Qua khảo sát thực tiễn cho thấy, các tranh chấp phát sinh từ HĐTD chủ yếu là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, tranh chấp về chủ thể xác lập và thực hiện hợp đồng, tranh chấp về lãi suất,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG TÒA ÁN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG TÒA ÁN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH SƠN LA
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN: BẠC MỸ DUYÊN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ : 60380107 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN TUYẾN
Trang 3HÀ NỘI – 2016
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là đề tài luận văn nghiên cứu của riêng em Các luận
điểm, dẫn chứng, số liệu, ví dụ nêu trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực Kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ đề tài, công trình nghiên cứu nào khác
Trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo và các thầy cô giáo viên Viện Đại học Mở Hà Nội, các cán bộ và giảng viên Khoa Sau đại học của trường cũng như các thầy, cô đang công tác tại các trường Đại học khác đã vất vả tận tâm giảng dạy
và truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt hai năm học của lớp Cao học Luật chuyên ngành Luật kinh tế K1 – Sơn La Em đặc biệt xin gửi tới lời cảm ơn sự giúp đỡ hết sức tận tình, chu đáo và sâu sắc nhất tới giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Văn Tuyến đã nhiệt tình hướng dẫn và ủng hộ em hoàn thành luận văn
Do điều kiện thời gian có hạn, kinh nghiệm và năng lực bản thân còn hạn chế nên quá trình nghiên cứu không tránh khỏi thiếu sót Em mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bạc Mỹ Duyên
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ……… ……… 1
CHƯƠNG 1 ……… ……… 5
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG TÒA ÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG TÒA ÁN……….… 5
1.1 Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án……… 5
1.1.1 Khái luận về tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng……… … 5
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp hợp đồng……… … 5
1.1.1.2 Khái niệm tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng……… 7
1.1.1.3 Các đặc điểm cơ bản của tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng 8 1.1.1.4 Phân loại tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng…… ……… 10
1.1.2 Khái luận về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án……….……… 11
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án……… 12
1.1.2.2 So sánh hình thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng tòa án với các hình thức giải quyết tranh chấp khác……… 15
1.2 Những vấn đề lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án……… …… 19
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án……… 19
1.2.2 Đối tượng điều chỉnh và cấu trúc của pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án……… ………… 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……… 23
Trang 7Chương 2……… ……… 24
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG TÒA ÁN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA……… ……… 24
2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án……… ………
24 2.1.1 Thực trạng quy định về thẩm quyền của tòa án trong giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng……… ……… 24
2.1.2 Thực trạng quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án……… ……… 28
2.1.3 Thực trạng quy định về nguyên tắc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án……… 40
2.2 Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng tòa án trên địa bàn tỉnh Sơn La……… …… 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……… …… 63
Chương 3……… …… 64
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG TÒA ÁN Ở VIỆT NAM 64
3.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án……… … …… 64
3.2 Các giải pháp tổ chức thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án……… 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3……… 71
KẾT LUẬN CHUNG……… ….… 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……….… 73
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
HĐTD: Hợp đồng tín dụng
TCTD: Tổ chức tín dụng
TMCP: Thương mại cổ phần
UBND: Ủy ban nhân dân
NHTM: Ngân hàng thương mại
NDTC: Nhân dân tối cao
NN&PTNT: Nông nghiệp & phát triển nông thôn
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn ở Việt Nam trong những năm qua cho thấy rằng hệ thống quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh chấp về HĐTD nói riêng đã được Nhà nước ta quan tâm xây dựng và phát triển theo hướng ngày càng hoàn thiện Tuy nhiên, với số lượng tranh chấp phát sinh từ HĐTD có xu hướng tăng lên cả về số lượng và tính phức tạp thì tình trạng tồn đọng tranh chấp ngày càng nhiều Các tranh chấp phát sinh từ HĐTD chậm được giải quyết đã cho thấy những hạn chế, bất cập của pháp luật về nội dung, pháp luật về hình thức
Với tình hình của nền kinh tế nước ta hiện nay, các tranh chấp phát sinh từ HĐTD đang là thách thức lớn đối với lĩnh vực tài chính nước nhà, bởi nếu các tranh chấp này không được giải quyết nhanh, kịp thời thì nợ xấu ngày càng gia tăng và tác động tiêu cực đến việc lưu thông dòng tiền trong nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các NHTM
Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến HĐTD ở Việt Nam thời gian qua, nhiều câu hỏi được đặt ra cần có lời giải đáp thỏa đáng như: cần nhận thức như thế nào về bản chất của các tranh chấp và cơ chế giải quyết các tranh chấp phát sinh
từ HĐTD; làm thế nào để hạn chế các tranh chấp phát sinh từ HĐTD, nếu đã phát sinh tranh chấp thì làm thế nào để giải quyết nhanh chóng, thuận tiện và ít tốn kém
về thời gian, tiền bạc cho các bên liên quan?
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD, cùng với những lợi thế do đang trực tiếp công tác trong ngành ngân
hàng, tôi quyết định chọn đề tài: “Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng Tòa án từ thực tiễn tỉnh Sơn La” làm đề tài luận văn
thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực pháp luật về HĐTD nói chung và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu với những khía cạnh
Trang 11khác nhau liên quan đến chủ đề này, chẳng hạn như:
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Hoàng Thanh Thúy năm 2010 với đề
tài: “Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo đảm tiền vay tại
ngân hàng thương mại ở Việt Nam”;
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Trần Thu Lan năm 2011 với đề tài:
“Hợp đồng cho vay tại ngân hàng thương mại – một số vấn đề lý luận và thực tiễn”;
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thị Liên Hương năm 2012
với đề tài: “Mối quan hệ pháp lý giữa hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm
bằng tài sản trong hoạt động cho vay tại các tổ chức tín dụng”;
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Phạm Thị Thanh Hà năm 2013 với đề tài:“Tranh chấp phát sinh từ hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng”…
Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra các cơ sở lý luận và khảo sát việc
áp dụng pháp luật nhằm hoàn thiện các quy định trong lĩnh vực ngân hàng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD Tuy nhiên, các công trình trên chưa tìm hiểu, nghiên cứu về thực tiễn giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa
án tại một địa phương cụ thể là tỉnh Sơn La, vì vậy có thể cho rằng việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án từ thực tiễn tỉnh Sơn La” là không trùng lặp với các công trình nghiên cứu là luận văn thạc sĩ đã được công bố trước đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn
về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án thông qua việc nghiên cứu các cơ sở pháp lý, khảo sát thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án; trên cơ sở đó, luận văn đưa ra một số giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quan điểm, tư tưởng, học thuyết và
Trang 12các quy định hiện hành về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án; kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật ở một số nước trên thế giới về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào việc giải quyết một số vấn đề lý
luận và thực tiễn cơ bản sau đây:
- Những vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án;
- Khảo sát và phân tích thực tiễn giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án trên địa bàn tỉnh Sơn La và chỉ ra những hạn chế, bất cập, các khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án;
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, luận văn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu có tính phổ quát trong khoa học xã hội như phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp diễn dịch và quy nạp; phương pháp thống kê, khảo sát; phương pháp so sánh, đối chiếu và một số phương pháp nghiên cứu khác trong khoa học xã hội
Cụ thể như sau:
- Nhóm phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch và quy nạp được sử dụng chủ yếu để giải quyết các vấn đề lý luận liên quan đến tranh chấp và giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của NHTM
- Nhóm phương pháp thống kê, khảo sát; so sánh và đối chiếu… được sử dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của NHTM
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc
Trang 13gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án và pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Sơn La
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án ở Việt Nam
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG TÒA ÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG
TÒA ÁN 1.1 Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án
1.1.1 Khái luận về tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp hợp đồng
Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “tranh chấp” được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan Những bất đồng, mâu thuẫn này có thể phát sinh từ các quan hệ xã hội do nhiều ngành luật khác nhau điều chỉnh, vì thế nên người ta thường đặt tên tranh chấp theo lĩnh vực phát sinh tranh chấp, chẳng hạn như tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa, tranh chấp về đất đai, tranh chấp về thuế… Thực tế cho thấy hầu hết các tranh chấp trong đời sống kinh tế - xã hội đều liên quan đến vấn đề phân tranh lợi ích giữa các chủ thể trong các mối quan hệ gắn liền với sự phân bổ các lợi ích Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, do sự phân bổ lợi ích giữa các chủ thể là rất rõ ràng dựa trên các quy luật và nguyên tắc của thị trường nên tranh chấp có xu hướng ngày càng trở nên gay gắt và diễn biến rất phức tạp
Theo Từ điển tiếng Việt, tranh chấp được hiểu là “sự giành giật, giằng co nhau một cái gì không rõ thuộc về ai hoặc của ai; tranh chấp là giằng co những gì
mà không biết ai đúng, ai sai, là sự giằng co nhau về mặt lợi ích, có thể về vật chất
Trang 15Trong số các loại hình tranh chấp rất đa dạng thường diễn ra trong đời sống hiện nay, tranh chấp hợp đồng thường được xem là loại tranh chấp phổ biến nhất, đồng thời cũng nhận được nhiều sự quan tâm nhất của giới học thuật
Về phương diện lý thuyết, tranh chấp hợp đồng được hiểu là sự bất đồng chính kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột về quyền và lợi ích giữa các chủ thể tham gia hợp đồng Nói cách khác, tranh chấp hợp đồng thực chất là những xung đột về lợi ích giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng, các xung đột này có thể phát sinh trong đời sống dân sự hàng ngày hoặc đời sống kinh doanh
Xét về phương diện lý thuyết, tranh chấp hợp đồng có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về khía cạnh chủ thể của tranh chấp, tranh chấp hợp đồng là loại tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau Do có địa vị pháp lý bình đẳng nên mỗi chủ thể hợp đồng đều có những quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong quá trình thực hiện hợp đồng, kể cả quyền khởi kiện và các quyền khác trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa họ với nhau
Thứ hai, về khía cạnh đối tượng của tranh chấp, Bộ luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp quy định rằng “đối tượng của tranh chấp được xác định qua các yêu cầu của bên này đối với bên kia Các yêu cầu này được xác định trong đơn khởi kiện và trong các văn bản lý giải để bảo vệ quyền lợi của mình Tuy nhiên, đối tượng của tranh chấp cũng có thể thay đổi trên cơ sở các yêu cầu bổ sung khi các
pháp luật tố tụng của Cộng hòa Pháp thì đối tượng của tranh chấp luôn liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp và lợi ích đó được thể hiện qua yêu cầu cụ thể của các bên, đặc biệt là bên nguyên đơn trong hồ sơ khởi kiện tại tòa án Nói cách khác, đa số các tranh chấp hợp đồng là loại tranh chấp về lợi ích tư,
1 Xem: Từ điển Việt Nam, tr.476
2 Vấn đề này được ghi nhận tại Điều 4 Bộ luật tố tụng của Cộng hòa Pháp Dẫn bởi nguồn: Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1998, trang 8
Trang 16do luật tư điều chỉnh, trong đó quyền tự định đoạt của các bên tham gia tranh chấp được pháp luật công nhận, tôn trọng và bảo vệ Quyền tự định đoạt của các bên là yếu tố then chốt, quyết định đến cách thức giải quyết tranh chấp giữa các bên Điều
đó thể hiện ở chỗ, các bên tranh chấp có thể tự lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp giữa họ với nhau như: giải quyết bằng phương thức hòa giải, thương lượng, trọng tài, tòa án Việc lựa chọn phương thức nào phù hợp nhất là quyền của các bên nhưng phải dựa trên nền tảng nguyên tắc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, tôn trọng, bảo đảm thực hiện đúng pháp luật Đặc điểm này cho phép phân biệt giữa tranh chấp hợp đồng với các loại tranh chấp liên quan đến lợi ích công như tranh chấp giữa các cơ quan nhà nước với nhau; tranh chấp giữa các quốc gia với nhau hoặc với các tổ chức quốc tế; tranh chấp giữa nhà nước với tư nhân…
Thứ ba, tranh chấp hợp đồng được giải quyết trên tinh thần tôn trọng sự thỏa thuận của các bên Nói cách khác, việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng được thực hiện theo nguyên tắc ưu tiên sự thỏa thuận hợp pháp của các bên có tranh chấp Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về cơ quan giải quyết tranh chấp và phương thức giải quyết tranh chấp thì việc giải quyết tranh chấp mới được thực hiện theo quy định của pháp luật
1.1.1.2 Khái niệm tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
Trong khoa học pháp lý hiện nay, khái niệm tranh chấp nói chung và tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng nói riêng được sử dụng khá phổ biến Tuy nhiên, thực tế cho thấy dường như giữa các nhà nghiên cứu, các học giả vẫn chưa có một quan niệm thực sự thống nhất về thuật ngữ này
Theo cách hiểu thông thường, tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng được là sự mâu thuẫn hay bất đồng về quyền và lợi ích phát sinh từ hợp đồng tín dụng giữa NHTM với khách hàng vay vốn Các tranh chấp này chủ yếu phát sinh trong quá trình thực hiện các điều khoản của hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay (NHTM) và bên vay (tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn) Trên nguyên tắc, một hợp đồng nói chung và hợp đồng tín dụng nói riêng chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về phương diện quyền lợi giữa các bên tham gia hợp đồng đã được thể
Trang 17nào cũng đều tất yếu dẫn đến tranh chấp giữa các bên Có những trường hợp có hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng nhưng không có tranh chấp bởi vì giữa các bên chủ thể của HĐTD không thể hiện tranh chấp đó bằng các hành vi phản kháng cụ thể Qua khảo sát thực tiễn cho thấy, các tranh chấp phát sinh từ HĐTD chủ yếu là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, tranh chấp về chủ thể xác lập và thực hiện hợp đồng, tranh chấp về lãi suất, tranh chấp về nợ gốc, tranh chấp về nợ lãi, tranh chấp
về việc giải ngân, tranh chấp về thực hiện các biện pháp bảo đảm, tranh chấp trong định giá tài sản bảo đảm và xử lý tài sản đảm bảo, tranh chấp về luật áp dụng đối với quan hệ hợp đồng…
Ở mức độ khái quát, có thể định nghĩa tranh chấp phát sinh từ HĐTD như sau:
Tranh chấp phát sinh từ HĐTD là những bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về lợi ích phát sinh trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết HĐTD, được thể hiện ra bên ngoài thông qua những bằng chứng, những hành vi cụ thể và có thể xác định được
1.1.1.3 Các đặc điểm cơ bản của tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
Xét về phương diện lý thuyết, ngoài những đặc điểm chung giống như mọi loại tranh chấp nói chung và tranh chấp hợp đồng nói riêng, tranh chấp phát sinh từ HĐTD còn có một số đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về phương diện chủ thể, một bên chủ thể của tranh chấp phát sinh
Trang 18Thứ hai, về phương diện đối tượng tranh chấp, có thể nhận thấy đối tượng của tranh chấp phát sinh từ HĐTD luôn mang yếu tố tài sản và gắn liền với quyền, lợi ích của các bên trong quan hệ tranh chấp, bao gồm: nguồn vốn tiền tệ, quyền lợi
và nghĩa vụ, lãi suất, biện pháp bảo đảm, chủ thể xác lập hợp đồng và thẩm quyền
ký kết HĐTD Cùng với sự gia tăng các tranh chấp hợp đồng tín dụng, đối tượng của các tranh chấp phát sinh từ HĐTD đang có xu hướng ngày càng trở nên đa dạng Điều này gây không ít khó khăn cho chính các bên tranh chấp cũng như các
cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp như tòa án và trọng tài
Thứ ba, về phương diện phạm vi tranh chấp, có thể cho rằng phạm vi tranh chấp chính là các quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng Các quyền, nghĩa vụ này được thể hiện thông qua các điều khoản cụ thể của hợp đồng tín dụng
do các bên thỏa thuận Suy cho cùng, dù nội dung tranh chấp có thể rất khác nhau nhưng mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng đều là tranh chấp liên quan đến quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ hợp đồng
Thứ tư, về nguy cơ phát sinh tranh chấp, các tranh chấp phát sinh từ HĐTD luôn có nguy cơ xảy ra cao hơn so với các lĩnh vực khác Sở dĩ như vậy là bởi vì, hoạt động cho vay của NHTM luôn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro bởi người vay không được ngân hàng giải ngân hoặc người vay không trả tiền vay cả gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng, vì thế mà nguy cơ xảy ra tranh chấp giữa các bên cũng cao hơn so
với hầu hết các lĩnh vực kinh doanh khác
Việc nhận diện các dấu hiệu, đặc điểm trên đây của tranh chấp phát sinh từ HĐTD có ý nghĩa rất lớn về mặt lý luận Điều đó thể hiện ở chỗ, việc làm rõ các đặc điểm này sẽ góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận pháp luật về tranh
Trang 19chấp và giải quyết tranh chấp nói chung cũng như tranh chấp về hợp đồng và hợp đồng tín dụng nói riêng Mặt khác, việc nhận diện rõ các dấu hiệu, đặc điểm này cũng có những tác dụng nhất định đối với các nhà làm luật và những người áp dụng pháp luật trong quá trình hoàn thiện pháp luật và thực hành pháp luật
1.1.1.4 Phân loại tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
Thực tiễn cho thấy tranh chấp phát sinh từ HĐTD thường rất đa dạng và phức tạp Về lý thuyết, có thể phân loại tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng dựa vào các tiêu chí cơ bản như:
Thứ nhất, nếu dựa vào tiêu chí nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, có thể phân chia tranh chấp hợp đồng tín dụng thành hai loại gồm:
- Tranh chấp phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng từ phía ngân hàng thương mại: HĐTD là một dạng của hợp đồng ưng thuận có hình thức bắt buộc thể hiện bằng văn bản Vì thế, sau khi HĐTD có hiệu lực, việc giải ngân vốn mà hai bên đã thoả thuận là nghĩa vụ của các NHTM Tuy nhiên, vì một lý do nào đó (lý do khách quan hoặc lý do chủ quan) mà NHTM đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân đối với khách hàng Điều này làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp, làm chậm tiến độ xây dựng, phá vỡ kế hoạch, mất cơ hội kinh doanh của khách hàng vay vốn, dẫn tới những tổn thất lớn về kinh tế, về uy tín và thương hiệu của khách hàng Do đó, khách hàng có thể kiến nghị, đòi bồi thường cho những tổn thất đó, vì vậy mà tranh chấp HĐTD đã xảy ra
- Tranh chấp phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng từ phía khách hàng vay vốn Phần lớn các tranh chấp phát sinh từ HĐTD đều bắt nguồn từ hành vi
vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi của khách hàng với nhiều lý do khác nhau như sự tác động của tình hình suy thoái kinh tế khiến các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ hoặc
do doanh nghiệp cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng; do doanh nghiệp phá sản dẫn đến việc không có khả năng trả nợ cho NHTM khi đến hạn
Thứ hai, nếu dựa vào tiêu chí thành phần chủ thể của quan hệ tranh chấp, có thể phân loại tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng thành các loại chủ yếu sau
Trang 20đây:
- Tranh chấp phát sinh giữa hai bên là ngân hàng cho vay với bên kia là khách hàng vay vốn Đây là loại tranh chấp phổ biến nhất hiện nay trong lĩnh vực cho vay của NHTM vì quan hệ hợp đồng tín dụng có bản chất là giao dịch phát sinh giữa hai chủ thể này với nhau
- Tranh chấp phát sinh giữa ngân hàng với khách hàng vay vốn và với bên thứ ba (ví dụ: bên thế chấp, bên bảo lãnh, bên được ủy quyền quản lý tài sản bảo đảm…) Loại tranh chấp này ít xảy ra hơn vì các xung đột lợi ích nhiều bên thường
ít xảy ra hơn và nếu có xảy ra thì việc giải quyết tranh chấp cũng sẽ rất phức tạp
- Tranh chấp phát sinh giữa ngân hàng (với tư cách là bên nhận bảo đảm) với bên bảo đảm trong giao dịch bảo đảm tiền vay ngân hàng Loại tranh chấp này tuy không phổ biến như loại tranh chấp thứ nhất nhưng cũng thường xảy ra trên thực tế
do phần lớn các hợp đồng tín dụng đều là hợp đồng cho vay có bảo đảm bằng tài sản
Thứ ba, nếu dựa vào tiêu chí đối tượng của tranh chấp phát sinh từ HĐTD,
có thể phân loại tranh chấp này bao gồm các loại chủ yếu như:
- Tranh chấp về quyền và lợi ích của các bên trong hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng bảo đảm tiền vay; tranh chấp về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng bảo đảm tiền vay;
- Tranh chấp về số tiền vay và lãi suất cho vay;
- Tranh chấp về thời hạn vay vốn, thời hạn tính lãi quá hạn, thời hạn bảo đảm tiền vay;
- Tranh chấp về tiền phạt vi phạm hợp đồng và/hoặc tiền bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng tín dụng
1.1.2 Khái luận về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án
Như đã đề cập ở trên, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau, trong đó phương thức giải quyết
Trang 21tranh chấp bằng thương lượng giữa các bên thường được ưu tiên áp dụng Tuy nhiên, trong trường hợp việc thương lượng không thành thì tranh chấp có thể được các bên giải quyết bằng con đường khác, chẳng hạn như thông qua cơ quan tài phán
là trọng tài hoặc tòa án
Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án Việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng các các phương thức khác như thương lượng, hòa giải hay trọng tài chỉ được nhắc đến với mục đích so sánh để nhằm làm nổi bật việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng con đường tòa án mà thôi
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án
Về phương diện lý thuyết, giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng là việc các bên tranh chấp hoặc bên thứ ba áp dụng các cách thức, biện pháp khác nhau nhằm khắc phục hoặc loại trừ các mâu thuẫn, bất đồng đã phát sinh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội
Khi một tranh chấp phát sinh, đặc biệt là các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng, việc giải quyết tranh chấp sẽ đặt ra hàng loạt vấn đề cần được pháp luật quy định rõ như: chủ thể nào sẽ tham gia giải quyết tranh chấp; thẩm quyền và thủ tục giải quyết tranh chấp như thế nào; hiệu lực của phán quyết khi giải quyết tranh chấp ra sao? Trên nguyên tắc, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung và tranh chấp phát sinh từ HĐTD nói riêng cần phải đáp ứng được những yêu cầu cơ bản như: nhanh chóng, kịp thời; tiết kiệm và hiệu quả về kinh tế; không làm hạn chế, cản trở hoạt động kinh doanh của các bên tranh chấp; có thể tận dụng được những cơ hội kinh doanh; loại trừ những rủi ro từ tác động của thị trường; bảo đảm giữ được bí mật của hoạt động kinh doanh cũng như uy tín, thương hiệu của các bên chủ thể trong quan hệ tranh chấp; quyết định giải quyết tranh chấp phải được bảo đảm thi hành Mỗi bên đều phải tự cân nhắc những chi phí phải bỏ
ra khi giải quyết tranh chấp, lợi ích kinh tế và sự ổn định quan hệ kinh doanh để từ
đó lựa chọn phương thức và đưa ra yêu cầu giải quyết tranh chấp
Trang 22Nói cách khác, tranh chấp phát sinh từ HĐTD chỉ được giải quyết thỏa đáng khi các bên đã tìm ra phương án dung hòa được quyền lợi và nghĩa vụ của nhau Thực tế cho thấy, không có một cơ chế giải quyết tranh chấp nào có thể thỏa mãn toàn bộ các yêu cầu nêu trên, kể cả cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, vốn dĩ được ca ngợi là rất phù hợp với yêu cầu của các chủ thể kinh doanh
Đối với cơ chế giải quyết tranh chấp HĐTD bằng tòa án, có hai vấn đề cơ bản cần phải xác định, đó là: (i) thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc về tòa án và (ii) thủ tục giải quyết tranh chấp là tố tụng tư pháp Từ cách tiếp cận như vậy, tác giả luận văn cho rằng có thể đưa ra khái niệm về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án như sau:
Giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án là việc cơ quan tòa án
có thẩm quyền chấp nhận yêu cầu khởi kiện của một trong các bên tham gia hợp
đồng tín dụng (gọi là nguyên đơn) để tiến hành phân xử về quyền, lợi ích giữa các
bên tranh chấp bằng một phán quyết dựa trên cơ sở áp dụng pháp luật về nội dung
và pháp luật tố tụng
Từ định nghĩa nêu trên, có thể nhận thấy việc giải quyết tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án có những đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, chủ thể giải quyết tranh chấp là tòa án, theo đó cơ quan này nhân danh quyền lực tư pháp của Nhà nước để đưa ra phán quyết nhằm chấm dứt sự xung đột, bất đồng về quyền và lợi ích giữa các bên tranh chấp Trên nguyên tắc, chỉ cần một bên tranh chấp yêu cầu đúng cơ quan tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật thì khi đó tòa án có trách nhiệm phải thụ lý vụ việc để giải quyết
mà không được từ chối, bất kể vì lý do gì, kể cả trường hợp chưa có pháp luật điều
Thứ hai, phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng tòa án
5 Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 và các Điều từ 43 đến 45 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, tòa án không được từ chối giải quyết tranh chấp vì lý do không có luật điều chỉnh và phải áp dụng các nguồn luật khác để giải quyết tranh chấp
Trang 23Thứ ba, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng nói chung và tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng bằng tòa án phải tuân theo nguyên tắc “hai cấp xét xử” Đây
là một trong những điểm khác biệt cơ bản so với việc giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng cơ chế trọng tài Nguyên tắc này vừa có mặt tích cực, vừa có mặt hạn chế của nó Mặt tích cực của nguyên tắc “hai cấp xét xử” thể hiện ở chỗ, do phải trải qua hai cấp xét xử nên quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng tố tụng tòa án
sẽ đảm bảo tính khách quan, chính xác hơn cho phán quyết cuối cùng về vụ tranh chấp Còn mặt hạn chế của nguyên tắc này là ở chỗ, do việc xét xử được thực hiện qua hai cấp nên sẽ tốn thời gian và chi phí cho các bên tranh chấp
Thứ tư, nguyên tắc xét xử của tòa án là “xử công khai”, vì vậy các thẩm phán
và hội thẩm nhân dân tham gia hội đồng xét xử thường phải cẩn trọng hơn trong việc xem xét sự thật khách quan của vụ án để đưa ra phán quyết cuối cùng bảo đảm tính khách quan và chính xác, từ đó hạn chế nguy cơ tòa án “xử sai” gây ảnh hưởng bất lợi đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp
Thứ năm, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng tòa án có khả năng đảm bảo quyền lợi cho bên thắng kiện tốt hơn do phán quyết đã có hiệu lực của tòa án có giá trị cưỡng chế thi hành và được giao cho cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thực
Trang 24hiện việc cưỡng chế thi hành án
1.1.2.2 So sánh hình thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng tòa
án với các hình thức giải quyết tranh chấp khác
Trên thế giới, tùy thuộc vào quan điểm, tư tưởng của các nhà lập pháp của từng quốc gia mà luật pháp mỗi nước có những quy định khác nhau về vấn đề giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD Mặc dù vậy, hầu hết các quốc gia đều thừa nhận các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD nói riêng bao gồm: thương lượng; hòa giải; trọng tài thương mại và toà án
Thực tế cho thấy, mỗi hình thức giải quyết tranh chấp nói trên đều có những lợi thế và đồng thời cũng thể hiện những điểm hạn chế nhất định Tùy thuộc vào tính chất của tranh chấp, mức độ phức tạp của tranh chấp, khả năng và điều kiện cụ thể của các bên mà các chủ thể tranh chấp có thể lựa chọn hình thức này hay hình thức khác, hoặc sử dụng phối hợp nhiều hình thức khác nhau nhằm giải quyết tranh chấp đạt hiệu quả cao nhất
Trong số các hình thức giải quyết tranh chấp nói trên, hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án thường chiếm tỷ lệ cao so với các hình thức giải quyết tranh chấp khác do hình thức này có nhiều ưu điểm vượt trội như: tòa án là cơ quan đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước; nguyên tắc xét xử công khai; việc giải quyết tranh chấp được thực hiện qua hai cấp; phán quyết có hiệu lực của tòa án được cưỡng chế thi hành bởi Nhà nước thông qua cơ quan thi hành án dân sự…
Ở mức độ khái quát, có thể hình dung phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án có những điểm tương đồng và khác biệt cơ bản sau đây so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác như thương lượng, hòa giải
và trọng tài:
a) Những điểm tương đồng:
Một cách khái quát, giữa phương thức giải quyết tranh chấp HĐTD bằng tòa
Trang 25Thứ hai, tất cả các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD đều được thực hiện dựa trên tinh thần của nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc này có những yêu cầu khác nhau giữa các phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó phương thức thương lượng giữa các bên được xem là cơ chế giải quyết tranh chấp thể hiện yêu cầu cao nhất về nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp, tiếp theo đó là phương thức hòa giải, phương thức trọng tài và cuối cùng là phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án
Thứ ba, các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD đều được thực hiện trên cơ sở các quy định hiện hành của pháp luật Trong một số trường hợp đặc biệt, việc giải quyết tranh chấp HĐTD bằng tòa án hoặc trọng tài có thể xem xét các án lệ có liên quan để áp dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp
b) Những điểm khác biệt:
Xét về khía cạnh lý thuyết, giữa các hình thức giải quyết tranh chấp HĐTD
có những điểm khác biệt cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể giải quyết tranh chấp Đối với hình thức thương lượng, chủ thể giải quyết tranh chấp chỉ bao gồm các bên tranh chấp mà không có sự tham gia của bên thứ ba Trong khi đó, với các hình thức giải quyết tranh chấp khác như hòa giải, trọng tài hay tòa án thì việc giải quyết tranh chấp sẽ do bên thứ ba (người hòa giải, trọng tài, tòa án) thực hiện trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền
tự định đoạt của các bên tranh chấp
Thứ hai, về thủ tục giải quyết tranh chấp Đối với hình thức thương lượng,
Trang 26thủ tục giải quyết tranh chấp thường rất đơn giản, theo đó các bên tranh chấp trực tiếp gặp nhau để trao đổi, tháo gỡ các bất đồng, xung đột lợi ích và đi đến thống nhất cách giải quyết các xung đột, bất đồng đó bằng một biên bản thương lượng giữa các bên Đối với các hình thức giải quyết tranh chấp khác như hòa giải, trọng tài hay tòa án thì thủ tục giải quyết có phần phức tạp hơn, theo đó việc hòa giải được thực hiện theo thủ tục hòa giải; việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được thực hiện theo thủ tục tố tụng trọng tài; còn việc giải quyết tranh chấp bằng tòa án thì được thực hiện theo thủ tục tố tụng tòa án (tố tụng tư pháp)
Thứ ba, về tính công khai trong giải quyết tranh chấp Đối với hình thức thương lượng, các bên tranh chấp không cần công khai cho bên thứ ba biết về việc giải quyết tranh chấp giữa họ với nhau Trong khi đó, đối với hình thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải và trọng tài thì mức độ công khai rõ ràng có cao hơn so với hình thức thương lượng, vì có sự tham gia của người thứ ba vào việc giải quyết tranh chấp Đặc biệt, đối với việc giải quyết tranh chấp bằng tòa án thì mức độ công khai là cao nhất, thậm chí việc công khai còn được xem là một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng tòa án
Thứ tư, về giá trị pháp lý của việc giải quyết tranh chấp Đối với hình thức thương lượng, giá trị pháp lý của việc thương lượng giữa các bên tranh chấp thường được xem như giá trị pháp lý của việc ký kết một hợp đồng Nói cách khác, các thỏa thuận trong biên bản thương lượng giữa các bên tranh chấp chỉ có giá trị ràng buộc giữa các bên tham gia thương lượng chứ không có giá trị ràng buộc đối với người thứ ba Trong khi đó, đối với hình thức hòa giải, biên bản hòa giải thành có giá trị ràng buộc đối với chính các bên tranh chấp và cũng có giá trị ràng buộc ở mức độ nhất định đối với bên thứ ba là người hòa giải Đối với hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, phán quyết trọng tài tuy có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp nhưng không có tính cưỡng chế bắt buộc thi hành giống như phán quyết của tòa án Riêng đối với hình thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án thì giá trị pháp
lý của việc giải quyết tranh chấp được đánh giá là cao nhất, do phán quyết của tòa
án đã có hiệu lực sẽ có giá trị bắt buộc thi hành và được đảm bảo thực hiện bằng sức
Trang 27mạnh cưỡng chế của quyền lực nhà nước
c) Ưu điểm và hạn chế của các hình thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Dựa trên tiêu chí cơ bản là mức độ đáp ứng yêu cầu và khả năng thỏa mãn lợi ích của các bên tranh chấp, có thể cho rằng mỗi hình thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có những ưu điểm và hạn chế chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, đối với hình thức thương lượng: Ưu điểm của hình thức này thể hiện ở chỗ, đây là hình thức giải quyết tranh chấp đơn giản, nhanh chóng, ít tốn kém
và thân thiện Khi giải quyết tranh chấp bằng hình thức thương lượng các bên có thể tăng cường hiểu biết lẫn nhau Mặt khác, các bên có thể kiểm soát được các thông tin và bí mật kinh doanh của mình Hạn chế của hình thức này thể hiện ở chỗ: Do biên bản thương lượng không có tính bắt buộc thi hành nên người thiếu thiện chí sẽ lợi dụng điểm yếu này để trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên kia
Thứ hai, đối với hình thức hòa giải: Ưu điểm của hình thức này thể hiện ở chỗ, đây là hình thức giải quyết tranh chấp đơn giản, nhanh chóng, ít tốn kém và duy trì được quan hệ hợp tác vẫn có giữa các bên Các bên cũng có thể dễ dàng kiểm soát được việc cung cấp chứng từ và giữ được các bí quyết kinh doanh và uy tín của các bên Mặt khác, do hòa giải xuất phát từ sự tự nguyện có điều kiện của các bên, nên kết quả hòa giải thành thì các bên thường nghiêm túc thực hiện Tuy nhiên, điểm hạn chế của hình thức giải quyết tranh chấp này thể hiện ở chỗ, nếu hoà giải bất thành thì lợi thế về chi phí thấp trở thành gánh nặng bổ sung cho các bên tranh chấp Người thiếu thiện chí sẽ lợi dụng thủ tục hòa giải để trì hoản việc thực hiện nghĩa vụ của mình và có thể đưa đến hậu quả là bên có quyền lợi bị vi phạm
mất quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc trọng tài vì hết thời hạn khởi kiện
Thứ ba, đối với hình thức giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng trọng tài: Ưu điểm của hình thức này thể hiện ở chỗ, thủ tục trọng tài đơn giản, nhanh chóng nên ít tốn kém về tiền bạc cho các bên Hơn nữa, các bên tranh chấp
có quyền lựa chọn trọng tài viên nhiều kinh nghiệm, am hiểu vấn đề để giải quyết
Trang 28Thứ tư, đối với hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án: Ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp này thể hiện ở chỗ,
do tòa án là cơ quan xét xử của Nhà nước nên phán quyết của tòa án có tính cưỡng chế cao nhất Nếu các bên không chấp hành bản án, quyết định của tòa án thì sẽ bị cưỡng chế thi hành, quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo tốt hơn nếu như bên thua kiện có tài sản để thi hành án Tuy vậy, hình thức giải quyết tranh chấp này vẫn có những điểm hạn chế như: thủ tục tại tòa án thường thiếu linh hoạt, trình tự tụng tố tụng kéo dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh một cách bình thường của các bên chủ thể tranh chấp Bên cạnh đó, nguyên tắc xét xử công khai được xem là tiến bộ, mang tính răn đe nhưng lại là cản trở đối với doanh nhân và doanh nghiệp khi những bí mật kinh doanh bị tiết lộ Dù tranh chấp xuất phát từ bên cho vay hay từ bên vay thì việc bị công khai sai phạm là điều
mà các bên chủ thể hoàn toàn không mong muốn
1.2 Những vấn đề lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh
Trang 29nhằm điều chỉnh quan hệ tranh chấp (phát sinh giữa tổ chức tín dụng với khách hàng vay vốn và/hoặc bên thứ ba có liên quan đến hợp đồng tín dụng) và quan hệ giải quyết tranh chấp (phát sinh giữa chủ thể giải quyết tranh chấp với các bên có tranh chấp).
Định nghĩa trên cho thấy pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án có những dấu hiệu cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về khía cạnh nguồn của pháp luật, có thể cho rằng nguồn pháp luật
về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án bao gồm chủ yếu là các văn bản quy phạm pháp luật (luật thành văn) Ngoài ra, nguồn pháp luật thứ hai có thể bao gồm các tập quán, thông lệ quốc tế về giao dịch tín dụng và các
án lệ có liên quan trực tiếp đến tranh chấp về hợp đồng tín dụng được tòa án viện dẫn khi xét xử các vụ tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
Thứ hai, về khía cạnh cấu trúc, pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án bao gồm các quy phạm pháp luật hình thức (có nhiệm vụ quy định về thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng tòa án) và các quy phạm pháp luật về nội dung (quy định về nội dung và hình thức của hợp đồng tín dụng, các giao dịch khác có liên quan đến hợp đồng tín dụng, ví dụ như giao dịch cầm cố, thế chấp, bảo lãnh…)
1.2.2 Đối tượng điều chỉnh và cấu trúc của pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án
Về đối tượng điều chỉnh, định nghĩa nêu trên cho thấy đối tượng điều chỉnh của pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án bao gồm hai nhóm quan hệ xã hội sau đây:
- Quan hệ tranh chấp phát sinh giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng Việc xác định rõ nhóm quan hệ xã hội này sẽ là cơ sở để xác định thẩm quyền giải quyết của tòa án, đồng thời cũng xác định thủ tục và cách thức giải quyết tranh chấp của tòa án Quan hệ xã hội này thể hiện nội dung tranh chấp, đối tượng của tranh
Trang 30chấp, loại tranh chấp cần được giải quyết bởi tòa án và đồng thời cũng chi phối đến việc chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp đó (luật về nội dung và luật về hình thức)
- Quan hệ giải quyết tranh chấp phát sinh giữa cơ quan giải quyết tranh chấp
là tòa án với các bên tranh chấp Đây là quan hệ xã hội vừa thể hiện thẩm quyền giải quyết tranh chấp, cách thức giải quyết tranh chấp của tòa án và kết quả cuối cùng của việc giải quyết tranh chấp đó như thế nào (được thể hiện bằng phán quyết/quyết định xét xử của tòa án)
Về phương diện cấu trúc, pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng tòa án thường được hiểu bao gồm các bộ phận cấu thành cơ bản sau: (i) Các quy định pháp luật về thẩm quyền của tòa án trong giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng;
(ii) Các quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án;
(iii) Các quy định về nguyên tắc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án…
(iiii) Các quy định văn bản pháp luật Luật ngân hàng (Luật ngân hàng Việt Nam);
(iiiii) Các quy định pháp luật về các tổ chưc tín dụng;
(iiiiii) Các quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng:
Hợp đồng tín dụng là hợp đồng dân sự, là một dạng của hợp đồng cho vay tài sản Cho nên trong quá trình ký kết, thực hiện hợp đồng tín dụng hoặc nếu có tranh chấp nào xảy ra liên quan đến hợp đồng tín dụng thì trước hết sẽ tuân thủ các quy định của Luật chuyên ngành tức là pháp luật về tín dụng ngân hàng Nếu các quy định của Luật chuyên ngành không quy định hoặc quy định không đầy đủ thì sẽ áp dụng các quy định chung của pháp luật để giải quyết Như các quy định về quy chế cho vay (BLDS 2005);
Hợp đồng tín dụng là hình thức pháp lý của hoạt động cho vay giữa tổ chức
Trang 31tín dụng và khách hàng vay Do vậy, xét về bản chất pháp lý hợp đồng tín dụng là một dạng của hợp đồng vay tài sản Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất quan trọng của hợp đồng tín dụng đối với nền kinh tế mà pháp luật đòi hỏi hợp đồng tín dụng phải tuân thủ những điều kiện chặt chẽ như: điều kiện về chủ thể, hình thức, thủ tục giao kết hợp đồng
Trên nguyên tắc, khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền của mình, tòa án vừa phải áp dụng các quy định về nội dung, vừa phải áp dụng các quy định về hình thức để đưa ra phán quyết cuối cùng về vụ tranh chấp nhằm đảm bảo tính khách quan, công bằng và chính xác
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
1 Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng là loại hình tranh chấp kinh doanh thương mại khá phổ biến trong nền kinh tế thị trường, do tính đặc thù của mối quan hệ kinh tế giữa bên cho vay là tổ chức tín dụng với bên vay là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình (với tư cách là khách hàng vay vốn)
2 Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau như thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án Thực
tế cho thấy phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng tòa án tỏ ra
có nhiều ưu thế hơn do phán quyết của tòa án được cưỡng chế thi hành bằng quyền lực nhà nước nên quyền lợi của bên thắng kiện sẽ được bảo đảm tốt hơn
3 Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa
án là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng nói chung Lĩnh vực pháp luật này bao gồm hai nhóm cơ bản là các quy định
về nội dung và các quy định về hình thức
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG TÒA ÁN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA 2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án
2.1.1 Thực trạng quy định về thẩm quyền của tòa án trong giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
Thực tế cho thấy, ở các nước trên thế giới vấn đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp của tòa án thường rất phức tạp, theo đó thẩm quyền của tòa án có thể được xác định theo vụ việc, theo cấp tòa án, theo lãnh thổ hoặc theo lựa chọn của nguyên đơn
Ở Việt Nam, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng của tòa án cũng được thực hiện tương tự như ở nhiều nước khác trên thế giới, bao gồm việc xác định thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo lãnh thổ, thẩm quyền theo cấp tòa án và thẩm quyền theo lựa chọn của nguyên đơn
Phần phân tích dưới đây về phương thức xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của tòa án sẽ làm rõ hơn nhận định này
Trước hết, về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của tòa án theo vụ việc
Xác định thẩm quyền theo vụ việc thực chất là xác định xem những loại vụ, việc nào sẽ do tòa án giải quyết trên cơ sở quy định của pháp luật Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng cũng là một loại vụ việc cần được tòa án thụ lý giải quyết
và cần được quy định rõ trong các văn bản pháp luật về tố tụng dân sự
Hợp đồng tín dụng, về nguyên tắc có thể tồn tại dưới dạng là một hợp đồng dân sự hoặc hợp đồng thương mại, tùy thuộc vào chủ thể hợp đồng có phải là chủ
Trang 34sự 2015, tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự, trong đó có hợp đồng tín dụng mà bên vay không phải là chủ thể kinh doanh và việc tham gia hợp đồng không vì mục tiêu lợi nhuận
Đối với các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng mà bên vay là chủ thể kinh doanh và việc tham gia hợp đồng nhằm mục tiêu lợi nhuận thì về bản chất, đây
là hợp đồng kinh doanh thương mại nên theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật
tố tụng dân sự, nhà làm luật ấn định rằng các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án
Thứ hai, về thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự nói chung và tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
Một là, tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục
sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Hai là, các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định
6
Hiện nay, quan điểm phân biệt hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại tuy không còn được tranh luận nhiều như trước nữa nhưng các quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 cho thấy rằng các nhà làm luật vẫn có ý phân biệt giữa hai loại hợp đồng này khi thiết kế thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về dân sự và thương mại tại hai điều luật khác nhau (Điều 26 và Điều 30) của bộ luật này
Trang 35tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật tố tụng dân sự
Ba là, đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết Trường hợp vụ án dân sự đã được Tòa án thụ lý và đang giải quyết theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án có sự thay đổi nơi cư trú, trụ sở hoặc địa chỉ giao dịch của đương sự
Thứ ba, về thẩm quyền theo cấp tòa án
Theo quy định tại các Điều từ 35 đến 38 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng còn được xác định theo cấp tòa án, bao gồm thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện và thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh, cũng như các tòa chuyên trách thuộc các cấp tòa án này Theo khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng có bản chất là hợp đồng dân sự hoặc hợp đồng kinh doanh thương mại Còn tòa chuyên trách (tòa dân sự) của tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về dân sự và kinh doanh thương
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, tòa
án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp về dân sự hoặc kinh doanh thương mại có liên quan đến hợp đồng tín dụng Tương tự, điểm a khoản 3 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 cũng quy định rõ Tòa kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự (trong đó bao gồm các vụ tranh chấp về hợp đồng tín dụng)
Thứ tư, về thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Theo quy định tại Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thẩm quyền của Tòa
7 Xem thêm: Khoản 1 Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Trang 36án theo sự lựa chọn của nguyên đơn trong vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng được xác định như sau:
Một là, nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn
có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;
Hai là, nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
Ba là, nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ
án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
Bốn là, nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;
Năm là, nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ
sở giải quyết;
Sáu là, nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết
Từ các quy định cơ bản trên đây về thẩm quyền của tòa án trong giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng, có thể rút ra một số kết luận sau:
- Về ưu điểm: Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp bằng tòa án đã có những quy định khá chi tiết, cụ thể và đầy đủ về các tiêu chí xác định thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng Chẳng hạn, pháp luật đã quy định về thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo lãnh thổ, thẩm quyền theo cấp tòa án, thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn Thậm chí, nhà làm luật cũng đã dự liệu cả trường hợp nếu có tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan tòa án thì cách giải quyết tranh chấp về thẩm quyền đó như thế
Trang 37- Về hạn chế: Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp bằng tòa án chưa
dự liệu rõ cách thức xác định thẩm quyền của tòa án trong trường hợp giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng có yếu tố nước ngoài, ví dụ: tranh chấp hợp đồng tín dụng mà bên cho vay hoặc bên vay có quốc tịch nước ngoài; tranh chấp hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản mà tài sản bảo đảm đang tọa lạc ở nước ngoài, hoặc bên bảo đảm có quốc tịch nước ngoài, hoặc hợp đồng bảo đảm được ký kết ở nước ngoài… Điều này dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xác định thẩm quyền của tòa án để thụ lý và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có yếu tố nước ngoài, một trong những loại hợp đồng ngày càng phổ biến ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế
Ngoài ra, mặc dù Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã quy định rõ “nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết” nhưng trên thực tế Nhà nước chưa ban hành văn bản hướng dẫn cách thức xác định nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết
Vì vậy, đây cũng là khó khăn, vướng mắc liên quan đến xác định thẩm quyền của tòa án trong giải quyết tranh chấp hợp đồng nói chung và tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng nói riêng
2.1.2 Thực trạng quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng tòa án sẽ được thực hiện qua hai cấp xét xử là “sơ thẩm” và
“phúc thẩm”, dựa trên tinh thần của nguyên tắc “hai cấp xét xử” trong tố tụng tòa
án Trong trường hợp đặc biệt, vụ tranh chấp có thể được xét xử theo hai thủ tục đặc biệt không phải là “cấp xét xử” – đó là thủ tục giám đốc thẩm (khi phát hiện có vi
8 Theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 41 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, nhà làm luật đã dự liệu rõ cách giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các cấp tòa án trong cùng một địa phương hoặc giữa các cấp tòa án khác địa phương
Trang 38rõ hơn về quy trình giải quyết một vụ tranh chấp hợp đồng nói chung và tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng
Về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thủ tục giải quyết vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án cấp sơ thẩm phải trải qua các giai đoạn chủ yếu sau đây:
- Giai đoạn khởi kiện vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng: Theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự, trong thời hiệu khởi kiện một trong các bên chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng có thể khởi kiện bên kia tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình Đơn khởi kiện phải có đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và phải được gửi cho Tòa án có thẩm quyền kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm
Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có
để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của
- Giai đoạn thụ lý hồ sơ khởi kiện: Căn cứ vào thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp do pháp luật quy định, Tòa án nơi nhận đơn phải xem xét hồ sơ khởi kiện để thụ lý (nếu thuộc thẩm quyền giải quyết của mình) hoặc từ chối đơn kiện
9 Xem thêm: Khoản 5 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Trang 39Sau khi tiếp nhận đơn kiện và hồ sơ khởi kiện, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây: a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; b) Tiến hành thủ tục thụ lý
vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện
để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này; c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác; d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)
Trong quá trình thụ lý vụ án, thẩm phán phải yêu cầu người nộp đơn nộp tạm ứng án phí theo quy định (trừ trường hợp người nộp đơn khởi kiện được miễn hoặc thuộc diện không phải nộp án phí); đồng thời, tòa án phải thông báo cho người khởi kiện, các đương sự khác có liên quan đến vụ án và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp
10 Xem thêm: Khoản 1 Điều 191 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Trang 40biết về việc thụ lý vụ án
Khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thẩm phán xem xét đơn có thể trả lại đơn khởi kiện cho người nộp đơn
và phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do vì sao trả lại đơn khởi kiện
Trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án của Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án bảo đảm nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không thể tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ thì Chánh
án Tòa án phân công Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ; trường hợp đang xét xử
mà không có Thẩm phán dự khuyết thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu và Tòa án phải thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp
- Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm: Trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thẩm phán được phân công phụ trách việc giải quyết vụ án phải thực hiện các nhiệm vụ của mình theo quy định tại khoản 2 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, đồng thời phải ra một trong các quyết định sau đây: a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; b) Tạm đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự; c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; d) Đưa vụ án ra xét xử Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều
207 của Bộ luật tố tụng dân sự hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây: a) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình; b) Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã
11 Xem thêm: Khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015