Việc tìm hiểu Văn hóa dân gian các Dân tộc thiểu số còn thể hiện đường lốidân tộc và đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng ta, đó là bình đẳng dân tộc, pháthuy truyền thống văn hoá tốt đẹp
Trang 1MỞ ĐẦU
Học phần Văn hóa các dân tộc thiểu số là môn học chuyên ngành không thểthiếu đối với sinh viên ngành quản lý văn hóa Học môn học này sẽ giúp cho sinhviên ngành quản lý văn hóa nắm rõ kiến thức, hiểu rõ hơn về phong tục, tập quán,tín ngưỡng của 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên mảnh đất hình chữ S ViệtNam Việc tìm hiểu Văn hóa dân gian các Dân tộc thiểu số còn thể hiện đường lốidân tộc và đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng ta, đó là bình đẳng dân tộc, pháthuy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộcViệt Nam, nhằm góp phần vào việc xây dựng nền văn hoá văn nghệ Việt Namthống nhất và mang tính chất dân tộc phong phú Văn kiện hội nghị lần thứ 5 BCHTrung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá 8) đã nêu rõ: “coi trọng và bảo tồn,phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng phát triển những giá trị mới vềvăn hoá văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số là một nhiệm vụ vô cùngcấp bách”
Là sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa, trong quá trình học tôi đượctrang bị kiến thức chuyên sâu và hiểu rõ về từng vấn đề của các dân tộc thiểu sốnhư: Kinh tế, trang phục, nhà cửa, ẩn thực, hôn nhân, ma chay, tín ngưỡng, vănnghệ dân gian, lễ hội, thiết chế xã hội Từ đó cho thấy mỗi dân tộc mỗi vùng miềnlại có một nét văn hóa đặc trưng riêng, giúp tôi hiểu được về đời sống vật chấtcũng như văn hóa tinh thần của người đồng bào các dân tộc thiểu số và đó cũng làvốn nền tảng kiến thức để tôi tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về giá trị văn hóa dângian của dân tộc Cơ Lao
Dân tộc Cơ Lao là một trong số các tộc người ít người nhất Việt Nam, được
di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam cách nay khoảng 100 – 200 năm, họ sống tậpchung ở tỉnh Hà Giang và được chia thành ba nhóm chính là Cơ Lao Đỏ, Cơ LaoXanh và Cơ Lao Trắng
Trang 2Hà Giang là quê hương khá lâu đời của dân tộc Cơ Lao, hoà chung bản sắcvăn hoá phong phú, đa dạng của cộng đồng 22 dân tộc anh em ở Hà Giang, dân tộc
Cơ Lao là một trong những dân tộc có nét đậm đà bản sắc riêng Nguồn văn hoáphi vật thể của người Cơ Lao nói chung và người Cơ Lao Đỏ Ở Túng Sán nói riêng
là mạch nguồn nguyên sinh cần được khám phá, gìn giữ và phát triển
Dưới góc chiếu của nhà quản lý văn hóa việc thực hiện đề tài là một việclàm thiết thực để góp phần khai thác, khẳng định, bổ sung cho văn nghệ dân gianViệt Nam thêm phong phú, lung linh, ngời sáng Văn nghệ dân gian của người CơLao là di sản văn hoá quý báu của dân tộc nói chung và dân tộc Cơ Lao nói riêngcòn ít người biết tới Do vậy, việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn, kế thừa và pháthuy những giá trị của văn hoá dân tộc Cơ Lao là sự trăn trở của nhiều người đặcbiệt là đối với sinh viên ngành quản lý văn hóa trong việc giữ gìn bản sắc văn hoádân tộc
Bài tiểu luận của tôi tập chung nghiên cứu về văn nghệ dân gian của người
Cơ Lao ở xã Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang
Trang 3NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI, NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI CƠ LAO Ở HOÀNG SU PHÌ, HÀ GIANG
I.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của người Cơ
Lao ở Hoàng Su Phì, Hà Giang
Hà Giang là tỉnh cực Bắc của Tổ quốc, có đường biên giới Việt- Trung dài trên 274 km, phía Bắc giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, phía Namgiáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng và phía Tây giáp hai tỉnhLào Cai và Yên Bái
Hà Giang có tổng diện tích 7831,1 km2 Nằm trên khu vực núi cao, thượngnguồn sông Chảy Địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn Khí hậu nhiệt đới gió mùa,tương đối mát mẻ về mùa hạ và khô lạnh về mùa đông Ở vùng núi cao, vào mùađông nhiều lần còn thấy tuyết rơi Sự chia cắt địa hình đã tạo nên một Hà Giang vôcùng hấp dẫn với những thắng cảnh tự nhiên tuyệt đẹp
Hà Giang là nơi quy tụ của 22 dân tộc anh em Đó là các dân tộc H’mông,Tày, Dao, Nùng, La Chí, Pà Thẻn, Bố Y,…Trong đó người H’mông chiếm sốlượng đông nhất, đứng vị trí thứ hai sau người H’mông là dân tộc Tày Trong đạigia đình 22 dân tộc anh em sinh sống ở Hà Giang, không thể không kể đến dân tộc
Cơ Lao là một trong những dân tộc thiểu số ở nước ta cư trú và tập trung sống chủyếu ở tỉnh Hà Giang, là một trong những dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Ka- Đai.Người Cơ Lao cư trú chủ yếu ở xã Sính Lủng, huyện Đồng Văn vùng núi đá phíaBắc, gắn liền với địa hình cảnh quan có nhiều núi đá vôi, đá tai mèo, nhiều váchnúi hiểm trở ít sông suối và ở xã Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì vùng núi đất phía
Trang 4Tây thuộc địa hình cảnh quan núi đất nhưng có độ dốc lớn, độ chia cắt mạnh vàcũng khá hiểm trở
Ngoài các yếu tố địa hình, khí hậu, thuỷ văn có tính đại diện của Hà Giang,hai huyện Đồng Văn và Hoàng Su Phì còn có đặc điểm tự nhiên rất khác biệt.Chính sự khác biệt ấy đã tạo ra những cách thích ứng khác nhau giữa các nhóm CơLao Huyện Đồng Văn mang những đặc điểm địa hình, khí hậu, thuỷ văn của vùngnúi đá sơn nguyên và là một trong những huyện có điều kiện tự nhiên khắc nghiệtnhất ở Hà Giang Người Cơ Lao cư trú tập trung ở xã Sính Lủng, đây là xã nằm ởphía Đông Bắc của Đồng Văn, giáp huyện Mèo Vạc Nằm trọn trong vùng núi đátai mèo, cao vút Toàn xã có 9 làng, trong đó có 2 làng Mã Chề và Cá Ha là địa bàn
cư trú của người Cơ Lao, 7 làng còn lại là của người H’mông Còn ở huyện Hoàng
Su Phì thì người Cơ Lao cư trú tập trung ở xã Túng Sán
Túng Sán là một xã thuộc huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang, Việt Nam.Phía Bắc giáp xã Lao Chải (Vị Xuyên), phía Đông giáp xã Cao Bồ và ThượngSơn (Vị Xuyên), phía Nam giáp xã Thượng Sơn (Vị Xuyên), xã Bản Nhùng, phíaTây giáp xã Tân Tiến, xã Đản Ván
Xã Túng Sán có diện tích 48,77 km², dân số năm 1999 là 2.316 người, mật
độ dân số đạt 48 người/km² Cư dân trong xã thuộc 6 dân tộc: Cơ Lao, H’mông,Dao, Nùng, La Chí, Hoa, trong đó dân tộc Cơ Lao là chủ yếu Những kết quả thống
kê dân số được công bố trong các thập niên cuối của thế kỷ XX cho thấy, dân sốcủa người Cơ Lao có sự gia tăng theo từng thời kỳ Theo điều tra dân số năm 1974của tỉnh Hà Giang, người Cơ Lao có 973 người, bao gồm 476 nam và 497 nữ Đếnnăm 1989 dân số người Cơ Lao là 1.462 người và mười năm sau (năm 1999) lêntới 1.822 người, trong đó có 932 nam, 890 nữ Hiện nay (theo Niên giám thống kêtỉnh Hà Giang tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009), người Cơ Lao có 2.301 người.Tại đây, họ phân bố tập trung ở huyện Hoàng Su Phì (860 người: nam: 448; nữ
Trang 5412), Đồng Văn (568 người: nam: 294; nữ: 274) Ngoài ra, họ còn sinh sống rải ráctại Vị Xuyên, Bắc Quang, Quản Bạ, Yên Minh, Xí Mần [4]
Người dân ở đây sống chủ yếu trên ở vùng núi đất nên làm ruộng bậc thang
và làm nương là chủ yếu, họ có nhiều loại ruộng bậc thang khác nhau, trên ruộng
có thể trồng lúa, trồng ngô, trồng chè Họ thành thạo trong việc khai thác nguồnnước, làm nương dẫn nước vào ruộng, kỹ thuật thâm cach cao họ dùng trâu làmsức kéo
Người Cơ Lao họ chăn nuôi gia súc trâu, bò, ngựa, lợn, gà, ngan, chó,mèo… và nuôi cá ở ruộng Hiện nay nghề thủ công của người Cơ Lao phát triểnkhá mạnh như nghề đan, nghề mộc và phổ biến nhất vẫn là nghề đan lát Cho đếnnay người Cơ Lao vẫn giữ được một vài nét văn hóa truyền thống như săn bắn, bẫythú, hái lượm
Người Cơ Loa thường xuyên đến các trợ trong vùng để trao đổi mua bán vàtham gia nhiều hoạt động sinh hoạt văn hóa như, giao tiếp, tắm gôi, giặt rũ và lấynước [2]
I.2 Khái quát về tộc danh và nguồn gốc lịch sử của Người Cơ
Lao ở Hoàng Su Phì, Hà Giang
1.2.1 Về tộc danh và ngôn ngữ
Về tộc danh, dân tộc Cơ Lao có rất nhiều tên gọi, hơn nữa mỗi nhóm lại có tên tự gọi của mình Những tài liệu đầu tiên đề cập đến dân tộc này, xuất hiện vào những năm đầu thế kỷ XX là của các sĩ quan người Pháp như Lunet deLajonquiere và Bonifacy Đến năm 1942 nhà ngôn ngữ học P.K Benedict tiếp tụcnghiên cứu về ngôn ngữ Cơ Lao Trong các tài liệu đó tên gọi và tên tự gọi củangười Cơ Lao được ghi lại không thống nhất Theo nhà nghiên cứu Nguyễn VănHuy, cho đến giữa thập kỷ 40 của thế kỷ trước, người Cơ Lao tự nhận mình là Thư
Trang 6Người Cơ Lao ở Việt Nam có quan hệ tộc thuộc với dân tộc Ngật Lão ở TrungQuốc Nhà dân tộc học Trung Quốc Hoa Tây cho rằng, muộn lắm đến đời Hán ởvùng Quý Châu, Tây Nam - Tứ Xuyên, Vân Nam đã có tổ tiên người Cơ Lao cư trú
và họ có tên gọi là người Lão, sau này phát triển thành tên gọi Cơ Lao Đến đờiĐường, Tống (thế kỷ VII- thế kỷ XII) tên gọi đó được ghi là Ngật Lão Về sau tên
Cơ Lao được phiên âm và viết theo những cách khác nhau như: Cách Liêu, LátLiêu, Ngật Liêu, Ngật Lão Ngày nay được gọi là Ngật Lão Ở Việt Nam, người CơLao được gọi theo âm Hán- Việt là Kel Lao từ những chữ Cách Liêu, Cách Lão saunày đọc chệch từ Kel Lao thành Cơ Lao Người Cơ Lao hiện đang sinh sống tại xãTúng Sán, huyện Hoàng Su Phì thì vẫn gọi dân tộc mình là Kê Lau theo phiên âmHán ngữ là Kưa Lảo tức Ngật Lão [1,Tr151]
Ở Trung Quốc, người Cơ Lao tự gọi là Quốc Lão hoặc Cách Lão.Theo Nguyễn Văn Huy, mỗi nhóm Cơ Lao còn tự gọi tên theo nhóm và tên gọi thểhiện rõ đặc trưng về y phục hay phong tục của mỗi nhóm, nhóm Cơ Lao Trắng tựgọi là Tứ Đư pộ ộ (pộ ộ: trắng), nhóm Cơ Lao Xanh tự gọi là Ho Ki xí ngu (xí ngu:xanh), nhóm Cơ Lao Đỏ tự gọi là Tứ Đư p’làn đày (p’làn đày: đỏ) Năm 1979,Tổng cục thống kê ra Quyết định ngày 02 tháng 03 năm 1979 ban hành Danh mụccác thành phần dân tộc Việt Nam và dân tộc Cơ Lao xếp thứ tự số 47 trong danhmục, như vậy tên gọi Cơ Lao là tên gọi chính thức của dân tộc này Căn cứ vào cáctên tự gọi và tên gọi, các nhà Dân tộc học cũng gọi người Cơ Lao theo nhóm: Voa
đề là nhóm Cơ Lao Đỏ, Tứ Đư là nhóm Cơ Lao Trắng, Ho Ki là nhóm Cơ LaoXanh Sở dĩ có tên gọi Cơ Lao Trắng vì theo phong tục của người Cơ Lao Trắng,nhóm này phải dùng khăn trắng để chịu tang người chết, gọi Cơ Lao Xanh vì trướcđây đàn ông của nhóm này mặc áo dài xanh, gọi Cơ Lao Đỏ vì trước đây phụ nữnhóm này mặc váy thân dệt bằng chỉ đỏ Người ta thường dùng ngôn ngữ của mình
để giao tiếp, nhưng do sống xen kẽ trong vùng có dân tộc có ngôn ngữ được dùnglàm tiếng phổ thông cho cộng đồng làng bản, nên khi giao tiếp với người dân tộc
Trang 7khác, người Cơ Lao phải sử dụng tiếng phổ thông của vùng làm ngôn ngữ phổthông, như người Cơ Lao Đỏ ở Hoàng Su Phì đều dùng tiếng Hán làm ngôn ngữphổ thông, ở Đồng Văn sử dụng tiếng H’mông Có thể nói, việc phải dùng ngônngữ khu vực của vùng để giao tiếp là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ đồng hoá tựnhiên về ngôn ngữ dân tộc Cơ Lao ở Hà Giang [4]
1.2.2 Về nguồn gốc tộc người
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu (của GS.Trần Quốc Vượng, PGS.TS.Phạm Quang Hoan, Nguyễn Văn Huy, PGS.TS Trần Bình…) đã nghiên cứu vàqua những câu chuyện kể của người già, các bài cúng ma của người Cơ Lao thì cóthể khẳng định chắc chắn rằng nguồn gốc của người Cơ Lao ở Hà Giang được di
cư từ Trung Quốc sang Trên cơ sở thư tịch cổ Trung Quốc, một số nhà nghiên cứuTrung Quốc và Việt Nam cho rằng, tổ tiên của người Cơ Lao là người Cổ Lão Vềquê hương cổ xưa của người Cơ Lao, các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng:Quý Châu là quê hương của họ Phần lớn các dòng họ người Cơ Lao đều có câuchuyện mang tính truyền thuyết kể về nhân vật Chảo Lù Chín người dẫn dântộc Cơ Lao di cư đến Việt Nam Theo gia phả của gia tộc ông Min Hồng Sài, xãTúng Sán, huyện Hoàng Su Phì có ghi chép, vào đời vua Đồng Trị năm thứ III,chiến tranh liên tục xảy ra, mất mùa đói kém, đất đai bạc màu khiến nhân dân lâmvào cảnh đói kém, vua đã đồng ý cho các tộc họ người Cơ Lao đi đến nơi khác đểkiếm sống, lập nghiệp Theo lời ông kể, đoàn người Cơ Lao di cư xuống phía Nam
là do ông Chảo Lù Chín dẫn đầu, địa điểm dừng chân lập nghiệp sinh sống là thôn
Tà Chải, xã Túng Sán, Hoàng Su Phì ngày nay Về thời điểm thiên di của người CơLao, căn cứ vào gia phả của các dòng họ cũng như những truyền thuyết dân gian,các nhà Dân tộc học đều cho rằng, người Cơ Lao bắt đầu có mặt ở Hà Giangkhoảng 120-125 năm, cách ngày nay, muộn hơn so với dân tộc Lô Lô và La Chí
Bộ phận Cơ Lao ở Đồng Văn đến Việt Nam sớm hơn so với bộ phận Cơ Lao ở
Trang 8Hoàng Su Phì Nhóm Cơ Lao Đỏ ở Hoàng Su Phì thậm chí có mặt sau cả ngườiNùng và người Hoa Như vậy, quá trình di cư của các nhóm Cơ Lao vào Việt Namdiễn ra làm nhiều đợt, thời gian di cư sớm nhất cách ngày nay khoảng 7 đến 8 đời.Trong quá trình di cư các nhóm đã tách ra và cư trú ở nhiều địa phương khác nhau.Mặc dù sinh sống ở cách xa nhau về mặt địa lý, và có một số khác biệt về ngônngữ, phong tục tập quán, nhưng các nhóm Cơ Lao đều nhớ rất kỹ quê hương cổxưa của mình là ở Quý Châu (Trung Quốc) Có thể thấy rằng, người Cơ Lao là concháu của một cư dân cổ đại ở Trung Quốc, họ đã di cư vào Việt Nam vì nhiều lý dokhác nhau (loạn lạc, thiếu đất đai, bị Nhà nước phong kiến Trung Quốc bóc lột).Dân tộc Cơ Lao là một thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, luônđoàn kết, kề vai sát cánh với các dân tộc khác trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
I.3 Đặc điểm về đời sống văn hóa của người Cơ Lao ở Hoàng Su Phì,
Trang 9- Trang phục của nam giới: Giống như y phục của người Nùng, ngườiH’mông lân cận, gồm mũ, áo, quần, giầy dép và một số phục trang như vòng cổ,nhẫn [1, Tr170]
I.3.2 Văn hóa tinh thần
- Người Cơ Lao cho rằng vũ trụ gồm 3 bộ phận đó là trời, đất và nước Trêntrời có mặt trăng , mặt trời và các ngôi sao, các loại ma trời; ở mặt đất có người,muôn loài, các loại ma; ở lòng đất là nơi trú ngụ của ma thổ địa, ma tổ tiên; ở dướinước có ma thuồng luồng, long vương, hà bá
- Người Cơ Lao tin vào vạn vật hữu linh mọi vận đều có linh hồn, con ngườikhi chết sẽ biến thành ma Vái hồn của người quyết định hoạt động của tim, gan,phổi và quyết định đến sự sống
- Người Cơ Lao còn có kho tàng văn học dân gian phong phú, về những câuchuyện cổ tích, ca dao, dân ca…
I.3.3 Văn hóa xã hội
- Người Cơ Lao tổ chức xã hội theo kiểu bản, tên bản của họ thường gọi bằngtiếng Quan Hỏa và theo đặc điểm địa hình Mỗi bản chỉ khoảng một vài chục hộ, ít
có những bản trên dưới trăm hộ
- Trong các bản của người Cơ Lao mọi thành viên đều sống theo quy ướcchung: về thừa kế, khai thác sản xuất, bảo vệ mùa màng, chăn nuôi khai thácnguồn lợi từ thiên nhiên, an ninh trật tự, hôn nhân…
- Khi sinh đẻ người Cơ Lao kiêng kị rất nhiều thứ cho đền khi sản phụ tròntháng mới được ăn uống sinh hoạt bình thường
- Phong tục của họ quy định những người cùng dòng họ tuyệt đối không thểlấy nhau Nhưng nếu người anh trai chết thì em trai có thể cưới chị dâu và cấm anhtrai chồng kết hôn với em dâu
Trang 10- Trong cưới xin của người Cơ Lao có các nghi thức như: dạm hỏi, ăn hỏi, lễcưới và lễ lại mặt Sau khi ăn hỏi khoảng 2-3 tháng thì họ sẽ làm lễ cưới.
- Trong tang mà của người Cơ Lao họ quan niệm có nhiều dạng chết: chết già,chết bệnh, chết lành, chết xấu, chết đột ngột, chết đuối…Khi người thân tắc thở họlau rửa rồi mặc quần áo mới cho người chết, sau đó đi mời thầy cúng về làm lễ đểmang đi chôn cất [1,Tr162]
II MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA NGƯỜI CƠ LAO VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ TRONG KHO TẰNG VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM
II.1 Một số loại hình văn nghệ dân gian
II.1.1.Truyền thuyết
Hầu hết các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đều thừa nhận truyền thuyết cóchức năng và đặc trưng là phản ánh, nhận thức và lý giải lịch sử, chủ yếu hướngvào các hiện tượng trong thế giới tự nhiên, vào các sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọngđại và những nhân vật nổi lên trong những sự kiện, những biến cố ấy Truyềnthuyết có thể chia thành 3 tiểu loại: truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết phong vật
và truyền thuyết địa danh, truyền thuyết là những truyện truyền miệng kể lại truyệntích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theoquan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương,phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố kỳ ảo, thần kỳ như cổ tích và thầnthoại
Người Cơ Lao có truyền thuyết kể về, như chuyện kể về thần Hoàng VầnThùng
Theo truyền thuyết của người Cờ Lao ở xã Tùng Sán, nhân vật Hoàng Vần Thùng là một người con hiếu thảo trong gia đình Năm ông 30 tuổi thì cha mất; ông nhờ tìm một thầy địa lý giỏi tìm nơi chôn cất cha Cha Hoàng Vần Thùng đượcchôn ở thung lũng giữa hai ngọn núi cao; ông bên mộ cha ba ngày liền dưới trời mưa Ngôi mộ cha Hoàng Vần Thùng sau ba ngày cũng ngày một lớn lên trông
Trang 11thấy Tảng đá bên ngôi mộ bỗng hóa thành con ngựa lớn; Hoàng Vần Thùng cưỡi ngựa khi chạy nhanh, lúc bay cao trước sự ngưỡng mộ của mọi người.
Trong thôn bản có Báo Tả, một kẻ ghen ghét với Hoàng Vần Thùng đã nghĩ mưu độc ác làm hại chàng Báo Tả đem con gái gả cho Hoàng Vần Thùng và dặn con tìm cơ hội giết hại chàng Một hôm, Hoàng Vần Thùng bị chuốc rượu say và bị giếthại; đầu bị chặt khỏi cổ Khi đầu ông bị lìa khỏi thân xác tới vài ba mét mà ông vẫncòn hỏi mẹ: “Mẹ ơi, con còn sống không.” Mẹ ông nói: “Đầu một nơi, thân một nơi thì còn sống sao được hả con;” khi đó ông mới chết thật
Hoàng Vần Thùng chết, làng xảy ra dịch bệnh Mọi người lo sợ làm lễ cúng ông, xin ông phù hộ, đuổi dịch bệnh đi cho bà con người Cờ Lao được yên ổn làm ăn; dịch bệnh qua mau Từ đó, hàng năm từ ngày 1-15/7 Âm lịch, dân làng tổ chức cúng ông Hoàng Vần Thùng được coi như vị Thành Hoàng của người dân tộc Cờ Lao Miếu cúng ông được lập trên đỉnh núi cao nhất của dãy Tây Côn Lĩnh ở thôn
Tà Chải, xã Tùng Sán, huyện Hoàng Su Phì ngày nay[A3,Tr38]
Trong thâm tâm của người Cơ Lao, Hoàng Vần Thùng là người có công khaithiên lập địa và cũng là người giúp nhân dân trong vùng mở mang khai khẩn đấtđai trồng trọt, chăn nuôi Vì vậy, ông được coi như vị Thành Hoàng của các tộc họngười Cơ Lao Đỏ Để tưởng nhớ công ơn của ông, vào đầu tháng 7 âm lịch hàngnăm, các tộc họ người Cơ Lao Đỏ tổ chức cúng tế tại miếu thờ trên đỉnh núi caonhất của dải Tây Côn Lĩnh thuộc thôn Tả Chải xã Túng Sán Theo phong tục trướckhi cúng tế khoảng 10 ngày, già làng hoặc trưởng bản đi thông báo cho các trưởng
họ về thời gian tổ chức cúng tế để các trưởng họ thông báo cho các gia đình chuẩn
bị lễ vật Đây là một quy định bất thành văn nhưng khi tham gia cúng tế mỗi giađình trong làng đều góp từ 1 đến 2 kg gà hoặc thịt lợn, gạo, rượu,… Đến giờ cúng,thầy cúng lấy tất cả các con vật làm đồ tế lễ để cúng sống, trong số lễ vật được hiến
tế, thầy cúng chọn lấy một con lợn khoảng 30 kg đem mổ sống, không cắt tiết,không cạo lông để lấy ra bộ lòng và để cả con lợn cùng bộ lòng lên tàu lá chuối
Trang 12rừng làm lễ vật cúng tế Sau khi cúng xong, các lễ vật sống được đem đi làm lôngnấu chín, sắp ra mâm và tiếp tục cúng, để phù hộ cho họ có được mùa màng tốttươi, đời sống nhân dân được bình an, hạnh phúc Giáo sư Đỗ Bình Trị đã giảithích: “Truyền thuyết lịch sử không bao giờ tồn tại tách rời sự thờ cúng, nghi lễ,phong tục Nó được kể như để viện dẫn nhằm minh giải cho sự thờ cúng, cho nghi
lễ, tín ngưỡng, phong tục Các nhân vật trung tâm của truyền thuyết lịch sử đềuđược thờ cúng hoặc ở quê quán, hoặc ở nơi ghi lại dấu tích chiến công…và trởthành thành hoàng của một làng xã” [A5,tr.115]
Ở Hoàng Su Phì, người Cơ Lao Đỏ vẫn lưu truyền cho con cháu nghetruyền thuyết nói về Việc cưới xin trước đây của người Cơ Lao Đỏ, theo tập quán,các cô gái muốn đi lấy chồng phải sau 3 năm mới được tổ chức lễ cưới, kể từ ngàylàm lễ ăn hỏi Trong thời gian 3 năm đó, dưới sự hướng dẫn của người mẹ, sự giámsát của người bố, con gái phải dệt được một chiếc váy đẹp bằng lông cừu để làm cơ
sở đánh giá tài năng trong ngày cưới Người Cơ Lao Đỏ quy định rằng, váy đượcgọi là đẹp thì phải cứng, nếu đặt xuống đất hoặc ném ra xa vẫn không bị đổ Vàđây là tiêu chuẩn để xác định tài năng của cô dâu Đúng hôm cưới, khi đã có mặtnhiều người để chứng kiến, đại diện nhà trai mở chiếc váy do chính cô dâu tự làm
và kéo thành ống rồi ném từ trên gác ném xuống nền nhà Nếu thấy chiếc váy đóvẫn dựng đứng, cô dâu được đánh giá là chăm chỉ, cẩn thận, giỏi giang trong mọicông việc Trường hợp sau khi ném, thấy váy bị đổ, cô dâu và bố (mẹ) của cô dâuđược đánh giá là chưa thật sự giỏi giang, thậm chí còn bị đánh giá thấp về vai tròcủa cha mẹ trong việc chỉ bảo, dạy dỗ con gái
Một phong tục kỳ lạ, khác với những nơi khác, người Cơ Lao Đỏ hay kểtruyền thuyết Sự tích ta dà Cơ Lao, có nghĩa là người Cơ Lao bị đánh rụng răng.Truyền thuyết kể rằng, xưa kia người Cơ Lao Đỏ có tập quán khi cô dâu vừa vềđến cửa nhà chồng thì bị mẹ chồng hành hạ cho đến khi gãy răng Mẹ chồng lấymột đôi đũa cắm vào hai chiếc răng của cô dâu và lấy dùi gõ, chỉ khi nào gõ rụng
Trang 13hai chiếc răng này, cô dâu mới được phép bước chân vào nhà Một hôm, mẹ chồngthực hiện tập quán đánh rụng răng cô dâu trong lúc cô dâu vừa mới về đến cửa nhàchồng Nhưng đợt này thật không gặp may, bởi vì ngay sau khi bị đánh rụng răng,
cô dâu lăn ra chết Thương tiếc cho thân phận của cô dâu xấu số, mẹ chồng đã thắphương vái lạy tổ tiên và tuyên bố rằng, kể từ nay trở đi không ai được đánh gãyrăng cô dâu nữa Bởi thế, hiện nay không còn thấy có hiện tượng mẹ chồng người
Cơ Lao Đỏ đánh gãy răng cô dâu vào hôm cưới Song, tên gọi ta dà Cơ Lao và cốttruyện của nó vẫn còn lưu truyền mãi trong cộng đồng người Cơ Lao Đỏ
Cũng như một số dân tộc ở nước ta, dưới sự ảnh hưởng của tín ngưỡng đathần, cho rằng cây lúa và hoa màu cùng các con vật nuôi đều có linh hồn, có sống
và chết, biết đau thương và tức giận Do vậy, người Cơ Lao Đỏ cũng sinh ra nhiềunghi lễ, tín ngưỡng cùng với các tập quán kiêng kỵ liên quan đến nông nghiệp vàchăn nuôi Theo truyền thuyết Nuôi lợn không được đánh, có một gia đình nuôimột con lợn nhưng không nấu cám lẫn ngô khoai, nên con lợn chán ăn Sau mộtthời gian con lợn gầy tóp và chết, con lợn lên thiên đình báo cáo nói khổ lắm, ở vớingười suốt ngày bị đánh, phải ăn và uống nước mắt của mình, bây giờ làm sao lấylại nước mắt của mình Một thời gian, con lợn được đầu thai làm con trai của giađình kia Gần 12 tuổi thằng bé chết, hai vợ chồng cho rằng con trai mình chính làcon lợn ngày trước đã bị đánh, không cho ăn, nay trở về đòi lại nước mắt nên đãkhai đường mai táng cho đứa trẻ lên thiên đình Từ truyền thuyết này mà hiện nayngười Cơ Lao Đỏ không bao giờ đánh lợn, họ chăm sóc lợn rất chu đáo, còn đứatrẻ nào chưa đủ 12 tuổi mà chết, họ không làm ma mà chỉ đưa đi chôn cất
Theo người Cơ Lao Đỏ, ngày mùng 2 tết và ngày 13/7 âm lịch, người CơLao Đỏ có tập quán tổ chức lễ cúng ma tổ tiên nuôi lợn (gọi là ma lợn) Nghi lễnày gắn liền với truyền thuyết kể rằng: Xưa kia, người Hán đuổi con lợn bắt để giếtthịt, họ đuổi mãi, con lợn chạy sang làng của người Cơ Lao Đỏ Cùng đường, conlợn chạy vào buồng một gia đình Cơ Lao Đỏ, được người Cơ Lao Đỏ che chở, con
Trang 14lợn thoát chết Từ đó, trở thành ma lợn làm nhiệm vụ phù hộ cho người Cơ Lao Đỏnuôi lợn và làm ăn sinh sống ngày càng phát đạt Bởi vậy, người Cơ Lao Đỏ có tậpquán dựng bàn thờ ở trong buồng ngủ của chủ nhà để thờ cúng các loại ma buồng,trong đó có ma lợn Nội dung bài cúng chủ yếu nhằm tạ ơn ma lợn đã phù hộ, giúp
đỡ việc chăn nuôi của họ được thuận buồm xuôi gió, không có dịch bệnh Đồngthời cũng thỉnh cầu con ma lợn tiếp tục phù hộ cho gia đình để khi nào có lợn thịttết lại cúng tạ ơn Người Cơ Lao Đỏ cho rằng, nếu thiết đãi khách bằng các lễ vậtcúng, gia đình làm ăn sẽ không phát đạt, chăn nuôi gia súc và gia cầm sẽ gặp nhiềukhó khăn Như vậy, truyền thuyết là nơi lưu giữ những phong tục, tín ngưỡngriêng, độc đáo nhất của người Cơ Lao Đỏ
II.1.2.Truyện cổ tích
Cũng như thể loại truyền thuyết, nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những quanniệm của mình về thể loại truyện cổ tích Chu Xuân Diên đã đưa ra định nghĩa vềthể loại cổ tích có 3 ý sau: Truyện cổ tích đã nảy sinh từ trong xã hội nguyên thủy,
có những yếu tố phản ánh quan niệm thần thoại của nhân dân về các hiện tượng tựnhiên và xã hội, có ý nghĩa ma thuật, chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp;biểu hiện cách nhìn hiện thực của nhân dân đối với thực tại, nói lên những quanniệm về công lý xã hội và ước mơ về cuộc sống tốt đẹp hơn; là sản phẩm của trítưởng tượng phong phú của nhân dân và ở đó yếu tố tưởng tượng thần kỳ tạo nênmột đặc trưng nổi bật trong phương thức phản ánh hiện thực và ước mơ”[6] Hầuhết những truyện cổ tích hay nhất của người Việt cũng như của các dân tộc anh emđều thuộc về truyện cổ tích thần kỳ
Truyện cổ tích thần kỳ người Cơ Lao Đỏ, có một số truyện giải thích nhữngphong tục, tín ngưỡng của người Cơ Lao Đỏ Những gia đình làm ruộng như người
Cơ Lao Đỏ thường quan tâm đến lễ cúng ma ruộng Đồng bào cho rằng mỗi mộtkhu ruộng đều có ma, đó là ma thổ địa, đặc biệt là ma của những người đã có côngkhai phá và ma của những chủ trước đã chết Trong truyện cổ tích thần kỳ của
Trang 15người Cơ Lao Đỏ kể truyện Cúng ma ruộng, như sau: Có một gia đình thuê người
về đào ruộng, nhưng gia đình đó chăm sóc không tốt, trả công không xứng đángcho người đào ruộng, sau một thời gian số ruộng đó tự lở đi, gia đình nhờ thầycúng xem mới biết người đào ruộng cho gia đình này giờ đã chết, không có concái, không ai thờ cúng, nếu không muốn ruộng lở và mạ bị sâu bệnh hại thì phảicúng người đào ruộng cho gia đình đó, giờ đã chết Hiện nay, người Cơ Lao Đỏđều có lễ cúng ma ruộng, với mục đích là trả công ơn và cầu mong được sự phù hộ,không cho các loại ma quỷ xấu hoặc sâu bọ đến phá hoại ngô, lúa và hoa màu củagia đình Quan niệm của người Cơ Lao Đỏ để cho ruộng không bị lở, mạ không bịsâu bệnh, cấy đến đâu tốt đến đó, các hộ gia đình mang lễ vật đến cúng tại khuruộng của mình và thường cúng vào ngày 5 tháng 5 hoặc ngày 6 tháng 6 âm lịchhàng năm Gia đình phải thổi xôi nhiều màu, mang theo một đôi gà, một ít rượu,hương, tiền âm phủ để cúng tại đầu ruộng nhà mình Thông thường, khi mời cácloại ma ăn uống xong thì thỉnh cầu các ma phù hộ cho ngô, lúa cùng hoa màu tươitốt, cho năng suất thu hoạch cao và hẹn đến sang năm sẽ cúng tạ ơn Người Cơ Lao
Đỏ Hoàng Su Phì sống bằng nghề trồng lúa, trồng ngô [A4,Tr38]
Trong sản xuất cũng như mọi sinh hoạt hàng này, cuộc sống của người dânđều phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên Truyện cổ tích thần kỳ Sự tích đồi mổtrâu, kể rằng: Có một năm, người Cơ Lao Đỏ bị mất mùa do Vua trời hay ngủ quênkhông cử thần nông xuống cai quản ruộng nương, khiến cho chuột bọ, chim chócthường xuyên phá hoại mùa màng Có một tộc trưởng người Cơ Lao Đỏ nằm mơthấy Vua trời hiện về phán rằng: muốn làm ăn yên ổn hãy lập đàn tế lễ để cầu xinVua trời phù hộ Cả làng cầu xin Vua trời cho một vật chứng để làm tin Lời cầuxin ứng nghiệm, đêm hôm ấy trời nổi sấm chớp, có tiếng sét đánh trên khu rừngxuất hiện một cột đá cao 2 mét Người dân vui mừng mổ trâu cúng tế Vua trời.Trước khi cúng, buộc một con trâu vào cột đá để thầy cúng làm phép trao lại choVua trời, năm đó Vua trời đã phù hộ cho các gia đình một mùa bội thu Do phải
Trang 16phụ thuộc vào thiên nhiên, trong đó nguồn lương thực chính là từ lúa, ngô, nên cứvào dịp tháng 6 hàng năm các tộc họ lại mua một con trâu buộc vào cột đá cúng tếVua trời che chở cho nhân dân, đem lại mùa màng tươi tốt cho họ.
Cũng như nhiều tộc người, người Cơ Lao Đỏ tin rằng linh hồn con người cóliên quan mật thiết với cuộc đời con người Nếu linh hồn rời khỏi xác thì người đócũng chết Con người cũng tin rằng cuộc sống không chấm dứt sau khi chết Saukhi chết, linh hồn sẽ rời khỏi thể xác bay đến một thế giới khác và tồn tại vĩnhhằng ở đó Truyện cổ tích thần kỳ Thầy hướng dẫn gọi hồn, kể về nguồn gốc người
Cơ Lao Đỏ biết gọi hồn, kể rằng: trước đây Thiên đình đánh rơi một con dao biến
ra Chấu Cúng, vỏ dao biến ra Thào Hóa Nhi, hai người xem số rất giỏi, Chấu Cúngbói thì không cứu, Thào Hóa Nhi bói thì cứu Hôm đó, Chấu Cúng bói trước bảovới mẹ của Sù Chí Lừ là thằng bé sẽ chết vào 12 giờ khi cùng với 2 người vào lòlàm gạch, Thào Hóa Nhi bói sau chỉ cách cứu Sù Chí Lừ Khi Chấu Cúng biếtThào Hóa Nhi cứu Sù Chí Lừ, đã đi tìm Thào Hóa Nhi, hai người đánh nhau không
có thắng thua Cuối cùng Chấu Cúng biến ra con dao, Thào Hóa Nhi biến ra vỏ dao
và bay về trời Một người là Lao Chen Phần lấy bản cúng của Chấu Cúng, ThàoHóa Nhi về gọi hồn, từ đấy người Cơ Lao Đỏ mới biết gọi hồn Theo quan niệmcủa người Cơ Lao Đỏ, con người có 3 hồn: hồn ở trong đầu, hồn ở ngực và bụng,hồn thứ ba ở dưới chân Khi con người còn sống, cả ba hồn này thường liên kết vớinhau để điều khiển mọi hoạt động của cơ thể làm cho con người được khỏe mạnh,thông minh, biết khéo léo trong việc ứng xử và làm ăn Bởi quan niệm như vậy màhiện nay trong cuộc sống hàng ngày của người Cơ Lao Đỏ thường xuyên làm lễgọi hồn để cầu mong cơ thể con người được khỏe mạnh Với quan niệm việc ốmđau là do hồn bị ma quấy rầy, người Cơ lao Đỏ có nhiều thủ thuật để bói tìm con
ma làm hại, bất kể bói cúng gì, người Cơ Lao Đỏ đều gọi nó đến giúp - tên nó là
Sọ Não Người
Trang 17Truyện cổ tich thần kỳ Thầy tiên sinh kể rằng: có hai ông bà già, có một côcon gái không ai lấy, ăn một quả chanh sau vườn cạnh một ngôi mộ và có thai Khibiết con gái có thai, đẻ được một cậu con trai Lớn lên Sọ Não Người học và bói rấtgiỏi, vì không có bố nên được đặt tên là Sọ Não Người Nó bói được 120 giáp, lúcnào nắng, lúc nào mưa, trên trời thần nào xuống đất Sọ Não Người đều bói chuẩn.
Bồ Tát trên thiên đình xuống cho Sọ Não Người một quả bí, thấy hay Sọ NãoNgười bổ ra xem bị lửa đốt cháy hết bộ sách và mù hai con mắt Từ đó Sọ NãoNgười chỉ bói được 60 giáp Để đem lại hồn cho người ốm khỏi bệnh, người CơLao Đỏ phải tiến hành bói, kêu tên Sọ Não Người giúp đỡ tìm con ma làm hại hồn,trong các thủ thuật bói phổ biến là bói trứng Người ta lấy một quả trứng lăn vàothân thể của người ốm, mang theo một nén hương, một ít tiền âm phủ, rồi mangquả trứng đi nhờ thầy bói tìm bói con ma thủ phạm Thầy bói vừa lấy tay giữ quảtrứng vừa khấn báo từng loại ma, cụ thể là nếu đúng ma nào làm hại, tức là đanggiữ hồn người ốm thì hãy giữ lấy quả trứng ở trên chai không cho nó rơi xuống đất.Khi khấn đến con ma nào mà thấy bói đã buông tay ra khỏi quả trứng nhưng quảtrứng vẫn nằm im ở trên chai, người ta nghi rằng ma đó là thủ phạm
Người Cơ Lao Đỏ chịu sự ảnh hưởng của các tập quán, tín ngưỡng liên quan đếnnhà ở Người Cơ Lao Đỏ vẫn kể câu chuyện cổ tích thần kỳ Hai anh em, ngày xưa
có một gia đình giàu có làm nhà mới, thuê một đoàn thợ dựng nhà, có hai anh emnhà nghèo đi đến khi gia đình đang ăn cơm nhưng không mời hai anh em ăn.Người em nghĩ cách làm phù phép cho những con kiến bâu xung quanh nền nhà đểđoàn thợ đó không dựng được nhà lên Chủ nhà nói, ai giúp tôi dựng được nhà sẽđược chia một nửa số tiền thuê đoàn thợ Cuối cùng hai người em dựng được nhàlên, từ đó họ tôn hai người làm sư phụ và được sống trong sự sung sướng Đồngbào Cơ Lao Đỏ có tập quán xem dấu hiệu các lỗ ở xương đùi gà để biết miếng đất
dự định sẽ dựng nhà có thật sự tốt hay không Sau khi luộc gà tại nơi cúng, xé thịtxem các lỗ ở trên xương đùi, để xem các lỗ ở trên xương đùi gà có đẹp hay không
Trang 18phải vót 4 que bằng nhau, nhỏ như que tăm cắm vào các lỗ ở trên xương đùi Nếuthấy chúng chĩa cùng hướng, đều nhau là tốt, còn các trường hợp khác như lệchnhau, các que ở hai xương có độ dài khác nhau, tức là độ sâu của các lỗ không đềunhau thì không tốt Nếu không làm đúng tập quán chọn đất mà cứ dựng nhà để ở,người sống trong ngôi nhà đó cảm thấy không yên tâm, nếu xảy ra rủi ro, bệnh tật,làm ăn không phát triển, người ta đều qui chỗ ở chưa được chọn kỹ Như vậy, tìmhiểu phong tục, tín ngưỡng của người Cơ Lao Đỏ Hoàng Su Phì, cho thấy cáctruyện kể mang ý nghĩa giáo dục, ý nghĩa nhân sinh lớn
Có thể thấy rằng nhân dân luôn ghi nhớ, lưu giữ được những phong tụctruyền thống tốt đẹp trong đời sống tinh thần của cha ông Có thể khẳng định rằng,đây chính là vốn văn hoá cổ truyền mang sắc thái riêng trong truyện kể dân gianngười Cơ Lao Đỏ
II.1.3.Ca dao dân ca
Cũng như cộng đồng 54 dan tộc anh em Việt Nam, người Cơ Lao cũng córất nhiều làn điệu dân ca truyền thống của mình Dân ca của người Cơ Lao gồmnhiều thể loại như: hát đối đáp, hát mời rượu, hát mừng vụ mùa Chẳng hạn nhưmột buổi hát đối đáp giao duyên giữa những cặp đôi nam nữ trong cuộc hát đối đáp
đó họ bộc lộ tâm tư tình cảm qua lời ca tiếng hát Vì thế những câu hát thườngchứa chan tình cảm nó hàn gán các trạng thái đợi chờ, nhớ nhung, trách móc, giậnhờn Cũng có những cặp đôi đã nên duyên vợ chồng từ những buổi hát đối đápgiao duyên đó
Ngoài ra dân ca Cơ Lao chứa đựng niều nội dung về tình yêu quê hương đấtnước, mối quan hệ xã hội, ca dao về lao động sản suất Người Cơ Lao hay hátnhững bài hát ca ngợi về về thiên nhiên, về các các hoạt động trong lao động, cangợi về các thần linh, ca ngợi về vụ mùa Có bài ca nổi tiếng về cây lúa của người
Cơ Lao họ thường hát khi đi cấy, làm cỏ lúa, gặt hái lúa
“Mưa dã về, nước đã về
Trang 19Cúng thần lúa, chờ lúa lên bôngChờ lúa chín rồi gặt lúa”
Bài hát thể hiện sự hang say vui vẻ trông việc đoàn kết, tang gia sản xuất củangười Cơ Lao
“ Trồng cây lúa Lúa lên bông Chờ lúa chín Giặt lúa, phơi khôXát thành gạoNgâm gạo, đồ thành sôi, Giã thành bánh
Dâng lên thần linh,
Tạ ơn thần rừng, thần núi, cảm ơn tổ tiên”
Hay hát bên cối nước chuẩn bị cho các lễ cúng, khi làm việc chung họ cùnghát để xua đi nỗi nhọc tạo nên bầu không khí vui vẻ Với người Cơ Lao mỗi câuchuyện tạo nên một bài hát riêng, mỗi bản nhạc có một gia điệu khác nhau thể hiệnđời sống văn hóa tinh thần phong phú của họ Bài hát về đổi công cấy lúa, bài hátyêu thương về giá gạo, bài hát về lúa chín, những bài hát đó cứ được lưu truyền lại
từ đời này sang đời khác cũng như những phong tục văn hóa của người Cơ Lao[A5,Tr39]
Đàn tre: Thân đàn (cần đàn) được làm bằng ống trúc hay cật của cây tre giàdài khoảng 75,5 cm, loa đàn làm bằng gáo dừa (một nửa quả dừa khô), mặt đàn bịtbằng da trăn hay da kỳ đà, trục lên dây bằng tre, dây đàn bằng tơ se hay nilon, cungkéo bằng tre được uốn cong tuy phổ biến tên gọi “Đàn Nhị”, nhiều dân tộc tại Việt