá” trước sự tác động của tự nhiên đối với con người Những tác động cóhại của tự nhiên đối với con người như hạn hán, bão lụt, những tác động của biếnđổi khí hậu ngày nay đang đặt con người trước những khó khăn thách thức nhất

là trong giai đoạn hiện nay

Đối với G.W.F Hegel, một nhà triết học cổ điển Đức, xem xét khái niệm vănhoá bằng cách ra một loạt mối quan hệ nhân cách - văn hoá, tìm hiểu về sự kế thừatrong phát triển văn hoá, về tính phổ quát của các quá trình xã hội - văn hoá Mặc dù

Trang 15

G W.F Hegel đã nhận thấy yếu tố qua trọng của con người là xã hội và trong mốiquan hệ giữa tự nhiên và xã hội, con người sáng tạo ra văn hoá Tuy nhiên, sự lýgiải của ông còn thiếu tính toàn diện, thường mâu thuẫn và mang nặng tính tư biện.Với quan niệm về thế giới “ý niệm tuyệt đối” đã đưa ông đến quan điểm đồng nhấtvăn hoá với hoạt động sản xuất tinh thần được thể hiện thông qua bộ phận tri thức

xã hội Hegel đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của tồn tại hiện thực đối với lịch sửphát triển của văn hoá Ông coi sự phát triển của văn hoá là sự biến đổi bản thân ýthức chủ quan về thế giới chỉ thuộc về cái gọi là “ý niệm tuyệt đối” chứ không liênquan gì đến hiện thực

Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm và duy vật trước Mác hầu hết chưa làm rõ kháiniệm về văn hóa, do đó khái niệm văn hóa vừa mang tính trừu tượng và chung chung

* Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về văn hóa

- Quan niệm của C.Mác – Ph Ăngghen về văn hóa

Lao động là hoạt động mà ở đó xác lập và thể hiện mối quan hệ giữa conngười – tự nhiên, con người – xã hội và con người văn hóa, thông qua lao độngcon người cải biến tự nhiên, tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của mình, lao động

là đặc thù của con người

Trong Bản Thảo kinh tế triết học 1844 C.Mác đã khẳng định: “Mỗi bước tiến của lịch

sử là một bước tiến của văn hóa”, chủ nghĩa Mác thú nhậnnó với tư cách là một hệ giá trị,

bị chi phối bởi các điều kiện lịch sử, năng lực thực hiện Khi so sánh hoạt động của conngười và động vật, C.Mác cho rằng: “Cố nhiên súc vật cũng sản xuất, nó xây dựng tổ, chỗ ởcủa nó như con ong, con Hải Ly… nhưng súc vật chỉ sản xuất cái mà bản thân nó trực tiếpcần đến, nó sản xuất một cách phiến diện; còn con người thì sản xuất một cách toàn diện;con vật chỉ sản xuất và bị chi phối vởi nhu cầu thể xác trực tiếp, còn con người sản xuấtngay cả khi được giải phóng khỏi nhu cầu của thể xác và chỉ khi giải phóng khỏi nhu cầumới sản xuất chân chính của chữ đó, con vật mới sản xuất ra bản thân nó, còn con ngườisản xuất ra toàn bộ thế giới tự nhiên” [5,tr.136,137] Con vật chỉ chế tạo theo kích thước vànhu cầu của loài đó, còn con người có thể sản xuất theo kích thước của bất cứ loài nào ởđâu cũng biết vận dụng cái bản chất có hữu của mình; do đó con người cũng chế tạo theoquy luật của cái đẹp

Trang 16

Như vậy, có thể nói việc con người tạo ra “ thiên nhiên thứ hai” theo quy luật của cáiđẹp là cái thuộc tính bản chất, quy định cái văn hóa trong hoạt động của con người Nếu tựnhiên là cái nôi đầu tiên của sự hình thành và phát triển con người thì văn hóa là cái nôi thứhai Nếu tự nhiên là cái quyết định sự tồn tại của con người với tư cách là một thực thể sinhvật thì văn hóa là phương thức bộc lộ, phát huy những năng lực của bản chất người gắn liềnvới các hoạt động sống của con người.

Trong Luận cương thứ 6 về Phoi ơ bắc C.Mác đưa ra luận điểm: “Bản chất con người

là tổng hòa những quan hệ xã hội” [2,tr.11] Theo đó không có con người trừu tượng thoát

ly mọi hoàn cảnh xã hội Trong điều kiện hoạt động thực tiễn của mình con người đã tạo ranhững giá trị vật chất và tinh thần đó chính là văn hóa Có thể nói hoạt động xã hội của conngười là tiền đề cơ sở cho sự tiến bộ của xã hội và văn hóa cũng được kế thừa trong tiếntrình phát triển của nhân loại

- Quan điểm của Lênin về văn hóa

Kế thừa và phát triển các quan điểm của triết học Mác, V.I Lênin đã phân tích sâu sắcthêm về mặt xã hội của văn hóa với cách tiếp cận từ lý luận về Hình thái kinh tế - xã hội.Lênin đã đưa ra nguyên tắc quan trọng trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới Đó lànhững nguyên tắc quan trọng trong tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc và tính nhân loạitrong văn hóa; xác định sự nghiệp vền văn hóa là bộ phận trong guồng máy cách mạng vôsản dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Theo Lênin văn hóa vô sản có khả năng phát triểntoàn diện năng lực bản chất của con người cho nên nó phải là sự kế thừa có phê phán cácgiá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại để phát triển lên một tầm cao mới, mang đậm chấtliệu văn hóa và bản chất người Lênin viết: “ Văn hóa vô sản không phải bỗng nhiên mà có,

nó không phải là do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản phát minhra…văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số kiến thức mà loài người

đã tích lũy được dưới ách áp bức của xã hội tư bản, xã hội của bọn địa chủ và của xã hộicủa bọn quan liêu”.[62,tr 31]

Xem xét trên khía cạnh triết học chủ nghĩa Mác – Lênin cho thấy, văn hóa phản ánhtoàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạtđộng thực tiễn Chỉ có lao động, tác động vào giới tự nhiên, thì hoạt động đó là điều kiện đểphân biệt giữa con người với súc vật

Trang 17

Theo quan niệm của Văn hoá giáo dục và Khoa học Liên hợp quốc (UNESCO)

tháng 12 năm 1986, Tổ chức đã đưa ra định nghĩa mang tính chất tổng hợp: “Văn

hoá là tổng thể các hệ thống giá trị bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội Văn hoá không thuần tuý trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật

mà còn bao hàm cả phương thức sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống, tín ngưỡng”.

Như vậy, quan điểm trên về văn hóa có những nội dung gần với quan điểm củacác nhà triết học mác xít khi đưa ra luận điểm về văn hóa Văn hóa là tổng hợpnhững giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Văn hóa theo quanđiểm của UNESCO còn được nhấn mạnh bởi phương thức sống, quyền cơ bản cuacon người, truyền thống, tín ngưỡng

- Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa:

“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích sống con người đã sáng tạo và phát minh rangôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo văn hóa nghệ thuậtnhững công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và các phương thức sử dụng,toàn bộ những phát minh đó là văn hóa, văn hóa là tổng hợp mọi phương thức sinhhoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhucầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [24,tr.431]

Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 văn hóa được Chủ tịch Hồ Chí Minhxác định là đời sống tinh thần của xã hội, văn hóa thuộc về kiến trúc thượng tầng,

có mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế, chính trị và xã hội

Quan điểm về văn hóa của Người đã khái quát nội dung rộng nhất của phạm trùvăn hóa, qua đó chỉ ra văn hóa không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của conngười, mà còn bao hàm trong đó cả những hoạt động vật chất Văn hóa với tư cách

là chủ thể hoạt động của đời sống xã hội Nó biểu hiện sự thống nhất của yếu tố tựnhiên và xã hội, biểu hiện khả năng và sức sáng tạo của con người

Từ góc độ tiếp cận văn hóa của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh khi nói đến văn hóa là nói đến con người, con người tạo ravăn hóa và văn hóa làm cho con người trở thành người Có thể nói: Văn hóa là sựphát triển lực lượng vật chất và tinh thần, biểu hiện trong lĩnh vực sản xuất vật chất

Trang 18

và sản xuất tinh thần của con người Tuy nhiên, sự phân chia đó chỉ mang tính chấttương đối, bởi giá trị “văn hóa vật chất” về thực chất là được vật chất hóa từ các

“giá trị tinh thần” Hơn nữa, các giá trị tinh thần không bao giờ tồn tại dưới dạngthuần túy tinh thần, mà tồn tại dưới dạng phi vật thể mang tính khác quan như vănhóa trong các lĩnh vực giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục tập quán, tínngưỡng,v.v,…

- Quan điểm của Đảng ta về văn hóa

Nghị quyết Hội nghi lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII):

Về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đâm đà bản sắc dân tộc: “Văn

hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cườngdựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu vàtiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới không ngừng hoàn thiện mình.Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng

rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc” [8,tr.40] Đảng ta đã khẳng định tầm quan trọng củavăn hóa, phản ánh toàn bộ những giá trị do con người tạo đựng nên, văn hóa vừa làmục tiêu vừa là nền tảng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đứng trên nềntảng kiến trúc thượng tầng văn hóa, văn hóa được xem xét một cách toàn diện trênchỉnh thể của nó, như chủ nghĩa Mác đã khẳng định ở trên văn hóa là sản phẩm củacon tạo ra thông qua mối quan hệ giữa con với tự nhiên và con người với xã hội

Trên cơ sở đó luận văn quan niệm: Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và

tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với tự nhiên và xã hội Như vậy, không phải tất

cả những gì do con người sáng tạo ra đều là văn hóa, mà chỉ có những yếu tố đượckết tinh thành giá trị, cái cốt lõi mới trở thành văn hóa

1.1.2 Khái niệm về bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc

1.1.2.1 Bản sắc văn hóa

Trong từ điển Tiếng Việt Phổ Thông: “ Bản sắc chỉ tính chất, màu sắc riêng, tạothành phẩm cách đặc biệt của một vật”.[35,tr.26] Song không phải quan niệm nàocũng được xếp vào bản sắc, mà bản sắc văn hóa là cái cốt lõi, nội dung, bản chấtcủa một nền văn hóa cụ thể, đó là những nét văn hóa riêng vốn có của mỗi dân

Trang 19

tộc những nét riêng ấy thường được biểu hiện qua các giá trị văn hóa vật chất vàtinh thần, vật thể và phi vật thể Bản sắc văn hóa là cái thường xuyên được duytrì, tái hiện, hoàn thiện trong tiến trình phát triển Mặc dù, đã trải qua những biến

cố thăng trầm của lịch sử, nhưng những giá trị ấy không những không mất đi, mà

nó còn tiếp nhận tinh hoa của các dân tộc khác làm phong phú thêm giá trị vănhóa của dân tộc mình

Bàn về văn hóa Phạm Thái Việt, định nghĩa: “Bản sắc là những yếu tố văn hóađặc trưng cho từng cấp độ chủ thể văn hóa được xét đến Bản sắc giúp khu biệtcộng đồng văn hóa này với cộng đồng văn hóa khác” [48,tr 328] ở đây bản sắc vănhóa thể hiểu với tư cách là văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc nói riêng Tuyvậy, cách hiểu này chưa làm cho ta thấy rõ về cái đặc sắc cái riêng thể hiện bản sắcvăn hóa

Nghiên cứu về vấn đề này Hồ Bá Thâm, đưa ra quan niệm bản sắc văn hóa:

“Là một kiểu tổng hợp, kết hợp những phẩm chất, những giá trị văn hóa nội sinh và ngoại sinh tạo thành linh hồn, sức sống bền vững của dân tộc, có nét ưu trội đặc biệt hơn một số dân tộc khác, vừa mang tính ổn định tương đối vừa biến đổi trong quá trình lịch sử đấu tranh và xây dựng của dân tộc đó”.[22,tr.23]

Qua cách tiếp cận trên của các học giả Việt Nam, cho thấy: Bản sắc văn hóabiểu hiện các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sức sống của từng dân tộc, nó thểhiện tập trung ở truyền thống văn hóa Đó là các giá trị được lưu giữ qua các thời kỳlịch sử nối tiếp từ thế hệ này qua thế hệ khác, hòa vào dòng chảy liên tục của lịch

sử văn hóa các dân tộc Khi đã hình thành và trở thành truyền thống của bản sắc vănhóa mang tính bền vững và có chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vicủa cá nhân và cộng đồng Song khái niệm bản sắc văn hóa không phải là sự cốđịnh, bất biến hoặc khép kín mà nó luôn vận động và phát triển, bên cạnh sự phongphú và đa dạng, bản sắc văn hóa còn mang tính lịch sử Mọi sự vật hiện luôn tồn tại,vận động, bản sắc cũng vậy, làm thích nghi với yêu cầu của thời đại Trong tiếntrình phát triển yếu tố đặc thù phù hợp với thực tiễn sẽ được phát huy, những yếu tốbảo thủ lạc hậu sẽ bị bài trừ

Bản sắc văn hóa luôn thể hiện nội dung bên trong có của văn hóa, đó là nétriêng phản ánh độc đáo mối liên hệ thường xuyên, phổ biến giữa cái chung (văn hóa

Trang 20

nhân loại) với cái riêng (văn hóa dân tộc) Do đó, bản sắc văn hóa không đứngngoài văn hóa, mà chúng luôn có mối quan hệ bền chặt với nhau.

Như vậy, luận văn quan niệm bản sắc văn hóa: Văn hóa là tổng thể những tính

chất, tính cách, đường nét, màu sắc, biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính thống nhất, nhất quán của mình trong tiến trình phát triển.

1.1.1.2 Bản sắc văn hóa dân tộc

Từ góc độ triết học, xét trong mối quan giữa các nền văn hóa, bản sắc văn hóacủa mỗi dân tộc bao giờ cũng thể hiện tính hai mặt: thống nhất và đa dạng Sự thốngnhất đó phản ánh những nét chung của nền văn hóa như văn hóa vùng, văn hóa quốcgia, văn hóa khu vực Tính đa dạng, phản ánh những sắc thái riêng, đặc thù của mỗidân tộc

Xét trong sự vận động và phát triển, bản sắc văn hóa dân tộc vừa mang tính ổnđịnh, vừa mang tính biến đổi Bản sắc văn hóa dân tộc ổn định ở quá trình hìnhthành và phát triển lâu dài của lịch sử dân tộc Tính biến đổi, ở chỗ bản sắc văn hóadân tộc không phải là một thực thể cố định, mà nó luôn vận động và biến đổi khôngngừng Vì tiến trình phát triển của lịch sử, bản sắc văn hóa luôn được kế thừa nhữnggiá trị của thế hệ trước đó

Bản sắc văn hóa dân tộc là một khái niệm “động” và “mở Trong cuốn “Bản sắc

văn hóa Việt Nam”, GS Phan Ngọc đã khẳng định một nền văn hóa là một cơ thể

sống, muốn cơ thể ấy có đủ sinh lực và dũng khí để tồn tại và lớn lên thì nó buộcphải thích nghi với mọi hoàn cảnh, tức là phải biến đổi bản thân và tiếp biến với cácnền văn hóa bên ngoài Nếu khép kín, chắc chắn nó sẽ xuống cấp và chết dần chếtmòn Mang tính lịch sử cụ thể và vận động, bản sắc văn hóa đổi mới không ngừngtrên cơ sở loại bỏ những yếu tố bảo thủ và tiêu cực, tiếp thu và phát huy những yếu

tố tích cực và tiến bộ, đồng thời tạo lập các giá trị mới để đáp ứng với yêu cầu pháttriển của thời đại

Nói như vậy, chúng ta có thể hiểu bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được hìnhthành và phát triển phụ thuộc vào đặc điểm tộc người, điều kiện lịch sử tự nhiên,nơi cư trú, thể chế chính trị, cũng như sự giao thoa với các nền văn hóa khác Trảiqua hàng ngàn bị phong kiến phương bắc đô hộ, chúng ta không bị đồng hóa bởi

Trang 21

văn hóa Hán, dân tộc ta không những lưu giữ được bản sắc dân tộc mình, mà ngượclại còn tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa đó làm giàu bản sắc văn hóa dântộc mình Ở đây không phải chúng ta tiếp thu toàn bộ, mà thông qua sự giao thoa đóthể hiện mối liên hệ phổ biến của bản sắc văn hóa dân tộc.

Bản sắc văn hóa dân tộc cũng giống như bộ “gen” bảo tồn dân tộc Được thểhiện ở hệ giá trị dân tộc, ở truyền thống, bản lĩnh, tâm hồn, lối sống, tình cảm, cáchnghĩ và khát vọng Đó là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức, thống nhất giữatrình độ và tư duy, tinh thần độc lập tự cường, ý chí và bản lĩnh dân tộc với các hìnhthức biểu hiện bên ngoài của nó, thật không nên đồng nhất bản sắc văn hóa dân tộcvới một số yếu tố hình thức bên ngoài của các nền văn hóa Bản sắc văn hóa dân tộcvừa bao hàm các giá trị do dân tộc mình sáng tạo ra trong quá khứ và hiện tại, vừabao hàm các giá trị tinh hoa của nhân loại được dân tộc tiếp nhận một cách sáng tạo,biến nó thành nguồn lực bên trong để xây dựng và bảo vệ đất nước

“ Bản sắc văn hóa dân tộc” còn thể hiện với những khuynh hướng cơ bản trongsáng tạo của văn hóa của mỗi dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệthường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tưtưởng,v.v trong quá trình vận động và phát triển không ngừng của dân tộc ấy.Bản sắc văn hóa dân tộc hiểu một cách chung nhất – là hệ thống các giá trị đặctrưng bản chất của một nền văn hóa được xác lập, tồn tại, phát triển thông quanhiều sắc thái văn hóa cụ thể khác nhau Đó là toàn bộ những giá trị vật chất vàtinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử, những nét độc đáo của dân tộc này

so với dân tộc khác

Văn hóa có tính dân tộc vì nó được tạo ra, lưu truyền trong cộng đồng dân tộcvới một sắc thái thiên nhiên, điều kiện xã hội lịch sử riêng: qua quá trình phát triểnlâu dài, những đặc điểm dân tộc được in dấu vào các sáng tạo của văn hóa của dântộc, trải qua những thách thức của thời gian dần dần lắng đọng, định hình tạo thànhbản sắc văn hóa dân tộc của văn hóa, từ đó tạo nên cốt cách, bản lĩnh sức sống nộisinh của dân tộc

Tai Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ ra bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh

hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ

Trang 22

nước, tạo thành những nét đặc của cộng đồng dân tộc Việt Nam, con gn]ời Việt Nam Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết; tính cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng – nước; lòng nhân ái, bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý;đầu óc thực tế; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; tế nhị trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc dân tộc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo” [8,tr 23]

Sự đặc sắc trong văn hóa dân tộc Việt Nam là một nền văn hóa vừa đa dạngvừa thống nhất, là sự đan xen, tiếp xúc, biến đổi, bổ sung lẫn nhau của văn hóa cáctộc người Nền văn hóa đó có được là nhờ vào sự cố kết cộng đồng 54 dân tộc anh

em trong trình dựng nước và giữ nước đã hun đúc nên ý thức cộng đồng Tuynhiên, mỗi vùng văn hóa nước ta, do điều kiện tự nhiên, phương thức canh tác, sựgiao lưu vùng văn hóa nước ta, sự giao lưu văn hóa, tâm lý cộng đồng, nguồn gốclịch sử mà sắc thái văn hóa riêng thể hiện ở tiếng nói, chữ viết, phong tục tậpquán, lối sống, lối ứng xử trong các sinh hoạt xã hội và trong giao tiếp văn hóa, ởđây thể hiện tính thống nhất và đa dạng phong phú không loại trừ nhau mà bổsung nhau Trong quá trình giao lưu văn hóa, những yếu tố đặc trưng cốt lõi củamỗi dân tộc vẫn được giữ gìn, duy trì và phát huy nó, tạo nên những sắc thái riêngđộc đáo không bị pha trộn với các dân tộc khác Do vậy, hòa hợp các dân tộc tạonên một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng

Nếu như văn hóa là một bộ phận cấu thành của kiến trúc thượng tầng, bản sắcvăn hóa cụ thể trong mọi mặt của đời sống xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc biểutrưng cho hình thái ý thức xã hội Mỗi dân tộc đều có nét văn hóa đặc trưng, thểhiện cái riêng của mình Do vậy, muốn nhận biết được bản sắc văn hóa, phải thôngqua vô vàn những sắc thái khác nhau

Tóm lại, từ sự phân tích các quan niệm dưới những chiều cạnh khác nhau vàđứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sửbản sắc văn hóa dân tộc chỉ được biểu hiện khi đặt nó trong mối quan hệ với vănhóa các dân tộc khác Luận văn tiếp cận bản sắc văn hóa dân tộc trên tính hai mặt

thống nhất và đa dạng Vì vậy chúng tôi quan niệm rằng bản sắc văn hóa dân tộc:

là các giá trị vật chất tinh thần đặc trưng tiêu biểu, cơ bản phán ánh diện mạo,phẩm chất cốt cách và bản lĩnh riêng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc mà qua đó

Trang 23

chúng ta có thể phân biệt nền văn hóa của dân tộc này với nền văn hóa của dân tộckhác Đó là tổng thể tính chất đường nét màu sắc, biểu hiện ở một dân tộc tronglịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thốngnhất, nhất quán của mình trong sự phát triển.

1.2 Nội dung bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc

1.2.1 Đặc điểm dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam

Là một dân tộc ít người trong cộng đồng hơn 54 dân tộc anh em trong cả nước.Người Sán Dìu sống chủ yếu ở trung du miền núi của một số tỉnh phía bắc ViệtNam Theo nhiều tài liệu nghiên cứu của các học giả về văn hóa dân tộc thiểu số,dân tộc học ở Việt Nam, cho thấy: Dân tộc Sán Dìu là một tộc người được tạo lập từthời Nhà Minh ở Quảng Đông (Trung Quốc), di cư từ vào Việt Nam được khoảng

300 năm Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước đồng bào luôn

có tinh thần đoàn kết và đóng góp to lớn trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước.Dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam không đông, nhưng sống xen kẽ với nhiều dântộc khác trên khắp dải đất trung du bán sơn địa, năm 2009 có dân số khoảng126.237 người theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê (2009) Từ lâu ngườiSán Dìu đã tự nhận là San Déo Nhín theo âm Hán – Việt là Sơn Dao Nhân, cáctộc người xung quanh cư trú bên cạnh, gọi người Sán Dìu với nhiều tên gọi khácnhau như: Trại Đất (người Trại ở nhà đất) để phân biệt với Trại Cao (tức ngườiCao Lan ở nhà sàn), Mán Quần Cộc, Mán Váy xẻ, Năm 1960, Tổng cục Thống

kê Trung ương đã chính thức sử dụng tên Sán Dìu, và từ đó Sán Dìu trở thànhtên gọi chính thức được ghi trong văn bản Nhà nước Đến nay, tên Sán Dìu được

sử dụng phổ biến trong toàn quốc

Có nhiều ý kiến cho rằng từ rất xa xưa người Sán Dìu có nguồn gốc từ ngườiDao, do chia thành những nhóm nhỏ phiêu bạt nhiều nơi, một trong những nhóm

đó, người Sán Dìu rất có thể sống cạnh người Hán (Phương Nam) nên dần quêntiếng mẹ đẻ của mình và tiếp thu thổ ngữ Hán Quảng Đông Thông qua truyện thơbằng chữ Hán “Vũ Nhi”, truyền thuyết như “Vua Cóc” (Kham Suy Vong) được lưutruyền rộng rãi trong tộc người Sán Dìu Cốt truyện nhiều lần nhắc đến các địa danhnhư Tân Châu, Linh Sơn, Hà Nam Song truyền thuyết cũng không cho biết lai lịchcủa họ, ngoài các địa danh “Mãn Khê Quốc” Qua lời kể của các cụ già và gia phả

Trang 24

của một số dòng họ, cho thấy lịch sử người Sán Dìu vốn là một bộ tộc nhỏ bé, sinhsống ở miền Nam Trung Quốc Vào những năm cuối thời nhà Minh, đầu nhà Thanh(thế kỷ XVII), vì không chịu nổi sự đàn áp, bóc lột tàn bạo của giai cấp thống trịphong kiến, người Sán Dìu một lần nữa phải lưu tán, một bộ phận đã vượt biên giớiViệt – Trung để vào Việt Nam Khi mới đặt chân vào Việt Nam, người Sán Dìu đãvượt dãy Hoàng Chúc Cao Sơn tới Hà Cối, Tiên Yên rồi tỏa đi các nơi Một Bộphận dọc theo bờ biển Đầm Hà, Móng cái và các tỉnh, Bắc Giang, Thái Nguyên,Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hải Dương nơi dịnh cư của đồng bào dân tộcSán Dìu là nơi thuộc bán Sơn địa.

Vốn là một dân tộc thiểu số ít người trong cộng đồng 54 dân tộc anh em Dovậy, nói đến văn hóa của người Sán Dìu là nói đến các yếu tố tiếng nói, chữ viết, lốisống, trang phục, cách ứng xử với môi trường tự nhiên, các mối quan hệ xã hội, cácsắc thái tâm lý, tình cảm, những phong tục tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng tôn giáo.Những yếu tố này được bảo tồn qua năm tháng, trở thành thói quen trong hoạt độngcủa mỗi người, được truyền từ đời này sang đời khác Hay nói cách khác văn hóa làtổng thể những giá trị vật chất và tinh thần của một dân tộc, được hình thành và pháttriển cùng với dân tộc đó

*Văn hóa dân tộc Sán Dìu nhìn từ góc độ giá trị văn hóa vật chất

+ Về làng bản và Nhà ở

Khác với nơi định cư trên miền núi đá cao của dân tộc H’Mông (ở Hà Giang,dân tộc Chăm sống ở vùng ven biển miền trung, dân tộc Kinh chọn đồng bằng gầnven sông cư trú, đồng bào Sán Dìu chọn vùng chân núi (bán sơn địa) làm nơi ởcủa mình Thời kỳ trước Cách mạng tháng tám năm 1945, các khu vực cư trú củangười Sán Dìu thường được sống thành trại, thôn, làng xã, tổng, có kỳ hào cai quản.Đứng đầu tổng có chánh quản, phó quản; làng xã có lý trưởng, phó lý; thôn thì cókhám trại Các chức dịch có nhiệm vụ thi hành mọi luật lệ của chế độ thực dânphong kiến Chính từ hình thức định canh định cư này cũng quy định nên phươngthức sinh hoạt và canh tác của họ

Đứng trước sư tiến bộ của phương thức sản xuất kinh tế mới, xuất hiện sự mâuthuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là điều tất yếu không thể tránh

Trang 25

khỏi Vì thế, trong điều kiện mới quan hệ sản xuất phong kiến cần được xóa bỏ vànhường chỗ cho quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn Điều này tác động cản bản đếnkiểu tổ chức xã hội của người Sán Dìu, tạo thành những bước thay đổi căn bản Họ

đã cùng nhau xây dựng nông thôn mới tiến kịp với sự phát triển chung trong cộngđồng các dân tộc Việt Nam

Người Sán Dìu thường sống thành từng xóm nhỏ, có từ khoảng 200 – 300 hộ,hoặc có thể ít hơn, Làng được thiết lập dưới những chân núi hoặc sườn đồi thấp,trên đồi bằng Người Sán Dìu ở nhà đất gần với kiểu nhà của dân tộc Kinh, sốngxen kẽ với nhiều tộc người khác, đồng bào người Sán Dìu thiết kế cho mình kiểukiến trúc nhà ở bằng nhà đất, lập bằng mái tranh hay mái lá bằng lá cọ, nhà dựalưng vào núi hướng mặt ra cánh đồng màu mỡ, hoặc nơi gần ruộng tiện lợi chosinh hoạt

Nhà cửa của người Sán Dìu thường làm theo quy mô nhỏ, bộ sườn kết cấu đơngiản, vì kèo thường là ba hay năm, kèo đơn nhỏ nguyên cây, xà và kèo gác lênngoàm đầu cột, được buộc lại với nhau bằng lạt (lạt tre, nứa hay dây rừng) Nhà

thường ba gian hai chái (sam ngạn lóng xá), gian bên trong nhô ra phía ngoài

khoảng 80cm, tạo nên một cái hiên nhỏ ở gian chính giữa Mái nhà thường đượclợp bằng tranh hay rơm rạ Tường nhà trái bằng đất (buộc đứng thưa rồi trát rơmtrộn bùn)

+ Về công cụ lao động: người Sán Dìu rất sáng tạo trong việc chế tạo công cụ

lao động để giải quyết cho khâu canh tác trên các địa hình khác nhau: Sử dụng cày

(lày), bừa một (tan phà), bừa đôi (sồng phà), bừa bàn có 11 đến 13 chiếc răng sắt,

và dùng sức kéo của trâu bò Ngoài ra còn sử dụng cái cào bàn (thui phà) công cụ

lao động này dùng chủ yếu để trồng khoai lang, lên luống trồng ngô, trồng sắn Bên

cạnh đó, còn dùng liềm để gặt hái (lèm) và Vàng (vố lèm).Công cụ không thể thiếu đối với người Sán Dìu đó là chiếc xe quệt (phong) gần giống với xe bò, nhưng xe

quyệt chỉ có 2 dây kéo và ko có lốp, dùng để kéo lúa, củi, các vật dụng đi canh tác

và thu hoạch màu màng Phần lớn phương thức canh tác của người Sán Dìu gắn vớinơi cư trú vùng bán sơn địa, chủ yếu vẫn là nông nghiệp lúa nước gần với dân tộcKinh, bên cạnh đó cũng có nương soi, bãi, trên nương trồng lúa nếp nương, ngô

Trang 26

khoai sắn phục vụ nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống và chăn nuôi Trong chăn nuôi,

họ nuôi trâu, bò, lợn, gà, là chủ yếu

Công cụ lao động một trong những yếu tố quan trọng giúp cho đồng bào có thểthực hiện phương thức sản xuất tự cấp, tự túc đắp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày

Sự sáng tạo trong việc chế tạo ra công cụ góp phần làm phong phú thêm văn hóacủa tộc người

+ Về trang phục: Trang phục của người Sán Dìu đến nay đã có sự thay đổi

nhiều Trước đây trang phục có sự phân biệt giữa ngày thường và ngày lễ Dịp tết,ngày hội hoặc đi chơi xa đối với nam giới và nữ giới trang phục là nét đẹp củangười Sán Dìu

Nam giới: Thường vận một cặp áo dài, áo trong màu xanh, áo ngoài màu đen.

Kiểu áo có năm thân, cổ cao, có hò cái khuy bên phải, ống tay hẹp, áo dài quá gối.Ngày thường hay khi lao động người ta thường mặc áo ngắn và cũng là kiểu áo nămthân, nhưng màu nâu, thân cụt, ở bên trong thân áo phải có may một túi nhỏ

Quần màu nâu hoặc trắng, cắt theo kiểu chân què, cặp lá tọa, thắt lưng màuchàm, xanh hay để nguyên màu của sồi, đũi Đàn ông để tóc dài, búi tó sau gáy, càichâm bằng xương Nai hoặc bằng bạc Đối với ngày thường họ để đầu trần hoặc vấnkhăn đầu rìu, khi đi dự tiệc làng hoặc đám cưới thì đội khăn xếp hoặc vấn khănnhiễu màu đen Ngày thường họ đi chân đất hoạc guốc gộc bằng gỗ, vào dịp hội hèngười sang đi giày da Gia Định, còn người nghèo đi ép quai ngang, đế bằng da trâu.Nam giới ít dùng đồ trang sức, chỉ có vài cái nhẫn bằng đồng hoặc bằng bạc, đôi khi

có thêm vòng cổ

Nữ giới: Đối vớí trang phục của phụ nữ phong phú hơn trang phục của nam

giới, bộ trang phục truyền thống gồm có: Khăn đội đầu, áo ngắn, váy, yếm, thắtlưng, và xà cạp Áo dài và áo ngắn cắt cùng kiểu chỉ khác nhau về độ dài Áothường mặc thành từng cặp, áo dài bên ngoài bao giờ cũng là màu chàm, còn áo bêntrong có thể là màu trắng Áo dài cắt theo kiểu áo tứ thân, cổ cao nẹp trơn, khôngđính khuy, bên trong đắp bằng vải màu trắng, để khi mặc lộn ra phía ngoài Cáchmặc áo cũng có sự khác biệt giữa lứa tuổi người già thường mặc áo vắt sang bênphải, còn người trẻ thì ngược lại Họ dùng thắt lưng màu màu xanh, đỏ, tím, hoa lý,hoặc có hoa văn trang trí nhiều màu

Trang 27

Đối với phụ nữ nuôi con nhỏ thường mặc áo ngắn cắt theo kiểu áo năm thânnhưng không có khuy, chỉ đính dài để buộc Phụ nữ Sán Dìu trước đây không cóyếm Đối với trang phục nữ giới ở các dân tộc có nhiều nét độc đáo, nhưng không

có một một dân tộc nào có kiểu váy độc đáo như chiếc váy của phụ nữ Sán Dìu Đó

là kiểu váy không khâu liền, gôm hai hoặc bốn mảnh vải cùng đính trên một cạp,mảnh này chồng lên mảnh kia khoảng 10 – 15cm Nếu là váy hai mảnh có từ bađến bốn bức can lại với nhau Khi mặc váy thì một mảnh ở phía trước, một mảnh ởphía sau, tạo thành hai khe hở dọc hai bên chân Với kiểu váy này, khiến cho ngườiphụ nữ Sán Dìu luôn phải giữ ý tứ trong lao động cũng như trong sản xuất và giaotiếp Chiếc váy của phụ nữ Sán Dìu không thêu thùa nhiều kiểu hoa văn xanh đỏ,đen, trắng như một số dân tộc khác mà vẫn đẹp, gọn gàng, mở từ hai vai khép lại ởthắt lưng ngang eo bụng, tạo nên nét đẹp trong bản sắc của họ

Nếu như phụ nữ dân tộc Nùng, Dao, Cao Lan đội khăn lệch trên đầu,… thìphụ nữ Sán Dìu họ vấn tóc và đội khăn vuông màu đen, ở 4 góc khăn có trang tríhoa văn ghép vải màu và có các tua vải, khi đội người ta thường buộc 2 tua vảilên đỉnh đầu

Thường ngày phụ nữ Sán Dìu đi giày vải, dép lốp, dép nhựa và các kiểu guốc

Trong lao động hoặc đi đường còn cuốn xà cạp (Kịooc sen) bằng vải màu trắng

hoặc màu chàm Bên cạnh đó, Phụ nữ sán Dìu còn sử dụng những trang sức phổbiến mang đặc trưng riêng bao gồm: Khuyên tai, vòng cổ, nhẫn, xà tích bằng bạc

Khi nói đến đồ trang sức, nổi bật là cái túi đựng trầu (loi thoi) hình múi bưởi, được

may và trang trí thêu thùa rất công phu Từng đường kim múi chỉ được các chị emphụ nữ Sán Dìu thể hiện bằng sự khéo léo của mình có lẽ được thể hiện rõ nét nhất

là ở đây Túi thêu bằng chỉ màu, luồn từ bốn đến tám sợi dây tết bằng chỉ nhiềumàu Đầu day tết nút và có tua dài đeo một chuỗi xu đồng để vắt qua vai ra sau lưnggiữ lấy túi trầu, ngoài ra còn phải kể đến con dao cau với cái vỏ gỗ chạm khắc rấtcông phu, thường được chị em phụ nữ đeo bên thắt lưng vào dịp hội hè, tết nhất.Túi đựng trầu là vật làm duyên của phụ nữ Sán Dìu

Như vậy, có thể thấy trang phục của của đồng bào dân dân tộc Sán Dìu nói

riêng tạo nên nét văn hóa độc đáo góp phần xây dựng nên bản sắc văn hóa dântộc Việt Nam

Trang 28

*Về giá trị văn hóa tinh thần

+ Gia đình – dòng họ

Trước cách mạng tháng tám, gia đình người Sán Dìu không còn tồn tại kiểu tứđại, ngũ đại đồng đường (bốn, năm đời) mà chuyển sang gia đình nhỏ phụ quyền.Đối với dân tộc Kinh vai trò của trưởng họ rất quan trọng và quyền uy trong dòng

họ, thì người Sán Dìu ngược lại vai trò của Tộc trưởng không có uy quyền lớn trongdòng họ Tuy nhiên, khi gia đình dòng họ có việc gì, thì cũng mời tộc trưởng đếnchủ chì, và góp ý trong công việc

Trong gia đình, người cha, người chồng có quyền định đoạt mọi việc Ngườicon trai trưởng được tôn trọng gần ngang với người cha Chỉ có con trai mới đượcthừa kế tài sản của gia đình và dòng họ để lại, do ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nhogiáo, người con gái trong gia đình luôn được nhắc đến bởi “Tam cương, ngũthường” và định kiến xã hội xưa “trọng nam khinh nữ” con gái không được họcchữ Hán, chỉ có công việc đồng áng và nội trợ, chăm sóc gia đình, nếu con gáimuốn thừ kế tài sản thì gia đình đó không có con trai, phải ở rể thì mới được thừahưởng và thực hiện nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ vợ sau này, hôn nhân của ngườiSán Dìu một vợ, một chồng, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, việc dựng vợ gả chồng là

+ Về ngôn ngữ - văn tự

Nếu như trang phục một trong những tiêu chí quan trọng để phân biệt giữa tộcngười này với tộc người kia, thì ngôn ngữ cũng là điểm khác biệt lớn dùng để phânbiệt giữa các dân tộc với nhau: Ngôn ngữ văn tự của đồng bào người Sán Dìu sửdụng trong nội bộ cộng đồng tộc người là thổ ngữ Hán Quảng Đông (Trung Quốc).Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ Sán Dìu Vương Tiến (Viện ngôn ngữ học) thì ngườiSán Dìu dùng khoảng 95% chữ Hán, đọc theo âm Sán Dìu (Hán – Sán Dìu), còn lại

Trang 29

chữ tự tạo theo chữ Hán nhưng âm ngữ thay đổi hoặc chữ mới âm nghĩa mới dochính người đân tộc sáng tạo ra trong quá trình phát triển tộc người, có thể coi đó làchữ Nôm Sán Dìu do đó, nếu ai đã biết chữ Hán không biết tiếng Sán Dìu vẫn cóthể đọc hiểu văn tự của người Sán Dìu Tuy vậy, vẫn có sự khác nhau giữa văn viết

và văn nói, có thể người Sán Dìu biết tiếng Sán Dìu nhưng mỗi khi nghe đọc truyệnnghe lời các bài cúng của thầy cúng hay đọc sách cúng cũng chỉ nghe lõm bõm

Bảng 1.1: So sánh ngôn ngữ [28,tr12]

*Giá trị văn hóa tinh thần

Về quan niệm về thế giới quan thần bí của người Sán Dìu được thể hiện qua tín ngưỡng tôn giáo

Xuất phát từ quan niệm về vũ trụ và vai trò sáng tạo của con người Người SánDìu rất coi trọng đời sống tâm linh các nghi lễ liên quan đến chu kỳ đời người điềunày phản ánh đời sống văn hóa tinh thần đồng bào Sán Dìu Có thể nói, người SánDìu có hệ thống tín ngưỡng rất đa dạng và phong phú Nếu như tín ngưỡng của

Trang 30

người H’mông mang tính sơ khai, tiền giai cấp đối với người Sán Dìu thờ cúng Tổtiên là chính Ngoài ra, đồng bào theo Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo và tin vàoThần linh, ma quỷ Không chỉ dân tộc Sán Dìu mà nhiều dân tộc nước ta cũng bịảnh hưởng bởi các tôn giáo trên, nhưng khi du nhập vào Việt Nam hệ tư tưởng củacác tôn giáo đã bị phong kiến hóa nhằm củng cố thêm cái quyền uy gia trưởng vàtộc trưởng Ở người Sán Dìu, cũng tùy theo từng dòng họ mà ma tổ tiên được thờ từsáu, bảy đời, cho tới mười đời, mười hai đời Nhưng khi cúng bái cầu khẩn sự linhứng người ta thường tính đến đời thứ tư, nếu tính từ đời mình, tức là đời cụ củamình Còn ma từ thế hệ trước trở lại chỉ được cúng vào dịp lễ tết, chủ yếu là tếtNguyên Đán, tết Trung Nguyên.

Quan niệm về thế giới, khác với Thiên Chúa giáo, với đồng bào vũ trụ khôngphải do Thượng đế sinh ra Với đồng bào người Sán Dìu họ cho rằng vạn vật xung

quanh con người đều có linh hồn (vún), hồn và thể xác luôn gắn bó với nhau Đồng

bào quan niệm thế giới có 3 tầng: Tầng trên là trời là thế giới của tổ tiên và các vịthần; tầng giữa là thế giới của trần gian con người ở; tầng dưới lòng đất là địa ngục,

âm phủ (im can) Người Sán Dìu quan tâm đến sự sinh sôi nảy nở và chu kỳ đời

người trong đó có nhiều nghi lễ khác nhau Qua đây cho thấy quan niệm về vũ trụcủa người vũ trụ là vô cùng, vô tận

Thờ Phật Bà Quan Âm: Người làm nghề thầy cúng lập bàn thờ Phật nhưngkhông tụng kinh, mà chỉ cúng như các loại ma khác Bàn thờ Phật để một chỗ riêng,cao hơn bàn thờ tổ tiên Nếu thờ Phật phải kiêng không được mang thịt chó, thịt trâuvào nhà hoặc ăn

Thờ tam Thanh: Ở đây đối với người làm nghề thầy cúng của người Sán Dìunhất thiết phải có Tam Thanh đặt mội nơi riêng và cao hơn bàn thờ tổ tiên

Thờ sư tổ: Người làm nghề thầy cúng thờ ông tổ của nghề cúng bái, tức ngườidạy làm thầy Bàn thờ đó được đặt ngang hàng với ma tổ tiên và ông Táo

Bàn thờ mụ, thương thì bàn thờ này được đặt trong buồng các bà mẹ, để mụ bảo

hộ trẻ con lúc sài, đẹn, đau yếu Đồng bào người Sán Dìu tin nếu khi đứa trẻ gặpđiều gì bất trắc thì bà mụ sẽ phù hộ cho đứa trẻ đó

Ngoài ra người Sán Dìu còn thờ thổ thần, Thành hoàng làng ở đình Ở một sốnơi, người Sán Dìu còn “nhân hóa” một hòn đá để ký gửi cho con mình, cho rằng

Trang 31

hòn đá đó bảo hộ, đồng thời còn coi hòn đá đó là bố mẹ nuôi, người ta chọn mộthòn đá có hình thù đặc biệt, hay do thầy cúng chỉ định rồi làm lễ cúng gửi đứa trẻvào đó, đứa bé nhận hòn đá đó làm “bố nuôi” Hằng năm vào dịp lễ tết gia đình phảisắm sửa lễ vật cúng “bố nuôi” để được được phù hộ luôn mạnh khỏe, chóng lớn,cho đến khi thực sự trưởng thành gia đình làm lễ tạ “Bố nuôi” được gọi là “cởikhóa” và sau đó thay tên cho đứa trẻ.

Người Sán Dìu thực hiện nhiều nghi lễ như: Lễ thượng điền, hạ điền và tết cơmmới, thờ Táo quân “vua bếp” và thờ ma giữ cửa để bảo vệ không cho ma dữ vàotrong nhà Họ còn thờ ma để bảo vệ gia súc, chuồng gà, chuồng lợn…

Có thể nói về thế giới thần linh , quan niệm về ma (cúi) của người Sán Dìu là sự

bình đẳng giữa thần, thánh, ma quỷ là một Đối với đồng bào người Sán Dìu “ma”bao hàm nghĩa rộng nhằm chỉ tất cả thần thánh, trời đất, ma dưới nước, ma trên trời,

ma trên mặt đất Trong đó đồng bào còn quan niệm có ma dữ (thôc cúi) và ma lành (hén cúi) ma lành thường bảo vệ mùa màng gia súc, giúp con người thoát khỏi con

ma khác Tuy nhiên, ma lành cũng cần phải được thờ phụng chu đáo, nếu không malành sẽ trừng phạt con người, ngay những con ma lành là người thân thuộc trong giađình (ông, bà, cha, mẹ) nhiều khi cũng quở trách con cháu, gây ra ốm yếu, tainạn… chẳng kém gì những con ma dữ Ma dữ thường tìm đủ cách hại con người, đó

là ma rừng, ma sấm sét, ma những người chết bất đắc kỳ tử, đồng bào quan niệm ởđâu cũng có ma, ma quanh quẩn bên người, nên bất cứ một sự việc gì xảy đến vớicon người mà người ta không thể giải thích được nguyên nhân, thì họ tin là do malàm, đối với người Sán Dìu, ma lành được thờ trong nhà, ma khác thì chr cúng màkhông thờ Ở đây đồng bào vẫn giữ được tín ngưỡng nguyên thủy, tin là có ma thuật

ăn sâu vào tiềm thức của họ, và tin rằng những người cùng dòng họ không thể hạinhau bằng ma thuật, vì làm thế trái với đạo lý, nên không linh nghiệm, do đó mathuật chỉ dùng để báo thù những người khác họ và khác thân tộc Cũng vì sợ hãi nên

đồng bào tin rằng có ma người sống (slang nhín cúi) Vì một lý do nếu ai đó bị ốm

đau, hoặc ngẫu nhiên gặp một số chuyện lạ họ đều gắn cho ma làm Đặc biệt đối vớiphụ nữ đang ở cữ và gia súc mới đẻ… người ta tin rằng có loại ma sống thích tanhhôi, hút máu Những người ma sống này thường bị xa lánh, sợ hãi và căm ghét.Người Sán Dìu tin còn có ma thuật chữa bệnh bằng cách niệm chú, loại này thường

Trang 32

để chữa lành những vết thương của gia súc Ngoài ra họ cũng tin có ma thuật tìnhyêu, song ít người biết làm, vì người ta coi đó là việc làm không tốt.

Ở người Sán Dìu có các trò chơi dân gian, tri thức dân gian và thơ ca: Đốivới mỗi dân tộc đều có nét văn hóa truyền thống đặc sắc, với người Sán Dìu vănhóa dân gian đã có từ lâu đời được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác vớinhiều thể loại

Về dân ca và hát dân ca: Có một số làn điệu hát đối đáp giao duyên giữa nam và

nữ, và họ sử dụng nhạc khí bằng tù và “ngọc coi” (bằng sừng trâu, vỏ ốc) , sáo,

thanh la, não bạt, trống da Bên cạnh đó, có một số điệu nhảy mà chủ yếu dành cho

tang ma, cúng bái như: Múa gậy (lại thẹt sóng), múa dâng đèn (bỉn tanh), múa hành quang tiếp thành (hang coong chép sệnh), múa chạy đàn (kết lạy than).

Về hội họa, có một số ít người hành nghề vẽ, nhưng cũng chỉ là sao chép cácbức tranh thờ hoặc khắc họa vân mã bản, con dấu, ấn tín của thầy cúng với nhữngđường nét đẹp

Thơ ca đối với người Sán Dìu là một phần không thể thiếu sinh hoạt hàng ngày,người ta làm thơ để ca hát, nói đến đồng bào dân tộc Sán Dìu một trong những làn

điệu dân ca đặc sắc đó là hát “Sọong cô”, đây là loại hình văn hóa thể hiện đối đáp

giao duyên giữa nam nữ bằng những lời thơ trữ tình, theo bài bản có sẵn truyền lạihoặc ứng khẩu tại chỗ với ngôn từ giàu tính dân tộc Hình thức diễn xướng cũngtương tự như sli, lượn của người Tày, Nùng; hát quan họ, hát ghẹo, hát xoan củangười Kinh Thanh niên từ 16 tuổi trở lên đều biết hát khá thành thạo cấc làn điệu

và bản “sọong cô” Từ 12 -13 tuổi, đã theo anh, theo chị đi hát tập dượt cho quen, ngoài việc học thuộc lòng ghi nhớ có bài bản, hát “sọong cô” cũng đòi hỏi phải có

sự phản ứng linh hoặt với trình độ hiểu biết nhất định, để biết được sự thông minhhay bản chất của con một người nào đó, đối với người Sán Dìu không chỉ quan sát

qua các hành động trong cuộc sống hàng ngày mà thông qua hát “sọong cô” này cũng đánh giá một phần tính cách của họ Lời hát “sọong cô” thông thường được

thể theo thơ thất ngôn tứ tuyệt, đôi khi cũng có xuất hiện một số bài lục bát và thơ

tứ tuyệt,…câu hát có lối ví von hoặc đố mang một ý nghĩa trang nhã, thường manghình ảnh ẩn dụ, mượn cảnh đẹp quê hương, làng xóm, cảnh sinh hoạt hàng ngày đểnói lên nỗi lòng của mình Vào dịp lễ tết, cưới hỏi, trai gái Sán Dìu thường tổ chức

Trang 33

hát “sọong cô” Trai làng này hát với gái làng kia và ngược lại, mỗi tốp năm bảy

người, có khi tới mười người Nhà nào được trai gái tổ chức hát tại nhà mình thì coiđây là một niềm vinh hạnh, nên họ đón tiếp rất niềm nở và hào phóng Có khi traigái hát thâu đem suốt sáng, ngày nghỉ, đêm lại hát, càng hát càng say, có khi kéo dàihàng tuần đồng bào người H’mông có những phiên chợ tình để trai gái tìm hểunhau, thì đối với người Sán Dìu thông qua dịp lễ hội, phiên chợ cũng là lúc trai gái

hát “sọong cô” có cơ thổ lộ tình cảm với nhau, và kết duyên vợ chồng sau này Họ

hát bất cứ lúc nào, chỗ nào, trên đường đi chợ,… Hết đường, hết chợ,lại hẹn phiênchợ sau hát tiếp

Dân ca “Sọong cô” của người Sán Dìu là loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng

xóm làng, được tổ chức vào dịp hội mùa xuân, trong đám cưới, mừng nhà mới,…trong lao động vất vả, nhưng họ luôn lạc quan yêu đời với những câu hát:

Câu ca Sán Dìu:

Chóc nẹm mù xèn slạy li lô

Thèn cóc sang phong slạy li sồ

Thai slì thót dong thai slì ca slì

Thai slì sli then dịu vồ

Tạm Dịch là:

Làm nghề chẳng có tiền, lời nói nhỏ

Góc ruộng bỏ hoang cùng nhau cuốc

Cùng nhau nhổ mạ, cùng nhau cấy

Cùng nhau đi cấy có lúa thôi

[28,tr.95]

Ngoài kho tàng dân ca, người Sán Dìu còn có khá nhiều truyện kể, chủ yếu làtruyện cổ tích, thơ khuyết danh, truyền thuyết, được lưu truyền qua nhiều thế hệ

như: Vua có, Sluns Nghi, Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài (Loáng hênh – Chếch

Thoi)… họ ghi lại thành sách truyền cho con cháu, truyện cổ Sán Dìu gần như có

mô típ chung thường thấy ở nhiều truyện dân gian của các dân tộc nước ta ca ngợitình yêu chung thủy, khí phách anh hùng, tài năng trí tuệ, thiện và ác,

Một trong những loại trò chơi dân gian là không thể thiếu đối với người SánDìu, thường được tổ chức vào ngày hội, ngày tết đầu năm với những trò chơi như:

Trang 34

Đánh cầu “tả khìu, cầu được làm bằng lông gà trống thiến, đế cầu có thể tết từ lá

dứa hoặc mo tre, hình thức gần giống với quả yến của người Tày, Nùng Bên cạnh

đó họ còn đi cà kheo làm từ hai đoạn tre cũng có thể bằng hai đoạn gỗ nhỏ, nếudựng đứng cao quá đầu người và cách mặt đất ít nhất khoảng từ 0,58 – 0,80m, đượclắp bằng hai bàn đế như hai chiếc guốc, chân đứng trên hai chiếc guốc ấy, tay cầmđầu trên người ta đi lại dễ dàng, ngoài ra còn có trò chơi khác như đánh khẳng, đuổi

gà vào chuồng, đuổi chó vào cũi và trò kéo co, trò chơi đấu vật…

+ Về nghi lễ cưới xin: Từ xưa đến nay vấn việc dựng vợ gả chồng vẫn đượcquan tâm nhằm mục đích tái tạo, phát trển nòi giống Trong quan niệm của ngườiSán Dìu hôn nhân là việc hệ trọng trong đời người, vừa là quyền lợi và nghĩa vụ của

cả mỗi gia đình và cộng đồng Họ quan niệm đám cưới mà không được gia đìnhchấp nhận thì không bao giờ có hạnh phúc Trong đó, ngoại hôn là nguyên tắc cơbản trong quan hệ hôn nhân của người Sán Dìu Tức những ngời không cùng máu

mủ (không hênh chếch, thạy cút hoét) Những người trong nội tộc, hoặc cùng dòng

họ cũng không được kết hôn với nhau, ngoài ra còn có một số dòng họ kiêng khôngđược kết hôn với nhau: Đó là họ Trương và họ Lý, họ Diệp với họ Lục, giữa nhữngdòng họ này có sự thiên di nhầm lẫn bát hương tổ tiên gây ra sự tranh cãi, và gầnnhư họ thề không cưới gả con cho nhau Trong suốt một thời kỳ dài, họ chỉ kết hônvới người cùng nội bộ dân tộc mình, nhưng hiện nay quan niệm đó đã giảm nhẹ đi

Từ 15 tuổi trở lên được coi là trưởng thành và có thể dựng vợ gả chồng

Thông qua buổi hát giao duyên trai gái có cơ hội tìm hiểu và nếu có ứng ý nhau,chàng trai sẽ về báo tin cho cha mẹ, theo truyền thống của người Sán Dìu cưới xinphải trải qua các bước sau:

Bước một: Xin lá số hay là xem tuổi (loổng nến sang): Xem tuổi của cô gái có

hợp với chàng trai không nếu hợp họ nhờ người thân trong gia đình, dòng họ cô gái

thăm dò ý kiến thích ai làm ông mối “moi nhin”,

Bước thứ hai; Ông mối là người sau này sẽ mang nghi lễ của nhà trai đến nhà

gái, và nên duyên hay không là nhờ vào ông mối, ông mối có trách nhiệm đối vớihạnh phúc sau này của đôi vợ chồng

Bước ba:Llễ xem mặt (hỵ mong men), sau khi chọn được ngày tốt họ báo tin

cho nhà gái, và rể tương lai và bạn trai của rể tương lai sẽ đến nhà cô gái và

Trang 35

những người này phải hát sọong cô giỏi, mang theo lễ vật đến để giao tiếp tròchuyện với nhau.

Bước thứ tư: Lễ ăn hỏi (hỵ mun nghén cạ”, nhà trai chuẩn bị lễ vật và thỏa

thuận cho ngày cưới xin, đến ngày tốt nhờ ông mối và chú bác là người quan trọngnhất sang nhà gái hỏi chuyện cưới xin Khi đi mang theo 10 lá trầu, 10 quả cau, 2chai rượu màu, đến bàn bạc ngày cưới, để tiến hành ngày cưới nhà gái đưa ra lễthách cưới theo quy định tập tục nhà gái đưa ra, xem bên nhà trai có chấp nhậnkhông, nhìn chung thách cưới bằng những lễ vật như trang sức bằng bạc và một sốvật dụng khác:

Lợn (chuy nhôc) từ 100kg trở lên

Rượu từ 70 lít đến 80 lít

Gà trống thiến(dem cay) từ 6 đến 7 đôi

Y phục cô dâu gồm 4 bộ

Chăn màn, hòm đựng quàn áo tư trang

Vòng tay một đôi (bằng 6 độc bạc trắng hoa xòe)

Thau đồng: 1 chiếc

Hoa tai bằng vàng một đôi (2 chỉ)

Cau quả 150 quả, (sử dụng mời cưới thay cho thiệp cưới của người kinh)

Tiền mặt: từ 1.500.000 đ đến 2.000.000đ (VNĐ)

Và một số lễ vật khác

Bước thứ năm: Sang bạc (hỵ cộ nghén) nếu nhà trai chấp nhận lễ thách cưới mà

nhà gái đưa ra, chọn ngày lành tháng tốt nhờ ông mối mang lễ vật sang, và có lờimời ông mối đi sang bạc

Bước thứ sáu: Lễ chọn ngày cưới (tháy nhít tan) thông thường dựng vợ gả

chồng được xem xét kỹ lưỡng về ngày giờ tháng cưới, vì họ quan niệm hôn nhânđưa về một thành viên cho một gia đình có hạnh phúc sau này hay không, chính làbắt đầu từ việc chọn ngày lành tháng tốt

Bước thứ bảy: Lễ báo ngày cưới (cộ nhít tan) sau khi ông thầy chọn được ngày

tháng hợp hôn, hai gia đình nhất trí để ông thầy viết hôn thư

Bước thứ tám: Lễ gánh gà (tam cay) sau khoảng 2 tháng sang bạc.

Trang 36

Bước thứ chín: Lễ nạp cheo (Nạp cheo) trước ngày cưới chuẩn bị gánh lễ vật

đến nộp cho khám trại (người đứng đầu thôn) để cúng ở đình làng

Bước cuối cùng: Lễ cưới (Sênh ca chíu) buổi sáng hôm cưới ông mối dẫn người

khiêng lợn đến nhà gái (tạm lóng khong chuy) lợn được cho vào lồng đan rồi khiêng

đi và một nhóm khiêng rượu (tạm lóng tam chíu) sau đó diễn ra một số nghi lễ của

nhà gái trước khi cô dâu về nhà chồng

+ Về văn hóa ẩm thực: Trong sinh hoạt hàng ngày nếu như nhều dân tộc lấy

cơm làm món ăn chính thì ở người Sán Dìu, ngoài cơm (van) còn phải kể đến món cháo (chốc) Món cháo thường ăn kèm với bữa cơm trong bất kể ngày lễ nào có thể

cưới xin, lễ tết, ma chay, Vì vậy, trên vị trí bếp của người Sán Dìu, bao giờ cũngđặt một nồi cháo, nước cháo được coi như một thứ nước giải khát, khách đến nhàchơi họ không quên mời nước cháo Trong bữa cơm, thức ăn hàng ngày của ngườiSán Dìu rất đạm bạc, chủ yếu là rau, củ xào mỡ, đôi lúc có thêm cá sông, cá suối vàđặc sản thú rừng

Vào những ngày lễ, ngày tết họ thường làm nhiều loại bánh như: Tết nguyên

đán (chăng nhot nèn), là tết to nhất trong năm, tết này đồng bào gói bánh chưng gù

(chổng), bánh tro (voi slúi chổng), làm từ các loại thảo dược thân cây trên núi và

làm bánh tẻ (hún chổng),…Tết Thanh Minh (sênh mềnh chét), làm bánh rợm, bánh

nghé, bánh trứng kiến, bánh trôi, xôi nhuộm màu, xôi đen (u van) , xôi đỏ (hồng

lam) từ dược liệu quý hiếm Tết đoan ngọ Mùng 5 tháng 5 (ngũ nhot chét) gói bánh chưng gù, bánh tro, và rượu nếp hoa quả Tết 14 tháng 7 âm lịch (sết nhot chét), có

thịt lợn, thị gà, và bánh rợm, 15 tháng 8 âm lịch đồng bào người Sán Dìu ăn tết cơm

mới, giống như tết tháng bảy Cuối cùng là tết Đông chí (tông chí chét), làm bánh

trôi không nhân, và làm bánh rợm, ăn xôi với thịt gà thịt lợn

+ Về tang ma: Theo quan niệm xưa của người Sán Dìu, số mệnh con người

sống ở trần gian phụ thuộc vào kiếp trước, tiền sinh định đoạt Do đó, con người ởhiền gặp lành, ở ác gặp quả báo Kiếp trước hưa trả được nợ thì kiếp sau con cháuphải trả Quan niệm về cái chết và sự tồn tại của người Sán Dìu chịu ảnh hưởng bởiĐạo giáo và Phật giáo Điều này đã đưa đồng bào đến với chu kỳ của một đời ngườigiống với Phật giáo: (Sinh, lão, bệnh, tử), con người sinh ra, lớn lên, trưởng thành,già rồi qua đời là tất yếu

Trang 37

Trong lễ tang ma của đồng bào người Sán Dìu là một quy trình từ khi conngười ốm nặng, qua đời, đưa chôn cất tại nghĩa địa, tiếp đó làm ma phá ngục giảioan để linh hồn siêu thoát về trời Tang ma được tổ chức theo các bước: Lễ tang

người bệnh từ ba buổi sáng đến 7 ngày (mạo cộ sam cheo sết nhít) khỏi bệnh

hoặc chết ngay[7,Tr.177] Khi người này chết nhất thiết phải mời Thầy cúng đếnkhâm liêm và làm ma

Gia đình có người chết, người thân trong gia đình thường vuốt mắt cho ngờichết để cặp mắt nhắm lai hẳn và xếp chân tay ngay ngắn và trải chiếu xuống đất đặt

người chết chiếu đưa thi thể nằm xuống dưới đất là đưa họ ề với cõi âm (hạ thi tá

náy hỵ) người Sán Dìu có câu: “Chỉ tốt với người sống chứ không thể tốt với người

chết” [7,Tr.178]

Sau đó thực hiện nghi lễ tắm rửa cho người chết (sáy sin bí sý láo) Tắm rửa,

đồng bào quan niệm tắm rửa để người quá cố sạch sẽ mọi tội lỗi và nhẹ nhàngkhông bị ma quỷ ngăn đường đi Đối với những người thọ 70 đến 80 tuổi sau khitắm xong thì sẽ dùng khăn đỏ cuôn đầu Người chết được người thân mặc quần áo

cũ phủ khăn trắng, không mặc quần áo mới cho người chết vì đồng bào quan niệmkhi mặc đồ mới xuống âm phủ sẽ bị ma quỷ thu hết Bước tiếp theo cho tiền xu vào

mồm người chết (Hám hoi sén) với quan niệm để người chết đi đường có tiền đi đò

và uống nước dọc đường về nơi mới, lúc này con cháu không được khóc to Ngườinhà bắt đầu chuẩn bị lập bàn thờ vong, bàn thờ này đặt ngay trên đầu người chết ,trên đó đặt một bát cơm đầy và môt quả trứng luộc bóc vỏ, một đôi đũa tre và mộtbát hương mới Gia chủ bắt đầu tiến hành phát tang, báo cho người thân và hàngxóm Anh em người nhà mặc quần áo tang đi báo tang Đối với người thân, con cái

Trang 38

và bà con hàng xóm người thân thích đội khăn trắng, cháu chát thuộc thế hệ thứ 3trở đi đội khăn màu đỏ Bước làm lễ đón thầy cúng, trong lễ tang ma không thểthiếu vai trò của thầy cúng, họ là người sẽ thực hiện các nghi thức đưa hồn ngườichết về cõi âm Thầy cúng làm lễ và đưa người chết vào quan tài Tiếp đó là tiếnhành chọn đất làm huyệt mộ, chọn đất chôn cất được người Sán Dìu xem xét kỹlưỡng vì họ cho rằng điều này có thể ảnh hưởng đến sự phát đạt hưngt hịnh cho concháu Lễ mở đường, được tiến hành tùy theo hoàn cảnh gia đình và người đó có hocthầy hay người binh thường sẽ được sắp đặt các bức tranh khác nhau Một phầnquan trọng trước khi đưa người chết ra đồng, họ làm nhà táng theo kích thước quantài bằng giấy Sau khi tiến hành xong các thủ tục đồng bắt đầu đưa ma ra đồng,

ra khỏi cửa người nhà đóng sập cửa lại, con cháu nằm sấp quay đầu vào nhà(người có chửa thì không phải nằm sấp) “bắc cầu” để khiêng quan tài đi qua trênđầu Phong tục của người Sán Dìu khi đưa người chết ra đồng phải có lửa, concháu phải vắc lửa và cờ triệu trên đường đi sẽ được dừng chân lại một lúc dù xahay gần Đến huyệt thì con cháu bò quanh mộ và vứt tiền xuống dưới huyệt vớiquan niệm mua đất mau nhà cho người thân mình ở, tiến hành hạ huyệt, xây hoặcđắp đất kín, đồng bào có tục lệ “nhất táng thiên thu” Ngày hôm sau khi chôn cất

sé thực hiện ấp mộ, mang nón mới và những vật dụng cần thiết cho người chết ra

mộ và đốt chiếc nhà táng

Các bước tiến hành rất nhiều nghi thức, nhưng lúc này người chết chưa đượclên bàn thờ ngay, vì chưa được công nhận là ma Vì vây, đồng bào chọn ngày tốtlàm ma cho người quá cố, có sự phân biệt giữa người đần ông và đàn bà Sau khilàm ma xong người chết được công nhận là ma và đạt trên bàn thờ tổ tiên, đồng bàocũng làm lễ 100 ngày cho người chết giống như một số dân tộc khác

Ngoài nhưng nét riêng về cách thức tổ chức tỏng đám ma, đồng bào người SánDìu cũng một số nét chung giống với cộng đồng dân tộc Việt Nam, thể hiện sự giaothoa về văn hóa, mối liên hệ về văn hóa giữa các tộc người trên dải hình chữ S

+ Về lễ cấp sắc (hoi séo), chỉ thực hiện với người đàn ông, đây được coi là một

sự kiện trọng đại, đối với con trai khoảng từ 16 tuổi trở lên người ta thường làm lễcấp sắc, không nhất thiết tất cả phải cấp sắc mà theo người Sán Dìu người được làm

lễ cấp sắc sau khi chết linh hồn sẽ được đưa qua 12 cửa cầu (chọi khéo) và lên với

Trang 39

Ngọc hoàng, mãi mãi được các đệ tử thờ phụng, trong lễ cấp sắc đàn ông được đặtpháp danh tên âm Khi cúng chỉ dùng pháp danh này, quá trình cấp sắc ở bậc cao

nhất là chủ chì Đại Phan (phan chúy), những người cấp sắc không nhất thiết phải

trởt hành thầy cúng, ngược lại muốn trở thành thầy cúng nhất thiết phải cấp sắc lễcấp săc có 3 câp:

Cấp thứ nhất: Pháp Sư (Sô ca) pháp sư có quyền hạn thấp, và những cấp này

chỉ được thực hiện công việc như: cúng hạn, giải hạn, kỳ yên nhà

Cấp thứ hai: Chức sư (Chếch ca) chức sư có quyền này phải có thời gian hành

pháp lâu năm hơn có thể thực hiện trả lễ, bắt tà trừ ma, được xã hội tôn kính

Chức thứ ba: Thứ Gia Tổng xuyến (Xị ca chống sọn) chức vị này phải có thời

gian hành pháp lâu năm

Lễ cấp sắc còn có những điệu múa rất phong phú như Hành quang (Háng cong),

nghênh tiếp thần và tống thần, lễ cấp sắc của người Sán Dìu còn mang ý nghĩa trongsinh hoạt hàng ngày, thể hiện sự vui chơi trong lao động sản xuất, …

Do điều kiện cư trú xen kẽ với các dân tộc khác Ngoài những đặc điểmchung, người Sán Dìu ở Việt Nam còn mang những yếu tố riêng biệt thể hiện cáiriêng trong sự liên hệ với cái chung lớn nhất Tạo nên sắc thái riêng của đồngbào người Sán Dìu ở Việt Nam, từ các phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo,ngôn ngữ- chữ viết,…

*Một số biểu hiện bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu

Xét trong mối quan hệ giữa các nền văn hóa dân tộc bản sắc văn hóa dân tộcSán Dìu ngoài nhưng đặc điểm chung, còn được biểu hiện ở sự đa dạng như: phongtục tập quán, lễ nghi, quan niệm về vũ trụ, văn hóa dân gian…,

Thứ nhất, Quan niệm về vũ trụ, người Sán Dìu quan niệm thế giới này không

phải do Thượng đế sinh ra, mà họ đề cao vai trò của ông trời, ông trời có quyền lực

tối cao Do vậy, mỗi khi làm việc ác và thiện, đồng bào nói rằng: “then dịu ngạn”

(trời cao có mắt), nên ai làm việc thiện sẽ được trời phù hộ, làm việc ác sẽ bị trừngphạt Người làm nghề thầy cúng còn rất giỏi xem tướng số, thông thạo về KinhDịch, làm việc lớn dựng vợ gả chồng cho trai gái, hoặc tang mag, làm nhà, ngườiSán Dìu đều phải xem ngày giờ, qua việc “xem lá số” cho những đôi trai gái sắp đitới hôn nhân Thông thường xem số căn cứ vào ngày tháng năm sinh của nam và nữđều được quy về mệnh thuộc ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) Qua ngày

Trang 40

tháng năm sinh còn phân theo can - chi xem có tương sinh tương khắc hay không để

từ đó hai người có thể tiếp tục đến với nhau Dự đoán, dự báo thời tiết cũng là mộttrong những yếu tố quan trọng góp phần xây dựng nên vũ trụ quan phong phú

Về nhân sinh quan: Vạn vật xung quanh đều có linh hồn, hồn và thể xác gắnliền với nhau, tồn tại bên nhau Thể xác là một thực thể vật chất tồn tại khách quannhìn thấy được, còn linh hồn thì không thể nhìn thấy Đồng bào người Sán Dìu cònquan niệm đàn ông có 3 hồn 7 vía, đàn bà có 3 hồn 9 vía, hồn trú ngụ trên cơ thểngười đang sống, khi con người chết đi linh hồn sẽ tách khỏi thể xác và trở về âmphủ hay thiên đình tùy vào số kiếp Quan niệm số phận con người là do trời định

Do đo, (sinh, lão, bệnh, tử) là tất yếu trong mỗi đời người

Thật vậy, quan niệm về thế giới quan và nhân sinh quan cho thấy, quan niệmcủa người Sán Dìu mang tính chất sơ khai nguyên thủy, tất cả đã tạo nên cái riêngcủa đồng bào

Thứ hai, đặc trưng thiết chế xã hội, người Sán Dìu sống thành từng làng nhỏ, và

trong làng các gia đình đều là anh em thân tộc hoặc cùng dòng họ với nhau Tronggia đình chuyển sang gia đình phụ quyền nhỏ, đàn ông trong gia đình người bố cóvai trò quan trọng, vai trò của trưởng tộc không được đề cao Tuy nhiên, với kiểugia đình dòng họ như vậy, tạo nên văn hóa truyền thống của người Sán Dìu, mỗidòng họ lại có một tục lệ riêng ttrong cái chung đó

Thứ ba, Văn hóa dân gian thể hiện ở lĩnh vực sinh hoạt hàng ngày phản ánh rõ

nét đặc điểm tâm sinh lý của đồng bào người Sán Dìu, qua đó những câu chuyện cổ,truyền thuyết nói lên tình cảm của đồng bào mà khác với các dân tộc thiểu số kháctrên cả nước Mỗi câu chuyện phản ánh một khía cạnh của cuộc sống Câu chuyện

“Lương Sơn Bá – Chúc Đài” ( Loang hênh - Ếnh Thoi) phản ánh tình yêu đôi lứa,tình cảm con người cùng tồn tại trong một xã hội, cái thiện và cái ác, luôn tồn tạicùng nhau “Bảy Nàng Tiên” là sự phản ánh về hình thức sinh hoạt, về tình cảm, laođộng đã gắn bó những con người ở hai thế giới khác biệt lại với nhau, tạo nên lối tưduy cho đồng bào

Một hình thức sinh hoạt không thể thiếu khi nói đến người Sán Dìu, đó chính là

“Sọong cô” “Sọong cô” là điệu hát giao duyên của đồng bào người Sán Dìu, phản

Ngày đăng: 19/09/2015, 09:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Thắng (2003), Hành trình vào văn hoá học, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình vào văn hoá học
Tác giả: Bùi Quang Thắng
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thôngtin
Năm: 2003
2. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 3
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
3. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 4
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
4. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 26, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 26
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
5. C. Mác và Ăngghen (1995), Toàn tập tập 42, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập tập 42
Tác giả: C. Mác và Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
6. Chu Thái Sơn (2011), Dân tộc Sán Dìu, Nxb Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Sán Dìu
Tác giả: Chu Thái Sơn
Nhà XB: Nxb Kim Đồng
Năm: 2011
7. Diệp Trung Bình (2011), Tri thức dân gian trong chu kỳ đời người của người Sán Dìu ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức dân gian trong chu kỳ đời người của người Sán Dìuở Việt Nam
Tác giả: Diệp Trung Bình
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 2011
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hànhTrung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001),Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội địa biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội địa biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2011
11. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
12. Đinh Xuân Lâm - Bùi Đình Phong (2007), Văn hóa và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và triết lý phát triển trongtư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Đinh Xuân Lâm - Bùi Đình Phong
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
13. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1997
15. Đỗ Thị Minh Thuý (1997), Mối quan hệ giữa văn hoá và văn học, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa văn hoá và văn học
Tác giả: Đỗ Thị Minh Thuý
Nhà XB: Nxb. Vănhoá thông tin
Năm: 1997
16. Hà Văn Thuỳ (2006), Tìm lại cội nguồn văn hoá Việt, Nxb, Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm lại cội nguồn văn hoá Việt
Tác giả: Hà Văn Thuỳ
Năm: 2006
17. Hoàng Vinh (1997), Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hoádân tộc
Tác giả: Hoàng Vinh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
18. Hoàng Vinh (2003), Những vấn đề văn hoá trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề văn hoá trong đời sống xã hội Việt Namhiện nay
Tác giả: Hoàng Vinh
Nhà XB: Nxb. Văn hoá - Thông tin
Năm: 2003
19. Hoàng Trinh (1996), Vấn đề văn hoá và phát triển, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề văn hoá và phát triển
Tác giả: Hoàng Trinh
Năm: 1996
20. Hoàng Thị Như Thanh (1998), Hướng tới một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, Nxb, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bảnsắc văn hoá dân tộc
Tác giả: Hoàng Thị Như Thanh
Năm: 1998
21. Hồ Bá Thâm (2007), Sự phát triển văn hoá đồng bộ và tương xứng với phát triển kinh tế tạo ra sự phát triển bền vững, Nxb, Phương Đông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển văn hoá đồng bộ và tương xứng với pháttriển kinh tế tạo ra sự phát triển bền vững
Tác giả: Hồ Bá Thâm
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: So sánh ngôn ngữ [28,tr12] - Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc sán dìu ở tỉnh vĩnh phúc trong bối cảnh hiện nay
Bảng 1.1 So sánh ngôn ngữ [28,tr12] (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w