MỞ ĐẦUTừ buổi đầu dựng nước cho đến nay, các dân tộc thiểu số đã đóng góp đáng kể trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng truyền thống lịch sử, văn hoá của đại gia đình các dân
Trang 1MỞ ĐẦU
Từ buổi đầu dựng nước cho đến nay, các dân tộc thiểu số đã đóng góp đáng kể trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng truyền thống lịch sử, văn hoá của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.Trong đó, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số có những thành tựu độc đáo với những sắc thái riêng biệt Việc tìm hiểu Văn nghệ dân gian các Dân tộc thiểu số còn thể hiện đường lối dân tộc và đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng ta, phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, nhằm góp phần vào việc xây dựng nền văn hoá văn nghệ Việt Nam thống nhất và mang tính chất dân tộc phong phú
Nhận thức được vấn đề trên và dựa trên vốn kiến thức mà tôi đã được trang bị khi nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến dân tộc, tộc người trong học phần Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, nên tôi đã mạnh dạn tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Sila.Si La là dân tộc thiểu số ít người,
là một trong những dân tộc có nét văn hóa đậm đà giàu bản sắc riêng Đặc biệt là những giá trị văn nghệ dân gian vẫn là mạch nguồn nguyên sinh cần được khám phá, gìn giữ và phát triển
Trong bài tiểu luận tôi đã tập trung nghiên cứu những giá trị văn nghệ dân gian củadân tộc Si La ở Mường Tè, Lai Châu
Trang 2- Phía Bắc: giáp tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
- Phía Nam: giáp huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu
- Phía Đông: giáp huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
- Phía Tây: giáp huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
Huyện Mường Tè có 14 đơn vị hành chính gồm thị trấn Mường Tè và 13 xã (Bum Nưa, Bum Tở, Vàng San, Kan Hồ, Pa Vệ Sủ, Mường Tè, Nậm Khao, Tà Tổng, Pa
Ủ, Ka Lăng, Thu Lũm, Mù Cả, Tá Bạ) Trung tâm huyện lỵ đặt tại thị trấn Mường
Tè, cách tỉnh Lai Châu hơn 200 Km về phía Tây Bắc theo đường bộ tỉnh lộ 127, quốc lộ 12, quốc lộ 4D; 120km theo đường Pa Tần - Mường Tè Huyện Mường Tè
có tổng chiều dài đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc dài 130,292 km đi qua
6 xã vùng biên (Pa Ủ, Ka Lăng, Thu Lũm, Mù Cả, Tá Bạ, Pa Vệ Sủ) nên Mường
Tè có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng và bảo vệ chủ quyền biên giới Quốc gia
1.1.2.Đặc điểm về kinh tế xã hội
Về kinh tế tốc độ tăng trưởng kinh tế đến năm 2010 là 14,5%, đạt 115,5% so với mục tiêu nghị quyết Tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế đạt: nông – lâm nghiệp 56,3%; tiểu thủ công nghiệp, xây dựng 23,32%; dịch vụ 20,38% Thu nhập bình quân đầu người đạt 4,5 triệu đồng/năm Sản xuất nông - lâm nghiệp có bước phát triển khá toàn diện, giá trị sản xuất đạt 728,73 tỷ đồng Các ngành tiểu thủ công nghiệp đượcduy trì và mở rộng, đã tập trung quy hoạch và ưu tiên phát triển các cơ sở khai
Trang 3thác, sản xuất vật liệu xây dựng, trong 5 năm giá trị sản xuất Tiểu thủ công nghiệp đạt 578,28 tỷ đồng.
Có thể thấy, điều kiện khí hậu, thủy văn, sông ngòi đã tạo cho huyện Mường Tè những thuận lợi để phát triển du lịch cũng như kinh tế Mường Tè có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử, hang động, suối khoáng, núi đá tự nhiên nổi tiếng Huyện Mường Tè gần Nhà máy thủy điện Lai Châu thuộc huyện Nậm Nhùn,song chiếm gần như trọn lòng hồ của thủy điện…đây là những tiềm năng để phát triển những tour du lịch danh lam thắng cảnh lòng hồ sông Đà, kết hợp với nghỉ dưỡng
Về dân số tính đến tháng 12 năm 2016, huyện Mường Tè có dân số khoảng 43.576 nghìn người; gồm 10 dân tộc anh em và một số dân tộc khác cùng sinh sống Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc sinh sống như dân tộc Thái, Hà Nhì, La Hủ, Si La
…với bản sắc văn hoá riêng, có những lời ca, tiếng hát, say sưa trong điệu xòe của người Thái, Hà Nhi và kiến trúc xây dựng nhà sàn mang đậm sắc thái
Trải qua hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện đã làm cho Mường Tè từ một huyện thuần nông kinh tế kém phát triển đến nay Mường Tè đã có nhiều thay đổi, kinh tế có bước phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng, sự nghiệp văn hóa, y tế, giáo dục đào tạo cán bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên, chính trị ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững
1.2.Khái quát về tộc danh, nguồn gốc lịch sử, dân cư và phân bố dân cư của người
Si La ở Mường Tè, Lai Châu
1.2.1.Tìm hiểu về tộc danh và nguồn gốc lịch sử
Về tộc danh người Si La còn có các tên gọi khác như: Cú Dê Tsừ, Khá Pé, Khả Pẻ, Họ tự gọi mình là Cú Dề Xừ Cho đến nay các cố lão trong các bản người Sila cũng không nhớ được ý nghĩa của tên tự gọi này Xưa kia họ còn được gọi là Khả Pẻ có nghĩa là người chỉ cho người khác đồ vật để đút vào túi Đó là cách gọi
để phân biệt cách mặc váy của người Si La ( giắt cặp phía sau), còn với người Tháigiắt cặp váy phía trước Người Hà Nhì gọi người Si La là “Puy Nạ” ( tức là đen )
Ở Lào, người Si La còn có tên gọi khác là Si Đa, Khơ, Lào, Xủng Còn người Thái gọi họ là Khả Pộ ( tức là người mặc váy ngược)
Trang 4Về mặt nguồn gốc lịch sử, tộc người Si La có quan hệ mật thiết với các tộc ngôn ngữ Tạng- Miến nhất là các tộc thuộc ngữ tộc Di gồm các tộc: Di, Bạch, Khương,
La Hủ, Hà Nhì, ( ở vùng Tây Nam Trung Quốc); các tộc Miến, Ka Chin, Naga(ở Myanma), Hà Nhì, Si La(ở Lào) và các dân tộc Lô Lô, Hà Nhì, Si La, Phù Lá, Cống, La Hủ ở miền núi tây Bắc- miền Bắc nước ta Dân tộc Si La có nguồn gốc từtỉnh Vân Nam, Trung Quốc Hơn 200 năm trước đây do điều kiện thiên nhiên và chiến tranh xảy ra giữa các dân tộc ở biên giới Trung Quốc Nên người Si La đã di
cư xuống phía Nam, đến các nước:Lào, Thái Lan, Myanma, Philipin Rồi lại di cư sang vùng đất Mồ U ( Mường U), Mồ Lỳ ( Mường Lá) thuộc tỉnh Phonsaly ở Thượng Lào Do nhiều lý do khác nhau , các họ : Hù, Giàng, Ly, Bờ, Và và
Vàng, đã di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200 năm Khi sang Việt Nam, đầu tiên họ cư trú ở bản Mường Tùng ( Lai Châu) sau chuyển về ở đầu suối Nậm Cày (huyện Mường Lay), sau di cư tới xã Mường Mô, Nậm Hạ, Nậm Lọ (Mường
Tè, Lai Châu) Trước đó, vào năm 1973, một bộ phận người Si La tại hai bản Seo Hai và Sì Thao Chải (xã Can Hồ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu) đã di dời và đến định cư tại bản Nậm Sin xã Chung Chải hiện nay Như vậy, người Si La ở bản Nậm Sin (xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé,Điện Biên) có cùng nguồn gốc xuất
xứ với người Si La (Mường Tè, Lai Châu) Người Si La nói tiếng Si La, là một ngôn ngữ của thuộc ngữ tộc Tạng-Miến trong ngữ hệ Hán- Tạng Tiếng Si La có quan hệ gần gũi với tiếng Hà Nhì
1.2.2.Khái quát về dân số và phân bố dân cư
Dân tộc Si La là một trong 5 dân tộc thiểu số có tổng số dân dưới 1000 người ở Việt Nam hiện nay Theo kết quả điều tra, người dân tộc hiện nay cứ trú trong phạm vi địa lý giới hạn tại hai bản Seo Hai và Sì Thao Chải ( bên bờ sông Đà), tại
xã Can Hồ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và bản Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Trước khi chia tách và điều chỉnh địa giới 3 bản trên đều thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu cũ Dân tộc Si La hiện nay có tổng số dân là 709 người( theo Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009) Người Si La cư trú tập trung tại các tỉnh: Lai Châu (530 người, chiếm 74,75% tổng
số người Si La tại Việt Nam), Điện Biên (148 người, chiếm 20,87% tổng số người
Si La tại Việt Nam) Đa số những người này sống tại hai bản Seo Hay, Sì Thao Chải với trên 500 Ngoài ra, có khoảng 1.800 người Si La sống tại Lào
1.3.Đặc điểm về đời sống văn hóa của người Si La ở Mường Tè, Lai Châu
Trang 51.3.1.Đặc điểm văn hóa vật chất của người Si La ở Mường Tè, Lai Châu
Người Si La ở nhà trệt hay nhà đất, có hai gian và hai chái nhỏ, có hiên và một cửa
ra vào Bàn thờ ở góc trái trong cùng, trên có một chén rượu nhỏ và một quả bầu Nhà trệt của người Si La thuộc loại nhà phòng thủ, ngôi nhà ở gồm một gian hai chái hoặc hai gian và hai chái nhỏ, mái thấp, lợp cỏ tranh đánh thành gắp, xung quanh nhà bưng liếp đan bằng nứa Mỗi nhà có một cửa ra vào Riêng nhà của trưởng họ có hai cửa, trong đó có một cửa phụ ở gian chái chính, gần nơi đặt bàn thờ, dành cho anh em họ hàng thân thuộc vào thờ cúng tổ tiên nhân các dịp lễ tết, cưới xin, giỗ chạp, vào nhà mới Trong nhà được bố trí thành 4 khu vực theo hai cấu trúc mặt bằng:
Khu vực bếp nấu ăn và để các đồ dùng sinh hoạt quanh bếp lửa, một góc nhỏ để đặt các ống đựng nước Khu vực này được ngăn chái nhà ở phía trái (theo hướng
từ cửa chính nhìn vào) suốt chiều rộng và mở một cửa nhỏ thông với gian chính ở sát phên ngăn phía bên ngoài hiên
Khu vực sinh hoạt là một gian hoặc 2 gian giữa Ở giữa gian bên phải được kê mộtbếp lửa (mì cố) bằng 3 hòn đá trong đó có một hòn quay về hướng bàn thờ tổ tiên gọi là “sì chi kho lọ” Vì vậy bếp sinh hoạt này còn được coi là bếp thờ và phải làm lễ đặt bếp theo đúng tập quán khi làm nhà mới Trước đây kiêng cấm phụ nữ vào gần, kiêng mang các đồ uế tạp tới hoặc đặt vật dụng mất vệ sinh lên gác bếp Ngày nay nó vừa là nới sinh hoạt, vừa là nơi nấu ăn hàng ngày của gia đình
Khu vực ngủ của gia đình được ngăn dọc theo chiều dài phía sau của 2 gian chính
và bằng 1/4 bề rộng Khu vực này được chia làm 2 buồng nhỏ Nếu cửa chính mở ởgian bên trái thì buồng bên phải là nơi nhủ của vợ chồng chủ nhà, trong đó đặt một chiếc bàn thờ (sì chi) kê cao sát góc trong bên phải làm nơi thờ cha mẹ, ông bà (trừnhà trưởng họ thì bàn thờ treo cao trên chiếc cột ở gian chính) Buồng bên trái là nơi ngủ của các con, tuỳ theo số lượng con cái mà kê từ 1 - 3 giường (í dạ) Nếu cửa chính mở ở gian bên phải thì buồng ngủ của vợ chồng chủ nhà và bàn thờ ở bên trái còn buồng ngủ của các con ở bên phải gồm: Cửa ra vào, buồng ngủ của chủ nhà, nơi thờ cha mẹ, nơi ngủ của con cái Khu vực ngủ của khách là chái nhà bên phải (đối với các loại nhà có diện tích mặt bằng như nhau) hoặc ở góc trái gian lồi để thông thoáng với hai gian chính Cá biệt có nhà ngăn riêng khoảng 1/2 diện tích gian này Trong trường hợp gia đình
Trang 6mới đón dâu về nhà mà chưa tổ chức lễ cưới thì đôi vợ chồng trẻ này sẽ ngủ tại buồng khách Xã hội không ngừng phát triển với tốc độ nhanh như hiện nay, sự thay đổi kiên trúc ngôi nhà là khó tránh khỏi Tuy nhiên cấu trúc nội thất nhà người
Si La hiện nay mặc dù đã có phần mai một song vẫn được bảo lưu một số cấu trúc
cơ bản.[A1,Tr34]
Về trang phục phụ nữ Si La vẫn giữ được nét độc đáo truyền thống trong bộ trang phục của dân tộc mình Bộ trang phục nữ giới gồm có váy, áo, dây lưng và khăn đội đầu:
Váy (Tồ Bi): Phụ nữ Si La mặc váy kín, dài đến mắt cá chân, màu đen Khác với phụ nữ Thái, phụ nữ Si La khi mặc váy cũng quấn nhưng giắt váy về phía sau Có
lẽ do điểm khác này mà dân tộc Si La xưa kia còn được người Thái gọi là Khả Pẻ - người mặc váy quấn ra đằng sau Mỗi chiếc váy có hai phần gồm cạp và thân váy
Áo (Pi Khồ): Phụ nữ Si La mặc áo ngắn năm thân hơi bó, màu chàm, cài cúc bên nách phải, khác với áo nam, cổ áo nữ không may đứng mà chỉ viền theo mép vải nên luôn bám sát với da người mặc Cổ áo, tay áo và gấu áo đều được viền hoặc may những khoanh vải khác màu, những đường viền này khiến cho bộ trang phục trở nên mềm mại, sinh động hơn Nét độc đáo của chiếc áo nữ Si La lại chính là phần trang trí trên thân áo trước Thân áo trước được tạo bởi một miếng vải có hìnhthang cân Trên đó được đính 72 đồng xu bạc thành 9 hàng ngang Giữa các hàng
xu bạc trang trí các đường văn kẻ bằng chỉ đỏ.[A2,Tr34]
Khăn đội đầu (Ty đa ì xù): Đối với phụ nữ Si La, chiếc khăn đội đầu cũng là một
bộ phận không thể thiếu được, nó có liên quan đến lứa tuổi và tình trạng hôn nhân Khăn của người phụ nữ gồm có hai loại: Khăn trắng và khăn đen Khăn trắng: Thông thường các thiếu nữ bắt đầu đội khăn ở độ tuổi 13 – 14 tuổi, khi mà những đặc điểm sinh học của giới tính bắt đầu xuất hiện trên cơ thể Khăn làm bằng tấm vải trắng hình chữ nhật, dài chừng 80 cm, rộng 20 cm, trên nền có thêu hoa văn tạothành những ô vuông lớn bằng chỉ đỏ Khăn đen: Ngay sau khi về nhà chồng, các
cô gái Si La phải rời bỏ chiếc khăn trắng để đội khăn đen và chiếc khăn đen sẽ theo
họ suốt đời cho đến lúc chết Nghi thức đội khăn đen được thực hiện ngay trong ngày cưới do người mẹ chồng hoặc các bà cô chồng khâu, phần khăn được khâu thành một chiếc túi quấn quanh búi tóc, tạo nên một cuộn tóc nằm ngang Nếu cuộn tóc này chưa đủ to thì phải độn thêm áo, cái mũ hoặc tóc của chồng Khi người Si La có con thì việc quấn khăn càng trở nên quan trọng Nếu sinh con gái,
Trang 7búi tóc trước trán và được quấn bằng chiếc khăn thẳng, không có túi để đựng tóc như khăn “dơ phừ”, nếu sinh con trai người phụ nữ phải độn thêm một ít tóc rụng của mình vào búi tóc gọi là “ô phạ” và chỉ cần đếm số khăn “ô phạ” là biết người phụ nữ Sila có bao nhiêu con Phụ nữ thường đeo túi đan bằng dây gai Người Si
La xưa kia còn có tục nhuộm răng phổ biến ở nam giới nhuộm đỏ, nữ nhuộm đen.Cũng như một số dân tộc anh em sinh sống trong vùng, trang phục của nam giới Si
La cùng mặc quần ống chân què, cạp lá tọa, áo cánh xẻ ngực, cài khuy vải, cổ đứng, có 2 hoặc 3 túi, màu chàm xanh (giống trang phục của người đàn ông Cống,
Hà Nhì, La Hủ ) Tuy nhiên điều khác giữa đàn ông Si La với đàn ông các dân tộc khác là nhờ ở chiếc khăn đội đầu Nam giới Si La bao giờ cũng đội khăn trắng, quấn khăn đầu rìu như nam giới Kinh xưa kia Ngày nay, nam giới Si La đều ăn vận âu phục, bộ nam phục truyền thống đang dần bị chối bỏ, chỉ còn số ít người lưu giữ được và họ cũng chỉ mặc rất ít mỗi khi có dịp đặc biệt như lễ tết, cưới xin.Người Si La quen dùng cả cơm nếp và cơm tẻ với các loại canh rau rừng là chính Ðạm thực vật chủ yếu là sản phẩm của săn bắt, đánh cá Lúa gạo là nguồn lương thực chính của cư dân các dân tộc Si La Xưa kia, đồ ăn chính của họ là xôi (cơm nếp đồ), các món rau (đồ, luộc, sào, ), các món canh,các món cá, Vào mùa canh tác, họ ăn bữa trưa trên nương, bữa tối ăn ở nhà Đa số thích ăn các loại đồ chế biến từ cá (cá nướng, cá chua, cá khô, ), thịt chua (ướp với thính), thịt muối, thịt
và muông thú treo gác bếp Các món chế biến từ thịt chuột, sóc, chim sấy khô như món thịt sóc xào hoa chuối Hay các món ăn từ rau, như: cháo rau bát(nơ lọ nơnhí), rau dớn (tá le/phắc cút) được luộc hoặc sào lên, ăn sống, rau tá cồ nấu với cua, cá, của người Si La Đồ uống thường ngày của người Sila hiện nay là nước chè, nước nấu với các loại lá cây trong rừng, vừa giải khác vừa có tác dụng bồi bổ sức khỏe Người Si La kiêng ăn thịt mèo.[A3,Tr35]
1.3.2.Đặc điểm về văn hóa tinh thần của người Si La ở Mường Tè, Lai Châu
Người Si La tin vạn vật đều linh thiêng Họ cho rằng người chết đi sẽ thành ma nhà, ma rừng núi, sông suối, nương rẫy, cây cối, lúa, ngô, đều có ma Với con người, ngoài thể xác còn có vía (khoăn) Vía ra khỏi thể xác vĩnh viễn người sẽ chết và biến thành ma nhà (phi hươn) Người Sila rất coi trọng việc cúng tổ tiên, nhưng họ chỉ thờ cúng bố mẹ Theo tục lệ Si La, từ ông trở lên, thời cúng ở nhà người trưởng tộc họ.Người Si La chỉ cúng tổ tiên vào dịp tết, cơm mới và khi làm
Trang 8đám cưới Xưa kia, cuối tháng Giêng, đầu tháng Hai hàng năm, người Si La tổ chức cúng bản, đây là nghi lễ lớn nhất trong năm của họ Họ cúng bản là để cầu ăn,cầu mùa, cầu cho con hổ, chó sói, không vào bắt lợn, gà, chủ tế do mo bản (mù phế) đảm trách Hàng năm sắp đến dịp cúng bản, người già họp nhau lại bàn các công việc của bản Nếu năm trước mùa màng phong đăng, xóm làng yên ổn thì mo bản cũ vẫn được tín nhiệm để điều khiển việc cúng bái của bản Theo phong tục của người Si La, khoảng bảy năm họ tổ chức gọi hồn lúa một lần Trong nghi lễ này, chủ lễ cầm bát gạo, vợt bắt cá và một cành lá đi xung quanh, khấn gọi hồn lúa
về Khấn xong, ông ta vãi gạo ra nương, dẫn hồn lúa về kho ở trên nương, về bản rồi vào nhà Dẫn hồn lúa về đến nhà, họ mổ lợn, mổ gà cúng hồn lúa Bát gạo dùng
để gọi hồn lúa được cấy giữ cẩn trọng Vào tháng Hai, trước ngày tra hạt, họ tổ chức cấm bang một ngày (mìa lô lô), không cho người lạ vào bản, vào nhà Hôm
đó họ kiêng nấu thịt chim muông, lợn, gà, và cấm sào nấu bằng mỡ Họ cho rằng
vi phạm điều cấm kị trên sẽ mất mùa, gia súc, gia cầm bị dịch bệnh Trước khi tra hạt trên nương, các gia đình hoặc các dòng họ làm lễ khá xè la Trước khi trời sáng,chủ nhà hoặc trưởng họ mang một quả bầu đựng nước, một cục than hồng, gậy chọc lỗ, các giống cây lúa, ngô, đậu, bí lên nương Sau khi khấn bái, họ chọc lỗ tra hạt ( tượng trưng), sau đó họ vào lều nương nhóm lửa, ăn cơm( tượng trưng) và lại tiếp tục công việc gieo trồng(tượng trưng) Trong thời gian tra lúa nương, sau mỗi bữa cơm, chủ nhà mang một nắm cơm, cục than hồng tới gần lều cúng ma nương (ia ve) Mục đích là cầu xin ma nương phù hộ cho mùa màng bội thu, con người bình an, gia súc không bị bệnh dịch,
Cuộc sống tinh thần của người dân Si La khá phong phú và đa dạng Người Si La xưa thổi sáo, đánh đàn giỏi, có nhiều làn điệu dân ca riêng, họ có các nhạc cụ và nhiều làn điệu dân ca riêng của dân tộc mình Kho tàng văn học dân gian của người
Si La khá phong phú, bao gồm ngiều thể loại như: sử ca, dân ca, tục ngữ, truyện cổtích, thần thoại, Sử ca gồm những bài hát kể cội nguồn dân tộc, thường được hát trong lễ tết Hát giao duyên nam, nữ rất phổ biến, trai gái hát với nhau trong lúc laođộng sản xuất, hội hè Những bài hát đó chủ yếu ca ngợi tình yêu, thiên nhiên và lòng chung thủy Ngày con trai dân tộc Si La thường tỏ tình với bạn gái bằng tiếng sáo Khi nghe tiếng sáo tâm sự của bạn tình, các cô gái sẽ cảm nhận tình cảm từ tiếng sáo của ai đó rồi đến, làm quen và yêu nhau Ngoài những nét văn hoá kể trênngười Si La còn có nhiều làn điệu dân ca của dân tộc mình như: Điệu Y La Thế(hát yêu, hát vui), ở làn điệu hát này lại có các làn điệu con như Ồ Xi Chê Y Là
Trang 9Thế (hát ăn Tết), Dề Mế Ỳ Thìa (hát ru con), điệu Lỳ Bồ Khe (hát lúc có tang, lúc buồn)
1.3.3.Đặc điểm về văn hóa xã hội người Si La ở Mường Tè, Lai Châu
Về tổ chức xã hội truyền thống của người Si La, làng bản là đơn vị hành chính cấp cao nhất Bản của họ là các bản làng vùng cao đã định cư tương đối ổn định Các bản đều có bộ máy tự quản: trưởng bản và những người giúp việc do dân bầu hoặc
do quan lại bổ nhiệm Ngoài ra bản còn có hội đồng người già, thầy mo, là nhữngthành phần có uy tín, được dân bản tin tưởng Công cụ quản lý và điều hành các hoạt động trong bản là lệ tục, dư luận cộng đồng Ai làm trái lệ, bị phạt và bị cộng đồng lên án Đất đai, sông suối, rừng núi trong phạm vi bản, do trưởng bản quản lý
mi gia đình đều có quyền khai thác Quan hệ dòng họ khá chặt chẽ Có nhiều tên
họ khác nhau nhưng họ Hù và họ Pờ đông hơn cả Do quan niệm cùng tên họ là cùng chung tổ tiên xa xưa do điều kiện cư trú xa cách, người ở chi họ này dễ dàng xin nhập sang chi họ khác, cùng thờ tổ tiên với nhau Mỗi chi họ đều có người già nhất, không phân biệt dòng trưởng hay thứ, đứng đầu Hàng năm vào hai kì, tết năm mới và cơm mới, có lễ cúng tổ tiên chung ở nhà người trưởng họ với các lễ vật rất đặc trưng như thịt sóc, cua, cá bống, ống rượu cần tượng trưng, vài bông lúa, khoai sọ, bó lá hạt cườm Trên mâm cúng không dùng hương mà đốt nến bằng sáp ong Những đồ thờ gia bảo của dòng họ bày ở bàn thờ là trống, nhạc ngựa, quả bầu, chén đựng rượu Khi người trưởng họ mất, chỉ sau 3 năm người lên thay mới được quyền chuyển những đồ thờ này sang bàn thờ nhà mình Người trưởng họ có vai trò lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ giữa các thành viên trong họ, cưới xin, ma chay, cho người ra khỏi họ hoặc kết nạp thành viên mới vào họ Những người cùng họ không được lấy nhau Người Si La có các dòng họ: Hù, Lý, Vàng,
Họ Hù thờ cúng là vật tổ là con hổ, không săn bắt hổ, không sờ vào hổ và kiêng ăn thịt hổ.Người Si La thuộc xã hội phụ quyền, gia đình của họ cũng đều thuộc gia đình phụ quyền Trong đó vai trò của người đàn ông được đặc biệt đề cao, đặc biệt
là vai trò của các ông bố Sau bố, vai trò của con trai trưởng cũng rất quan trọng, thay thế bố đứng đầu gia đình Hiện nay gia đình của họ đều thuộc loại tiểu gia đình phụ quyền Theo điều tra của Nguyễn Văn Huy năm 1970, bình quân nhân khẩu của các gia đìng người Si La là 5,4 người Tính phụ quyền trong gia đình của người Si La rất nặng nề, con trai được quý hơn cả con gái, quyền thừa kế tài sản chỉ thuộc về con trai( trong đó con trai cả, hoặc con trai út được hưởng nhiều nhất).Khi phụ nữ lấy chồng phải đổi sang họ chồng, cấm con dâu ăn cùng mân với bố
Trang 10chồng, anh chồng, cấm phụ nữa đến bàn thờ gia tiên, con dâu đên nơi ngủ của bố chồng, anh chồng,
Các nghi lễ chu kỳ đời người của người Si La Người Si La có tục sinh đẻ khá gần gũi, đối với họ đẻ non là điều tồi tệ nhất vì thế khi mang thai phụ nữ phải kiêng: không được uống thuốc (kể cả thuốc nam), không bước qua hố, rãnh nước, không được chôn cột, làm cối giã, Theo tập quán, sản phụ đều đẻ ở trong buồng hoặc cạnh bếp và ở tư thế ngồi Mẹ chồng hoặc bà đỡ là người hỗ trợ sản phụ sinh đẻ Khi đứa bé ra đời họ thường cắt cuống nhau thai bằng cật nứa, lấy trên mái nhà ở khu vực đặt bếp Sau khi sinh con, sản phụ không được nằm trên giường, mà nằm trên ổ rơm Trường hợp đẻ khó, họ thường để người lớn tuổi thổi vào giữ đỉnh đầu sản phụ vài ba lần, đặt yên ngựa lên đỉnh đầu thai phụ, đập vỡ một ống đựng nước, đốt da voi thành than hòa với nước cho sản phụ uống, Nếu nhà nào có người vừa sinh con, gia đình đều yểm bùa ngăn ma dữ Sau khi sinh con được ba ngày người Sila làm lễ đặt tên con Sau khi đẻ sản phụ được nghỉ ngơi kiêng cữ một vài tuần Trẻ em người Si La khi mới lọt lòng chưa có trang phục riêng Trẻ được quấn trongnhững chiếc tã cắt ra từ quần áo cũ của bố mẹ Vải cũ mềm mỏng không làm hại datrẻ Trong quan niệm dân gian, cũng như nhiều tộc người khác, người Si La cho rằng trẻ sơ sinh mặc quần áo mới sẽ khó nuôi Những gia đình khá giả thường đeo cho trẻ vòng cổ hoặc vòng tay bằng bạc để kỵ tà Khi trẻ lớn khoảng 8 – 10 tuổi mới có y phục riêng Trang phục của trẻ em hoàn toàn giống trang phục của người lớn cùng giới về kiểu dáng nhưng đơn giản hơn về màu sắc và hoa văn Người Si
La không có nghi thức đánh dấu sự trưởng thành của trẻ theo hình thức của một lễ thành đinh Cha mẹ chỉ nhận biết sự khôn lớn của con cái thông qua những biểu hiện về thể chất và tâm sinh lý Mốc đánh dấu sự trưởng thành của một thành viên công xã (từ một đứa trẻ trở thành người lớn) là hôn nhân để hình thành một gia đình mới
Giống như lễ cưới của nhiều dân tộc khác, trong lễ cưới của người Si La cũng có một số bước như: Dạm hỏi, dạm ngõ, lễ cưới Mùa cưới của người Si La cũng giống như nhiều tộc người khác, thường được tổ chức vào tháng 11, 12 âm lịch, đây là thời điểm nông nhàn, cũng là thời điểm sửa sang nhà cửa để chuẩn bị đón năm mới và dựng vợ, gả chồng cho con cái Theo phong tục của người Si La, trai, gái từ 14 - 15 tuổi trở lên đã được coi là người lớn và bắt đầu quá trình tìm hiểu, xây dựng gia đình Trai gái yêu nhau được quan hệ với nhau, người con trai được ngủ qua đêm tại nhà người yêu của mình và phong tục cưới hỏi của người Si La
Trang 11cũng rất đặc sắc họ làm lễ cưới hai lần Trước ngày cưới, gia đình nhà trai làm cơmmời ông mối là người già có uy tín trong bản về giúp đỡ gia đình Trong lễ dạm hỏi(Nó tè dẹ), ông mối là người thay mặt cho gia đình nhà trai đến thưa chuyện, bàn bạc các công việc liên quan đến đám cưới với họ nhà gái như: Ngày đẹp để tổ chức
lễ cưới, giờ đẹp để đón dâu, những lễ vật mà nhà gái yêu cầu nhà trai đáp ứng Sáng sớm, ông mối đại diện nhà trai có mặt ở nhà cô gái, nói với mẹ cô gái Sau lễ dạm ngõ một tuần là đến lễ ăn hỏi Ông mối thay mặt nhà trai sang đặt vấn đề và xin cưới Lúc đó, họ sẽ thống nhất ngày cưới cũng như số tiền dẫn cưới, sau đó ôngmối về thông báo lại cho gia đình nhà trai biết để chuẩn bị cho lễ cưới Lễ cưới được diễn ra trong hai ngày, ngày thứ nhất như đã hẹn trước, chị hoặc em gái của chú rể sẽ đến nhà cô gái thật sớm ngỏ lời xin dâu Ngày hôm sau, ông mối cũng có mặt giúp gia đình chú rể chuẩn bị lễ vật, thực hiện các nghi lễ theo phong tục truyền thống của dân tộc mình Đồ lễ chuẩn bị cho lễ cưới gồm 1 con gà, 2 bát gạo nếp, 2 quả trứng, 1 chai rượu, 1 bát nước, 1 cái cân tiểu li, 1 chiếc vòng cổ và 5 đồng bạc Đến giờ đẹp đã định trước, từ sáng sớm (trước khi gà gáy), chị hoặc em gái của chú rể sẽ sang nhà gái xin dâu và được mẹ hoặc chị dâu của cô gái dắt tay
cô gái ra cửa, trao cho các cô gái của gia đình nhà trai Sau đó, em gái hoặc chị gái chú rể cùng bạn bè của cô dâu đến đưa cô dâu đi từ biệt xóm làng Từ biệt xong, đoàn đưa cô dâu vào rừng để làm lễ nhập họ nhà trai Sáng tinh mơ, từ rừng trở về, mọi người đi thành hàng ngang, cô dâu đi giữa đến cửa nhà trai thì dừng lại Lúc này, thầy cúng bảo chú rể và mẹ chú rể chuẩn bị lễ cúng Khi về đến nhà trai, cô dâu và mọi người trong đoàn phải ngồi ngoài hiên chờ mẹ chồng lấy trang phục mới để cô dâu thay Lúc này, trưởng tộc ngồi cạnh bếp thiêng ở trong nhà sẽ làm lễ báo tổ tiên, thông báo là gia đình sẽ có thêm thành viên mới Sau khi cúng xong, trưởng tộc trao trứng gà luộc và xôi cho chú rể để thực hiện các thủ tục, nghi thức trước sự chứng kiến của tổ tiên và mọi người trong gia tộc Chú rể từ trong nhà bước ra, tay cầm xôi, tay cầm trứng, tay phải chéo qua tay trái đưa ra chạm tay cô dâu Cô dâu đứng ở ngoài cửa cũng bắt chéo hai tay trong lúc nhận Một năm sau, khi nhà trai chuẩn bị đầy đủ tiền, lợn, rượu, gạo, họ sẽ làm đám cưới lần thứ hai Khi cưới lần hai, onng mối( kè lề số dề) là người thay mặt nhà trai lo liệu mọi việc.Trước tiên, ông mối thay mặt nhà trai dẫn lợn, gà, rượu, gạo nếp, sang nhà gái xin cưới Sau khi cúng trình ma ma nhà gái, tiệc cưới được tổ chức cả ở nhà trai và nhà gái Sau ngày làm đám cưới ở nhà trai, sáng sớm dâu, rể, quay về nhà bố mẹ
đẻ cô dâu làm lễ lại mặt.[A4,Tr35]
Trang 12Về tang ma của người Si La, theo tập quán sau khi tắt thở người chết được lau rửa
và được phủ vải trắng Người chết được đặt trên chiếu trải ở giữa nhà, tiếp theo ,
họ mổ gà cúng Theo tục lệ, những người cùng họ được chôn cất thành một khu, ở phía đầu nguồn nước Trước khi đào huyệt, họ làm nhà mồ che bên trên, xưa kia người Si La làm quan tài trong nhà 9-10 ngày Vào ban đêm, người Si La tế đưa hồn người chết về quê hương cổ ở Mồ U Trước khi đưa ma đi người con trai trưởng đeo chiếc túi đựng gạo và vỏ ốc biển đứng cạnh ban thờ gia tiên, tung gạo
và vỏ ốc ra ngoài sân để tẩy xui cầu may Khi đưa ma mọi người chú trọng giữ vía của mình Họ gọi vía của mình khi hạ huyệt, ra khỏi nhà mồ, khi quay về gặp ngã
ba, ngã tư, Sau khi mai táng, họ quay về nhà con trưởng dội nước tắt bếp, vứt hết củi cũ ra khỏi nhà sau đó nhóm lại bếp lửa mới Một tuần sau khi mai táng, hàng ngày con cháu mang đồ ăn ra mộ cúng người quá cố Sau đó làm lễ tiễn biệt ma người thân tại nhà Tuy không để tang, khi làm ma cho bố mẹ con trai phải buộc túm tóc lên đỉnh đầu, con gái phải tháo vòng cổ, tay Nghĩa địa thường để dưới bản,
mộ của những người cùng họ thường ở gần nhau Kiêng đặt mộ xa giữa những người khác họ Chọn được đất ưng ý để đặt mộ thì cuốc một nhát, đặt cục than vào nhát cuốc đó, coi như đất đã có chủ Sáng hôm sau mới làm nhà táng và đào huyệt Quan tài bằng khúc gỗ bổ đôi khoét rỗng
2.Một số loại hình văn nghệ dân gian của người Si La và giá trị của nó trong kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam
2.1.Tìm hiểu một số loại hình văn nghệ dân gian của người Si La
2.1.1.Văn học dân gian của người Si La
Người Si La sinh sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy và lúa nước, hái lượm, chăn nuôi gia súc, gia cầm đóng vai trò quan trọng trong đời sống Mặc dù đồng bào đã áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, sản xuất nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi nhưng do trình độ văn hoá, dân trí thấp Theo những người cao tuổi và các nguồn tư liệu người Si La có vốn văn hóa vô cùng phong phú Trong sự phát triển tiến bộ của đời sống xã hội hiện nay, cơ bản những giá trị văn hoá đồng bào Si La tích luỹ, nuôi dưỡng từ bao đời nay vẫn được lưu giữ đượctrí nhớ, tiềm thức của những người cao tuổi như tập quán xã hội và tín ngưỡng, lễ hội, các nghi lễ liên quan đến gia đình, cộng đồng, lễ hội, tín ngưỡng và nghi lễ nông nghiệp như: Lễ thu hoạch (có du mía lố), Lễ tra hạt xuống giống (cà si le), Lễ
Trang 13mừng cơm mới (ồ mí khe ); Lễ lên Lão (lễ mừng thọ - bà hù từ), lễ Cúng bệnh, Tang ma, Lễ cưới, Những quan niệm, nghi lễ truyền thống dân tộc Si La có ý nghĩa tích cực khích lệ con người phấn đấu vươn tới những điều tốt đẹp trong cuộcsống Các lễ thức trong nghi lễ cúng tế, tạ ơn phong phú, đa dạng mang tính cộng đồng cao, có ý nghĩa giáo dục và có giá trị nhân văn sâu sắc và trao truyền qua nhiều thế hệ Bên cạnh đó kho tàng văn học dân gian của người Si La khá phong phú và đặc sắc Bao gồm nhiều thể loại như : tục ngữ, ca dao, truyện cổ tích, thần thoại,các câu đố, Trường ca thiên di của người Si La kể về cội nguồn của họ : Đất tổ của người Si La là ở Na Sa (vùng đất thuộc Tây Tạng – Trung Quốc) Trong quá trình hàng nghìn năm thiên di, họ đi dần về phương Nam Đến vùng Vân Nam sống vài đời Họ lại rời xuống vùng đất giáp danh Trung Quốc - Lào Rồi lại di cư sang vùng đất Mồ U của Lào Từ đó, một nhóm người lại di cư đến vùng giáp danhLào – Việt Nam Sang đến Việt Nam, họ cũng di cư lập bản ở nhiều nơi rồi mới định cư ở địa bàn hiện nay (xã Kan Hồ, Huyện Mường Tè).
Trước kia, họ không có chữ viết riêng, kinh nghiệm trao truyền bằng lời hoặc qua thực hành Vì thế mà kho tàng văn học dân gian của người Si La đều được truyền bằng lời nói Nên họ có ngữ văn truyền miệng, tuy dân tộc Si La không có chữ viếtriêng, nhưng trong cuộc sống hàng ngày họ đã sáng tạo ra một nền văn học, nghệ thuật dân gian phong phú về ca dao, tục ngữ, lời khấn, truyện cổ lưu truyền còn tồntại một số ít không đáng kể Mặc dù theo kết quả nghiên cứu trước đây dân tộc Si
La có rất nhiều truyền cổ Si La như: Chàng mồ côi nghè (Bu si me si ê dè), Chín dốt một khôn (Kỳ le Zhồ thừ le quẹ), Bà goá gọi củ mài từ trên ngọn cây xuống đất(Mì shì mừ khú ha), Đổi cánh lấy lửa (à tố nẹ, mì dú phạ), Đười ươi và người đánh
cá (ế hê ne xu dè), Vì sao người Si La không có chữ (Pha bjọ mà xừ) Đi tìm nước (uchò hoi)
Kho tàng ngữ văn truyền miệng của người Sila khá phong phú Đó là những câu cadao tục ngữ phản ảnh đời sống, tâm tư, tình cảm của người Sila trong cuộc sống hàng ngày được truyền từ đời này sang đời sau :
“ Cháu yêu ơi lớn nhanh nhé…
Lớn lên lập gia đình, sinh con đẻ cái như bụi giềng gió to nhé
Bụi càng to thì càng nhiều mầm
Trang 14(Làm ăn không đúng thời vụ thì không được ăn
Lấy vợ,lấy chồng muộn thì cha mẹ không được nhờ.)
Với đặc tính canh tác nương là chính Nên con cái mới lập gia đình cũng cần cha
mẹ già trong coi, chăm sóc con cái nhà cửa khi đi làm nương xa hàng tháng Đến khi cha mẹ già yếu, ốm đau thì con cháu có trách nhiệm phụng dưỡng cho ông bà cha mẹ
Người Si La có lý cho rằng trời sinh ra chỉ cho phép lấy một vợ ( chồng) Vậy nên người Si La trước khi lấy nhau, trai gái tìm hiểu nhau phải chọn rất kỹ Truyền đời
là vậy và đã được đúc kết trong kho tàng ca dao, tục ngữ Si La thành những câu răn dạy đầy tính nhân văn :
“ Khà mê mà mừ thừ txí
Do chúy mà mừ thừ chù “
( Vợ không tốt thì cũng sống với nhau hết kiếp
Chồng không tốt thì cũng sống với nhau cả đời )
Hay :
“ Txí phù mà tố mừ nê
Cô tô I xạ ế cơ ơ tố kho nhị”
(Rượu không ngon thì cũng do vợ mình nấu
Chồng phải uống hết rượu vì vợ mình đã tự tay nấu )
Vốn ngữ văn dân gian phong phú của người Si La với các sự tích, truyền cổ tích, thần thoại, ca dao, tục ngữ, các câu đố, cần phải được lưu giữ và bảo tồn
Trang 15Mỗi dòng họ có truyền thuyết khác nhau về tên gọi dòng họ của mình; riêng họ Hùliên quan đến một số truyền thuyết tuy hoang đường nhưng mang đậm chất nhân văn Theo tiếng Si La hè có nghĩa là hổ, lâu ngày gọi chệch là hù Hổ được coi nhưngười đỡ đầu dòng họ Hù với truyền thuyết về hổ cứu người Người Si La mang họ
Hù có niềm tin rằng hổ sẽ không ăn thịt những người trong họ mình
Chuyện kể rằng, ngày xưa có một đôi trai gái yêu nhau say đắm nhưng bố mẹ cô gái không đồng ý cho họ lấy nhau Chàng trai buồn bã đi lang thang trong rừng và bất chợt gặp một con hổ nằm bên gốc cây cổ thụ Ngày đó người và hổ cùng các loại muông thú đều hiểu được tiếng nói của nhau nên chàng đã tâm sự chuyện riêng tư bất hạnh của mình với hổ Hổ vô cùng cảm thông liền kết nghĩa tình anh
em, hứa sẽ một lòng giúp đỡ giúp đỡ vun đắp hạnh phúc trăm năm cho chàng trai
và cô gái Chỉ vài hôm sau, hổ đến nhà cô gái và bắt cô gái về cho chàng trai Từ
đó đôi trai gái không trở về nhà và chung sống với nhau trong trong rừng Hàng ngày hổ đi bắt hươu nai về làm thức ăn và cùng ăn với đôi trai gái Một hôm hổ dặn chàng trai có việc phải đi xa, nếu bố mẹ cô gái vào rừng bắt về cứ để họ trói, chàng cứ dậm chân xuống đất ba lần, gọi hổ ba lần hổ sẽ về cứu Hổ đi khỏi, quả nhiên bố mẹ cô gái đến, chàng trai làm theo đúng lời hổ dặn, đột nhiên tất cả hổ trong rừng chạy đến cứu nên bố mẹ cô gái hoảng hồn bỏ chạy một mạch về nhà và không bao giờ dám trở lại khu rừng đó nữa Từ đó đôi trai gái sống yên vui, hạnh phúc bên nhau, sinh con đẻ cái, làm nương rẫy bên bầy hổ anh em trong rừng Nhớ
ơn hổ, những người con của họ sau này đều mang họ Hù (nghĩa Hán, lao Hu là hổ).Trong thực tế, người Si La thuở xưa sống trong mối ràng buộc khắt khe của gia đình, xã hội Vì những mối rang buộc ấy mà trong chuyện tình yêu, hôn nhân đôi khi họ gặp phải trắc trở không có cách nào vượt qua Họ đành mượn câu chuyện tình trong truyền truyết để nói lên khát vọng tình yêu, hạnh phúc lứa đôi để an ủi mình cố vượt qua hoàn cảnh trái ngang với hy vọng vào ngày mai tươi sáng
Truyền truyết đó cũng là một cách lý giải về nguồn gốc họ Hù của dòng tộc mình.Cũng có câu chuyện kể rằng, ngày xưa người và hổ gặp nhau trong rừng, người kể cho hổ nghe cảnh khổ cực, mồ côi bố mẹ từ nhỏ của mình, bữa cơm chẳng có gì
ăn, quần áo không đủ che thân Hổ cũng kể về cảnh sống mồ côi cơ cực của mình
từ nhỏ, nhưng cuộc sống lại không thiếu thịt ăn hàng ngày Sau nhưng phút tâm giao, hổ và người cùng cắt máu ăn thề, kết nghĩa anh em Về sau hổ chết trước, người anh em làm tang cho hổ với các lễ vật gồm: một sải vải trắng làm khăn tang,
Trang 16một con gà, một con lợn đến cúng ma và chôn cất hổ Sau này con cháu người anh
em kết nghĩa đã lấy hổ làm họ cho dòng tộc mình Từ đó đến nay dòng họ Hù kiêng ăn thịt hổ và không bao giờ săn bắn hổ Trước đây rừng còn nhiều hổ, mỗi khi thấy hổ chết, người ta phải lấy vải trắng, phên đan phủ lên mình hổ rồi đem chôn
Các dòng họ của người Si La hiện nay đã nhiều hơn do có hiện tượng chia tách Cùng mang danh họ Hù, nhưng có họ Hù to và họ Hù nhỏ Đối với họ Pờ và họ Lỳ cũng xảy ra hiện tượng tương tự Các dòng họ của người Si La đều kiêng thịt mèo
vì họ cho rằng mèo có quan hệ dòng tộc với Hổ, mỗi khi thấy mèo chết họ phải chôn cất cẩn thận và đặt một tấm phên đan mắt cáo (plạ) ở bên cạnh để những người khác biết Để thấy được nét văn hóa đặc sắc, độc đáo trong kho tàng văn nghệ dân gian của người Sila Dân tộc Si La tuy là một dân tộc thiểu số ít người có nền văn hóa rất đa dạng, phong phú chứa đựng sắc thái riêng của tộc người, góp phần làm phong phú thêm nền văn nghệ dân gian đặc biệt là nền văn hóa Việt Nam
2.1.2.Nghệ thuật dân gian của người Si La
Cũng như nhiều dân tộc khác, người Si La có một kho tàng diễn xướng dân gian phong phú và rất đáng trân trọng Người Si La xưa thổi sáo, đánh đàn giỏi, có nhiều làn điệu dân ca riêng, họ có các nhạc cụ và nhiều làn điệu dân ca riêng của dân tộc mình Dân ca Si La đã có từ lâu đời Các bài dân ca thường có nội dung nói
về lao động sản xuất đặc biệt là những lúc làm nương rẫy, những lúc nông nhàn trăng sáng, Người Si La rất yêu ca hát, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của họ Vì vậy, dân ca Si La phong phú về các hình thức hát,
đa dạng về thể loại dân ca, mọi đối tượng có thể hát từ thanh niên nam nữ có hát giao duyên đối đáp, hát gọi bạn, hát rủ nhau đi làm nương, đi chợ, đi chơi, Cho tới các bậc trung niên có hát mừng bạn tới nhà, hát tâm sự, hát mừng nhà mới, hay các bậc cao niên đều tham gia sinh hoạt đối đáp hàng ngày
Người Si La gọi hát là “cú” Các bài dân ca chủ yếu do người hát tự ứng tác, được đặt lời trên nền của các giai điệu truyền thống Tùy theo đối tượng tham gia , môi trường khung cảnh ca hát mà người ta có những giai điệu và cách đặt lời khác nhau Căn cứ vào giai điệu và cách đặt lời ca mà người ta chia dân ca Si La thành
ba thể loại chính : hát đồng dao, hát tâm sự nam nữ (rề mì rề kho cha phụa) , hát kể
Trang 17khổ ( hát than thân) Hát kể khổ ( hát than thân) thường được bà con hát vào mùa mưa lũ khi con sông Đà chia cắt hai bờ sông Nội dung bài hát kêu gọi bạn bè giúp
đỡ lương thực, ngày này đã có cầu nhưng người Si La vẫn hát kể khổ nhằm mục đích để nhớ về thời gian vất vả khi xưa Hát gia duyên là để tỏ tình, kết bạn hoặc một người muốn thổ lộ một vấn đề nào đó mà người ta không tiện nói trực tiếp vớinhau bằng lời nói mà phải thông qua lời ca đầy tính ví von và hình tượng
Trong dân ca Si La làn điệu quen thuộc nhất có thể kể đến là làn điệu “ Nhăm nhăm pơ” ( Nhanh tay) thuộc thể loại đồng dao Với tiết tấu nhanh dứt khoát, người nghe có thể cảm nhận được sự thôi thúc, hối hả trong việc làm nương, làm rẫy Những lời ca tiếng hát này làm xua tan biết bao mệt mỏi, giúp người nghe có thêm động lực để làm nhanh, làm tốt công việc của mình Bài hát “Nhăm nhăm pơ” đặc biệt thích hợp với hình thức hát tập thể, tạo không khi tươi vui hớn hở cho
bà con thêm động lực để lam nương, rẫy :
“ Nhanh nhanh đi tìm nơi đất tốt
Nhanh nhanh tay phát nương, reo hạt lúa chín vàng
Rồi nhanh tay gặt
Nhanh tay phơi khô
Đập lúa, quạt cho thóc lép bay, chỉ còn thóc mẩy
Nhanh nhanh tay gùi về nhà
Bản ta được mùa no ấm.”
Đồng bào Si La trước đây có nhiều điệu hát khá phong phú như: Hát dân ca, hát đối (phú phá), hát giao duyên (rề mì rề kho cha phụa), hát ru (rề mí i chì), hát đám cưới (rề mì khu), hát đám ma, hát chúc mừng, hát vào mùa cầu mùa, hát về huyền thoại đá thần, hát nguồn gốc dân tộc Si La, hát lời tâm tình của đôi trai gái đang yêu: Điệu Y La Thế (hát yêu, hát vui), hát Mừng nhà mới (í tư khe), Ồ Xi Chê Y LàThế (hát ăn Tết), Dề Mế Ỳ Thìa (hát ru con), điệu Lỳ Bồ Khe (hát lúc có tang, lúc buồn), Nhăm Nhăm Bơ (rủ nhau đi nương) Hiện nay, trong cộng đồng lớp trẻ chỉ còn biết hát những điệu hát: hát vào mùa cầu mùa, hát ca ngợi trang phục dân tộc, hát Bài ca vào mùa…
Trang 18Những lời ca mộc mạc như núi rừng Tây Bắc vang như tiếng suối, rộn ràng như tiếng chim Tiếng hát Si La cất lên với lối ví von giản dị nhưng giàu biểu cảm dễ làm rung động lòng người nghe Không chỉ đẹp trong ca từ mà trong tổng thể những làn điệu dân ca Si La cũng hết sức phong phú, có thể kể đến những làn điệu hát ru, hát mừng nhà mới, những bài hát khích lệ sản xuất, hát đối đáp, Giữa những làn điệu này có nét khác nhau, mỗi một làn điệu có âm hưởng riêng và khá
ổn định song lời ca lại được ứng tác theo chủ định của người hát Chính vì thế ca từ
và làn điệu Si La luôn không giống nhau và được bổ sung theo thời gian Có thể kểđến một số bài dân ca của người Si La, như : Dạ trờ mêi (Làm nhà), cây cầu em qua, Bê lơ mi trê thò ơ(Ánh trăng), Sơ chư cơ Si La (Truyền thống Si La), Dân cacủa người Si La thường được đặt theo thể thơ tự do không cố định về câu hay số
từ Điều này làm toát lên tính tự sự trong lời ca , tuy nhiên nó lại cuốn hút người nghe bằng làn điệu vừa có vần, vừa có sự đăng đối trong từng câu Những bài dân
ca Si La là những lời ca về tâm tư tình cảm hay về những cuộc việc hàng ngày họ phải làm, cũng được đưa vào dân ca của họ như bài “Xí từ xê da chì” (Giã gạo) :
“Tôi giã gạo nhanh nhanh, để chúng tôi gửi gạo ra tuyền tuyến
Gạo này chúng tôi giã đầy bồ để chúng tôi gửi ra trận
Để chúng tôi yên tâm ở nhà sản xuất
Hạt gạo trắng muốt đầy bồ
Chúng tôi gửi ra trận để chúng tôi yên lòng.”
Điều đó cho thấy người Si La có một đời sống tinh thần vô cùng phong phú Đồng thời cho ta thất kho tàng văn nghệ dân gian đậm đà bản sắc riêng của họ.[A5,Tr36]Bên cạnh những làn điệu dân ca Si La đặc sắc, thì những điệu múa của người Sila đậm đà nét riêng của họ Những điệu múa dân vũ đã mô phỏng đời sống sinh hoạt thường ngày cũng là một nét đẹp trong dân ca văn nghệ dân gian Si La Những bước nhảy múa mạnh mẽ những không kém phần uyển chuyển, những lời hát dân
ca là nhạc đệm luôn khiến cho bài múa có sức hút với người xem Vũ điệu Si La xưa kia chỉ được dùng trong các lễ tưởng niệm người đã khuất Ngày nay nó được đồng bào Si La thực hiện như là một hình thức giao lưu cộng đồng giữa người múa
và người xem, giữa giai điệu và những động tác, giữa ý nghĩa và những câu hát vớinhững gì đã được biểu hiện ra bên ngoài tất cả như hòa quyện với nhau tạo nên
Trang 19một câu truyện của cộng đồng người Si La Qua đó đã mô phỏng được phần nào cuộc sống của cha ông họ để lại
Điệu múa dưới ánh trăng là điệu múa đã mô phỏng được phần nào về cuộc sống thường ngày của người Si La Vào những đêm trăng sáng khi rảnh rỗi, các bà, các
cô thường tập trung nhau lại cùng nhau múa hát cùng nhau giã gạo Điệu múa thường có sự tham gia của 5-6 người múa, họ múa xung quanh một cái cối giã gạo,mỗi một người múa cầm trên tay một cái cối giã và cứ thế họ vừa hát vừa múa xung quanh chiếc cối Với những đông tác mạnh mẽ, duyên dáng, họ vừa hát vừa
di chuyển Điệu múa có ý nghĩa như một lời nhắc nhở về cách ôn lại quá khứ của dân tộc mình Về múa (nư) của người Si La còn một số điệu múa nhưng rất giống với điệu múa sản xuất của người Hà Nhì gồm có múa xòe (ô xy rề lượn), múa sạp (đé dù lớ), múa vào mùa, múa cầu mùa, múa trình diễn trang phục, múa trong đám
ma, các động tác múa được nâng cao mô phỏng từ các hiện tượng trong thiên nhiên(gió, mưa), các động tác trong lao động, sản xuất Đồng bào ít có điều kiện để tổ chức sinh hoạt vui chơi, giải trí hay hoạt động văn nghệ.Các làn điệu dân cũ của người Si La còn làm say đắm lòng người xem khi góp mặt tại các liên hoan dân ca toàn quốc, với giai điệu mộc mạc, giản dị, tiếng hát Si La cất lên trong trẻo ngát hương bừng nở giữ đất trời Tây Bắc cùng với dòng chảy bát tận của sông Đà hùng
vĩ Là mạch nguồn của văn hóa Si La được truyền từ đời này qua đời khác sẽ đượcgìn giữ , phát huy trường tồn cùng năm tháng.[A6,Tr36]
Theo những người cao tuổi trước đây tộc người này có nền âm nhạc rất phong phú
và mang tính đặc trưng của tộc người với các đạo cụ như: Đàn bầu cán dài (tứ phề); đàn bầu cán ngắn (tứ phề là phu); đàn môi (dề phà); đàn nhị hai dây (tứ xi); sáo (là bí); Trống (thồ phù); chiêng (kỳ khọ Trong đó các nhạc cụ thuộc bộ hơi như sáo nứa (bemp), sáo (Lâm bi), sáo sậy, sáo của người cao tuổi, ngoài ra còn có đàn ba dây, kèn lá Nhạc cụ dây (gẩy, kéo): Đàn tứ phề, đàn (đức phề), đàn tứ phề Nhạc cụ gõ có trống cái (thồ phù), chiêng (kỳ kho) và xập xoẹ (ché chẹ) sử dụng ở các nghi thức tín ngưỡng (đám tang) vui chơi (đệm cho múa (mựa) Trong quá trình di cư cùng với cuộc sống khó khăn, lạc hậu, kỹ thuật chế tác và sử dụng nhạc
cụ không được lưu truyền
Dân tộc Si La có ba loại nhạc cụ: sáo, đàn ba dây và khèn lá Riêng sáo, có sáo mẹ
và sáo con, mỗi loại mang âm hưởng khác nhau Sao của người Si La có ba lỗ tương ứng là âm trầm, âm ngang và âm bổng Người Si La không có khái niệm về