1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế từ thực tiễn tỉnh sơn la

110 83 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua thanh tra, kiểm tra giúp cho các cơ quan nhà nước tăng cường hiệu lực các quyết định quản lí, thấy được những thiếu sót yếu kém, những điểm chưa phù hợp, thiếu đồng bộ trong hệ thống

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ TỪ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

TỪ THỰC TIỄN TỈNH SƠN LA

THÁI THỊ KIM NGÂN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ NGÀNH: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS VŨ VĂN CƯƠNG

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài luận văn nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy TS Vũ Văn Cương - Trường Đại học Luật Hà Nội, các luận điểm, dẫn chứng, số liệu nêu trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực./

Tác giả luận văn

Thái Thị Kim Ngân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Khoa đào tạo sau đại học - Viện Đại học Mở Hà Nội và các thầy cô đã giúp đỡ tôi trang bị kiến thức, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới thầy TS

Vũ Văn Cương - Trường Đại học Luật Hà Nội, người đã chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện việc nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí công chức ngành thuế, phòng thanh tra, kiểm tra thuế đã chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu cũng như tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã động viên, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thiện luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Thái Thị Kim Ngân

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 01

1 Tính cấp thiết của đề tài 01

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 02

3 Mục đích nghiên cứu 03

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 04

5 Phương pháp nghiên cứu 04

6 Cơ cấu của luận văn 05

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ VÀ PHÁP LUẬT THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ……….……… 06

1.1 Những vấn đề lý luận về thanh tra, kiểm tra thuế……… 06

1.1.1 Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế 06

1.1.2 Nguyên tắc, mục tiêu và vai trò của thanh tra, kiểm tra thuế 12

1.2 Khái quát về pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế…… ………… 14

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế 14

1.2.2 Cấu trúc của pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế 17

1.3 Đánh giá khái quát về thực trạng pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế ở Việt Nam hiện nay 19

1.3.1 Quy định của pháp luật về nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế 20

1.3.2 Quy định của pháp luật về tổ chức hệ thống thanh tra, kiểm tra thuế.23 1.3.3 Quy định về quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế 26

1.3.4 Quy định về hoạt động kiểm tra thuế 28

1.3.5 Quy định về hoạt động thanh tra thuế 35

Chương 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ Ở SƠN LA VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 47

2.1 Thực trạng thực hiện pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế ở tỉnh Sơn La Nam hiện nay 47

2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội – tình hình chấp hành pháp luật thuế trên địa bàn tỉnh Sơn La 47

Trang 7

2.1.2 Thực trạng thực hiện pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế trên địa bàn Tỉnh Sơn La 52

2.1.3 Kết quả, tồn tại và nguyên nhân của công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp ở Cục thuế tỉnh Sơn La 58

2.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp pháp luật và các biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật kiểm tra thanh tra thuế 74

2.2.1 Những định hướng cơ bản trong hoàn thiện pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế 74

2.2.2 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế

ở Việt Nam hiện nay ……… 78

2.2.3 Những giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế 86

KẾT LUẬN ……… 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế là công cụ chủ yếu tạo lập nguồn thu NSNN đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung Nhà nước và xã hội Thuế là công cụ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết nhiều vấn đề xã hội của đất nước Với vai trò như vậy, các Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác quản lí thuế, một hoạt động không thể thiếu trong việc quản lí nền kinh tế - tài chính của đất nước

Quản lý thuế của Việt Nam hiện nay là quản lý theo chức năng, tổ chức bộ máy thuế được chia theo 4 chức năng chính: Tuyên truyền hỗ trợ; kê khai và kế toán thuế; thanh tra, kiểm tra thuế; quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế Trong

đó, công tác thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động quan trọng quản lý tài chính nói chung và hoạt động quản lý thuế nói riêng Thanh tra, kiểm tra thuế nhằm kịp thời phát hiện và xử lí các sai phạm trong lĩnh vực thuế; ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm pháp luật thuế; chống thất thu ngân sách nhà nước… Đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nước ta đang thực hiện cải cách công tác quản lí thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế Đây là cơ chế quản lý thuế tiên tiến, hiện đại dựa trên ý thức tuân thủ tự giác của người nộp thuế thì vai trò thanh tra, kiểm tra thuế càng phải đặt lên hàng đầu Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai, tự nộp thuế của người nộp thuế, cơ quan thuế thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế, giúp người nộp thuế nhận thấy luôn có hệ thống giám sát, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật thuế của họ

Trước những yêu cầu thực tiễn đó, đòi hỏi pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế phải được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế nói chung và ở từng địa phương nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế

Trang 9

Trong những năm qua, công tác thanh tra, kiểm tra thuế luôn được chính quyền và ngành thuế Sơn La quan tâm, chú trọng Qua công tác thanh tra, kiểm tra,

đã chấn chỉnh việc thực hiện nghiêm các qui trình nghiệp vụ và kỷ cương kỷ luật thực thi công vụ trong ngành; chấn chỉnh việc thực hiện nghiêm các chính sách pháp luật thuế Đồng thời đề nghị các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách thuế phù hợp Nhờ công tác thanh tra, kiểm tra thuế ở Cục thuế Sơn La trong những năm gần đây đã đạt được những kết quả khá tốt, giúp cho người nộp thuế thực thi thực hiện đúng luật, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các vi phạm, hạn chế thấp nhất những hành vi trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế trên địa bàn tỉnh góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ thu NSNN Tuy nhiên, bên cạnh đó việc công tác thanh tra, kiểm tra thuế trên địa bàn tỉnh Sơn La còn gặp nhiều khó khăn, bất cập

do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau…để nâng cao hiệu quả quản lý thuế trên địa bàn tỉnh Sơn La rất cần có nghiên cứu đánh giá về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật thanh tra kiểm tra thuế để tìm ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế bảo đảm thực thi có hiệu quả pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế nói chung và địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng Xuất phát từ suy nghĩ đó

tôi chọn và thực hiện đề tài luận văn cao học của mình là: “Pháp luật về thanh

tra, kiểm tra thuế từ thực tiễn tỉnh Sơn La” để nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua nghiên cứu và tìm hiểu, hiện nay hoạt động thanh tra và kiểm tra thuế

đã bước đầu được nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, cụ thể:

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của Đoàn thanh tra - Thanh tra Chính phủ” do ThS Bùi Ngọc Lam - Cục trưởng Cục II, Thanh tra Chính phủ làm Chủ nhiệm, Thanh tra Nhà nước, năm 2009

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do Nguyễn Thái Hồng - Phó Vụ trưởng Vụ III, Thanh tra Chính phủ làm Chủ nhiệm, Thanh tra Nhà nước, năm

2009

Trang 10

- Đề tài cấp cơ sở: “Một số giải pháp nhằm hạn chế trùng lắp, chồng chéo trong hoạt động thanh tra” do Lê Đức Trung, Phó trưởng phòng Quản lý Khoa học, Viện Khoa học Thanh tra làm chủ nhiệm, năm 2011

- Luận văn thạc sỹ kinh tế: “Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo chương trình cải cách và hiện đại hoá ngành thuế ở Việt Nam đến năm 2010” của tác giả Phạm Thuý Hồng - Học viện Tài chính - năm 2007

- Luận án tiến sĩ : “Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở

Việt Nam- Những vấn đề lý luận và thực tiễn”; Vũ Văn Cương – Trường Đại học

Luật Hà Nội - năm 2012

- Bài tạp chí “Pháp luật về kiểm tra, thanh tra thuế ở Việt Nam và một số bình luận”; Tác giả Vũ Văn Cương – Vũ Ngọc Hà; Tạp chí Luật học số 04/2009

Các đề tài, bài viết đã đề cập đến nhiều khía cạnh của thanh tra, kiểm tra nói chung và thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng Tuy nhiên, đa số các đề tài nghiên cứu chỉ phân tích, lý giải các vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động thanh tra dưới góc độ kinh tế Thực tế vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập một cách có hệ thống về pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế

Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế ở nước ta hiện nay để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý thuế

3 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ những vấn đề pháp lý cũng như cơ sở lý luận của những quy định của pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế một cách có hệ thống, đầy đủ và toàn diện; nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về thanh tra, kiểm tra, những điểm tiến bộ mà Việt Nam cần học hỏi

- Nghiên cứu thực trạng của việc áp dụng pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế

ở nước ta và đưa ra nhận xét, đánh giá những điểm chưa phù hợp và những vấn

Trang 11

đề bất cập trong việc áp dụng quy định pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế trong thực tiễn

- Kiến nghị nhằm khắc phục và hoàn thiện pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế ở nước ta trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề lý luận về hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế và pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật của thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan thuế ở Việt Nam và thực tiễn thi hành pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế ở tỉnh Sơn La (không bao gồm các quy định liên quan đến hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan hải quan) Trên cơ

sở đó tìm kiếm, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế ở Việt Nam và các biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế ở tỉnh Sơn La nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế trong cả nước nói chung và ở tỉnh Sơn La nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

(i) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin;

(ii) Một số phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Phương pháp phân tích, bình luận, diễn giải, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử… được sử dụng trong chương 1 khi nghiên cứu khái niệm về thanh tra, kiểm tra thuế và pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế nhằm (i) nên lên cách hiểu tổng quan nhất về thanh tra, kiểm tra thuế, đặc điểm cũng như sự phân biệt giữa hai hoạt động này; (ii) tìm hiểu nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế từ đó tìm hiểu thực trạng của những bộ phận pháp luật này

Phương pháp so sánh luật học, phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá được sử dụng trong chương 2 khi tìm hiểu thực trạng pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế nhằm (i) làm rõ những quy định của pháp luật trước kia và hiện hành về hoạt

Trang 12

động này; (ii) chỉ ra những điểm đạt được và chưa đạt được của pháp luật để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật

6 Cơ cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu và Phần kết luận, luận văn được cơ cấu thành 02 chương với các nội dung cụ thể như sau:

Chương 1 Tổng quan về thanh tra, kiểm tra thuế và pháp luật thanh tra,

kiểm tra thuế

Chương 2 Thực trạng thực hiện pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế ở

Sơn La và các giải pháp hoàn thiện

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ VÀ PHÁP LUẬT THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ 1.1 Những vấn đề lý luận về thanh tra, kiểm tra thuế

1.1.1 Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế

Thanh tra, kiểm tra là một khâu không thể thiếu trong hoạt động quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng, “ở đâu có quản lý thì ở đó có thanh tra, kiểm tra” Tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra có nghĩa là tiến hành việc nghiên cứu, thu thập số liệu, đánh giá hoạt động quản lí và mục đích cuối cùng là tìm hiểu kết quả tác động của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí, so với những nguyên tắc của hoạt động chấp hành và những nguyên nhân dẫn đến những sai sót

đó, đồng thời xác định phương hướng khắc phục những trở ngại hiện đang ảnh hưởng tới hoạt động có hiệu quả của cả hệ thống quản lí Qua thanh tra, kiểm tra giúp cho các cơ quan nhà nước tăng cường hiệu lực các quyết định quản lí, thấy được những thiếu sót yếu kém, những điểm chưa phù hợp, thiếu đồng bộ trong hệ thống luật lệ, các chính sách ban hành đúng hay sai, việc thực hiện các chính sách pháp luật của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, cá nhân là tốt hay xấu; mức độ

vi phạm và nguyên nhân để xử lí và có biện pháp nhằm phát huy nhân tố tích cực

có hiệu quả, phòng ngừa các vi phạm góp phần hoàn thiện cơ chế quản lí và tăng cường pháp chế XHCN

* Khái niệm thanh tra thuế

Theo từ điển tiếng Việt, thanh tra là “kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm

c ủa địa phương, cơ quan, xí nghiệp 1 ” Với nghĩa này, thanh tra bao gồm cả kiểm soát nhằm xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định, là một

“loại hình đặc biệt của kiểm tra2”

Theo Giáo trình Nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính, “Thanh tra thuế là

hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành

1

Từ điển Tiếng Việt (2002), Nxb Khoa học xã hội

2 Tổng cục Thuế (2005), Báo cáo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 1999 – 2005, Hà Nội

Trang 14

vi trái pháp luật3''

Theo giáo trình Nghiệp vụ công tác thanh tra: “Thanh tra là một chức năng

thi ết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá, xử lý của cơ

quan qu ản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ

quan, t ổ chức, cá nhân; được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình

t ự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi

ph ạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để

ki ến nghị các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao

hi ệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các

quy ền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân 4 ”

Điều 3 Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 đưa ra khái niệm: “Thanh tra nhà

n ước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách,

pháp lu ật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhà

n ước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành”

Theo các định nghĩa của pháp luật Việt Nam, thanh tra tồn tại khi có Nhà nước, vừa là chức năng, vừa là công cụ quản lý nhà nước Hoạt động thanh tra mang tính quyền lực nhà nước, thực hiện sự tác động của cơ quan quản lý nhà nước lên đối tượng quản lý Cho dù được nhìn nhận dưới hình thức nào, thì thanh tra cũng là hoạt động nhân danh quyền lực công, tác động đến đối tượng quản lý

để phát hiện tốt – xấu, bảo vệ pháp luật và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Từ phân tích trên có thể hiểu khái niệm thanh tra thuế như sau:

Thanh tra thu ế là một chức năng thiết yếu trong quản lý thuế, là hoạt động

xem xét vi ệc tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế được cơ quan thuế thực

hi ện theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá

ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm pháp

lu ật về thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, chính sách thuế, pháp luật

3 Học viện tài chính (2008), Giáo trình Nghiệp vụ thuế, NXB Tài chính, Hà Nội.tr.237

4 Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, tr.523

Trang 15

thu ế, phòng ngừa và xử lý các vi phạm pháp luật thuế, bảo vệ lợi ích của Nhà

n ước, các quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế

* Khái niệm kiểm tra thuế

Theo Từ điển Tiếng Việt, kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét5” Xét về chủ thể thì phạm vi chủ thể tiến hành hoạt động kiểm tra

đa dạng hơn thanh tra rất nhiều Chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc cũng có thể là một chủ thể phi Nhà nước (Đảng, Công đoàn, Mặt trận, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ…), hoạt động kiểm tra trong nội bộ một doanh nghiệp: kiểm tra của Giám đốc đối với các phòng, ban, kiểm tra của quản đốc đối với người lao động Trên một bình diện rộng hơn nữa, kiểm tra có thể là sự xem xét thực tế để đánh giá, nhận xét của bất kỳ một cá nhân nào trong xã hội trong bất cứ một hoạt động nào Như vậy, kiểm tra cũng xuất hiện trước thanh tra và xuất hiện trước khi có sự ra đời của Nhà nước Có thể nói, kiểm tra sẽ tồn tại cùng với loài người

Tuy nhiên, rõ ràng là giữa kiểm tra và thanh tra có một mảng giao thoa về chủ thể, đó là Nhà nước Nhà nước tiến hành cả hoạt động kiểm tra và hoạt động thanh tra Bởi vì, kiểm tra và thanh tra đều là một chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính chất “phản hồi” của chu trình quản lý Qua thanh tra và kiểm tra người ta có thể phân tích, đánh giá, theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đã đề ra

Từ điển Luật học định nghĩa: “kiểm tra là xem xét tình hình thực tế thi

hành pháp lu ật, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét” Cụ thể hơn, dưới khía cạnh pháp luật thuế, giáo

sư Michel Bouvier quan niệm “kiểm tra thuế là hoạt động nhằm xem xét tính

trung th ực, tính chính xác của cơ sở tính thuế mà người nộp thuế đã kê khai 6

Theo Luật quản lý thuế hiện hành ở Việt Nam: Kiểm tra thuế là công việc thường xuyên mang tính nghiệp vụ của cơ quan quản lý thuế được thực hiện ngay tại trụ sở cơ quan thuế dựa trên hồ sơ khai thuế của người nộp thuế Việc kiểm tra

5 Từ điển Tiếng Việt (2002), Nxb Khoa học xã hội

6 Michel Bouvier (2005), Nhập môn Luật Thuế đại cương và lý thuyết thuế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

tr.153

Trang 16

thuế được thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế chỉ thực hiện khi họ không tự giác sửa đổi, bổ sung những nội dung có sai sót mà cơ quan thuế đã kiểm tra, phát hiện và có yêu cầu Nội dung của kiểm tra thuế là việc kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế

Thanh tra thuế là kiểm tra đối tượng nộp thuế ở mức độ cao hơn, toàn diện hơn Thanh tra thuế là được thực hiện theo định kỳ đối với người nộp thuế lớn, ngành nghề kinh doanh đa dạng, quy mô lớn và phức tạp; Hoặc đối với người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế và thanh tra để giải quyết các khiếu nại,

tố cáo về thuế hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính Thanh tra thuế có thời gian tiến hành dài hơn kiểm tra thuế và thanh tra thuế thường được thực hiện tại trụ sở của đối tượng nộp thuế

Từ những phân tích trên, có thể hiểu:

Ki ểm tra thuế là hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước có thẩm

quy ền đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý nhằm xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật thuế

* Đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế

Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế trước tiên phải mang những đặc điểm

cơ bản của thanh tra, kiểm tra của Nhà nước nói chung Tuy nhiên, thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động phát sinh trong lĩnh vực đặc thù, do đó, nó còn mang những đặc điểm riêng như sau:

Một là, về chủ thể thanh tra, kiểm tra thuế: chủ thể tranh tra, kiểm tra thuế được xác định là cơ quan quản lý thuế Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý thuế năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012, cơ quan quản lý thuế bao gồm: cơ quan thuế và cơ quan hải quan

Hai là, về nội dung thanh tra, kiểm tra thuế: bao gồm hai nội dung cơ bản là xem xét, đánh giá việc chấp hành luật, pháp lệnh, chính sách thuế của các chủ thể nộp thuế và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế của công dân và các tổ chức kinh

tế

Trang 17

Ba là, về phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế: thanh tra, kiểm tra thuế là quá trình quan sát, yêu cầu cung cấp thông tin phân tích, xác minh nhằm tìm kiếm

sự bảo đảm hợp lý các khoản mục mà người nộp thuế đã kê khai Để thực hiện các mục tiêu trên có rất nhiều phương pháp thanh tra, kiểm tra như: thanh tra theo

vụ việc, thanh tra toàn diện, thanh tra theo từng thời kỳ, thanh tra theo số liệu tổng hợp, thanh tra theo phương pháp chọn mẫu Hiện nay, theo chương trình hiện đại hóa công tác quản lý thuế thì phương pháp phân tích rủi ro về thuế đang được áp dụng

Như vậy, với những phân tích trên, có thể hiểu: Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan quản lý thuế nhằm xác minh những thông tin liên quan đến các nghĩa vụ thuế hoặc xác minh nội dung cụ thể trong quan hệ pháp luật thuế, để

từ đó đánh giá mức độ chấp hành pháp luật thuế của các chủ thể chịu sự quản lý của cơ quan quản lý thuế, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật thuế, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức

Tuy nhiên, dù thanh tra, kiểm tra thuế là cụm từ thường được gọi gắn liền với nhau, và đều có tư cách là chức năng thiết yếu trong quá trình quản lý thuế, nhưng giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế vẫn có những điểm khác biệt So sánh giữa hai hoạt động này để thấy được những nội dung sau:

Về điểm giống nhau giữa thanh tra và kiểm tra thuế:

(i) Thanh tra, kiểm tra thuế đều là một nội dung quan trọng của quản lý thuế, đều cùng hướng tới mục đích phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, tăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;

(ii) Chủ thể thanh tra, kiểm tra thuế đều là cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Đều nhân danh Nhà nước để hoạt động và họat động tuân theo pháp luật Trên cơ sở thẩm quyền mà Nhà nước trao cho, thanh tra, kiểm tra thuế thực hiện những mục đích và vai trò của mình

(iii) Đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế là việc chấp hành pháp luật thuế;

Trang 18

(iv) Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế đều phải xem xét hoạt động thực

tế của đối tượng để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng một cách chính xác, khách quan, làm rõ đúng – sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, xử lý vi phạm;

(v) Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế không chỉ được thực hiện ở 1 giai đoạn trong hoạt động quản lý thuế mà được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quản lý thuế

Về điểm khác nhau giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế:

(i) Về chủ thể: chủ thể của thanh tra thuế phải là tổ chức thanh tra chuyên trách của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, trong khi chủ thể của kiểm tra thuế rộng hơn, bao gồm các cơ quan và công chức quản lý thuế;

(ii) Về tính chất: thanh tra thuế là hoạt động dựa vào quyền lực của cơ quan quản lý nhà nước, trong khi kiểm tra là hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lực của cơ quan quản lý nhà nước hoặc có thể chỉ là hoạt động quản lý đơn thuần;

(iii) Về nội dung: hoạt động thanh tra thuế thường là kiểm tra ở giai đoạn sau khi các hoạt động kinh tế - xã hội phát sinh Vì thế, hoạt động thanh tra phải giải quyết các vấn đề tồn đọng trong quản lý, giải quyết các khiếu nại, tranh chấp… Đây thường là những vấn đề phức tạp, bản chất vấn đề được che giấu có chủ ý nên khó nhận biết, đòi hỏi phải có thời gian, nghiệp vụ thanh tra để kiểm tra, thu thập tài liệu Trong khi đó, nội dung kiểm tra thường là những vấn đề hiện tại, dễ nhận biết, bao gồm những nội dung cụ thể của kiểm tra trong quá trình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội Vì vậy, khi kiểm tra sẽ dễ nhận biết được thực chất của vấn đề mà không cần đòi hỏi những nghiệp vụ phức tạp để xác minh tài liệu, chứng cứ;

(iv) Về phạm vi tiến hành: kiểm tra thuế thường được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục với nhiều hình thức và phương pháp kiểm tra, còn thanh tra thuế có phạm vi tiến hành hẹp hơn, thường là ở giai đoạn sau khi các hoạt động kinh tế - xã hội đã phát sinh;

Trang 19

(v) Về thời gian tiến hành: do mức độ nghiêm trọng của sự việc cần thanh tra, nên thời gian để tiến hành một cuộc thanh tra thuế thường dài hơn một cuộc kiểm tra thuế Thanh tra thuế không quá 45 ngày làm việc đối với một cuộc thanh tra do Tổng cục Thuế tiến hành, không quá 30 ngày làm việc đối với một cuộc thanh tra do Cục Thuế, Chi cục Thuế tiến hành, còn kiểm tra thường không quá 5 ngày làm việc, trường hợp kiểm tra theo kế hoạch đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thì thời hạn không quá 15 ngày

1.1.2 Nguyên tắc, mục tiêu và vai trò của thanh tra, kiểm tra thuế

* Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế

Để công tác kiểm tra, thanh tra thuế đạt hiệu quả cao, cần đảm bảo những nguyên tắc sau :

- Kiểm tra, thanh tra thuế phải trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế

- Trong quá trình kiểm tra, thanh tra thuế phải tuân thủ theo pháp luật, đảm bảo tính đúng đắn khách quan, công khai, dân chủ, khi kết luận một vấn đề phải

có chứng lý, không được suy diễn

- Kiểm tra, thanh tra thuế phải thực hiện đúng quy trình do ngành đã quy định

- Việc tiến hành kiểm tra, thanh tra thuế phải thực hiện theo kế hoạch và nội dung đề cương được duyệt

- Trong khi kiểm tra, thanh tra thuế phải tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quần chúng, phát huy dân chủ động viên tham gia cung cấp tài liệu số liệu thông tin cho đoàn

- Nghiêm cấm cán bộ làm công tác kiểm tra, thanh tra thuế cố ý làm sai lệch nội dung vụ việc hoặc mở rộng nội dung, phạm vi thanh tra, kiểm tra; lợi dụng quyền hạn để sách nhiễu gây phiền hà cho đơn vị, bao che người vi phạm hoặc truy ép đơn vị trong việc giải trình, trả lời chất vấn

Trang 20

- Căn cứ vào mục đích của từng cuộc kiểm tra, thanh tra thuế đòi hỏi người

ra quyết định thành lập đoàn thanh tra phải cử đúng những người có trình độ kỹ năng nghiệp vụ phù hợp

- Không làm cản trở hoạt động bình thường (hoạt động trong khuôn khổ pháp luật) của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra

* Mục tiêu của thanh tra, kiểm tra thuế

- Hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế nhằm giúp các đối tượng nộp thuế và

cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lý thu ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành

- Thông qua công tác kiểm tra, thanh tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế của các đối tượng nộp thuế và người thu thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực

- Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả kiểm tra, thanh tra, cơ quan thuế các cấp có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đưa Luật thuế vào cuộc sống thực tế, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện luật thuế, đồng thời cải cách được các quy trình quản lý thu thuế ngày càng hợp lý hơn

- Thông qua công tác kiểm tra, thanh tra thuế nhằm hướng dẫn, giúp đỡ đối tượng nộp thuế nắm được nghĩa vụ và quyền hạn của đơn vị khi thực hiện luật thuế; đồng thời nâng cao trách nhiệm của công chức ngành thuế khi thi hành công

vụ

- Thông qua công tác thanh tra nội bộ nhằm kịp thời ngăn chặn, phòng ngừa những hành vi tiêu cực, tham nhũng phát sinh, để xây dựng cơ quan thuế trong sạch vững mạnh với đội ngũ cán bộ thuế về phẩm chất đạo đức, giỏi về nghiệp vụ chuyên môn

*Vai trò của thanh tra, kiểm tra thuế

- Ki ểm tra, thanh tra thuế đã góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp

lu ật về thuế

Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau Mỗi sắc thuế điều tiết đến một số đối tượng xã hội nhất định và có những phương pháp quản lý thu khác nhau Về cơ bản mỗi sắc thuế khi được ban hành đều đã

Trang 21

được nghiên cứu kỹ và chuẩn bị chu đáo nhưng do đặc điểm nền kinh tế nước ta đang ở thời kỳ chuyển đổi từ hành chính, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, bất cập Chính vì vậy kiểm tra, thanh tra thuế là nơi cung cấp các căn cứ, các bằng chứng

cụ thể phản ánh một cách chân thực, sống động các hoạt động diễn ra trong thực

tế, để phục vụ cho việc hòan thiện, bổ sung các chính sách cho phù hợp

- Ki ểm tra, thanh tra thuế là phương tiện phòng ngừa hành vi vi phạm pháp

lu ật và tội phạm nảy sinh trong hoạt động quản lý thuế

Với tư cách là công cụ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế chính là việc xem xét tại chỗ việc làm của các tổ chức, cơ quan và các cá nhân có đúng quy định của chính sách, pháp luật về thuế hay không? Qua đó sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật của người nộp thuế

Thực tế cho thấy không có hệ thống pháp luật nào có thể đảm bảo là không khiếm khuyết Đây chính là nguyên nhân để các đối tượng lợi dụng , cố tình lách luật để trục lợi cá nhân Kiểm tra, thanh tra thuế phải phát hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực để ngăn ngừa kịp thời

- Ki ểm tra, thanh tra thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục

hành chính c ả về quy chế và tổ chức thực hiện

Việc triển khai thực hiện pháp luật thuế cũng được thực hiện đồng thời với việc triển khai thực hiện các thủ tục hành chính thuế Thông qua hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế, cơ quan thuế sẽ phát hiện được những chủ thể nộp thuế thực hiện không đúng, không đủ các thủ tục hành chính để kịp thời chấn chỉnh, đồng thời qua đó có thể phát hiện những khiếm khuyết, những thủ tục không phù hợp với thực tế để kiến nghị bổ sung, hoàn thiện, nâng cao hiệu lực pháp luật thuế, giúp giảm đến mức tối đa các thủ tục, quy chế không cần thiết gây phiền hà đến nhân dân và doanh nghiệp

Trang 22

1.2 Khái quát về pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế

Pháp luật là công cụ quản lý nhà nước và điều chỉnh các quan hệ xã hội Vai trò điều chỉnh đó trước hết và chủ yếu thể hiện ở quy phạm pháp luật Quy phạm pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế Quy phạm pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế cũng như các quy phạm pháp luật khác đều có tính bắt buộc chung, là khuôn mẫu để mọi chủ thể tuân thủ

và là tiêu chí để đánh giá hành vi của con người, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống đến khi bị thay đổi hoặc hủy bỏ

Tuy nhiên điểm khác là quy phạm pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế Quy phạm pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế hiện nay được thể hiện ở các văn bản quy phạm pháp luật như : Luật Quản lý thuế, Luật Thanh tra…, văn bản dưới luật như: Nghị định, Thông tư, Quyết định…, nhưng

dù dưới hình thức văn bản nào thì pháp luật về thanh tra kiểm tra thuế chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức

và hoạt động thanh tra kiểm tra thuế của cơ quan thuế Từ đó có thể hiểu:

Pháp lu ật về thanh tra, kiểm tra thuế là bộ phận của pháp luật quản lý thuế

là t ổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban

hành theo trình t ự thủ tục luật định để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh

trong l ĩnh vực thanh tra, kiểm tra thuế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

c ủa nhà nước, tổ chức, công dân, góp phần đảm bảo tuân thủ pháp luật thuế,

phòng ng ừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế là một bộ phận quan trọng của pháp luật quản lý thuế trong đó quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ cấu tổ chức của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quản lý, tổ chức thanh tra, kiểm tra thuế; quyền và nghĩa vụ của đối tượng bị thanh tra, kiểm tra thuế; trình tự, thủ tục trong quá

Trang 23

trình thanh tra, kiểm tra thuế; cách thức xử lý trong và sau hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế…

Vì vậy, ngoài những đặc điểm chung của pháp luật quản lý thuế, pháp luật

về thanh tra, kiểm tra thuế còn có những đặc điểm đặc trưng, cụ thể:

Th ứ nhất, pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế vừa mang đặc điểm của thanh

tra nhà n ước nói chung vừa mang đặc điểm của pháp luật thanh tra chuyên

ngành

Các quy định pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế mang tính chuyên sâu về nghiệp vụ chuyên môn, đối tượng thanh tra, kiểm tra là bất kỳ tổ chức, đơn vị, cá nhân nộp thuế nào trong phạm vi quản lý của cơ quan thuế Khác với hoạt động thanh tra hành chính chủ yếu tập trung vào việc kiểm soát việc thực hiện nhiệm

vụ, công vụ của cán bộ, công chức và cơ quan nhà nước làm lành mạnh hóa bộ máy nhà nước thì hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế lại chủ yếu hướng tới việc kiểm soát hoạt động chấp hành chính sách, pháp luật của mọi đối tượng nộp thuế nhằm phục vụ hiệu quả hoạt động quản lý thuế Pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế chứa đựng những quy định mang tính chất chuyên ngành tức là nó thực hiện một mảng riêng biệt đó là thanh tra, kiểm tra thuế Theo quy định của pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế thì thanh thuế có chức năng giúp Bộ Tài chính, ngành thuế thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế Pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế chủ yếu là các quy định về quy trình, quy phạm liên quan đến chuyên môn, kỹ thuật trong quá trình quản lý thuế

Th ứ hai, pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế vừa có quy phạm mang tính

hành chính, v ừa có quy phạm mang tính tố tụng

Thanh tra, kiểm tra thuế là một hoạt động, một chức năng quan trọng của quản lý thuế của nhà nước (lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước) bởi vậy, pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế mang đậm nét tính chất hành chính trong các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế Do tính chất đặc thù của hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đòi hỏi cần phải có sự tuân thủ pháp luật cao như: chặt chẽ về trình tự, thủ tục tiến hành, sự cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của người thực thi công vụ, đảm bảo tính độc lập của hoạt động thanh tra,

Trang 24

- Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của những người tiến hành thanh tra như: Trưởng đoàn thanh tra, thanh tra viên và những biện pháp cưỡng chế có thể được áp dụng trong tiến trình thanh tra

- Quy định thủ tục thanh tra hết sức chặt chẽ từ khâu ra quyết định đến các bước thực hiện và nhiệm vụ của từng giai đoạn; quy định quyền áp dụng các biện pháp thẩm định, trưng cầu, phúc tra; quyền ra kết luận thanh tra nêu rõ đúng sai,

có vi phạm hay không, mức độ vi phạm và kiến nghị biện pháp xử lý

- Luật thanh tra đã quy định các nguyên tắc để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật và sự độc lập trong hoạt động thanh tra, các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền không được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra Ngoài

ra, pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế còn có quy định mang tính chất điều tra hành chính và được áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi thấy cần thiết giúp cho việc thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đạt được hiệu quả cao

Th ứ ba, pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế quy định hoạt động thực hiện

quy ền lực nhà nước trong việc bảo đảm hiệu lực thực tế của các quy định pháp

lu ật về thanh tra, kiểm tra thuế bằng các biện pháp pháp luật, bảo đảm cho các

quy định này được thực thi trong thực tế

Sự vi phạm các nguyên tắc, quy định pháp luật trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đa số các trường hợp đều gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của nhà nước, tổ chức và công dân, ví dụ: do không thực hiện thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực chống chuyển giá dẫn đến các tập đoàn lớn ồ ạt thực hiện các hoạt động chuyển giá tại Việt Nam dẫn đến thất thu ngân sách nhà nước; lợi ích của các tổ chức, doanh nghiệp bị ảnh hưởng khi thực hiện thanh tra tràn lan, không theo kế

Trang 25

hoạch gây phiền nhiễu đến hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của doanh nghiệp

Th ứ tư, nguồn pháp luật cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế rất phong

phú, đa dạng

Các quy định của pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế không chỉ thể hiện ở các văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan đến thanh tra, kiểm tra thuế như Luật Thanh tra, Luật Quản lý thuế mà còn thể hiện trong các văn bản pháp luật khác có liên quan như: Luật Kế toán, Luật Cán bộ công chức, các luật về các sắc thuế, Luật và nghị định về xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thuế và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác

1.2.2 Cấu trúc của pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế

Cấu trúc pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế có nghĩa sự sắp xếp các bộ phận cấu thành của pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế theo những tiêu chí nhất định

Pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế có thể được sắp xếp theo những cấu trúc khác nhau dựa trên các tiêu chí sau:

- C ăn cứ vào nguồn của pháp luật điều chỉnh, pháp luật thanh tra, kiểm tra

thu ế gồm các nhóm quy phạm pháp luật:

(i) Nhóm quy phạm pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế được quy định trong Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế;

(ii) Nhóm quy phạm pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế được quy định trong Luật Thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra;

(iii) Nhóm quy phạm pháp luật về thanh tra kiểm tra thuế được quy định trong các văn bản pháp luật khác như văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, khiếu nại, tố cáo; tố tụng hành chính; hình sự, dân sự cán bộ, công chức

- C ăn cứ vào các quan hệ mà pháp luật điều chỉnh, pháp luật thanh tra,

ki ểm tra thuế gồm các nhóm quy phạm pháp luật:

(i) Nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thanh tra, kiểm tra thuế giữa cơ quan quản lý thuế với người nộp thuế;

Trang 26

và thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng

C ăn cứ vào nội dung điều chỉnh của pháp luật, pháp luật thanh tra, kiểm

tra thu ế được cấu thành bởi các bộ phận sau:

Một là, bộ phận pháp luật qui định về nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế: đây là tư tưởng, quan điểm chỉ đạo, xuyên suốt trong quá trình tổ chức xây dựng

và thực hiện pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế và nó có tính bắt buộc các chủ thể có liên quan phải tuân theo trong quá trình tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế

Hai là, bộ phận pháp luật quy định về tổ chức hệ thống thanh tra, kiểm tra thuế: đây là bộ phận pháp luật quy định về cơ cấu tổ chức và hoạt động của các

cơ quan nhà nước làm nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra thuế

Ba là, bộ phận pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế

Bốn là, bộ phận pháp luật qui định về hoạt động kiểm tra thuế: đây là bộ phận pháp luật quy định về các hình thức kiểm tra thuế, nội dung, mục đích, quy trình kiểm tra thuế và cách thức xử lý trong và sau hoạt động kiểm tra thuế

Năm là, bộ phận pháp luật qui định về thanh tra thuế: bộ phận pháp luật này quy định về các trường trường hợp thanh tra thuế, thủ tục, trình tự tiến hành, quy định cơ cấu thành phần đoàn thanh tra, điều kiện đối với trưởng đoàn thanh tra, thanh tra viên, quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra, các biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được áp dụng trong quá trình thanh tra; quy định về kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyết định, kết luận của thanh tra thuế

Trang 27

1.3 Đánh giá khái quát về thực trạng pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế ở Việt Nam hiện nay

Trước khi Luật Quản lý thuế 2006 ra đời, việc thanh tra, kiểm tra thuế ở nước ta thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật về thanh tra, kiểm tra nói chung, cụ thể là các quy định tại Pháp lệnh Thanh tra ngày 29/3/1990 và Luật Thanh tra 2004 Do đó các quy định về thanh tra, kiểm tra còn chưa sát với thực tiễn hoạt động của thanh tra chuyên ngành thuế

Luật Quản lý thuế của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10, số78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 có hiệu lực từ 1/7/2007 gồm có 14 chương và 129 điều, tiếp cận vấn đề quản lý thuế theo nghĩa hẹp Luật không đưa ra khái niệm cụ thể về Quản

lý thuế mà chỉ nêu ra các nội dung trong quản lý thuế tại Điều 3 Nội dung quản

lý thuế bao gồm: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; Quản lý thông tin về người nộp thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Xử lý vi phạm pháp luật về thuế; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế Từ điều luật này có thể thấy, pháp luật quản lý thuế bao gồm các quy định mang tính thủ tục được xây dựng để thực hiện các chính sách thuế của nhà nước Đây là những nội dung của công tác quản lý thuế mà trong đó những quy định về thanh tra, kiểm tra thuế là những quy định thể hiện rõ nhất vai trò, chức năng quản lý hành chính nhà nước đối với xã hội nói chung và người nộp thuế nói riêng

Việc Luật Quản lý thuế đã dành nguyên Chương X từ Điều 73 đến Điều 91 quy định về thanh tra, kiểm tra thuế đã khắc phục được những hạn chế pháp luật trước đây, tạo được một nền tảng pháp lý vững chắc cho hoạt động thanh tra, kiểm tra đạt được hiệu quả đáng kể Đồng thời để phù hợp hơn với tình hình kinh

tế - xã hội và việc thay đổi bổ sung các luật về chính sách thuế, Luật Quản lý thuế

số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012 ra đời sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế 78/2006/QH11 đã sửa đổi, bổ sung một số quy định về thanh tra, kiểm tra thuế phù hợp hơn với Luật Thanh tra 2010, đáp ứng yêu cầu của mục

Trang 28

tiêu đơn giản hóa thủ tục hành chính và tiết kiệm nguồn nhân lực, tránh gây phiền

hà cho người nộp thuế

1.3.1 Quy định của pháp luật về nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế

“Nguyên tắc của pháp luật là những tư tưởng cơ bản, mang tính xuất phát điểm, cấu thành một bộ phận quan trọng nhất, thấm nhuần toàn bộ nội dung cũng như hình thức của hệ thống pháp luật, là cơ sở chỉ đạo toàn bộ hoạt động xây dựng pháp luật cũng như thực hiện pháp luật7” Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động nhằm mục đích phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất đến lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, của các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cường pháp chế XHCN Để đạt được mục đích này, công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Điều 75 Luật Quản lý thuế năm 2006, sửa đổi 2012 đưa ra ba nguyên tắc kiểm tra, thanh tra thuế như sau:

Th ứ nhất, nguyên tắc thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên

quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật thuế

Với nội dung của nguyên tắc này, việc thanh tra, kiểm tra thuế không dàn trải với tất cả mọi chủ thể nộp thuế, mà chỉ tập trung vào những đối tượng có vấn

đề Đồng thời, việc lựa chọn đối tượng để thanh tra, kiểm tra dựa trên căn cứ khách quan là phân tích nguồn cơ sở dữ liệu thông tin liên quan đến chủ thể nộp thuế, đánh giá thông tin theo phương pháp đánh giá rủi ro, xác định, lựa chọn đúng đối tượng có mức độ rủi ro cao nhất để tiến hành kiểm tra, thanh tra Trên

cơ sở phân tích, đánh giá thông tin về chủ thể nộp thuế, cơ quan quản lý thuế xác định sẽ tiến hành thanh tra hay kiểm tra, quy mô và phạm vi tiến hành Đối tượng cần thanh tra, kiểm tra chủ yếu được xác định qua việc phân tích thông tin về chủ thể nộp thuế và các thông tin có liên quan khác Từ đó, cơ quan quản lý thuế sẽ điều chỉnh cơ cấu cuộc thanh tra, kiểm tra như: tăng thời gian phân tích, kiểm tra

hồ sơ tại cơ quan thuế, giảm thời gian trực tiếp thanh tra, kiểm ra tại trụ sở người

7 Nguyễn Cửu Việt, chủ biên (2000), Giáo trình Nhà nước và Pháp luật đại cương, Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội

Trang 29

nộp thuế, tránh phiền hà cho doanh nghiệp nhưng tăng tỉ lệ số đối tượng vi phạm được phát hiện Có thể nói, nguyên tắc này đã tạo ra một cách thức thanh tra, kiểm tra người nộp thuế hoàn toàn mới so với trước đây

Th ứ hai, nguyên tắc không cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ

chức, cá nhân là người nộp thuế

Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế là vấn đề hết sức “nhạy cảm“ và trong những năm gần đây, vấn đề quyền và những đảm bảo thực hiện quyền của người nộp thuế được quan tâm một cách đặc biệt Bởi vậy, việc cơ quan chức năng tổ chức tiến hành thanh tra, kiểm tra tại cơ sở kinh doanh là cần thiết, nhưng ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của đối tượng bị thanh tra, kiểm tra Tình trạng kéo dài, dây dưa, không công bố kết luận thanh tra, kiểm tra vẫn còn tồn tại Mặt khác, do việc phân cấp quản lý còn chồng chéo nên một đối tượng có thể được nhiều ngành quản lý và do đó, có thể phát sinh nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra cùng trong một thời gian ngắn với đối tượng đó8 Việc Luật quản lý thuế quy định nguyên tắc này sẽ hạn chế tối đa những cuộc thanh tra, kiểm tra chồng chéo của

cơ quan quản lý thuế, đảm bảo hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra, kiểm tra

Th ứ ba, nguyên tắc tuân thủ quy định của pháp luật, cụ thể là Luật quản lý

thuế và những quy định của pháp luật có liên quan

Pháp luật là sự thể hiện ý chí của Nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân Thanh tra, kiểm tra thuế là việc kiểm soát việc thực hiện pháp luật, nên hoạt động này cũng phải tuân thủ pháp luật Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể thanh tra, kiểm tra thuế, nâng cao hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm tra thuế, ngăn chặn tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hóa hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế Thực hiện nguyên tắc này nghĩa là các cơ quan, cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định; xem xét đúng – sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật, không tuân theo ý kiến của bất kỳ một cơ quan hoặc cá nhân nào

8 Ngô Mạnh Hùng, Một số vấn đề rút ra qua thực tế chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động của Đoàn Thanh tra,

truy cập ngày 10/8/2014, đăng tải trên http://thanhtravietnam.vn

Trang 30

Kết luận thanh tra, kiểm tra thuế phải theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật

Có thể nói, những nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế nói trên là sự thể hiện

rõ nét tinh thần tôn trọng pháp luật, đề cao quyền lợi của người nộp thuế, đồng thời tạo ra cách thức thanh tra, kiểm tra thuế mới, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, trên thực tế, các nguyên tắc trên nhiều khi vẫn không được đảm bảo trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế Chẳng hạn, nguyên tắc thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế vẫn gặp phải trở ngại do sự thiếu sót trong hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin về người nộp thuế Ở Việt Nam, cơ sở dữ liệu thông tin về người nộp thuế được thu thập từ nguồn cung cấp trong nội bộ ngành thuế và từ bên thứ ba như Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Hải quan,

Sở kế hoạch và đầu tư, các cơ quan quản lý Bộ, ngành, hiệp hội; các cơ quan truyền thông, thông tin từ đơn tố cáo về việc trốn thuế Nhưng hiện nay, hệ thống cơ sở dữ liệu này lại bị phân tán tại từng cơ quan quản lý thuế, không có khả năng chia sẻ, trao đổi giữa các cơ quan quản lý thuế với nhau dẫn đến hạn chế việc khai thác, sử dụng phục vụ thanh tra, kiểm tra thuế9 Giữa các cơ quan thuế, kho bạc, hải quan, ngân hàng chưa có sự trao đổi thông tin, đồng bộ dữ liệu Hầu hết các cơ quan nhà nước đều đã ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý ở những mức độ khác nhau, tuy nhiên, việc sử dụng phần mềm tại các cơ quan nhà nước này lại độc lập, không có sự kết nối Trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương, các quan chức năng, các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế chưa được quy định cụ thể, rõ ràng

Thêm vào đó, chương trình tích hợp các ứng dụng để thuận tiện trong công tác đánh giá, phân tích, xác định rủi ro về thuế vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi

Do đó, việc xác định rủi ro về thuế để xây dựng kế hoạch thanh tra vẫn thực hiện theo phương pháp thủ công, nhận định chủ quan của bộ phận thanh tra và cán bộ thanh tra

9 Hoàng Vân Anh (2008), Một số biện pháp đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện thực hiện

Lu ật quản lý thuế ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ kinh tế

Trang 31

Không chỉ vậy, hiện tượng tham nhũng, nhận hối lộ vẫn diễn ra trong ngành thuế Việc thiếu các quy trình nghiệp vụ rõ ràng và thống nhất, cùng với mức độ tin học còn thấp đã làm tăng quyền tự quyết của cán bộ thuế, tạo ra cơ hội trục lợi cá nhân Điều đó tạo nên sự phiền hà không nhỏ cho các doanh nghiệp là đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế, đồng thời tạo ra sự vi phạm pháp luật, cố tình móc ngoặc giữa cán bộ thuế, cán bộ hải quan và người nộp thuế

1.3.2 Quy định của pháp luật về tổ chức hệ thống thanh tra, kiểm tra thuế

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hệ thống thanh tra, kiểm tra thuế ở nước ta được tổ chức theo mô hình ba cấp từ trung ương đến địa phương với sự phân định rõ ràng giữa bộ phận thanh tra thuế và bộ phận kiểm tra thuế Theo đó,

hệ thống cơ quan thanh tra, kiểm tra thuế ở nước ta bao gồm cơ quan hải quan và

cơ quan thuế Ở cả hai nhóm cơ quan này, bộ máy thanh tra, kiểm tra thuế đều được tổ chức theo ngành dọc, gắn với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuế và cơ quan hải quan các cấp Cụ thể:

- Thanh tra, kiểm tra của cơ quan hải quan bao gồm: Thanh tra Tổng cục Hải quan; Phòng thanh tra trực thuộc Cục hải quan, Đội kiểm tra trực thuộc Chi cục hải quan (nếu cần)

- Thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế bao gồm: Thanh tra Tổng cục thuế; Phòng thanh tra thuế và Phòng kiểm tra thuế trực thuộc Cục thuế; Đội kiểm tra thuế trực thuộc Chi cục thuế

Việc phân định hệ thống thanh tra, kiểm tra thuế như trên có ý nghĩa trong việc tránh được sự chồng chéo giữa thanh tra và kiểm tra, giảm phiền hà cho tổ chức, cá nhân là đối tượng bị thanh tra, kiểm tra Bởi lẽ, tuy thanh tra và kiểm tra thuế có quan hệ chặt chẽ, gắn kết với nhau nhưng giữa chúng vẫn có sự khác nhau, trường hợp áp dụng và quy trình thực hiện cũng khác nhau Tuy nhiên, liên quan đến các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu hoạt động của cơ quan làm nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra thuế vẫn còn một số

“lỗ hổng“ như sau:

Th ứ nhất, theo các quy định hiện hành, chỉ có Tổng cục thuế, cục thuế và

Tổng cục hải quan, cục hải quan mới có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ

Trang 32

chức thanh tra, còn các Chi cục thuế, Chi cục hải quan chỉ có chức năng kiểm tra thuế chứ không được thanh tra thuế10 Trong khi đó, trên thực tế, số lượng chủ thể nộp thuế là doanh nghiệp do chi cục thuế và chi cục hải quan trực tiếp quản lý tương đối lớn Tại cục thuế thành phố Hà Nội, số lượng chủ thể nộp thuế khoảng 80.000 doanh nghiệp, trong đó cục thuế trực tiếp quản lý khoảng 10.000 doanh nghiệp, còn lại là thuộc quản lý của chi cục thuế Tại cục thuế thành phố Hồ Chính Minh, có 120.000 doanh nghiệp, cục thuế chỉ quản lý trực tiếp khoảng 20.000 doanh nghiệp, còn lại do các chi cục thuế quản lý11 Như vậy, nguồn lực dành cho công tác thanh tra quá mỏng so với thực tế Trong khi đó, nội dung thanh tra thuế lại bao gồm nhiều vấn đề phức tạp, tốn nhiều thời gian Vì thế, một vấn đề đặt ra là: nếu quy định chỉ cấp Tổng cục và Cục mới có chức năng thanh tra thì công tác thanh tra thuế liệu có đảm bảo yêu cầu nhanh chóng, kịp thời và chính xác hay không? Nên chăng, để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đồng bộ, thống nhất từ cơ quan quản lý thuế cấp trung ương đến địa phương theo đúng tinh thần của Luật quản lý thuế, cần thiết phải giao chức năng thanh tra thuế cho Chi cục thuế và Chi cục hải quan

Th ứ hai, chức năng và quyền hạn của thanh tra, kiểm tra thuế còn bị bó

hẹp, chưa trở thành công cụ có hiệu lực để thu NSNN và răn đe, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật thuế Chức năng điều tra các hành vi trốn thuế, gian lận tiền thuế chưa được quy định là một chức năng của cơ quan thuế và cơ quan hải quan Trong khi đó, để tăng cường tính pháp lý cho việc thực hiện nghĩa vụ thuế của chủ thể nộp thuế theo cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế, cần phải tăng thêm quyền cho cơ quan quản lý thuế, bao gồm có quyền điều tra chủ thể nộp thuế, khởi tố các vi phạm pháp luật thuế đối với một số trường hợp nhất định, như có dấu hiệu trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân; hoặc cần ngăn chăn kịp thời các hành vi trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, hoặc cần

có sự giám định của cơ quan chuyên môn Mục đích của việc thực hiện các biện

10 Tổng cục Hải quan (2010), Quyết định số 1169/QĐ-TCHQ ngày 9/6/2010 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Hải quan trực thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố

Tổng cục Thuế (2010), Quyết định số 03/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của chi cục thuế trực thuộc Cục thuế

11 Tổng cục Thuế (2005), Báo cáo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 1999 – 2005, Hà Nội

Trang 33

pháp điều tra thuế là nhằm phát hiện, ngăn chặn các hành vi trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, thu đúng, đủ, kịp thời số thuế phải nộp cho NSNN

Tuy nhiên, theo quy định của Luật quản lý thuế, cơ quan quản lý thuế không được giao chức năng khởi tố, điều tra các vi phạm pháp luật thuế mà phải chuyển qua cơ quan công an12 Trong khi, lực lượng công an gặp rất nhiều khó khăn trong việc điều tra do thiếu thông tin về người nộp thuế, thiếu chuyên môn

về quản lý thuế; khi chuyển từ cơ quan quản lý thuế sang cơ quan điều tra, việc tiếp cận tài liệu, sổ sách kế toán và các hồ sơ liên quan đến hành vi trốn thuế của doanh nghiệp lại phải bắt đầu lại từ đầu, cho dù đã có những kết quả sơ bộ sau quá trình thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý thuế Điều đó làm cho công tác điều tra các trường hợp vi phạm pháp luật của người nộp thuế tiến hành chậm và không đạt hiệu quả cao

Th ứ ba, một yếu tố cần sử dụng trong quy trình thanh tra, kiểm tra thuế là

việc sử dụng thông tin của người nộp thuế Nhưng chính bản thân các quy định pháp luật hiện nay lại dẫn đến một sự khó đồng nhất trong việc quản lý người nộp thuế giữa các cơ quan quản lý thuế Chẳng hạn, hiện nay pháp luật quy định tổ chức của Hải quan Việt Nam có 33 cục hải quan tỉnh, liên tỉnh và trong xu thế hiện đại hóa, hải quan sẽ tổ chức theo mô hình hải quan vùng (dự kiến khoảng 10 vùng)13 Trong khi đó, tổ chức của cơ quan thuế lại bao gồm 63 cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương14, nghĩa là được tổ chức theo đơn vị hành chính quốc gia Vậy, mối quan hệ giữa các Cục hải quan và Cục thuế như thế nào trong việc quản lý người nộp thuế? Điều này đã làm hệ thống cung cấp và xử lý thông tin về người nộp thuế không được thông suốt, thiếu sự phối hợp giữa cơ quan thuế nội địa và cơ quan hải quan, dẫn đến việc doanh nghiệp không được đánh giá đầy đủ, toàn diện Điều đó tất yếu sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế

12 Quốc hội (2006), Luật Quản lý thuế năm 2006, sửa đổi 2012 (Điều 76)

13 Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 02/2010/QĐ-TTg ngày 15/1/2010 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính

14 Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 115/2009/QĐ-TTg ngày 28/9/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính

Trang 34

1.3.3 Quy định về quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế

Về quyền của đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế:

Quyền của chủ thể nộp thuế trong trường hợp thanh tra, kiểm tra thuế được quy định tại Điều 79, Điều 86 Luật quản lý thuế 2006, sửa đổi, bổ sung năm

2012, theo đó, chủ thể nộp thuế có các quyền sau:

- Từ chối việc kiểm tra khi không có quyết định kiểm tra thuế, yêu cầu giải thích về những vấn đề có liên quan đến nội dung thanh tra, kiểm tra thuế;

- Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu không liên quan đến nội dung thanh tra, kiểm tra thuế; thông tin, tài liếu thuộc bí mật nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

- Bảo lưu ý kiến trong biên bản thanh tra, kiểm tra thuế;

- Khiếu nại, khởi kiện và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;

- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế Qua những quyền trên của chủ thể nộp thuế, có thể thấy, bằng việc quy định chủ thể nộp thuế có quyền khiếu nại, khởi kiện và yêu cầu bồi thường thiệt hại, pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế đã đặt ra vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế gây ra trong quá trình thực thi nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra thuế Chính những quy định pháp luật này đã làm tiền đề cho những hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế gây

ra được quy định khá chi tiết tại Thông tư liên tịch số TTCP ngày 26/10/2010 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính

19/2010/TTLT-BTP-BTC-Về nghĩa vụ của đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế:

Chủ thể nộp thuế khi bị thanh tra, kiểm tra thuế có các nghĩa vụ sau:

- Chấp hành quyết định thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan quản lý thuế;

- Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra, kiểm tra theo yêu cầu của đoàn tranh tra, kiểm tra thuế; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu đã cung cấp;

Trang 35

- Ký biên bản kiểm tra thuế trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc thanh tra, kiểm tra thuế;

- Chấp hành quyết định xử lý kết quả thanh tra, kiểm tra thuế

Thực tế cho thấy, kể từ khi Luật quản lý thuế ra đời, sự tự giác tuân thủ các nghĩa vụ trong thanh tra, kiểm tra thuế của chủ thể nộp thuế được nâng lên khá rõ Bởi lẽ, nếu trước khi có Luật quản lý thuế, tình trạng gian lận, trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, nợ đọng thuế, chây ỳ nộp thuế còn diễn ra ở nhiều loại thuế và nhiều địa phương trong cả nước, thì sau khi có Luật quản lý thuế, việc đăng ký thuế của người nộp thuế có nhiều chuyển biến tích cực Các cơ sở kinh doanh mới được thành lập đều làm thủ tục đăng ký kịp thời Chỉ tính riêng 4 tháng đầu triển khai Luật quản lý thuế (từ tháng 7 đến tháng 10/2007), đã có hơn 80.000 cơ sở đăng ký thuế mới, hơn 1.000 cơ sở kinh doanh xin đóng mã số thuế do ngừng hoạt động kinh doanh15 Việc giải thể doanh nghiệp cũng được giải quyết kịp thời Việc kê khai thuế của người nộp thuế đã chủ động hơn, tờ khai thuế được nộp nhanh chóng hơn so với trước đây Đáng chú ý, các nội dung ghi trên tờ khai rõ ràng và chính xác hơn trước bởi có sự hỗ trợ từ ứng dụng công nghệ thông tin Số

tờ khai nộp chậm và vi phạm hành chính về thuế giảm hẳn so với trước thời điểm Luật quản lý thuế được ban hành Theo báo cáo năm 2011 của Bộ Tài chính, số lượng tờ khai người nộp thuế nộp đúng hạn, đúng nôi dung đã đạt đến 90%16 Chính những chuyển biến tích cực trên đã đóng góp không nhỏ vào hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế

Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tồn tại một bộ phận người nộp thuế tìm mọi thủ đoạn để trốn thuế, gian lận thuế, không thực hiện nghĩa vụ trong thanh tra, kiểm tra thuế Tình trạng vi phạm pháp luật về thuế, trốn thuế, gian lận thuế, thành lập doanh nghiệp để buôn bán hóa đơn, bỏ trốn khỏi địa điểm kinh doanh, sử dụng hóa đơn giả ngày càng nghiêm trọng, phức tạp và xảy ra ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước Số liệu của cơ quan thanh tra thuộc ngành tài chính cho thấy, tình trạng gian lận, trốn thuế, sử dụng sai nguồn vốn NSNN trong 5 năm qua diễn

ra ở hầu hết mọi lĩnh vực Cụ thể, trong giai đoạn 2007 – 2010, Thanh tra Tổng

15 Luật Quản lý thuế - Khi cả xã hội cùng chung tay, đăng tải trên http://www.gdt.gov.vn ngày 19/9/2008

16 Bộ Tài chính (2011), Tờ trình Chính phủ về dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế

Trang 36

cục thuế chỉ tiến hành khoảng 17.000 cuộc thanh tra, kiểm tra nhưng đã kiến nghị thu vào NSNN hơn 11.423 tỷ đồng tiền thuế và gần 1.020 tỷ đồng tiền xử phạt vi phạm hành chính về thuế Còn thanh tra ngành hải quan dù chỉ thực hiện chưa đến 640 cuộc thanh tra, kiểm tra trong vòng 5 năm qua, nhưng cũng đã kiến nghị truy thu và xử phạt hành chính đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu vi phạm với số tiền gần 116 tỷ đồng và 160 triệu USD17

1.3.4 Quy định về hoạt động kiểm tra thuế

*Nhi ệm vụ, quyền hạn của các chủ thể kiểm tra thuế

Chủ thể kiểm tra thuế gồm có thủ trưởng cơ quan quản lý thuế và công chức quản lý thuế trong việc kiểm tra thuế Nhiệm vụ, quyền hạn của hai chủ thể này được quy định tại Điều 80 Luật quản lý thuế Theo đó, Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế là người ra quyết định kiểm tra thuế, có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định kiểm tra thuế, áp dụng biện pháp tạm giữ tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế, gia hạn kiểm tra trong trường hợp cần thiết, quyết định xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền quyết định xử phạt vi phạm hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hành vi, quyết định hành chính của công chức quản lý thuế

Công chức quản lý thuế khi thực hiện kiểm tra thuế có các nhiệm vụ, quyền hạn sau: thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định kiểm tra thuế; yêu cầu người nộp thuế cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung kiểm tra; lập biên bản kiểm tra thuế; báo cáo kết quả kiểm tra với người đã ra quyết định kiểm tra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của biên bản, báo cáo đó; xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với người có thẩm quyền ra quyết định xử lý vi phạm

*Th ủ tục kiểm tra thuế

Điều 77 và Điều 78 Luật quản lý thuế năm 2006 sửa đổi 2012 quy định hai hình thức kiểm tra thuế, đó là: kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế và kiểm tra thuế

17

Website, Hành vi trốn thuế, gian lận thuế ngày càng tinh vi, phức tạp, Theo Công an nhân dân, truy cập ngày

22/10/2013 tại địa chỉ tap-G2QS4GA/

Trang 37

http://citinews.net/kinh-doanh/hanh-vi-tron-thue gian-lan-thue-ngay-cang-tinh-vi phuc-tại trụ sở của người nộp thuế Mỗi hình thức kiểm tra thuế có trình tự thủ tục áp dụng khác nhau

* Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế

Về trường hợp áp dụng: theo quy định tại khoản 1 Điều 77 Luật quản lý thuế, kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế

Về phương pháp kiểm tra chủ thể nộp thuế: theo khoản 2 Điều 77 Luật quản lý thuế, khi hồ sơ thuế của chủ thể nộp thuế được gửi đến cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế thực hiện việc kiểm tra nội dung kê khai trong hồ sơ thuế, đối chiếu với cơ sở dữ liệu của chủ thể nộp thuế và tài liệu có liên quan về chủ thể nộp thuế, so sánh với dữ liệu của chủ thể nộp thuế cùng ngành nghề, mặt hàng kinh doanh để phân tích, đánh giá tính tuân thủ hoặc phát hiện các trường hợp khai chưa đầy đủ dẫn tới việc thiếu thuế hoặc trốn thuế, gian lận thuế

Về trình tự thủ tục áp dụng: khoản 3 Điều 77 Luật quản lý thuế quy định: Trường hợp kiểm tra trong quá trình làm thủ tục hải quan phát hiện vi phạm dẫn đến thiếu thuế, trốn, gian lận thuế thì người nộp thuế phải nộp đủ thuế

và bị xử phạt theo quy định của pháp luật

Sau khi kiểm tra, công chức quản lý thuế xác nhận kết quả kiểm tra thuế vào hồ sơ thuế Những hồ sơ bảo đảm tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu, không có dấu hiệu vi phạm thì được chấp nhận Nếu hồ sơ chưa đủ tài liệu hoặc khai chưa đầy đủ các chỉ tiêu theo quy định thì cơ quan quản lý thuế thông báo cho người nộp thuế biết để hoàn chỉnh hồ sơ

Trường hợp thấy có nội dung khai chưa đúng, số liệu khai không chính xác hoặc có những nội dung cần xác minh liên quan đến số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, được giảm hoặc số tiền thuế được hoàn, cơ quan quản lý thuế ra thông báo bằng văn bản đề nghị người nộp thuế giải trình hoặc bổ sung thông tin trong thời gian không quá 10 ngày Người nộp thuế có thể đến cơ quan quản lý thuế giải trình trực tiếp hoặc bổ sung thông tin, tài liệu bằng văn bản Sau khi

Trang 38

số thuế phải nộp

* Kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế

Về trường hợp áp dụng: theo quy định tại khoản 1 Điều 78, việc kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế được thực hiện trong trường hợp sau:

- Người nộp thuế không giải trình, không khai bổ sung hồ sơ thuế hoặc đã giải trình, khai bổ sung nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng, hoặc cơ quan quản lý thuế không đủ căn cứ để ấn định số thuế phải nộp và các trường hợp kiểm tra trước khi hoàn thuế theo quy định

- Trường hợp kiểm tra sau thông quan, bao gồm kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra chọn mẫu để đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế và kiểm tra đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan có dấu hiệu vi phạm pháp luật

Việc kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế chỉ được thực hiện khi có quyết định bằng văn bản của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế

Về phương pháp kiểm tra chủ thể nộp thuế: theo quy định tại khoản 2 Điều

78 Luật quản lý thuế, khi kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế, công chức quản

lý thuế đối chiếu nội dung khai báo với sổ kế toán, báo cáo tài chính, các tài liệu

có liên quan, tình trạng thực tế trong phạm vi, nôi dung của quyết định kiểm tra thuế

Về trình tự thủ tục áp dụng:

Trang 39

Theo quy định tại khoản 2 Điều 78 Luật quản lý thuế, khi bắt đầu tiến hành kiểm tra thuế, cán bộ kiểm tra thuế công bố quyết định kiểm tra thuế

Thời hạn kiểm tra thuế là không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định kiểm tra Trường hợp kiểm tra theo kế hoạch đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thì thời hạn không quá 15 ngày Trong trường hợp cần thiết, quyết định kiểm tra thuế được gia hạn một lần Kể từ ngày hết thời hạn kiểm tra, công chức quản lý thuế phải lập biên bản kiểm tra thuế trong thời hạn 5 ngày làm việc và xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cấp có thẩm quyền xử lý theo kết quả kiểm tra

Có thể thấy, luật quản lý thuế và các văn bản pháp luật liên quan đã quy định khá đầy đủ các nội dung của hoạt động kiểm tra thuế, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc triển khai hoạt động này trên thực tế Theo báo cáo của Vụ Thanh tra Tổng cục Thuế, trong năm 2013, chất lượng kiểm tra thuế trong cả nước được cải thiện đáng kể: Toàn ngành thuế đã kiểm tra 55.639 doanh nghiệp, đạt 87,8% so kế hoạch (55.639/63.369 DN), bằng 106,9% so với năm 2012; kiến nghị truy thu, truy hoàn, phạt 6.207,86 tỷ đồng, bằng 108,1% so năm 2012; giảm khấu trừ 748,53 tỷ đồng bằng 148,9 % so năm 2012; giảm lỗ 7.816,42 tỷ đồng bằng 127,8 % so năm 2012; số nộp NSNN sau kiểm tra

là 4.333,96 tỷ đồng đạt 70% tổng số thuế truy thu, phạt và truy hoàn, bằng 142,3% so với năm 201218

Có 52/63 Cục Thuế thực hiện đạt và vượt mức kế hoạch kiểm tra Một số Cục Thuế đạt cao là: Hà Tĩnh, Kom Tum, Lai Châu, Lạng Sơn, Lâm Đồng, Thanh Hóa,…

Có 45/63 Cục Thuế có số thu qua kiểm tra tăng so với năm 2012; một số Cục Thuế có tỷ lệ đạt cao như: Tây Ninh, Hậu Giang, Thái Bình, Lạng Sơn và Cục Thuế Ninh Bình, Thanh Hóa …

Một số Cục Thuế có số truy thu bình quân/ doanh nghiệp năm 2013 đạt cao như: Đồng Nai (465,2 triệu đồng/DN), TP Hà Nội (168,4 triệu đồng/DN), Tây

18 Tổng cục Thống kê (2014), Báo cáo tổng kết công tác thanh tra, kiểm tra ngành thuế năm 2013, nhiệm vụ, giải

pháp n ăm 2014

Trang 40

lỗ là 696,37 tỷ đồng21

Tuy nhiên, cũng theo báo cáo của Vụ Thanh tra Tổng cục Thuế, tỉ lệ các doanh nghiệp được kiểm tra thuế trên tổng số doanh nghiệp đang quản lý vẫn rất thấp, thậm chí có nhiều doanh nghiệp 10 năm mới được kiểm tra thuế một lần Bên cạnh đó, tình trạng gian lận thuế đang diễn ra ngày càng phức tạp và ngày càng tinh vi, không chỉ làm thất thu cho NSNN mà còn gây nên tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, không công bằng, gây thiệt hại cho người kinh doanh chân chính Đơn cử trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu, ngày càng

có nhiều thủ thuật gian lận thuế như cố tình kê khai số lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, khai sai tên hàng, chủng loại hàng, mã số hàng hóa, gian lận về xuất

xứ hàng hóa, trị giá tính thuế22

Những tồn tại kể trên trong thực tiễn hoạt động kiểm tra thuế có nguyên nhân xuất phát từ chính những bất cập trong các quy định pháp luật về hoạt động kiểm tra thuế, cụ thể:

Th ứ nhất, pháp luật quản lý thuế quy định các hồ sơ thuế gửi đến cơ quan

quản lý thuế phải được kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật của chủ thể nộp thuế Theo

19

Tổng cục Thống kê (2014), Báo cáo tổng kết công tác thanh tra, kiểm tra ngành thuế năm 2013, nhiệm vụ, giải

pháp n ăm 2014

20 Tổng cục Thuế (2010), Báo cáo công tác thanh tra, kiểm tra thuế (từ khi có Luật quản lý thuế đến nay).

21 Trung tâm Xúc tiến Đầu tư và Thương mại TP HCM (ITPC) (2012), tài liệu hội thảo về „Các giải pháp đôi bên

cùng có l ợi cho vấn đề chống chuyển giá“, ngày 5/4/2012

22 TS Lê Xuân Trường, Ths Nguyễn Việt Dũng (2012), Hai hình thức gian lận thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,

Tạp chí Tài chính, số 3/2012

Ngày đăng: 22/03/2018, 19:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm