MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Chủ nghĩa MacLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã khẳng định: Hôn nhân là tiền đề của gia đình, gia đình là tế bào của xã hội… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt” 22, tr.135. Cụ thể hoá tư tưởng trên, Điều 64 Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội… Nhà nước bảo hộ HNGĐ”. Với vai trò là cơ sở và nền tảng của sự phát triển xã hội, với vị trí vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng XHCN góp phần giải phóng phụ nữ, thực hiện dân chủ và bình đẳng xã hội vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Việc nghiên cứu các vấn đề HNGĐ luôn được đặt ra như một tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Tính chất đặc thù của các quan hệ HNGĐ là các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời, không có tính đền bù ngang giá. Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau mà trong đó, quan hệ tài sản của vợ chồng là một chế định pháp lý không thể thiếu trong pháp luật HNGĐ. Chế định tài sản của vợ chồng bao gồm các quy định về sở hữu tài sản của vợ chồng; căn cứ xác lập tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản đó; các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng. Các quy định về chế định tài sản của vợ chồng đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển pháp luật HNGĐ, cùng với sự phát triển của xã hôi, chế định này cũng được thừa kế và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn. Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, sự đổi mới tích cực trong đời sống kinh tế xã hội đã làm cho các quan hệ HNGĐ có những thay đổi sâu sắc, đồng thời cũng chịu những tác động tiêu cực. Ngày nay, việc vợ chồng tham gia rộng rãi vào các giao dịch dân sự, kinh tế đã trở thành một tất yếu khách quan, nhằm đảm bảo các nhu cầu về vật chất ngày càng cao của gia đình, làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội. Chính điều này đã cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của gia đình, đồng thời góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, cũng vì thế mà các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng ngày càng phức tạp và gay gắt, trở thành một hiện tượng xã hội dành được sự quan tâm to lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Luật HNGĐ năm 2000 được Quốc hội khoá X thông qua ngày 962000, có hiệu lực ngày 01012001 đã có nhiều quy định mới so với Luật HNGĐ trước đây, trong đó có các quy định về chế định tài sản của vợ chồng, tạo cơ sở pháp lý thực hiện quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng đã cho thấy, ngoài những kết quả mà chế định tài sản của vợ chồng mang lại thì quá trình thực hiện và áp dụng chế định này còn tồn tại khá nhiều bất cập, không phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, các văn bản hướng dẫn được ban hành vẫn còn nhiều lỗ hổng, không theo kịp sự phát triển của nền kinh tế. Kết quả báo cáo hàng năm của ngành Toà án đều cho thấy, các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng luôn là loại việc phức tạp, thường gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn xét xử của TAND các cấp. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do nhiều quy định của Luật HNGĐ còn mang tính khái quát, chưa cụ thể, gây sự không thống nhất trong áp dụng. Hơn nữa, đội ngũ chuyên viên ngành Toà án có chuyên môn, nghiệp vụ còn thiếu. Thực trạng nêu trên cho thấy, việc đi sâu nghiên cứu về “Chế định tài sản của vợ chồng – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” tại Việt Nam là điều cần thiết. Qua đó thấy được thực trạng việc áp dụng chế định tài sản của vợ chồng tại Việt Nam, những tồn tại, bất cập và hướng hoàn thiện pháp luật về chế định tài sản của vợ chồng trong pháp luật HNGĐ Việt Nam hiện hành.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG 5
1.1 Khái quát chung về chế định tài sản của vợ chồng 5
1.1.1 Khái niệm chế định tài sản của vợ chồng .5
1.1.2 Đặc điểm của chế định tài sản của vợ chồng 6
1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định chế định tài sản của vợ chồng 7
1.2 Sơ lược lịch sử phát triển chế định tài sản của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam 8
CHƯƠNG 2: CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT HN&GĐ HIỆN HÀNH 18
2.1 Căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng 18
2.1.1 Căn cứ vào thời kỳ hôn nhân 19
2.1.2 Căn cứ vào nguồn gốc của tài sản 21
2.2 Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng 26
2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung 26
2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản riêng 31
2.3 Chia tài sản của vợ chồng 33
2.3.1 Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 33
2.3.2 Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết 36
2.3.3 Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn 37
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 40
3.1 Thực tiễn áp dụng chế định tài sản của vợ chồng 40
3.2 Giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của chế định tài sản của vợ chồng 47
KẾT LUẬN 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 39 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày
3/10/2001 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP
10 Nghị Quyết số 35/2000/QH10 về việc
thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000
Nghị quyết số 35/2000/QH10
Trang 4MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã khẳng định: Hôn nhân làtiền đề của gia đình, gia đình là tế bào của xã hội… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt” [22, tr.135] Cụ thể
hoá tư tưởng trên, Điều 64 Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 khẳng định:
“Gia đình là tế bào của xã hội… Nhà nước bảo hộ HN&GĐ”.
Với vai trò là cơ sở và nền tảng của sự phát triển xã hội, với vị trí vừa làđộng lực, vừa là mục tiêu của cách mạng XHCN góp phần giải phóng phụ nữ, thựchiện dân chủ và bình đẳng xã hội vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh Việc nghiên cứu các vấn đề HN&GĐ luôn được đặt ranhư một tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Tính chất đặc thù của các quan hệ HN&GĐ là các quan hệ nhân thân vàquan hệ tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời, không có tínhđền bù ngang giá Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụpháp lý giữa họ với nhau mà trong đó, quan hệ tài sản của vợ chồng là một chế địnhpháp lý không thể thiếu trong pháp luật HN&GĐ
Chế định tài sản của vợ chồng bao gồm các quy định về sở hữu tài sản của
vợ chồng; căn cứ xác lập tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản đó; các trường hợp chia tài sản chung của
vợ chồng Các quy định về chế định tài sản của vợ chồng đã xuất hiện từ lâu tronglịch sử phát triển pháp luật HN&GĐ, cùng với sự phát triển của xã hôi, chế địnhnày cũng được thừa kế và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn
Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướngXHCN, sự đổi mới tích cực trong đời sống kinh tế - xã hội đã làm cho các quan hệHN&GĐ có những thay đổi sâu sắc, đồng thời cũng chịu những tác động tiêu cực.Ngày nay, việc vợ chồng tham gia rộng rãi vào các giao dịch dân sự, kinh tế đã trởthành một tất yếu khách quan, nhằm đảm bảo các nhu cầu về vật chất ngày càngcao của gia đình, làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội Chính điều này đã cảithiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của gia đình, đồng thời góp phần pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, cũng vì thế mà các tranh chấp liên
Trang 5quan đến tài sản của vợ chồng ngày càng phức tạp và gay gắt, trở thành một hiệntượng xã hội dành được sự quan tâm to lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Luật HN&GĐ năm 2000 được Quốc hội khoá X thông qua ngày 9/6/2000,
có hiệu lực ngày 01/01/2001 đã có nhiều quy định mới so với Luật HN&GĐ trướcđây, trong đó có các quy định về chế định tài sản của vợ chồng, tạo cơ sở pháp lýthực hiện quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng
đã cho thấy, ngoài những kết quả mà chế định tài sản của vợ chồng mang lại thì quátrình thực hiện và áp dụng chế định này còn tồn tại khá nhiều bất cập, không phùhợp với sự phát triển kinh tế xã hội Đặc biệt với sự phát triển như vũ bão của nềnkinh tế Việt Nam hiện nay, các văn bản hướng dẫn được ban hành vẫn còn nhiều lỗhổng, không theo kịp sự phát triển của nền kinh tế Kết quả báo cáo hàng năm củangành Toà án đều cho thấy, các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng luôn là loại việcphức tạp, thường gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn xét xử của TAND các cấp.Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do nhiều quy định của Luật HN&GĐ cònmang tính khái quát, chưa cụ thể, gây sự không thống nhất trong áp dụng Hơn nữa,đội ngũ chuyên viên ngành Toà án có chuyên môn, nghiệp vụ còn thiếu Thực trạng
nêu trên cho thấy, việc đi sâu nghiên cứu về “Chế định tài sản của vợ chồng – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” tại Việt Nam là điều cần thiết Qua đó thấy
được thực trạng việc áp dụng chế định tài sản của vợ chồng tại Việt Nam, nhữngtồn tại, bất cập và hướng hoàn thiện pháp luật về chế định tài sản của vợ chồngtrong pháp luật HN&GĐ Việt Nam hiện hành
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, các mối quan
hệ HN&GĐ có sự thay đổi, thì cũng có càng nhiều các bài viết về HN&GĐ, đặcbiệt về chế định tài sản của vợ chồng trên các báo, Tạp chí Luật học, Tạp chí Dânchủ, Tạp chí TAND, Tạp chí Nhà nước và pháp luật…Những bài viết này đã nêulên thực trạng cũng như đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế địnhtài sản của vợ chồng Trong các giáo trình giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật học ởnước ta, một số sách tham khảo chủ yếu đưa ra các kiến thức cơ bản nhất, khái quátnhất về chế định tài sản của vợ chồng chứ chưa có sự đi sâu tìm hiểu về chế địnhnày
Trang 6Cùng với sự phát triển của Luật HN&GĐ, ở nước ta đã có một số công trìnhnghiên cứu về chế định tài sản của vợ chồng là các luận văn, luận án cao học luật
như luận án tiến sỹ luật học của Nguyễn Văn Huyên: “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 1986”; luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Hồng Hải:
“Xác định tài sản của vợ chông - một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng” đã đisâu nghiên cứu các khía cạnh của chế định tài sản của vợ chồng Đặc biệt, luận án
tiến sỹ luật học của Nguyễn Văn Cừ về “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ Việt Nam” không những đi sâu nghiên cứu về các khía cạnh của chế định
tài sản của vợ chồng mà còn đưa ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật chophù hợp với tình hình xã hội mới
Tuy nhiên, các quan hệ HN&GĐ là lĩnh vực phức tạp và rất “nhạy cảm”, cóthể thay đổi cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội Chính vì vậy, Chế định tàisản của vợ chồng luôn là một đề tài “nóng” trong giai đoạn hiện nay
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là dựa trên sự phân tích những quy địnhcủa Luật HN&GĐ về chế định tài sản của vợ chồng và thực tiễn áp dụng nhữngquy định này để thấy được thực trạng áp dụng, đưa ra những kết luận và kiến nghịhoàn thiện chế định này, góp phần hoàn thiện pháp luật về HN&GĐ, đưa luậtHN&GĐ thực sự đi vào thực tiễn đời sống của mỗi gia đình - tế bào của xã hội
Khoá luận tập chung nghiên cứu một số nội dung:
- Những vấn đề lý luận liên quan đến tài sản của vợ chồng theo quy định củaLuật HN&GĐ hiện hành;
- Việc áp dụng chế định tài sản của vợ chồng trong thực tiễn xét xử của Toàán;
- Những giải pháp và kiến nghị hoàn thiện chế định tài sản của vợ chồngtrong pháp luật HN&GĐ hiện hành và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụngchế định này
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trang 7Khoá luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của triết học Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về HN&GĐ.Phương pháp nghiên cứu bao gồm:
Mac Phương pháp lịch sử: Được sử dụng để làm rõ chế định tài sản của vợchồng qua các thời kỳ lịch sử ở Việt Nam;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng xuyên suốt để làm sáng tỏcác vấn đề về tài sản của vợ chồng và khái quát những vấn đề cơ bản một cáchngắn gọn, xúc tích;
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng khi so sánh quy định của LuậtHN&GĐ năm 2000 về chế định tài sản của vợ chồng với quy định của LuậtHN&GĐ trong lịch sử về vấn đề này
5. Kết cấu khoá luận
Khoá luận được viết thành 3 chương:
Mở đầu
Chương 1: Khái quát chung về chế định tài sản của vợ chồng
Chương 2: Chế định tài sản của vợ chồng theo pháp luật HN&GĐ hiện hành Chương 3: Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện chế định tài sản của
vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam
Kết luận
Trang 8Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN CỦA
VỢ CHỒNG1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
1.1.1. Khái niệm chế định tài sản của vợ chồng
* Khái niệm tài sản:
Trong khoa học luật dân sự, tài sản là đối tượng của quyền sở hữu, là kháchthể của phần lớn các quan hệ pháp luật dân sự Vì vậy, tài sản luôn chiếm một vị tríquan trọng trong pháp luật các nước trên thế giới Ở mỗi quốc gia khác nhau thìthuật ngữ tài sản lại được hiểu khác nhau Ở Việt Nam, thuật ngữ tài sản có thểđược hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp
- Tài sản theo nghĩa hẹp được hiểu là của cải vật chất dùng vào mục đích sảnxuất hoặc tiêu dùng [27] Theo cách hiểu này thì tài sản chỉ là một bộ phận của thếgiới vật chất - vật cụ thể được con người sử dụng vào mục đích sản xuất hoặc tiêudùng Do đó, nếu đặt trong thực tiễn đa dạng và phong phú các giao lưu dân sự thìcách hiểu này không phù hợp
- Theo nghĩa rộng, tài sản được định nghĩa trên phương diện pháp lý Điều
163 BLDS năm 2005 của nước CHXHCNVN đã quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
Như vậy trên phương diện pháp lý, tài sản đã được định nghĩa một cách đầy
đủ Những tài sản này phải thoả mãn điều kiện là đáp ứng nhu cầu nào đó của conngười, phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và là đốitượng của giao lưu dân sự
* Khái niệm chế định tài sản của vợ chồng:
Trong pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có một khái niệm nào về chế địnhtài sản của vợ chồng Chế định tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luậtnhư là một tất yếu khách quan, nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ, chồng màtrước hết là xuất phát từ tính chất, mục đích của quan hệ hôn nhân Để đảm bảonhững nhu cầu thiết yếu của gia đình, thoả mãn những nhu cầu về vật chất và tinhthần của vợ chồng; để thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ nhau; chăm sóc, nuôi
Trang 9dưỡng, giáo dục con cái… không thể không đề cập đến vấn đề tài sản Chính từ nhucầu này mà pháp luật đã ghi nhận chế định tài sản của vợ chồng Trong HN&GĐ tàisản của vợ chồng được hiểu là vật và những lợi ích vật chất khác thuộc quyền sởhữu của vợ chồng, bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền vàquyền tài sản Kể từ khi hôn nhân được xác lập, vợ, chồng cùng chung sống, cùngnhau gánh vác công việc gia đình, đóng góp tạo nên khối tài sản chung.
Như vậy, chế định tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản của vợ, chồng, xác định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản trên cơ sở bảo đảm lợi ích chung của gia đình, của Nhà nước và xã hội.
Nội dung của chế định tài sản của vợ chồng bao gồm các quy định về căn cứxác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng;các trường hợp chia tài sản của vợ chồng theo luật định
1.1.2 Đặc điểm của chế định tài sản của vợ chồng
Chế định tài sản của vợ chồng thực chất là nhũng quy định của pháp luật vềquyền sở hữu tài sản của vợ chồng Đây là quyền sở hữu tài sản đặc biệt xuất phát
từ tính chất và mục đích đặc biệt của quan hệ hôn nhân Vợ chồng vừa là chủ thểcủa quan hệ HN&GĐ vừa là chủ thể của các quan hệ dân sự khi tham gia các giaodịch dân sự Xuất phát từ sự khác biệt đó mà chế định tài sản của vợ chồng cũng cónhững đặc điểm riêng biệt sau:
Thứ nhất, về chủ thể, các bên của quan hệ sở hữu trong chế định tài sản của
vợ chồng phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp Điều này có nghĩa là các chủ thể củaquan hệ sở hữu này ngoài việc đáp ứng được điều kiện về chủ thể trong quan hệpháp luật dân sự còn đòi hỏi phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy địnhtrong Luật HN&GĐ
Thú hai, chế định tài sản của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, tức
là giữa người nam và người nữ có quan hệ hôn nhân hợp pháp Theo đó, tài sảnchung của vợ chồng chỉ phát sinh khi quan hệ hôn nhân được xác lập và chấm dứtkhi một bên vợ, chồng chết trước hoặc vợ chồng ly hôn Thời kỳ hôn nhân cònđược xác định trong một số trường hợp đặc biệt Đó là trường hợp nam, nữ chungsống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn trước ngày 03/01/1987hoặc sau ngày 03/01/1987 nhưng có đăng ký kết hôn trước ngày 01/01/2001 thì
Trang 10thời kỳ hôn nhân được xác lập kể từ ngày chung sống như vợ chồng Trong trườnghợp này, chế định tài sản của vợ chồng được áp dụng kể từ ngày nam, nữ chungsống với nhau như vợ chồng (Vấn đề này được trình bày rõ hơn tại Chương 2 phần2.1).
Thứ ba, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong chế định tài
sản của vợ chồng cũng mang những đặc thù riêng Đối với tài sản chung của vợchồng thì phải được sử dụng xuất phát từ lợi ích chung của gia đình, có sự thoảthuận của cả hai vợ chồng Còn đối với tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng thìbên có tài sản riêng có quyền sử dụng theo mục đích riêng của mình Tuy nhiên,xuất phát từ tính chất và mục đích của chế định tài sản của vợ chồng mà pháp luật
có quy định một số trường hợp hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của một bên
vợ hoặc chồng (Ví dụ: Khi tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình thì khiđịnh đoạt liên quan đến tài sản đó phải có thoả thuận của cả hai vợ chồng…)
1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định chế định tài sản của vợ chồng
Thứ nhất, chế định tài sản của vợ chồng với ý nghĩa là một chế định trong
pháp luật về HN&GĐ được Nhà nước quy định phù hợp với sự phát triển của kinh
tế xã hội trong từng thời kỳ Nó thể hiện tính giai cấp, do Nhà nước đặt ra nhằmđiều chỉnh các quan hệ HN&GĐ, bảo đảm sự ổn định của xã hội Chế định tài sảncủa vợ chồng thể hiện rõ bản chất của chế độ chính trị - xã hội cụ thể Bằng phápluật, Nhà nước điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ, xây dựng mô hình phù hợp vớithiết chế xã hội
Thứ hai, Chế định tài sản của vợ chồng với ý nghĩa là cơ sở pháp lý để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ chồng về tài sản Với quy định về các loại tài sảntrong quan hệ vợ chồng, khi hôn nhân được thiết lập thì các loại tài sản của vợchồng cũng được pháp luật quy định rõ, đồng thời pháp luật cũng phân định rõ cácquyền và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng đối với các loại tài sản đó Với những tàisản thuộc sở hữư chung của vợ chồng thì cả vợ và chồng đều là chủ sở hữu củakhối tài sản đó, đều có quyền chiếm hữu sử dụng và định đoạt khối tài sản chung
đó Về nguyên tắc thì một bên không thể tự ý định đoạt tài sản chung nếu không có
sự đồng ý của bên kia, đặc biệt đối với các tài sản có giá trị lớn
Thứ ba, Chế định tài sản của vợ chồng với ý nghĩa là cơ sở để bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của người thứ ba có quan hệ giao dịch về tài sản với vợ chồng
Trang 11Khi vợ chồng sử dụng, định đoạt tài sản của mình nhằm bảo đảm đời sống chungcủa gia đình… luôn có liên quan đến quyền lợi của những người khác Khi thamgia giao dịch, người thứ ba cần biết rằng giao dịch mình tham gia được thực hiệnbằng tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của bên tham gia giao dịch Chếđịnh tài sản vợ chồng với những quy định về căn cứ xác định tài sản chung, tài sảnriêng; quyền và nghĩa vụ của vợ chồng về tài sản,… sẽ đảm bảo cho người thứ bakhi tham gia giao dịch có thể bảo vệ được quyền lợi chính đáng của mình.
Thứ tư, Chế định tài sản của vợ chồng với ý nghĩa là cơ sở pháp lý để các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, đó có thể là tranh chấp giữa vợ
và chồng, cũng có thể là tranh chấp giữa vợ chồng với người khác Ví dụ tranhchấp giữa vợ, chồng về tài sản là tài sản chung hay tài sản riêng khi ly hôn Tuỳtừng trường hợp cụ thể, căn cứ vào các quy định trong chế định tài sản của vợchồng mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân chia tài sản đảm bảo quyền lợicủa mỗi bên
1.2 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Cùng với sự phát triển của lịch sử, gia đình Việt Nam luôn được xác định lànền tảng của xã hội Gia đình là tế bào của xã hội, thể hiện tính chất và kết cấu của
xã hội Ngay từ rất sớm, gia đình đã được tổ chức chặt chẽ và những quy định về
nó qua từng giai đoạn phát triển của đất nước mang những nét đặc trưng của lịch sử
và thời đại Nó vừa có những nét chung nhất vừa chứa đựng những nét cụ thể mangbản sắc dân tộc
1.2.1. Chế định tài sản của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
* Chế định tài sản của vợ chồng trong Cổ luật Việt Nam
Trong pháp luật dưới các triều đại phong kiến, các quy định về HN&GĐchiếm một vị trí quan trọng, được thể hiện rõ nét qua hai Bộ luật: Bộ Quốc triềuHình luật ban hành dưới triều Lê trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470 – 1497)
và Bộ Hoàng Việt luật lệ ban hành dưới triền Nguyễn (1812) Tuy nhiên, chế địnhtài sản của vợ chồng không được quy định như một chế định riêng rẽ và cụ thể BộQuốc triều Hình luật không có điều khoản nào đề cập đến vấn đề tài sản của vợ
Trang 12chồng trong thời kỳ hôn nhân, mà chỉ dự liệu một số trường hợp chia tài sản của vợchồng khi một bên vợ, chồng chết trước (Điều 374, 375, 376); còn bộ Hoàng Việtluật lệ chép nguyên văn của Luật nhà Thanh cũng không có một điều khoản nào vềtài sản của vợ chồng Vấn đề này được giải thích xuất phát từ quan niệm truyềnthống của người phương Đông vốn xem gia đình là cái gì thiêng liêng cao quý nặng
về tinh thần hơn vật chất, yếu tố tài sản vì thế không được xem trọng trong cácquan hệ gia đình Mặt khác, theo tư tưởng Nho giáo, tài sản trong gia đình đươngnhiên thuộc về người chồng, nên vấn đề tài sản chung hay riêng của vợ, chồngkhông cần thiết phải đặt ra
Song qua các quy định trong Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ cóthể thấy chế độ tài sản của vợ chồng trong Cổ luật Việt Nam là chế độ cộng đồngpháp định Đây là chế độ tài sản duy nhất được áp dụng cho mọi quan hệ hôn nhân.Tại sao chế độ tài sản ước định (hôn ước) lại không được thừa nhận ở thời kỳ này?Điều này được lý giải là do người vợ trong pháp luật phong kiến được coi là “vônăng lực về mặt pháp lý” nên không có vị trí bình đẳng với người chồng, nênkhông thể thoả thuận với người chồng Hơn nữa, theo truyền thống, hôn nhân là sựphối hợp tuyệt đối về mọi phương diện, là sự tín nhiệm hoàn toàn giữa vợ chồng,
mà mục tiêu là để xây dựng gia đình, sinh con nối dõi tông đường Nếu thoả thuậnhạn chế bằng một khế ước đối với quyền của người chồng thì trái với quan niệmtruyền thống về hôn nhân và còn có thể gây hiểu lầm là người chồng đã khước từmột phần quyền hạn trong một hôn ước để lấy vợ nhà giàu [5, tr.135 ]
Chế độ cộng đồng pháp định được ghi nhận trong Luật cổ là chế độ cộngđồng toàn sản - Mọi tài sản vợ chồng có trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều làtài sản chung của vợ chồng Quốc triều Hình luật và Bộ Hoàng Việt luật lệ đã xácđịnh tài sản của vợ chồng bao gồm ba loại:
- Tần tảo điền sản: Những tài sản mà vợ chồng làm ra trong thời kỳ
hôn nhân;
- Phu tông điền sản: Tài sản của chồng được thừa kế từ gia đình;
- Thê điền sản: Tài sản của vợ được thừa kế từ gia đình
Theo Cổ luật Việt Nam, con là một nhân tố chi phối chặt chẽ đến nội dungtrong quan hệ tài sản giữa vợ, chồng Trong trường hợp vợ chồng có con và concòn sống, thì tất cả tài sản gia đình hợp thành một khối để sử dụng vào việc chăm
Trang 13sóc và nưôi dưỡng các con Sự phân chia tài sản chung của vợ chồng chỉ xảy ra khi
vợ hay chồng chết mà không có con
Về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với khối tài sản chung, về nguyêntắc, Cổ luật Việt Nam quy định tài sản chung do người chồng quản lý, sử dụng vìmục đích gia đình Tuy nhiên, theo pháp luật nhà Lê, người vợ cũng tham gia vàoviệc quản lý, sử dụng tài sản chung nhưng ở mức độ hạn chế (Ví dụ trường hợpmua bán, cầm cố tài sản là “điền sản” thì trong văn tự bắt buộc phải có chữ ký của
cả hai vợ chồng) Còn trong Hoàng Việt luật lệ thì người vợ hoàn toàn vô năng lực
và đặt dưới quyền của chồng, tất cả tài sản trong gia đình bao gồm cả tài sản riêngcủa vợ và của chồng đều hợp thành một khối duy nhất thuộc quyền sử dụng củangười chồng
* Chế định tài sản của vợ chồng trong pháp luật về HN&GĐ thời kỳ Pháp thuộc
Pháp luật về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ này thể hiện chủ yếuqua:
- Bộ Dân luật Giản yếu Nam kỳ năm 1883 (DLGYNK)
- Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1936 (DLBK)
- Bộ Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật năm 1936 (DLTK)
* Chế định tài sản trong DLGYNK không quy định về tài sản, khế ước,nghĩa vụ và chế độ tài sản của vợ chồng, mà chế định này được xác định qua hệthống án lệ Theo đó, người vợ không có tài sản riêng nên không thể có cộng đồngtài sản giữa vợ và chồng Mọi tài sản của gia đình đều thuộc quyền quản lý củangười chồng trong thời kỳ hôn nhân Chồng là người chủ sở hữu duy nhất đối vớimọi tài sản của gia đình, người vợ chỉ có quyền sở hữu riêng đối với những tài sản
là đồ tư trang cá nhân, tài sản do gia đình nhà vợ tặng riêng hoặc thừa kế riêng vàbất động sản ghi tên vợ là chủ sở hữu trong sổ địa bạ
Khi người vợ chết, toàn bộ tài sản trong gia đình đều thuộc quyền sở hữu vàquản lý của người chồng với tư cách là chủ sở hữu toàn bộ đối với tài sản của giađình chứ không phải là hưởng gia tài của người vợ Ngược lại, khi người chồngchết thì người vợ chỉ có quyền hưởng dụng thu lợi trên toàn bộ tài sản gia đìnhtrong khi còn ở goá
Trang 14* Khác với Bộ DLGYNK, DLBK và DLTK quy định tài sản của vợ chồngđược xác định theo nguyên tắc: Nếu hai vợ chồng không lập hôn ước thì hai người
đã theo chế độ cộng đồng toàn sản, gồm tất cả của cải, hoa lợi của chồng cũng nhưcủa vợ (Điều 106 DLBK, Điều 104 DLTK) Như vậy, pháp luật trong giai đoạn này
đã quy định hai hình thức là chế định tài sản theo hôn ước và chế định tài sản phápđịnh cho vợ chồng lựa chọn Việc thừa nhận hôn ước trong giai đoạn này là kết quả
do chịu ảnh hưởng của Bộ Luật Dân sự Pháp (1804) và lần đầu tiên được quy địnhtrong pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, do không phù hợp với tục lệ của người ViệtNam nên hôn ước không được áp dụng phổ biến trong thực tiễn, ngược lại, chế độtài sản pháp định được áp dụng rộng rãi Theo đó, chế độ cộng đồng toàn sản đượcthiết lập và theo quy định tại Điều 107 DLBK và Điều 105 DLTK, tài sản chungđược xác định dựa trên các căn cứ: Tài sản do vợ chồng có được trong thời kỳ hônnhân; tài sản vợ chồng có được do làm việc; lợi tức của toàn bộ tài sản trong giađình, không phân biệt lợi tức từ tài sản riêng hay lợi tức từ tài sản chung Để phânbiệt đâu là tài sản riêng, tài sản chung thì căn cứ vào việc đăng ký hoặc có chứngthư xác nhận nguồn gốc của tài sản đó Đối với các động sản không được đăng ký
và không có chứng thư xác nhận nguồn gốc thì Toà án suy đoán là tài sản chungcủa vợ chồng; nếu vợ hoặc chồng muốn khiếu nại đó là tài sản riêng của mình thìphải chứng minh
Đối với tài sản có trước khi kết hôn, thì trong suốt thời kỳ hôn nhân các tàisản riêng đó thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Những tài sản này thuộc khốitài sản chung chỉ mang tính tạm thời Khi hôn nhân chấm dứt thì các tài sản vợchồng có trước khi kết hôn đã được hợp nhất tạm thời được tách ra để chia theonguyên tắc của ai thì người đó lấy lại, còn các tài sản vợ chồng có được trong thời
kỳ hôn nhân được chia đôi [5, tr.170 - 171]
Ngoài ra, DLBK và DLTK cũng đã có các quy định về nghĩa vụ tài sản tronggia đình
Như vậy, chế định tài sản của vợ chồng trong thời kỳ Pháp thuộc rất bất côngđối với người vợ, đặc biệt ở Nam kỳ khi không thừa nhận chế độ tài sản cộng đồng.Trong DLBK và DLTK quyền của người vợ được đảm bảo tốt hơn Theo đó, vợhoặc chồng đều có thể đại diện cho gia đình để giao dịch và được trích từ khối tàisản của gia đình để chi dùng Tuy nhiên, người chồng có quyền sử dụng các độngsản, thực hiện các giao dịch liên quan đến bất động sản là tài sản chung của vợ
Trang 15chồng mà không cần có sự đồng ý của người vợ, miễn là việc sử dụng đó đem lạilợi ích cho gia đình,… Điều này phản ánh sự bất bình đẳng của người vợ so vớingười chồng về quyền sở hữu trong pháp luật HN&GĐ thời kỳ này.
1.2.2. Chế định tài sản của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
* Chế định tài sản của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ thời kỳ tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1945 – 1954) và dưới chế độ Cộng hoà Nguỵ quyền ở miền Nam Việt Nam (1954 – 1975)
Cách Mạng tháng Tám năm 1945 thành công mở ra một kỷ nguyên mớitrong xã hội Việt Nam, chính quyền cách mạng Dân chủ nhân dân được thiết lập.Hiến pháp 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, đượcban hành đánh dấu bước chuyển mình lớn nhất trong lịch sử dân tộc Lần đầu tiêntrong lịch sử pháp luật nước nhà, quyền bình đẳng nam, nữ được ghi nhận ở đạoluật có hiệu lực pháp lý cao nhất - Hiến pháp Điều 9 Hiến pháp 1946 quy định:
“Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Cụ thể hoá Hiến pháp
1946, sắc lệnh 97/SL ngày 22/05/1950 và sắc lệnh 159/SL ngày 17/11/1950 đã xoá
bỏ bất bình đẳng giữa người vợ, người chồng trong chế độ cũ, đưa địa vị người vợ
từ chỗ không có năng lực hành vi pháp lý dân sự trở thành người có đầy đủ quyền
năng như người chồng Trong các văn bản này có ghi nhận: “Chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình” (Điều 5 - Sắc lệnh số 97/SL); “Người đàn bà khi lấy chồng có toàn năng lực về mặt hộ” (Điều 6 - Sắc lệnh số 97/SL) Trên cơ sở những
quy định này, vợ và chồng có quyền ngang nhau trên mọi phương diện, và trongquan hệ tài sản, vợ chồng là đồng sở hữu chủ đối với tài sản chung giữa họ Vớinhững quy định trên, pháp luật HN&GĐ của Nhà nước ta thời kỳ này đã góp phầnđáng kể vào việc xoá bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến, giải phóng người phụ nữthoát khỏi sự bất bình đẳng trong gia đình cũng như trong quan hệ sở hữu Từ đó,tạo cơ sở xây dựng một chế độ dân chủ, công bằng và hạnh phúc
Ở miền Nam Việt Nam thời kỳ 1954 – 1975, Đế quốc Mỹ thay chân thực dânPháp, thiết lập chế độ Cộng hoà Nguỵ quyền để thực hiện âm mưu chia cắt lâu dàiđất nước ta Chế định HN&GĐ ở miền Nam qua các giai đoạn phát triển được quyđịnh trong ba Đạo luật: Luật gia đình số 1-59 ngày 02/01/1959; Sắc luật số 15/64
Trang 16ngày 23/7/1964 quy định giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng; Bộ Luật Dân sự ngày20/12/1972.
Các văn bản này đều có khuynh hướng dân luật hoá các quan hệ HN&GĐ,trong đó có quan hệ tài sản giữa vợ và chồng Tự do lập hôn ước trở thành nguyêntắc trong Luật và chế độ hôn sản pháp định cũng chỉ đặt ra khi vợ chồng đã từ bỏnguyên tắc này hoặc có thực hiện nhưng vi phạm trật tự công cộng và thuần phong
mỹ tục Khoản 1 Điều 47 Luật gia đình 1959 quy định: “Nếu không có hôn ước đặc biệt, vợ chồng sẽ được đặt dưới chế độ cộng đồng tài sản” Điêu 144 Bộ Dân luật
1972 cũng quy định tương tự: “Luật pháp chỉ quy định chế độ phu phụ tài sản khi
vợ chồng không lập hôn ước”
Bên cạnh các quy định về hôn ước liên quan đến quyền sở hữu giữa vợ,chồng, nhà làm luật còn quy định chặt chẽ về chế độ tài sản pháp định, nhưng mỗivăn bản có quy định chế độ tài sản của vợ chồng với những hình thức khác nhau
Theo Luật gia đình năm 1959 quy định chế độ tài sản pháp định là chế độcộng đồng toàn sản [5, tr.194 - 197], tất cả tài sản vợ chồng có trước và trong thời
kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung của vợ chồng, quyền có tài sản riêng của vợ,chồng không được thừa nhận (khoản 1 Điều 47)
Khác với Luật gia đình 1959, Sắc luật 15/64 và Bộ Dân luật năm 1972 quyđịnh, bên cạnh khối tài sản cộng đồng vợ, chồng có quyền có tài sản riêng [ 5,tr.127, 264] Điều 54, 55 Sắc luật 15/64 và Điều 151, 152 Bộ Dân luật 1972 cũngquy định những tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng Theo đó, chế độ tài sảncủa vợ chồng được quy định trong hai văn bản này là chế độ cộng đồng động sản
và tạo sản Ở chế độ cộng đồng này, chỉ có tất cả động sản và tạo sản mới thuộckhối tài sản chung, còn bất động sản có những ngoại lệ
Ngoài các quy định trên, căn cứ xác định nghĩa vụ tài sản chung giữa vợchồng cũng được nhà làm luật xây dựng trên cơ sở chịu ảnh hưởng của các quyđịnh trong DLBK và DLTK
Về việc quản lý tài sản trong gia đình, Luật gia đình 1959 thừa nhận quyềnbình đẳng giữa vợ, chồng trong quản lý tài sản cộng đồng (Điều 49), song quy địnhnày dần dần tỏ ra không còn phù hợpvới điều kiện kinh tế - xã hội Vì vậy, Sắc luật15/64 và Bộ Dân luật năm 1972 đã trao quyền quản lý tài sản trong gia đình chongười chồng, bao gồm cả tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng Người vợchỉ có quyền quản lý tài sản trong gia đình khi người chồng không có khả năng
Trang 17pháp lý, biệt tích lâu ngày hay bị cản trở vì duyên cớ nào khác Ngoại trừ trườnghợp vợ, chồng có lập hôn ước trước khi kết hôn thì quyền và nghĩa vụ của vợ,chồng trong việc quản lý tài sản được thực hiện theo hôn ước.
Qua những phân tích trên đây, pháp luật HN&GĐ dưới chế độ Sài Gòn cũtrong lĩnh vực quan hệ tài sản của vợ chồng vẫn tiếp tục tinh thần cơ bản của Dânluật thời kỳ Pháp thuộc, kết hợp đạo đức phong kiến với tư tưởng tư sản, thiết lậpchế độ phụ quyền để áp bức mọi tầng lớp nhân dân lao động nói chung, người phụ
nữ nói riêng
* Chế định tài sản của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ ở miền Bắc XHCN giai đoạn 1954 – 1975 và của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976 đến nay.
Sau Hiệp định Giơnever (1954), miền Bắc hoà bình tiến lên xây dựngCNXH, những tàn tích của chế độ HN&GĐ phong kiến vẫn còn ảnh hưởng mạnh
mẽ đến xã hội và đời sống gia đình, hai Sắc lệnh 97/SL ngày 22/05/1950 và Sắclệnh 159/SL ngày 17/11/1950 không còn đáp ứng được tình hình phát triển của của
giai đoạn cách mạng lúc này Do đó, “Việc ban hành một đạo luật mới về HN&GĐ
đã trở thành một đòi hỏi cấp bách của toàn thể xã hội Đó là một tất yếu khách quan thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta” [4].
Trước các yêu cầu khách quan đòi hỏi, Luật HN&GĐ năm 1959 đã được Quốc hộinước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá II thông qua ngày 29/12/1959 và có hiệulực kể từ ngày 13/1/1960 với hai nhiệm vụ cơ bản: Xoá bỏ những tàn tích của chế
độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu; xây dựng chế độ HN&GĐ mới XHCN
Xuất phát từ quy định của Hiến pháp 1959, Luật HN&GD năm 1959 quyđịnh trong quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng không tồn tại chế độ tài sản ước định
mà chỉ tồn tại chế độ tài sản pháp định là chế độ cộng đồng toàn sản, dựa trên
nguyên tắc bình đẳng giữa quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng “vợ và chồng đều
có quyền sở hữu, sử dụng và hưởng thụ ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” (Điều 15) Như vậy, tài sản của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất,
không tồn tại tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng Khối tài sản này bao gồmtài sản vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân kể cả tài sản vợ, chồng đượcthừa kế riêng hoặc được tặng cho riêng Quy định này của pháp luật xuất phát từtình hình xã hội lúc lúc bấy giờ, khi chúng ta đang tiến hành công cuộc cải tạo và
Trang 18xây dựng một trật tự xã hội mới dựa trên nền tảng “Công hữu hoá” toàn bộ xã hội
về tư liệu sản xuât Quy định này đáp ứng yêu cầu của cách mạng, của việc xâydựng một mô hình gia đình mới trong xã hội, trong đó mọi người cùng yêu thương,quý trọng, giúp đỡ nhau tiến bộ, thực hiện tốt chức năng của gia đình trong giaiđoạn cách mạng lúc bấy giờ
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất (1975) “cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới… tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” [24, tr.16] Trong tình hình mới, xã hội
Việt Nam có nhiều chuyển biến khác về căn bản so với thời kỳ Luật HN&GĐ năm
1959 ra đời Vì vậy, Đạo luật này ngày càng tỏ ra không còn phù hợp Với sự pháttriển của nền kinh tế thị trường ở cuối những năm 1980 đã khiến tài sản có riêngcủa vợ hoặc chồng ngày càng nhiều lên Nếu cứ tiếp tục duy trì chế độ cộng đồngtoàn sản sẽ tạo kẽ hở trong pháp luật để các tư tưởng xấu có thời cơ phát triển, ảnhhưởng tới những nhu cầu riêng và sự độc lập cần được tôn trọng của mỗi bên vợchồng, làm xấu đi bản chất tốt đẹp của hôn nhân XHCN là dựa trên tình yêu chânchính Mặt khác, Hiến pháp năm 1980 ban hành đã quy định chặt chẽ về quyềnbình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng (Điều 63, Điều 64), về bảo hộ quyền
sở hữu riêng của công dân (Điều 27) Với điều kiện kinh tế - xã hội và pháp lý nhưtrên, trên tinh thần kế thừa các nguyên tắc dân chủ và tiến bộ của Luật HN&GĐnăm 1959, ngày 29/12/1986 Quốc hội nước CHXHCNVN khoá VII đã thông quaLuật HN&GĐ năm 1986 và có hiệu lực kể từ ngày 3/01/1987
Luật HN&GĐ năm 1986 ghi nhận chế độ tài sản pháp định làm căn cứ duynhất xác định tài sản của vợ chồng, cũng như các quyền và nghĩa vụ có liên quan
Chế định tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 1986 được quy địnhtại các điều 14, 15, 16 và 18 với hình thức là chế độ cộng đồng tạo sản [6, tr.246].Trong đó có quy định rõ những tài sản thuộc khối tài sản chung của vợ, chồng(Điều 14); những tài sản là tài sản riêng của vợ, chồng (Điều 16) Pháp luật ghinhận trường hợp nếu có lý do chính đáng, tài sản riêng của vợ, chồng có thể được
mở rộng thông qua việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 18)
Điểm khác biệt căn bản chế định tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐnăn 1986 với Luật HN&GĐ năm 1959 ở chỗ: Nếu Luật năm 1959 chỉ thừa nhậnmột hình thức sở hữu duy nhất trong quan hệ tài sản vợ chồng là chế định sở hữutài sản chung thì đến luật năm 1986 ngoài chế định sở hữu tài sản chung của vợ
Trang 19chồng (Điều 14) còn có chế định vợ chồng có quyền có tài sản riêng (Điều 16).Ngoài việc quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ, chồng chết trước(Điều 17); khi vợ chồng ly hôn (Điều 42), Luật HN&GĐ năm 1986 còn quy địnhviệc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại Về nguyên tắc chia
tài sản của vợ chồng, Luật HN&GĐ năm 1986 đã dự liệu “Nguyên tắc chia đôi tài sản chung” của vợ chồng trong các trường hợp quy định tại Điều 17, 18, 42 [7,
tr.96] Như vậy, Luật HN&GĐ năm 1986 đã ghi nhận chế độ cộng đồng tạo sản.Quy định này là hoàn toàn phù hợp với thực tế kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuậnlợi cho vợ, chồng có thể chủ động trong việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêngcủa mình, ngăn ngừa các trường hợp kết hôn không lành mạnh, việc kết hôn chỉnhằm vào khối tài sản sẵn có của bên kia [33, tr.70 - 75]
Chế định về tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 1986 được ápdụng đã phát huy hiệu quả trong đời sống xã hội, phù hợp với nguyện vọng củanhân dân, được nhân dân tôn trọng và tuân thủ Song, trong quá trình thi hành luật,
nó cũng đã bộc lộ những khuyết điểm, hạn chế không còn phù hợp cần được nghiêncứu, sửa đổi và bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của xã hội:
- Quy định về căn cứ xác định tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm
1986 còn mang tính nguyên tắc chung, có tính khái quát cao, chưa quy định cụ thể
về hình thức sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng; chưa quy định vấn đề đăng
ký quyền sở hữu đối với tài sản chung; chưa quy định rõ chế độ pháp lý đối với loạitài sản đặc biệt là quyền sử dụng đất; chưa đưa ra nguyên tắc suy đoán về xác địnhtài sản trong trường hợp khi có tranh chấp một bên vợ hoặc chồng có yêu cầu về tàisản riêng nhưng không đủ chứng cứ để chứng minh tài sản đang tranh chấp là tàisản riêng của mình; Luật HN&GĐ năm 1986 cũng chưa quy định cụ thể khi chia tàisản chung trong thời kỳ hôn nhân, tài sản chung có còn tồn tại không? những tàisản do vợ, chồng tạo ra, các thu nhập về nghề nghiệp hoặc thu nhập hợp pháp khácphát sinh sau khi chia thuộc tài sản chung hay riêng; chưa có quy định về căn cứxác định nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng, cũng như trách nhiệm liên đới của vợchồng đối với các nghĩa vụ tài sản trong gia đình….[9, tr 31]
- Các văn bản giải thích hướng dẫn các quy định mang tính nguyên tắc trongLuật HN&GĐ năm 1986 của Chính Phủ, Toà án và các cơ quan liên quan cònchậm, thiếu và chưa có sự thống nhất cao Do vậy, trong hoạt động xét xử các tranh
Trang 20chấp về tài sản của vợ chồng đã gặp rất nhiều khó khăn, thiếu sự thống nhất, ảnhhưởng đến hiệu quả của việc thực thi pháp luật HN&GĐ.
- Sự phát triển của nền kinh tế thị trường với sự đa dạng và phức tạp của cácgiao dịch dân sự và kinh tế đã có những tác động không nhỏ đến quan hệ sở hữutrong gia đình, đặc biệt là quan hệ sở hữu tài sản của vợ và chồng Một số quy địnhcủa Luật HN&GĐ năm 1986 không còn đáp ứng được tình hình thực tế, nhiều vấn
đề mới phát sinh trong quan hệ tài sản giữa vợ, chồng đòi hỏi được pháp luật điềuchỉnh Mặt khác, luật pháp nước ta là một hệ thống hoàn chỉnh, thống nhất, các quyđịnh của pháp luật về dân sự, kinh tế, đất đai, lao động… đã được ban hành, sửađổi, bổ sung và phát huy hiệu lực trong đời sống xã hội Do vậy, các quy định củaLuật HN&GĐ cũng cần phải tiến hành sửa đổi, bổ sung để tạo sự thống nhất, đồng
bộ trong hệ thống pháp luật và phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội
Tình hình xã hội cho thấy sự cần thiêt phải xây dựng Luật HN&GĐ mớinhằm đáp ứng tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong giai đoạn này.Chính vì vậy, Luật HN&GĐ năm 2000 đã được Quốc hội khoá X nướcCHXHCNVN thông qua ngày 09/06/2000 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2001 Chếđịnh tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000 được xây dựng trên cơ sở
cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992, các quy định có liên quan của BLDS, kế thừa vàphát triển Luật HN&GĐ năm 1986, đồng thời bổ sung những quy định mới phùhợp với tình hình kinh tế - xã hội của nước ta, tạo cơ sở pháp lý để vợ chồng thựchiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời giúp Toà án giải quyết hiệu quảnhững tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng
Trang 21Chế định tài sản chung của vợ chồng được hiểu là những quy định của phápluật về việc hình thành khối tài sản chung giữa vợ và chồng, các quyền và nghĩa vụpháp lý của vợ chồng đối với khối tài sản đó.
Với sự kế thừa và phát triển chế định tài sản chung của vợ chồng trong LuậtHN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 đã có những quy định tương đối rõràng và cụ thể về căn cứ, nguồn gốc và thành phần các loại tài sản trong khối tàisản chung của vợ chồng Tại điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:
1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng
có thoả thuận.
2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
Trang 223 Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
Theo quy định này, nhà làm luật đã dự liệu cả nguyên tắc suy đoán để xácđịnh những tài sản giữa vợ chồng đang có tranh chấp nhưng không đủ cơ sở chứngminh là tài sản riêng của vợ, chồng thì được coi là thuộc khối tài sản chung của vợchồng (khoản 3 Điểu 27 Luật HN&GĐ năm 2000) Đây là quy định mới của LuậtHN&GĐ năm 2000 xuất phát từ thực tế tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng
Như vậy, nhà làm luật đã dự liệu hai căn cứ để xác định tài sản chung, tài sảnriêng của vợ, chồng là: Thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc tài sản
2.1.1 Căn cứ vào thời kỳ hôn nhân
Về nguyên tắc, tài sản vợ, chồng có trước khi kết hôn là tài sản riêng củamỗi bên vợ, chồng Còn tài sản vợ chồng có trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chunghay tài sản riêng của vợ, chồng còn phụ thuộc vào nguồn gốc của tài sản
Với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, ngày càng có nhiều cơ hội cho mỗi
cá nhân phát huy khả năng tạo ra thu nhập cho bản thân, cho gia đình và xã hội.Bằng việc tham gia các quan hệ lao động, thực hiện các hoạt động sản xuất, kinhdoanh hoặc các hoạt động đầu tư, các hoạt động chuyển dịch quyền sở hữu,… màtrước khi kết hôn, mỗi bên vợ, chồng có thể có một lượng tài sản nhất định Vàpháp luật bảo đảm quyền chủ sở hữu cá nhân của vợ, chồng đối với tài sản riêngnày
Tài sản của vợ chồng phải được xác lập trong thời kỳ hôn nhân mới được coi
là tài sản chung Theo điểm 7 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000, thời kỳ hôn nhân
được hiểu là: “Khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”.
Như vậy, về nguyên tắc, thời kỳ hôn nhân được tính từ khi hai bên nam nữkết hôn; việc kết hôn đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theođúng thủ tục và các điều kiện kết hôn theo luật định Thời kỳ hôn nhân là khoảngthời gian tồn tại của quan hệ vợ chồng trước pháp luật Những tài sản do vợ, chồngtạo ra được trong thời kỳ hôn nhân (trừ tài sản riêng của vợ, chồng) đều thuộc khốitài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, quy định ngày cấp giấy chứng nhận kết hôntrùng với thời điểm phát sinh hiệu lực của hôn nhân chỉ đúng đối với các trường
Trang 23hợp kết hôn sau ngày 01/01/2001, mà không phù hợp với quy định tại Nghị quyết
số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của QH khoá X về các trường hợp chung sốngnhư vợ chồng trước ngày 01/01/2001 mà không có đăng ký kết hôn Theo Nghịquyết số 35 thì những trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng màchưa đăng ký kết hôn trước ngày Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực - 01/01/2001được giải quyết như sau:
- Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngàyLuật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc
cả hai bên có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôncủa Luật HN&GĐ năm 2000 để giải quyết theo thủ tục chung Trường hợp sau khiquan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan
hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập
- Đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưngchưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì theo quyđịnh tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội, họ có nghĩa vụphải đăng ký kết hôn trong thời hạn 2 năm kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày01/01/2003 Nếu đăng ký kết hôn, quan hệ vợ chồng của họ được xác lập kể từngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng Trong khoảng thời gian này,nếu chưa đăng ký kết hôn hoặc đã đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì toà ánthụ lý vụ án và áp dụng quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 để giải quyết Kể từsau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì theo quy định tại điểm bkhoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10, họ không được công nhận là vợ chồng
- Kể từ ngày 01/01/2003 họ mới đăng ký kết hôn và sau đó một bên hoặc cảhai bên có yêu cầu xin ly hôn thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôncủa Luật HN&GĐ năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung Cầnchú ý trường hợp này, quan hệ vợ chồng của họ chỉ được công nhận là đã xác lập
kể từ ngày họ đăng ký kết hôn
Theo các quy định trên đây thì vấn đề giải quyết hậu quả pháp lý của tìnhtrạng “hôn nhân thực tế” sau khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực đã được quyđịnh tương đối cụ thể, rõ ràng Nhờ đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác địnhđược thời điểm phát sinh quan hệ hôn nhân để tính “thời kỳ hôn nhân”
Trang 24Thời kỳ hôn nhân sẽ chấm dứt nếu có sự kiện chết của một bên vợ hoặcchồng hoặc ngày bản án, quyết định của Toà án về chấm dứt hôn nhân có hiệu lựcpháp luật.
Tóm lại: Về nguyên tắc, thời điểm phát sinh quan hệ hôn nhân được tính từngày đăng ký kết hôn Tất cả tài sản vợ, chồng có trước khi kết hôn là tài sản riêngcủa mỗi bên vợ, chồng; tài sản mà vợ chồng tạo ra kể từ sau ngày đăng ký kết hônđều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng (trừ tài sản riêng của vợ, chồng) Quan
hệ “hôn nhân thực tế” chỉ được công nhận đối với trường hợp nam, nữ chung sốngvới nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn trước ngày 03/01/1987 Đây chỉ
là trường hợp ngoại lệ và quan hệ hôn nhân trong trường hợp này được tính từ ngàynam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng, chứ không phải từ ngày đăng ký đểhợp thức quan hệ vợ chồng của họ trước pháp luật (Nghị quyết số 35/2000/QH10)
Đối với trường hợp vợ, chồng bị Toà án tuyên bố là đã chết, quyết định củaToà án đã có hiệu lực pháp luật, sau này vì lý do nào đó mà người vợ, chồng đã bịToà án tuyên bố chết nay họ lại trở về (chưa chết), thì việc xác định tài sản chungcủa vợ chồng được giải quyết như thế nào? Những tài sản do người chồng, vợ kiatạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợppháp khác của người chồng, người vợ kia tạo ra trong khoảng thời gian từ khi phánquyết tuyên bố người vợ, chồng chết có hiệu lực pháp luật đến khi người vợ, chồng
đó trở về thì những tài sản đó sẽ thuộc khối tài sản chung của vợ chồng hay tài sảnriêng của người chồng, vợ? Vấn đề này chưa được pháp luật dự liệu cụ thể Để tạocăn cứ pháp lý thống nhất khi áp dụng, luật HN&GĐ cần thiết phải dự liệu cụ thể
về trường hợp này [7, tr.205 - 206]
2.1.2 Căn cứ vào nguồn gốc của tài sản
Tài sản của vợ chồng được xác định dựa vào nguồn gốc của tài sản, baogồm: Tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng
Tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
* Tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân
Khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định tài sản do vợ, chồng tạo
ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, Luật HN&GĐcũng như các văn bản hướng dẫn đều chưa có quy định về thuật ngữ “tài sản do vợ
Trang 25chồng tạo ra” Có nhiều cách hiểu khác nhau như tài sản do vợ chồng tạo ra lànhững tài sản có dạng vật chất cụ thể, là kết quả do lao động trực tiếp của vợ hoặcchồng tạo ra nhằm đáp ứng các yêu cầu chung của vợ chồng Cũng có cách hiểukhác, đó là tài sản của vợ chồng tạo ra không phải từ chính kết quả do lao động trựctiếp của vợ hoặc chồng [13, tr.40] Như vậy, tài sản do vợ chồng tạo ra phải đượchiểu là những tài sản có thể do một bên vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng laođộng trực tiếp bằng sức lao động của mình để tạo ra tài sản cho gia đình như xâynhà, tự đóng bàn, ghế,…; đồng thời đó cũng có thể là tài sản do người thứ ba làm ranhưng vợ, chồng đã dùng các khoản thu nhập hoặc các vật chất có giá trị trao đổikhác trong khối tài sản chung tham gia vào các giao dịch dân sự để có được quyền
sở hữu đối với tài sản đó Ví dụ: Vợ chồng dùng tiền lương để mua tủ lạnh, tivi,…
* Thu nhập hợp pháp của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân
Kế thừa và cụ thể hoá quy định tại Điều 14 Luật HN&GĐ năm 1986 dự liệu
về tài sản chung của vợ chông bao gồm “thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, Luật HN&GĐ năm
2000 tại khoản 1 Điều 27 quy định “thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” cũng là tài sản chung của vợ chồng.
Thu nhập của vợ chồng có thể được hiểu là những lợi ích vật chất mà vợ,chồng có được bao gồm các khoản tiền công, tiền lương phát sinh từ các hoạt độnglao động mang tính chất nghề nghiệp, không mang tính chất nghề nghiệp hoặc cáckhoản lợi tức phát sinh từ các hoạt động sử dụng, quản lý tài sản trong sản xuấtkinh doanh hoặc trong giao lưu dân sự [9, tr.38]
Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh là khoản thu nhập có
ý nghĩa quan trọng đối với đời sống gia đình, cũng như đối với sự phát triển của xãhội Đây là những khoản thu nhập chính đáng, xuất phát từ quyền công dân được
Hiến pháp 1992 quy định “quyền được lao động và có việc làm”, “quyền tự do sản xuất, kinh doanh”, nó có tính ổn định cao.
Trên thực tế, vợ, chồng có thể có nhiều loại thu nhập khác nhau, có thể là thunhập do lao động như trực tiếp đầu tư sản xuất, kinh doanh, cũng có thể là thu nhậpkhông do lao động như tham gia các giao dich dân sự, kinh tế để thu về những hoa
Trang 26lợi, lợi tức từ tài sản (như tham gia thị trường chứng khoán, góp vốn vào các công
ty cổ phần, tham gia các hợp đồng mua bán, cho vay,…)
Ngoài các thu nhập do lao động, sản xuất kinh doanh, vợ chồng còn có thể
có các thu nhập hợp pháp khác Theo Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày23/12/2000 của HĐTP TANDTC: Thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kỳhôn nhân có thể là tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng sổ xố mà vợ, chồng có đượchoặc tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật khôngxác định được ai là chủ sở hữu (Điều 247 BLDS), đối với vật bị chôn giấu, chìmđắm được tìm thấy (248 BLDS),… trong thời kỳ hôn nhân [26, tr.60]
* Tài sản do vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung
Đây là trường hợp xác lập tài sản chung của vợ chồng dựa trên quyền địnhđoạt của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật về thừa kế (Điều 245, 631,
686 BLDS 2005)
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể được người khác tặng cho chungtài sản hoặc được hưởng thừa kế chung một khối di sản Những tài sản này thuộckhối tài sản chung của vợ chồng Nếu trong hợp đồng tặng cho chung hoặc di chúc
để lại thừa kế chung cho vợ chồng mà chủ sở hữu tài sản đã xác định kỷ phần tàisản cho mỗi bên vợ, chồng thì tài sản đó sẽ thuộc tài sản riêng của vợ, chồng; chỉ làtài sản chung khi vợ, chồng tự nguyện nhập vào khối tài sản chung hay vợ chồngthoả thuận đó là tài sản chung [7, tr.156 - 157]
* Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn
Xuất phát từ tính đặc thù, tầm quan trọng và vị trí đặc biệt của quyền sửdụng đất trong đời sống gia đình, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định chế độ pháp
lý đối với đất đai trong quan hệ tài sản giữa vợ và chồng Đây là điểm mới của LuậtHN&GĐ năm 2000 so với Luật HN&GĐ năm 1986 Theo khoản 1 Điều 27, quyền
sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng,trừ trường hợp được thừa kế riêng
Trang 27- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng được chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kếchung, nhận thế chấp của người thứ ba cũng là tài sản chung của vợ chồng.
- Nhà ở do vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng thuê của Nhà nước hoặc của
tư nhân sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng
- Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa
kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận
* Tài sản chung của vợ chồng là những tài sản mà vợ chồng thoả thuận
là tài sản chung; những tài sản không đủ chứng cứ xác định là tài sản riêng.
Xuất phát từ thực tế cuộc sống chung, do nhu cầu thiết yếu của gia đình, dođời sống tình cảm của vợ chồng, khi cuộc sống hoà thuận hạnh phúc, vợ chồngthường không phân biệt tài sản chung và tài sản riêng Vì vậy, trên nguyên tắc đảmbảo quyền tự định đoạt tài sản của vợ chồng, vợ, chồng có thể tự nguyện nhập tàisản riêng vào tài sản chung hoặc vợ, chồng đã thoả thuận tài sản riêng của một bên
là tài sản chung của vợ chồng
Thực tế giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng trong nhiềutrường hợp không xác định được đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng của vợ,chồng Vì đời sống chung của gia đình, nhiều trường hợp tài sản riêng của một bên
đã được bảo đảm cho nhu cầu chung của gia đình mà không còn nữa hoặc có sựchuyển hoá, trộn lẫn giữa các loại tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng trongquá trình sử dụng dẫn tới các ranh rới ban đầu về tài sản chung và tài sản riênggiữa vợ chồng không còn nữa và rất khó xác định [7, tr.159 - 160] Xuất phát từ
thực trạng này, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định: “Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung” Nguyên tắc suy đoán về nguồn gốc của tài
sản này lần đầu tiên được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2000
Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm:
Khoản 1 Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:
“Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này, đồ dùng tư trang cá nhân”
Trang 28* Tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản vợ, chồng có từ trước khi kết hôn
Trong điều kiện kinh tế - xã hội và pháp lý với những điều kiện thuận lợi của
nó đã thúc đẩy mỗi người công dân có điều kiện phát huy hết khả năng của mìnhtrong việc làm giàu cho bản thân và cho xã hội Chính vì vậy, trước khi kết hôn,mỗi bên vợ, chồng có thể đã có một khối lượng tài sản nhất định Luật HN&GĐnăm 2000 đã cụ thể hoá quy định của Hiến pháp 1992 về quyền sở hữu tài sản riêngcủa vợ, chồng Theo đó, những tài sản vợ, chồng có trước khi kết hôn là tài sảnriêng của vợ, chồng Những tài sản này có thể được tạo ra do lao động, hoạt độngsản xuất, kinh doanh, hoặc không do lao động sản xuất, kinh doanh hoặc do được
sự định đoạt hợp pháp của các chủ sở hữu khác chuyển dịch quyền sở hữu cho vợ,chồng Vợ, chồng trước khi kết hôn, với tư cách cá nhân công dân được Nhà nước
và pháp luật bảo hộ về quyền sở hữu hợp pháp được xác lập theo các căn cứ đượcquy định từ Điều 233 đến Điều 247 BLDS năm 2005
* Tài sản riêng của vợ chồng là tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân
Luật HN&GĐ thừa nhận vợ, chồng có quyền sở hữu riêng đối với tài sảnđược thừa kế riêng, được tặng cho riêng nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt của cácchủ sở hữu tài sản trong việc chuyển dịch tài sản của mình cho mỗi bên vợ haychồng đã được pháp luật dân sự quy định
Vợ, chồng được quyền sở hữu riêng đối với tài sản được thừa kế, được tặngcho khi người để lại di sản hoặc người tặng cho chỉ định cụ thể vợ, chồng đượchưởng một phần hay toàn bộ tài sản của mình, hoặc họ chỉ định cả hai vợ chồnghưởng một phần hay toàn bộ tài sản, song có sự phân biệt phần quyền cụ thể củamỗi bên vợ, chồng đối với tài sản được hưởng
* Tài sản riêng của vợ, chồng là đồ dùng, tư trang cá nhân
Đây là quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2000 nhằm đảm bảo quyền tự
do cá nhân và cuộc sống riêng tư của vợ, chồng Tuy nhiên, cho đến nay, các vănbản hướng dẫn áp dụng và thi hành Luật HN&GĐ vẫn chưa giải thích và hướngdẫn cụ thể về trường hợp này
Trang 29Theo từ điển tiếng việt, đồ dùng được hiểu là “Vật do con người tạo ra để dùng trong sinh hoạt, trong hoạt động hàng ngày” [27, tr.322], còn tư trang cá nhân được hiểu là “Các thứ quý giá đi theo người của một cá nhân” [27, tr.1035].
Trên thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau về loại tài sản này Có quan điểmcho rằng, tất cả các đồ dùng, tư trang cá nhân đều là tài sản riêng của vợ chồng,không kể tài sản đó có được bằng tài sản chung hay tài sản riêng Có quan điểm lạicho rằng, chỉ đồ dùng, tư trang cá nhân có được từ tài sản riêng mới thuộc tài sảnriêng của vợ, chồng [9, tr.55] Trong đời sống kính tế ngày càng phát triển như ngàynay, nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người ngày càng nâng cao, đồ dùng,
tư trang cá nhân ngày càng phong phú, đa dạng và có giá trị lớn Vì vậy, việc giảithích và giới hạn đâu là đồ dùng, tư trang cá nhân là cần thiết, đảm bảo quyền lợiriêng của vợ, chồng cũng như đảm bảo ổn định đời sống gia đình và xã hội
* Tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản vợ, chồng được chia trong trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Khác với Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 đã dự liệu vềhậu quả pháp lý và quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản sau khi đã chia tàisản chung trong thời kỳ hôn nhân Theo quy định tại Điều 30 và Điều 32 LuậtHN&GĐ năm 2000 và Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, sau khi có sự kiệnchia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản riêng của vợ, chồngkhông chỉ bao gồm tài sản trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặngcho riêng trong thời kỳ hôn nhân; đồ dùng, tư trang cá nhân mà còn bao gồm phầntài sản được chia, các hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng sau khichia, thu nhập mà vợ, chồng có được do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh
2.2 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VỢ, CHỒNG ĐỐI VỚI TÀI SẢN CHUNG, TÀI SẢN RIÊNG
2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung
* Vợ chồng bình đẳng trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
Với tư cách là đồng chủ sở hữu tài sản chung, vợ, chồng bình đẳng khi thựchiện quyền sở hữu đối với tài sản chung Vợ, chồng cùng bàn bạc, thoả thuận sửdụng tài sản chung nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình
Trang 30Khoản 2 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Việc xác lập, thực hiện, và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn, hoặc
là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc thoả thuận…” Điều 4 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP
ngày 03/01/2001 của Chính Phủ đã cụ thể hoá quy định của Điều 28 trên Theo đó,đối với các giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng mà có giá trị lớnhoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình; hoặc giao dịch có liên quan đến tài sảnriêng thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào sử dụngchung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của giađình đều phải có sự thoả thuận (đồng ý) của vợ chồng theo đúng hình thức (vănbản) mà pháp luật quy định Còn đối với những giao dịch thông thường, liên quanđến những tài sản không có giá trị lớn nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngàycủa gia đình thì hành vi, xử sự của vợ, chồng khi định đoạt tài sản chung đó đượcpháp luật coi là có sự thoả thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng
Nguồn sống duy nhất ở đây được hiểu là tài sản đó là nguồn đảm bảo nhữngnhu cầu thiết yếu cho gia đình, ngoài lượng tài sản này ra không còn tài sản nàokhác Nếu không có tài sản này thì đời sống gia đình không thể duy trì, những nhucầu tối thiểu của đời sống gia đình không được đảm bảo Chính vì vậy mà LuậtHN&GĐ đã quy định mọi giao dịch dân sự liên quan đến tài sản là nguồn sống duynhất của gia đình (dù đó là tài sản chung hay tài sản riêng) đều phải có sự thoảthuận của vợ chồng Quy định này là hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của đờisống xã hội nước ta hiện nay, đảm bảo quyền lợi của các thành viên trong gia đình,
sự phát triển ổn định của đời sống gia đình và xã hội
Thế nào là tài sản có giá trị lớn? Khoản 3 Điều 4 Nghị định số
70/2001/NĐ-CP hướng dẫn: Tài sản có giá trị lớn được xác định căn cứ vào phần giá trị của tàisản đó trong khối tài sản chung của vợ chồng Hướng dẫn này chưa cụ thể, rất khóvận dụng trên thực tế vì có nhiều trường hợp lượng tài sản mà một bên vợ hoặcchồng đưa ra giao dịch có giá trị rất lớn nhưng so với khối tài sản chung của vợchồng thì chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ
Ví dụ, vợ chồng A – B có khối tài sản chung trị giá 5 tỷ đồng tiền Việt Nam,
B tham gia giao dịch bằng tài sản chung trị giá 250 triệu, chiếm 5% của khối tài sảnchung của AB (5 tỷ) Vậy giao dịch này có cần sự thoả thuận của vợ chồng không?
Trang 31Nếu theo hướng dẫn của Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì trong trường hợp này, Bhoàn toàn có thể tự quyết định mà không cần có sự thoả thuận với A.
Trên thực tế, pháp luật một số nước như BLDS của Cộng Hoà Pháp; BLDSThái Lan đều có những quy định theo hướng có sự thoả thuận của vợ chồng bằngvăn bản đối với các giao dịch liên quan đến một số tài sản như bất động sản, cửahàng thương mại, phương tiện vận tải thuỷ trọng tải 5tấn trở lên,… Đây đều lànhững tài sản phải được đăng ký quyền sở hữu Phải chăng pháp luật Việt Namcũng nên quy định theo hướng có sự phân biệt giữa tài sản mà pháp luật yêu cầuphải đăng ký quyền sở hữu và những tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu
* Đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng
Đây là điểm mới, tiến bộ của Luật HN&GĐ hiện hành so với trước đây Tại
khoản 2 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng”
Tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP đã liệt kê các tài sản thuộc
sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên của cả hai vợchồng: Nhà ở, quyền sử dụng đất và những tài sản khác mà pháp luật quy định phảiđăng ký quyền sở hữu (xe môtô, ôtô, tàu, thuyền đánh cá,…) Quy định này đượcthực hiện kể từ ngày Nghị định có hiệu lực (18/10/2001) Đối với các trường hợptrước đây khi đăng ký quyền sở hữu các tài sản chung của vợ chồng mà chỉ mộtbên vợ hoặc chồng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu thì kể từ ngàyNghị định này có hiệu lực, vợ chồng có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp lạigiấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản để ghi tên của cả hai vợ chồng; nếu vợ chồngkhông yêu cầu cấp lại thì tài sản đó vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng; nếu cótranh chấp, bên nào cho đó là tài sản thuộc sở hữu riêng của mình thì có nghĩa vụchứng minh; nếu không chứng minh được là tài sản riêng thì tài sản đang có tranhchấp đó là tài sản chung (khoản 3 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 và khoản 3Điều 5 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP) Quy định này xuất phát từ thực tiễn đờisống xã hội và gia đình, phù hợp với sự phát triển của xã hội, giúp giảm nhẹ gánhnặng cho cơ quan Nhà nước trong việc chứng minh tài sản là của chung hay củariêng vợ, chồng và cũng đảm bảo cho quyền tự do ý chí của mỗi bên vợ, chồng.Tuy nhiên, quy định về ghi tên của cả hai vợ chồng trong giấy chứng nhận quyền