1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở việt nam thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện

101 748 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Có thể nhận xét về tình hình nghiên cứu pháp luật thuế TNCN nói chung và pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú qua các giai đoạn sau: - Tr ước 01/

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KHÔNG CƯ TRÚ Ở VIỆT NAM –

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KHÔNG CƯ TRÚ Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới

sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Văn Cương, Trường Đại học Luật Hà Nội Các nội dung, kết luận trong luận văn chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào khác Các số liệu, ý tưởng khoa học tham khảo từ các tài liệu khác được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của luận văn

Hà N ội, ngày 31 tháng 10 năm 2015

TÁC GIẢ

Nguyễn Ngọc Khánh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Khoa Đào tạo Sau Đại học - Viện Đại học Mở Hà Nội và các thầy cô đã giúp tôi trang bị kiến thức, tạo môi trường điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới TS Vũ Văn Cương đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn Tổng cục Thuế, Vụ Kiểm tra nội bộ, Vụ Quản lý thuế thu nhập cá nhân đã hợp tác chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu, tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu cũng như tạo điều kiện cho tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã động viên,

hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁ NHÂN KHÔNG CƯ TRÚ VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KHÔNG CƯ TRÚ 6

1.1 Khái quát về cá nhân không cư trú và thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú 6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm cá nhân không cư trú 6

1.1.2 Tiêu chí xác định cá nhân không cư trú 10

1.1.3 Khái niệm, vai trò của thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú 16

1.2 Khái quát pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú 24 1.2.1 Khái niệm pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú 24

1.2.2 Cấu trúc pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở Việt Nam 26

1.2.3 Các nguyên tắc đánh thuế áp dụng trong pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú 28

1.2.4 Các yếu tố chi phối pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở Việt Nam 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT - THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KHÔNG CƯ TRÚ Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 36

2.1 Thực trạng quy định pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở Việt Nam hiện nay 36

2.1.1 Quy định về đối tượng nộp thuế là cá nhân không cư trú 37

2.1.2 Quy định về thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế 39

2.1.3 Quy định về kỳ tính thuế 49

Trang 6

2.1.4 Quy định về căn cứ tính thuế 50 2.1.5 Một số quy định về quản lý thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú 62

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở Việt Nam 64

2.2.1 Những kết quả đạt được 64 2.2.2 Những tồn tại, hạn chế 68

2.3 Phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập

cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở Việt Nam 71

2.3.1 Những định hướng cơ bản trong hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở Việt Nam hiện nay 71 2.3.2 Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở Việt Nam 74 2.3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thuế TNCN đối với

cá nhân không cư trú ở Việt Nam 84

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 88 KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước, là điều kiện vật chất quan trọng

để Nhà nước tồn tại và phát triển Hệ thống thuế được cấu thành bởi nhiều sắc thuế khác nhau, hướng đến các chủ thể và các hoạt động phong phú, đa dạng của đời sống

xã hội Mỗi một loại thuế mang trong mình những vai trò, chức năng khác nhau đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Trong đó, đảm đương tương đối tốt chức năng phân phối thu nhập, từ đó nhằm giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo, đảm bảo công bằng xã hội phải kể đến vai trò quan trọng của thuế thu nhập cá nhân (TNCN)

Sự hình thành nền kinh tế thị trường là cơ sở tiền đề cho sự ra đời của thuế TNCN ở Việt Nam Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm

1990 đã động viên được sự đóng góp của những cá nhân có thu nhập cao trong xã hội cho Ngân sách Nhà nước (NSNN), giảm bớt sự chênh lệch về mức sống của người lao động trong xã hội Trải qua năm lần sửa đổi, bổ sung, Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã có những điều chỉnh các quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế,… để phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước

Nhằm tăng hiệu lực pháp lý của thuế TNCN cũng như khắc phục những nhược điểm của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, ngày 21/11/2007, Quốc hội đã ban hành Luật Thuế TNCN, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2009

Từ khi thực hiện Luật Thuế TNCN đến nay, hệ thống thuế ở Việt Nam đã dần hoàn thiện, phạm vi đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế được mở rộng; thống nhất các quy định về thuế áp dụng đối với cá nhân có thu nhập và đóng góp ngày càng lớn cho NSNN Tuy nhiên, do sự biến động nhanh của nền kinh tế nên một số quy định trong Luật Thuế TNCN đã không còn phù hợp với thực tiễn như quy định về mức giảm trừ gia cảnh, một số quy định về kỳ tính thuế, về thủ tục kê khai, quyết toán thuế còn phức tạp, chưa tạo thuận lợi cho người nộp thuế, công tác quản lý thuế cũng như hiện đại hoá quản lý thuế

Trang 9

Những bất cập này phần nào đã sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh kịp thời khi ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN vào năm 2012

Mặc dù vậy, trong bối cảnh mới, các quy định của pháp luật thuế TNCN vẫn còn những nhược điểm như: quy định về giảm trừ gia cảnh, quy định về xác định thuế TNCN đối với một số loại thu nhập chưa hợp lý,… Ngoài ra, công tác quản lý thuế TNCN trên thực tiễn vẫn còn gặp những vướng mắc, khó khăn gây thất thoát nguồn thu cho NSNN Tuy nhiên, một trong những bất cập của Luật Thuế TNCN, cũng là một trong những điều tác giả quan tâm là các quy định của pháp luật điều chỉnh về thuế thu thập cá nhân đối với cá nhân không cư trú Đây là một nhóm chủ thể chịu sự điều chỉnh của Luật Thuế TNCN, cũng là chủ thể đóng góp một phần thu nhập của mình vào quỹ NSNN Do đó, vấn đề đặt ra là cần quan tâm đến chủ thể này như thế nào để vẫn đảm bảo nguồn thu, đồng thời vẫn tạo nên sự công bằng giữa họ với nhóm cá nhân cư trú

Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng pháp luật thuế TNCN hiện hành đối với nhóm cá nhân không cư trú để từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không

cư trú ở Việt Nam là yêu cầu cấp thiết Đó cũng là lý do để tác giả lựa chọn nghiên cứu

đề tài “Pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở Việt Nam -

Th ực trạng và một số giải pháp hoàn thiện” làm luận văn Thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Có thể nhận xét về tình hình nghiên cứu pháp luật thuế TNCN nói chung và pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú qua các giai đoạn sau:

- Tr ước 01/01/2009: Các quy định về thuế TNCN trong Pháp lệnh Thuế thu

nhập đối với người có thu nhập cao được nghiên cứu ở một số luận văn thạc sỹ, bài

báo khoa học như: “Một số vấn đề pháp lý về thuế TNCN” - Luận văn thạc sĩ luật học của Võ Quang Huy (1997), “Thực trạng pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam hiện

nay và ph ương hướng hoàn thiện” bài viết trên Tạp chí Luật học, số 10/2007 của Ths Trần Vũ Hải; “Một số vấn đề về nguyên tắc công bằng trong pháp luật về thuế

Trang 10

TNCN” bài viết trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2008 của Ths Trần Minh Đức,…

Các nghiên cứu giai đoạn này hầu hết đã chỉ ra những nhược điểm của pháp luật hiện hành về thuế TNCN và đề ra những giải pháp khắc phục Đó là một trong những cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện và ban hành Luật Thuế TNCN năm

2007 Tuy nhiên, thời điểm này nội dung pháp luật thuế TNCN điều chỉnh đối với

cá nhân không cư trú chưa được đưa ra để tìm hiểu, nghiên cứu ở một nội dung riêng, đặc thù

- T ừ 01/01/2009 đến nay: Luật Thuế TNCN năm 2007 chính thức có hiệu lực,

thuế TNCN tiếp tục nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Tiêu biểu là bài

viết “Những vấn đề đặt ra khi thực thi Luật Thuế TNCN Việt Nam” của TS Lê Thị Thu Thuỷ đăng trong Tạp chí Luật học số 6/2009; “ Tìm hiểu các quy định về thuế

TNCN t ừ chuyển nhượng bất động sản” - Khoá luận tốt nghiệp của Ma Thị Vân Kiều (2010) “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về thu nhập

ch ịu thuế TNCN” - Khoá luận tốt nghiệp của Nguyễn Văn Dũng (2011); “Vấn đề

gi ảm trừ gia cảnh trong Luật Thuế TNCN năm 2007 - Thực trạng và kiến nghị từ

kinh nghi ệm Nhật Bản” - Khoá luận tốt nghiệp của Trần Thúy Mai Lan (2012);

“Pháp lu ật thuế TNCN với thu nhập từ bất động sản” - Khoá luận tốt nghiệp của

Nguyễn Thị Kim Cúc (2012) Các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở một số khía cạnh của thuế TNCN như thu nhập chịu thuế TNCN, phạm vi áp dụng của thuế TNCN, quy định về giảm trừ gia cảnh,…

Ở cấp độ luận văn thạc sỹ Luật học, tiêu biểu có “Thực tiễn thi hành pháp luật

thu ế TNCN ở Việt Nam và định hướng hoàn thiện” - Luận văn thạc sỹ Luật học của

Hoàng Quốc Đạt (2012) đã phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thuế TNCN trên phương diện thực tiễn áp dụng, có sự so sánh với pháp luật một số

quốc gia trên thế giới để ra các giải pháp áp dụng có hiệu quả ở Việt Nam;“Pháp luật

qu ản lý thuế TNCN ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” - Luận văn thạc sĩ luật học

của Tạ Minh Hảo (2013) đã làm rõ nội dung pháp luật về quản lý thuế TNCN ở Việt

Trang 11

Nam Các nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài

Tuy nhiên, có thể nhận thấy số lượng các công trình nghiên cứu một cách toàn diện về pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú, nhất là ở cấp độ Luận văn thạc sỹ không nhiều, thậm chí, theo tìm hiểu của tác giả là chưa có… Đặc biệt là từ thời điểm ngày 01/7/2013 khi Luật Thuế TNCN được sửa đổi, bổ sung có hiệu lực ở một số điều khoản, vẫn chưa có công trình khoa học nào đề cập đến pháp luật Thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú trong giai đoạn mới Đó là thuận lợi nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức cho tác giả khi lựa chọn đề tài nghiên cứu này

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài có phạm vi nghiên cứu như sau:

- Pháp luật Việt Nam về thuế TNCN của cá nhân không cư trú tại Luật Thuế TNCN năm 2007, sửa đổi, bổ sung năm 2012; Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế; Luật Quản lý thuế năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012; Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; các văn bản hướng dẫn thi hành; so sánh với pháp luật thuế TNCN của một số quốc gia trên thế giới

- Thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú ở Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế và quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tài chính công

Các phương pháp nghiên cứu được tác giả kết hợp sử dụng trong bài là: phương pháp liệt kê; phương pháp so sánh, đối chiếu và phương pháp phân tích tổng hợp

Trang 12

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm cung cấp cho người đọc những vấn đề pháp lý cơ bản nhất về thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú, thực trạng pháp luật

và thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam đối với cá nhân không cư trú trong thời gian qua Trên cơ sở phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế của pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú cũng như thực tế áp dụng để đưa

ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư

6 Bố cục của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có hai chương:

Ch ương 1: Những vấn đề lý luận về cá nhân không cư trú và pháp luật thuế

thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú

Ch ương 2: Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân

không cư trú và một số giải pháp hoàn thiện

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁ NHÂN KHÔNG

CƯ TRÚ VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KHÔNG CƯ TRÚ

1.1 Khái quát về cá nhân không cư trú và thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm cá nhân không cư trú

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, việc xác định nội hàm “cư trú” và

“người cư trú”, cũng như “người không cư trú” ở những bộ phận pháp luật khác nhau có sự khác nhau Lý giải cho sự khác biệt này, xuất phát từ chính sách và yêu cầu quản lý nhà nước đối với từng chủ thể trong từng trường hợp nhất định

Theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, nơi cư trú là nơi người đó thường xuyên sinh sống; trường hợp không xác định được nơi cư trú theo địa điểm thường xuyên sinh sống, thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống Với quy định này, có thể hiểu BLDS căn cứ vào tiêu chí về yếu tố quản lý hành chính là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú khi xác định nơi cư trú của cá nhân Còn tại Luật Cư trú năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2013, cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú; nơi cư trú của công dân được hiểu là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc tạm trú [24, Điều 12] Trong đó, chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không

có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú; còn nơi tạm trú là nơi

Trang 14

công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân như trên, thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống Như vậy, cũng giống như BLDS, đối tượng áp dụng khái niệm “cư trú” của Luật cư trú là những cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống, và hai văn bản pháp luật này không đề cập đến khái niệm “người không cư trú” Tuy nhiên, qua những quy định nêu trên, có thể thấy phần nào, quy định về nơi cư trú là một chế định pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng liên quan đến các quan hệ dân sự của một cá nhân và quan hệ hành chính giữa một công dân với Nhà nước Nơi cư trú của một cá nhân không chỉ đơn thuần là nơi sinh sống, tồn tại về mặt sinh học, mà về mặt pháp lý thì nơi đó cá nhân

có thể xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự (theo nghĩa rộng), nơi mở thừa kế, nơi xác định một cá nhân mất tích hoặc đã chết, là căn cứ lựa chọn thẩm quyền giải quyết, lựa chọn pháp luật áp dụng khi giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, nơi công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước trong quan hệ hành chính Do đó, việc xác định không đúng nơi cư trú của một cá nhân chắc chắn sẽ đem đến một hậu quả pháp lý bất lợi cho một trong các bên có liên quan khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ dân sự nói riêng

Ở một bộ phận pháp luật khác điều chỉnh các hoạt động ngoại hối tại Việt Nam, việc xác định khái niệm “người cư trú” lại có những căn cứ khác Theo Pháp lệnh ngoại hối năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2013, người cư trú là tổ chức, cá nhân thuộc các đối tượng sau: (i) tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam; (ii) tổ chức kinh tế được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam trừ các tổ chức tín dụng nói trên; (iii) cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện của Việt Nam hoạt động tại Việt Nam; (iv) cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam tại nước ngoài; (v) văn phòng đại diện tại nước ngoài của các tổ chức nói trên; (vi) công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thời hạn dưới

Trang 15

12 tháng; công dân Việt Nam làm việc tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh

sự của Việt Nam tại nước ngoài, văn phòng đại diện tại nước ngoài của các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang và cá nhân đi theo họ; (viii) công dân Việt Nam đi du lịch, học tập, chữa bệnh và thăm viếng ở nước ngoài; (ix) người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có thời hạn từ 12 tháng trở lên, trừ các trường hợp người nước ngoài học tập, chữa bệnh, làm việc cho cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự, văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam [34; Khoản 2 Điều 4] Người không cư trú là các đối tượng không phải những đối tượng trên Như vậy, trong bộ phận pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động ngoại hối tại Việt Nam đã có xuất hiện khái niệm “người không cư trú”, đồng thời, khái niệm

“người cư trú” theo quy định của pháp lệnh ngoại hối có sự mở rộng hơn so với việc xác định công dân cư trú của BLDS và Luật cư trú, cả về nhóm chủ thể và phạm vi chủ thể Nguyên nhân của sự khác biệt này xuất phát từ yêu cầu quản lý ngoại hối, để

có thể thực hiện hiệu quả việc xác lập chủ quyền tiền tệ quốc gia, tăng cường tích lũy

và quản lý tốt dự trữ quốc gia

Bên cạnh đó, dưới khía cạnh quyền thu thuế của Nhà nước, Luật thuế thu nhập cá nhân cũng đề cập khá nhiều đến nội dung “người cư trú” và “người không

cư trú” Luật Thuế TNCN năm 2007, sửa đổi, bổ sung năm 2012 đã thay đổi quy định xác định về đối tượng nộp thuế theo tiêu chí “cư trú” cho phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì việc quy định thuật ngữ cá nhân cư trú, không cư trú trong Luật Thuế TNCN nhằm đảm bảo quyền đánh thuế của Việt Nam được quy định trong nội dung của các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và phù hợp với thông lệ quốc tế khi xác định nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng này Đối với

cá nhân cư trú, theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Luật Thuế TNCN năm 2007, sửa đổi, bổ sung năm 2012, thì “Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều

ki ện sau:(1) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch

ho ặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;(2) có nơi ở

Trang 16

th ường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê

để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn”

Điều kiện “có mặt tại Việt Nam” được hiểu là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam và phải từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam So với quy định tại

Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao“có mặt tại Việt Nam từ 183

ngày tr ở lên tính cho 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam” thì rõ ràng quy định

của Luật Thuế TNCN năm 2007 đã thể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt hơn và đã bao quát được những cá nhân có mặt ở Việt Nam trên 183 ngày nhưng ở những tháng gián đoạn, không liên tục

Đối với quy định về điều kiện “có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định

c ủa pháp luật về nhà ở” pháp luật thuế TNCN đã có sự sửa đổi tăng thời hạn thuê

nhà để ở theo hợp đồng thuê từ 90 ngày lên 183 ngày Việc xác định số ngày thuê nhà căn cứ vào các hợp đồng thuê kể cả trường hợp hợp đồng thuê nhà được ký trước ngày 01/7/2013 Sửa đổi này đã giảm thủ tục hành chính, phiền phức cho người nộp thuế, đơn giản trong quản lý thu thuế và phù hợp với thông lệ quốc tế

Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định đối với cá

nhân c ư trú

Như vậy, một cá nhân không phân biệt nguồn gốc quốc tịch nếu đáp ứng các điều kiện trên là đối tượng cư trú để xác định nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Việt Nam Cá nhân cư trú phải kê khai, nộp thuế thu nhập phát sinh tại Việt Nam và thu nhập phát sinh ngoài Việt Nam Theo quy định của Luật Thuế TNCN thì việc xác định đối tượng nộp thuế là người không cư trú bằng cách loại trừ, nếu không đáp ứng đủ điều kiện của người cư trú thì người đó được xác định là người không cư trú

và cá nhân này chỉ phải kê khai thu nhập phát sinh tại Việt Nam

Từ đó ta có thể rút ra được khái niệm về người không cư trú như sau:

“Người không cư trú là người có quốc tịch Việt Nam hoặc quốc tịch nước

ngoài ho ặc người không quốc tịch có thời gian cư trú tại Việt Nam dưới 183 ngày

Trang 17

tính trong m ột năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên

có m ặt tại Việt Nam hoặc không có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam”

Người không cư trú là người không phân biệt quốc tịch và không đáp ứng được điều kiện của cá nhân cư trú theo quy định tại Khoản 2, Điều 2 Luật Thuế TNCN Ngoài những đặc điểm chung của đối tượng nộp thuế thì người không cư trú

có một số đặc điểm riêng sau:

- Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng được điều kiện cư trú về thời gian có mặt tại Việt Nam và có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam

- Cá nhân không cư trú là người Việt Nam, người nước ngoài có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam Họ có thể là cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh hoặc cá nhân không kinh doanh nhưng có thu nhập chịu thuế phát sinh

ở Việt Nam

- Cá nhân không cư trú do thời gian hiện diện ở Việt Nam không nhiều, thậm chí không có mặt ở Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam thường không có tính thường xuyên, cố định, do vậy các phương pháp tính thuế và cách thức hành thu thuế (quản lý thuế) đối với người không cư trú cần đảm bảo sự đơn giản, thuận lợi và khả thi trên thực tế

1.1.2 Tiêu chí xác định cá nhân không cư trú

Trên thế giới, hầu hết các quốc gia đều áp dụng đánh thuế theo tiêu thức nơi

cư trú, nhưng mỗi quốc gia khác nhau, có những cách khác nhau để xác định cá nhân không cư trú, chủ yếu là xác định tiêu thức để trở thành cá nhân cư trú, còn cá nhân không cư trú là những trường hợp không đáp ứng được điều kiện thành cá nhân cư trú Đa số các nước quy định, đối tượng cư trú là những người có thời gian sinh sống ở nước sở tại trên 182 hoặc trên 183 ngày trong năm tính thuế (có thể là năm dương lịch hoặc năm tài chính) hoặc trong khoảng 12 tháng liên tục Nếu không thỏa mãn điều kiện trên thì được coi là đối tượng không cư trú

Một số nước trong khu vực ASEAN cũng lựa chọn việc xác định người cư trú hay không cư trú dựa theo số ngày họ có mặt tại nước sở tại Chẳng hạn,

Trang 18

Indonesia là hơn 183 ngày; Singapore, Myanmar là 183 ngày, Thái Lan là 180 ngày, Malaysia là 182 ngày Trừ pháp luật thuế TNCN Indonesia quy định căn cứ thời gian xác định đối tượng cư trú là tổng số ngày có mặt trong vòng 12 tháng kể

từ khi đến Indonesia, còn pháp luật thuế TNCN của các quốc gia ASEAN khác đều xác định đối tượng cư trú qua tổng số ngày có mặt ở nước sở tại trong năm dương lịch [7]

Ngoài ra, theo quy định của pháp luật thuế TNCN của Malaysia, Myanmar thì việc xác định là cư trú hay không cư trú còn có ngoại lệ sau: (i) ở tại Malaysia ít nhất là 183 ngày trong năm tính thuế; (ii) ở tại Malaysia ít hơn 183 ngày trong năm tính thuế, tuy nhiên, số ngày này liên tục với một giai đoạn khác vào năm trước hoặc năm sau có thu nhập tạo thành một giai đoạn ít nhất 183 ngày liên tục; (iii) ở tại Malaysia ít nhất 90 ngày trong năm tính thuế nhưng trong 3 năm trước đó đã là người cư trú; (iv) không có mặt vào năm có thu nhập nhưng đã là người cư trú trong

3 năm kế tiếp trước đó và năm kế tiếp sau cũng là người cư trú Ngoài ra, pháp luật thuế thu nhập của Malaysia còn xác định một số trường hợp liên quan đến cư trú như: tình trạng cư trú của người vợ sẽ theo chồng, trừ trường hợp: (i) đã ly hôn, ly thân, hay không sống chung; (ii) người vợ yêu cầu tính thuế riêng với chồng

Còn theo pháp luật thuế thu nhập của Singapore, tình trạng cư trú của người

vợ sẽ theo tình trạng cư trú của người chồng trừ trường hợp: (i) đã ly hôn, ly thân hoặc không sống chung; (ii) người vợ là người cư trú còn chồng không phải là người cư trú

Hơn nữa, trong pháp luật của một số nước ASEAN khác còn có quy định tư cách của người chưa thành niên trong việc nộp thuế, như quy định về độ tuổi của đối tượng nộp thuế Theo luật thuế thu nhập cá nhân của Indonesia, thu nhập của người chưa thành niên ngoại trừ thu nhập từ lao động hay những công việc khác có liên quan tới việc kinh doanh của thành viên gia đình được cộng dồn vào thu nhập của bố

mẹ Như vậy, trong một số trường hợp thì người chưa thành niên không đủ tư cách đứng tên của chủ thể nộp thuế, mà trong những trường hợp này sẽ là bố mẹ họ

Trang 19

Ở Nhật Bản, đối tượng nộp thuế TNCN được quy định thành ba trường hợp

cụ thể là: cư trú thường xuyên (người định cư thường xuyên ở Nhật được đánh thuế đối với mọi nguồn thu nhập nhưng phải thường trú ở Nhật từ 5 năm trở lên); cư trú không thường xuyên (người không có ý định cư trú thường xuyên tại Nhật nhưng có thường trú ở Nhật từ 1-5 năm, thuế sẽ đánh vào nguồn thu nhập có phát sinh tại Nhật); đối tượng không cư trú (người không có nơi định cư hoặc sống ở Nhật dưới một năm phải có hợp đồng lao động hoặc giấy tờ khác chứng minh, không phải nộp thuế thu nhập)

Ở Pháp, một người được coi là cư trú tại Pháp nếu coi Pháp là nơi ở chính, hành nghề chính hay có các trung tâm quyền lợi đặt tại Pháp hoặc thường xuyên có mặt ở Pháp trên 6 tháng trong 1 năm hoặc Pháp là nơi mang lại phần lớn thu nhập Người không cư trú là những người không đáp ứng được điều kiện trên

Hay như ở Mỹ, cá nhân cư trú là công dân Mỹ và những người sinh sống ở

Mỹ tối thiểu là 330 ngày đêm

Ở Philippin, đối tượng nộp thuế TNCN tại Philippin bao gồm cả các cá nhân

cư trú và không cư trú Trong đó công dân cư trú là đối tượng chịu thuế thu nhập trên thu nhập toàn cầu (bao gồm cả thu nhập có nguồn gốc tại Philippin và thu nhập

có nguồn gốc từ nước ngoài) Công dân không cư trú, người nước ngoài cư trú hoặc người nước ngoài không cư trú là đối tượng chịu thuế đối với phần thu nhập phát sinh tại Philippin

Còn ở Trung Quốc, đối tượng nộp thuế TNCN là các cá nhân có chỗ ở hoặc không có chỗ ở trong nước Trung Quốc, mà cư trú tại Trung Quốc đủ một năm thì phải nộp thuế đối với toàn bộ thu nhập của người đó nhận được từ trong và ngoài nước Trung Quốc Cá nhân không có chỗ ở tại Trung Quốc mà cư trú dưới một năm, thì phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh từ Trung Quốc

Pháp luật Việt Nam từng giai đoạn cũng có những tiêu chí khác nhau để xác định cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú Nếu như trước đây, đối tượng cư trú chỉ

là cá nhân có mặt ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc tính

Trang 20

theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên đến Việt Nam thì Luật Thuế TNCN đã bổ sung thêm điều kiệnnữa là “có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam” được coi là cư trú

ở Việt Nam Trước đây, theo quy định của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân gồm: (i) Công dân Việt nam, cá nhân khác định cư tại Việt Nam ở trong nước hoặc đi lao động, công tác ở nước ngoài; (ii) người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thu nhập như người nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam hoặc của nước ngoài, các văn phòng đại diện, các chi nhánh công ty nước ngoài, các cá nhân hành nghề độc lập có thu nhập chịu thuế; (iii) người nước ngoài tuy không hiện diện tại Việt Nam nhưng có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trong các trường hợp như: có thu nhập từ chuyển giao công nghệ, tiền bản quyền thuộc định mức chịu thuế Với cách phân loại khác, ta có thể phân ra đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân làm các loại sau: (i) Công dân Việt nam, cá nhân khác định cư tại Việt Nam; (ii) người nước ngoài cư trú; (iii) người nước ngoài không cư trú Người nước ngoài được coi là cư trú tại Việt Nam nếu ở tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính cho 12 tháng kể từ khi đến Việt Nam (từ năm tính thuế thứ 2 trở đi là 183 ngày trong năm dương lịch); được coi là không cư trú nếu ở tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế, ngày đi và ngày đến tính là một ngày

Đến thời điểm hiện nay, cùng với sự cải cách pháp luật thuế, để đảm bảo các nguyên tắc đánh thuế TNCN, thực hiện tốt vai trò của loại thuế này, đối tượng nộp thuế được chia làm hai loại là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú So với các văn bản pháp luật trước, nội dung đối tượng nộp thuế đã định nghĩa rõ hơn đối tượng cư trú (đối tượng phải nộp thuế TNCN cho Việt Nam đối với toàn bộ thu nhập, kể cả thu nhập phát sinh ở Việt Nam và nước ngoài)

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì cá nhân cư trú hay không cư trú có thể là người Việt Nam hay người nước ngoài không phụ thuộc vào quốc tịch của họ Để xác định được một người là cư trú hay không cư trú, việc làm

rõ hai khái niệm “quốc tịch” và khái niệm “cư trú” là điều cần thiết Quốc tịch của một cá nhân chỉ mối quan hệ pháp lí giữa một Nhà nước đối với một con người cụ

Trang 21

thể thông qua chế định công dân mà không phụ thuộc vào thời gian ở quốc gia đó

Theo điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 “Người có quốc tịch Việt Nam

bao g ồm người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật này có hiệu lực và

ng ười có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này Người Việt Nam định cư ở

n ước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam

tr ước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 5

n ăm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở

n ước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam ” Còn khái niệm “cư trú” của một cá nhân là

chỉ khoảng thời gian mà cá nhân đó hiện diện tại quốc gia đó, hoặc có nơi ở thường xuyên tại quốc gia đó hay không? Từ đây, ta có thể thấy rằng một cá nhân mang quốc tịch của Việt Nam chưa chắc đã là cá nhân cư trú và ngược lại Việc phân biệt hai khái niệm này nhằm tránh trường hợp sai lầm thừa nhận cá nhân mang quốc tịch Việt Nam là cá nhân cư trú tại Việt Nam để xác định đối tượng nộp thuế TNCN Khái niệm thế nào là một cá nhân không cư trú tại Việt Nam cũng được quy định rõ trong pháp luật Thuế TNCN hiện hành Tuy nhiên, trong hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký kết với một số quốc gia, việc xác định cá nhân

cư trú và cá nhân không cư trú khá phức tạp, do liên quan đến quyền thu thuế của quốc gia

Theo Thông tư số 205/2013/TT-BTC ngày 24/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ có hiệu lực thi hành tại Việt Nam, tại Khoản 1 Điều 1 có hướng dẫn:

Theo Hiệp định, thuật ngữ “đối tượng cư trú của một Nước ký kết” là đối tượng mà theo luật của một Nước ký kết là đối tượng chịu thuế tại nước đó do: (i)

Có nhà ở, có thời gian cư trú tại nước đó hoặc các tiêu thức có tính chất tương tự trong trường hợp đối tượng đó là một cá nhân; hoặc (ii) có trụ sở điều hành, trụ sở đăng ký, hoặc được thành lập tại nước đó hoặc các tiêu thức có tính chất tương tự

Trang 22

trong trường hợp đối tượng đó là một tổ chức; hoặc (iii) thuật ngữ “đối tượng cư trú của một Nước ký kết” cũng bao gồm cả Nhà nước hoặc chính quyền địa phương của nước đó, trong trường hợp Hiệp định có quy định

Ngoài ra, Thông tư 205/2013/TT-BTC cũng quy định những nội dung, tiêu thức, điều kiện mà một cá nhân được xác định là người cư trú theo quan điểm của Luật Việt Nam Trong trường hợp nếu một đối tượng vừa là đối tượng cư trú của Việt Nam vừa là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thì căn cứ vào các tiêu thức theo thứ tự ưu tiên dưới đây để xác định đối tượng đó là đối tượng cư trú của Việt Nam:

- Nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú ở Việt Nam (nhà thuộc sở hữu hoặc nhà thuê thuộc quyền sử dụng của đối tượng đó) thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam

- Nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú tại cả hai nước nhưng cá nhân đó có quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn tại Việt Nam như việc làm, có địa điểm kinh doanh, nơi quản lý tài sản cá nhân, hoặc có quan hệ cá nhân chặt chẽ hơn tại Việt Nam như quan

hệ gia đình (người thân như bố, mẹ, vợ/chồng, con ), xã hội (ví dụ: Hội viên các đoàn thể xã hội, hiệp hội nghề nghiệp…), thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam

- Nếu không xác định được cá nhân đó có quan hệ kinh tế, quan hệ cá nhân tại nước nào chặt chẽ hơn hoặc nếu cá nhân đó không có nhà ở thường trú ở nước nào, nhưng cá nhân đó có thời gian có mặt tại Việt Nam nhiều hơn trong năm tính thuế thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam

- Nếu cá nhân đó thường xuyên có mặt cả ở Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam cũng như không có mặt thường xuyên ở cả hai nước nhưng cá nhân đó mang quốc tịch Việt Nam hoặc được xác định là công dân Việt Nam theo nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu Việt Nam thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam

Trang 23

- Nếu cá nhân đó mang quốc tịch của cả Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam hoặc không mang quốc tịch của cả hai nước thì Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam sẽ giải quyết vấn đề này thông qua thủ tục thỏa thuận song phương với Nhà chức trách có thẩm quyền của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam Tóm lại, dù quan điểm xác định điều kiện là cá nhân không cư trú ở các quốc gia có khác nhau, hay tại Việt Nam, quan điểm xác định cá nhân không cư trú ở từng thời điểm cũng có sự thay đổi, nhưng hiện nay, để thống nhất quản lý đối với người nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân không cư trú, thì đối tượng này được hiểu là người không đáp ứng được đầy đủ các quy định về thời gian cư trú và nơi ở thường xuyên đối với người cư trú Cụ thể cá nhân đó có mặt ở Việt Nam ít hơn 183 ngày tính theo một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày có mặt ở Việt Nam hoặc cá nhân đó không có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam Như vậy, hiểu theo quy định của pháp luật hiện hành thì người không cư trú bao gồm hai loại sau:

- Công dân Việt Nam không cư trú tại Việt Nam

- Người nước ngoài bao gồm: người có quốc tịch quốc gia khác, người không quốc tịch không cư trú tại Việt Nam

Việc xác định “cư trú” hay “không cư trú” của một đối tượng nộp thuế là nội dung rất quan trọng để xác định nghĩa vụ kê khai nộp thuế và mức thuế suất áp dụng đối với từng đối tượng có các khoản thu nhập khác nhau và thời gian cư trú khác nhau tại Việt Nam Đây là quy định phù hợp với thông lệ quốc tế và cũng là cơ sở cho việc thực hiện hiệp định tránh đánh thuế hai lần được kí kết giữa nước ta và các quốc gia khác nhằm mục đích bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, các chuyên gia nước ngoài, đồng thời khuyến khích họ đến kinh doanh và làm việc tại Việt Nam

1.1.3 Khái niệm, vai trò của thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú

1.1.3.1 Khái ni ệm và vai trò của thuế thu nhập cá nhân nói chung

Trong hệ thống thuế ở các quốc gia, thuế thu nhập là loại thuế quan trọng được áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Ở Việt Nam,

Trang 24

cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, thuế thu nhập gồm hai loại là thuế Thu nhập Doanh nghiệp (TNDN) và thuế TNCN, mặc dù hai loại thuế này có thể ban hành trong cùng một văn bản luật hoặc được ban hành riêng lẻ Nhìn chung, việc phân định thuế TNCN và thuế TNDN dựa trên cơ sở chủ thể nộp thuế là cá nhân hay tổ chức có thu nhập chịu thuế Theo đó, thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần

Thuế TNCN là sắc thuế đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượng nộp thuế là mọi cư dân trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh

ở nước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội Bất kỳ một quốc gia nào

có nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường đều coi thuế TNCN là một sắc thuế

có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước và điều hòa thu nhập dân cư để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội

Thuế TNCN có thể được hiểu là sắc thuế mà Nhà nước sử dụng để điều tiết

m ột phần thu nhập của các cá nhân vào NSNN với mục đích tạo nguồn thu cho

NSNN và th ực hiện công bằng xã hội

Thuế TNCN trên thế giới thông thường đánh vào cả cá nhân kinh doanh và

cá nhân không kinh doanh Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt

Một điểm đặc biệt nữa của thuế TNCN đó là hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay khi áp dụng thuế TNCN đều thực hiện trên cơ sở kết hợp hai quyền thu thuế của Nhà nước, đó là thu thuế theo yếu tố lãnh thổ và thu thuế theo yếu tố cư trú Theo

đó, những cá nhân là đối tượng nộp thuế TNCN không chỉ là người có quốc tịch của Nhà nước thu thuế mà còn bao gồm cả người nước ngoài, người không có quốc tịch

có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ quốc gia thu thuế Đặc điểm này đã phát sinh tình trạng đánh thuế hai lần thường gặp khi thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng Đánh thuế trùng ở thuế TNCN xảy ra khi một cá nhân với một khoản thu nhập chịu thuế có thể vừa phải nộp thuế TNCN cho

Trang 25

quốc gia mà cá nhân đó cư trú, vừa phải nộp thuế TNCN cho quốc gia mà thu nhập

đó phát sinh Để hạn chế tình trạng này, các quốc gia trên thế giới thường lựa chọn giải pháp ký kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần hoặc quy định khấu trừ nghĩa

vụ thuế đã thực hiện ở quốc gia khác trong Luật Thuế TNCN

* Thu ế TNCN có các đặc điểm cơ bản như sau:

- Th ứ nhất, thuế TNCN là thuế trực thu

Thuế TNCN là thuế trực thu bởi cá nhân có thu nhập chịu thuế là người nộp thuế, việc nộp thuế được tiến hành từ việc khấu trừ trực tiếp từ thu nhập của cá nhân

đó mà không thông qua hành vi tiêu dùng hoặc chủ thể trung gian khác

Do thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập, tài sản của tổ chức và cá nhân, có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện và khả năng đóng góp của người nộp thuế nên có tác dụng hữu hiệu trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư Tuy nhiên, thuế trực thu lại có hạn chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía người nộp thuế hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn, lậu thuế nếu quy định mức thuế suất cao Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán và thu thuế phức tạp, đặc biệt là thuế TNCN với diện thu thuế rộng và phân tán Vì vậy, nếu không có biện pháp quản lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong việc tập trung số thu đầy đủ, kịp thời về cho NSNN

- Th ứ hai, thuế TNCN có đối tượng chịu thuế là thu nhập của cá nhân

Khái niệm “thu nhập” hiện nay chưa được hiểu thống nhất nên vẫn còn nhiều

quan điểm khác nhau Chính vì vậy, các nhà làm luật thường chỉ liệt kê các khoản được coi là thu nhập của tổ chức, cá nhân mà không đưa ra khái niệm thu nhập

Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập của cá nhân phát sinh rất đa dạng Nếu căn cứ vào hoạt động hoặc các giao dịch làm phát sinh thu nhập thì thu nhập bao gồm: thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; thu nhập từ lao động; thu nhập từ tài sản, tiền vốn; thu nhập từ chuyển nhượng; thu nhập từ thừa kế, tặng cho; thu nhập từ bản quyền; thu nhập do bồi thường; thu nhập từ trúng thưởng; thu nhập từ Nhà nước hoặc xã hội dành cho và các khoản thu nhập khác

Trang 26

Các loại thu nhập kể trên không phải thu nhập nào cũng là thu nhập chịu thuế

mà chỉ có một số khoản thu nhập đáp ứng những điều kiện nhất định mới là thu nhập chịụ thuế Pháp luật thuế TNCN nói riêng và thuế thu nhập nói chung ở các quốc gia đều quy định các khoản thu nhập chịu thuế làm cơ sở cho việc đánh thuế Thông thường thu nhập chịu thuế phải là những khoản thu nhập hợp pháp, đã thực

tế phát sinh, có tính phổ biến và Nhà nước có thể kiểm soát được Có như vậy, pháp luật thuế thu nhập mới đảm bảo tính khả thi, tính công bằng và đảm bảo nguồn thu

ổn định cho NSNN

- Thứ ba, việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc

thu ế suất lũy tiến từng phần

Thuế suất luỹ tiến được hiểu là việc áp dụng các thuế suất tăng dần đối với các nhóm đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế Theo đó, hiện nay thuế TNCN chủ yếu áp dụng thuế suất lũy tiến đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh đối với người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao

- Th ứ tư, thuế TNCN là loại thuế có tính ổn định không cao và quá trình

qu ản lý phức tạp

Đặc điểm này của thuế TNCN thể hiện ở chỗ các quy định về thu nhập chịu thuế, thu nhập không chịu thuế thường xuyên thay đổi theo từng biến động của nền kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Ngoài ra, các quy định như giảm trừ gia cảnh, về mức thuế suất cũng có sự thay đổi linh hoạt do thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập của

cá nhân nên có tác động rất lớn đến mức sống của dân cư và chịu ảnh hưởng bởi giá cả trên thị trường

Việc quản lý thuế TNCN tương đối khó khăn, chi phí quản lý thuế thường lớn hơn so với các loại thuế khác bởi ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu thuế còn phải xác định nguồn gốc thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu, tính ổn

Trang 27

định của thu nhập Trong phần xác định thu nhập chịu thuế, phải xác định được các khoản khấu trừ hợp lý để tiến hành khấu trừ khi tính thuế nhằm đảm bảo mục tiêu công bằng và khuyến khích đối với đối tượng nộp thuế

- Thứ năm, nguồn luật điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế TNCN bao gồm các

v ăn bản pháp luật quốc gia và cả luật quốc tế

Đây là đặc trưng của thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng Hầu hết thuế TNCN của các quốc gia trên thế giới không chỉ áp dụng đối với công dân của mình mà còn áp dụng đối với người nước ngoài có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổ quốc gia đó Để tránh tình trạng đánh thuế hai lần lên một đối tượng chịu thuế, các hiệp định tránh đánh thuế hai lần được ký kết giữa các quốc gia cũng

là nguồn luật điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế TNCN

* Vai trò c ủa thuế nhập cá nhân

Theo quan điểm của các nước Châu Âu, Thuế TNCN được mệnh danh là

“Nữ hoàng” của các loại thuế, còn ở các nước Châu Á như Nhật Bản, gọi thuế TNCN là “Vua” của các loại thuế [15] Rõ ràng, phải có nhiều lý do khác nhau để chứng minh cho vị trí quan trọng này của thuế TNCN, trong đó, có thể kể tới một số

lý do sau:

Th ứ nhất, thuế TNCN thường chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu của NSNN

như: Thuế TNCN của Mỹ chiếm 56% tổng thu NSNN, ở Đức và Thụy Điển chiếm 45%, Anh chiếm 36%, Nhật chiếm 29%, Pháp chiếm 28% Tỷ trọng thuế TNCN trong tổng thu ngân sách của một số nước châu Á đang phát triển có thấp hơn như: Phi-lip-pin 17%, Malaysia 15%, Thái Lan 13% [31] Tuy nhiên, nếu so sánh trên tổng số thu NSNN với nhiều khoản thu khác nhau, những con số thống kê nêu trên vẫn cho thấy sự đóng góp đáng kể của thuế TNCN trong việc tạo nguồn thu cho NSNN

Thuế TNCN được hình thành từ việc điều tiết một phần thu nhập chịu thuế của các cá nhân trước khi hành vi tiêu dùng xảy ra Mức thu thuế sẽ tỷ lệ thuận với

sự phát triển của nền kinh tế và mức sống của người dân trong xã hội, có nghĩa, thu

Trang 28

nhập của dân cư càng cao thì mức thu từ thuế TNCN càng tăng Do đó, thuế TNCN đang dần đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn thu từ thuế cho NSNN

Ngoài ra, thuế TNCN còn góp phần hạn chế sự thất thu thuế TNDN khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân Bởi trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế TNDN và thuế TNCN, trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp nhằm trốn thuế TNDN thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế TNCN đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế TNCN và thuế TNDN

Th ứ hai, thuế TNCN là công cụ để Nhà nước tái phân phối lợi tức quốc gia,

gi ảm phân hóa giàu nghèo, góp phần đảm bảo tính công bằng trong xã hội

Có thể nói rằng đây là vai trò đặc trưng và cơ bản nhất của thuế TNCN Sở dĩ như vậy là do thuế TNCN điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân cùng với tính chất lũy tiến của thuế TNCN đã thu hẹp được khoảng cách về thu nhập của các cá nhân có mức thu nhập cao và các cá nhân có thu nhập thấp

Theo Michel Bouvier, các sắc thuế trực thu trong đó có thuế TNCN có khả năng cá nhân hóa tốt hơn, việc đánh thuế có tính đến điều kiện và hoàn cảnh của người nộp thuế nên nó đảm bảo tính công bằng tốt hơn Tất nhiên khi đề cập đến vấn đề tính công bằng của thuế TNCN vẫn còn nhiều vấn đề tranh cãi khi những người có thu nhập càng cao sẽ phải nộp thuế nhiều hơn những người có thu nhập thấp khi thuế được áp dụng theo tính chất lũy tiến như hiện nay [18; tr.222]

Tính công bằng của thuế TNCN còn được thể hiện ở chỗ nghĩa vụ thuế được

áp dụng trên cơ sở có tính đến điều kiện và hoàn cảnh sống của người nộp thuế Người nộp thuế không bị giới hạn về các khoản được giảm trừ hợp pháp như số lượng người phụ thuộc khi xác định giảm trừ gia cảnh; số lần tham gia từ thiện, nhân đạo, Như vậy, cùng có thu nhập bằng nhau nhưng các cá nhân có thể phải thực hiện nghĩa vụ thuế khác nhau nếu số lượng người phụ thuộc của họ không

Trang 29

giống nhau Đây là một đặc điểm mà các loại thuế gián thu không thể tính đến được bởi nghĩa vụ thuế chỉ có thể phát sinh khi hành vi tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ xảy ra

Th ứ ba, thuế TNCN là công cụ gắn liền với việc thực hiện chính sách kinh tế,

chính sách xã h ội của Nhà nước

Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu NSNN, thực hiện công bằng xã hội mà còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Thuế thu nhập cá nhân cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Loại thuế này điều tiết trực tiếp thu nhập cá nhân nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm.Từ đó cầu hàng hoá, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất

Ngoài ra để tiến hành thu thuế TNCN, Nhà nước cũng phải xây dựng một hệ thống hành thu thuế, từ đó sẽ đánh giá được tình hình thu nhập của dân cư cũng như thực trạng của nền kinh tế Từ những đánh giá đó mà Nhà nước có thể đưa ra các chính sách kinh tế khác phù hợp hơn như chính sách về việc làm, chính sách bảo hiểm, chính sách trợ cấp xã hội,…

Th ứ tư, thuế TNCN góp phần giúp Nhà nước kiểm soát thu nhập, phát hiện

thu nh ập bất hợp pháp

Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được

từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân… Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của thuế TNCN

Trang 30

Ở Việt Nam, thuế TNCN là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội Thuế TNCN luôn gắn liền với các chính sách xã hội của một quốc gia vì vậy việc hoàn thiện chính sách thuế là cần phải xây dựng được một công cụ thuế có tính trung lập, thể hiện sự công bằng Việc áp dụng thuế TNCN phải đảm bảo mọi đối tượng thuộc diện chịu thuế TNCN đều phải nộp thuế và mọi người có điều kiện liên quan đến thuế TNCN như nhau phải được đối xử về thuế TNCN như nhau

1.1.3.2 Khái ni ệm và vai trò của thuế nhập cá nhân đối với người không cư trú

Khi tiến hành xác định thu nhập chịu thuế, các quốc gia thường dựa vào hai tiêu chí cơ bản đó là “nơi cư trú” và “nơi phát sinh thu nhập” Ở nước ta, theo quy định của Luật Thuế TNCN thì tiêu chí nơi cư trú của một cá nhân được áp dụng để xác định thu nhập chịu thuế Theo đó, một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải nộp thuế tại nước đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn một cá nhân không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế trên phần thu nhập phát sinh tại nước đó

Như vậy, việc quy định đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú và không cư trú nhằm mục đích đảm bảo sự công bằng xã hội kể cả đó là người mang quốc tịch Việt Nam hay quốc gia nào, làm công việc gì Từ đó ta có thể hiểu:

“Thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú là khoản đóng góp

b ằng tiền mà các cá nhân không cư trú có đủ điều kiện theo quy định của Luật Thuế

TNCN ph ải nộp cho nhà nước theo nguyên tắc bắt buộc, không hoàn trả khi phát

sinh thu nh ập chịu thuế trong kì tính thuế”

* Vai trò của thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú

Thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú có đầy đủ vai trò của thuế thu nhập cá nhân nói chung, bên cạnh đó, trong điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, cá nhân không cư trú không chỉ gồm người làm công ăn lương mà

họ còn tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ hành nghề độc lập…

Trang 31

Mặt khác, với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc

tế, việc quy định đối tượng nộp thuế TNCN dựa theo tiêu chí “cư trú” và “không cư trú” đã đảm bảo được tính thống nhất, bình đẳng giữa mọi cá nhân có thu nhập, qua

đó góp phần động viên các cá nhân đầu tư vốn, mở rộng sản xuất, kinh doanh để gia tăng của cải cho xã hội, khuyến khích làm giàu chính đáng Hiện nay, ở Việt Nam

số lượng những người thuộc diện không cư trú có xu hướng tăng lên, bao gồm: các

kĩ sư, các nhà nghiên cứu người nước ngoài, người Việt Nam định cư tại nước ngoài

về đầu tư ngắn hạn tại Việt Nam hoặc các cầu thủ bóng đá, ca sỹ, diễn viên… sang lưu diễn, thi đấu tại Việt Nam Vì vậy, việc quy định người không cư trú trong Luật Thuế TNCN năm 2007, sửa đổi, bổ sung năm 2012 là thể hiện sự phù hợp với tình hình thực tế, qua đó đảm bảo được nguồn thu cho NSNN, điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư và tạo ra sự công bằng cho các đối tượng nộp thuế TNCN

1.2 Khái quát pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú

1.2.1 Khái niệm pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú

Với nguyên tắc đánh thuế theo lãnh thổ thì tất cả cá nhân (cư trú hoặc không

cư trú) có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam đều có thể trở thành đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân

Hoạt động thu - nộp thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú làm phát sinh quan hệ vật chất giữa Nhà nước và người không cư trú Để đảm bảo cho quá trình thu

- nộp thuế một cách ổn định thì Nhà nước ban hành hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình cá nhân không cư trú thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân cho Nhà nước Việt Nam khi có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt

Nam Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân

không c ư trú là bộ phận của pháp luật thuế thu nhập cá nhân, bao gồm một nhóm

nh ững quy phạm pháp luật thuế TNCN do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban

hành để điều chỉnh các quan hệ thuế và các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình

thu, n ộp thuế thu nhập của các cá nhân không cư trú với cơ quan quản lý thuế của

nhà n ước Việt Nam

Trang 32

Nói cách khác, pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú bao gồm

các quy định của pháp luật về xác định đối tượng nộp thuế là cá nhân không cư trú,

thu nh ập chịu thuế, căn cứ tính thuế, chế độ kê khai thu nộp thuế, vấn đề đánh thuế

trùng và thanh tra, khi ếu nại về thuế…

Việc ban hành pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú nhằm góp phần vào việc đảm bảo được nguồn vật chất chi tiêu cho nhà nước; đảm bảo bao quát hết các nguồn thu trong xã hội; là công cụ phân phối đảm bảo công bằng cho các đối tượng nộp thuế; đảm bảo yêu cầu của các quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ kinh tế quốc tế trong từng thời kì

Từ cách hiểu nêu trên về pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú, ta có thể rút ra được một số đặc điểm sau:

- Đối tượng nộp thuế là cá nhân không thỏa mãn được một trong hai dấu hiệu của cá nhân cư trú và có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam;

- Pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú, không phải là sắc thuế độc lập mà là chỉ là bộ phận của pháp luật thuế TNCN, bởi vậy sẽ có nhóm quy phạm pháp luật áp dụng chung cho cả đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú và

cá nhân không cư trú, có nhóm quy phạm pháp luật áp dụng riêng cho cá nhân cư trú và cho cá nhân không cư trú (nhóm quy phạm pháp luật đặc thủ) Lý do tồn tại

sự khác biệt này trong các quy định về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú

và không cư trú xuất phát từ đặc điểm đặc thù của mỗi loại chủ thể nộp thuế trên, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách và cách ứng xử cho phù hợp với đặc điểm của từng loại đối tượng nộp thuế đó Đối với cá nhân không cư trú do thời gian hiện diện ở Việt Nam không nhiều, thậm chí họ không có mặt ở Việt Nam nhưng có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam (nguyên tắc đánh thuế theo lãnh thổ) họ trở thành đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân cho nhà nước Việt Nam Hơn nữa, thu nhập chịu thuế của đối tượng này không có tính thường xuyên, cố định…;

Do vậy cần có những quy định mang tính chất đặc thù trong nội dung pháp luật thuế TNCN áp dụng cho phù hợp với đối tượng nộp thuế là cá nhân không cư trú như:

Trang 33

Quy định về kỳ tính thuế; thuế suất áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công; quy định về giảm trừ gia cảnh… sự khác biệt về phương pháp tính thuế và cách thức hành thu thuế (quản lý thuế) đối với người không cư trú so với người cư trú không phải là sự phân biệt đối xử thiếu công bằng mà chính là để đảm bảo tính đơn giản, thuận lợi và tính khả thi trên thực tế trong quản lý thu thuế thu nhập cá nhân của người không cư trú

- Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú được điều chỉnh bởi hai nguồn văn bản pháp luật, một mặt là văn bản pháp luật trong nước, được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, gồm Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn; một mặt là các văn bản luật quốc tế, gồm các điều ước quốc tế song phương và

đa phương, với hình thức phổ biến nhất là các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần được ký kết giữa Việt Nam với các quốc gia khác Do việc đánh thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú sẽ dẫn đến tình trạng đánh thuế trùng, nên việc

ký kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần là một hoạt động cần được coi trọng

1.2.2 Cấu trúc pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở Việt Nam

Theo từ điển bách khoa Việt Nam, cấu trúc được hiểu là phương thức, cách thức tổ chức tương đối bền vững của các yếu tố trong một hệ thống Xét về cấu trúc tổng quát, hệ thống pháp luật thuế nói chung đều được cấu thành bởi hai bộ phận chính, bao gồm các quy định về nội dung của các sắc thuế trong hệ thống thuế; các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện (quy trình hành thu) hệ thống thuế Những quy định về nội dung của hệ thống thuế thực chất là những quy định nhằm xác định ai là người nộp thuế và số thuế mà họ phải nộp, khoản thu nhập nào được miễn thuế…Những quy định này liên quan đến chủ thể nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế và thường được quy định rất đầy đủ, chi tiết trong Luật Thuế thu nhập cá nhân

Hiện nay, việc xác định cấu trúc pháp luật thuế thu nhập cá nhân áp dụng cho

cá nhân không cư trú có nhiều cách tiếp cận khác nhau Chẳng hạn:

Trang 34

* C ăn cứ vào nguồn pháp luật thì pháp luật thuế thu nhập cá nhân áp dụng

cho cá nhân không c ư trú được chia thành hai bộ phận:

- Bộ phận pháp luật quốc gia, nhóm quy phạm pháp luật quốc gia điều chỉnh quan hệ thuế thu nhập cá nhân đối với người không cư trú Các quy phạm pháp luật này có ở Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Quản lý thuếvà các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành hai Luật này

- Bộ phận pháp luật quốc tế, nhóm quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ thuế thu nhập cá nhân đối với người không cư trú có thu nhập phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam Các quy phạm này có ở các hiệp định tránh đánh thuế hai lần và chủ yếu để giải quyết được hiện tượng đánh thuế trùng cho các khoản thu nhập chịu thuế của người không cư trú

* C ăn cứ vào nội dung quy phạm pháp luật điều chỉnh pháp luật thuế TNCN đối với người không cư trú bao gồm hai bộ phận cơ bản sau:

- Bộ phận pháp luật quy định về nội dung sắc thuế Bộ phận pháp luật này quy định các vấn đề như: Đối tượng nộp thuế; đối tượng chịu thuế (thu nhập chịu

thuế); thu nhập được miễn thuế, các trường hợp được giảm thuế; kỳ tính thuế; căn

cứ tính thuế đối với từng khoản thu nhập và đối với từng loại đối tượng nộp thuế…

- Bộ phận pháp luật quy định về quản lý thuế: gồm các quy định về đăng ký thuế, kê khai, khấu trừ thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế và các biện pháp quản lý thuế… Các quy phạm thuộc nhóm này

có trong Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành

* C ăn cứ vào phạm vi áp dụng của quy phạm pháp luật thì thì pháp luật thuế

thu nh ập cá nhân áp dụng cho cá nhân không cư trú được chia thành hai bộ phận:

- Nhóm quy phạm pháp luật áp dụng chung cho các đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân không phân biệt đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú hay không cư trú Chẳng hạn, quy định về thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế…

Trang 35

- Nhóm quy phạm pháp luật áp dụng riêng cho đối tượng nộp thuế thu nhập

cá nhân là người không cư trú Chẳng hạn, quy định về căn cứ tính thuế hay kỳ tính thuế đối với cá nhân không cư trú

1.2.3 Các nguyên tắc đánh thuế áp dụng trong pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú

Nguyên tắc đánh thuế của Nhà nước là hệ thống quan điểm chỉ đạo chi phối sâu sắc vấn đề đặt ra hoặc xóa bỏ hệ thống thuế của một quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình vận hành của hệ thống pháp luật thuế Thuế TNCN cũng như các sắc thuế khác đều có sự ảnh hưởng nhất định đến Nhà nước và người nộp thuế Việc điều tiết trực tiếp thu nhập của cá nhân sẽ làm cho thuế TNCN tạo ra những tác động đa chiều đến tâm lý người nộp thuế, do đó việc tuân thủ các nguyên tắc đánh thuế là nhằm đảm bảo việc thu thuế đạt hiệu quả cao nhất kể cả về số thu, chi phí và mức độ tác động xã hội của thuế

1.2.3.1 Nguyên t ắc đảm bảo công bằng giữa những người nộp thuế trong thuế TNCN

Nội dung của nguyên tắc này là việc áp dụng thuế TNCN phải đảm bảo mọi đối tượng có năng lực chịu thuế đều phải nộp thuế; mọi đối tượng có điều kiện liên quan đến thuế như nhau phải được đối xử về thuế như nhau Trong những trường hợp có sự khác nhau về điều kiện chịu thuế thì tính công bằng vẫn được đảm bảo

Đó là nếu có điều kiện khác nhau thì những đối tượng khác nhau nhưng cùng loại phải được đối xử với nhau tương xứng

Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng còn thể hiện ở chỗ những đối tượng được hưởng các ưu đãi, giảm trừ thuế TNCN giống nhau thì phải được hưởng các chế độ về thuế như nhau Những đối tượng được khuyến khích, ưu đãi khi có đủ điều kiện cũng được hưởng sự đối xử ưu đãi tương ứng [30;tr.18]

1.2.3.2 Nguyên t ắc đảm bảo cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ việc đánh thuế TNCN phải đảm bảo nguồn thu cho NSNN nhưng không được để cho người nộp thuế lâm vào tình

Trang 36

trạng khó khăn Bởi đặc trưng của thuế trực thu nói chung và thuế thu nhập trong đó

có thuế TNCN nói riêng là Nhà nước động viên trực tiếp vào thu nhập, tài sản của người nộp thuế mà chủ yếu thông qua cơ chế khấu trừ trực tiếp tại nguồn phát sinh thu nhập Nếu tổng số thuế phải trả quá lớn thì sẽ ảnh hưởng đến đời sống của người dân, nguy cơ trốn thuế rất tiềm tàng nhưng nếu nghĩa vụ thuế quá thấp thì lại không đảm bảo nguồn thu cho NSNN

Chính vì vậy việc xác định thế nào là cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế TNCN là không đơn giản Việc ban hành Luật Thuế TNCN phải dựa trên căn cứ là việc tính toán số tiền thuế người dân phải trả chứ không chỉ xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ [30;tr.19]

1.2.3.3 Nguyên t ắc đảm bảo tính hiệu quả của pháp luật thuế TNCN

Nguyên tắc này đòi hỏi việc áp dụng Luật Thuế TNCN phải đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, minh bạch và giảm chi phí cho mọi chủ thể liên quan

Nguyên tắc này cũng đòi hỏi các quy định của Luật thuế phải có tính ổn định cao, dễ tiếp cận và dễ hiểu, dễ thực hiện Mặt khác, việc tổ chức bộ máy hành thu phải được tổ chức sao chi phí quản lý thu thuế TNCN không cao hơn mức chi phí cho phép trong mục tiêu đề ra Ngoài ra, việc áp dụng Luật Thuế TNCN cũng phải tính tới mối tương quan giữa tổng thu dự tính đạt được và chi phí phải trả cho việc thu và quản lý thuế TNCN [30; tr.20]

1.2.3.4 Nguyên t ắc tránh đánh thuế hai lần

Nội dung nguyên tắc này đòi hỏi việc đánh thuế phải đảm bảo không xảy ra tình trạng một đối tượng tính thuế phải chịu một loại thuế nhiều lần

Tình trạng đánh thuế trùng chủ yếu xảy ra đối với thuế thu nhập, phát sinh từ việc các quốc gia trên thế giới áp dụng đồng thời quyền thu thuế theo yếu tố lãnh thổ và quyền thu thuế theo yếu tố quốc tịch

Để giải quyết tình trạng đánh thuế trùng, nguyên tắc này đòi hỏi hệ thống pháp luật thuế của một quốc gia phải bóc tách những phần của đối tượng tính thuế

Trang 37

đã nằm trong diện chịu loại thuế đó ở giai đoạn trước Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật thuế giữa các quốc gia cũng phải tính tới khả năng các nhà đầu tư, công dân của quốc gia này nhưng có đối tượng tính thuế ở một quốc gia khác Do đó việc các nước tham gia kí kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần là điều rất cần thiết

1.2.4 Các yếu tố chi phối pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở Việt Nam

Pháp luật thuế TNCN đối với người không cư trú chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau trong đó có những yếu tố cơ bản sau:

Th ứ nhất, cơ chế quản lí thuế TNCN đối với người không cư trú được nhà

n ước lựa chọn áp dụng

Cơ chế quản lý là sản phẩm của ý thức chủ quan của con người, do chủ thể quản

lý định ra, nên nó mang tính chủ quan phụ thuộc vào ý chí và lợi ích của chủ thể quản

lý Tuy nhiên, việc định ra cơ chế quản lý có hiệu quả thì nhà nước không thể không dựa trên cơ sở các quy luật khách quan và phù hợp với xu thế phát triển kinh tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử cụ thể Việc định ra cơ chế quản lý hợp lý, khoa học là sự biểu hiện rõ nhất về trình độ, khả năng vận dụng các quy luật khách quan vào quá trình quản lý

Luật Thuế TNCN năm 2007 quy định về hai cơ chế quản lí thuế thu nhập đối

với người không cư trú bao gồm cơ chế “tự khai, tự nộp thuế” đối với các khoản thu

nhập từ kinh doanh và thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất và cơ quan thuế chỉ thực hiện kiểm tra, kiểm soát Còn các khoản thu nhập khác áp dụng cơ chế khấu trừ thuế tại nguồn Trong đó, Luật Thuế TNCN quy định đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn của người không cư trú trong việc kê khai, nộp thuế, của cơ quan quản lý thuế

và tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc khâu trừ thuế tại nguồn

Th ứ hai, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước

Pháp luật là sự phản ánh dưới hình thức pháp lý các quan hệ xã hội, một sự phản ánh lệ thuộc vào những biến đổi của xã hội Do đó, việc nghiên cứu đánh giá

Trang 38

không chính xác, không đầy đủ những yếu tố khách quan khi ban hành pháp luật cũng dẫn đến pháp luật không phù hợp với những đòi hỏi của cuộc sống và pháp luật không thể phát huy được tác dụng Để pháp luật phản ánh đúng, đầy đủ thực tiễn khách quan, những tiến trình đang diễn ra trong đời sống xã hội thì phải thường xuyên hoàn thiện pháp luật trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế xã hội, thực trạng pháp luật hiện hành Từ thực trạng đó phát hiện ra những điểm không phù hợp trong các quy định của pháp luật để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn khách quan Đồng thời, trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng kinh tế - xã hội mà phát hiện ra những nhu cầu điều chỉnh mới của pháp luật để kịp thời xây dựng và ban hành pháp luật Nếu không có những khảo sát, đánh giá thực trạng kinh tế xã hội thì không thể có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn xác đáng để xây dựng và thực hiện pháp luật, pháp luật không thể phát huy vai trò của nó trong đời sống, thậm chí pháp luật chỉ nằm trên giấy

Để pháp luật đi vào cuộc sống, việc xây dựng và hoàn thiện các quy định về thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú cần xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn để đặt ra các quy định pháp luật cho phù hợp Hiện nay, số lượng người có thu nhập chịu thuế TNCN là người không cư trú ở Việt Nam ngày càng tăng, trong đó phải kể đến các chuyên gia, nhà khoa học, nhà đầu tư nước ngoài; một bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài về kinh doanh đầu

tư cũng như công dân Việt Nam có thu nhập chịu thuế thuộc trường hợp người không cư trú Theo Thứ trưởng Bộ Công An Tô Lâm cho biết: 8 tháng đầu năm

2012 có khoảng 78.440 lao động nước ngoài tại Việt Nam, tăng 6% so với năm

2011 Khoảng 5.000 người là lao động dưới 03 tháng, không thuộc diện cấp phép Bên cạnh đó, lao động nước ngoài vào Việt Nam bằng con đường du lịch khá đông Chính vì vậy, việc ban hành các quy định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với người không cư trú cần phải xuất phát từ thực trạng nền kinh tế, qua đó góp phần giúp cho việc thu thuế được thuận lợi hơn, tránh tình trạng thất thu thuế, không gây khó khăn phiền hà cho người nộp thuế, điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước và cũng là đảm bảo được tính

Trang 39

công bằng cho các đối tượng nộp thuế Giải pháp mà quy định pháp luật thuế nhập

cá nhân đối với người không cư trú phải tính đến là quy định về thủ tục hành chính thuế phải đơn giản, rõ ràng, dễ thực hiện, giảm tần suất kê khai, nộp thuế, tiết giảm tối đa chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi tối đa cho người không cư trú nộp thuế tự thực hiện đầy đủ, đúng nghĩa vụ thuế Đồng thời, cần có quy định nhằm khuyến khích, mở rộng các hoạt động tư vấn, cung cấp dịch vụ về thuế, về kế toán giúp cho người không cư trú có nghĩa vụ nộp thuế hiểu rõ quy định của Luật Thuế thu nhập

cá nhân về thuế đối với người không cư trú, đó là cơ sở của việc tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước

Th ứ ba, văn hoá tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế

Văn hoá tuân thủ pháp luật thuế thể hiện ở nhận thức về trách nhiệm của người nộp thuế về nghĩa vụ thuế, ở ý thức chấp hành pháp luật thuế Văn hoá tuân thủ pháp luật thuế là một yếu tố quan trọng trong việc xác định nội dung điều chỉnh của pháp luật Khi người nộp thuế có kiến thức, hiểu biết đầy đủ về pháp luật thuế có tinh thần đạo đức thuế tốt thì khi đó mới đảm bảo rằng họ tự giác thực hiện được đúng, đầy đủ nghĩa vụ thuế của mình, họ thấy trách nhiệm của mình phải tham gia vào công tác quản lý thuế và mới giám sát quá trình thực hiện pháp luật thuế Trái lại, sự hiểu biết

và ý thức chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế còn thấp thì tình trạng trốn thuế, lậu thuế còn diễn ra Do vậy, việc quy định trong pháp luật thuế TNCN đối với

cá nhân không cư trú phải tính đến yếu tố này, bởi vì, hiện nay, ý thức trách nhiệm về nghĩa vụ thuế, sự hiểu biết về các quy định thuế và quy trình thủ tục thực hiện các nghĩa vụ thuế của cá nhân không cư trú còn hạn chế

Trừ các trường hợp khấu trừ thuế tại nguồn thì đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh và thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất là do cá nhân tự kê khai, tự tính thuế và tự nộp thuế, cơ quan thuế thực hiện kiểm tra, kiểm soát Chính vì vậy, việc tuân thủ các quy định của người không cư trú đối với hai nguồn thu nhập này vẫn còn đạt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, cho dù cơ quan thuế có thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát nhưng cũng không thể đảm bảo có đủ điều kiện để kiểm soát hết

Trang 40

các đối tượng không cư trú có thu nhập chịu thuế cũng như kiểm soát được các nguồn thu nhập chịu thuế, qua đó, có thể tạo điều kiện cho các đối tượng này thực hiện việc kê khai khống, gian lận thuế, trốn thuế…Từ thực tế trên cho thấy, công tác tuyên truyền, tư vấn giải đáp thắc mắc về chính sách, pháp luật thuế nhập cá nhân đối với người không cư trú cần được coi trọng Bên cạnh đó, cần hoàn thiện pháp luật về giám sát và bảo đảm tuân thủ pháp luật thuế, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát để phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm khắc, kịp thời các hành

vi gian lận, trốn lậu thuế, chiếm đoạt tiền thuế của nhà nước Có như vậy, mới tăng cường tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa những hành vi tiêu cực, bảo đảm cho quy định pháp luật thuế TNCN đối với người không cư trú được tôn trọng và thực thi nghiêm túc trên thực tế

Th ứ tư, trình độ quản lí của cơ quan nhà nước về thuế, cán bộ ngành thuế

Trình độ năng lực quản lí của cơ quan thuế, cán bộ ngành thuế là một yếu tố quan trọng chi phối pháp luật thuế TNCN đối với người không cư trú Trình độ năng lực quản lí của cơ quan thuế được thể hiện thông qua việc phân công, phân cấp quản lý, bố trí cán bộ, bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho công tác kiểm tra, kiểm soát các nguồn thu mà người không cư trú tự kê khai và thước đo là kết quả đạt được trong hoạt động thực tiễn Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ công chức ngành thuế thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng ứng dụng công nghệ tin học trong công việc, tính chuyên nghiệp hoá, chuyên môn hoá quản lí, thái độ và phong cách làm việc Bên cạnh đó còn là việc hướng dẫn, giải thích các quy định pháp luật cho đối tượng nộp thuế là người không cư trú để họ chấp hành việc kê khai nộp thuế đúng thời gian, đúng quy định

Th ứ năm, tác động của hội nhập kinh tế quốc tế

Pháp luật thuế TNCN nói chung và quy định pháp luật thuế TNCN đối với người không cư trú nói riêng đều được xây dựng trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của chính quốc gia đó Tuy nhiên, do tác động của xu thế phát triển là cần mở cửa hợp tác và hội nhập kinh tế toàn cầu, các quốc gia muốn phát triển không thể đóng

Ngày đăng: 20/06/2016, 21:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Công ty Luật Nam Long & Cộng sự, Thuế thu nhập cá nhân – Nữ hoàng các loại thuế, truy cập ngày 10/7/2015 tại địa chỉ http://luatnamlong.vn/chi- tiet/2627/thue-thu-nhap-ca-nhan-nu-hoang-cua-cac-loai-thue/page:10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu"ế" thu nh"ậ"p cá nhân – N"ữ" hoàng các lo"ạ"i thu
21. Ma Thị Vân Kiều (2010), Tìm hiểu các quy định về thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản”, Khoá luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: chuy"ể"n nh"ượ"ng b"ấ"t "độ"ng s"ả"n”
Tác giả: Ma Thị Vân Kiều
Năm: 2010
35. Website: Tính thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản: còn nhiều lỗ hổng,http://www.sanbatdongsan.net.vn/PortletBlank.aspx/9087671744854EC3A5CED32031059DF7/View/Tintuc-Sukien/Tinh_thue_TNCN_tu_chuyen_nhuong_bat_dong_san_Con_nhieu_lo_hong/?print=702528317 Link
36. Website: Giới thiệu về Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-phap-luat-thue/gioi-thieu-ve-hiep-dinh-tranh-danh-thue-hai-lan.aspx Link
1. Bộ Tài chính (2011), Báo cáo tổng kết 3 năm thi hành Luật thu nhập cá nhân 2007 Khác
2. Bộ Tài chính (2012), Báo cáo kinh nghiệm cải cách thuế thu nhập cá nhân của một số nước trên thế giới Khác
3. Bộ Tài chính (2008), Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/8/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân Khác
7. Bộ Tư pháp (2012), Đề cương giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân Khác
8. Chính phủ (2013), Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN Khác
10. Chính phủ, Số liệu Ngân sách Nhà nước 2010 . 11. Chính phủ, Số liệu Ngân sách Nhà nước 2011 Khác
16. TS. Nguyễn Thị Cúc (2013), Triển khai Luật thuế Thu nhập cá nhân (sửa đổi): Nhìn từ giác độ người nộp thuế, Tạp chí Tài chính số tháng 7/2013 Khác
17. Ths. Trần Vũ Hải (2007), Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay và phương hướng hoàn thiện, Tạp chí Luật học số 10/2007 Khác
18. Ths. Trần Vũ Hải (2009), Tìm hiểu thuật ngữ pháp luật tài chính công, Nxb Tư pháp Khác
19. TS. Nguyễn Quốc Hiệp (2013), Một số vấn đề đặt ra trong việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, Tạp chí Thanh tra số tháng 3/2013 Khác
20. TS. Nguyễn Thị Lan Hương (2011), Ưu tiên quyền lợi của người nộp thuế khi sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 14/2011 Khác
22. Trần Thúy Mai Lan (2012), Vấn đề giảm trừ gia cảnh trong Luật Thuế TNCN năm 2007 - Thực trạng và kiến nghị từ kinh nghiệm Nhật Bản, Khoá luận tốt nghiệp Khác
23. Nhật Minh (2014), Mở rộng ứng dụng phần mềm quản lý thuế tập trung, truy cập ngày 30/12/2014, thời báo tài chính Khác
26. Quốc hội (2012), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế Khác
28. Quốc hội (2012), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN Khác
30. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật thuế Việt Nam, Nxb CAND Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Phụ lục 2: Bảng cơ cấu nguồn thu từ thuế TNCN giai đoạn 2010 - 2014 - Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở việt nam   thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện
h ụ lục 2: Bảng cơ cấu nguồn thu từ thuế TNCN giai đoạn 2010 - 2014 (Trang 101)
Phụ lục 1: Bảng tổng hợp dự toán và thực hiện thu Ngân sách Nhà nước - Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở việt nam   thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện
h ụ lục 1: Bảng tổng hợp dự toán và thực hiện thu Ngân sách Nhà nước (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w