1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn nghệ dân gian của tộc NGƯỜI NGÁI ở xã hóa Thượng, Đồng Hỷ, Thái Nguyên

37 479 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, học phần Văn hóa các dân tộc thiểu số - môn học chuyên ngành không thể thiếu đối với sinh viên ngành quản lý văn hóa, đã trang bị cho chúng tôi những kiến thức chuyên sâu,

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Trang 2

MỞ ĐẦU

Việt Nam một quốc gia đa dân tộc, với một nền văn hóa đa dạng mà thống nhất

Văn hóa là dòng chảy xuyên suốt của quá khứ, hiện tại và tương lai của mỗi dân tộc Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, mỗi dân tộc tạo dựng cho mình mộtkho tàng văn hóa đồ sộ, một truyền thống văn hóa riêng khác biệt so với các dân tộc khác Những giá trị văn hóa đó tạo nên bản sắc văn hóa tộc người, là những chuẩn mực để phân biệt dân tộc này với dân tộc kia

Là sinh viên chuyên ngành Quản lý văn hóa, đòi hỏi tôi năm chắc những kiến thức về phong tục, tập quán và tín ngưỡng của 54 dân tộc anh em Chính vì vậy, học phần Văn hóa các dân tộc thiểu số - môn học chuyên ngành không thể thiếu đối với sinh viên ngành quản lý văn hóa, đã trang bị cho chúng tôi những kiến thức chuyên sâu, hiểu biết về các yếu tố của các dân tộc thiểu số như : Kinh tế, trang phục, nhà cửa, ẩm thực, hôn nhân, ma chay, tín ngưỡng, văn nghệ dân gian, lễ hội, thiết chế xã hội Đây cũng là nền tảng kiến thức để tôi tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về giá trị văn hóa dân gian của dân tộc Ngái

Dân tộc Ngái là một trong những dân tộc ít người ở Việt Nam, họ có nhiều gốc

khác nhau và thiên di tới Việt Nam làm nhiều đợt Quá trình này diễn ra suốt thời kỳ Trung và Cận đại Người Ngái sống phân tán trong các tỉnh Bắc Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh

Dưới góc chiếu của nhà quản lý văn hóa việc thực hiện đề tài là một việc làm thiết thực để góp phần khai thác, khẳng định, bổ sung cho văn nghệ dân gian Việt Nam thêm phong phú, đa dạng Văn nghệ dân gian của người Ngái là di sản văn hoá quý báu của dân tộc nói chung và dân tộc Ngái nói riêng còn ít người biết tới Do vậy,việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị của văn hoá dân

Trang 3

văn hóa trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

Bài tiểu luận của tôi tập chung nghiên cứu về văn nghệ dân gian của người Ngái

ở xóm Tam Thái, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên

Trang 4

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI, NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI NGÁI Ở XÃ

HÓA THƯỢNG, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN.

1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của người Ngái ở xã

Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi và Trung du Bắc Bộ , có diện tích

3.562,82 km² phía bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội Tỉnh Thái Nguyên trung bình cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km, cách biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và cảngHải Phòng 200 km Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế,giáo dục của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi phía bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Việc giao lưu đã được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút Tỉnh Thái Nguyên hiện có 46 dân tộc trên tổng số 54 dân tộc sinh sống tại Việt Nam, trong đó 8 dân tộc đông dân nhất là: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, Mông, Hoa (Theo số liệu điều tra dân số nhà ở năm 2009).Trong khi đó 38 dân tộc thiểu số còn lại có 3.755 người, gồm nhiều dân tộc khác nhau mới nhập cư đến từ các tỉnh khác vào thời kỳ của những năm 60 thế kỷ 20 trở lại đây từ bằng những con đườngnhư đến học tập, công tác, hoặc lấy vợ, lấy chồng về Thái Nguyên sinh sống rồi định

cư tại đây Trong các dân tộc khác đáng chú ý là Dân tộc Ngái người Ngái ở Thái Nguyên theo Tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999 tỉnh Thái Nguyên chỉ có 422 nhân khẩu, sinh sống phân tán ở các huyện Đại Từ (110 người, nam: 60, nữ: 50),thành phố

Trang 5

10), đặt biệt không thể không nói đến người Ngái ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái

Nguyên Tại xóm Tam Thái, xã Hóa Thượng, huyện Đổng Hỷ, tình Thái Nguyên là nơiđược ghi nhận người Ngái tập trung đông nhất, còn ở các địa phương khác, bà con sống xen kẽ với các dân tộc anh em xung quanh là người Kinh, Tày, Hoa và Sán Dìu Hóa Thượng là một xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam Trụ

sở Quân khu 1 đóng trên địa bàn xã, có diện tích 13,66 km², dân số năm 1999 là 8881người, mật độ dân số đạt 650 người/km² Xã nằm cửa ngõ phía bắc của huyện lị Chùa Hang và có tuyến quốc lộ 1B cũ và mới cùng tuyến tỉnh lộ 259 chạy trên địa bàn Hóa Thượng cũng Giáp với sông Cầu ở phần ranh giới tây bắc

Ở Xã Hóa Thượng, cộng đồng người Ngái lập xóm, sống quần tụ yên bình dưới chân núi Cái và núi Hột, xóm Tam Thái đã hơn 80 năm nay Khi mới đến vùng này, thấy đất đai màu mỡ, địa thế thuận lợi nên người Ngái quyết định ở lại sinh cơ lập nghiệp Họ phát cây, phá núi làm nhà, khai hoang ruộng đất, rồi kết hôn với người SánDìu và các dân tộc khác, sinh con và phát triển kinh tế, xây dựng xóm làng

Người Ngái sinh sống trong nội địa lấy việc trồng lúa nước làm nguồn sống chính Ngoài ra họ còn trồng ngô, khoai, sắn, chăn nuôi Bộ phận ở ven biển và hải đảo sống bằng nghề đánh cá là chủ yếu Thủ công nghiệp với các nghề như làm mành trúc, dệt chiếu, mộc, nề, rèn, gạch ngói, nung vôi cũng đóng vai trò đáng kể trong đờisống của người Ngái

1.2. Khái quát về tộc danh và nguồn gốc lịch sử của người Ngái ở xã Hóa

Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

1.2.1 Về tộc danh và ngôn ngữ

Người Ngái ở Việt Nam có nhiều tên gọi khác nhau: Ngái Nhắn, Ngái Lẩu Mằn, Sín, Đàn Lê [A1,tr 31] Tuy nhiên, tên chính thức của nhà nước ta gọi dân tộc này trong 54 dân tộc Việt Nam là dân tộc Ngái Sán Ngái lại là một tên gọi tự xưng, mang nghĩa là “ người ở rừng” hay “người miền núi”, chỉ đây là nhóm người sống ở vùng sơn cước mà trong nhiều văn bản không chính thức, người đọc vẫn thấy ở đây đó như

Trang 6

là một niềm tự hào của người Ngái, trên địa bàn cư trú truyền thống của họ sinh sống nhiều đời.

Tên gọi ấy không chỉ mang hàm y về địa hình nơi họ sinh sống mà còn như lời khẳng định rằng, dân tộc mình là một trong những nhóm người có công khai phá, dựng xây nên các bản làng trên vùng cao của các địa phương có dân tộc Ngái trú chân

Ngôn ngữ của người Ngái là tiếng Ngái, thuộc hệ ngôn ngữ Hoa-Hán, là phươngngữ chi nhánh người Sán Há (hay còn gọi là dân tộc Xa) sống ở vùng Đông Bắc tỉnh Quảng Đông và Phụng Hoàng Sơn tỉnh Phúc Kiến, nhưng nay thuộc đất huyện NhiêuBình, Triều Châu tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc Mặc dù có ngôn ngữ bản địa là tiếng Hoa và có nguồn gốc từ Quảng Đông song người Ngái hiện đã được chính phủ Việt Nam công nhận là một dân tộc độc lập với dân tộc Hoa

1.2.2 Về nguồn gốc tộc người

Theo như các tài liệu nghiên cứu về lịch sử của các dòng họ, quá trình di cư củangười Ngái vào Việt Nam cho thấy tổ tiên của dân tộc Ngái đều có gốc gác từ khu vực Đông Nam Trung Quốc, các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông và Quảng Tây Do những biến động lịch sử và sức ép kinh tế - xã hội nơi quê nhà, đã di cư đến khu vực Phòng Thành (Quảng Tây, Trung Quốc) rồi từ đây di cư vào khu vực Móng Cái, Đầm

Hà, Hà Cối thuộc tỉnh Hải Ninh (cũ), nay thuộc tỉnh Quảng Ninh Thời điểm các dòng họ di cư đến khu vực này tính đến nay đã 7-8 đời, tức khoảng hơn 100 năm Từ đây, các gia đình dần dần di cư vào sâu hơn trong đất liền, lên các tỉnh Thái Nguyên , Bắc Giang, Lạng Sơn Một bộ phận lớn người Ngái đã di cư vào Nam năm 1954

Trước năm 1979, người Ngái và các nhóm nói tiếng Ngái như Khách, Khách

gia, Hắc Cá, Sín và Đản đều được xem là một bộ phận của dân tộc Hoa

Năm 1979, người Ngái lần đầu tiên được tách ra khỏi dân tộc Hoa để trở thành

Trang 7

Hán là chính sách phân hóa của Việt Nam để làm giảm cố kết của họ với các nhóm gốc Hán Trong khi đó, các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng việc tách người

Ngái khỏi dân tộc Hoa là có cơ sở khoa học và là một cách để chống lại chủ nghĩa

bá quyền Trung Quốc Kể từ khi người Ngái được công nhận là một tộc người riêng biệt đến nay vẫn chưa được giới dân tộc học và nhân học quan tâm đúng mức Chính

vì vậy các công trình nghiên cứu về người Ngái ở Việt Nam còn rất hạn chế Ngoài nghiên cứu ít ỏi và sơ lược có nhắc đến các nhóm nói tiếng Ngái và Hắc cá/Khách giakhông thấy có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về người Ngái Các công trình chuyên khảo mang tính học thuật vô cùng ít ỏi và mờ nhạt

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ngái ở Việt Nam chỉ còn 1.035 người, có mặt ở 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Ngái cư trú tập trung tại các tỉnh: Thái Nguyên (495 người, chiếm 47,8% tổng số người Ngái tại Việt

Nam), Bình Thuận (157 người, chiếm 15,2% tổng số người Ngái tại Việt Nam), Đồng Nai (53 người), Bắc Kạn (48 người), Tuyên Quang (43 người), Đắk Lắk (37

người), Cao Bằng (30 người) Họ có các nhóm địa phương, như: Ngái Hắc Cá, Sín, Đàn, Lê… Các nhóm này tương ứng với các cộng đồng người Ngái từ các địa phươngkhác nhau của Trung Quốc, di cư đến Việt Nam vào các thời điểm khác nhau Các nhóm người Ngái có nhiều đặc trưng phân biệt với các dân tộc khác, thậm chí với tộc người có quan hệ gần gũi là người Hoa

1.3 Đặc điểm về đời sống văn hóa của người Ngái ở xã Hóa Thượng, huyện

Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

1.3.1 Văn hóa vật chất

Nhà ở: Đồng bào Ngái chủ yếu ở nhà đất nguyên liệu làm nhà từ gỗ,tre, nứa, đất đá Gỗ dung làm cột , kèo, xà, quá giang; tre để làm mái; đất thường dung để đóng gạch mộc hoặc trình tường, đất dùng làm ngói lợp mái nhà Bố trí trong nhà người Ngái có nơi thời cúng tổ tiên, 14 buồng ngủ cho chị em phụ nữ Bếp thường

Trang 8

làm ở phần nối mái đầu sát nhà ở Từ trong nhà phải đi ra ngoài cửa rồi mới vào nhà bếp Sân nhà rộng rãi trồng cây cối [A2,tr 32].

Trang phục: Trang phục Ngái giống người Nùng( Choang) Ngoài quần áo, họ còn đội mũ, nón các loại tự làm từ lá, mây tre, đồng thời đội khăn, che ô Nam giới mặc áo ngắn, xẻ trước ngực, có phần chân cổ áo cao từ 2 đến 2.5 cm, có 7 cúc thắt bằng dây vải; quần dài, dùng dây luồn qua cạp để thắt, đầu đội mũ, chân đi giầy vải

Áo phụ nữ 5 thân, 4 thân dài đủ che quá mông, 1 thân ngắn phía bên trong thân trước bên phải có nhiệm vụ che kín đường xẻ áo Toàn bộ cúc áo đều được thắt bằng dây vải Chiếc quần gần giống của nam giới Y phục của người Ngái cí màu sắc chủ đạo

là màu chàm, hầu như không thêu thùa hoa văn [A3,tr32]

Ẩm thực: Tuy chiếm số lượng khá nhỏ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Thái Nguyên nhưng người Ngái có nhiều nét văn hóa đặc trưng, đặc biệt là trong lĩnhvực ẩm thực Lương thực chính của người Ngái là gạo tẻ, gạo nếp, bên cạnh đó là ngô

và một vài loại ngũ cốc khác Trong bữa ăn ngoài cơm, người Ngái còn ăn một số món ăn mang đậm tính dân tộc: Miến, mì, xíu mại được chế biến từ gạo hoặc dong quá trình chế biến thức ăn, các loại gia vị như hành, tỏi, ớt, gừng, rau thơm hầu như không thể thiếu.Người Ngái rất cần trọng trong việc ăn uống Theo quan niệm của họ trong quá trình chế biến thức ăn việc sử dụng gia vị một cách tương hợp không chỉ gắn với khẩu vị mà đó còn là một trong những cách phòng, chữa bệnh Hơn thế nữa theo người Ngái một số món ăn ngoài việc bổ sung chất dinh dưỡng cho cơ thể còn thể hiện vốn tri thức dân gian phong phú [A4,tr 33]

1.3.2 Văn hóa tinh thần

- Người Ngái tin vào đa thần, vạn vật hữu linh, mọi vật đề có xác và hồn

- Thông thường các gia đinh người Ngái đều lập bàn thờ để thờ cúng tổ tiên, ông

bà, cha mẹ mình Bàn thờ là nơi trang trọng nhất trong nhà

- Người Ngái cũng tin vào các vị thần: thần song, thần núi, thần cây, các bị thần bảo hộ gia súc, gia cầm Gặp năm mùa màng thất bại, đồng bào cũng tổ chức

Trang 9

cúng các vị thần trên, cầu mong các thần cho mưa thuận gió hòa, mùa manngf bội thu.

- Người Ngái có một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú với loại hình nghệ thuật như dân ca, dân vũ và đặc biệt là loại văn học truyền miệng Họ có nhiều truyền thuyết, truyện cổ tích, thành ngữ, tục ngữ thể hiện quan niệm của họ

về thế giới quan, nhân sinh quan đến nay còn giàu ý nghĩa nhân bản

- Một giá trị văn hóa phi vật thể không thể không nhắc đến của người Ngái

chính là lễ Kỳ Yên thường được tổ chức vào dịp đầu năm mới, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng sinh sôi, tươi tốt, mọi nhà, mọi người được bình an, vạn sự như ý…

1.3.3 Văn hóa xã hội

- Mỗi ngôi nhà là nơi cư trú của một gia đình Gia đình của người ngái là gia đinhnhỏ phụ hệ.Trong mỗi gia đinh có cha mẹ, con cái, ít gia đinh có them thành viên là ông bà Gia đình dân tộc Ngái cũng là gia đinh phụ quyền, trong gia đinh, người cha, người anh cả có vai trò lớn nhất, tham gia mọi quyết định từ cưới xin, ma chay, lễ hội…

- Trong mỗi làng bản, vị trí của người tộc trưởng của dòng họ lớn nhất được đề cao và có vai trò lớn trong việc giải quyết các quan hệ làng xóm.Người Ngái nhận họ và phân biệt chi ngành qua hệ thống tên đệm

- Đồng bào Ngái theo chế độ hôn nhân một vợ, một chồng Nghi thức mỗi đám cưới với hai lần cưới: lần đầu là lễ thành hôn, lần sau là lễ nhập phòng Tuổi kếthôn sớm, hôn nhân máng tính gả bán cao Sau đám cưới cô dâu cư trú bên chồng Chỉ có những trường hợp đặc biệt (nhà gái không có con trai, chú rể đông anh em ) mới có hiện tượng ở rể

- Đối với người Ngái, phụ nữ có mang và sinh nở bắt buộc phải kiêng khem nhiều thứ trong cả ăn uống và hành vi Trẻ sơ sinh sau 2-3 ngày đã được mẹ cho ăn bột

- Người Ngái quan niệm chết tức là linh hồn chuyển sang sống trong một thế giớikhác Vì thế họ thường chôn theo người chết những đồ tuỳ táng mà khi sống

Trang 10

người ta vẫn dùng Tang lễ có nhiều công đoạn phức tạp: báo tang, nhập quan, chôn cất, mở mả

Chương 2 MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG KHO TÀNG VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA NGƯỜI NGÁI.

2.1 Một số loại hình văn nghệ dân gian

2.1.1 Truyền thuyết

Trang 11

Truyền thuyết là một loại hình văn nghệ dân gian đặc sắc, là tên gọi dùng để chỉ một nhóm những sáng tác dân gian truyền miệng nhằm lý giải một số hiện tượng

tự nhiên, sự kiện lịch sử diễn ra xung quanh cuộc sống của đồng bào dân tộc Đặc điểm chung của chúng thể hiện các yếu tố kỳ diệu, huyễn tưởng, nhưng lại được cảm nhận là xác thực, diễn ra ở ranh giới giữa thời gian lịch sử và thời gian thần thoại, hoặc diễn ra ở thời gian lịch sử

Dân tộc Ngái có một kho tàng truyền thuyết đặc sắc, những tác phẩm này thường thể hiện thể hiện quan niệm của họ về thế giới quan, nhân sinh quan đến nay còn giàu ý nghĩa nhân bản các tác phẩm truyền thuyết của người Ngái luôn gắn bó với sự thật, với lịch sử, phản ánh những sự kiện trọng đại của dân tộc, gắn với quá trình di cư đầy khó khăn của dân tộc Nhiều nhân vật trong truyền thuyết của người Ngái cũng là nhân vật trong chính sử, đóng góp công sức trong việc xây dựngbảo vệ dân tộc và những sự việc chung được nhiều người thừa nhận,là tấm gương để thế hệ sau noi theo Tuy nhiên truyền thuyết vẫn là một thể tài văn học dân gian chứ không phải là một thể tài sử học Trong truyền thuyết có những sự kiện lịch sử nhưng chúng không phải những sự kiện lịch sử đích thực mà chỉ là “những ánh hào quang, những tia khúc xạ” của lịch sử Truyền thuyết từ lịch sử mà ra nhưng truyền thuyết lại khôngphải là lịch sử

Truyền thuyết có thể chia thành 3 tiểu loại: truyền thuyết nhân vật, truyềnthuyết phong vật và truyền thuyết địa danh, truyền thuyết là những truyện truyềnmiệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vậtđịa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó làkhoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố kỳ ảo, thần kỳ như cổ tích

và thần thoại

2.1.2 Truyện cổ tích

Trang 12

Truyện cổ tích( hay còn gọi là truyện kể dân gian ) là những truyện truyền miệng dân gian kể lại những câu chuyện tưởng tượng xoay quanh một số nhân vật quen thuộc như nhân vật tài giỏi , nhân vật dũng sĩ, người mồ côi, người em út, ngườicon riêng, người nghèo khổ, người có hình dạng xấu xí, người thông minh, người ngốc nghếch và cả những câu chuyện kể về các con vật nói năng và hoạt động như con người.

Truyện kể dân gian của dân tộc Ngái có những tương đồng cơ bản với truyện

kể dân gian dân tộc Việt và các dân tộc thiểu số khác Sự tương đồng thể hiện trên nhiều phương diện như cơ cấu thể loại, đặc trưng nội dung và hình thức của các thể loại, các nhóm truyện và kiểu truyện tiêu biểu trong mỗi thể loại, thậm chí là hệ thống cấu trúc chính trong các kiểu truyện Tuy nhiên, những nhân vật mà dân tộc Ngái sáng tạo có nét riêng nhất định so với các nhân vật truyện của dân tộc khác, do ảnh hưởng bởi đời sống tín ngưỡng, bản sắc văn hóa, phong tục tập quán ở nơi đây Các nhân vật chính trong nhóm truyện của người Ngái được các tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến trí thông minh và coi trí thông minh là phương tiện quan trọng đểđấu tranh chống lại các thế lực gian ác trong xã hội, mang lại hạnh phúc cho nhân vật

và giành lại công bằng cho những con người lương thiện Những nhân vật này có thể chia về hai loại: chàng mồ côi (nghèo khổ) thông minh, và người chồng thông minh

Mồ côi vốn là loại nhân vật điển hình được quan tâm và miêu tả trong nhiều kiểu truyện của cổ tích thần kỳ Ở đó, mồ côi xuất hiện với một số phận bất hạnh, nghèo khổ và phải nhờ đến những phép màu kỳ diệu thì cuộc đời họ mới được an ủi

và trở nên hạnh phúc Đến đây, mối quan tâm của đồng bào các dân tộc vẫn còn dànhphần lớn cho những nhân vật mồ côi ấy nhưng cách nhìn, cách kể đã có nhiều biến đổi Không còn là những mồ côi bất hạnh, bế tắc, trông chờ vào lực lượng thần kỳ mà

đã là những nhân vật mồ côi giàu trí thông minh, sự khôn ngoan và chút láu lỉnh, hài

Trang 13

hước Kết cấu chung cho kiểu truyện về người mồ côi bất hạnh mà người Ngái xây dựng đã được định hình dựa trên hai kiểu chủ yếu:

Một là kiểu kết cấu ba phần:

- Nhân vật mồ côi, cô đơn nghèo khổ

- Những chuyển biến thần kì

- có vợ đẹp, chồng đẹp, giàu sang

Hai là kiểu kết cấu năm phần:

- Nhân vật mồ côi nghèo khổ, cô đơn

- Chuyển biến thần kỳ

- Có vợ đẹp, chồng đẹp, giàu sang

- Bị cướp vợ, cướp của

- Đấu tranh và giành lại hạnh phúc

Tuy nhiên kết thúc của cả hai kiểu trên đều là kết thúc có hậu

Loại nhân vật thông minh thứ hai được kể đến trong truyện kể của dân tộc Ngái là những người chồng thông minh Nhân vật này này thường được đặt trong tìnhhuống thử thách là có những người vợ có tính xấu như thói trăng hoa hoặc phải thử lòng hai vợ để biết vợ nào tốt Người chồng thông minh đã khôn ngoan tìm ra những phương cách để dạy cho người vợ những bài học, giúp cho họ nhận ra sai lầm hoặc

để nhận ra đâu là người vợ tốt thực sự trong hai người vợ

Ngoài ra, truyện cổ tích sinh hoạt ủa đồng bài người Ngái cũng xuất hiện các nhóm truyện về nhân vật hiếu nghĩa, nhân vật tiêu cực Đó là những truyện kể có kết cấu linh hoạt xoay quanh những mối quan hệ đời thường giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ với chồng…qua đó, các tác giả dân gian muốn gửi gắm những bài học đạo đức về truyền thống ứng xử trong cuộc sống

2.1.3 Ca dao dân ca, thành ngữ, tục ngữ

Cũng như người Ngái ở các nơi khác, người Ngái ở Đồng Hỷ, Thái Nguyên

có một nền văn hóa dân gian khá phong phú, trong đó đáng chú ý là các làn điệu dân

Trang 14

ca Một hình thức sinh hoạt nghệ thuật được nhiều người ưa chuộng, nhất là đối với nam nữ thanh niên là lối hát Sường cô.

Theo tiếng Ngái thì Sường có nghĩa là hát, còn cô có nghĩa là ca Đây không chỉ gồm các bài hát ghẹo, hát ví đối đáp gắn liền với đời sống sinh hoạt văn hóa dân gian của người Ngái, ca ngợi tình yêu nam, nữ trong buổi đầu thẹn thùng giao duyên

mà còn ca ngợi quê hương giàu đẹp Sường cô được xuyên được hát trong các dịp lễ hội, lễ tết, trong cưới xin Vào mùa Xuân, trong các buổi giao duyên giữa trai làng này với gái làng khác thường kéo dài thâu đêm Nội dung các bài hát giao duyên đều

ca ngợi tình yêu đôi lứa, ca ngợi các loài hoa như : hoa đào, hoa hồng, hoa chè, hoa chuối, hoa mẫu đơn

Lời hát được ghi chép thành sách hay truyền miêng lưu từ đời nọ đến đời kia, hoặc có khi được ứng khẩu tại chỗ trong những lúc lao động mệt nhọc để động viên nhau Lời ca và giai điệu của Sường cô không hề khô cứng mà mềm dẻo đầy sức lan tỏa, diễn đạt tâm tư tình cảm của người hát, làm mê đắm lòng người

Những câu hát sường cô không bị giới hạn bởi không gian, thời gian , hoàn cảnh cũng như mội trường diễn xướng, người Ngái có hát đối với nhau 5 đến 7 ngày đêm liền mà không bị trùng lặp ý Những câu ca Sường cô có thể được cất lên ở bất

kì chỗ nào, ở bờ suối, khi đi làm, trong khi ru con, hoặc trong các lễ hội của người Ngái

Môi trường diễn xướng của hát Sường cô khá tự do Có lẽ vì thế mà nó có sức sống kỳ diệu trong sinh hoạt văn nghệ của người Ngái Người hát có thể hát ở những môi trường như:

1 Hát giao duyên bên bờ suối: Là những bài hát được thể hiện trong lúc thanh niên nam nữ của hai/nhiều làng đứng ở bờ suối - nơi được coi là ranh giới phân định giữa các làng vào những đêm sáng trăng, đối đáp với nhau, qua đó thể hiện tình cảm của mình qua những lời hát

Trang 15

2 Hát Sường cô trong lao động sản xuất: Thường là những bài hát được cất lên trong những lúc lao động, thể hiện những tâm hồn đầy lãng mạn Giúp giảm bớt

sự mệt nhọc trong quá trình Lao động hằng ngày

3 Hát đối đáp trong nhà: Đó là bài hát của các chàng trai hoặc của các cô gái đến nhà một người nào đó (có thể là nhà của nam hoặc nữ) thách đố hát đối đáp, và nếu như chấp nhận thì cuộc hát bắt đầu và có thể kéo dài đến hết đêm

4 Hát chúc xuân: Là lời hát của những người thân, bạn bè, hàng xóm chúc tụng nhau nhân ngày tết đến, xuân về

5 Hát ru con: Đó là những bài hát ru mượt mà, sâu lắng, thể hiện tình cảm vàước vọng của ông bà, cha mẹ đối với đứa con bé bỏng của mình

Nội dung của Sường cô rất phong phú, thể hiện sự đa dạng và độc đáo trong văn nghệ dân gian của người Ngái Tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà Sường đã truyền tải những thông điệp văn hóa đến cho mọi người Lối hát giao duyên của người Ngái giống với hát giao duyên của người Sán Dìu, những đêm hát giao duyên của các chàng trai cô gái của hai dân tộc này thường diễn ra ở trong nhà, bên bờ suối, hoặc khu đất trống trước làng

Nếu hát trong nhà, đầu tiên khách phải xin phép gia chủ để được hát giao duyên.Thông thường thì bên chủ động đi hát có sự chuẩn bị về thời gian, sau đó họ cùng nhau đi đến nhà có người mình định ngỏ lời yêu đương để hát Mặc dù đã biết trước nhưng khi bạn hát tới nhà thì chủ nhà cũng phải giả vờ như không biết cho đến khi khách có lời đánh tiếng thì chủ mới mời khách vào nhà Khi khách bước vào nhà kèmtheo đó là những câu hát xin phép gia chủ để được hát giao duyên với người con gái (hoặc con trai) trong nhà:

Xin phép chủ nhà,

Xin phép chàng trai ( cô gái),

Xin phép gia đình yên tâm ngủ,

Để con trai con gái giao duyên với nhau

Trang 16

Khi chủ nhà lên tiếng đồng ý có nghĩa là khi ấy các đôi trai gái được thỏa sức trổ tài ca hát của mình mà yên tâm là không sợ ai ngăn cấm Từ lúc đó bắt đầu cho một đêm hát giao duyên Hai người hát giao duyên bằng những cuộc đối đáp với lời

lẽ như thách đố đối phương bên kia Người nam hát một câu , sau đó đến lượt nữ đáp trả, cứ như vậy cho tới khi cả hai bên có sự hài lòng nhất điịnh về đối phương

Hát giao duyên của người Ngái không giống như trong hát Quan Họ là các liền anh, liền chị, mặc dù hát với nhau tình cảm đến mấy, khi hát có thể liếc mắt đưa tình trông đầy tình tứ là vậy nhưng họ không bao giờ được lấy nhau, Còn với hát Sường

cô, các chàng trai, cô gái, có thể mặc sức thông qua lời hát để ngỏ lời, chọn bạn tình, chọn bạn đời cho mình Nếu hai bên hát giao duyên thực sự ăn ý và hợp nhau thì họ

có thể ngẫu hứng sáng tác thêm vào Sường cô để đối đáp mãi tới 5 hoặc 7 ngày, bởi những ca từ phong phú của lối Sường cô

Hát giao duyên không chỉ là phương tiện thể hiện tài năng của các đôi nam

nữ mà còn là nơi gửi gắm và thể hiện ước mơ, quan niệm về người bạn tình cũng nhưtình cảm của những người đang tìm hiểu nhau Do vậy, nội dung của hát giao duyên rất phong phú và đa dạng, thể hiện sự tinh túy và sâu lắng trong đời sống tình cảm của người Ngái

Ca dao, thành ngữ, tục ngữ của người Ngái ở Thái Nguyên đa dạng và phong phú , chủ yếu để khuyên răn con người phải làm điều thiện, không được làm việc sai trái, không đúng với đạo lý Thể hiện quan niệm của họ về thế giới quan, nhân sinh quan đến nay còn giàu ý nghĩa nhân bản Mượn những hình ảnh gần gữi với đời sống của sinh hoạt , lao động của đồng bào, cây lúa, con chim, con suối, nhằm ca ngợi về

vẻ đẹp của thiên nhiên thiên nhiên, về các hoạt động trong lao động sản xuất của người dân, ngoài ra còn ca ca ngợi về các thần linh đã ban vụ mùa tốt tươi cho đồng bào

Nết đặc biệt của văn hóa người Ngái đó là tính truyền miệng Văn học truyền

Trang 17

được sử dụng trong hát giao duyên Trên làn điệu chung, một đặc điểm nổi bật là người tham gia hát thường xuyên phải suy nghĩ, đặt lời phù hợp với tình huống Mặt khác, người Ngái khi đặt lời hay sử dụng các điển tích ví von.

2.1.4 Âm nhạc, múa

Văn nghệ dân gian của người Ngái chịu ảnh hưởng của người Việt, Sán Dìu, Tày Chính vì vậy, nhạc cụ người ngái sử dụng trong các buổi lễ, trong đám cưới, khá da dạng Nhạc cụ của người Ngái gồm có Cảnh, Thanh La, Song Loan, Chũm chọe, Tù và tất cả đều là nhạc khí thuộc họ tự thân vang

Nhạc cụ Cảnh hay còn gọi là Tiu cảnh [A5,tr33], cấu tạo gồm hai chiếc Thanh

La cỡ nhỏ làm bằng đồng thau, đường kính khoảng 10cm, một chiếc thành thấp, một chiếc thành cao, với hai âm thanh cao thấp cách nhau quãng 5 đúng Tiu cảnh được treo trong hai vòng tròn của một chiếc khung có tay cầm bằng gỗ hoặc để riêng làm hai phần tiu (thanh la thành thấp) và cảnh ( thanh la thành cao)

Tiu cảnh được đánh bằng que tre có mấu, khi biểu diễn nhạc công tay trái cầm tiu, tay phải cầm que gõ vào mặt thau hoặc để riêng tui và cảnh rồi dùng hai que khácnhau gõ Âm thanh của Tiu cảnh cao, vang, lảnh lót Nhạc cụ này được sử dụng trongcác lễ cùng với các nhạc cụ khác của người Ngái

Thanh la cũng là một nhạc cụ được làm bằng đồng hợp kim với thiếc có pha chì, hình tròn [A6,tr34] Thanh la có nhiều cỡ to nhỏ khác nhau, đường kính 15-25cm, mặt hơi phồng, xung quanh có thành cao 4 cm, ở cạnh Thanh la người ta dùi hai lỗ thủng để xỏ một sợi dây quai Mặt là trung tâm phát âm, Thanh la trung tâm nhân to tiếng

Khi diễn tấu nhạc công cầm dây quai dơ lên, còn một tay cầm dìu gõ mặt thau tạo ra tiếng âm thanh cao, vang, vui, trong trẻo, đánh mạnh nghe chói tai Thanh la cóhai tiếng Tiếng thứ nhất là tiếng Vang: nghệ nhân chỉ cầm sợi dây quai giữ Thanh la

Trang 18

và để Thanh La được tự do rung động Còn lại là tiếng Nặng: nghệ nhân cầm sợ dây quai của Thanh la và dùng các ngón tay năm giữ láy cạnh Thanh la khiến sức rung động của Thanh la giảm bớt.

Song loan hay còn được gọi là Song lan [A7,tr 34] Là một loại mõ nhỏ bằng

gỗ cứng hình tròn dẹt, Song loan có hình dáng bé nhỏ nhất so với các nhạc cụ khác, một mảnh gỗ tròn chưa bằng miệng chén, đường kính 7 cm, cao 4 cm, được xẻ miệngsâu vào thân khoảng 1/3 để thoát âm Có một cần gõ bằng sừng trâu uốn mỏng hoặc

lá thép có độ đàn hồi cao, trên đầu cần có gắn miếng gỗ nhỏ để gõ xuống thân của nó,tạo ra âm thanh đều đặn "Cốp ! Cốp !" Âm thanh Song Loan nghe đanh gọn, có cao

độ lớn nhất và âm vực rộng vang rất xa Khi sử dụng Song loan người ta dùng tay hoặc chân đập vào dùi gõ, dùi gõ đập vào song loan tạo ra âm thanh Nếu người Việt

sử dụng Song loan cầm nhịp trong nhạc tài tử Nam Bộ, trong dàn nhạc sân khấu Cải lương và trong Ca Huế, thì người Ngái sử dụng Song Loan trong các ngày lễ của mình

Nhạc cụ Chũm chọe là một nhạc cụ bộ gõ cực kỳ phổ biến trên thế giới [A8,tr 35] Chũm chọe là những tấm hợp kim mỏng, hình tròn Kích thước của Chũm chọe không xác định (có nhiều loại khác nhau phân biệt dựa vào kích thước), tuy nhiên cũng có loại chũm chọe có hình dạng những đĩa nhỏ, kích thước xác định để tạo ra những nốt nhạc cố định

Cấu tạo của các chũm choẹ là yếu tố chính quyết định âm thanh nó tạo ra Chũm chọe là những tấm hợp kim hình tròn Có một lỗ khoan ở trung tâm của chũm choẹ được sử dụng để treo chũm choẹ trên một giá đỡ hoặc buộc dây đai (cho người chơi xỏ tay vào) Xung quanh lỗ khoan là một phần nhô lên thường gọi là

núm hay chuông (vì nó có tác dụng tương tự như Chuông) Kích thước của chũm choẹ (thường đo theo inch hoặc cm) ảnh hưởng đến âm thanh của nó, chũm choẹ lớn hơn thường có âm to hơn và kéo dài Trọng lương cũng quan trọng đối với âm thanh

Ngày đăng: 11/04/2018, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w