PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG Chương 1: LÝ THUYẾT VỀ CHI PHÍ TUÂN THỦ THUẾ VÀ CHI PHÍ TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.1 Khái niệm tuân thủ thuế và tiêu chí đo lường mức độ tuân thủ thuế 1.1.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
- -
VÕ MINH NHỰT
THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Kết quả hôm nay không chỉ do quá trình nỗ lực của bản thân, mà còn nhờ rất nhiều vào sự hỗ trợ và động viên của nhiều người Tôi xin chân thành gửi lời cám ơn tới:
Quý Thầy, Cô trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức trong suốt thời gian mà tôi được học tại trường, đặc biệt lời biết ơn sâu sắc đến Cô PGS.TS VŨ THỊ MINH HẰNG người hướng dẫn khoa học, đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu giúp tôi hoàn thành luận văn
Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, khuyến khích trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Trong quá trình hoàn tất luận văn, mặc dù đã có tham khảo nhiều tài liệu, tranh thủ nhiều ý kiến đóng góp, bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quí Thầy Cô, đồng nghiệp và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn: Võ Minh Nhựt
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu Chi phí tuân thủ Thuế thu nhập
cá nhân trên địa bàn tỉnh Bến Tre” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các
số liệu sử dụng và trình bày trong luận văn là trung thực với nguồn gốc được trích dẫn rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của đề tài nghiên cứu này
Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS VŨ THỊ
MINH HẰNG
Tác giả: Võ Minh Nhựt
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: THUYẾT VỀ CHI PHÍ TUÂN THỦ THUẾ VÀ CHI PHÍ TUÂN THỦ THUẾ TNCN 4
1.1 Khái niệm tuân thủ thuế và tiêu chí đo lường mức độ tuân thủ thuế 4
1.1.1 Quan niệm về tuân thủ thuế 4
1.1.2 Tiêu chí đo lường mức độ tuân thủ thuế 4
1.2 Ảnh hưởng của chi phí tuân thủ thuế đến mức độ tuân thủ thuế 6
1.3 Chi phí tuân thủ thuế TNCN 7
1.3.1 Tác động của chi phí tuân thủ thuế TNCN 7
1.3.2 Sự đơn giản hóa về chi phí tuân thủ 8
1.3.3 Định nghĩa chi phí tuân thủ 11
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ CHẤP HÀNH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 19
2.1 Sơ lược chính sách thuế TNCN 19
2.2 Hệ thống quản lý thu thuế thu nhập cá nhân được áp dụng tại Cục thuế tỉnh Bến Tre 22
2.3 Thực trạng quản lý thuế TNCN 27
2.3.1 Kết quả đạt được 27
2.3.1.1 Về đăng ký Mã số thuế 27
2.3.1.2 Về kiểm tra thuế TNCN 29
2.3.1.3 Về Công tác tuyên tuyền hỗ trợ người nộp thuế 30
2.3.1.4 Xử lý hoàn thuế Thu nhập cá nhân 31
2.3.1.5 Về tuân thủ của người nộp thuế 32
2.3.2 Vần đề đặt ra đối với công tác quản lý thuế 34
Trang 52.3.2.1 Về hệ thống chính sách thuế TNCN 34
2.3.2.2 Về tổ chức bộ máy 35
2.3.2.3 Về Quản lý thu nhập chịu thuế 37
2.3.2.4 Về công tác kiểm tra thanh tra thuế TNCN 38
2.3.2.5 Về cơ chế quản lý thu nợ và cưỡng chế thuế 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ KHẢO SÁT CHI PHÍ TUÂN THỦ QUYẾT TOÁN THUẾ TNCN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE 40
3.1 Mô tả mẫu khảo sát, đặc điểm khảo sát và cơ cấu kết quả khảo sát 40
3.1.1 Mô tả mẫu khảo sát 40
3.1.2 Đặc điểm khảo sát 40
3.1.3 Đặc điểm hiện tượng quyết toán thuế TNCN 41
3.1.4 Khung lý thuyết về chi phí tuân thủ 41
3.1.5 Các hoạt động người nộp thuế thực hiện khi quyết toán thuế TNCN 42
3.2 Phát thảo mẫu phỏng vấn trong nghiên cứu 44
3.3 Cơ cấu kết quả khảo sát 45
3.4 Phân tích chi phí thời gian 47
3.4.1 Thời gian sử dụng cho các hoạt độngliên quan đến quyết toán thuế theo từng khâu công việc 47
3.4.2 Phân tích thời gian của người Việt Nam và người nước ngoài 48
3.4.3 Phân tích thời gian của cá nhân hoàn thuế và không hoàn thuế 49
3.5 Phân tích chi phí bằng tiền 51
3.5.1 Phân tích chi phí bằng tiền của người Việt Nam và người nước ngoài 52
3.5.2 Phân tích chi phí bằng tiền cá nhân hoàn thuế và không hoàn thuế 52
3.6 Tâm lý của người nộp thuế và nguyên nhân sử dụng tư vấn thuế hoặc nhờ hỗ trợ khi thực hiện quyết toán thuế 53
3.6.1 Tâm lý của người nộp thuế 53
3.6.2 Nguyên nhân sử dụng tư vấn thuế hoặc nhờ hỗ trợ của người nộp thuế 54
3.7 Kết luận khảo sát và phân tích nguyên nhân phát sinh chi phí tuân thủ .56
3.7.1 Kết luận khảo sát 56
3.7.2 Nguyên nhân phát sinh chi phí tuân thủ thuế TNCN 55
Trang 63.7.2.1 Chính sách liên thuế đến thuế TNCN 57
3.7.2.2 Cơ quan thuế 60
3.7.2.3 Cơ quan chi trả thu nhập 63
3.7.2.4 Cá nhân người nộp thuế 65
3.7.2.5 Nguyên nhân khách quan khác 67
3.7.3 Đánh giá về chi phí tuân thủ ở Bến Tre 68
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP GIẢM CHI PHÍ TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE 70
4.1 Đối với nhà nước 70
4.1.1 Phát triển hệ thống dịch vụ kế toán, tư vấn, kê khai thuế 70
4.1.2 Điều chỉnh, bổ sung một số quy định liên quan đến quyết toán thuế TNCN 71
4.1.3 Các quy định về thuế TNCN phải ổn định lâu dài, dễ thực hiện 72
4.1.4 Cần triển khai mãnh mẽ và hiệu quả cải cách hành chính về thuế trên cơ sở nghiên cứu, tính toán chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính về thuế .73
4.1.5 Cần có sự trao đổi thông tin, phối hợp chặt chẽ giữa CQT với các cơ quan hữu quan 73
4.2 Đối với cơ quan thuế 74
4.2.1 Phát huy những ưu điểm của mô hình quản lý thuế theo sắc thuế, từng bước áp dụng đồng bộ mô hình quản lý thuế theo chức năng 74
4.2.2 Phát triển đội ngũ cán bộ ngành thuế về chất và lượng 75
4.2.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền, phổ biến luật thuế TNCN 76
4.2.4 Phát triển dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế 78
4.2.5 Mở rộng, phát triển và nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế TNCN 79
4.2.6 Thay đổi quan điểm phục vụ đối với người nộp thuế 81
4.3 Đối với người nộp thuế 83
4.3.1 Trong cơ chế tự khai tự nộp thì người nộp thuế phải hiểu rõ nghĩa vụ 83
4.3.2 Cơ quan chi trả cần tổ chức bộ máy kế toán chặc chẽ và hữu hiệu 83
4.4 Hạn chế của nghiên cứu và định hướng nghiên cứu tiếp theo 84
KẾT LUẬN 85
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.2: Bảng thống kê kỳ kê khai thuế 27
Bảng 2.4: Số lượng mã số thuế do Cục Thuế tỉnh Bến Tre cấp 28
Bảng 2.5: Tình hình kiểm tra quyết toán thuế TNCN 29
Bảng 2.6: Tổng hợp số liệu hoàn thuế TNCN từ năm 2010 đến 2013 32
Bảng 2.7: Số lượng hồ sơ phân theo hoàn thuế và không hoàn thuế 33
Bảng 2.9: Tình hình xử phạt vi phạm hành chính đối với tờ khai thuế TNCN 34
Bảng 3.1 : Các hoạt động của người nộp thuế khi quyết toán thuế TNCN 43
Bảng 3.2: Các khoản mục phát sinh chi phí tuân thủ thuế thu nhập cá nhân 45
Bảng 3.3: Cơ cấu 263 phiếu khảo sát 46
Bảng 3.4: Bảng số liệu số cá nhân sử dụng dịch vụ để hỗ trợ kê khai quyết toán thuế 46
Bảng 3.5: Số lượng người Việt Nam hoàn thuế 47
Bảng 3.6: Số lượng người nước ngoài hoàn thuế 47
Bảng 3.7: Thời gian tuân thủ phân theo từng khâu công việc 48
Bảng 3.8: Chi phí bằng tiền của người nộp thuế 51
Bảng 3.9: Thống kê tâm lý của người Việt Nam 53
Bảng 3.10: Thống kê tâm lý của người nước ngoài 54
Bảng 3.11: Nguyên nhân sử dụng dịch vụ tư vấn thuế hoặc nhờ hỗ trợ người khác 55
Bảng 3.12: Quy trình hoàn thuế TNCN 63
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Mô hình chi phí tuân thủ 11
Sơ đồ 2.1: Hệ thống quản lý thu thuế TNCN 23
Đồ thị 2.3: Tổng số lượng mã số thuế trước và sau khi áp dụng Luật Thuế TNCN 28
Đồ thị 2.8: Số hồ sơ quyết toán phân theo hoàn thuế và không hoàn thuế 33
Trang 9PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề nghiên cứu:
Công tác quản lý thuế hiện nay đối với Việt Nam nói riêng và các nước trên
thế giới nói chung đang phải đứng trước nhiều thách thức khác nhau trong nhiệm vụ thu thuế của nhà nước Một trong những thách thức đó là sự đa dạng hành vi tuân thủ thuế Trong khi nguồn lực cho quản lý thu thuế có giới hạn, sự phức tạp về hành
vi tuân thủ thuế ngày càng tăng và khó nắm bắt, từ đó làm cho cơ quan thuế phải chịu nhiều sức ép trong việc làm sao phải đảm bảo số thu cho ngân sách Nhà nước nhằm hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ chi cho phát triển kinh tế - xã hội cũng như quản lý đất nước ngày càng phát triển như hiện nay Chính vì vậy, tuân thủ thuế đã trở thành một chủ đề nghiên cứu quan trọng Việc tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ đã giúp làm sáng tỏ hành vi của người nộp thuế Những biến số nào ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế? Người nộp thuế sẽ thay đổi như thế nào trước những sự thay đổi của các biến số đó? Đó là vấn đề mà các nhà nghiên cứu đã, đang
và sẽ không ngừng đi tìm câu trả lời phù hợp
Cơ chế tự khai tự nộp thuế đã được Tổng Cục thuế áp dụng cho tất cả người nộp thuế từ 01/07/2007, người nộp thuế phải tự tính, tự kê khai, tự nộp thuế và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tự kê khai, tự nộp thuế của mình Áp dụng cơ chế mới này thì tạo gánh nặng chi phí tuân thủ cho người nộp thuế Đối với cá nhân, mỗi người dân có chuyên môn trong các lĩnh vực khác nhau, trình độ học vấn khác nhau, ngành nghề khác nhau, khi thực hiện cơ chế tự khai thì mỗi cá nhân sẽ phải tự
kê khai thuế cho chính bản thân họ Do đó, chi phí tuân thủ cũng sẽ khác nhau
Ý thức thuế càng cao thì dẫn đến tính tự giác tuân thủ tăng và điều này sẽ làm giảm quy mô của hoạt động kinh tế không chính thức, như vậy mọi việc quản lý thuế sẽ đơn giản và hiệu quả hơn Một số nghiên cứu trước đây cũng đã nghiên cứu
về mối liên hệ giữa ý thức thuế và quy mô hoạt động kinh tế không chính thức Có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ thuế của người nộp thuế, chẳng hạn chuẩn mực xã hội, dư luận xã hội, nhận thức về thái độ của công chức ngành
Trang 10thuế, các nhân tố về thể chế có liên quan trong việc quản lý thuế, … Mức độ tuân thủ thực tế của người nộp thuế cũng phần nào giúp cơ quan thuế xác định cách xử lý phù hợp
Vì vậy nghiên cứu này nhằm mục đích cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ước tính chi phí tuân thủ cho người nộp thuế thu nhập cá nhân và giúp cơ quan thuế tìm hiểu làm thế nào để giữ cho chi phí tuân thủ thấp, giúp người nộp thuế giảm chi phí tuân thủ khi gởi hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân Adam Smith (1776) người đầu tiên thảo luận về vấn đề thuế và đặt ra bốn câu chăm ngôn: Bình đẳng, Chắc chắn, Thuận tiện và Kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu chung của đề tài này là phân tích chi phí tuân thủ của cá nhân khi thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân 2013 Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị về phía cơ quan thuế để đảm bảo tính hiệu quả của các quy định về thủ tục hành chính theo hướng giảm gánh nặng chi phí tuân thủ tối đa cho người nộp thuế
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi thu thập dữ liệu:
Đối tượng: Là các cá nhân nộp thuế thu nhập cá nhân
Phạm vi thu thập dữ liệu: Các cá nhân kê khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2013 trên địa bàn tỉnh Bến Tre
4 Phương pháp nghiên cứu:
Dùng phương pháp thống kê mô tả: được dựa trên kết quả khảo sát chi phí tuân thủ người nộp thuế, số liệu thuế thu nhập cá nhân, số liệu tuân thủ của người nộp thuế, từ các báo cáo Cục thuế v v để ước tính chi phí tuân thủ thuế thu nhập cá nhân
Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như so sánh, phân tích, tổng hợp trong luận văn
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Giúp các nhà quản lý đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý thuế thu nhập cá nhân của những đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân Không những hoàn thiện, nâng cao
Trang 11công tác quản lý thuế mà các cá nhân còn tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế thu nhập
cá nhân Đồng thời tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước trong thời gian sắp tới
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của Luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: LÝ THUYẾT VỀ CHI PHÍ TUÂN THỦ THUẾ VÀ CHI PHÍ TUÂN THỦ THUẾ TNCN
Chương 2: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ CHẤP HÀNH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
Chương 3: KẾT QUẢ KHẢO SÁT CHI PHÍ TUÂN THỦ QUYẾT TOÁN THUẾ TNCN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE
Chương 4: GIẢI PHÁP GIẢM CHI PHÍ TUÂN THỦ THUẾ TNCN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE
Trang 12PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: LÝ THUYẾT VỀ CHI PHÍ TUÂN THỦ THUẾ VÀ CHI PHÍ TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1 Khái niệm tuân thủ thuế và tiêu chí đo lường mức độ tuân thủ thuế
1.1.1 Quan niệm về tuân thủ thuế
Có nhiều quan niệm về tuân thủ thuế, được trình bày tiêu biểu như sau:
Theo tổ chức OECD (2004) định nghĩa tuân thủ thuế: Tuân thủ thuế là phạm
vi mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình Tại nhiều nước, đối tượng nộp thuế có 3 nghĩa vụ cơ bản:
(1) Nộp tờ khai thuế đúng hạn;
(2) Kê khai (báo cáo) chính xác trên tờ khai những thông tin cần thiết để xác định số tiền thuế;
(3) Nộp nghĩa vụ thuế kịp thời Các nghĩa vụ này thường được coi là tuân thủ
về nộp tờ khai, tuân thủ về báo cáo (kê khai) và tuân thủ về thu nộp
Theo James và Alley (1999), " tuân thủ thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế"
+ Ý kiến của tác giả:
Theo các định nghĩa trên, tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế về cơ bản
là thể hiện ở việc chấp hành đầy đủ, kịp thời các quy định của pháp luật thuế, cụ thể
là việc chấp hành các tiêu chí thời gian, mức độ chính xác trung thực và đầy đủ của các hoạt động đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và các nghĩa vụ khác về thuế của người nộp thuế Khi tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế được nâng cao, rõ ràng, chính sách pháp luật thuế đã được ban hành và thực thi có hiệu quả, đạt được các mục tiêu mong muốn
1.1.2 Tiêu chí đo lường mức độ tuân thủ thuế
Hiện nay, trong điều kiện áp dụng cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế, thực hiện tổ chức quản lý thuế theo chức năng, đề cao vai trò tự giác của người nộp thuế
do vậy đa số những nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, sử dụng những tiêu
Trang 13thức đánh giá nói trên Theo cách này, các tiêu thức đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế dựa trên cơ sở mức độ tuân thủ thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật thuế, cụ thể Việt Nam:
- Tuân thủ trong việc đăng ký thuế: để đánh giá mức độ tuân thủ trong việc
đăng ký thuế, các chỉ tiêu sau đây thường được sử dụng:
+ Số người nộp thuế vi phạm về thời gian đăng ký thuế
+ Tỷ lệ % giữa số người nộp thuế vi phạm về thời gian đăng ký thuế so với
tổng số đối tượng phải đăng ký thuế
Nếu các chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ trong việc đăng ký thuế chưa tốt
- Tuân thủ về kê khai thuế, gồm tuân thủ về nộp tờ khai và tuân thủ trong kê
khai thuế
(1) Tuân thủ nộp tờ khai thuế thể hiện qua chỉ tiêu sau:
+ Tuân thủ trong nộp tờ khai của người nộp thuế Chỉ số này đo lường tỉ lệ phần trăm giữa số tờ khai được nộp và số người nộp thuế thực tế được đăng ký tại
cơ quan thuế Các tờ khai được nộp có thể bao gồm cả tờ khai nộp đúng hạn và tờ khai chậm nộp
+ Tuân thủ trong việc nộp tờ khai đúng hạn, được đo bằng tỉ lệ giữa số tờ khai nộp đúng hạn trên tổng số tờ khai đã được nộp
+ Mức độ tuân thủ trong nộp tờ khai nói chung, là tỉ lệ giữa số tờ khai đã nộp đúng hạn chia cho tổng số người nộp thuế đã đăng ký
Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ thuế tốt hơn
(2) Tuân thủ trong việc kê khai thuế:
+ Mức độ tuân thủ về kê khai thuế thể hiện qua việc kê khai trung thực các khoản thu nhập, doanh thu, và sản lượng liên quan đến thuế trực thu hay thuế gián thu.Tuân thủ trong kê khai có thể được phát hiện, đánh giá trong quá trình tính và
kế toán thuế và quyết toán thuế Tuân thủ trong kế toán thuế thể hiện ở việc phản ánh, ghi chép trung thực các nghiệp vụ liên quan đến việc tính toán, xác định số thuế phải nộp Tuân thủ trong quyết toán thuế là việc người nộp thuế thực hiện tổng hợp kê
Trang 14khai, tính toán xác định việc thực hiện nghĩa vụ thuế trong kỳ kê khai quyết toán theo quy định của pháp luật thuế: trung thực, đầy đủ và đúng hạn
1.2 Ảnh hưởng của chi phí tuân thủ thuế đến mức độ tuân thủ thuế :
Chi phí tuân thủ thuế được nhiều tác giả đề cấp đến khi nghiên cứu tuân thủ thuế như là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ của người nộp thuế như:
Theo OECD (2009) xác định "Chi phí tuân thủ thuế là những một trong những yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến tuân thủ thuế Người nộp thuế phải đối diện một số chi phí để tuân thủ quy định luật thuế ngoài số tiền thuế thực sự mà họ phải nộp Chi phí này bao gồm thời gian hoàn thành yêu cầu theo quy định, chi phí kế toán
và chi phí gián tiếp gắn liền với sự phức tạp của pháp luật, bao gồm chi phí tâm lý như sự căng thẳng thần kinh xuất phát từ sự không chắc chắn do phải đáp ứng hết tất cả quy định luật thuế hoặc hiểu luật thuế là gì"
Christina M.Ritsema (2003): chi phí tuân thủ thuế là một trong những yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế của người nộp thuế, chi phí tuân thủ thấp sẽ dẫn đến mức độ tự nguyện tuân thủ thuế của người nộp thuế tăng lên và ngược lại
Nguyễn Thị Thanh Hoài (2011) đề cập đến chi phí tuân thủ thuế thu nhập cá nhân và tác động đến mức độ tuân thủ: Chi phí tuân thủ bao gồm thời gian phải bỏ
ra để hoàn tất thủ tục thuế, chi phí về kế toán thuế và có thể bao gồm cả chi phí về mặt tâm lý như căng thẳng thần kinh do người nộp thuế không nắm chắc họ có đáp ứng được các quy định của các luật thuế hay không Người nộp thuế phải bỏ ra các chi phí trên để tuân thủ nghĩa vụ thuế, do đó tổng số tiền mà người nộp thuế phải chi ra lớn hơn số thuế thực nộp vào ngân sách nhà nước Nếu chi phí tuân thủ thấp sẽ dẫn đến mức độ tuân thủ tự nguyện tăng lên và ngược lại
Theo tác giả Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009): Chi phí tuân thủ tác động đến sự tuân thủ thông qua hiệu ứng thu nhập nghĩa là chi phí tuân thủ tăng sẽ cản trở quyết định tuân thủ thuế và ngược lại
Vì vậy, có thể thấy rằng, chi phí tuân thủ thuế tỷ lệ nghịch với hành vi tuân thủ của người nộp thuế Chi phí tuân thủ thấp sẽ khuyến khích người nộp thuế tự nguyện
Trang 15chấp hành các quy định thuế, ngược lại, chi phí tuân thủ cao sẽ cản trở tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế, hoặc là không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ yêu cầu của quy định, thậm chí thực hiện trốn thuế
1.3 Chi phí tuân thủ thuế TNCN :
1.3.1 Tác động của Chi phí tuân thủ thuế TNCN:
Vấn đề về chi phí tuân thủ thuế TNCN của người nộp thuế hoặc chi phí phát sinh của người nộp thuế thực hiện theo quy định của pháp luật thuế cao hơn số tiền thuế phải nộp gần đây được nhiều sự chú ý và là chủ đề xuất hiện càng nhiều trong các hội thảo giữa giới học thuật, nhà làm chính sách và cộng đồng nói chung Thuật ngữ chi phí tuân thủ đã được đề cập từ rất lâu trong những nguyên tắc thuế chủ yếu của Adam Smith's (1776) Trong bốn nguyên tắc chung về đánh thuế của Adam Smith's thì có ba nguyên tắc liên quan đến trực tiếp hoặc gián tiếp đến chi
phí tuân thủ thuế, gồm tính chắc chắn thể hiện số thuế mà mỗi cá nhân phải đóng
nên chắc chắn và không được tùy tiện, thời gian nộp thuế, phương thức nộp thuế, số thuế phải nộp nên rõ ràng và ngay thẳng đối với người nộp thuế và đối với từng người
khác; tính thuận tiện tức từng loại thuế nên được đánh theo thời gian hoặc theo phương thức thuận tiện nhất cho người nộp thuế; tính kinh tế trong thu thuế nghĩa
là hành thu không quá đắc và làm cản trở phát triển doanh nghiệp
Hệ thống thuế càng phức tạp có thể dẫn đến trốn thuế và tránh thuế Để có thể cạnh tranh trong thị trường toàn cầu, chính phủ phải có một sự quan tâm về mức độ chi phí tuân thủ và có mục đích giảm chúng " Chi phí tuân thủ tạo ra khoảng tổn thất vô ích rất lớn trong kinh tế, và không khuyến khích người lao động tham gia vào thị trường lao động"
Tuy nhiên, dù chi phí tuân thủ tác động thế nào thì sẽ không bao giờ biến mất
vì chi phí phát sinh do hệ thống thuế và từ hoạt động của người nộp thuế, chúng chỉ mất đi khi hệ thống thuế không còn nữa Do đó, mục tiêu để đạt được hiệu quả trong quản lý thuế là phải tối thiểu hóa chi phí tuân thủ của người nộp thuế
Có sự khác biệt rất lớn đối với chi phí tuân thủ thuế doanh nghiệp và giữa cá
nhân khi nghiên cứu, do doanh nghiệp là một tổ chức đại diện cho một tập thể, do đó
Trang 16chi phí tuân thủ thuế của doanh nghiệp sẽ tổng hợp tất cả chi phí tuân thủ thuế phản ánh từ nhiều cá nhân thực hiện trong quá trình tuân thủ quy định và phải mang tính đại diện cho tập thể
Cụ thể, thứ nhất, khác biệt lớn nhất là khi nghiên cứu thường chỉ chi phí
tâm lý của cá nhân, ít nghiên cứu cho tổ chức Theo một số nhà nghiên cứu, tâm lý gồm tất cả các hiện tượng tinh thần xẩy ra trong đầu óc con người, gắn liền với mọi hoạt động của con người (Tâm lý học đại cương, Nguyễn Quang Uẩn chủ biên,
2007) Do đó, nếu nghiên cứu chi phí tâm lý của doanh nghiệp sẽ thể hiện không rõ ràng, cụ thể như đối với cá nhân vì tâm lý thuộc hoạt động trong đầu óc con người
Thứ hai, liên quan đến chi phí thời gian và chi phí bằng tiền có những đặc
điểm riêng của doanh nghiệp, cụ thể biểu hiện rõ nhất của doanh nghiệp là một tổ chức, có tài sản, thuê mướn người lao động trong khi cá nhân không có Để dễ hiểu, tác giả minh họa cụ qua định nghĩa : "Chi phí tuân thủ doanh nghiệp gồm các chi phí hành chính, giấy tờ, mua sắm thiết bị Đó cũng có thể là các chi phí khó nhận thấy như: chi phí liên quan đến việc nắm bắt các quy định mới (thuê kế toán, dịch vụ pháp lý, nghiên cứu, phần mềm); thuê nhân viên mới, tập huấn nhân viên cũ để đáp ứng yêu cầu của quy định mới; chi phí theo dõi việc thực thi quy định mới; chi phí do rủi ro phải chịu trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm hành chính lớn hơn do quy định mới Không bao gồm các chi phí trực tiếp như trả thuế, phí." (Nguồn: Ministry of Economic Development of New Zealand, Business Compliance Cost Statements-
Guidelines for Departments, 6/2001)
Thứ ba, khi nghiên cứu chi phí tuân thủ thuế cá nhân, người ta thường
nghiên cứu mối liên quan giữa chi phí tuân thủ thuế với yếu tố nhân khẩu học như: giới tính, tuổi, trình độ học vấn, thu nhập, tình trạng hôn nhân (Slerod and Sorum(1984), Blumenthal và Slemrod (1992), Vaillancourt (1989)); đối với doanh nghiệp là: quy mô, đặc điểm ngành nghề của doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp
1.3.2 Sự đơn giản hóa và chi phí tuân thủ:
Hệ thống thuế càng phức tạp thì ảnh hưởng bất lợi đến quản lý thuế, cụ thể tuân thủ và chi phí tuân thủ (Sandford, 1995, Bardsley, 1997) Theo Pope (1994) kết
Trang 17quả các nghiên cứu chi phí tuân thủ cho rằng tính đơn giản cần được xác định là có tầm quan trọng hơn khi so sánh với mục tiêu thuận tiện tối đa hóa số thu, cổ phần và hiệu quả See Talib (1996) Những yếu tố khác có tác động tăng chi phí tuân thủ là
sự không rõ ràng của luật thuế, sự thay đổi thường xuyên trong quy định về thuế, các quy định khác nhau đối với những thành phần khác nhau của cơ sở thuế ( ví dụ như thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau) tính phức tạp và thời gian chi phối thủ tục quản lý Chi phí tuân thủ cũng phát sinh từ sự tống đạt các quy định yếu kém dẫn đến hệ thống thuế phức tạp, thủ tục quan liêu, thiếu tính chuyên nghiệp trong quản lý thuế, và trong quá trình tạo thuận lợi nhóm người nộp thuế nào đó hoặc hoạt động nào
đó
Một chính sách nhấn mạnh việc tạo ra cơ sở thuế phản ảnh chính xác khả năng nộp thuế của người nộp thuế có thể tăng sự phức tạp và sự không rõ ràng của hệ thống thuế (Kaplow, 1995) Sự đơn giản hóa trong chính sách thuế có thể giảm hoặc tăng chi phí tuân thủ thuế (See also McClure (1989), Boucher (1991), Pope (1994), Talib (1996), Bardsley (1996), and James, Sawyer and Wallschutzky (1997) Đầu tiên, sự đơn giản của luật thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí tuân thủ của người nộp thuế và chi phí cưỡng chế của cơ quan thuế; thứ hai góp phần giảm sự không chắc chắn trong luật thuế (Bardsley (1996)) Giảm sự không chắc chắn có xu hướng tăng tuân thủ bằng cách giảm chi phí tư vấn (Talib, 1996) Điều ngược lại có thể xẩy
ra (Baedsley, 1997) sự tùy tiện có thể lan truyền trong hệ thống làm mang lại sự trốn thuế hơn sự không chắc chắn Bằng chứng thực nghiệm thì không có kết luận trong điểm này (Alm, Jackson and Mckee (1992) and Klepper and Nagin (1989))
Sự phức tạp của luật thuế khó đo lường một cách khách quan (See Pope (1994), McClure (1989), and James, Sawyer and Wallschutzky (1997) Ví dụ, áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp đồng nghĩa việc chuyển gánh nặng chi phí tuân thủ tuân thủ từ quản lý thuế của cơ quan thuế sang người nộp thuế, dẫn đến chi phí tuân thủ cao Ưu đãi thuế được thiết kế mang đến lợi ích cho nhà đầu tư nhưng nhìn chung tăng chi phí tuân thủ của họ, giảm lợi nhuận thuế và giảm ưu đãi thuế Kết quả, nhận thức của người nộp thuế là một chỉ tiêu quan trọng
Trang 18McClure (1989) xác định 5 nguyên nhân phức tạp của luật:
(a) quy định để định nghĩa chính xác thu nhập kinh tế thực sự;
(b) khoản chi phí liên quan đến thuế;
(c) những quy định để chống lại sự lạm dụng đặc quyền thuế hoặc kết quả sự không công bằng;
(d) những quy định bao quát sự chuyển tiếp giữa những quy định hiện hành và những quy định mới;
(e) thiếu tính chặc chẽ logic của luật thuế
Tuy nhiên, nhiều tranh luận sự đơn giản hóa cho thấy một sự hiểu nhầm có thể làm hệ thống thuế phức tạp James, Sawyer and Wallschutzky (1997) nhấn mạnh rằng sự đơn giản hóa luật thuế thì cần thiết nhưng không có nghĩa giúp giảm chi phí tuân thủ của người nộp thuế Chính sách thuế cơ bản thì cũng chịu trách nhiệm đối với chi phí tuân thủ cao Ví dụ, việc sử dụng thuế thu nhập hơn thuế doanh thu tăng
sự phức tạp của luật thuế, tăng chi phí tuân thủ (See Kaplow (1995)) Hoặc ví dụ khác như Sandford (1995) và Kaplow (1995) chỉ ra người nộp thuế có thể chọn đa dạng hóa nguồn thu nhập, điều này đòi hỏi tính thuế phức tạp để tránh thuế, đánh đổi giữa số thuế phải nộp thấp với chi phí tuân thủ cao Pope (1994) thực hiện nghiên cứu người nộp thuế tại Úc cho thấy nổi bật lên chi phí tuân thủ thuế thu nhập
là mức độ thu nhập và loại hình thức thuế được sử dụng Kaplow (1995) và Glassberf và Smyth (1995) chú ý rằng soản thảo luật thuế đơn giản mắc sai lầm trong xác định vấn đề cốt lõi: luật thuế trở nên phức tạp bởi vì sự phức tạp cơ sở thuế, khấu trừ và đặc quyền, bởi vì hệ thống thuế đơn giản không thể phục vụ cho những trường hợp đặc biệt
Ví dụ 1, với sự đơn giản hóa nếu không có sự khấu trừ cho từ thiện, sau đó điều
này có thể ảnh hưởng ngược lại hoạt động từ thiện
Ví dụ thứ 2, nếu đầu tư trong khu vực tốn chi phí giống như rủi ro sau đó đầu tư
trong khu vực có thể làm giảm hơn mức tối ưu nếu đặc quyền thuế không được áp dụng Luật thuế quá đơn giản cũng có thể có những lỗ hòng làm phát sinh nhiều sự giải thích, điều này làm tăng sự không chắc chắn và chi phí "tâm lý" của người nộp
Trang 19Do đó, bỏ qua khỏi nhấn mạnh về tầm quan trọng trong soạn thảo luật thuế, Boucher (1991) phân biệt ba khía cạnh khác nhau của sự đơn giản hóa luật thuế
"Đơn giản tuân thủ" liên quan đến hoạt động lưu giữ tài liệu, điền mẫu tờ khai thuế
"Đơn giản giao dịch" nghĩa là giao dịch tài chính cần được cấu trấu để tối thiểu hóa thuế phải nộp "Đơn giản quy định" phản ánh sẽ dễ dàng thuận tiện hiểu luật thuế
Sự đơn gián hóa là cần thiết, một số nước đã cố gắng đơn giản hóa luật thuế để giảm chi phí tuân thủ và chi phí quản lý hành chính
1.3.3 Định nghĩa chi phí tuân thủ
Theo Sandford, Godwin và Hardwick (1989) định nghĩa chi phí tuân thủ thuế: Chi phí tuân thủ thuế là chi phí chịu bởi người nộp thuế hoặc bên thứ ba, chủ yếu là các doanh nghiệp, trong việc đáp ứng các yêu cầu theo áp đặt lên với một cấu trúc nhất định và mức độ thuế (không bao gồm số thuế phải nộp và bất kỳ chi phí biến dạng phát sinh từ thuế)
Sandford (1995) đã định nghĩa tiếp chi phí tuân thủ thuế: "Những chi phí phát sinh của người nộp thuế mà người nộp thuế phải chịu trong quá trình đáp ứng các yêu cầu của pháp luật và cơ quan thuế; thêm vào đó là các khoản chí phí khác ngoài tiền thuế đã thanh toán thực tế, và bất kỳ chi phí biến dạng vốn có trong bản chất của thuế."
Trang 20Chi phí tuân thủ thuế được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu, trong số các tác giả thì Sandford được coi là cha đẻ của chi phí tuân thủ nghiên cứu từ sau công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên của ông vào năm 1973 được thực hiện Mô hình của Ông Sandford's đưa ra bao gồm ba thành phần chi phí chủ yếu như sau:
Mô hình chi phí tuân thủ thuế TNCN
Thông thường các dự toán chi phí tuân thủ dựa vào chi phí tiền bạc và thời gian, chi phí tâm lý rất khó để tính toán Nghiên cứu này cũng là mối quan tâm về thời gian và chi phí bằng tiền phát sinh của người nộp thuế trong việc đáp ứng hệ thống thuế thu nhập cá nhân
Chi phí tuân thủ rất quan trọng bởi vì chúng phản ánh sự phức tạp của một hệ thống thuế Nếu tăng độ phức tạp trong lĩnh vực thuế có thể dẫn đến hành vi trốn thuế, tránh thuế, vì vậy chính phủ cần quan tâm đối với mức độ chi phí tuân thủ và mục tiêu
để làm giảm thiểu chúng
Theo định nghĩa Sandford (1995), Chattopadhyay và Arindam Das-Gupta (2002) phân tích Chi phí tuân thủ không chỉ chịu bởi người nộp thuế mà còn tất cả tổ chức có liên quan đến việc chuyển lợi ích từ khu vực công sang khu vực của ngân khố chính phủ
Ví dụ, người chủ sử dụng lao động chịu trách nhiệm khấu trừ thuế tại nguồn và các tổ chức tài chính được giao chức năng thu thuế đồng thời cũng phải gánh chịu chi phí tuân thủ Bởi vì chi phí tuân thủ là một trong những chi phí tác động đến xã hội, do
đó có cần xem xét chi phí tuân thủ từ quan điểm rộng hơn là ngụ ý trong định nghĩa Sandford (1995)
Chi phí tuân thủ thuế
1 Chi phí bằng tiền
2 Chi phí thời gian
3 Chi phí tâm lý
Trang 21Toàn bộ chi phí hệ thống thuế bao gồm "chi phí phúc lợi, chi phí cơ hội, chi phí tâm lý, chi phí xã hộiv v " Evans và Walpole (1997) See Mikesell (1986) để đánh giá tác động của thuế đến xã hội, "tổng chi phí tác động lên người dân- tổng chi phí hành thu, chi phí quản lý, chi phí tuân thủ- cần được xem xét đến Slemrod và Yitzhaki (1996) xác định chi phí tuân thủ như là một trong năm thành phần chi phí
hệ thống thuế Chi phí khác là chi phí quản lý, khoản tổn thất hiệu quả vô ích từ thuế, gánh nặng thuế quá mức của trốn thuế, chi phí tránh thuế Ý kiến chung là xem xét tình huống có và không có thuế Thuế là sự chuyển giao từ mua quyền lực từ khu vực phi chính phủ đến khu vực chính phủ Theo cách phân loại của Slemrod và Yitzhaki tìm ra được tất cả chi phí liên quan đến xã hội đều ảnh hưởng đến sự chuyển giao này
Theo kết quả khảo sát tính toán chi phí tuân thủ cho người nộp thuế thu nhập cá nhân được sử dụng để thu thập dữ liệu và phát triển dựa trên mô hình của Cedric Sandford tại Malaysia cho biết Trung bình ước tính thời gian dành cho cá nhân là 9,9
giờ để nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân (Nguồn Compliance costs, electronic
filing, personal income tax, Malaysia) Như vậy thời gian trung bình dành cho cá
nhân phải bỏ ra để nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân là 9,9 giờ mỗi năm theo tôi là chấp nhận được Ở Việt Nam nói chung, địa bàn tỉnh Bến Tre nói riêng, việc khảo sát tính tuân thủ nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN sẽ áp dụng trong khoảng thời gian này lấy làm tiêu điểm cho luận văn, sau đây chúng ta nghiên cứu phân tích ở địa bàn tỉnh Bến Tre theo các chương dưới đây
Phân loại chi phí tuân thủ thuế
Dựa trên các nghiên cứu đã thực hiện, Chattopadhyay và Arindam Gupta (2002) tóm tắt chi phí tuân thủ được phân loại theo cách khác nhau:
Theo Vaillancourt (1987) những yếu tố trong chi phí tuân thủ là tất cả chi phí chịu bởi người nộp thuế để tuân thủ luật thuế, như lao động, vốn, giá trị trung gian
hoặc khoản chi phí cho chuyên gia thuế Đối với cá nhân, những chi phí này bao
gồm tài chính, thời gian hiểu luật thuế, chi phí điền tờ khai thuế, thu thập, điền và
Trang 22lưu trữ dữ liệu cho việc hoàn tất tờ khai thuế Chi phí khác bao gồm đi lại, gặp tư vấn thuế, hoặc cơ quan thuế, thanh toán cho chuyên gia tư vấn thuế, chi phí bưu điện, điện thoại v v Sandford et al (1989) nhấn mạnh cần phải có chi phí tâm lý, bao gồm mức độ căng thẳng sự lo âu khắc khoải trong giải quyết vấn đề thuế, cụ thể những
người về hưu khó khăn, quá phụ, phụ nữ ly dị hoặc ly thân Đối với công ty, chi phí
liên quan đến thu thập, chuyển tiền, kế toán thuế, chi phí phần cứng và phần mềm được tính vào nếu chúng có lợi cho việc tính ra số thuế phải nộp, tiền lương, tiền công thuê nhân viên, cùng với chi phí yêu cầu cập nhật kiến thức
Talib (1996) và Chan et al (1999) phân chia chi phí thành chi phí tính toán và chi phí kế hoạch Talib cũng yêu cầu loại thứ ba, chi phí tư vấn Chi phí tính toán là chi phí của những công việc thường làm hằng ngày và thiết yếu, chi phí tư vấn liên quan đến khiếu nại liên quan đến thuế, thắc mắc thuế và chống án Sự rõ ràng, đơn giản sẽ giảm chi phí tính toán trong khi chi phí tư vấn ảnh hưởng bởi sự không ổn định, rõ ràng của hệ thống thuế
Chi phí tuân thủ phân theo giai đoạn khác nhau trong thực thi luật thuế Sandford, Godwin và Hardwick (1989) và Evans và Walpole (1997) nhóm chi phí tuân thủ như chi phí ban đầu, chi phí tạm thời và chi phí thường xuyên Chi phí ban đầu phát sinh cung với việc giới thiệu một luật thuế mới, hoặc sự thay đổi chủ yếu trong luật thuế Chi phí tạm thời là chi phí tăng thêm trong khi học hỏi kiến thức phát sinh từ công chức thuế và người nộp thuế Chi phí thường xuyên là chi phí liên tục trong điều hành hệ thống thuế, không có yếu tố tạm thời tăng thêm của sự thay đổi về thuế Trong thực tiễn, nếu chính phủ thay đổi hệ thống thuế thường xuyên thì sẽ
có một vài yếu tố thuộc chi phí tạm thời tại bất kỳ thời thời điểm nào Eland (1995) chia chi phí tuân thủ phát sinh từ những hành động này làm hai loại: định kỳ và không định kỳ Trước đó, có người bao gồm sự duy trì hệ thống kế toán, lưu trữ, hoàn thành tờ khai thuế và giao thiệp với cơ quan thuế khi có yêu cầu Sau đó, có tác giả bao gồm thời gian khi lên kế hoạch và chuẩn bị luật thuế mới, sự thay đổi hệ thống quản lý hiện tại, tập huấn nhân viên và bất kỳ chi phí in ấn và văn phòng phẩm Thông thường người ta thường lẫn lộn giữa những chi phí tuân thủ và chi phí
Trang 23kế toán và rất khó tách rời hai loại chi phí này Evans và Walpole (1997) chỉ ra sự khác biệt giữa chi phí tuân thủ và chi phí kế toán, trước hết cần cố gắng thực hiện việc xác định những hoạt động nào chỉ phục vụ cho mục đích thuế, và "những hoạt động kế toán thì có lợi đối với doanh nghiệp trong cách khác nhau (như kiểm soát chứng khoáng), nhưng cũng có một số liên quan đến chi phí tuân thủ thuế"
Chi phí tuân thủ gần như gắn liền với mức độ tuân thủ Chi phí tuân thủ gắn liền với các mức độ khác nhau của tuân thủ có thể ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ thực sự, bởi vì người nộp thuế cố gắng giảm chi phí trực tiếp và chi phí tuân thủ thuế Chi phí tuân thủ của luật thuế một phần dựa trên mức độ tuân thủ, nói cách khác được xác định bởi thái độ của người nộp thuế và đánh giá cấu trúc thuế
See Hasseldine (2000) tại Mỹ, IRS định nghĩa tuân thủ của người nộp thuế là những yêu cầu bao gồm người nộp thuế phải điền vào tất cả tờ khai thuế một cách chính xác và đúng thời hạn theo quy định, cùng với những quy định liên quan khác và quyết định quan tòa Sự không tuân thủ bao gồm cố ý và hành động có tính toán, không tuân thủ cũng có thể không cố ý bởi vì tuân thủ yêu cầu kiến thức tài chính, sự nỗ lực, bởi vì sự phức tạp và không rõ ràng của luật thuế Vì vậy, sự bất cẩn, sự bỏ sót,
sự hiểu sai của luật thuế có thể dẫn đến việc không tuân thủ Do đó, nếu chi phí tuân thủ chịu bởi người nộp thuế là không đầy đủ, thì điều này chính nó có thể gây ra sự không tuân thủ của người nộp thuế
Chi phí tuân thủ có thể phân loại thành chi phí tự nguyện và bắt buộc, sau này liên quan của chi phí tránh thuế theo cách phân loại của The Slemrod-Yitzhaki Từ quan điểm chính sách, hai loại chi phí thì quan trọng như nhau, có hàm ý khác nhau Sandford (1995) trích dẫn Johnston (1961) đã thực hiện nghiên cứu phân loại giữa chi phí tuân thủ là bắt buộc và chi phí tự nguyện trên các khía cạnh khác nhau Trong khi chính phủ có thể tác động trực tiếp đến tác giả trước bằng cách đơn giản hóa, những người sau này lại bị tác động bởi một vài yếu tố xã hội, như thái độ của
xã hội và sự không chắc chắn, và chính điều này Chính phủ không thể dễ dàng ảnh hưởng đến Sandford (1995) đề xuất sự phân biệt giữa " kế hoạch thuế mà chính điều này là phần quan trọng hoạt động thương mại " và " giao dịch không có liên
Trang 24quan đến thương mại" nhưng thực hiện với mục đích độc lập là giảm thuế Trong khi tác giả sau này thì đền cập đến vấn đề trốn thuế có chủ ý, những tác giả trước đề cập đến kế hoạch thuế và tránh thuế Tuy nhiên, Sandford cho rằng "sự phân biệt không dễ dàng nêu ra trong thực tiễn"
Mill (1996), người điều tra mối quan hệ giữa chi phí tuân thủ và số thuế phải nộp, cho rằng những công ty đã tốn nhiều chi phí cho nghiên cứu thuế và kế hoạch, báo cáo liên quan đến thuế thì sẽ giảm số thuế phải nộp Mặc dù sự phức tạp trong luật thuế tăng chi phí tuân thủ, nhưng nó có thể cung cấp cơ hội tránh thuế và trốn thuế Bộ máy quản lý thuế với chi phí tuân thủ cao phát sinh sự phức tạp và không
rõ ràng có thể ít bị phản đối nếu điều này có lợi từ việc tự do làm theo ý mình trong chi phí kế hoạch thuế và tuân thủ Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì thật khó
để xác định cho dù chi phí liên quan đến phức tạp - gây ra sự tránh thuế có thể là trong bản chất của chi phí bắt buộc và chi phí tự nguyện
Thành phần chi phí tuân thủ thuế thu nhập cá nhân khi nghiên cứu
Tùy theo mục đích nghiên cứu thành phần chi phí tuân thủ thuế sẽ khác nhau, tuy nhiên về cơ bản dựa trên 3 thành phần chủ yếu của Sandford (1989)
Ba thành phần chi phí tuân thủ có cách xác định khác nhau Chi phí bằng tiền khó xác định trong việc thu thập thông tin, nhưng so với các loại chi phí khác thì tương đối dễ dàng đo lường hơn do dữ liệu thu thập được có sẵn là giá trị bằng tiền Chi phí thời gian khó xác định hơn chi phí bằng tiền, vì ngoài việc thu thập chính xác thông tin về thời gian tuân thủ của người nộp thuế thì phải chuyển giá trị thời gian thành giá trị bằng tiền cụ thể Chi phí tâm lý khó xác định nhất vì chi phí này không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào sự phức tạp của hệ thống quản lý thuế mà còn phụ thuộc vào kiến thức về luật thuế của người nộp thuế và cách cư xử của người nộp thuế với cơ quan thuế Thành phần chi phí tuân thủ phát sinh trong hoạt động tuân thủ được đề cập trong một số nghiên cứu sau:
Sandford (1973) chi phí tuân thủ được phân thành 3 loại: chi phí bằng tiền, như thanh toán tư vấn thuế, cá nhân, chi phí ngẫu nhiên (điện thoại, chi phí đi lại)
Trang 25và chi phí tài chính để hiểu được kiến thức thuế, ví dụ như mua sách; chi phí thời gian đạt được kiến thức thuế, lưu giữ chứng từ và điền tờ khai thuế; chi phí tâm lý như sự lo lắng và bực mình
Chattopadhyay và Arindam Das-Gupta (2002) nghiên cứu tất cả chi phí sinh ra bởi hệ thống thuế tác động lên người nộp thuế, bên thứ ba trừ chi phí phát sinh từ sự bóp méo kinh tế và sự xâm phạm đến tính công bằng bao gồm chi phí tuân thủ và không tuân thủ, cụ thể thành phần chi phí tuân thủ thuế là chi phí thời gian của người nộp thuế trong kế hoạch thuế, chi phí bằng tiền (bao gồm chi phí trả tư vấn thuế) trong kế hoạch thuế và chi phí nhân viên, chi phí hối lộ, chi phí tâm lý do nhân viên thuế gây phiền hà, chi phí tâm lý không rõ ràng, phức tạp, không chắc chắn của luật thuế, những lợi ích từ yêu cầu tuân thủ thuế
Joel Slerod và Nikki Sorum (1984) khảo sát chi phí tuân thủ điền tờ khai quyết toán thuế của bang và liên bang tại Mỹ năm 1982 Về cơ bản chi phí thời gian bao gồm: tìm hiểu luật thuế (có thể đọc tạp chí hoặc bài báo, sách hướng dẫn thuế hoặc tham gia hội nghị), lưu giữ hóa đơn hoặc tài liệu liên quan đến thu nhập người nộp thuế, tra cứu biểu thuế phục vụ khấu trừ và xác định nghĩa vụ thuế, chi phí khác liên quan thực sự đến chuẩn bị tờ khai thuế, chi phí cung cấp thông tin cho tư vấn thuế Chi phí bằng tiền bao gồm chi phí trả cho các tổ chức hoặc cá nhân đã thực hiện khai thuế hộ (kế toán viên hoặc công ty kế toán, người chuẩn bị tờ khai thuế hoặc các công ty khai thuế hộ ), chi phí đi lại, điện thoại, bưu điện hoặc giấy tờ tài liệu liên quan Chi phí tâm lý NNT như thái độ khi chuẩn bị và điền tờ khai quyết toán thuế TNCN v v
Idawati Ibrahim và Jeff Pope (2011) khảo sát chi phí tuân thủ bằng tiền và thời gian điền tờ khai thuế TNCN tại Malaysia bằng hình thức điện tử và bằng giấy Chi phí thời gian liên quan đến hoạt động tuân thủ: tìm hiểu luật thuế, thu thập và lưu giữ chứng từ, tra cứu bảng biểu và ghi chú giải thích, yêu cầu tư vấn và sự giúp đỡ, hoàn thành tờ khai thuế, đăng ký tờ khai thuế, nộp thuế và kế hoạch thuế để giảm nghĩa vụ thuế Chi phí tiền bao gồm: chi phí trả chuyên gia thuế, kế toán và các chuyên gia liên quan đến tờ khai thuế thu nhập hàng năm; chi phí ngẫu nhiên khác phân loại liên quan đến công nghệ thông tin hoặc không có
Trang 26Noor Sharoja Sapiei và Mazni Abdullah (2008) khảo sát chi phí tuân thủ của cá nhân với mục đích xác định loại chi phí tuân thủ mà người nộp thuế gánh chịu và sử dụng đại lý thuế trong điền tờ khai thuế, dựa vào tỷ lệ phản hồi tác giả xác định các thành phần chi phí tuân thủ thời gian: lưu giữ chứng từ cho mục đích thuế, hiểu hệ thống tờ khai thuế TNCN và tất cả luật, quy định, kế hoạch thuế và nghiên cứu tài liệu thuế, hoàn thành tờ khai thuế, nộp tờ khai thuế và nộp thuế, thời gian liên quan đến hoạt động khiếu nại, điều tra, chống án, thời gian dành cho hoạt động kiểm tra thanh tra thuế, tham gia hội nghị; chi phí bằng tiền bao gồm: mua sách hoặc tài liệu liên quan đến thuế, đi lại, bưu điện, văn phòng phẩm, photocopy, thuê tư vấn thuế, điện thoại và chi phí internet, tham dự hội nghị
+ Đối với ở Việt Nam:
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố vào tháng 6 năm 2014, thì thời gian việc kê khai nộp thuế của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam trong một năm là 872 giờ chiếm 109 ngày làm việc, Con số này cao gấp 4 lần mức trung bình của các nước châu Á - Thái Bình Dương và cao hơn Indonesia (259 giờ), Thái Lan (264 giờ), Phillipines (193 giờ), Malaysia (133 giờ)
và Singapore (82 giờ) Tình trạng chậm trễ này đã ảnh hưởng lớn tới hoạt động của doanh nghiệp và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việc làm trên đã ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đây là điều mà từ Chính phủ đến Tổng cục Thuế đặc biệt quan tâm và chỉ đạo thực hiện quyết liệt, theo Nghị quyết số19/NQ-CP ngày 18/3/2014 của Chính phủ phải phấn đấu hoàn thành thủ tục về thuế nhằm đạt mức trung bình của nhóm ASEAN-6 cơ quan thuế phấn đấu giảm xuống 121,5 giờ chiếm 15,2 ngày làm việc, đây là một thách thức lớn đối với ngành thuế (Nguồn: Báo VietNam net, ngày 17/01/2015)
Tóm tắt chương 1: Cơ sở khung lý thuyết về tuân thủ thuế, chi phí tuân thủ
thuế, và ảnh hưởng của chi phí tuân thủ thuế đối với việc tuân thủ của người nộp thuế Đây là cơ sở cho nghiên cứu chi phí tuân thủ mà luận văn sẽ đề cập trong chương tiếp theo
Trang 27Chương 2: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ CHẤP HÀNH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
2.1 Sơ lược chính sách thuế thu nhập cá nhân
Hệ thống chính sách thuế được cải cách toàn diện từ năm 1990 Trong đó, tính đến thời điểm năm 2009, chính sách điều tiết về thuế đối với cá nhân có thu nhập được điều chỉnh bởi các luật và pháp lệnh thuế khác nhau; Đối với cá nhân có thu nhập trong lĩnh vực làm công ăn lương chịu sự điều chỉnh bởi pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được tiếp tục hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ (thị trường tài chính tiền tệ, thị trường lao động, thị trường bất động sản) tạo điều kiện cho các cá nhân có thêm nhiều nguồn thu nhập khác nhau ngoài nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công (đầu tư vào sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đầu tư tài chính, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán.) Đồng thời, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, không chỉ có người Việt Nam mà người nước ngoài đến làm ăn sinh sống, có thu nhập tại Việt Nam cũng ngày càng gia tăng Trong bối cảnh đó, ba loại thuế nêu trên đánh vào thu nhập của
cá nhân là không còn phù hợp nữa, qua một số hạn chế chủ yếu như sau:
+ Chưa đảm bảo sự công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ thuế Cũng là thu nhập của cá nhân nhưng thu nhập từ kinh doanh thì nộp thuế 25% trên tổng thu nhập; còn thu nhập từ tiền công, tiền lương trên mức 5 triệu đồng/tháng mới nộp thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần từ 5% đến 35%;
+ Chưa có chính sách thuế điều tiết thống nhất thu nhập cá nhân trong một văn bản pháp luật như thông lệ quốc tế
Với mục tiêu đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân
cư, góp phần hạn chế khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, đảm bảo động viên một cách hợp lý thu nhập dân cư, đảm bảo huy động nguồn lực
để Nhà nước giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, khuyến khích mọi cá nhân ra sức lao động, sản xuất kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng
Trang 28(1) Đối tƣợng nộp thuế:
Luật thuế thu nhập cá nhân không phân biệt người Việt Nam hay người nước ngoài mà phân biệt theo đối tượng cư trú hay không cư trú và định nghĩa rõ hơn đối tượng cư trú Trước đây, Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân chỉ phân biệt cư trú và không cư trú đối với người nước ngoài; đối tượng cư trú chỉ là cá nhân có mặt ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam Luật thuế thu nhập cá nhân đã bổ sung thêm một điều kiện nữa được coi là cư trú ở Việt Nam, đó là "cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở lại Việt Nam theo hợp
đồng thuê có thời hạn"
(2) Thu nhập chịu thuế:
Thu nhập chịu thuế có sự thay đổi về cách phân loại, mở rộng và bổ sung thêm khoản thu nhập chịu thuế
- Về cách phân loại thu nhập chịu thuế: Với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với
người có thu nhập cao, thu nhập được phân chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên Luật thuế thu nhập cá nhân phân loại thu nhập chịu thuế theo nguồn phát sinh thu nhập, bao gồm 10 loại thu nhập: thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng; thu nhập
từ bản quyền; thu nhập từ thừa kế, quà tặng, thu nhập từ chuyển nhượng quyền thương mại
- Mở rộng diện điều tiết trên cơ sở bổ sung một số khoản thu nhập chịu thuế: Luật
thuế TNCN đã bổ sung thêm một số khoản thu nhập chịu thuế sau: đưa thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, thu nhập từ lãi tiền gửi tiết kiệm hiện đang tạm thời chưa thu vào diện chịu thuế, đưa thu nhập từ kinh doanh trước đây được điều chỉnh bởi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất
Ngoài ra, Trên cơ sở kế thừa các khoản thu nhập không chịu thuế của Pháp
lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế thu nhập cá nhân đã thay
đổi, gọi đúng bản chất là thu nhập được miễn thuế và bổ sung một số khoản thu nhập
Trang 29được miễn thuế khác Cụ thể là bổ sung các khoản thu nhập sau vào diện miễn thuế: thu nhập từ tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn lương làm việc ban ngày, làm việc trong giờ; lương hưu; thu nhập từ viện trợ, từ thiện với điều kiện các quỹ từ thiện này phải được Nhà nước cho phép thành lập hoặc công nhận hoạt động vì mục đích nhân đạo không nhằm mục đích thu lợi nhuận; thu nhập từ lãi trái phiếu chính phủ
(3) Áp dụng giảm trừ gia cảnh thay cho mức khởi điểm chịu thuế
Thay việc áp dụng mức khởi điểm chịu thuế (đối với người Việt Nam là 5.000.000đ và đến tháng 7 năm 2013 mức giảm trừ cho cá nhân là 9.000.000đ) bằng quy định về các khoản giảm trừ và mở rộng áp dụng đối với cá nhân có thu nhập từ kinh doanh
+ Giảm trừ gia cảnh cho cá nhân nộp thuế: Giảm trừ gia cảnh là khoản tiền
được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là các cá nhân cư trú Theo quy định, mức giảm trừ gia cảnh bao gồm 2 phần, phần đối với người nộp thuế và phần đối với những người phụ thuộc mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật Cụ thể: mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng; và mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng Từ tháng 7 năm 2013 đến nay mức giảm trừ cho đối tượng nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng và mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế
+ Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học, khoản đóng góp vào các tổ chức, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, người già không nơi nương tựa: Khoản
đóng góp từ thiện nhân đạo được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế nhưng chỉ áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh; không áp dụng đối với cá khoản thu nhập khác Đây là điểm thể hiện tính nhân văn của Luật
Trang 30thuế thu nhập cá nhân
(4) Thuế suất: điều chỉnh thuế suất theo hướng giảm thuế suất cao nhất, thấp nhất, và tăng bậc thuế suất
Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập thường xuyên chịu thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần với bốn mức thuế suất, thấp nhất là 10% và cao nhất là 40% Đối với thuế thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công, Luật thuế thu nhập cá nhân vẫn áp dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần nhưng mức thuế suất thấp nhất giảm xuống còn 5% và mức thuế suất cao nhất giảm xuống còn 35% với số lượng bậc thuế nâng lên thành bảy bậc và áp dụng chung cho cả người Việt Nam và người nước ngoài Đối với các khoản thu nhập còn lại thì áp dụng biểu thuế lũy tiến toàn phần
Tóm lại, với Luật thuế thu nhập cá nhân ra đời, tất cả cá nhân có thu nhập được điều chỉnh trong 3 sắc thuế trước đây được điều chỉnh thống nhất bởi 1 sắc thuế thu nhập cá nhân Sự thống nhất này mang lại những thuận lợi nhất định cho công tác quản lý thuế nhưng đi kèm với nó là hàng loạt các vấn đề phức tạp trong công tác quản lý thuế, như kiểm soát thu nhập của người nộp thuế trong khi đối tượng nộp thuế tăng cao, thu nhập cũng phức tạp, đa dạng hơn Do đó, công tác quản lý thuế cũng có những thay đổi nhất định để phù hợp hơn so với hiện tại Còn đối với người nộp thuế, trong cơ chế tự khai tự nộp thì đòi hỏi người nộp thuế phải nắm rõ chính sách thuể để hoàn thành đúng, chính xác về tính thuế, khai thuế, nộp thuế đối với từng khoản thu nhập phát sinh
2.2 Hệ thống quản lý thu thuế thu nhập cá nhân được áp dụng tại Cục thuế tỉnh Bến Tre
Theo quy định hiện hành, tổ chức quản lý thu thuế thu nhập cá nhân bao gồm
hệ thống thu trực tiếp của cơ quan thuế, hệ thống thu gián tiếp thông qua các tổ chức
ủy nhiệm thu và các tổ chức chi trả, thể hiện qua Sơ đồ 2.1
Trang 31Hệ thống thu trực tiếp của Cơ quan thuế như sau:
Cơ quan thuế ở cấp Cục thuế tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm quản lý kiểm tra và thu thuế của các cá nhân làm việc trong các các đơn vị không thuộc Chi cục thuế quản
lý
Các Chi cục thuế chịu trách nhiệm thu thuế đối với đối tượng nộp thuế là các cá nhân công tác tại các doanh nghiệp do đơn vị mình quản lý, các cá nhân có thu nhập
Trang 32từ chuyển nhượng bất động sản, thu nhập từ kinh doanh, cá nhân hành nghề tự do
Hệ thống thu gián tiếp thông qua các tổ chức ủy nhiệm thu và các tổ chức chi trả:
Với chức năng quản lý của mình, Sở Thương Mại Bến Tre có điều kiện nắm bắt được số lượng lao động, những hoạt động có thu nhập của các cá nhân làm việc tại Văn phòng đại diện, số lượng Văn phòng đại diện được cấp phép, đang hoạt động, đóng cửa Do đó, Sở Thương Mại Bến Tre được ủy nhiệm thu thuế đối với các
cá nhân làm việc tại Văn phòng đại diện, dưới sự giám sát của Cục Thuế tỉnh Bến Tre
Quản lý thu thông qua tổ chức chi trả: chủ yếu là các doanh nghiệp, các đơn vị
có thuê mướn lao động và chi trả tiền lương, tiền công như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, các trường học, bệnh viện hoặc các tổ chức chi trả thu nhập không thường xuyên như: các hình thức trúng thưởng, thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại, từ đầu tư vốn, từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán
Với hệ thống quản lý thu như vừa nêu trên, cơ chế quản lý thu nộp tiền thuế của người nộp thuế cũng được thực hiện thông qua hai phương pháp: khấu trừ tại nguồn, kê khai trực tiếp
Đối với phương pháp khấu trừ tại nguồn:
Đơn vị chi trả thu nhập thực hiện tính trừ số thuế phải nộp vào thu nhập của đối tượng nộp thuế trước khi trả thu nhập (theo biểu thuế lũy tiến) Phương pháp này có ưu điểm là đảm bảo thu được thuế kịp thời, giảm bớt chi phí quản lý thuế cho
cả cơ quan thuế và người nộp thuế
Ngoài phương pháp khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến, thuế TNCN còn quy định khấu trừ đối với các khoản chi trả cho các cá nhân vãng lai như: chi trả tiền hoa hồng đại lý bán hàng hóa; tiền lương, tiền công, tiền dịch vụ khác, tiền chi khác cho cá nhân thực hiện các dịch vụ có tổng mức trả thu nhập từ 1 triệu đồng/lần trở lên thì thực hiện tạm khấu trừ 10% (cá nhân đã có mã số thuế) và 20% (cá nhân không có
mã số thuế) Cuối năm cá nhân có thu nhập nhiều nơi sẽ tổng hợp toàn bộ thu nhập
Trang 33trong năm để thực hiện kê khai quyết toán với Cơ quan thuế nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc nộp thừa Qua phương pháp này nhà nước thực hiện chính sách điều tiết bình đẳng giữa những người có thu nhập chịu thuế tại một nơi luôn chấp hành tốt chính sách thu nhập cá nhân với những người có thu nhập nhiều nơi nhưng không tự giác kê khai thuế
Phương pháp kê khai trực tiếp:
Cá nhân kê khai trực tiếp phải tự tính thuế, khai thuế, nộp thuế vào ngân sách
và thực hiện lưu giữ thu nhập chứng từ, tài liệu liên quan đến nghĩa vụ thuế theo quy định
Kê khai trực tiếp trong những trường hợp cụ thể sau:
+ Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ tổ chức, cá nhân ở nước ngoài; hoặc cá nhân là người Việt Nam có thu nhập từ tiền lương, tiền công do các tổ chức quốc tế chi trả
+ Trường hợp cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán: trong năm công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại hoặc tổ chức phát hành chứng khoán chịu trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN với thuế suất 0,1% Cuối năm, các cá nhân nào
đã đăng ký với cơ quan thuế nộp thuế TNCN theo biểu thuế toàn phần với thuế suất 20% tính trên thu nhập (áp dụng đối với cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ) thì phải quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế trong trường hợp
Số thuế phải nộp tính theo thuế suất 20% lớn hơn số thuế đã tạm khấu trừ theo thuế suất 0,1% trong năm
Có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế vào năm sau
+ Trường hợp cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán thực hiện kê khai trực tiếp với cơ quan thuế dựa theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế
+ Đối với cá nhân có thu nhập nhiều nơi, cuối năm phải tổng hợp lại thu nhập của tất cả các nơi để tính toán lại và thực hiện quyết toán thuế trực tiếp với quan thuế trong trường hợp phải quyết toán theo quy định
Trang 34Dựa trên hệ thống quản lý thu thuế và cơ chế quản lý thu nộp tiền thuế như trên, theo quy định hiện hành (Thông tư số 28/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 28/02/2011) kỳ kê khai thuế TNCN người nộp thuế như sau:
(1) Đối với tổ chức chi trả: thực hiện kê khai thuế hàng tháng và quyết toán thuế năm đối với các khoản thu nhập sau:
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công
- Thu nhập từ đầu tư vốn
- Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán
- Thu nhập từ các hình thức trúng thưởng
- Thu nhập từ bản quyền
- Thu nhập từ nhượng quyền thương mại
Trường hợp tháng đầu tiên trong năm phát sinh khấu trừ thuế theo từng loại tờ khai mà có số thuế khấu trừ từ 05 triệu đồng trở lên thì nộp tờ khai thuế theo tháng, nếu có số thuế khấu trừ nhỏ hơn 05 triệu đồng thì nộp tờ khai thuế theo quý tính cho
cả năm
(2) Đối với cá nhân kê khai trực tiếp: tùy theo từng loại thu nhập
- Thu nhập từ tiền lương tiền công: thực hiện kê khai hàng tháng, quyết toán thuế năm Đặc biệt, kê khai thuế hàng tháng, nếu người nộp thuế có thu nhập ổn định, đều đặn hàng tháng thì kê khai một lần, các tháng sau tự nộp thuế theo số đã kê khai (theo thông tư số 20/2010/TT-BTC ngày 05/02/2010) Cuối năm, các cá nhân rơi vào các trường hợp quyết toán thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công thực hiện quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế
- Thu nhập từ kinh doanh: thưc hiện kê khai theo quý, quyết toán thuế theo năm (trừ hộ khoán chỉ kê khai một lần trong năm)
- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng vốn, thừa kế quà tặng: kê khai theo từng lần phát sinh, cuối năm không phải quyết toán thuế (trừ trường hợp chuyển nhượng chứng khoán có đăng ký nộp thuế
TNCN theo thuế suất 20%)
Trang 35Bảng 2.2: Bảng thống kê kỳ kê khai thuế
Cá nhân kê khai trực tiếp Tổ chức chi trả
1
Thu nhập từ tiền lương tiền công Kê khai hàng tháng,
quyết toán năm
Kê khai hàng tháng, quý, quyết toán thuế
năm
2 Thu nhập từ kinh doanh Kê khai hàng quý,
quyết toán năm
quyết toán năm
5 Thu nhập từ thừa kế quà tặng Từng lần phát sinh Không
6
Thu nhập từ đầu tư vốn, bản
quyền, nhượng quyền thương
mại, trúng thưởng
Không
Từng lần phát sinh, quyết toán năm
2.3 Thực trạng quản lý thuế TNCN
Từ khi áp dụng Luật thuế TNCN, quản lý thuế TNCN đã đạt được một số kết quả nhất định, thể hiện qua nội dung cấp mã số thuế, kiểm tra thuế TNCN, công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, thu nợ và cưỡng chế thuế, cụ thể như sau:
2.3.1 Kết quả đạt đƣợc
2.3.1.1 Về đăng ký Mã số thuế
Thực hiện cấp mã số thuế TNCN là việc đầu tiên Cơ quan thuế phải làm để quản lý được thu nhập của các cá nhân Sau năm năm triển khai thực hiện Luật thuế TNCN, việc đăng ký mã số thuế cho các đối tượng nộp thuế tăng lên một cách đáng
kể so với Pháp lệnh cũ Tính đến thời điểm năm 2013, Cục Thuế tỉnh Bến Tre đã cấp được 50.703 MST, từ 2009 đến 2013 tổng số lượng mã số thuế được cấp 19.340 mã số
thuế
Trang 36Đồ thị 2.3: Tổng số lượng Mã số thuế trước và sau khi áp dụng Luật Thuế TNCN
0 5000 10000 15000 20000 25000 30000 35000
Nguồn: Hệ thống cấp Mã số thuế tại Cục Thuế tỉnh Bến Tre
Kết quả đạt được như trên là do ngành thuế đã tích cực trong việc đơn giản hóa thủ tục đăng ký thuế, hiện đại hóa công tác đăng ký mã số thuế Đối tượng phải đăng thuế, hồ sơ đăng ký thuế, nơi nộp hồ sơ đăng ký thuế được quy định tại Thông tư
số 84/2008/TT-BTC ngày 30/09/2008, thông tư số 85/2007/TT-BTC ngày 18/07/2007 Theo đó, để thuận tiện hơn trong công tác cấp mã số thuế Tổng cục thuế có công văn hướng dẫn cá nhân thuộc diện khấu trừ thuế thì nộp tờ khai đăng
ký thuế tại cơ quan chi trả thu nhập, cơ quan chi trả sẽ tổng hợp tờ khai đăng ký thuế của từng cá nhân để nộp cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý thuế
Để tạo điều kiện thuận lợi nhất trong việc cấp mã số thuế cho người làm công ăn lương, ngành thuế cung cấp phần mềm miễn phí hỗ trợ nhập thông tin đăng ký thuế,
tổ chức chi trả thu nhập chỉ việc thực hiện nhập tờ khai đăng ký thuế vào ứng dụng và
Trang 37kết xuất file dữ liệu tải lên website hoặc qua đĩa CDROM, USB gửi cho cơ quan thuế, sau đó in bảng kê đăng ký thuế từ dữ liệu đã được nhập vào ứng dụng, đóng dấu và ký xác nhận gửi cơ quan thuế qua đường bưu điện, hồ sơ đăng ký thuế của người lao động được lưu đại cơ quan chỉ trả Căn cứ vào dữ liệu nhận được, cơ quan thuế sẽ cấp mã số thuế tự động và gửi mã số thuế cho đơn vị mà không cần đơn vị hiện diện tại cơ quan thuế Việc này vừa tạo thuận lợi cho đơn vị trả thu nhập không phải chờ đợi nộp hồ sơ, vừa giảm thiểu sự quá tải công việc cho cơ quan thuế, vừa giảm thiểu phiền hà, tiêu cực Kết quả tính đến thời điểm 2013, Cục thuế tỉnh Bến Tre đã cấp được 50.703 mã số thuế cá nhân
2.3.1.2 Về kiểm tra thuế TNCN
Kết quả kiểm tra thuế TNCN là tiêu chí đánh giá sự tuân thủ về báo cáo thông tin đầy đủ và chính xác của người nộp thuế Tại Cục Thuế tỉnh Bến Tre, Phòng TNCN là bộ phận chuyên thực hiện kiểm tra thuế TNCN đối với các cá nhân
kê khai trực tiếp với cơ quan thuế Công tác kiểm tra được thực hiện thông qua việc kiểm tra trực tiếp sổ sách, hóa đơn, chứng từ, hợp đồng lao động, số ngày cư trú, trao đổi thông tin trong ngành, thu thập thông tin tại các tổ chức liên quan Trong thời gian qua, số thuế tăng thu qua công tác kiểm tra khá lớn và số lượng các đơn vị được kiểm tra cũng tăng qua các năm (xem Bảng 2.5)
Bảng 2.5 Tình hình kiểm tra quyết toán thuế TNCN
Số lượng
Tỷ lệ
% với năm trước
Số lượng
Tỷ lệ
% với năm trước
Số lượng
Tỷ lệ
% với năm trước
Số lượng
Tỷ lệ
% với năm trước
Trang 38Nhìn chung, toàn tỉnh Bến Tre từ năm 2009 đến năm 2013 số đơn vị đã được kiểm tra cụ thể như sau Năm 2009 có 303 đơn vị nộp thuế được kiểm tra; năm 2010, có
340 đơn vị nộp thuế được kiểm tra chiếm tỷ lệ 112% so cùng kỳ năm trước Tương tự năm 2011, có 388 đơn vị nộp thuế được kiểm tra chiếm tỷ lệ 114% so cùng kỳ năm trước, năm 2012 có 650 đơn vị được kiểm tra chiếm tỷ lệ 168% so cùng kỳ năm trước,
và năm 2013 có 862 đơn vị được kiểm tra chiếm tỷ lệ 133% so cùng kỳ năm trước, số đơn vị được kiểm tra mỗi năm đều tăng dần
Qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện một số trường hợp trốn tránh thuế thu nhập phổ biến như sau:
- Cá nhân có thu nhập nhiều nơi nhưng chỉ kê khai thu nhập tại một nơi
- Tổ chức chi trả thu nhập không khấu trừ tại nguồn đúng quy định như : các trường đại học, cao đẳng không khấu trừ thuế đối với các giáo viên thỉnh giảng; các bệnh viện thỏa thuận với bác sĩ không khấu trừ nhằm giữ bác sĩ giỏi, chuyên môn cao; công ty tổ chức biểu diễn nghệ thuật không khấu trừ thuế do e ngại các nghệ sĩ không đến diễn nữa
2.3.1.3 Về Công tác tuyên tuyền hỗ trợ người nộp thuế
Cơ quan thuế cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho người nộp thuế đã tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế dễ dàng nắm được các quy định của luật thuế và những thay đổi về chính sách thuế, thực hiện nghĩa vụ với nhà nước một cách nhanh chóng hoàn thành được mục tiêu đặt ra về thu ngân sách Kể từ khi có Luật Quản lý thuế, áp dụng cơ chế tự tính, tự kê khai, tự nộp thuế thì hoạt động hỗ trợ cho người nộp thuế càng trở nên quan trọng, các dịch vụ hỗ trợ cho người nộp thuế rất phong phú, đa dạng Nó hình thành trước, trong và sau khi người nộp thuế phát sinh nghĩa vụ thuế với nhà nước
Nội dung dịch vụ hỗ trợ cho người nộp thuế gồm có:
- Các dịch vụ tuyên truyền, phổ biến chính sách, hướng dẫn cho phép người nộp thuế tiếp cận các văn bản pháp quy, hướng dẫn biểu mẫu cần thiết, hướng dẫn
kê khai nộp thuế
- Giải đáp các than phiền, thắc mắc của người nộp thuế
Trang 39- Cung cấp thông tin giúp người nộp thuế có thể thực hiện nghĩa vụ thuế một cách thuận tiện, nhanh chóng, tư vấn cung cấp thông tin có tính chuyên môn cao từ các chuyên gia trong lĩnh vực thuế cho người nộp thuế
Các phương tiện hỗ trợ người nộp thuế gồm:
- Tư vấn trực tiếp, hỗ trợ trả lời trực tiếp tại cơ quan Thuế
- Tư vấn qua điện thoại, trả lời trực tiếp qua điện thoại
- Tư vấn bằng văn bản Cung cấp tài liệu ấn phẩm hướng dẫn, cấp phát phần mềm ứng dụng, cấp miễn phí các ấn phẩm tuyên truyền về chính sách thuế Các tài liệu hướng dẫn tính thuế, kê khai thuế, nộp thuế TNCN
- Tổ chức đối thoại với người nộp thuế
- Duy trì và cập nhật thường xuyên, đầy đủ, kịp thời văn bản pháp quy, văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế lên Website ngành Thuế
- Tuyên truyền hỗ trợ thông qua hệ thống thông tin đại chúng như báo chí, truyền thanh, truyền hình, xây dựng pano, áp phích tuyên tuyền; Tuyên dương kịp thời các tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng trình
tự
Công tác quản lý thu nợ thuế là một hoạt động quan trọng của ngành thuế vì vậy được tin học hóa ở mức độ cao đảm bảo theo dõi được số thuế nợ, tiền phạt chậm nộp của người nộp thuế cùng các biện pháp khác mà cơ quan thuế đã áp dụng để đôn đốc thu nợ thuế Phần mềm Quản lý nợ đã được xây dựng và áp dụng phục vụ công việc như phân công cán bộ theo dõi thu nợ, phân loại nợ, ghi nhận các biện pháp thu nợ, thông báo nợ thuế, tính phạt chậm nộp, ban hành quyết định phạt v v
2.3.1.4 Xử lý hoàn thuế thu nhập cá nhân
Hoàn thuế thực chất là trả cho người nộp thuế phần tiền thuế mà họ đã nộp vào ngân sách nhà nước Vì vậy, xử lý hoàn thuế theo hai hướng Thứ nhất, đảm bảo thời gian xử lý ngắn nhất và thủ tục đơn giản nhất Thứ hai, đảm bảo không có gian lận xảy
ra trong quá trình hoàn thuế Tính từ năm 2010 đến 12/2013, Cục thuế tỉnh Bến Tre
đã hoàn 798 hồ sơ, với số tiền khoảng 10.773,3 triệu đồng (xem Bảng 2.6)
Trang 40Bảng 2.6: Tổng hợp số liệu hoàn thuế TNCN từ năm 2010 đến 2013
ĐVT: Triệu đồng
Số tiền 292,2 2.282,02 2.462,50 5.736,61 10.773,33
Nguồn: Báo cáo tổng kết Phòng thuế Thu nhập cá nhân Cục thuế tỉnh Bến Tre
Để đơn giản các thủ tục hành chính về thuế TNCN, Bộ Tài chính ban hành thông tư 20/2010/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số thủ tục hành chính về thuế TNCN Theo đó, hồ sơ hoàn thuế TNCN chỉ cần : tờ khai quyết toán thuế TNCN và chứng từ khấu trừ thuế, biên lai thu thuế TNCN Trước đây, thông tư số 84/2008/TT-BTC quy định thủ tục hoàn thuế có thêm: văn bản đề nghị hoàn thuế, bản sao chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu Ngoài ra, Bộ tài chính quy định hoàn thuế TNCN thuộc diện hoàn thuế trước kiểm tra sau (thông tư số 28/2011/TT-BTC), thời gian xử lý hồ sơ hoàn thuế trong trường hợp này 15 ngày làm việc Điều này làm giảm thủ tục hành chính rất nhiều cho người lao động, cơ quan thuế và hoàn thuế được thực hiện nhanh chóng, thuận tiện
2.3.1.5 Về tuân thủ của người nộp thuế
Với kết quả đạt được trên cùng với chính sách thuế TNCN và các văn bản hướng dẫn có liên quan đã tác động đến sự tuân thủ của người nộp thuế trong thời gian qua
Thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
a) Tuân thủ nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN
Hồ sơ quyết toán thuế TNCN mà Cục Thuế tiếp nhận phong phú, đa đạng Số lượng hồ sơ tiếp nhận tại Cục Thuế tăng dần qua các năm (xem Bảng 2.7), điều này chứng tỏ ngày càng có nhiều người ý thức tuân thủ nghĩa vụ thuế TNCN