Tình hình nghiên cứu đề tài Qua nghiên cứu và tìm hiểu, hiện nay về thuế thu nhập cá nhân và pháp luật thuế thu nhập cá nhân đã được nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, cụ thể: - Trước
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là đề tài luận văn nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Văn Cương - Trường Đại học Luật Hà Nội, các luận điểm, dẫn chứng, số liệu nêu trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tác giả luận văn
Trần Thị Minh Hòa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Khoa đào tạo sau đại học - Viện Đại học Mở Hà Nội và các thầy cô đã giúp đỡ tôi trang bị kiến thức, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới TS Vũ Văn Cương - Trường Đại học Luật Hà Nội, người đã chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện việc nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí công chức ngành thuế, phòng kê khai thuế, phòng thuế thu nhập cá nhân và bộ phận nghiệp vụ có liên quan đã chia
sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu cũng như tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã động viên,
hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trần Thị Minh Hòa
Trang 5MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài……… 2
3 Mục đích nghiên cứu……… 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 4
5 Phương pháp nghiên cứu……… 5
6 Cơ cấu của luận văn……… 5
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 6
1.1 Khái quát thuế thu nhập cá nhân 6
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 6
1.1.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân 10
1.2 Khái quát pháp luật thuế thu nhập cá nhân 14
1.2.1 Khái niệm pháp luật thuế thu nhập cá nhân 14
1.2.2 Cấu trúc pháp luật thuế thu nhập cá nhân 15
1.2.3 Các yếu tố chi phối pháp luật thuế thu nhập cá nhân 19
1.2.4 Pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở một số nước……… 25
1.3 Tiêu chí đánh giá tính hiệu quả pháp luật thuế thu nhập cá nhân 31
1.3.1 Khái niệm tính hiệu quả của pháp luật thuế thu nhập cá nhân 31
1.3.2 Các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả pháp luật thuế TNCN 31
Chương 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở SƠN LA HIỆN NAY 35
2.1 Thực trạng của pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay 35
2.1.1 Khái quát về hệ thống các quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay 35
2.1.2 Những ưu điểm của pháp luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành 36
2.1.3 Những hạn chế của pháp luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành 40
Trang 62.2 Thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở tỉnh Sơn La hiện nay 43
2.2.1.Khái quát về tình hình kinh tế xã hội và ở Sơn La hiện nay……… 43
2.2.2 Thành tựu đạt được trong việc thi hành pháp luật thuế TNCN ……… 46
2.2.3 Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của những bất cập 51
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật thuế thu nhập
cá nhân ở Việt Nam nói chung và ở Sơn La nói riêng 58
3.2.1 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về thu nhập được miễn thuế 59
3.2.2 Sửa đổi một số quy định về căn cứ tính thuế……… 61
3.3 Các giải pháp bảo đảm thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam nói chung và ở Sơn La nói riêng 68
3.3.1 Nâng cao hiệu quả của cơ chế hành thu và kiểm soát thu nhập của người nộp thuế……… 69
3.3.2 Xây dựng cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế 70
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kỳ một chế độ xã hội nào, thuế luôn luôn là một công cụ thể hiện quyền lực của Nhà nước và là nguồn tài chính chủ yếu của quốc gia
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) có ý nghĩa rất quan trọng, nguồn thu thuế TNCN gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế, thu nhập của dân cư nói chung và sự gia tăng số lượng lao động của mỗi quốc gia Thuế TNCN đã và sẽ là một trong những nguồn thu chính của mỗi quốc gia
Luật thuế TNCN ở nước ta hiện nay ngày càng hoàn thiện cho phù hợp với tiến trình đổi mới quản lý kinh tế của Nhà nước, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội hướng dần đến phù hợp hơn với hệ thống thuế các nước, hướng tới một hệ thống thuế công bằng và hiện đại hơn
Để thực hiện đúng quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Ngày 22/11/2012 Quốc Hội đã sửa đổi, bổ sungmột
số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 theo hướng đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, tạo thuận lợi và thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015 và chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2020 cho phù hợp với nền kinh tế của đất nước
Tuy nhiên, khiLuật thuế TNCN đi vào thực tế cuộc sống đã gặp phải nhữngkhó khăn, vướng mắc; người nộp thuế lợi dụng kẽ hở của pháp luật về thuế TNCN để tìm cách khai gian lận thuế, trốn thuế, chấp hành pháp luật thuế chưa nghiêm còn để nợ thuế dây dưa kéo dài.Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là phải tìm những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật thuếTNCN
Với mong muốn tìm hiểu về Luật thuế TNCN và trên cơ sở đó đưa ra những
ý kiến cá nhân nhằm hoàn thiện luật thuế, Tôi đã lựa chọn đề tài: “Những giải pháp
Trang 9nâng cao hiệu quả pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Sơn La hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của Luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua nghiên cứu và tìm hiểu, hiện nay về thuế thu nhập cá nhân và pháp luật thuế thu nhập cá nhân đã được nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, cụ thể:
- Trước 01/01/2009: Các quy định về thuế TNCN trong Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được nghiên cứu ở một số luận văn thạc sỹ, bài báo khoa học như:
- “Một số vấn đề pháp lý về thuế TNCN”; Luận văn thạc sĩ luật học của Võ
Quang Huy (1997);
- “Thực trạng pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay và phương hướng hoàn thiện” bài viết trên Tạp chí Luật học, số 10/2007 của Ths Trần Vũ Hải;
- “Một số vấn đề về nguyên tắc công bằng trong pháp luật về thuế TNCN”
bài viết trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2008 của Ths Trần Minh Đức,… Các nghiên cứu giai đoạn này hầu hết đã chỉ ra những nhược điểm của pháp luật hiện hành về thuế TNCN và đề ra những giải pháp khắc phục Đó là một trong những cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện và ban hành Luật Thuế TNCN năm 2007
* Từ 01/01/2009 đến nay: Luật Thuế TNCN năm 2007 chính thức có
hiệu lực, thuế TNCN tiếp tục nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Tiêu biểu là bài viết:
-“Những vấn đề đặt ra khi thực thi Luật Thuế TNCN Việt Nam” của TS Lê
Thị Thu Thuỷ đăng trong Tạp chí Luật học số 6/2009;
- “Tìm hiểu các quy định về thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản”;
Khoá luận tốt nghiệp của Ma Thị Vân Kiều (2010);
- “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về thu nhập chịu thuế TNCN”; Khoá luận tốt nghiệp của Nguyễn Văn Dũng (2011);
Trang 10-“Vấn đề giảm trừ gia cảnh trong Luật Thuế TNCN năm 2007 - Thực trạng và kiến nghị từ kinh nghiệm Nhật Bản”; Khoá luận tốt nghiệp của Trần
Thúy Mai Lan (2012);
-“Pháp luật thuế TNCN với thu nhập từ bất động sản”; Khoá luận tốt nghiệp
của Nguyễn Thị Kim Cúc (2012)
Các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở một số khía cạnh của thuế TNCN như thu nhập chịu thuế TNCN, phạm vi áp dụng của thuế TNCN, quy định về giảm trừ gia cảnh,…
Ở cấp độ luận văn thạc sỹ, tiến sĩ Luật học, tiêu biểu có:
-“Thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam và định hướng hoàn thiện”; Luận văn thạc sỹ Luật học của Hoàng Quốc Đạt (2012); Luận văn nàyđã
phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thuế TNCN trên phương diện thực tiễn áp dụng, có sự so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới để ra các giải pháp áp dụng có hiệu quả ở Việt Nam;
-“Pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”;
Luận văn thạc sĩ luật học của Tạ Minh Hảo (2013); Luận văn này đã làm rõ nội dung pháp luật về quản lý thuế TNCN ở Việt Nam;
- “Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam- Những vấn đề lý luận và thực tiễn”; Luận án tiến sĩ của Vũ Văn Cương – Trường Đại
học Luật Hà Nội - năm 2012
Các nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài.Tuy nhiên, có thể nhận thấy số lượng các công trình nghiên cứu một cách toàn diện về những giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật thuế thu nhập cá nhân nói chung và ở một địa phương cụ thể nói riêng, nhất là ở cấp độ Luận văn thạc sỹ không nhiều, thậm chí là chưa có … Đó là thuận lợi nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức cho tác giả khi lựa chọn đề tài nghiên cứu này
Trang 11Các công trình khoa học nêu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh của thuế TNCN và pháp luật thuế TNCN Tuy nhiên, đa số các đề tài nghiên cứu chỉ phân tích, lý giải các vấn đề liên quan đến chính sách hoặc quản lý thuế TNCN dưới góc
độ kinh tế hoặc pháp lý Thực tế vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập một cách có hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật thuế TNCN ở nước
ta nói chung và tỉnh Sơn La nói riêng Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn
đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật thuế TNCN ở Sơn La hiện nay để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật thuế TNCN nói chung và ở địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề pháp lý cũng như cơ sở lý luận của pháp luật thuế TNCN một cách có hệ thống và toàn diện; nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong quá trình hoàn thiện pháp luật thuế TNCN, những điểm tiến bộ mà Việt Nam cần học hỏi
Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luậtthuế TNCN ở địa bàn tỉnh Sơn La trong những năm qua, chỉ ra được những ưu điểm, những bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật và những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn thi hành Đồng thời, làm rõ nguyên nhân những tồn tại, yếu kém trong pháp luật thuế TNCN và công tác quản lí hiện nayở Sơn La nói riêng và ở Việt Nam nói chung để từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả Luật thuế TNCN và công tác quản lý thuế ở địa phương và cả nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề lý luận về thuế TNCN và pháp luật về thuế TNCN ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về thuế TNCN ở VN hiện nay và Thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNCN
Trang 12ở Sơn La Trên cơ sở đó tìm kiếm, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm góp phần nâng cao hiệu quả pháp luật thuế TNCN ở Sơn La và trong cả nước
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
cơ bản sau đây:
(i) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin;
(ii) Một số phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Phương pháp phân tích, bình luận, diễn giải, tổng hợp; phương pháp so sánh luật học, phương pháp lịch sử; phương pháp đánh giá thống kê được sử dụng kết hợp trong chương của luận văn để làm rõ các yêu cầu mà đề tài đặt ra
6 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu và Phần kết luận, luận văn được cơ cấu thành 03 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Khái quát về thuế thu nhập cá nhân và pháp luật thuế thu nhập cá nhân
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Sơn La hiện nay
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Sơn La
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
a) Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
Trong hệ thống thuế ở các quốc gia, thuế thu nhập là loại thuế quan trọng được áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Ở Việt Nam, cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, thuế thu nhập gồm hai loại là thuế Thu nhập Doanh nghiệp (TNDN) và thuế TNCN, mặc dù hai loại thuế này có thể ban hành trong cùng một văn bản luật hoặc được ban hành riêng lẻ Nhìn chung, việc phân định thuế TNCN và thuế TNDN dựa trên cơ sở chủ thể nộp thuế là cá nhân hay tổ
chức có thu nhập chịu thuế Theo đó, “thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần1”
Thuế TNCN là sắc thuế đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượng nộp thuế là mọi cư dân trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh
ở nước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội Bất kỳ một quốc gia nào
có nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường đều coi thuế TNCN là một sắc thuế
có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước và điều hòa thu nhập dân cư để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội
Thuế TNCN có thể được hiểu là sắc thuế mà Nhà nước sử dụng để điều tiết một phần thu nhập của các cá nhân vào NSNN với mục đích tạo nguồn thu cho NSNN và thực hiện công bằng xã hội
Thuế TNCN trên thế giới thông thường đánh vào cả cá nhân kinh doanh và
cá nhân không kinh doanh Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến
1 Giáo trình Luật thuế Việt Nam-Trường đại học Luật Hà Nội, NXb Công an Nhân dân, Hà Nội, trang 198
Trang 14hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt
Một điểm đặc biệt nữa của thuế TNCN đó là hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay khi áp dụng thuế TNCN đều thực hiện trên cơ sở kết hợp hai quyền thu thuế của Nhà nước, đó là thu thuế theo yếu tố lãnh thổ và thu thuế theo yếu
tố cư trú Theo đó, những cá nhân là đối tượng nộp thuế TNCN không chỉ là người có quốc tịch của Nhà nước thu thuế mà còn bao gồm cả người nước ngoài, người không có quốc tịch có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ quốc gia thu thuế Đặc điểm này đã phát sinh tình trạng đánh thuế hai lần thường gặp khi thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng Đánh thuế trùng ở thuế TNCN xảy ra khi một cá nhân với một khoản thu nhập chịu thuế có thể vừa phải nộp thuế TNCN cho quốc gia mà cá nhân đó cư trú, vừa phải nộp thuế TNCN cho quốc gia mà thu nhập đó phát sinh Để hạn chế tình trạng này, các quốc gia trên thế giới thường lựa chọn giải pháp ký kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần hoặc quy định khấu trừ nghĩa vụ thuế đã thực hiện ở quốc gia khác trong Luật Thuế TNCN
b) Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân
- Thứ nhất, thuế TNCN là thuế trực thu
Thuế TNCN là thuế trực thu bởi cá nhân có thu nhập chịu thuế là người nộp thuế, việc nộp thuế được tiến hành từ việc khấu trừ trực tiếp từ thu nhập của cá nhân
đó mà không thông qua hành vi tiêu dùng hoặc chủ thể trung gian khác
Do thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập, tài sản của tổ chức và cá nhân, có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện và khả năng đóng góp của người nộp thuế nên nó rất có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch
về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư Tuy nhiên, thuế trực thu lại có hạn chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía người nộp thuế hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn, lậu thuế nếu quy định mức thuế suất cao Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán và thu thuế phức tạp, đặc biệt là thuế TNCN với diện thu thuế rộng và phân tán Vì vậy, nếu
Trang 15không có biện pháp quản lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong việc tập trung số thu đầy đủ, kịp thời về cho NSNN
- Thứ hai, thuế TNCN có đối tượng chịu thuế là thu nhập của cá nhân
Khái niệm “thu nhập” hiện nay chưa được hiểu thống nhất nên vẫn còn nhiều
quan điểm khác nhau Chính vì vậy, các nhà làm luật thường chỉ liệt kê các khoản được coi là thu nhập của tổ chức, cá nhân mà không đưa ra khái niệm thu nhập Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập của cá nhân phát sinh rất đa dạng Nếu căn cứ vào hoạt động hoặc các giao dịch làm phát sinh thu nhập thì thu nhập bao gồm: thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; thu nhập từ lao động; thu nhập từ tài sản, tiền vốn; thu nhập từ chuyển nhượng; thu nhập từ thừa kế, tặng cho; thu nhập từ bản quyền; thu nhập do bồi thường; thu nhập từ trúng thưởng; thu nhập từ Nhà nước hoặc xã hội dành cho và các khoản thu nhập khác Các loại thu nhập kể trên không phải thu nhập nào cũng là thu nhập chịu thuế mà chỉ có một số khoản thu nhập đáp ứng những điều kiện nhất định mới là thu nhập chịụ thuế Pháp luật thuế TNCN nói riêng và thuế thu nhập nói chung ở các quốc gia đều quy định các khoản thu nhập chịu thuế làm cơ sở cho việc đánh thuế Thông thường thu nhập chịu thuế phải là những khoản thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh, có tính phổ biến và Nhà nước
có thể kiểm soát được Có như vậy, pháp luật thuế thu nhập mới đảm bảo tính khả thi, tính công bằng và đảm bảo nguồn thu ổn định cho NSNN Như vậy có thể nói thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh:
Một là, đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân
thuộc diện chịu thuế, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập áp dụng đối với cá nhân cư trú; còn với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập
Hai là, đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường
Trang 16xuyên hay không thường xuyên nhưng có thu nhập chịu thuế phát sinh theo quy định của pháp luật thuế TNCN
- Thứ ba, việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần
Thuế suất luỹ tiến được hiểu là việc áp dụng các thuế suất tăng dần đối với các nhóm đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế Theo đó, hiện nay thuế TNCN chủ yếu áp dụng thuế suất lũy tiến đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh đối với người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao
- Thứ tư, thuế TNCN là loại thuế có tính ổn định không cao và quá trình quản lý phức tạp
Đặc điểm này của thuế TNCN thể hiện ở chỗ các quy định về thu nhập chịu thuế, thu nhập không chịu thuế thường xuyên thay đổi theo từng biến động của nền kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Ngoài ra, các quy định như giảm trừ gia cảnh, về mức thuế suất cũng có sự thay đổi linh hoạt do thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân nên có tác động rất lớn đến mức sống của dân cư và chịu ảnh hưởng bởi giá cả trên thị trường
Việc quản lý thuế TNCN tương đối khó khăn, chi phí quản lý thuế thường lớn hơn so với các loại thuế khác bởi ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu thuế còn phải xác định nguồn gốc thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu, tính ổn định của thu nhập Trong phần xác định thu nhập chịu thuế, phải xác định được các khoản khấu trừ hợp lý để tiến hành khấu trừ khi tính thuế nhằm đảm bảo mục tiêu công bằng và khuyến khích đối với đối tượng nộp thuế
- Thứ năm,Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia
Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội khác Thể hiện nó luôn quy định loại trừ một số khoản thu nhập trước khi tính thuế
Trang 17TNCN như phúc lợi, thu nhập mang tính trợ cấp xã hội, khoản chi cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình người nộp thuế, khoản chi mang tính nhân đạo xã hội (công cộng, chăm sóc sức khỏe) …Xét về góc độ kinh tế, thuế thu nhập cá nhân có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế suất thuế thu nhập cá nhân hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế
Thứ sáu, nguồn luật điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế TNCN bao gồm các văn bản pháp luật quốc gia và cả luật quốc tế
Đây là đặc trưng của thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng Hầu hết thuế TNCN của các quốc gia trên thế giới không chỉ áp dụng đối với công dân của mình mà còn áp dụng đối với người nước ngoài có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổ quốc gia đó Để tránh tình trạng đánh thuế hai lần lên một đối tượng chịu thuế, các hiệp định tránh đánh thuế hai lần được ký kết giữa các quốc gia cũng
là nguồn luật điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế TNCN
1.1.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Trước bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và những sự biến đổi lớn của điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, việc sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNCN ở nước ta là hết sức cần thiết và có vai trò quan trọng về nhiều mặt Là một bộ phận của hệ thống thuế nên thuế TNCN vừa mang vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có được
Thứ hai, Thuế thu nhập cá nhân là công cụ tạo lập nguồn tài chính cho NSNN
Thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước Thuế TNCN được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của dân
cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần Thuế TNCN luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người
Trang 18Theo quan điểm của các nước Châu Âu, Thuế TNCN được mệnh danh là
“Nữ hoàng” của các loại thuế, còn ở các nước Châu Á như Nhật Bản, gọi thuế TNCN là “Vua” của các loại thuế2 Rõ ràng, phải có nhiều lý do khác nhau để chứng minh cho vị trí quan trọng này của thuế TNCN, trong đó, có thể kể tới một số
lý do sau:
Một là, thuế TNCN thường chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu của NSNN như: Thuế TNCN của Mỹ chiếm 56% tổng thu NSNN, ở Đức và Thụy Điển chiếm 45%, Anh chiếm 36%, Nhật chiếm 29%, Pháp chiếm 28% Tỷ trọng thuế TNCN trong tổng thu ngân sách của một số nước châu Á đang phát triển có thấp hơn như: Phi-lip-pin 17%, Malaysia 15%, Thái Lan 13%3 Tuy nhiên, nếu so sánh trên tổng số thu NSNN với nhiều khoản thu khác nhau, những con số thống kê nêu trên vẫn cho thấy sự đóng góp đáng kể của thuế TNCN trong việc tạo nguồn thu cho NSNN
Thuế TNCN được hình thành từ việc điều tiết một phần thu nhập chịu thuế của các cá nhân trước khi hành vi tiêu dùng xảy ra Mức thu thuế sẽ tỷ lệ thuận với
sự phát triển của nền kinh tế và mức sống của người dân trong xã hội, có nghĩa, thu nhập của dân cư càng cao thì mức thu từ thuế TNCN càng tăng Do đó, thuế TNCN đang dần đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn thu từ thuế cho NSNN
Ngoài ra, thuế TNCN còn góp phần hạn chế sự thất thu thuế TNDN khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân Bởi trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế TNDN và thuế TNCN, trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp nhằm trốn thuế TNDN thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế TNCN đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo
sự tăng lên của thuế TNCN và thuế TNDN
2
Công ty Luật Nam Long & Cộng sự, Thuế thu nhập cá nhân – Nữ hoàng các loại thuế, truy cập ngày
10/7/2015 tại địa chỉ thue/page:10
Trang 19http://luatnamlong.vn/chi-tiet/2627/thue-thu-nhap-ca-nhan-nu-hoang-cua-cac-loai-Thứ hai, thuế TNCN là công cụ để Nhà nước tái phân phối lợi tức quốc gia, giảm phân hóa giàu nghèo, góp phần đảm bảo tính công bằng trong xã hội
Trong mỗi quốc gia, thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như khả năng và trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân
đó Tuy nhiên, các yếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã tạo
ra sự khác nhau về thu nhập của mỗi người Chính sự khác nhau ấy là nguồn gốc tạo ra
sự phân cực giàu nghèo, tạo sự bất bình đẳng trong xã hội Để giải quyết vấn đề này, các nước đã dùng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau trong đó thuế TNCN được xem như một công cụ hữu hiệu để điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội.Có thể nói rằng đây là vai trò đặc trưng và cơ bản nhất của thuế TNCN Sở dĩ như vậy là do thuế TNCN điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân cùng với tính chất lũy tiến của thuế TNCN đã thu hẹp được khoảng cách về thu nhập của các cá nhân có mức thu nhập cao và các cá nhân có thu nhập thấp
Theo Michel Bouvier, các sắc thuế trực thu trong đó có thuế TNCN có khả năng cá nhân hóa tốt hơn, việc đánh thuế có tính đến điều kiện và hoàn cảnh của người nộp thuế nên nó đảm bảo tính công bằng tốt hơn Tất nhiên khi đề cập đến vấn đề tính công bằng của thuế TNCN vẫn còn nhiều vấn đề tranh cãi khi những người có thu nhập càng cao sẽ phải nộp thuế nhiều hơn những người có thu nhập thấp khi thuế được áp dụng theo tính chất lũy tiến như hiện nay4
Tính công bằng của thuế TNCN còn được thể hiện ở chỗ nghĩa vụ thuế được
áp dụng trên cơ sở có tính đến điều kiện và hoàn cảnh sống của người nộp thuế Người nộp thuế không bị giới hạn về các khoản được giảm trừ hợp pháp như số lượng người phụ thuộc khi xác định giảm trừ gia cảnh; số lần tham gia từ thiện, nhân đạo, Như vậy, cùng có thu nhập bằng nhau nhưng các cá nhân có thể phải thực hiện nghĩa vụ thuế khác nhau nếu số lượng người phụ thuộc của họ không
4
Ths Trần Vũ Hải, Tìm hiểu thuật ngữ pháp luật tài chính công, Nxb Tư pháp, 2009 trang 222
Trang 20giống nhau Đây là một đặc điểm mà các loại thuế gián thu không thể tính đến được bởi nghĩa vụ thuế chỉ có thể phát sinh khi hành vi tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ xảy ra
Thứ ba, thuế TNCN là công cụ gắn liền với việc thực hiện chính sách kinh tế, chính sách xã hội của Nhà nước
Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu NSNN, thực hiện công bằng xã hội mà còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Thuế thu nhập cá nhân cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Loại thuế này điều tiết trực tiếp thu nhập cá nhân nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm.Từ đó cầu hàng hoá, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất
Ngoài ra để tiến hành thu thuế TNCN, Nhà nước cũng phải xây dựng một hệ thống hành thu thuế, từ đó sẽ đánh giá được tình hình thu nhập của dân cư cũng như thực trạng của nền kinh tế Từ những đánh giá đó mà Nhà nước có thể đưa ra các chính sách kinh tế khác phù hợp hơn như chính sách về việc làm, chính sách bảo hiểm, chính sách trợ cấp xã hội,…
Thứ tư, thuế TNCN góp phần giúp Nhà nước kiểm soát thu nhập, phát hiện thu nhập bất hợp pháp
Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những
kẽ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế , lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân… Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải
kể đến vai trò của thuế TNCN
Trang 21Tóm lại, Thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước Dù không phải là mục tiêu chủ yếu, song thực hiện phát triển chính sách thuế trực thu nói chung, thuế TNCN nói riêng chính là là việc tạo lập và phát triển nguồn thu vững chắc cho ngân sách nhà nước Cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, hội nhập và phát triển, thu nhập quốc dân đầu người ngày càng lớn thì khả năng huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập cá nhân sẽ ngày càng tăng Tuy nhiên, vì luật thuế TNCN và công tác quản lý còn nhiều hạn chế nên những vai trò này vẫn chưa thực sự được phát huy ở những nước chậm và đang phát triển
1.2 Khái quát pháp luật thuế thu nhập cá nhân
1.2.1 Khái niệm pháp luật thuế thu nhập cá nhân
Hoạt động thu - nộp thuế TNCN đối với cá nhân cư trú và không cư trú làm phát sinh quan hệ vật chất giữa Nhà nước cá nhân có thu nhập chịu thuế phát sinh
Để đảm bảo cho quá trình thu - nộp thuế một cách ổn định thì Nhà nước ban hành
hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình cá nhân hộ kinh doaanh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân cho Nhà nước Việt Nam khi có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: Pháp luật thuế TNCN là tổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và người nộp thuế là các cá nhân có thu nhập chịu thuế phát sinh nhằm hình thành nguồn thu ngân sách Nhà nước
Nói cách khác, pháp luật thuế TNCN bao gồm các quy định của pháp luật về xác định đối tượng nộp thuế là cá nhân cứ trứ và không cư trú, thu nhập chịu thuế, căn cứ tính thuế, chế độ kê khai thu nộp thuế, vấn đề đánh thuế trùng và thanh tra, khiếu nại về thuế…
Viêc ban hành pháp luật thuế TNCN nhằm góp phần vào việc đảm bảo được nguồn vật chất chi tiêu cho nhà nước; đảm bảo bao quát hết các nguồn thu
Trang 22trong xã hội; là công cụ phân phối đảm bảo công bằng cho các đối tượng nộp thuế; đảm bảo yêu cầu của các quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ kinh tế quốc tế trong từng thời kì
- Pháp luật thuế TNCN khá phức tạp, do đặc điểm là điều tiết thu nhập của dân cư, phạm vi điều chỉnh rất rộng, ngoài việc xác định thu nhập chịu thuế còn phải xác định thời điểm phát sinh thu nhập, nguồn gốc, địa điểm, thời hạn cư trú của đối tượng nộp thuế và các khoản chi phí được trừ trước khi tính thuế…
- Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế TNCN bao gồm luật quốc gia và luật quốc tế Thu nhập có thể phát sinh trên lãnh thổ quốc gia hay ngoài lãnh thổ, đối tượng nộp thuế có thể là công dân của quốc gia sở tại hay người nước ngoài Thuế TNCN có thể được điều chỉnh bởi hiệp định đánh thuế hai lần
1.2.2 Cấu trúc pháp luật thuế thu nhập cá nhân
Thực tế cho thấy rằng luôn luôn có sự khác nhau giữa các quốc gia trong việc thiết kế mô hình hệ thống pháp luật thuế
Có những nước quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật chung về thuế, gọi là Bộ luật thuế vụ Trong bộ luật này, các nhà làm luật vừa quy định về nội dung
cụ thể của các loại thuế trong hệ thống thuế, vừa quy định về trình tự, tủ tục và các
cơ chế quản lý thuế cũng như xử lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp về thuế
Ngược lại, có những nước lựa chọn giải pháp thiết kế mỗi loại thuế được ban hành bằng một đạo luật riêng, độc lập với nhau nhưng vẫn đảm bảo tính tính tương thích với nhau và đồng thời tách bạch các quy định về quản lý thuế bằng một đạo luật riêng so với các đạo luật thuế
Theo kinh nghiệm điều chỉnh bằng pháp luật đối với lĩnh vực thuế của nhiều nước trên thế giới, việc đa dạng hóa các sắc thuế dựa trên kết quả phân loại thuế của các nhà khoa học, chính là một trong những giải pháp tốt nhất để tạo ra một hệ thống pháp luật thuế hoàn hảo
Trang 23Trong bối cảnh thế giới đương đại, xu hướng chung của các nước là tìm cách ban hành ra những đạo luật riêng về từng loại thuế và cố gắng tách bạch các quy định về thuế, bằng cách ban hành một đạo luật riêng, gọi là Luật Quản lý thuế Giải pháp này được đánh giá là thích hợp hơn với điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu vì
nó cho phép nhà làm luật có thể sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh các quy định trong đạo luật thuế một cách dễ dàng hơn, so với việc đưa ra tất cả các quy định về thuế trong một Bộ luật chung về thuế
Việt Nam là một trong số quốc gia này, hệ thống pháp luật thuế của nước ta được cấu thành bởi hai bộ phận chính, bao gồm các quy định về nội dung của các thuế sắc trong luật thuế; các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện hệ thống thuế Như vậy, Pháp luật thuế TNCN có cấu trúc hai phần: Pháp luật về nội dung sắc thuế TNCN (Luật nội dung) và pháp luật về quản lý thuế (Luật hình thức)
* Bộ phận pháp luật quy định về nội dung chính sách thuế TNCN (Luật thuế TNCN):
Những quy định về nội dung của sắc thuế này thực chất là những quy định nhằm xác định ai là người nộp thuế và mức thuế mà họ phải nộp cho Nhà nước là bao nhiêu Những quy định này liên quan tới chủ thể nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế và được quy định rất đầy đủ, chi tiết trong Luật thuế TNCN
- Những quy định về chủ thể nộp thuế: Luật thuế TNCN đối tượng nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam
- Những quy định về căn cứ tính thuế có nhiệm vụ xác định rõ các chủ thể nộp thuế (cá nhân) phải nộp số tiền là bao nhiêu cho Nhà nước Những quy định này chỉ rõ các yếu tố cần và đủ để xác định mức thế cụ thể cho một chủ thể nộp thuế, khi xảy ra sự kiện làm phát sinh nghĩa vụ thuế Thu nhập chịu thuế bao gồm: Thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập
Trang 24từ trúng thưởng; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu nhập từ nhận thừa kế; thu nhập từ nhận quà tặng
Thu nhập tính thuế của cá nhân phát sinh trong kỳ tính thuế là thu nhập mà
cá nhân nhận được trong kỳ sau khi đã trừ thu nhập được miễn thuế như thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha, mẹ đẻ với con đẻ; cha, mẹ nuôi với con nuôi; cha, mẹ chồng với con dâu; cha, mẹ vợ với con rể; ông, bà nội với cháu nội; ông, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau; thu nhập từ kiều hối; thu nhập từ tiền lương hưu do Bảo hiểm xã hội chi trả; thu nhập từ học bổng, trừ các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp… và giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, các khoản giảm trừ mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác
Thuế suất: Luật thuế TNCN có hai biểu thuế suất:
- Biểu thuế lũy tiến từng phần: áp dụng thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công Có 7 mức thuế suất, thấp nhất là 5% và cao nhất là 35%
- Biểu thuế suất toàn phần: áp dụng thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ đẩu tư vốn, chuyển nhượng bất động sản, nhượng quyền thương mại, trúng thưởng, nhận thừa kế, quà tặng
* Bộ phận pháp luật về quản lý thuế TNCN
Các quy định trong luật quản lý thuế là những quy định về hình thức của pháp luật thuế, bởi nó có nhiệm vụ xác định trình tự, thủ tục thu thuế, thanh tra, kiểm tra thuế cũng như xử lý các vi phạm và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế, bao gồm các nhóm quy định cơ bản sau:
- Các quy định về đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán, truy thu
và hoàn thuế:
+ Đối tượng đăng ký thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh; cá nhân có thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN; tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu
Trang 25trừ và nộp thuế thay;tổ chức cá nhân khác theo quy định của pháp luật về thuế Theo
đó, cá nhân, tổ chức phải đăng ký mã số thuế và được cấp một lần duy nhất
+ Khai thuế: người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu của Bộ tài chính và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế Người nộp thuế phải
tự tính số thuế phải nộp, trừ trường hợp việc tính thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ
Việc thu nộp thuế TNCN sẽ thực hiện tự khai, tự nộp theo quy định của Luật quản lý thuế Vẫn có hai cách là khấu trừ tại nguồn phát sinh thu nhập hoặc tự khai,
tự nộp tại cơ quan thuế
Trên cơ sở đó, cơ quan thuế thực hiện việc thu thuế, cuối năm từng cá nhân
sẽ quyết toán thuế đối với các khoản thu nhập của mình Nếu số thuế phải nộp ít hơn số thuế đã nộp thì cá nhân được hoàn thuế Hồ sơ hoàn thuế bao gồm: Văn bản yêu cầu hoàn thuế; Các tài liệu liên quan đến yêu cầu hoàn thuế
Hồ sơ hoàn thuế được nộp tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc tại cơ quan hải quan có thẩm quyền hoàn thuế
Đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, truy thu, hoàn thuế là những hoạt động quan trọng trong quá trình thực hiện chức năng quản lý thuế của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Trước đây, các hoạt động này thường được thực hiện bằng các quyết định hoặc hành vi hành chính đơn phương của Nhà nước
và bất chấp thái độ của người nộp thuế Hiện nay, quy trình này về cơ bản đã được thay đổi theo hướng dành quyền chủ động tối đa cho người nộp thuế trong việc tự đăng ký thuế, tự kê khai, tính thuế và tự nộp thuế cho cơ quan Nhà nước Đây là bước đột phá quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính thuế ở Việt Nam Xét
từ phương diện pháp luật, các quy định này nhằm hướng tới mục tiêu mở rộng quyền năng cho người nộp thuế, đồng thời qua đó cũng đề cao ý thức trách nhiệm của họ trong quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước
Trang 26- Các quy định về thanh tra, kiểm tra thuế và xử lý vi phạm pháp luật thuế Đây là những quy định thể hiện rõ nhất vai trò, chức năng quản lý hành chính của Nhà nước đối với xã hội nói chung và đối với người nộp thuế nói riêng Cơ quan quản lý thuế chỉ tiến hành thanh tra, kiểm tra sau khi người nộp thuế đã tự thực hiện các thủ tục chính yếu của quá trình quản lý thuế như đăng ký, kê khai, tính thuế và nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế hay xin miễn thuế Dựa trên cơ sở kết quả thanh tra và kiểm tra cơ quan thuế có quyền áp dụng các chế tài xử lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật thuế Đối với các trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế thù có thể áp dụng các biện pháp trong thanh tra thuế
Căn cứ vào kết quả kiểm tra, thanh tra thuế, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế ra quyết định xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế
- Các quy định về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thuế
Các quy định về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thuế TNCN có mục tiêu làm rõ những vấn đề sau đây:
+ Nhận diện đầy đủ và chính xác các loại tranh chấp giữa cơ quan thuế với người nộp thuế phát sinh trong lĩnh vực thuế Có rất nhiều tranh chấp khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là tranh chấp về cơ sở tính thuế và số tiền thuế phải nộp
+ Xác định phương thức giải quyết tranh chấp giữa cơ quan thuế với người nộp thuế
Giải quyết tranh chấp về thuế bằng thủ tục hành chính trước hết và chủ yếu bao gồm việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính về thuế Ngoài ra, các tranh chấp về thuế cũng có thể được giải quyết bằng một số thủ tục hành chính đặc biệt như xin ân giảm thuế và giải quyết tranh chấp thông qua tư vấn trọng tài
1.2.3 Các yếu tố chi phối pháp luật thuế thu nhập cá nhân
Trang 27Thuế TNCN ra đời phải đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu đặt ra của Nhà nước và xã hội, do đó có rất nhiều yếu tố chi phối tới hệ thống pháp luật thuế này
Để xây dựng một hệ thống thuế TNCN hoàn thiện và đáp ứng đầy đủ các điều kiện đặt ra, các nhà làm luật phải xem xét đến rất nhiều yếu tố như:
- Thứ nhất, mục tiêu của Nhà nước, đường lối chủ trương của Đảng
Khi xây dựng một hệ thống thuế TNCN, Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra một loạt các mục tiêu, chính sách để phù hợp với nền kinh tế và hoạt động của Nhà nước:
Một là, đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư,
góp phần hạn chế khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội
Hai là, đảm bảo động viên một cách hợp lý thu nhập dân cư, khuyến khích mọi
cá nhân ra sức lao động, sản xuất kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng
Ba là, việc ban hành và áp dụng luật thuế TNCN có tính đến những bước đi
phù hợp với tình hình nước ta và thông lệ quốc tế; kế thừa có chọn lọc những quy định trong chính sách thuế hiện hành
Bốn là, đảm bảo huy động nguồn lực để Nhà nước giải quyết tốt hơn các
vấn đề xã hội
Luật thuế TNCN là một sắc thuế có độ nhạy cảm cao, nó đánh trực tiếp vào thu nhập của mỗi cá nhân do đó nếu không bảo đảm được sự công bằng thì rất dễ dẫn đến những mâu thuẫn khó xử lý và không thể điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư Việc quy định ngưỡng nộp thuế và thuế suất quá cao hay quá thấp đều không đảm bảo các mục tiêu đặt ra Nếu quá cao sẽ gây sự chống đối, chây ỳ, không chịu đóng thuế, thu qua nhiều sẽ làm ảnh hưởng tới đời sống nhân dân, không thúc đẩy kinh tế phát triển Ngược lại, nếu quá thấp sẽ không đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến hoạt động của bộ máy Nhà nước
-Thứ hai, thực trạng kinh tế - xã hội
Trang 28Nước ta là một trong những nước đang phát triển, có nền kinh tế hỗn hợp, phụ thuộc cao vào xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài nên chúng ta cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ của nền kinh tế thế giới Nền kinh tế nước ta chưa ổn định, đời sống nhân dân tăng nhưng chưa đồng đều, còn nhiều bấp bênh Việc thu thuế phải đảm bảo cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế hiện nay của đất nước, góp phần
ổn định kinh tế, mở ra nhiều chính sách thông thoáng cho nhân dân
Thu nhập bình quân đầu người: thu nhập bình quân đầu người là một trong những yếu tố quan trọng chi phối đến Luật thuế TNCN Nó có ý nghĩa lớn trong việc xác định ngưỡng chịu thuế, mức thuế suất và thời điểm áp dụng thuế cho hợp lý
-Thứ ba, yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế
Pháp lụât thuế nói chung và pháp luật thuế thu nhập cá nhân nói riêng ở mỗi quốc gia bao giờ cũng được xây dựng trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của chính quốc gia mình Tuy nhiên, do tác động của xu thế phát triển là cần mở cửa hợp tác và hội nhập kinh tế toàn cầu, các quốc gia muốn phát triển không thể đóng cửa, biệt lập với thế giới bên ngoài Để mở rộng hợp tác kinh tế với quốc gia và hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới các nước đều phải nỗ lực điều chỉnh chính sách, pháp luật của quốc gia mình cho phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực của luật pháp quốc tế Khi tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới các quốc gia đều đưa ra cam kết của mình với các tổ chức kinh tế quốc tế mà mình là thành viên Để thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế, các quốc gia đều phải sửa đổi hoàn thiện pháp luật để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện cam kết đó
Trong điều kiện nước ta đang xây dựng và hoàn thiện các thể chế của nền kinh tế thị trường thì việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng cần thiết phải tham khảo, tiếp thu có chọn lọc pháp luật thuế của các nước tiên tiến trên thế giới nhằm bảo đảm pháp luật thuế của Việt Nam nhanh chóng tiếp cận được chuẩn mực của quốc tế, đồng thời bảo đảm phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam
Trang 29Hiện nay, Việt Nam đã ký hiệp định tránh đánh thuế 2 lần với hơn 60(5) nước trên thế giới Chính vì vậy, Luật thuế TNCN phải thể hiện được tinh thần của các hiệp định tránh đánh thuế hai lần hoặc ít nhất cũng cần quy định các nguyên tắc áp dụng những hiệp định này trong việc xác định nghĩa vụ thuế của người nước ngoài
có thu nhập tại Việt Nam hoặc thu nhập của công dân Việt Nam ở nước ngoài, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư và người lao đông nước ngoài khi đến sinh sống và làm việc tại Việt Nam tạo động lực cho hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ tư, trình độ năng lực quản lý thuế của các cơ quan thuế
Trình độ năng lực quản lí của cơ quan thuế, cán bộ ngành thuế là một yếu tố quan trọng chi phối pháp luật thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng Trình độ năng lực quản lí của cơ quan thuế được thể hiện thông qua việc phân công, phân cấp quản lý, bố trí cán bộ, thông qua điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý thuế và kết quả đạt được trong hoạt động thực tiễn Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ công chức quản lý thuế thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng ứng dụng công nghệ tin học trong công việc, tính chuyên nghiệp hoá, chuyên môn hoá quản lí, thái độ và phong cách làm việc…Pháp luật thuế thu nhập cá nhân khi quy định về quy trình, thủ tục, cách thức thực hiện, thời gian giải quyết công việc liên quan đến các nội dung quản lý thuế phải dựa trên trình độ, năng lực thực tế và điều kiện cơ sở vật chất hiện có Mặt khác, để nâng cao trình độ quản lý thuế ở nước ta hiện nay, pháp luật thuế cần phải hoàn thiện nhằm giúp bộ máy quản lí thuế được tổ chức xây dựng hợp lí, khoa học hơn, phân công, phân cấp cụ thể rõ ràng, trách nhiệm quyền hạn được quy định cụ thể, đủ để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ; cán bộ được bố trí, phân công hợp lí theo hướng chuyên môn hóa đối với bộ phận nghiệp vụ, thực hiện quản lí thuế theo chức năng và có sự độc lập tương đối giữa các bộ phận để tạo sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau Đồng thời, pháp luật quản lý thuế phải xây dựng những khuôn mẫu và tiêu chuẩn chung của đội ngũ cán bộ thuế Bên cạnh đó công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, tác phong công tác của cán bộ quản
(5) http://www.gdt.gov.vn/wps/portal
Trang 30lí thuế được đặc biệt quan tâm để đáp ứng được yêu cầu quản lí trong tình hình phát triển mới của xã hội Ngoài ra, vấn đề đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý thuế cũng được quan tâm đúng mức Ở những nước có trình độ quản lý thuế tiên tiến, họ chú trọng phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các khâu quản lý thuế, vì thế việc thu thập, xử lý, cung cấp thông tin nhanh chóng, đầy
đủ, chính xác phục vụ có hiệu quả cho yêu cầu quản lý thuế Hầu hết các chức năng quản lý thuế đều được hiện đại hoá như: ứng dụng công nghệ tin học hiên đại vào việc tuyên truyền, hướng dẫn, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế; hệ thống ứng dụng xử lư tờ khai và kế toán thuế; hệ thống thông tin báo cáo chỉ đạo điều hành và phân tích dự báo thu NSNN Đặc biệt là hệ thống ứng dụng hỗ trợ cho công tác quản lý thu nợ thuế, thanh tra, kiểm tra thuế (do xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về tổ chức, cá nhân nộp thuế đầy đủ, tập trung, trên cơ sở các thông tin này, xây dựng các chỉ số phân loại đối tượng quản lý theo quy mô và đánh giá mức độ tuân thủ của tổ chức, cá nhân nộp thuế để lựa chọn đúng các truờng hợp cần kiểm tra, thanh tra với sự hỗ trợ cao của hệ thống công nghệ thông tin) Do được trang bị các phương tiện hiện đại, ứng dụng công nghệ tin học tiên tiến phục vụ cho công tác quản lí thuế nên hiệu quả của công tác quản lí thuế được nâng lên rõ rệt mà trước hết là tiết kiệm chi phí quản lí do tiết kiệm nguồn nhân lực, tiết kiệm được thời gian, các nghiệp vụ quản lí được thực hiện một cách chính xác, nhanh chóng và đầy đủ, tạo thuận lợi cho cả đối tượng nộp thuế và cơ quan quản lí thuế, cán bộ công chức ngành thuế…
Thứ năm, văn hoá tuân thủ thuế của người nộp thuế (hay còn gọi tinh thần
và đạo đức thuế của người dân)
Văn hoá tuân thủ thuế thể hiện ở nhận thức về trách nhiệm của người dân về nghĩa vụ thuế, ở ý thức chấp hành pháp luật thuế của người dân Văn hoá tuân thủ thuế là một yếu tố quan trọng trong việc xác định nội dung điều chỉnh của pháp luật Khi người dân có kiến thức, hiểu biết đầy đủ về pháp luật thuế có tinh thần đạo đức thuế tốt thì khi đó mới đảm bảo rằng họ tự giác thực hiện được đúng, đầy đủ nghĩa
vụ thuế của mình, họ thấy trách nhiệm của mình phải tham gia vào công tác quản lý
Trang 31thuế và mới giám sát quá trình thực hiện pháp luật thuế Trái lại, sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật thuế của người dân còn thấp thì tình trạng trốn thuế, lậu thuế còn diễn ra, những tiêu cực trong quản lý thuế vẫn còn có “đất”để tồn tại Do vậy, pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế thu nhập cá nhân nói riêng phải tính đến yếu tố này trong điều kiện ở nước ta hiện nay, khi ý thức trách nhiệm về nghĩa
vụ thuế, sự hiểu biết về các luật thuế và quy trình thủ tục tuân thủ của người dân còn hạn chế
Từ thực tế cho thấy, công tác tuyên truyền, tư vấn giải đáp thắc mắc về chính sách, pháp luật thuế cần được coi trọng mà trách nhiệm trước hết thuộc
về cơ quan thuế và các cơ quan nhà nước có liên quan Bên cạnh đó, cần coi trọng việc hoàn thiện bộ phận pháp luật về giám sát và bảo đảm tuân thủ pháp luật thuế nhằm giúp cơ quan thuế tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát để phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm khắc, kịp thời các hành vi gian lận, trốn lậu thuế, chiếm đoạt tiền thuế của nhà nước Có như vậy, mới tăng cường tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa những hành vi tiêu cực, bảo đảm cho pháp luật thuế được tôn trọng và thực thi nghiêm túc trên thực tế
Thứ sáu, mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật và thể chế có liên quan
Pháp luật về nội dung của mỗi sắc thuế là cơ sở, là tiền đề cho xây dựng pháp luật quản lý thuế Hệ thống pháp luật về nội dung sắc thuế nếu được quy định đơn giản, rõ ràng, ổn định, ít có ngoại lệ thì pháp luật quản lý thuế sẽ giảm tính phức tạp, quy trình, thủ tục triển khai thực hiện được dễ dàng, thuận tiện Có thể nói pháp luật về nội dung sắc thuế và pháp luật quản lý thuế có mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau Pháp luật về nội dung sắc thuế thay đổi thì pháp luật quản
lý thuế ít nhiều cũng thay đổi Xu hướng cải cách phát triển hệ thống thuế ở các nước đều cho thấy: Cải cách hệ thống thuế được kết hợp chặt chẽ và tương thích giữa pháp luật nội dung sắc thuế với công tác quản lý thuế Bởi vì, pháp luật về nội dung sắc thuế dù có tiên tiến đến đâu cũng không phát huy được tác dụng nếu thiếu
Trang 32vắng quy định của pháp luật quản lý thuế và ngược lại, cải cách công tác quản lý thuế cần được dựa trên nền tảng pháp luật về nội dung sắc thuế ổn định và rõ ràng
Pháp luật thuế thu nhập cá nhân còn có mối quan hệ và chịu sự chi phối của các các bộ phận pháp luật khác như: pháp luật về quản lý đất đai, quản lý đăng ký kinh doanh, quản lý xuất nhập cảnh, thanh toán không dùng tiền mặt, chế độ, chuẩn mực kế toán …pháp luật dân sự, pháp luật về tố tụng, pháp luật về thanh tra, pháp luật hình sự, pháp lụât hành chính v.v Vì vậy, khi ban hành, sửa đổi pháp luật thuế thu nhập cá nhân cần đảm bảo tính phù hợp và thống nhất với các bộ phận pháp luật trên
1.2.4 Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân ở một số nước
Thuế TNCN đầu tiên được áp dụng tại Hà Lan vào năm 1797, sau đó là Anh Quốc vào năm 1799 Một số nước tư bản phát triển khác cũng áp dụng thuế này như Ðức (1899), Hoa Kỳ (1903), Pháp (1916) Các nước Châu Á như: Thái Lan áp dụng (1939), Philipin (1945), Hàn Quốc (1948), In-đô-nê-xia (1949), Trung quốc (1984); Những nước Đông Âu thuộc các nền kinh tế chuyển đổi như Rumani (1990), Nga (1991), Ba Lan (1992) Hiện nay trên thế giới đã có khoảng 180 nước áp dụng thuế TNCN
Thuế TNCN là một hình thức thu quan trọng của NSNN, Hiện nay, ở các nước phát triển tỷ trọng thu ngân sách của thuế TNCN chiếm rất cao từ 30-40%, có nước trên 50% như Mỹ, Nhật, Canada, Autralia, Niudilan,…các nước đang phát triển chiếm từ 15-30% như Thái Lan, Malaixia,Philipin…
Sau đây, ta sẽ đi xem xét và nghiên cứu luật thuế TNCN ở một số nước trên thế giới Qua việc nghiên cứu này,ta sẽ rút ra được câu trả lời tại sao họ lại áp dụng như vậy, áp dụng được trong điều kiện hoàn cảnh nào Từ đó, căn cứ vào tình hình
cụ thể ở Việt Nam, chúng ta có thể đề ra được những biện pháp nhằm xây dựng tốt nhất Luật thuế TNCN
Về mức giảm trừ
Nhiều nước khi xây dựng mức giảm trừ chung đã có sự phân biệt về đặc điểm của người nộp thuế, ví dụ như người cao tuổi, người tàn tật được giảm trừ ở
Trang 33mức cao hơn so với người bình thường (Anh, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po…) hay là người có gia đình cũng được giảm trừ cao hơn so với người độc thân (Mỹ, Phi-líp-pin) Ở Trung Quốc, mức giảm trừ còn có sự phân biệt giữa cá nhân người nộp thuế
là người Trung Quốc và người nước ngoài, trong đó người nước ngoài có mức giảm trừ cao hơn Một số quốc gia không quy định mức giảm trừ cho người nộp thuế, song trong biểu thuế quy định mức thuế suất 0% cho thu nhập chịu thuế dưới một ngưỡng nhất định Bên cạnh đó, cũng có quốc gia vừa quy định mức thuế suất 0% vừa quy định mức giảm trừ cho người nộp thuế, Thái Lan và Ma-lai-xi-a và coi đây như là biện pháp để hỗ trợ cho người có thu nhập thấp6
Có quốc gia còn quy định ngưỡng thu nhập khi xác định mức giảm trừ mà đối tượng nộp thuế được hưởng, thu nhập càng cao thì mức giảm trừ cá nhân càng giảm (Mỹ, Anh) Đối với Anh, đối với người nộp thuế có thu nhập trên 100 nghìn Bảng/năm thì cứ mỗi Bảng thu nhập tăng thêm trên mức này, mức giảm trừ sẽ bị giảm 50 xu Theo đó, người có thu nhập trên 114,95 nghìn Bảng có mức giảm trừ bằng 0 (Anh quy định mức giảm trừ cho người nộp thuế đối với năm tài khóa 2011-
2012 là 7.475 Bảng, tương đương khoảng 12.100 USD)7 Điều này phần nào phản ánh thêm quan niệm về mức giảm trừ có sự khác biệt ở các quốc gia
- Các khoản giảm trừ cho người phụ thuộc: Là các khoản giảm trừ áp dụng cho những người mà đối tượng nộp thuế phải nuôi dưỡng (người phụ thuộc) Tuy nhiên, phạm vi người phụ thuộc của các nước cũng có sự khác biệt và có các tiêu chí khác nhau Mức giảm trừ quy định cho người phụ thuộc thường được quy định thấp hơn so với mức giảm trừ cho cá nhân người nộp thuế (tương tự như Việt Nam) Song cũng có nước quy định mức giảm trừ cá nhân cho người nộp thuế cũng tương
tự như người phụ thuộc (Anh và Mỹ) Nhiều nước khống chế số lượng người phụ thuộc được tính giảm trừ (Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a ), song cũng có nước không khống chế (Mỹ, Anh) Cũng có nước không quy định riêng mức giảm
(6) Thu nhập chịu thuế dưới 150 nghìn Baht ở Thái Lan và dưới 2.500 RM ở Ma-lai-xia được áp dụng mức thuế suất 0%.
(7) Nguồn: Stuart Adam and James Browne (2011) “A Survey of the UK Tax System”, Institute for Fiscal Studies
Trang 34trừ cho người phụ thuộc và cho cá nhân người nộp thuế mà quy định một mức chung (Trung Quốc…)
Về quy mô các khoản được giảm trừ
Phương thức quy định về mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế cũng rất khác nhau giữa các quốc gia Có quốc gia quy định một mức cứng tương tự như Việt Nam ( Trung Quốc, Ác-hen-ti-na ), nhưng có quốc gia quy định theo tỷ lệ phần trăm (%) thu nhập và khống chế mức giảm trừ tối đa (Thái Lan, Hàn Quốc ) Quy mô của các khoản giảm trừ được các nước thiết kế chủ yếu dựa vào quan điểm của từng nước trong chính sách động viên về thuế TNCN và thường không dựa vào một công thức cụ thể nào Theo một thống kê của IMF, quy mô các khoản giảm trừ (so với GDP bình quân đầu người) của các nước phát triển thường thấp hơn so với các nước đang phát triển
So với GDP bình quân đầu người, quy mô các khoản giảm trừ cho người nộp thuế và mỗi người phụ thuộc ở các nước cũng rất khác nhau, song nh́n chung thường nhỏ hơn 1 lần Ở In-đô-nê-xi-a, so với GDP bình quân đầu người năm 2011, mức giảm trừ cho cá nhân mỗi người nộp thuế tương đương 0,527 lần và mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc tương đương 0,044 lần Hệ số này tương ứng đối với Ma-lai-xi-a là 0,312 lần (người nộp thuế là người tàn tật có hệ số cao hơn) và 0,035 lần (đối với con đang học phổ thông) và 0,138 lần (đối với con đang học phổ thông) Ở Thái Lan, tổng các khoản giảm trừ tối đa mà người nộp thuế được hưởng bằng khoảng 0,526 lần so với GDP bình quân đầu người của nước này(8) Kể từ ngày 1/9/2011, mức giảm trừ cho cá nhân mỗi người nộp thuế của Trung Quốc là 3.500 NDT/tháng hay 42.000 NDT/năm (trước đó là 2000 NDT/tháng), tương đương khoảng 1,23 lần GDP bình quân đầu người(9)
(8)
Số liệu GDP bình quân đầu người của các nước được tính cho năm 2011 từ cơ sở dữ liệu của Quỹ Tiền tệ
quốc tế “World Economic Outlook database”
(9) Theo Luật thuế TNCN của Trung Quốc thì mức giảm trừ cho người nước ngoài được quy định cao hơn
Trang 35Những năm gần đây, nhiều nước đã thực hiện cắt giảm mức thuế suất, kể cả mức thuế suất luỹ tiến cao nhất và mức thuế suất thấp nhất trong Biểu thuế để nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước, thu hút được lao động có kỹ thuật cao từ bên ngoài (In-đô-nê-xi-a, Singapore, Ma-lai-xi-a, Ba Lan, Cộng hòa Séc ) Cá biệt có một số quốc gia nhất đã thực hiện cải cách chính sách thuế TNCN của mình theo hướng xoá bỏ biểu thuế luỹ tiến và chuyển sang áp dụng duy nhất một mức thuế suất thuế TNCN với mức khá thấp, nhất là các nước thuộc Liên Xô
cũ và Đông Âu Ví dụ, Nga áp dụng một mức thuế suất là 13%, Cộng hòa Séc một
(11)“KPMG’s Individual Income Tax and Social Security Rate Survey 2013”, OECD (2013) “Tax Database”
và tổng hợp Ghi chú: Mức thuế suất nói trên là mức thuế suất trung ương (một số quốc gia còn có thuế
TNCN địa phương)
Trang 36Về thu nhập chịu thuế và thu nhập được miễn thuế
Nhìn chung quy định về thu nhập chịu thuế của các quốc gia là tương đối tương đồng, bao quát các loại thu nhập như: thu nhập từ tiền lãi; thu nhập từ cổ tức; thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ tiền lương hưu; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bất động sản; thu nhập từ cho thuê tài sản và thu nhập khác (thừa kế, quà tặng, tiền bản quyền )
Phạm vi các khoản thu nhập được miễn thuế cũng có sự khác biệt giữa các nước Bên cạnh việc cho phép miễn thuế đối với một số khoản thu nhập (theo điều ước quốc tế, thu nhập từ giải thưởng ), một số quốc gia còn có quy định cho phép miễn thuế đối với một số khoản phụ cấp, trợ cấp không mang tính chất tiền lương, tiền công Ví dụ, Trung Quốc cho phép miễn thuế đối với trợ cấp thôi việc đối với người lao động hay trợ cấp xuất ngũ đối với quân nhân, trợ cấp định cư đối với cán bộ, công chức nhà nước…
Ngoài ra, một số quốc gia còn có quy định thêm một số khoản thu nhập được miễn thuế có tính chất đặc thù, tùy thuộc vào định hướng chính sách của mỗi nước, (ví dụ có nước cho phép miễn thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn Nam Phi, Ác-hen-ti-na ), thu nhập từ các chương trình tiết kiệm nhà ở dài hạn (Hàn Quốc) hoặc là có doanh nghiệp không thu thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn (Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po ) Một số nước còn cho phép thu nhập của
hộ gia đình sản xuất nông nghiệp (trong phạm vi nhất định) được miễn thuế (như Hàn Quốc) Một số quốc gia cho phép thu nhập từ việc chuyển nhượng một nhà, đất duy nhất được miễn thuế (Việt Nam, Hàn Quốc, Australia) để khuyến khích việc các hộ gia đình cải thiện điều kiện nhà ở
chi trả và khoản đóng góp vào quỹ hưu trí tự nguyện
Về chính sách TNCN đối với thu nhập từ tiết kiệm hưu trí, tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho thấy có hai phương thức thông dụng được các nước áp dụng hiện nay Phương thức thứ nhất là: “miễn thuế – miễn thuế – đánh thuế” hay là
Trang 37“đánh thuế - miễn thuế – miễn thuế” Theo phương thức này thì cả phần thu nhập dùng để đóng góp cho quỹ và lãi thu được từ quỹ được miễn thuế song thu thuế đối với những khoản lợi ích được hưởng khi rút tiền ra khỏi quỹ Phương thức thứ hai là
“đánh thuế - miễn thuế – miễn thuế, theo đó các khoản đóng góp không được khấu trừ khi xác định thu nhập tính thuế TNCN nhưng tiền lãi và những khoản lợi ích cá nhân được hưởng khi rút tiền ra khỏi quỹ đều được miễn thuế
Nhiều nước trên thế giới để khuyến khích tiết kiệm hưu trí đã đưa vào triển khai các chính sách thuế TNCN thuận lợi nhằm đảm bảo các cá nhân trong quãng thời gian đi làm của mình tích lũy đủ tiền để yên tâm khi về hưu, trong
đó có việc cho miễn hoàn toàn đối với các khoản đóng góp cho quỹ Ví dụ, Luật thuế TNCN của Trung Quốc cho phép các khoản đóng góp vào quỹ hưu trí được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế Các nước như Thái Lan, Hàn Quốc, Ma-rốc cũng có quy định tương tự cho phép giảm trừ các khoản đóng góp tham gia các quỹ hưu trí ra khỏi thu nhập khi tính thuế TNCN
Từ những tóm tắt về nội dung công tác quản lý thuế TNCN ở một số nước em vừa trình bày ở trên, ta thấy một số nét đặc trưng cơ bản sau đây:
- Mức giảm trừ đối với một số đối tượng sẽ cao hơn mức giảm trừ thông thường như đối với người già, người neo đơn
- Bên cạnh đó quy định theo tỷ lệ phần trăm (%) thu nhập vŕ khống chế mức giảm trừ tối đa
- Miễn thuế thu nhập của hộ gia đình sản xuất nông nghiệp trong phạm vi nhất định
- Biểu thuế suất các nước có số bậc rất khác biệt Nhưng nói chung là các quốc gia đều đang có xu thế giảm bớt số bậc thuế suất xuống Mức thuế suất cao nhất dao động quanh mức 30%, so với trước đây thì mức thuế suất cao nhất có giảm đi nhiều
Trang 381.3 Tiêu chí đánh giá tính hiệu quả pháp luật thuế thu nhập cá nhân
1.3.1 Khái niệm tính hiệu quả của pháp luật thuế thu nhập cá nhân
Tính hiệu quả của pháp luật thuế TNCN thể hiện thông qua việc không gây ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến cố gắng lao động, lựa chọn nghề nghiệp nói riêng cũng như phân bố các nguồn lực xã hội nói chung, khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp, qua đó thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển Hệ thống pháp luật thuế TNCN được coi là có hiệu quả khi không hoặc chỉ can thiệp ở mức thấp nhất tới các quyết định kinh tế và sự phân bố nguồn lực xã hội
Như vậy,tínhhiệu quả của pháp luật thuế TNCN là kết quả thực tế đạt được do sự điều chỉnh, tác động của pháp luật thuế TNCN mang lại, trong những phạm vi và điều kiện nhất định, biểu hiện ở trạng thái của các quan hệ xã hội, phù hợp với những mục đích, yêu cầu và định hướng của pháp luật thuế TNCN với mức chi phí thấp
Trong khái niệm tính hiệu quả của pháp luật bao hàm tất cả những gì phản ánh khả năng tác động tốt nhất, nhiều nhất của pháp luật thuế TNCN lên các quan hệ xã hội, phản ánh sự hiện thực hoá những giá trị của pháp luật mà nhà làm luật dự tính khi ban hành pháp luật Đó là sự kết hợp giữa khả năng và hiện thực tác động của pháp luật thuế TNCN trong đời sống xã hội
1.3.2 Các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả pháp luật thuế thu nhập cá nhân
Do có nhiều cách tiếp cận về hiệu quả của pháp luật thuế TNCN nên các tiêu chí để đánh giá hiệu quả của pháp luật cũng rất đa dạng Dưới đây là những tiêu chí cơ bản cần xác định khi đánh giá hiệu quả của pháp luật thuế TNCN là:
Thứ nhất, đáp ứng được mục đích, yêu cầu, phương hướng của pháp
luật như tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, điều tiết kinh tế, điều hoà thu nhập xã hội.Tạo động lực cho phát triển kinh tế-xã hội thông qua việc quy định mức thu phù hợp với cấu trúc phân bổ thu nhập và mức thu nhập của các tầng lớp dân
cư, điều tiết thu nhập một cách hợp lý, khuyến khích làm giàu hợp pháp và tránh
Trang 39gây ra tác động tiêu cực đến nỗ lực lao động của các tầng lớp dân cư Bảo đảm công bằng xã hội thông qua việc quy định đối tượng chịu thuế bao quát mọi khoản thu nhập và mọi cá nhân có thu nhập kết hợp với việc quy định các khoản khấu trừ, miễn giảm một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội đất nước qua từng thời kỳ
Thứ hai,chất lượng của pháp luật Chất lượng của pháp luật cần được
ở cả hình thức và nội dung của nó Về hình thức bên ngoài, chất lượng của pháp luật thể hiện chủ yếu ở chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật Các văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, có hình thức, kết cấu, bố cục chặt chẽ Về hình thức cấu trúc, chất lượng của pháp luật thể hiện ở mỗi bộ phận của hệ thống pháp luật phải bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ, sự phù hợp và trình độ
kỹ thuật pháp lý cao, có kết cấu đầy đủ cân đối và khoa học, được biểu đạt rõ ràng,
dễ hiểu, không mâu thuẫn, chồng chéo Về nội dung, chất lượng của pháp luật thể hiện ở các quy định pháp luật được ban hành phải phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội của đất nước ở mỗi thời kỳ phát triển Ngoài ra còn phải
kể tới mức độ phù hợp của pháp luật với các công ước, điều ước và thông lệ quốc tế
mà quốc gia tham gia hoặc ký kết Các phương pháp điều chỉnh pháp luật được sử dụng thích hợp, các mục đích, yêu cầu và định hướng đề ra cho pháp luật luôn có tính khả thi
Thứ ba, pháp luật thuế TNCN phải đảm bảo tính rõ ràng, dễ hiểu, dễ
thực hiện, dễ kiểm tra, giám sát Một hệ thống pháp luật thuế muốn thực sự phát huy được tính hấp dẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu rõ ràng, minh bạch trong các quy định của pháp luật Nói cách khác, quy định của pháp luật phải cụ thể, không được chung chung; từ ngữ sử dụng dễ hiểu và mọi người đều có thể hiểu một cách thống nhất Có như vậy, người dân có tự giác thì mới có thể thực hiện đúng đắn, nghiêm túc và triệt để sẽ không xảy ra tình trạng gian lận, trốn thuế Khi pháp luật thuế TNCN đảm bảo được yêu cầu đơn giản, rõ ràng sẽ đảm bảo được tính dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, giám sát Nhờ vậy pháp luật thuế TNCN mới có thể phát huy hết vai trò, nhiệm vụ của mình và đạt hiệu quả như mong muốn
Trang 40Thứ tư, tính hiệu quả của pháp luật thuế TNCN còn thể hiện ở việc
đảm bảo cân đối giữa khả năng chịu thuế và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, hay số thu của thuế đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước nhưng không được để cho người nộp thuế lâm vào tình trạng khốn cùng Đứng trên khía cạnh này, tính hiệu quả của pháp luật thuế TNCN đồng nghĩa với “tính trung lập” của thuế
Thứ năm, mức chi phí cho việc đạt được kết quả thực tế Tiêu chí
này được xác định nhằm đánh giá chất lượng của những hoạt động để đạt được các kết quả thực tế Tất cả những chi phí cho quá trình điều chỉnh pháp luật để đạt được mục đích đề ra đều cần ở mức thấp nhưng phải bảo đảm cho pháp luật thuế TNCN phát huy tác dụng ở mức cao nhất, kết quả thực tế tác động thu được phải lớn nhất Những chi phí cho các hoạt động pháp luật thuế TNCN có thể là của Nhà nước, các cơ quan Nhà nước và cũng có thể là của những đối tượng nộp thuế Chi phí cho quá trình điều chỉnh pháp luật còn có thể là những phí tổn, những thiệt hại
do chính sự tác động của các quy phạm pháp luật gây ra cho nhà nước, xã hội hoặc mỗi người dân Thông thường thì các quy phạm pháp luật bên cạnh những ưu điểm, những lợi ích mà chúng mang lại, chúng còn có thể có những hạn chế, những tác hại nhất định, do vậy trong mọi trường hợp khi ban hành, sửa đổi hay huỷ bỏ bất kỳ một quy định pháp luật nào đó cũng cần phải tính toán được trước những lợi ích mà nó mang lại, những chi phí cho hoạt động đó và cả những tác hại, những ảnh hưởng không tết có thể có do việc ban hành, sửa đổi hay huỷ bỏ qui định pháp luật đó để kịp thời có những biện pháp ngăn ngừa và khắc phục Trong trường hợp không thể ngăn ngừa khắc phục được thì phải quán triệt nguyên tắc là việc ban hành, sửa đổi hay huỷ bỏ quy định hoặc văn bản pháp luật đó phải
có lợi nhiều hơn là có hại thì mới nên tiến hành
Tóm lại, đối với Việt Nam, vấn đề hiệu quả của pháp luật thuế nói chung,
pháp luật thuế TNCN nói riêng không những để bắt kịp trào lưu của thế giới mà thực sự đã trở thành một vấn đề cấp bách Nghệ thuật thiết kế một hệ thống pháp luật thuế TNCN chính là đáp ứng được các tiêu chí đánh trên một cách tối ưu nhất