1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luận văn hiệu lực pháp luật của di chúc – một số vấn đề lý luận và thực tiễn

92 297 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 639,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về hiệu lực pháp luật của di chúc nói riêng, Bộ luật Dân sự 1995 kế thừa các quy định của Pháp lệnh thừa kế đồng thời có sự bổ sung quy định khi một người để lại nhiều bản di chúc đối vớ

Trang 1

BÙI THỊ PHƯƠNG TÚ

HIỆU LỰC PHÁP LUẬT CỦA DI CHÚC – MỘT SỐ

VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 60380103

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Tuyết

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

1.2.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến nay……….……… 13

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT CỦA

2.1.1 Người lập di chúc phải có năng lực hành vi dân sự. 16

2.1.4 Hình thức của di chúc không trái với quy định của pháp luật. 23

2.3 Di chúc vô hiệu và di chúc không có hiệu lực pháp luật 34

Chương 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT CỦA DI CHÚC VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT CỦA DI CHÚC 653.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp về hiệu lực pháp luật của di chúc 65

3.1.1 Di chúc bị vô hiệu toàn bộ do năng lực hành vi của người để lại di

3.1.2 Tranh chấp thừa kế do xác định không đúng thời điểm có hiệu lực

3.1.3 Di chúc bị vô hiệu một phần do định đoạt tài sản của người khác 71

3.1.4 Tranh chấp xác định hiệu lực di chúc sau cùng 743.2 Hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về hiệu lực pháp luật của di

Trang 3

3.2.3 Di chúc vô hiệu do người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt 81 3.2.4 Hiệu lực của di chúc có người làm chứng 82

3.2.5 Hiệu lực của di chúc có công chứng hoặc chứng thực 82

3.2.6 Di chúc không có hiệu lực pháp luật do hủy bỏ di chúc 83

3.2.7 Di chúc không có hiệu lực pháp luật do người thừa kế theo di chúc

3.2.8 Di chúc không có hiệu lực pháp luật do cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…… ……… 88

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thừa kế theo di chúc là một vấn đề đã xuất hiện từ lâu trong đời sống xã hội Về mặt pháp lý, thừa kế theo di chúc được quy định trong nhiều văn bản pháp luật qua các thời kỳ khác nhau Dưới chế độ phong kiến, các quy định về thừa kế chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, vì thế việc thừa kế trong giai đoạn này thể hiện rõ nét sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa bên nội, bên ngoại, Kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đến nay, vấn đề thừa kế theo di chúc được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, phù hợp đối với tình hình xã hội trong từng thời kỳ Trong số các loại văn bản này, đáng chú ý là Thông tư số 81-TATC ngày 24-7-1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết tranh chấp thừa kế (đúc kết từ thực tiễn xét xử của ngành Tòa án nhân dân) và Pháp lệnh Thừa kế ngày 10-9-1990 Tuy nhiên, chỉ đến khi Bộ luật Dân sự 1995 ra đời thì vấn đề thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng mới được quy định cụ thể

Nhằm kịp thời đáp ứng những thay đổi nhanh chóng trong các quan hệ dân sự, Bộ luật Dân sự 2005 ra đời với những quy định cụ thể về thừa kế theo

di chúc trong đó có hiệu lực pháp luật của di chúc Tuy nhiên, hệ thống quy định về hiệu lực pháp luật theo Bộ luật Dân sự 2005 hiện hành vẫn còn nhiều vướng mắc Một số quy định còn mang tính chung chung, chưa cụ thể dẫn đến cách hiểu không thống nhất về thời điểm có hiệu lực của di chúc, mức độ

có hiệu lực của di chúc Chính vì vậy, quyền lợi của các chủ thể thừa kế theo

di chúc chưa được bảo vệ, đặc biệt là khi di chúc bị tuyên bố vô hiệu Bộ luật Dân sự 2015 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015 có hiệu lực

thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 đã có những điều chỉnh các quy định

về hiệu lực pháp luật của di chúc Những điều chỉnh này của Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm giải quyết một số bất cập trong quy định hiện hành về hiệu lực pháp luật của di chúc Tuy nhiên, liệu những quy định này đã giải quyết

Trang 5

được hết những bất cập trong quy định hiện hành hay chưa là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ.

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, học viên lựa chọn

nghiên cứu đề tài "Hiệu lực pháp luật của di chúc – Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn" làm luận văn Thạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về vấn đề thừa kế theo di chúc ở Việt Nam cho đến nay đã

có rất nhiều công trình nghiên cứu về thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng, trong đó:

- Luận văn, luận án:

Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như Luận án tiến sĩ của tác giả

Phạm Văn Tuyết với nhan đề "Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam” Với đề tài này, tác giả đã nghiên cứu, hệ thống hóa các

quy định pháp luật về thừa kế theo di chúc để từ đó đánh giá nội dung những quy định về thừa kế theo di chúc, chỉ ra những bất cập và đưa ra nhưng giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thừa kế theo di chúc Luận án tiến sĩ với

nhan đề "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay" đã được tác giả Phùng Trung Tập bảo vệ thành công năm 2002 đã hệ

thống hóa các quy định về thừa kế theo pháp luật từ đó đánh giá nội dung về

thừa kế theo pháp luật Luận án tiến sĩ luật học "Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định chung về thừa kế trong Bộ luật Dân sự" của Nguyễn

Minh Tuấn đã luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn của các quy định về thừa kế của Việt Nam qua các thời kỳ phát triển Tuy nhiên, những đề tài trên đều có phạm vi nghiên cứu rất rộng, mang tính khái quát cao

- Sách giáo trình, sách chuyên khảo:

Vấn đề thừa kế theo di chúc được nhiều tác giả để cập trong sách giáo trình, chuyên khảo, tiêu biểu phải kể đến cuốn sách chuyên khảo “Pháp luật

về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp” của PGS.TS Phạm Văn Tuyết, NXB Tư pháp, 2013; cuốn "Luật Thừa kế Việt Nam" của PGS.TS Phùng

Trang 6

Trung Tập, Nxb Hà Nội, 2008 và cuốn "Pháp luật thừa kế của Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" của Tiễn sỹ Nguyễn Minh Tuấn được xuất bản năm 2009

- Các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật:

Các bài báo, tạp chí tiêu biểu có thể kể đến: "Hoàn thiện quy định về thừa kế trong Bộ luật Dân sự", của Tiến sĩ Phạm Văn Tuyết, Tạp chí Luật học, số Đặc san về sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, tháng 11/2003); "Di chúc

và vấn đề hiệu lực của di chúc", của Tiến sĩ Phạm Văn Tuyết, Tạp chí Luật học, số 6/1995; "Di sản thừa kế và thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế", củaTiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn, Tạp chí Luật học, số 11/2007;…

Trên đây là những công trình lớn có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến những vấn đề mang tính khái quát chung về chế định thừa kế trong đó có thừa kế theo di chúc mà chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về hiệu lực pháp luật của di chúc Việc nghiên cứu về hiệu lực pháp luật của di chúc có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo di chúc được thực thi trên thực tế và giải quyết tranh chấp phát sinh về thừa kế theo di chúc Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trên đây, luận văn sẽ đi sâu phân tích hiệu lực pháp luật của

di chúc theo quy định của pháp luật hiện hành, chỉ ra những điểm bất cập và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ các quy định về hiệu lực pháp luật của di chúc và vấn đề áp dụng các quy định hiện hành về hiệu lực pháp luật của di chúc trên thực tiễn

 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn thạc sĩ, tôi tập trung vào:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về hiệu lực pháp luật của di chúc trong pháp luật dân sự Việt Nam;

Trang 7

- Nghiên cứu các quy định về hiệu lực pháp luật của di chúc trong pháp luật dân sự hiện hành như: Điều kiện có hiệu lực của di chúc; mức độ có hiệu lực của di chúc đồng thời có sự so sánh với quy định của Bộ luật Dân sự 2015.

- Nghiên cứu về thực trạng pháp luật về hiệu lực pháp luật của di chúc từ

đó phát hiện những thiết sót, bất cập của luật thực định để kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện

4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu và làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về hiệu lực pháp luật của

di chúc, tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp liên quan đến hiệu lực pháp luật của di chúc qua đó nhằm tìm ra những bất cập của pháp luật cũng như những vướng mắc của luật thực định đề xuất phương hướng, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện các quy định về vấn đề này trong pháp luật dân sự Việt Nam

5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

Với những mục tiêu trên, luận văn hướng tới giải quyết các câu hỏi sau:

- Thế nào là di chúc? Đặc điểm, bản chất của di chúc? Thế nào hiệu lực pháp luật của di chúc?

- Pháp luật dân sự điều chỉnh vấn đề hiệu lực pháp luật của di chúc như thế nào?

- Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hiệu lực pháp luật của di chúc diễn

ra như thế nào?

- Pháp luật về hiệu lực pháp luật của di chúc còn những bất cập gì và hướng giải quyết trong thời gian tới về vấn đề hiệu lực pháp luật của di chúc?

6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ chí Minh về Nhà nước và pháp luật, luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ

Trang 8

nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, những phương pháp khoa học khác như:

so sánh, phân tích, tổng hợp, cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề

mà đề tài đã đặt ra

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Trên cơ sở tìm hiểu những công trình nghiên cứu trước đó và qua quá trình nghiên cứu, làm rõ các vấn đề xung quanh hiệu lực pháp luật của di chúc

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về hiệu lực pháp luật của di chúc như: Khái niệm hiệu lực pháp luật của di chúc, hệ thống hóa và phân tích các điều kiện có hiệu lực của di chúc

- Phân tích và làm rõ một số quy định của pháp luật về thời điểm có hiệu lực của di chúc, di chúc vô hiệu và di chúc không có hiệu lực pháp luật đồng thời chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quy định hiện hành về hiệu lực pháp luật của di chúc

- Đánh giá tình hình thực hiện, áp dụng pháp luật các quy định về hiệu lực pháp luật của di chúc của tòa án nhân dân trong quá trình xét xử vụ án có liên quan đến vấn đề này

- Đưa ra phương án góp phần sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về hiệu lực pháp luật của di chúc

8 Bố cục của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hiệu lực pháp luật của di chúc

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hiệu lực pháp luật của di chúc

Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hiệu lực pháp luật của di chúc và phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về hiệu lực pháp luật của di chúc

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT CỦA

Trang 9

DI CHÚC 1.1 Khái niệm

đó để lại, vì di chúc đó không thể hiện được ý chí của người chết trong việc dịch chuyển di sản Vì vậy, bên cạnh cách hiểu thông thường, khái niệm di chúc cần được luật hóa để đảm bảo đúng bản chất là sự dịch chuyển tài sản từ người đó cho những người còn sống

Điều 646 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết".

Di chúc phải là ý chí của cá nhân còn sống tự nguyện lập ra Vì vậy, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình không phải là chủ thể xác lập di chúc Người lập di chúc dựa vào ý chí cá nhân chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người còn sống khác, sau khi người lập di chúc chết Xét về tính chất của giao dịch dân sự, di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương, hoàn toàn độc lập, tự định đoạt ý chí của cá nhân người lập di chúc do vậy di chúc

là giao dịch dân sự một bên Di chúc theo quy định của pháp luật dân sự phải nhằm dịch chuyển tài sản của người lập di chúc cho người khác sau khi người lập di chúc chết Việc chuyển tài sản có thể được hiểu là chuyển theo nghĩa vật lý tức là chuyển tài sản từ người này sang người khác mà không chuyển quyền sở hữu Tuy nhiên, đối với di chúc thì việc chuyển tài sản được hiểu là chuyển quyền sở hữu sang cho người khác Theo khoản 5 Điều 170 Bộ luật

Dân sự 2005: “Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong trường hợp

Trang 10

được thừa kế” Người được hưởng thừa kế theo di chúc chỉ có quyền nhận tài

sản của người lập di chúc kể từ khi người lập di chúc chết Việc người thừa kế theo di chúc nhận di sản là căn cứ xác lập quyền sở hữu di sản của người thừa kế

- Đặc điểm của di chúc

Thứ nhất, di chúc là ý chí đơn phương của cá nhân

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nên nó được hình thành duy nhất bằng ý chí đơn phương của người để lại thừa kế (một bên chủ thể trong giao dịch dân sự về thừa kế) Người lập di chúc có quyền tự định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế sau khi chết mà không phụ thuộc vào người khác Qua việc lập di chúc, cá nhân thể hiện ý chí muốn xác lập một giao dịch dân

sự về thừa kế Theo đó, họ quyết định chuyển giao một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho người đã được họ xác định trong di chúc mà không cần biết người đó có nhận di sản của mình hay không

Thứ hai, mục đích của di chúc nhằm chuyển dịch di sản của người chết

cho những người khác đã được xác định trong di chúc

Mục đích của việc lập di chúc là nội dung quan trọng không thể thiếu của một di chúc nếu muốn được coi là căn cứ để dịch chuyển tài sản từ người chết sang những người khác Thông thường, một người chỉ lập di chúc trong trường hợp họ có một khối tài sản trước khi chết và bằng ý chí của mình để định đoạt cho ai Mặt khác, cho dù trước lúc chết, người đó có khối tài sản và cũng để lại di chúc nhưng nếu di chúc không chứa đựng nội dung này thì cũng không làm phát sinh việc thừa kế theo di chúc Trên thực tế xảy ra những trường hợp, một người trước khi chết dặn dò con cháu đoàn kết, yêu thương nhau,… thì trường hợp này không được coi là di chúc bởi không có sự định đoạt nhằm dịch chuyển di sản từ người lập di chúc sang người khác sau khi chết Như vậy, di chúc chỉ đem lại ý nghĩa về mặt vật chất cho những người thừa kế đồng thời chỉ thật sự là một phương tiện để người lập di chúc

Trang 11

thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản của mình chừng nào di chúc chứa đựng nội dung trên.

Thứ ba, di chúc là loại giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi chính người

xác lập ra di chúc chết

Nếu như các giao dịch dân sự khác như hợp đồng dân sự có hiệu lực từ thời điểm giao kết (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định khác) thì thời điểm có hiệu lực của di chúc phụ thuộc vào thời điểm

người lập đi chúc chết Khoản 1 Điều 667 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Di chúc có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm mở thừa kế”

Di chúc là ý chí đơn phương của người lập ra nên người lập di chúc luôn

có quyền tự mình thay đổi nội dung đã định đoạt trong di chúc hoặc hủy bỏ di chúc đã lập Dù di chúc đã được lập ra nhưng khi người lập di chúc còn sống thì không có bất kỳ sự ràng buộc nào giữa họ và người được chỉ định trong di chúc Quyền tài sản vẫn thuộc về người lập di chúc và người được chỉ định trong di chúc không có bất kỳ quyền nào đối với tài sản của người lập di chúc

và họ cũng không chắc chắn có quyền hưởng di sản Sau khi người lập di chúc chết, người được chỉ định trong di chúc trở thành người thừa kế theo di chúc thì họ mới có quyền bày tỏ ý chí trong việc nhận hay không nhận di sản thừa kế

1.1.2 Khái niệm hiệu lực pháp luật của di chúc

Hiệu lực của di chúc có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình dịch chuyển di sản từ người để lại di sản cho những người thừa kế Trước hết, vấn

đề di chúc có hiệu lực hay không sẽ quyết định việc phân chia di sản theo di chúc hay phân chia di sản theo pháp luật Vấn đề này ảnh hưởng to lớn, sâu sắc tới quyền lợi của những người thừa kế

Theo Từ điển Tiếng Việt thì hiệu lực được hiểu một cách đơn giản là công dụng, hiệu quả Như vậy, di chúc có hiệu lực là di chúc có khả năng thực hiện được trên thực tế

Trang 12

Dưới góc độ pháp lý, theo Từ điển Luật học: “Hiệu lực của di chúc là giá trị bắt buộc phải thi hành, tuân theo di chúc” Tuy ngắn gọn, nhưng định

nghĩa này cũng đã phần nào phản ánh được bản chất của khái niệm hiệu lực của di chúc

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, quy định về hiệu lực pháp luật của di chúc luôn được các nhà làm luật chú trọng Tuy nhiên, khái niệm hiệu lực pháp luật của di chúc thì chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể Mặc dù chưa có khái niệm về hiệu lực pháp luật của di chúc nhưng Bộ luật Dân sự 2005 đã có nhiều quy định về vấn đề này, cụ thể như sau:

Di chúc có hiệu lực kể từ thời điểm thừa kế Chỉ có di chúc hợp pháp mới

có hiệu lực pháp luật Di chúc hợp pháp tức là phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện mà pháp luật đã quy định Trước hết với tư cách là một giao dịch dân

sự nên di chúc muốn được coi là hợp pháp phải đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005:

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

Mặc khác, di chúc là loại giao dịch đặc biệt, đồng thời chỉ có hiệu lực khi người lập ra nó đã chết nên việc lập di chúc không thể thực hiện bằng cách ủy quyền cho người khác thay mình lập di chúc Do đó, di chúc hợp pháp là di chúc đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự 2005:

1 Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không

bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

Trang 13

Căn cứ vào những điều kiện trên, có thể hiểu: “Di chúc hợp pháp là di chúc có hiệu lực pháp lý, thể hiện ý chí của người lập di chúc mà khi xác lập đảm bảo tất cả những điều kiện theo luật định”

Đối với giao dịch nói chung thì tính hợp pháp đồng nghĩa với tính có hiệu lực Tuy nhiên, đối với di chúc thì tính hợp pháp không đồng nghĩa với tính có hiệu lực bởi có những di chúc hợp pháp đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định nhưng vẫn không có hiệu lực vì những nguyên nhân khác Di chúc không có hiệu lực có thể xuất phát từ nguyên nhân chủ quan (do sự thay đổi ý chí của người lập di chúc) hoặc từ những nguyên nhân khách quan

+ Do người lập di chúc thay đổi ý chí

Khoản 2 Điều 662 Bộ luật Dân sự 2005 quy định người lập di chúc có thể hủy bỏ di chúc bất cứ lúc nào Trong trường hợp này thì di chúc bị hủy bỏ

sẽ không có hiệu lực pháp luật

+ Do nguyên nhân khách quan

- Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

- Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế;

- Di chúc không có hiệu lực pháp luật, nếu di sản để lại cho người thừa

kế không còn vào thời điểm mở thừa kế;

- Di chúc bị thay thế bằng một di chúc hợp pháp khác Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản, thì chỉ bản di chúc sau cùng mới có hiệu lực pháp luật;

- Người thừa kế theo di chúc từ chối quyền hưởng di sản;

- Người thừa kế theo di chúc bị tước quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật

Có thể nói, hiệu lực pháp luật của di chúc được BLDS 2005 quy định rất

cụ thể nhưng chưa đưa ra khái niệm thể hiện đầy đủ bản chất hiệu lực pháp luật của di chúc – đó là giá trị pháp lý ràng buộc các bên, mà chủ yếu để xác định

Trang 14

thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc, điều kiện hợp pháp của di chúc và các trường hợp ảnh hưởng đến hiệu lực của di chúc

Trên cơ sở nghiên cứu khía cạnh pháp lý và từ điển về hiệu lực pháp luật của di chúc có thể đưa ra khái niệm hiệu lực pháp luật của di chúc như sau:

“Hiệu lực pháp luật của di chúc giá trị bắt buộc thi hành trên thực tế theo đúng nội dung của di chúc và phù hợp với các quy định của pháp luật”.

Khi bàn về hiệu lực của hợp đồng, người ta thường nhìn nhận hiệu lực hợp đồng ở nhiều khía cạnh: điều kiện có hiệu lực của di chúc, thời điểm có hiệu lực của di chúc, mức độ hiệu lực của di chúc Các nội dung này sẽ lần lượt được trình bày trong luận văn

1.2 Lược sử pháp luật Việt Nam về hiệu lực pháp luật của di chúc

1.2.1 Giai đoạn trước năm 1945

Chế độ phong kiến Việt Nam tồn tại qua nhiều thế kỉ Mỗi nhà nước phong kiến đều ban hành các văn bản pháp luật để củng cố quyền lực và phục

vụ cho công việc quản lý đất nước Các bộ cổ luật của Việt Nam đã có những quy định cụ thể về thừa kế Trong đó tiêu biểu phải kể đến: Bộ luật Hồng Đức (1483), Bộ luật Gia Long (1815) Ngoài các bộ luật, nhà nước phong kiến còn ban hành nhiều văn đơn hành như chiếu, chỉ dụ, lệnh của vua…

Trong Bộ luật Hồng Đức có quy định các con (con trai, con gái, con nuôi) đầu có quyền thừa kế của cha, mẹ Đồng thời, Bộ luật cũng có quy định tôn trọng quyền định đoạt của người có tài sản

Điều 388 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Cha mẹ mất cả, có ruộng đất, chưa kịp để lại chúc thư, mà anh em chị em tự chia nhau, thì lấy một phần 20

số ruộng đất làm hương hỏa, giao cho người con trai trưởng giữ, còn thì chia nhau Phần con của vợ lẽ, nàng hầu, thì phải kém Nếu đã có lệnh của cha mẹ

và chúc thư, thì phải theo đúng, trái thì mất phần mình” Điều 390 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Người làm cha mẹ phải liệu tuổi già mà lập sẵn chúc thư…” Như vậy, Bộ luật Hồng Đức đã có quy định về quyền lập chúc thư,

đặc biệt là những người cao tuổi Đồng thời, Bộ luật còn quy định cụ thể về

Trang 15

hình thức lập chúc thư tại Điều 366: “Những người làm chúc thư, văn khế mà không nhờ quan trưởng trong làng viết thay và chứng kiến, thì phảo phạt 80 trượng, phạt tiền theo việc nặng nhẹ Chúc thư văn khế ấy không có giá trị Nếu biết chữ mà viết lấy thì được” Trong trường hợp chúc thư không tuân

thủ hình thức do pháp luật quy định thì sẽ không có giá trị pháp lý lúc đó di sản thừa kế được chia theo pháp luật

So với thời Lê, thời Nguyễn mà cụ thể là trong bộ Hoàng Việt Luật Lệ

có rất ít chế định liên quan đến thừa kế Tuy nhiên những nguyên tắc về quan

hệ tài sản và thừa kế cơ bản vẫn tương tự như Bộ luật Hồng Đức dưới thời nhà Lê Tuy nhiên, Bộ luật Gia Long không thừa nhận quyền thừa kế của con gái mà chú trọng đến quyền lợi của con trai Vấn đề thừa kế theo di chúc được

quy định tại Điều 388: “Nếu có mệnh lệnh của cha mẹ phải theo đúng, vi phạm điều này sẽ mất phần của mình”.

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1980

Sau Cách mạng tháng Tám Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Một Nhà nước non trẻ đã phải đối mặt với những vấn đề phức tạp về chính trị, văn hóa, xã hội… Nhiệm vụ chủ yếu của Nhà nước lúc này là phải bảo vệ củng cố thành quả cách mạng, kể cả những vấn đề liên quan đến lĩnh vực dân

sự Để đảm bảo cho các quan hệ xã hội về dân sự phát triển bình thường, Nhà nước cần phải có hệ thống pháp luật Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã ký Sắc lệnh 97/SL về việc sửa đổi một số quy lệ và chế định trong luật dân luật, quy định một số nguyên tắc mới để áp dụng trong điều kiện của nền dân chủ nước ta Về lĩnh vực thừa kế đã quy định vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau; con trai, con gái đều có quyền thừa kế di sản của cha, mẹ; chồng góa, vợ góa, các con đã thành niên có quyền xin chia di sản; con, cháu hoặc vợ góa, chồng góa không bắt buộc phải nhận thừa kế của người đã chết; các chủ nợ của người đã chết không có quyền đòi người thừa kế phải thanh toán nợ quá phần di sản mà người đó nhận được

Trang 16

Hiến pháp năm 1959 ra đời là một bước tiến quan trọng trong lịch sử lập pháp Việt Nam Quyền thừa kế được Hiến pháp ghi nhận tại Điều 19: “Nhà nước chiếu theo pháp luật, bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân”.

Trên cơ sở đó, ngày 29/12/1959, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Luật Hôn nhân và gia đình, có hiệu thực thi hành từ ngày 13/1/1960 Luật Hôn

nhân và gia đình năm 1959 quy định: “Các con đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình và trong việc hưởng thừa kế, không phân biệt con trai, con gái, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi”.

Để đáp ứng yêu cầu của công tác xét xử trong phạm vi chức năng do Luật tổ chức tòa án quy định Tòa án nhân dân tối cao ra nhiều thông tư hướng dẫn Thông tư số 549/NCPL ngày 27/8/1968 hướng dẫn đường lối xét

xử các việc tranh chấp về thừa kế; Thông tư số 02/TATC ngày 02/8/1973 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế di sản liệt sĩ…

1.2.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến nay

Hiến pháp năm 1980 ghi nhận: “Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân” (Điều 27) Để phục vụ cho công tác xét xử tranh chấp về thừa

kế đồng thời bổ sung một số điểm cho phù hợp với Hiến pháp mới, qua tổng kết rút kinh nghiệm công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư 81 ngày 24/7/1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế Vấn đề hiệu lực pháp luật của di chúc tuy không được quy định cụ thể nhưng

đã đề cập đến một số điều kiện để di chúc có giá trị thi hành Theo đó, di chúc viết phải do người có năng lực hành vi dân sự tự nguyện lập ra Di chúc phải đáp ứng các yêu cầu về hình thức của di chúc Nội dung của di chúc phải phù hợp với chính sách và pháp luật Thông tư số 81 là văn bản tương đối hoàn chỉnh về các quy phạm pháp luật liên quan đến quyền thừa kế nói chung và hiệu lực pháp luật của di chúc nói chung, là cơ sở cho các văn bản pháp luật

về sau quy định chi tiết về hiệu lực pháp luật của di chúc

Ngày 30/8/1990, Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua pháp lệnh thừa kế Đây là văn bản pháp luật có hệ thống và

Trang 17

có giá trị pháp lý cao nhất về thừa kế kể từ ngày lập nước Pháp lệnh Thừa kế gồm 38 điều, được chia làm 6 chương, trong đó đã xác định những nguyên tắc

cơ bản về thừa kế, về quyền bình đẳng thừa kế của công dân Thừa kế theo di chúc được Pháp lệnh quy định tại chương II từ Điều 10 đến Điều 23 Pháp lệnh Thừa kế quy định về di chúc hợp pháp là di chúc do người từ đủ mười tám tuổi trở lên tự nguyện lập trong khi minh mẵn, không bị lừa dối và không trái với quy định của pháp luật Di chúc cũng được coi là hợp pháp nếu do người từ đủ mười sáu tuổi trở lên nhưng chưa đủ mười tám tuổi tự nguyện lập trong khi minh mẵn, được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người đỡ đầu, không bị lừa dối và không trái với quy định của pháp luật Nội dung và hình thức của di chúc được Pháp lệnh quy định cụ thể Pháp lệnh thừa kế là văn bản đầu tiên quy định cụ thể, chi tiết về hiệu lực của di chúc tại Điều 23 Theo đó, di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế Trong trường hợp di chúc do nhiều người lập chung, mà

có người chết trước, thì chỉ phần di chúc có liên quan đến tài sản của người chết trước có hiệu lực Di chúc không có hiệu lực, nếu người thừa kế theo di chúc chết trước người lập di chúc, cơ quan, tổ chức được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Trong trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước người lập di chúc, cơ quan, tổ chức được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, thì chỉ phần của di chúc có liên quan đến người chết trước, liên quan đến cơ quan, tổ chức không còn tồn tại đó không có hiệu lực Di chúc không có hiệu lực nếu tài sản, quyền về tài sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế Nếu tài sản, quyền về tài sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần của di chúc về phần còn lại đó vẫn có hiệu lực

Trước những thay đổi nhanh chóng của đời sống xã hội, các vấn đề dân

sự phát sinh ngày càng nhiều mà các hình thức văn bản như: Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, chưa đủ bảo quát để điều chính các quan hệ dân sự nói chung

và vấn đề hiệu lực pháp luật của di chúc nói riêng Trước những yêu cầu của

Trang 18

thực tiễn, ngày 28/10/1995, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Bộ luật Dân sự đầu tiên của của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thừa

kế được quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật Dân sự 1995 đã kế thừa hầu hết các quy định của Pháp lệnh về thừa kế năm 1990 Ngoài ra có bổ sung một số vấn đề mới trong lĩnh vực thừa kế, đặc biệt là việc thừa kế quyền sử dụng đất của cá nhân và thành viên của hộ gia đình Về hiệu lực pháp luật của di chúc nói riêng, Bộ luật Dân sự 1995 kế thừa các quy định của Pháp lệnh thừa kế đồng thời có sự bổ sung quy định khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản, thì chỉ bản di chúc sau cùng mới có hiệu lực pháp luật

Các quy định về thừa kế nói chung và hiệu lực pháp luật của di chúc nói riêng trong Bộ luật Dân sự 2005 về cơ bản vẫn giữ nguyên như trong quy định

Bộ luật Dân sự năm 1995 và có một số thay đổi nhỏ để khắc phục vướng mắc không phù hợp với thực tế trong quá trình giải quyết tranh chấp về thừa kế

Bộ luật Dân sự 2015 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015 có

hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 tiếp tục kế thừa các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 đồng thời có những điều chỉnh các quy định về hiệu lực pháp luật của di chúc Những điều chỉnh này của Bộ luật Dân sự năm

2015 nhằm giải quyết một số bất cập trong quy định hiện hành về hiệu lực pháp luật của di chúc

Trang 19

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT CỦA

DI CHÚC 2.1 Điều kiện hợp pháp của di chúc

2.1.1 Người lập di chúc phải có năng lực hành vi dân sự.

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành

vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Một người chỉ được coi là có năng lực hành vi dân sự khi người đó bằng khả năng của mình để thực hiện các quyền và gánh vác các nghĩa vụ dân sự Năng lực hành vi dân

sự của cá nhân được xác định qua hai tiêu chí: độ tuổi và khả năng nhận thức

Thứ nhất, về độ tuổi

Pháp luật dân sự quy định người đã thành niên mới có quyền lập di chúc, còn người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi muốn lập di chúc phải được sự đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ Sở dĩ pháp luật quy định như vậy bởi chỉ khi đạt độ tuổi nhất định thì con người mới có đủ nhận thức

để điều chỉnh hành vi của mình Nhận thức của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi chưa ổn định, thiếu chín chắn trong cách suy nghĩ

và xử sự nên đòi hỏi cần phải có sự đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ để đảm bảo

Nếu hiểu sự đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ đối với việc người chưa thành niên lập di chúc là sự đồng ý về nội dung của di chúc thì sẽ ảnh hưởng đến ý chí tự nguyện của người lập di chúc khi định đoạt tài sản và dẫn đến di chúc bị vô hiệu Chính vì vậy, khi người chưa thành niên lập di chúc thì cha,

mẹ, người giám hộ có quyền nêu ý kiến của mình về việc có đồng ý cho người đó lập di chúc hay không mà không được can thiệp vào nội dung của di chúc hay sự định đoạt của người lập di chúc

Hình thức đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ cho người đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi cũng không được quy định nên sẽ không tránh khỏi có nhiều cách hiểu khác nhau về hình thức đồng ý được thể hiện

Trang 20

bằng văn bản riêng hay chỉ cần bút tích của cha, mẹ, người giám hộ vào bản

di chúc hay chỉ cần có chữ ký của cha, mẹ hoặc người giám hộ vào cuối bản

di chúc hoặc vào từng trang của bản di chúc Trên thực tế có thể xảy ra trường hợp, cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý dưới hình thức miệng nhưng sau khi

di chúc được lập ra họ biết được sự định đoạt trong nội dung di chúc nên họ không đồng ý với sự định đoạt ấy và tuyên bố không cho người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi lập di chúc Thiết nghĩ, cần có quy định

cụ thể về sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ đối với việc lập di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành một văn bản riêng hoặc có bút tích của cha, mẹ, người giám hộ vào bản

di chúc

Thứ hai, về khả năng nhận thức

Bên cạnh yêu cầu về độ tuổi thì nhận thức là yếu tố quan trọng để xác định một người có năng lực hành vi dân sự để lập di chúc Khi một người đạt được độ tuổi trưởng thành thì họ có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi Tuy nhiên, khi họ mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, điều khiển hành vi thì khả năng nhận thức của họ không được đảm bảo

Theo điểm a khoản 1 Điều 652 Bộ luật Dân sự 2005: “người lập di chúc phải minh mẫn sáng suốt trong khi lập di chúc ” Pháp luật hiện hành chưa

quy định cụ thể thế nào là minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc Hai từ “minh mẫn”, “sáng suốt” có thể được hiểu là khả năng nhận thức rõ ràng và giải quyết vấn đề đúng đắn, không nhầm lẫn Cụm từ trên nếu hiểu theo cách đơn giản có nghĩa là khi lập di chúc người lập hoàn toàn tỉnh táo để hiểu được những điều mình làm là đúng đắn Lập di chúc là hành vi của chủ sở hữu tài sản định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế nên họ phải minh mẫn, sáng suốt để nhận thức được hành vi của mình

2.1.2 Ý chí của của chủ thể lập di chúc

Trang 21

Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, do đó di chúc phải tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng Vì vậy, người lập di chúc không những phải thỏa mãn các điều kiện về năng lực chủ thể theo quy định của Bộ luật Dân sự, mà còn phải thỏa mãn cả điều kiện về ý chí của chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự Cụ thể, theo điểm c khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự

năm 2005 quy định: “Người tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện.”

Bên cạnh đó điểm a, khoản 1, Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng quy định về sự tự nguyện của người lập di chúc Sự tự nguyện của người lập di chúc được thể hiện thông qua sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí của họ Việc phá vỡ sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí làm mất đi tính tự nguyện của người lập di chúc Sự thống nhất này có thể bị phá vỡ khi người lập di chúc bị cưỡng ép, đe dọa hoặc bị lừa dối

Bộ luật Dân sự 2015 tiếp tục kế thừa các quy định của Bộ luật Dân sự

2005 về điều kiện của người lập di chúc nhưng có một số điều chỉnh Theo

khoản 1 Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015: “Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình” Đồng thời theo điểm a khoản 1 Điều

630 Bộ luật Dân sự 2015: “Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép” Như vậy, so với Bộ luật

Dân sự 2005, Bộ luật Dân sự 2015 đã bỏ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Sở dĩ Bộ luật Dân sự 2015 bỏ đi quy định này là bởi người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt tức là họ phải là người có đủ khả năng nhận thức

và điều khiển hành vi của mình nên không cần thiết phải quy định người lập

di chúc không bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức

và làm chủ được hành vi của mình

2.1.3 Nội dung của di chúc

Trang 22

Nội dung của di chúc là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc về việc định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế Pháp luật cho phép người lập di chúc có quyền tự định đoạt tài sản của mình nhưng quyền tự do này phải được đặt trong một khuôn khổ nhất định, không xâm phạm đến quyền, lợi ích của các chủ thể khác và Nhà nước Vì vậy, một di chúc chỉ được coi là hợp pháp nếu sự thể hiện ý chí trong nội dung di chúc không vi phạm những điều pháp luật cấm, không trái với những điều pháp luật đã quy định.Bên cạnh đó, di chúc muốn được coi là hợp pháp, nội dung của nó phải phù hợp với đạo đức xã hội Đạo đức xã hội là hình thái ý thức xã hội, luôn phụ thuộc vào tồn tại xã hội trong từng giai đoạn, từng thời kỳ nhất định Vì vậy, đạo đức xã hội không mang tính cố định Mỗi một thời đại, thậm chí trong cùng một xã hội thì mỗi giai cấp khác nhau sẽ có một quan điểm khác nhau về đạo đức Tuy vậy, không ai có thể phủ nhận mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật Đạo đức là cơ sở xã hội của pháp luật Một nền pháp luật được hình thành nếu không phù hợp với đạo đức xã hội thì tính khả thi của nó

sẽ bị hạn chế rất nhiều Ngược lại, pháp luật là phương tiện để nâng đạo đức

xã hội thành ý chí của nhà nước Nhìn chung, đạo đức xã hội là những trật tự công cộng, thuần phong mĩ tục được hình thành từ một cơ sở kinh tế nhất định và đang được một cộng đồng người nhìn nhận và tôn trọng1 Theo quy

định tại Điều 128 Bộ luật Dân sự 2005: “Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”

Ví dụ: Ông A lập di chúc cho con trai hưởng toàn bộ di sản với yêu cầu anh phải ly hôn với vợ hay gây tổn hại sức khỏe đến người khác… thì điều này là không phù hợp với phong tục, tập quán, trái quy định của pháp luật.Bên cạnh việc đảm bảo nội dung di chúc không trái quy định của pháp luật và đạo đức xã hội thì nội dung di chúc phải đáp ứng các yêu cầu theo quy định tại Điều 653 Bộ luật Dân sự 2005, cụ thể như sau:

1Phạm Văn Tuyết, Luận án Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam, tr.94

Trang 23

- Di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc

Ngày, tháng, năm lập di chúc là nội dung có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tính hiệu lực của di chúc Đây là cơ sở để xác định thời điểm người để lại di sản lập di chúc Thông qua ngày, tháng, năm lập di chúc sẽ xác định được năng lực hành vi dân sự của người lập di chúc, sự minh mẫn, sáng suốt của họ tại thời điểm di chúc được lập ra Mặt khác, trong trường hợp, một người lập nhiều di chúc đối với một tài sản thì ngày, tháng, năm lập di chúc là căn cứ để xác định di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật

- Di chúc phải ghi rõ họ tên, nơi cư trú của người lập di chúc

Di chúc là một hành vi pháp lý đơn phương nên trong di chúc cần phải xác định rõ họ, tên của người có ý chí đó Việc ghi rõ họ tên người là cơ sở để xác định người lập di chúc có đúng là người để lại di sản Mặt khác, nơi cư trú của người lập di chúc là căn cứ để xác định địa điểm mở thừa kế, nơi đăng ký

từ chối nhận di sản, thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ của Tòa án khi có tranh chấp đều được xác định thông qua nơi cư trú của người lập di chúc

- Di chúc phải ghi rõ họ, tên người, tên cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng

di sản

Khác với thừa kế theo pháp luật, người thừa kế được xác định là những người trong mối quan hệ về hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với người để lại di sản thì phạm vi những người thừa kế theo di chúc không thể xác định được vì họ là những người bất kỳ do người lập di chúc chỉ định Người thừa

kế theo di chúc có thể là một cá nhân, cơ quan, tổ chức bất kỳ Khi mở thừa

kế, người được chỉ định trong di chúc được hưởng di sản Tuy nhiên trên thực

tế có nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức trùng tên, vì vậy cần xác định rõ cá nhân, tổ chức nào đang sinh sống, làm việc hoặc hoạt động ở địa phương nào

là phù hợp với nội dung ghi trong di chúc sẽ được hưởng di sản

Trường hợp, người lập di chúc có đưa ra các điều kiện để cá nhân, tổ chức hưởng di sản thì các điều kiện này phải thực hiện được và không bị pháp

Trang 24

luật cấm, không trái với các quy định của pháp luật Nếu người được chỉ định trong di chúc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các điều kiện trong

di chúc thì không được hưởng di sản

- Di chúc phải ghi rõ di sản để lại và nơi có di sản

Người lập di chúc chỉ được định đoạt những tài sản thuộc sở hữu của mình cho những người thừa kế Vì vậy, việc ghi rõ di sản trong di chúc nhằm xác định người lập di chúc có những tài sản gì, những tài sản đó được phân định như thế nào là nội dung không thể thiếu Tuy nhiên, quy định này của pháp luật với mục đích chủ yếu là nhằm hướng dẫn để các cá nhân lập di chúc được rõ ràng cụ thể nên nếu di chúc không ghi rõ, liệt kê từng loại tài sản thì cũng không vì thế mà coi di chúc đó là bất hợp pháp được Trong trường hợp này, người có thẩm quyền sẽ căn cứ vào pháp luật về quyền sở hữu tài sản mà xác định những gì thuộc về di sản của người đã chết để lại

Ngoài việc ghi rõ di sản, người lập di chúc cần ghi rõ trong di chúc nơi

có di sản để sau khi mình chết, những người thừa kế dựa vào đó dễ dàng xác định được địa điểm tồn tại của di sản Hơn nữa, trong những trường hợp không thể xác định được nơi cư trú thì việc ghi rõ nơi có di sản là cơ sở để việc xác định địa điểm mở thừa kế được dễ dàng

- Di chúc phải ghi rõ việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ

Những người hưởng di sản thừa kế đều phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại trên cơ sở tương ứng với kỷ phần tài sản mà mình được hưởng Mặt khác, việc giao nghĩa vụ cho những người thừa kế là một trong những quyền định đoạt của người lập di chúc Vì vậy, trong di chúc, người lập di chúc có thể giao nghĩa vụ cho mỗi một người trong số những người thừa kế để người đó thực hiện Nếu người lập di chúc có ý định đó thì trong di chúc phải ghi rõ người nào, cơ quan, tổ chức nào phải thực hiện nghĩa vụ mà người chết để lại Trường hợp trong di chúc không có sự xác

Trang 25

định này thì tất cả những người hưởng di sản thừa kế cùng nhau thực hiện nghĩa vụ đó.

- Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và đều phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc

Nhằm đảm bảo di chúc được cụ thể rõ ràng, tránh được sự tranh cãi giữa những người thừa kế về sau, người lập di chúc không nên dùng ký hiệu hoặc dùng chữ tắt để biểu đạt ý chí của mình Trong trường hợp người để lại di sản lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thì hướng dẫn người lập di chúc không viết tắt, viết bằng ký hiệu là công việc cần phải làm của người có thẩm quyền chứng nhận, chứng thực di chúc

Bên cạnh việc không viết tắt, viết bằng ký hiệu trong di chúc, người lập

di chúc phải đánh số trang theo thứ tự (nếu di chúc bao gồm nhiều trang) và phải ký hoặc điểm chỉ vào từng trang của di chúc để đề phòng người khác thêm, bớt số trang, giả mạo hoặc thay thế từng trang của di chúc

Di chúc chỉ được thừa nhận khi di chúc đó do chính người để lại di sản lập ra Mặt khác, di chúc chỉ được coi là của chính người để lại di sản lập ra nếu trong đó có chữ ký hoặc điểm chỉ của họ Vì vậy, nếu trong di chúc thiếu yếu tố này thì di chúc sẽ không có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên trong những trường hợp vì lý do đặc biệt nên người lập di chúc không thể ký tên cũng như điểm chỉ vào bản di chúc được (chẳng hạn họ bị cụt cả hai tay, hai chân) nhưng đã có chữ ký của hai người làm chứng trở lên thì bản di chúc đó vẫn có hiệu lực pháp luật

Nếu như Bộ luật Dân sự 2005 chỉ quy định yêu cầu nội dung của di chúc đối với di chúc bằng văn bản thì Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định những yêu cầu nội dung trên đối với cả tất cả các hình thức di chúc tại Điều 631 Quy định này đảm bảo được sự thống nhất về nội dung giữa các hình thức di chúc, khắc phục được tình trạng các loại hình di chúc còn lại như di chúc miệng

Trang 26

không đáp ứng được đầy đủ nội dung do không có quy định cụ thể Đồng

thời, Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ sung thêm quy định: “Trường hợp di chúc có

sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xoá, sửa chữa” Quy định này sẽ đảm bảo được

tính xác thực của việc sửa chữa, tẩy xóa là ý chí của người lập di chúc, hạn chế những tranh chấp có thể phát sinh do di chúc bị tẩy xóa, sửa chữa

2.1.4 Hình thức của di chúc không trái với quy định của pháp luật.

Hình thức của di chúc là phương thức biểu hiện ý chí của người lập di chúc, là căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc, là chứng

cứ để bảo vệ quyền lợi cho người được chỉ định trong di chúc Nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, thống nhất, giá trị pháp lý cho di chúc, Bộ luật Dân sự quy định

rất cụ thể về hình thức của di chúc tại Điều 649 Bộ luật Dân sự 2005: “Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc văn bản thì có thể di chúc miệng” Như vậy, theo quy định của pháp luật về thừa kế thì

việc lập di chúc chỉ có thể tiến hành theo một trong hai hình thức:

2.1.4.1 Hình thức văn bản

Di chúc văn bản là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết (viết tay, đánh máy, in) có chứng nhận hoặc không có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Bộ luật Dân sự 2005 quy định chặt chẽ về hình thức và thủ tục lập di chúc nhằm tạo ra tính xác thực cho di chúc được lập ra từ đó tạo cơ sở pháp lý

để bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế Theo quy định của pháp luật, mỗi một loại di chúc viết phải được lập theo một trình tự tương ứng

Hình thức di chúc bằng văn bản (di chúc viết) có nhiều loại khác nhau, bao gồm: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực; di chúc có xác nhận

- Đối với di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

Trang 27

Để đảm bảo di chúc thật sự là phương tiện phản ánh ý nguyện cuối cùng của người chết một cách trung thực, di chúc lập theo thể thức này phải tuân thủ đầy đủ các yêu cầu mà pháp luật đã quy định chung đối với mọi di chúc được lập theo hình thức văn bản Do không có người làm chứng nên loại di chúc viết này phải do chính tay người lập di chúc viết và ký Viết tay là cách

để chứng minh bản di chúc đó do chính người lập di chúc lập ra bởi chữ viết của mỗi người có đặc điểm riêng biệt và có thể được xác định thông qua giám định chữ viết nếu xảy ra tranh chấp Do đó, nếu di chúc bằng văn bản không

có người làm chứng mà lại là một bản đánh máy thì bản di chúc đã sẽ không được thừa nhận dù rằng có chữ ký của người lập di chúc Tương tự, nếu bản

di chúc đó không có chữ ký của người lập di chúc sẽ không được thừa nhận

dù di chúc đó do chính tay họ viết ra

Đối với loại di chúc này, Điều 655 Bộ luật Dân sự 2005 quy định người lập di chúc phải tự tay ký vào bản di chúc (mà không quy định điểm chỉ) Trên thực tế, tính xác thực của điểm chỉ cao hơn nhiều so với chữ ký nhưng

có lẽ các nhà xây dựng pháp luật cho rằng khi một người đã viết được là ký được, chữ trong di chúc do chính tay người đó viết đã là căn cứ để xác định di chúc đó là do chính họ lập ra, cộng thêm chữ ký của họ trong di chúc thì di chúc đã đủ độ tin cậy, mặt khác, việc điểm chỉ chỉ cần thiết đối với người không biết chữ, không viết, không ký được Vì vậy, các nhà làm luật không quy định việc điểm chỉ trong loại di chúc này

- Đối với di chúc bằng văn bản có người làm chứng

Pháp luật quy định loại di chúc này nhằm đảm bảo quyền lập di chúc cho mọi cá nhân Với loại di chúc này, các cá nhân dù không thể tự mình viết được vẫn có thể lập di chúc bằng văn bản để định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi mình chết vì theo quy định của pháp luật về loại di chúc

này thì: “Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc, thì có thể nhờ người khác viết” (Điều 656 Bộ luật Dân sự 2005) Tuy

nhiên, khi lập loại di chúc này phải có ít nhất hai người làm chứng và người

Trang 28

lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng và xác nhận của họ về chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc Thiếu một trong các yếu tố này di chúc sẽ không có hiệu lực pháp luật.

Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2015 tiếp tục kế thừa quy định về di chúc

có người làm chứng đồng thời có sự sửa đổi, bổ sung, theo đó: “Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là 02 người làm chứng” Như vậy, đối với di chúc có người làm chứng,

người lập di chúc có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác đánh máy bản di chúc Quy định này là phù hợp với thực tế hiện nay khi hầu hết các văn bản được thể hiện thông qua đánh máy, đảm bảo được sự thuận tiện cho người lập di chúc

- Đối với di chúc có công chứng hoặc chứng thực

Nếu người lập di chúc tự tay viết bản di chúc và có yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực thì người lập di chúc phải ký vào bản di chúc trước mặt người có thẩm quyền chứng nhận hoặc chứng thực

Trường hợp người để lại di sản đến tổ chức hành nghề công chứng hoặc đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để lập di chúc tại đó hoặc di chúc

do công chứng viên lập tại chỗ ở của người để lại di sản thì việc lập di chúc phải tuân thủ trình tự và thủ tục sau đây: Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc (ý nguyện của mình) trước Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực di chúc ghi chép lại đầy đủ nội dung

mà người lập di chúc đã tuyên bố Sau khi xác nhận công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực đã ghi chép chính xác và thể hiện đúng với

ý chí của mình thì người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc đó Sau cùng, công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc đó

Trang 29

Trong trường hợp vì một lý do nào đó mà người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải có người làm chứng Người làm chứng phải đọc lại bản di chúc và nếu thấy việc ghi chép của công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đúng với ý chí mà người để lại

di chúc đã thể hiện thì ký xác nhận vào bản di chúc trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn Sau cùng, công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận và chứng thực vào bản

di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng

- Di chúc có xác nhận

+ Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên nếu quân nhân không thể yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực.Người lập di chúc không thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chứng nhận hoặc chứng thực được có thể hiểu theo một hay hai tình huống sau đây: Một

là, do người lập di chúc là quân nhân đang làm nhiệm vụ, đóng quân ở xa nơi công chứng và Ủy ban nhân dân cấp cơ sở Hai là, do nhiệm vụ đặc biệt mà quân nhân dân không thể đến tổ chức hành nghề công chứng, Ủy ban nhân dân cấp cơ sở để lập di chúc theo thủ tục có chứng nhận, chứng thực mặc dù nơi đóng quân gần các cơ quan này Theo nguyên tắc chung, luật dân sự luôn đảm bảo quyền lập di chúc cho các cá nhân nên nếu vì những lí do chính đáng

mà cá nhân không thể lập di chúc theo thủ tục có chứng nhận, chứng thực được thì di chúc của họ chỉ cần có xác nhận vẫn có hiệu lực pháp luật

+ Di chúc được lập khi người lập di chúc đang đi trên tàu biển, máy bay

có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó

Quy định này của pháp luật dự phòng tới những trường hợp cá nhân đang đi lại hoặc làm việc trên máy bay, tàu biển mà có nhu cầu lập di chúc trong khi những phương tiện giao thông đó chưa hạ cánh hoặc chưa cập bến

Trang 30

Vì vậy, cơ trưởng hoặc thuyền trưởng có thẩm quyền xác nhận di chúc và phải xác nhận ngay sau khi di chúc được lập trong lúc máy bay chưa hạ cánh hoặc tàu chưa cập bến.

+ Di chúc của người điều trị tại bệnh viên, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở chữa bệnh đó

Mặc dù bệnh viện, cơ sở chữa bệnh có thể gần nơi công chứng hoặc Ủy ban nhân dân nhưng cá nhân có nhu cầu lập di chúc vẫn không thể yêu cầu chứng nhận hoặc chứng thực được vì họ đang lâm vào hoàn cảnh ốm đau bệnh tật và tính mạng đang bị đe dọa Vì vậy, trong trường hợp này di chúc

do họ lập chỉ cần có xác nhận của người phụ trách bệnh viện hoặc cơ sở chữa bệnh viện nơi đang điều trị vẫn được coi là có giá trị như di chúc có công chứng hoặc chứng thực

+ Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của phụ trách đơn vị đó

Trong trường hợp này, cá nhân công tác ở vùng rừng núi, hải đảo không

có tổ chức hành nghề công chứng và xa Ủy ban nhân dân nhưng họ muốn lập

di chúc vì họ cho rằng mình không đủ điều kiện để chờ đến hết đợt công tác mới lập di chúc Vì thế, nếu họ lập di chúc trong thời gian này có xác nhận của phụ trách đơn vị thì di chúc của họ vẫn có giá trị như di chúc được công chứng, chứng thực

+ Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của

cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó

Do cách trở về địa lý, công dân Việt Nam đang ở nước ngoài khó có điều kiện về nước để công chứng, chứng thực di chúc, nhất là khi sức khỏe không cho đảm bảo Tuy nhiên, nếu công dân Việt Nam đang công tác, học tập, lao động ở nước ngoài lập di chúc đã có chứng nhận của cơ quan lãnh sự hoặc đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó thì di chúc đó có hiệu lực pháp luật như

di chúc được lập trong nước có chứng nhận của tổ chức hành nghề công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn

Trang 31

+ Di chúc của người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở giam giữ đó.

Người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù bị hạn chế quyền

tự do đi lại nhưng họ vẫn có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình Việc bị hạn chế quyền tự do đi lại khiến họ không thể đến tổ chức hành nghề công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn để công chứng, chứng thực di chúc Nhằm đảm bảo tính xác thực và giá trị pháp lý của di chúc do người bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, Bộ luật Dân sự quy định di chúc của những người này nếu có xác nhận của người phụ trách cơ sở giam giữ đó có hiệu lực pháp luật như di chúc được công chứng, chứng thực

2.1.4.2 Di chúc miệng

Di chúc miệng (hay còn gọi là chúc ngôn) là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại di sản thừa kế lúc còn sống trong việc định đoạt khối tài sản của mình cho người khác sau khi mình chết

Việc lập di chúc miệng được rõ ràng và chặt chẽ tại Điều 651 Bộ luật

Dân sự 2005: “1 Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa

do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng 2 Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng

mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên

bị huỷ bỏ”.

- Về chủ thể được lập di chúc miệng

Di chúc miệng chỉ được công nhận là hợp pháp khi người lập di chúc ở trong tình trạng tính mạng bị đe dọa nghiêm trọng mà không thể lập di chúc viết được Bộ luật Dân sự 2005 chưa có quy định cụ thể về tình trạng tính mạng bị đe dọa nghiêm trọng nhưng có thể hiểu tình trạng sức khỏe bị đe dọa là những trường hợp người lập di chúc bị bệnh sắp chết, bị tai nạn có nguy cơ chết

Trang 32

- Người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng

ký tên hoặc điểm chỉ

Đối với di chúc miệng, ý chí của người lập di chúc được thể hiện thông qua lời nói nên tính xác thực không cao, dễ bị phản bác và xảy ra tranh chấp trên thực tế nên pháp luật quy định sự thể hiện ý chí bằng lời nói của người lập di chúc phải trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại Do tình trạng tính mạng bị đe dọa nghiêm trọng nên người lập di chúc miệng không thể ký tên hay điểm chỉ vào bản di chúc, cũng không thể kiểm tra việc ghi chép có đúng ý chí của mình hay không nên pháp luật đã quy định sau khi người làm chứng ghi chép và xác thực đúng với nguyện vọng của người lập di chúc thì họ phải ký tên hoặc điểm chỉ vào bản

kể từ ngày tuyên bố ý chí Tuy nhiên, trên thực tế việc công chứng hoặc chứng thực trong thời hạn 5 ngày có thể gây khó khăn cho gia đình người lập

di chúc khi phải lo tang sự Công chứng, chứng thực nhằm đảm bảo tính xác thực của di chúc nhưng việc quy định thời hạn 5 ngày là tương đối ngắn dễ dẫn đến tình trạng vô hiệu di chúc trên thực tế Mặt khác, việc công chứng hoặc chứng thực sẽ do chủ thể nào tiến hành chưa được pháp luật quy định cụ thể Phải chăng ai cũng có thể là người đi công chứng, chứng thực di chúc miệng?

- Sau 3 tháng kể từ ngày lập di chúc miệng nếu người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng bị hủy bỏ (coi như không có di chúc miệng)

Trang 33

Di chúc miệng bị hủy bỏ khi đủ hai điều kiện: Thứ nhất, người lập di chúc còn sống sau ba tháng kể từ thời điểm làm di chúc này Điều kiện này rất

dễ xác minh Thứ hai, sau thời gian ba tháng người lập di chúc miệng còn minh mẫn, sáng suốt Như vậy, nếu người lập di chúc miệng còn sống nhưng không còn minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng vẫn phát sinh hiệu lực pháp luật khi người để lại di chúc chết

Bộ luật Dân sự 2015 tiếp tục thừa nhận hình thức di chúc miệng đồng thời có sự sửa đổi, bổ sung nhằm làm rõ tính hợp pháp của di chúc miệng

Nếu như Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực” thì khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 đã có sự sửa đổi, bổ sung, theo đó: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng” Như vậy, theo Bộ luật Dân sự 2015 thì di

chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng Theo quy định này việc công chứng, chứng thực không phải là công chứng, chứng thực nội dung của

di chúc miệng mà chỉ là sự xác nhận tính xác thực của chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là bởi công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực không thể biết được nội dung di chúc miệng có đúng là ý chí của người lập di chúc hay không mà chỉ có thể xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người làm chứng – những người chứng kiến và ghi chép lại di chúc miệng

2.2 Thời điểm có hiệu lực của di chúc

Thời điểm có hiệu lực của di chúc là một vấn đề pháp lý quan trọng nhằm xác định thời điểm phát sinh quyền thừa kế của những người thừa

Trang 34

kế heo di chúc Theo quy định tại khoản 1 Điều 667 Bộ luật Dân sự 2005 quy

định: “Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế” Như vậy, thời

điểm có hiệu lực của di chúc cũng là thời điểm mở thừa kế - thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế

Khoản 1 Điều 633 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Thời điểm mở thừa

kế là thời điểm người có di sản chết Trong trường hợp tòa án tuyên bố một người là đã chết, thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 Bộ luật này”

Việc xác định hiệu lực của di chúc có ý nghĩa quan trọng bởi kể từ thời điểm đó quyền hưởng di sản của những người thừa kế theo di chúc mới được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Thời điểm có hiệu lực của di chúc được xác định là thời điểm người có di sản để lại theo di chúc chết Theo đó, di chúc sẽ

có hiệu lực vào những thời điểm sau:

- Nếu người để lại di chúc chết là cái chết thực tế thì thời điểm có hiệu

có hiệu lực của di chúc của họ là thời điểm họ chết

Bộ luật Dân sự 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định cụ thể về đơn vị thời gian để tính thời điểm người để lại di chúc chết nên còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Có quan điểm cho rằng, khi quy định là thời điểm thì phải xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc chính xác đến từng phút, từng giây Quan điểm khác lại cho rằng, việc xác định thời điểm chết của một người chính xác đến từng giây là một việc mà trong thực tế không thể làm được Vì thế nên quy định thời điểm mở thừa kế được xác định theo ngày người để lại di sản chết

Pháp luật không thể xác định đơn vị thời gian cụ thể về thời điểm chết của người để lại di chúc Việc quy định “thời điểm mở thừa kế là thời điểm người để lại di sản chết” là một quy định mở Theo đó, khi xác định thời điểm

mở thừa kế sẽ căn cứ vào sự xác định trong giấy chứng tử Thời gian trong giấy chứng tử có thể được xác định theo ngày hay chính xác đến giờ, phút là căn cứ để xác định thời điểm di chúc có hiệu lực pháp luật

Trang 35

- Nếu người để lại di chúc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì di chúc của

họ được xác định có hiệu lực vào ngày mà Tòa án xác định họ đã chết

Theo khoản 1 Điều 81 Bộ luật Dân sự 2005 thì người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau:

a) Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

b) Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

d) Biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 78 của Bộ luật này.

Thời điểm di chúc có hiệu lực đối với người bị Tòa án tuyên bố là đã chết bao giờ cũng là ngày chết của cá nhân đó được Tòa án xác định trong quyết định tuyên bố chết mà không phải là ngày quyết định tuyên bố chết có hiệu lực pháp luật

Trong trường hợp người lập di chúc có đưa ra một điều kiện và trong di chúc ghi rõ chỉ khi nào điều kiện đó xảy ra di chúc mới có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực của di chúc được xác định theo ý chí của người đó hay vẫn phải theo các căn cứ mà pháp luật quy định? Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 hiện vẫn chưa có quy định cụ thể về vấn đề này Tuy nhiên, di chúc là một giao dịch dân sự nên người lập di chúc có đặt ra điều kiện trong

di chúc thì cần coi di chúc đó là một giao dịch có điều kiện Khi nói đến giao dịch có điều kiện, không thể lẩn tránh việc quy định di chúc có điều kiện với

tư cách là hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện, hiện đang phổ biến không chỉ ở nước ta mà trên cả thế giới Quyền của người lập di chúc bao gồm cả quyền đặt ra điều kiện cho những người thừa kế hoặc quy định điều

Trang 36

kiện để hưởng di sản thừa kế Thiết nghĩ, Bộ luật Dân sự cần xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc theo ý chí của người lập ra di chúc có điều kiện Điều này sẽ đảm bảo phù hợp với nguyên tắc “tự do, tự nguyện cam kết” đã được quy định trong Bộ luật Dân sự.

- Di chúc chung vợ chồng

Trong thực tế, có nhiều trường hợp khi còn sống vợ, chồng cùng nhau lập di chúc để định đoạt khối tài sản chung của họ Trong trường hợp, vợ hoặc chồng chết cùng thời điểm thì thời điểm di chúc có hiệu lực pháp luật được xác định là thời điểm cả hai cùng chết Cách xác định thời điểm di chúc chung của vợ chồng giống với di chúc do cá nhân lập Nhưng nếu một người chết trước thì vấn đề hiệu lực của di chúc chung sẽ được xác định theo Điều 668 Bộ

luật Dân sự 2005: "Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết" Như vậy, khi một bên

vợ hoặc chồng chết trước thì di chúc vẫn chưa có hiệu lực pháp luật, những người thừa kế không được yêu cầu chia thừa kế do người chết trước để lại Tuy nhiên, đến Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định di chúc chung của vợ chồng, đây có thể nói là một sự thay đổi lớn trong quy định về thừa kế của Bộ luật Dân sự 2015 Bộ luật Dân sự 2015 không quy định di chúc chung của vợ chồng vì quan điểm cho rằng quy định di chúc chung của vợ, chồng tạo ra nhiều phức tạp và mâu thuẫn trong thực thi pháp luật, trong luật dân sự hiện đại, quyền sở hữu tư nhân về tài sản trong luật hiện hành mang tính chất

cá nhân chứ không phải tính chất gia đình như trước Bởi vậy, việc vợ chồng lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung của họ trong khung cảnh luật hiện hành phải được hiểu khác trước về bản chất, theo đó có thể hiểu đó là hai

di chúc của hai chủ thể khác nhau, được ghi nhận trong cùng một bản viết và được điều chỉnh theo luật chung về di chúc, cũng như theo luật chung về thực hiện quyền định đoạt của chủ sở hữu Mặt khác quyền lập di chúc chung của

vợ chồng cho rằng làm hạn chế quyền tự định đoạt của của một bên Nếu pháp luật cho phép người còn sống được sửa đổi di chúc liên quan đến phần

Trang 37

tài sản của mình thì sự thỏa thuận với người chết trước được thể hiện trong di chúc chung sẽ không được tôn trọng Ngược lại nếu pháp luật không cho phép sửa đổi di chúc thì vô hình chung pháp luật đã hạn chế quyền tự do di chúc của công dân Thực tiễn thi hành Bộ luật Dân sự 2005 cho thấy việc giải quyết tranh chấp có liên quan đến di chúc chung của vợ chồng là phức tạp, khó đảm bảo được quyền lợi chính đáng của người đã chết và người còn sống Bên cạnh đó, việc bỏ quy định di chúc chung không có nghĩa là Bộ luật Dân sự 2015 sẽ không thừa nhận giá trị của di chúc chung Đơn giản, di chúc chung của vợ chồng hoàn toàn có thể được điều chỉnh bởi luật chung về di chúc Thậm chí với quan niệm về bản chất của di chúc chung như trên thì vợ chồng có thể đưa vào di chúc viết chung các nội dung định đoạt liên quan đến tài sản riêng của mỗi người Mặt khác, di chúc chung của vợ chồng vẫn không

bị mất giá trị trong trường hợp vợ chồng ly hôn mà không sửa di chúc trước khi một người chết Điều chắc chắn là khi một người lập di chúc chung chết thì phần di chúc do người đó lập sẽ phát sinh hiệu lực Người còn lại vẫn có quyền sửa đổi phần di chúc của mình2

2.3 Di chúc vô hiệu và di chúc không có hiệu lực pháp luật

2.3.1 Di chúc vô hiệu

Di chúc vô hiệu do bất hợp pháp là di chúc có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc di chúc thiếu một trong các điều kiện của di chúc hợp pháp

Nếu di chúc vi phạm một trong các điều kiện đã được quy định tại Điều

652 Bộ luật Dân sự 2005 sẽ bị coi là vô hiệu Tuy nhiên có những trường hợp

sự vi phạm làm cho di chúc bị vô hiệu toàn bộ nhưng cũng có những trường hợp sự vi phạm các điều kiện mà pháp luật đã quy định chỉ làm cho di chúc bị

vô hiệu một phần

2 PGS Nguyễn Ngọc Điện, Sửa đổi Bộ luật Dân sự: Bỏ di chúc chung vợ chồng là hợp lý.

(http://netluat.plo.vn/luat-net/sua-Bộ LDS-bo-di-chuc-chung-cua-vo-chong-la-hop-ly-595125.html)

Trang 38

2.3.1.1 Di chúc vô hiệu do năng lực hành vi dân sự của người lập di chúc

Quy định về di chúc trong chế định quyền thừa kế là một nội dung quan trọng của hệ thống pháp luật dân sự Để di chúc có hiệu lực pháp luật đòi hỏi người lập di chúc phải có năng lực hành vi dân sự Trong trường hợp người lập di chúc không có năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự thì di chúc vô hiệu toàn bộ

Người chưa đủ mười lăm tuổi không có năng lực hành vi dân sự Đối với những người này, họ chưa có đủ ý chí và lý trí để hiểu hành vi lập di chúc của mình Chính vì vậy, di chúc mà họ lập ra di chúc bị vô hiệu toàn bộ

Người từ đủ mười lăm tuổi tuổi đến dưới mười tám tuổi là những người

đã có thể có tài sản riêng nên họ có quyền được định đoạt tài sản của mình Tuy nhiên, đối với những người này, họ chỉ có một phần năng lực hành vi dân

sự nên khi họ lập di chúc phải có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ Trong trường hợp cha, mẹ hoặc người giám hộ không đồng ý cho họ lập di chúc thì di chúc bị vô hiệu Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 thì người

từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc Tuy nhiên, quy định này không rõ về thời điểm và hình thức thể hiện sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ Sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ được thừa nhận vào thời điểm nào? Trước, trong hay sau khi con lập di chúc? Hay cả 03 thời điểm đều có giá trị pháp lý? Hình thức của sự đồng ý đó là bằng miệng hay văn bản? Do không xác định chính xác thời điểm và hình thức của sự đồng ý của cha, mẹ dẫn đến tình trạng di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi dễ bị vô hiệu Nhiều trường hợp di chúc do người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi lập xong nhưng cha mẹ lại không đồng ý về việc lập di chúc thì trường hợp này di chúc cũng bị vô hiệu Điều này là chưa thực sự đảm bảo được quyền tự định đoạt của người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi trong việc lập di chúc Thiết nghĩ, Bộ luật

Trang 39

Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định, nếu di chúc đã được lập mà những người nói trên không có ý kiến gì thì coi như họ đã đồng ý cho lập và vì vậy, di chúc được coi là hợp pháp Cha, mẹ hoặc người giám hộ có quyền giám sát và chỉ có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc vô hiệu nếu họ phát hiện có hành vi lừa dối, cưỡng ép người chưa thành niên trong việc lập di chúc mà không được tự mình hủy bỏ di chúc Điều này sẽ đảm bảo hiệu lực của di chúc đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi, hạn chế trường hợp di chúc vô hiệu do sự thiếu thống nhất trong việc xác định thời điểm, hình thức thể hiện sự đồng ý của cha mẹ đối với việc lập di chúc.

Người từ đủ mười tám tuổi trở lên có quyền lập di chúc Họ là người đã thành niên, đạt độ tuổi được coi là trưởng thành Tuy nhiên, họ từ đủ mười tám tuổi trở lên nhưng mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì di chúc do họ lập ra không

có hiệu lực pháp luật Bởi, lập di chúc là việc chủ sở hữu tài sản quyết định chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho những người thừa kế sau khi chết nên bên cạnh độ tuổi thì người lập di chúc phải đáp ứng yêu cầu về khả năng nhận thức Khi họ mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình nên họ không thể hiện được đúng ý chí, nguyện vọng của mình nên di chúc họ lập ra bị vô hiệu Di chúc bị vô hiệu khi người lập di chúc thuộc một trong hai trường hợp sau:

Thứ nhất, người lập di chúc bị Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng

lực hành vi dân sự mà thời điểm được xác định mất năng lực hành vi dân sự xảy ra trước thời điểm di chúc được lập

Thứ hai, di chúc được lập ra trong hoặc sau khi người đó mắc bệnh tâm

thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình

- Đối với người thành niên không mất năng lực hành vi dân sự

+ Người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt

Trang 40

Để di chúc có hiệu lực pháp luật, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt Một người thành niên tuy không bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân

sự thì di chúc của họ vẫn có thể bị vô hiệu nếu người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc

Cá nhân lập di chúc trong tình trạng không còn minh mẫn, sáng suốt thì

di chúc họ lập ra bị vô hiệu Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân

sự 2015 đều không xác định thế nào là minh mẫn, sáng suốt đồng thời cũng chưa quy định rõ người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong những thời điểm nào? Mặc dù, Bộ luật Dân sự không quy định rõ nhưng có thể hiểu người lập di chúc cần minh mẫn, sáng suốt ở thời điểm lập di chúc Trong trường hợp người lập di chúc minh mẫn sáng suốt ở thời điểm lập di chúc nhưng sau đó không còn minh mẫn, sáng suốt nữa thì di chúc vẫn có hiệu lực.Minh mẫn, sáng suốt là yếu tố bên trong của con người nên rất khó đánh giá, định lượng và kết quả phụ thuộc nhiều vào nhận thức của người đánh giá Chính vì vậy, trên thực tế mỗi Tòa án lại có đánh giá khác nhau, có Tòa địa phương suy luận người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt khi một người thay đổi nhiều lần ý chí định đoạt tài sản của mình trước khi chết Tuy nhiên, suy luận này là không có cơ sở vì lập di chúc là quyền cá nhân, họ có quyền

tự do thay đổi di chúc của mình không bị giới hạn bởi pháp luật nên không thể xác định việc cá nhân thay đổi di chúc nhiều lần là không minh mẫn, sáng suốt Việc xác định người không còn minh mẫn, sáng suốt được nhiều Tòa án lấy làm căn cứ là việc bác sĩ, bệnh viện tiến hành xác định trạng thái minh mẫn sáng suốt của cá nhân Bên cạnh đó, một số Tòa án căn cứ dựa trên sự xác nhận thông qua lời khai của những người làm chứng tại thời điểm cá nhân lập di chúc

Có thể thấy, Bộ luật Dân sự chưa có quy định cụ thể về tình trạng minh mẫn, sáng suốt, thời điểm, cách thức xác định sự minh mẫn sáng suốt dẫn đến tình trạng không thống nhất gây khó khăn trong việc xác định hiệu lực của di chúc Thiết nghĩ, Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành cần quy

Ngày đăng: 22/11/2018, 16:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Tư pháp (2014), Bản thuyết minh Dự thảo Bộ luật Dân sự 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thuyết minh Dự thảo Bộ luật Dân sự 2015
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2014
4. Bộ Tư pháp (2014), Tờ trình Dự thảo Bộ luật Dân sự 2015, Hà Nội 5. Hoàng Thế Liên (2010), Bình luận Khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005.Tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tờ trình Dự thảo Bộ luật Dân sự 2015", Hà Nội5. Hoàng Thế Liên (2010), "Bình luận Khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005. "Tập 3
Tác giả: Bộ Tư pháp (2014), Tờ trình Dự thảo Bộ luật Dân sự 2015, Hà Nội 5. Hoàng Thế Liên
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
8. Nguyễn Hồng Nam (2005), Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luận văn thạc sỹ Luật học
Tác giả: Nguyễn Hồng Nam
Năm: 2005
10. Nguyễn Minh Tuấn (2007), Cơ sở lý luận và thực tiễn của những qui định chung về thừa kế trong Bộ luật Dân sự, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn của những qui định chung về thừa kế trong Bộ luật Dân sự
Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn
Năm: 2007
11. Nguyễn Minh Tuấn (2009), Pháp luật thừa kế của Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật thừa kế của Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2009
12. Nguyễn Thị Phương Thanh (2011), Áp dụng pháp luật dân sự về hiệu lực pháp luật của di chúc trong thực tiễn xét xử của Tòa án, Luận văn thạc sỹ, Khoa Luật - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng pháp luật dân sự về hiệu lực pháp luật của di chúc trong thực tiễn xét xử của Tòa án
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Thanh
Năm: 2011
14. Phạm Văn Tuyết (2003), Hoàn thiện quy định về thừa kế trong Bộ luật Dân sự, Luật học, (Đặc san về sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật học
Tác giả: Phạm Văn Tuyết
Năm: 2003
15. Phạm Văn Tuyết (2013), Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp
Tác giả: Phạm Văn Tuyết
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2013
16. Phạm Văn Tuyết (2010), Thừa kế - quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa kế - quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng
Tác giả: Phạm Văn Tuyết
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
17. Phạm Văn Tuyết (2004), Thừa kế theo di chúc trong qui định của Bộ luật Dân sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa kế theo di chúc trong qui định của Bộ luật Dân sự Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Tuyết
Năm: 2004
18. Phùng Trung Tập (2004), Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay, (Sách chuyên khảo), Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Tác giả: Phùng Trung Tập
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2004
20. Phùng Trung Tập (2008), Luật thừa kế Việt Nam, (Sách chuyên khảo), Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thừa kế Việt Nam
Tác giả: Phùng Trung Tập
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
21. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005
22. Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2013
23. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội.24. Một số website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa và Nxb Tư pháp
Năm: 2006
6. Lê Minh Hùng (2006), Một số bất cập trong quyền lập di chúc chung của vợ chồng, Tạp chí khoa học pháp lý số 4/2006 Khác
7. Nguyễn Ngọc Điện (2015), Sửa đổi Bộ luật dân sự: Bỏ di chúc chung vợ chồng là hợp lý Khác
9. Nguyễn Minh Tuấn (2007), Di sản thừa kế và thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế, Luật học Khác
13. Phạm Văn Tuyết (1995), Di chúc và vấn đề hiệu lực của di chúc, Luật học Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w